1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn

90 500 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỉ lệ lao động nông thôn thông qua đào tạo đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%; phát triển đồng bộ kết cấu hạ

Trang 1

––––––––––––––––––––––––––

PHẠM KHẮC DŨNG

GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

NÔNG THÔN MỚI CỦA HUYỆN CHỢ MỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐOÀN QUANG THIỆU

THÁI NGUYÊN - 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn

này là trung thực và hoàn toàn chua được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được

cảm ơn và các thông tin chích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Phạm Khắc Dũng

LỜI CẢM ƠN

Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS Đoàn Quang Thiệu - Người trực tiếp hướng dẫn và giúp

đỡ tôi hoàn thành Luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo khoa kinh tế, phòng QL đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo trong và ngoài Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn Chi cục Thống kê huyện Chợ Mới, phòng nông nghiệp, UBND huyện chợ mới, UBND, các tổ chức chính trị, xã hội thị trấn và các xã trong huyện chợ mới đã cung cấp số liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành Luận văn này

Tôi xin trân thành cảm ơn Trường Đại học Kinh tế & QTKD - ĐHTN

đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi theo học và hoàn thiện khóa học này Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thể gia đình, người thân đã động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu đề tài

Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2012

Tác giả luận văn

Phạm Khắc Dũng

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Đóng góp mới của đề tài 3

5 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới 5

1.1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới 5

1.1.2 Kinh nghiệm xây dựng và phát triển nông thôn ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 13

1.2 Phương pháp nghiên cứu 30

1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 30

1.2.2 Các phương pháp nghiên cứu 30

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ở HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH BẮC KẠN 34

2.1 Đặc điểm của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn 34

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 34

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Chợ Mới 37

2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn trong xây dựng nông thôn mới của huyện Chợ Mới 44

2.2 Thực trạng nông thôn của huyện Chợ Mới 46

2.2.1 Kết quả phát triển nông thôn của huyện giai đoạn 2008 - 2010 46

2.2.2 Thực trạng nông thôn huyện Chợ Mới so với bộ tiêu chí Quốc gia nông thôn mới 49

2.2.3 Một số kết luận về xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ mới 69

2.2.4 Thực trạng nông thôn ở một số xã tiêu biểu ở các vùng 74

Chương 3: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN 123

3.1 Quan điểm về xây dựng và phát triển nông thôn mới 123

3.1.1 Xây dựng nông thôn mới phải phù hợp với chủ trương đường lối của Đảng và nhà nước 123

3.1.2 Xây dựng nông thôn mới phải đảm bảo phát triển nông thôn bền vững 123

3.1.3 Xây dựng nông thôn mới trên quan điểm kế thừa những thành tựu đã đạt được 124

3.1.4 Xây dựng nông thôn mới phải vừa hiện đại nhưng vẫn giữ gìn bản sắc dân tộc 124

3.1.5 Xây dựng nông thôn mới trên quan điểm phát huy mọi nguồn lực để xây dựng với tốc độ nhanh 125

3.2 Phương hướng và mục tiêu xây dựng nông thôn mới ở huyện Chợ Mới 125

3.2.1 Phương hướng 125

3.2.2 Mục tiêu 126

Trang 4

3.3 Những giải pháp nhằm xây dựng nông thôn mới ở huyện Chợ Mới 126

3.3.1 Giải pháp chung các vùnh trong huyện 126

3.3.2 Giải pháp riêng cho từng vùng 135

3.3.3 Kiến nghị 139

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 141

TÀI LIỆU THAM KHẢO 143

PHỤ LỤC 145

DANH MỤC VIẾT TẮT

CN - XD Công nghiệp - xây dựng CNH - HDH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

CN - TTCN Công nghiệp - Tiêu thủ công nghiệp ĐBSCL Đồng bằng sông cửu long

GD - YT - VHTT Giáo dục - Y tế - Văn hóa thể thao

N - L - T Nông lâm thủy sản

TM - DV Thương mại - Dịch vụ

VH - TT - DL Văn hóa thể thao du lịch

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 01: Tình hình sử dụng đất đai của huyện năm 2010 35

Bảng 02: Tình hình dân số huyện Chợ Mới 37

Bảng 03: Tình hình lao động huyện Chợ Mới 38

Bảng 04: Thống kê đường giao thông huyện Chợ Mới 39

Bảng 05: Tình hình cơ sở Giáo dục ở huyện Chợ Mới 40

Bảng 06: Hệ thống cơ sở y tế ở huyện Chợ Mới 40

Bảng 07: Thu nhập cơ cấu tự nhiên của huyện Chợ Mới qua 3 năm 41

Bảng 08: Phát triển xã hội của huyện qua 3 năm 43

Bảng 09: Kết quả phát triển kinh tế nông thôn của huyện qua 3 năm 46

Bảng 10: Kết quả hoạt động sản xuất nông nghiệp của huyện 47

Bảng 11: Tình hình phát triển xã hội nông thôn của huyện 48

Bảng 12: Tiêu chí quy hoạch và phát triển quy hoạch 50

Bảng 13: Thực trạng tiêu chí hạ tầng kinh tế - xã hội 52

Bảng 14: Các nhân tố kinh tế và tổ chức sản xuất 60

Bảng 15: Nhóm nhân tố văn hóa - xã hội 63

Bảng 16: Nhân tố hệ thống chính trị - an ninh xã hội 68

Bảng 17: Tổng hợp kết quả thực hiện theo chỉ tiêu nông thôn mới của huyện Chợ Mới 69

Bảng 18: Diện tích đất đai xã Thanh Bình 74

Bảng 19: Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch của xã Thanh Bình so với bộ tiêu chí 75

Bảng 20: Thực trạng hạ tầng kinh tế - xã hội so với bộ tiêu chí 77

Bảng 21: Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất của xã so với bộ tiêu chí 83

Bảng 22: Thực trạng Văn hóa - Xã hội - Môi trường của xã so với bộ tiêu chí 85

Bảng 23: Thực trạng hệ thống chính trị của xã so với bộ tiêu chí 88

Bảng số 24: Diện tích đất đai xã Cao Kỳ 90

Bảng 25: Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch của xã so với bộ tiêu chí 91

Bảng 26: Thực trạng hạ tầng kinh tế xã hội của xã so với bộ tiêu chí 93

Bảng 27: Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất xã so với bộ tiêu chí 100

Bảng 28: Thực trạng Văn hóa - Xã hội - Môi trường xã so với bộ tiêu chí 102

Bảng 28: Thực trạng hệ thống chính trị của xã so với bộ tiêu chí 105

Bảng 29: Diện tích đất đai xã Mai Lạp 107

Bảng 30: Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch của xã so với bộ tiêu chí 108

Bảng 31: Thực trạng hạ tầng kinh tế xã hội của xã so với bộ tiêu chí 109

Bảng 32: Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất của xã so với bộ tiêu chí 115

Bảng 33: Thực trạng văn hóa - xã hội - môi trường của xã so với bộ tiêu chí 117

Bảng 34: Thực trạng hệ thống chính trị của xã so với bộ tiêu chí 121

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 01: Tình hình dân số huyện Chợ Mới 38

Biểu đồ 02: Tình hình thu nhập của các ngành của huyện Chợ Mới 42

Biểu đồ 03: Thu nhập bình quân đầu người và hộ nghèo của huyện 43

Biểu đồ 04: Kết quả phát triển kinh tế nông thôn của huyện trong 3 năm 47

Biểu đồ 05: Kết quả hoạt động sản xuất nông nghiệp của nông thôn huyện 48

Biểu đồ 06: Tình hình phát triển xã hội nông thôn của địa phương 49

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp, nông thôn có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh

tế - xã hội của mỗi quốc gia Việt Nam là nước nông nghiệp, dân số sống ở khu vực nông thôn chiếm gần 70% dân số cả nước Vì vậy, phát triển nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế

xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến phát triển nông nghiệp nông thôn Ngày 05/08/2008 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

đã ban hành Nghị quyết số 26 - NQ/TW về nông nghiệp, nông dân nông thôn

Mục tiêu của Nghị quyết, đến năm 2020: “… Giải quyết cơ bản việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn gấp trên 2,5 lần so với hiện nay Lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỉ lệ lao động nông thôn thông qua đào tạo đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%; phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn…”

Để triển khai Nghị quyết số 26 - NQ/TW, với chủ trương đưa nông thôn tiến kịp với thành thị, xây dựng mục tiêu hiện đại hóa nông thôn Việt Nam vào cuối năm 2020, ngày 16 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã

ra Quyết định số 491/QĐ-TTg về việc ban hành bộ tiêu trí quốc gia về xây dựng nông thôn mới Trên cơ sở bộ tiêu chí nông thôn mới này, các địa phương căn cứ để xây dựng, phát triển nông thôn Ngày 2 tháng 2 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 193/QĐ-TTg phê duyệt chương trình

rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới Ngày 4 tháng 6 năm 2010 Chính phủ ra Quyết định số 800/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, với mục tiêu đến năm 2015: 20% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới, đến năm 2020: 50% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng ban hành Thông tư số 54/2009/BNNPTNT ngày 21 tháng 8 năm 2009 về việc

Trang 7

hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu trí quốc gia về nông thôn mới… Xây dựng nông

thôn mới được tất cả các tỉnh trên phạm vi toàn quốc quan tâm, là chủ đề của

nhiều hội thảo, hội nghị, theo báo cáo vấn đề nhằm thực hiện thắng lợi nghị

quyết của Đảng và Chính phủ

Trên cơ sở các quyết định của Chính phủ, của Bộ Nông nghiệp và Phát

triển Nông thôn, các địa phương sẽ tiến hành rà soát và xây dựng chương

trình hành động để thực hiện thắng lợi xây dựng nông thôn theo bộ tiêu chí

mới Cũng như các địa phương vùng núi phía Bắc khác, Bắc Kạn là một tỉnh

miền núi, còn nhiều khó khăn Là một trong số những tỉnh nghèo nhất cả

nước, đặc biệt là khu vực nông nghiệp, nông thôn Bắc Kạn nằm ở vị trí trung

tâm của các tỉnh thuộc khu Việt Bắc, gồm có 8 đơn vị hành chính, gồm 7

huyện và một thị xã Để xây dựng nông thôn Bắc Kạn theo tiêu chí mới, đòi

hỏi phải có sự đánh giá một cách tổng quát, bên cạnh sự nỗ lực của toàn

Đảng, toàn dân và huy động các nguồn lực trong xã hội cùng tham gia vào

phát triển nông thôn

Chợ Mới là một huyện vùng núi cao của tỉnh Bắc Kạn, kinh tế chủ yếu

dựa vào nông - lâm nghiệp Nằm trên trục quốc lộ 3 nối Hà Nội - Thái

Nguyên - Bắc Kạn - Cao Bằng, Chợ Mới vẫn là một huyện phát triển dựa chủ

yếu vào nông nghiệp, nhưng đồng thời cũng có những thuận lợi nhất định để

phát triển và có cơ hội thực hiện thành công xây dựng nông thôn mới Tuy

vậy huyện Chợ Mới chưa có nghiên cứu nào đánh giá thực trạng và đề ra

những giải pháp khoa học nhằm xây dựng nông thôn mới góp phần phát triển

kinh tế xã hội địa phương đồng thời thực hiện thắng lợi nghị quyết của tỉnh

Đảng bộ Bắc Kạn xuất phát từ thực tế khách quan đó đề tài “Giải pháp xây

dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn” là yêu

cầu đặt ra mang tính cấp thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới, đánh giá và phân tích thực trạng tình hình nông thôn ở huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn sẽ phát hiện những mặt mạnh, những tồn tại và những tiềm năng

từ đó đề ra những giải pháp có tính khoa học và khả thi nhằm xây dựng nông thôn mới ở huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn về xây dựng nông thôn mới

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới;

- Đánh giá và phân tích thực trạng tình hình nông thôn ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn;

- Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng thành công nông thôn mới

4 Đóng góp mới của đề tài

Một là, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới

Trang 8

Hai là, đánh giá thực trạng nông thôn trong điều kiện để triển hai xây

dựng nông thôn mới, đặc biệt đối với huyện miền núi, điều kiện còn nhiều

khó khăn

Ba là, Đề tài đưa ra các giải pháp khoa học có tính khả thi nhằm xây

dựng nông thôn mới, là tài liệu có giá trị cho các nhà quản lý địa phương

huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn nói riêng và các huyện miền núi nói chung

Đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị cho những người học tập nghiên

cứu và những người quan tâm đến xây dựng nông thôn mới

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học về xây dựng nông thôn mới và phương pháp

nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng phát triển nông thôn ở huyện Chợ Mới tỉnh

Bắc Kạn

Chương 3: Giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng và phát triển nông thôn

mới ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới

1.1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới

1.1.1.1 Nông thôn và vai trò của nông thôn trong sự nghiệp phát triển đất nước

* Khái niệm về nông thôn Theo từ điển tiếng Việt: Nông thôn là danh từ chỉ khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông; phân biệt với thành thị

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cho rằng: Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Thông tư số: 54/2009/TT -

BNNPTNT thì nông thôn được khái niệm: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã

Như vậy Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó tập chung chủ yếu là nông dân, nghề nghiệp chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Tập hợp này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh sự quản lý hành chính cơ sở

là UBND xã;

* Đặc điểm của nông thôn Việt Nam trong giai đoạn đổi mới

- Ở vùng nông thôn, các cư dân chủ yếu là nông dân, lao động và GDP nông nghiệp chiếm tỷ cao trong kinh tế nông thôn Nông thôn Việt Nam sau những năm đổi mới đến nay đã có nhiều biến đổi theo xu hướng tích cực Tuy nhiên, lực lượng dân cư chủ yếu vẫn là nông dân, ngành nghề và nguồn thu của hộ vẫn chủ yếu là nông nghiệp Công nghiệp và dịch vụ đã có sự phát

Trang 9

triển, nhưng còn chiếm tỷ lệ nhỏ, và chủ yếu phát triển dựa trên sự phát triển

của nông thôn và phục vụ cho sự phát triển nông nghiệp và đời sống người

nông dân là chính

- Nông thôn có điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái đa dạng bao

gồm các tài nguyên đất, nước, khí hậu, rừng,sông suối, ao hồ, khoáng sản, hệ

động thực vật Đây là điều kiện thuận để phát triển nông nghiệp, nông thôn,

nhưng đồng thời cũng là thách thức trong quá trình phát triển bền vững của

khu vực nông thôn nói riêng và cả nước nói chung

- Dân cư nông thôn có mối quan hệ họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với

những quy định cụ thể của từng họ tộc và gia đình Những người ngoài họ tộc

cùng chung sống luôn có tinh thần đòan kết giúp đỡ nhau tạo nên tình làng,

nghĩa xóm lâu bền

- Nông thôn lưu giữ và bảo tồn nhiều di sản văn hóa quốc gia như

phong tục tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp và

ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hóa, các danh lam thắng

cảnh… Đây chính là nơi chứa đựng kho tàng văn hóa dân tộc, đồng thời là

khu vực giải trí và du lịch sinh thái phong phú và hấp dẫn đối với mọi người

* Vai trò của nông thôn trong phát triển kinh tế xã hội

- Nông thôn là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống

nhân dân

- Cung cấp nguyên vật liệu cho công nghiệp

- Cung cấp hàng hóa cho xuất khẩu

- Cung cấp lao động cho công nghiệp và thành thị

- Là thị trường rộng lớn tiêu thụ những sản phẩm công nghiệp vả

dịch vụ

- Phát triển nông thôn tạo điều kiện phát triển ổn định về kinh tế- chính

trị - xã hội

1.1.1.2 Xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là nông thôn được xây dựng đạt được những

tiêu chí quy định và được công nhận của cấp có thẩm quyền

Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đưa ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”;

Như vậy, Xây dựng nông thôn mới phải đạt những nội dung cơ bản sau: làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; đời sống về vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ

Thực tế hiện nay trong quá trình chỉ đạo xã điểm triển khai xây dựng nông thôn mới ở nước ta đang gặp phải 3 khó khăn lớn nhất: Đầu tiên là tăng nhanh, bền vững thu nhập cho nông dân, mục tiêu đến 2020 thu nhập tăng gấp 2,5 lần hiện nay Khó khăn tiếp theo là xây dựng hạ tầng nông thôn hiện đại, trong điều kiện thực tế hạ tầng nông thôn quá lạc hậu nhất là miền núi, vùng ĐBSCL, trong khi nguồn vốn đầu tư của Chính phủ rất hạn chế Cuối cùng là vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn, sao cho đến năm 2020 lao động nông nghiệp chiếm 30% lao động của xã hội (hiện nay gần 60%)

* Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay

Việt Nam là một nước nông nghiệp, tiến lên xây dưng nhà nước xã hội chủ nghĩa, sự ổn định về chính trị - xã hội là nền tảng cơ bản để thực hiện thành công mục tiêu này Việt Nam, với dân số lao động nông nghiệp tính đến

Trang 10

năm 2010 là khoảng 27 triệu người, chiếm 60% tổng lao động xã hội, khu vực

nông thôn có vai trò rất lớn trong sự ổn định và phát triển về mặt kinh tế -

chính trị - xã hội

Bên cạnh đó, nông thôn có vai trò rất lớn trong sự phát triển kinh tế

nông nghiêp của Việt Nam; tốc độ tăng trưởng bình quân từ năm 2006 - 2010

đạt 3,36% Giá trị sản xuất toàn ngành từ ước tăng 4,69% trong năm 2010

bình quân 5 năm đạt 4,93% (mục tiêu kế hoạch là 4,5%); Tổng kim ngạch

xuất khẩu toàn ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn tính của năm 2010 (giá

trị đạt 19,15 tỷ USD; tăng 22.3% so vơi kế hoạch đề ra đầu năm) Xuất khẩu

nông sản góp phần cân bằng cán cân thương mại, đồng thời là tích lũy nguồn

vốn cho phát triển các mục tiêu khác của đất nước

Với vai trò quan trọng như vậy, nhưng so với thành thị, nông thôn găp

phải rất nhiều khó khăn Tỷ lệ người nghèo lớn, và tập trung chủ yếu ở khu

vực này Do đó, đòi hỏi phải có sự quan tâm và đầu tư thích đáng cho khu vực

nông nghiệp - nông thôn

Trong nhưng năm qua, nguồn vốn đầu tư cho khu vực nông nghiệp,

nông thôn rất lớn, tuy nhiên đầu tư mang tính dàn trải và hiệu quả không cao

Một trong những lý do dẫn đến tình trạng này là thiếu mục tiêu cụ thể trong

phát triển nông nghiệp - nông thôn

Từ những vai trò, đóng góp, và hiện trạng đầu tư vào khu vực nông

thôn, đòi hỏi Việt Nam phải đẩy mạnh phát triển khu vực này Chúng ta có

thể rút ra một số vấn đề sau:

Một là, phải tập trung đẩy mạnh phát triển nông nghiệp - nông thôn làm

cơ sở cho thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước, xây dựng thành

công nhà nước xã hội chủ nghĩa do dân và vì dân;

Hai là, phải đặt ra mục tiêu cụ thể cho phát triển khu vực nông nghiệp,

nông thôn làm bàn đạp, làm kim chỉ nam cho quá trình đầu tư và phát triển

Ba là, nhanh chóng đưa khu vực nông thôn phát triển, theo kịp với sự phát triển của khu vực thành thị

Từ những nhận thức đó, đòi hỏi phải xây dựng được bộ tiêu chí về nông thôn mới, làm kim chỉ nam cho quá đầu tư và phát triển nông thôn là rấ cần thiết Vì vậy, Chính phủ đã ra Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4 tháng 6 năm 2010 về phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, mục tiêu về xây dựng nông thôn mới: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp , dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng của xã hội chủ nghĩa

* Lịch sử ra đời của mô hình nông thôn mới

Trong 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, sản xuất nông nghiệp và kinh tế - xã hội nông thôn đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, nông nghiệp

có tốc độ phát triển cao (4,25% năm), liên tục và ổn định, đã góp phần đưa đất nước vượt qua cơn khủng hoảng, ổn định trính trị, tạo tiền đề phát triển và thực hiện quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Những thành tựu trong những năm đổi mới đã đưa nước ta từ một nước thiếu lương thực trở thành nước xuất gạo đứng thứ 2 trên thế giới Trên cơ phát huy lợi thế của các vùng sinh thái, thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa gắn liền với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa…, Dựa trên những thành công và kinh nghiệm trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp của nhiều nước phát triển trên thế giới, dựa trên những tình hình, điều kiện phù hợp của nước ta

Trang 11

Ngày 05/08/2008 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

đã ban hành Nghị quyết số 26 - NQ/TW về nông nghiệp, nông dân nông thôn

Mục tiêu của Nghị quyết, đến năm 2020: “… Giải quyết cơ bản việc làm,

nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn gấp trên 2,5 lần so với hiện nay Lao

động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỉ lệ lao động nông thôn

thông qua đào tạo đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng

50%; phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn…”

Để triển khai Nghị quyết số 26 - NQ/TW, với chủ trương đưa nông

thôn tiến kịp với thành thị, xây dựng mục tiêu hiện đại hóa nông thôn Việt

Nam vào cuối năm 2020

Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 491/QĐ-TTg , ngày 16 tháng

4 năm 2009 về việc ban hành Bộ tiêu trí quốc gia về xây dựng nông thôn mới

để các địa phương có căn cứ xây dựng, phất triển nông thôn Ngày 2 tháng 2

năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 193/QĐ-TTg phê duyệt

chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới Ngày 4 tháng 6 năm

2010 Chính phủ ra Quyết định số 800/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình mục

tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, với mục tiêu: đến

năn 2015: 20% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới, đến năm 2020: 50% số xã

đạt tiêu chuẩn nông thôn mới Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng

ban hành thông tư số 54/2009/BNNPTNT ngày 21 tháng 8 năm 2009 về việc

hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu trí quốc gia về nông thôn mới… Xây dựng nông

thôn mới được tất cả các tỉnh trên phạm vi toàn quốc quan tâm

1.1.1.3 Tiêu chí xây dựng nông thôn mới

* Nội dung của Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới

Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16

tháng 4 năm 2009 về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

Theo bộ tiêu chí chỉ tiêu quốc gia bộ tiêu chí có 3 cấp độ: xã nông thôn

mới, huyện nông thôn mới và tỉnh nông thôn mới, trong đó xã nông thôn

mới có 19 tiêu chí cụ thể, còn đối với huyện nông thôn mới căn cứ vào tỷ

lệ số xã thuộc huyện đạt nông thôn mới (75% số xã đạt 19 tiêu chí nông thôn mới) và tỉnh nông thôn mới căn cứ vào tỷ lệ số huyện thuộc tỉnh đạt nông thôn mới (80% số huyện đạt tiêu chí nông thôn mới) 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới bao gồm:

Nhóm tiêu chí về quy hoạch có 01 tiêu chí:

Tiêu chí Quy hoạch và thực hiện quy hoạch bao gồm: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ; Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh

tế - xã hội - môi trường theo chuẩn mới; Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp

Nhóm tiêu chí về hạ tầng Kinh tế - Xã hội có 08 tiêu chí:

Tiêu chí Giao thông bao gồm: Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT; tỷ lệ

km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT; tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa; tỷ lệ

km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện Tiêu chí Thủy lợi bao gồm: Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh; tỷ lệ km trên mương do xã quản lý được kiên cố hóa Tiêu chí Điện bao gồm: Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn Tiêu chí Trường học bao gồm: Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học, THCS có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia

Tiêu chí về cơ sở vật chất văn hóa bao gồm: Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ VH-TT-DL; tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ VH-TT-DL

Tiêu chí Chợ nông thôn: Chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng

Trang 12

Tiêu chí Bưu điện bao gồm: Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông; có

Internet đến thôn

Tiêu chí nhà ở dân cư bao gồm: Nhà tạm, dột nát; Tỷ lệ hộ có nhà ở đạt

tiêu chuẩn Bộ Xây dựng

Nhóm tiêu chí về Kinh tế và tổ chức sản xuất có 04 tiêu chí:

Tiêu chí thu nhập: Thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức bình

quân chung của tỉnh

Tiêu chí hộ nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo

Tiêu chí cơ cấu lao động: Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong

lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp

Tiêu chí hình thức tổ chức sản xuất: Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt

động có hiệu quả

Nhóm tiêu chí về Văn hóa - Xã hội - Môi trường có 04 tiêu chí:

Tiêu chí về giáo dục bao gồm: Phổ cập giáo dục trung học; tỷ lệ học

sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học

nghề); Tỷ lệ lao động qua đào tạo

Tiêu chí về y tế bao gồm: Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo

hiểm y tế; Y tế xã đạt chuẩn quốc gia

Tiêu chí về văn hóa: Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn

làng văn hóa theo quy định của Bộ VH-TT-DL

Tiêu chí về môi trường bao gồm: Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp

vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia; Các cơ sở SX-KD đạt tiêu chuẩn về môi

trường; không có các hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động

phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp; Nghĩa trang được xây dựng theo quy

hoạch; Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định

Nhóm tiêu chí hệ thống chính trị gồm 02 tiêu chí:

Tiêu chí hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh bao gồm: Cán bộ

xã đạt chuẩn; Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định;

Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”; Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên

Tiêu chí an ninh, trật tự xã hội: An ninh, trật tự xã hội được giữ vững

(Chi tiết theo phụ lục số 01)

1.1.2 Kinh nghiệm xây dựng và phát triển nông thôn ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.2.1 Kinh nghiệm xây dựng và phát triển nông thôn ở một số nước trên thế giới

a Kinh nghiệm xây dựng và phát triển nông thôn ở Hàn Quốc

Nhờ hiệu quả của phong trào Saemaul Undong mà Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia giàu có, hiện đại bậc nhất châu Á

Nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến khu vực kinh tế nông thôn khi thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ I (1962-1966) và thứ II (1966-1971) với chủ trương công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu, tháng 4 năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc phát động phong trào Saemaul Undong Mục tiêu của phong trào này là "nhằm biến đổi cộng đồng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới: mọi người làm việc và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng mình ngày một đẹp hơn và giàu hơn Cuối cùng là để xây dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn"

Theo đó, Chính phủ vừa tăng đầu tư vào nông thôn vừa đặt mục tiêu thay đổi suy nghĩ ỷ lại, thụ động vốn tồn tại trong đại bộ phận dân cư nông thôn Điểm đặc biệt của phong trào NTM của Hàn Quốc là Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần nguyên, vật liệu còn nông dân mới chính là đối tượng ra quyết định và thực thi mọi việc Saemaul Undong cũng rất chú trọng đến phát huy dân chủ trong xây dựng NTM với việc dân bầu ra một nam và một nữ lãnh đạo phong trào Ngoài ra, Tổng thống còn định kỳ mời 2 lãnh đạo phong trào

Trang 13

ở cấp làng xã tham dự cuộc họp của Hội đồng Chính phủ để trực tiếp lắng

nghe ý kiến từ các đại diện này Nhằm tăng thu nhập cho nông dân, Chính

phủ Hàn Quốc áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy móc nông

nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến nông sản Ngân hàng Nông nghiệp cho doanh

nghiệp vay vốn đầu tư về nông thôn với lãi suất giảm 2% so với đầu tư vào

ngành nghề khác Năm 2005, Nhà nước ban hành đạo luật quy định mọi hoạt

động của các bộ, ngành, chính quyền phải hướng về nông dân Nhờ hiệu quả

của phong trào Saemaul Undong mà Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp

nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia giàu có, hiện đại bậc nhất châu Á

b Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc

Tháng 3/2006 Trung ương Đảng cộng sản và Quốc vụ viện (Chính phủ)

Trung Quốc công bố Bản “tài liệu số 1” Trung Quốc quyết tâm giải quyết vấn

đề nông thôn; chủ trương xây dựng “Nông thôn mới xã hội chủ nghĩa” là

nhiệm vụ chính của kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 Tài liệu này đề cập những

chiến lược cơ bản trong đó chú trọng đến “Điều chỉnh mối quan hệ trong phân

phối thu nhập, quy phạm, trật tự phân phối: thu nhập, tăng thu nhập cho tầng

lớp người có mức sống trung bình và thấp Kiên trì “Cho nhiều, lấy ít, nuôi

sống” đặc biệt là áp dụng nhiều biện pháp trong việc “cho nhiều” đối với

nông dân; đồng thời đưa ra các giải pháp nhiều mặt về xây dựng nông thôn,

vấn đề xã hội và dân chủ, khác với tài liệu các năm trước nói đến các vấn đề

riêng biệt như sản xuất lương thực, thu nhập nông dân và khả năng sản xuất

nông nghiệp Việc phát triển kinh tế và xã hội của Trung Quốc đã vào một

thời kỳ mới

Có 5 lý do để đặt vấn đề xây dựng nông thôn xã hội chủ nghĩa mới:

Một là: Nông nghiệp chưa đạt mức có thể làm cơ sở cho việc phát triển

kinh tế xã hội và nâng cao sinh kế của nhân dân

Hai là: Sản lượng lương thực đạt 484 triệu tấn năm 2005, chưa đủ thoả

mãn yêu cầu, so với năm cao nhất thấp hơn 30 triệu tấn

Ba là: Thiếu đất trồng trọt và nước là cản trở cho việc phát triển

nông nghiệp

Bốn là: Cần đầu tư nhiều hơn nữa vào nông nghiệp để tăng việc áp

dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất

Năm là: Khoảng cách giữa đô thị và nông thôn đang tăng thêm

Thu nhập thuần đầu người của nông thôn Trung Quốc năm 2005 là 3.255 nguyên (402 USD), trong lúc của dân đô thị là 10.493 nguyên, cao hơn 322%, nếu lấy sự khác nhau về cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội như giáo dục, y tế, văn hóa thì còn cao hơn nhiều Một nông thôn xã hội chủ nghĩa mới cần cho sự tăng nhu cầu trong nước Thu nhập và sức mua thấp của nông dân làm cho nhu cầu của nông thôn không mở rộng, năm 2005 chỉ chiếm 32,9% của giá trị bán lẻ trong nước Xây dựng nông thôn xã hội chủ nghĩa mới sẽ tạo ra một xã hội hài hòa, công bằng và có lợi cho toàn dân

Năm mục tiêu của nông thôn xã hội chủ nghĩa là: năng suất nông thôn,

Cơ sở hạ tầng, phát triển xã hội, dân chủ và mức sống Đây không phải

là xây dựng làng xã mới Phải chú ý đến hiệu quả và hệ quả trước mắt hơn là vào bề ngoài Phải sử dụng sự thương lượng dân chủ hơn là dùng chỉ thị Nông thôn phải phát triển tùy theo khả năng và đặc điểm bản thân, Nhà nước chỉ hỗ trợ bằng dự án

Tài liệu này đưa ra 7 nhiệm vụ chính để tăng lợi nhuận cho nông dân, giảm gánh nặng cho họ và cụ thể hóa nhiệm vụ, chiến lược đề ra thành 32 biện pháp có lợi cho nông dân trong đó có phát triển nông nghiệp hiện đại, tăng thu nhập của nông dân và cải tiến cơ sở hạ tầng nông thôn Sau đây là tóm tắt nội dung các biện pháp:

Nhà nước đầu tư nhiều hơn vào nông nghiệp: Ngân sách cho phát triển nông thôn tăng lên Xây dựng một cơ chế để công nghiệp và đô thị thúc đẩy phát triển nông thôn Sự phân phối thu nhập quốc dân sẽ được điều chỉnh để

Trang 14

cho việc tiêu thụ thuế, đầu tư ngân sách, tài sản cố định và tín dụng sẽ tăng

cho nông nghiệp và nông thôn Hỗ trợ từ vốn nhà nước sẽ lớn và tăng liên tục

Phần lớn trái phiếu, vốn ngân sách sẽ đi về phát triển nông thôn Đặc biệt đầu

tư để cải tiến sản xuất và điều kiện sống sẽ trở thành một luồng ổn định để

tăng vốn cho xây dựng

Cơ sở hạ tầng: Thuế vào việc sử dụng đất canh tác sẽ tăng lên và nhiều

thứ thuế mới sẽ được áp dụng trong phát triển nông thôn Sẽ có các quy định

để đảm bảo, điều tiết thu nhập thuế đất cho việc phát triển đất nông nghiệp

Phí thu từ sử dụng đất sẽ được dùng chủ yếu vào các dự án phát triển đất nông

nghiệp nhỏ và bảo vệ nước Chính phủ sẽ ưu tiên xây dựng các cơ sở hạ tầng

cần cấp thiết cho đời sống nông dân Chương trình nước sạch sẽ được thực

hiện nhanh hơn, trước hết ở các vùng nước bị ô nhiễm Năng lượng sạch sẽ

được áp dụng rộng rãi

c Kinh nghiệm xây dựng và phát triển nông thôn ở Nhật Bản

* Nhật Bản và phong trào "Mỗi làng, một sản phẩm"

Từ năm 1979, Tỉnh trưởng Oita-Tiến sĩ Morihiko Hiramatsu đã khởi

xướng và phát triển phong trào "Mỗi làng, một sản phẩm" (One Village, one

Product-OVOP) với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một

cách tương xứng với sự phát triển chung của cả Nhật Bản Phong trào "mỗi

làng một sản phẩm" dựa trên 3 nguyên tắc chính là: địa phương hóa rồi hướng

tới toàn cầu; tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo; phát triển nguồn nhân lực Trong

đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ

thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm được xác định là thế mạnh Sau 20

năm áp dụng OVOP, Nhật Bản đã có 329 sản phẩm đặc sản địa phương có giá

trị thương mại cao như như nấm hương Shitake, rượu Shochu lúa mạch, cam

Kabosu, giúp nâng cao thu nhập của nông dân địa phương

d Kinh nghiệm xây dựng và phát triển nông thôn ở Thái Lan

Tại Thái Lan, thông qua mô hình OVOP, Chính phủ đã xây dựng dự án cấp quốc gia "mỗi xã, một sản phẩm" (One Tambon one Product-OTOP) nhằm tạo ra sản phẩm mang tính đặc thù của địa phương có chất lượng, độc đáo, bán được trên toàn cầu Sản phẩm của OTOP được phân loại theo 4 tiêu chí: có thể xuất khẩu với giá trị thương hiệu; sản xuất liên tục và nhất quán; tiêu chuẩn hóa; đặc biệt, mỗi sản phẩm đều có một câu chuyện riêng Các tiêu chí trên đã tạo thêm lợi thế cho du lịch Thái Lan vì du khách luôn muốn được tận mắt chứng kiến quá trình sản xuất sản phẩm, từ đó có thể hiểu biết thêm

về tập quán, lối sống của người dân địa phương

1.1.2.2 Tình hình phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

* Những thành tựu đạt được trong quá trình phát triển nông thôn:

Kế thừa thành tựu xây dựng nông thôn trong những giai đoạn trước, trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua, phát triển nông thôn nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có thể khái quát như sau:

Một là: Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề đã góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho dân cư nông thôn

Giá trị sản xuất công nghiệp khu vực nông thôn tăng từ 17,34% năm

2000 lên 19,3% năm 2007 Công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản tăng trưởng bình quân 14,8%/năm, chiếm 28% cơ cấu giá trị sản xuất và 14% giá trị xuất khẩu của toàn ngành công nghiệp cả nước Sản xuất tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển với 2.017 làng nghề; số hộ chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh: năm 2007 là 3,46 triệu hộ, tăng 62% so với năm 2000

Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn tiếp tục được đổi mới Kinh

tế hộ tiếp tục phát triển theo hướng mở rộng quy mô sản xuất, góp phần chủ

Trang 15

yếu tạo tăng trưởng nông nghiệp, thu nhập cho nông dân Xuất hiện ngày

càng nhiều gia trại, trang trại chăn nuôi, thuỷ sản và kinh doanh tổng hợp đạt

hiệu quả kinh tế cao Tổ hợp tác phát triển nhanh, hoạt động đa dạng, phù hợp

với trình độ của nông dân ở nhiều vùng; các HTX nông nghiệp chuyển đổi và

thành lập mới theo Luật, thực hiện tốt hơn vai trò hỗ trợ kinh tế hộ Doanh

nghiệp nông thôn được phát triển với nhiều thành phần kinh tế tham gia

Hai là: Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được tăng cường,

nhất là thuỷ lợi, giao thông, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, từng bước

làm thay đổi bộ mặt nông thôn:

Thuỷ lợi tiếp tục được quan tâm đầu tư, phát triển theo hướng đa mục

tiêu Từ năm 2000 đến nay, năng lực tưới tăng thêm 575 ngàn ha, tiêu 235 ngàn

ha, đảm bảo tưới tiêu chủ động cho 83% diện tích gieo trồng lúa, một số cây

trồng khác và cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ Hệ thống đê sông,

đê biển được củng cố, nâng cấp một bước, nhiều công trình tiêu thoát lũ và trên

1.100 cụm tuyến dân cư ở ĐBSCL được xây dựng và phát huy tác dụng

Hệ thống giao thông, điện, kết cấu hạ tầng xã hội ở nông thôn có bước

phát triển nhanh về số lượng Đến nay, 96,9% số xã có đường ô tô đến khu

trung tâm; 96,8% số xã và 93,3% số hộ có điện lưới quốc gia; 100% xã có

điện thoại cố định; hầu hết các xã đều có trường học, trạm y tế, trong đó hơn

40% số trường học được kiên cố hoá, 45% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế;

70% cư dân nông thôn có nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 100% số huyện có

Trung tâm văn hoá, thể thao; 38,6% số xã, 36% số thôn có nhà văn hoá

Ba là: Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn tiếp tục được đổi mới,

phát triển đa dạng, đã huy động và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực ở

nông thôn, cư dân ở nông thôn có thêm việc làm, thu nhập được nâng cao

Kinh tế hộ tiếp tục phát triển theo hướng mở rộng quy mô sản xuất,

góp phần chủ yếu tạo tăng trưởng nông nghiệp, thu nhập cho nông dân Xuất

hiện ngày càng nhiều gia trại, trang trại chăn nuôi, thuỷ sản và kinh doanh tổng hợp đạt hiệu quả kinh tế cao Tổ hợp tác phát triển nhanh, hoạt động đa dạng, phù hợp với trình độ của nông dân ở nhiều vùng; các HTX nông nghiệp chuyển đổi và thành lập mới theo Luật, thực hiện tốt hơn vai trò hỗ trợ kinh tế hộ Doanh nghiệp nông thôn được phát triển với nhiều thành phần kinh tế tham gia Từ năm 2000 đến nay số lượng công ty TNHH trong nông nghiệp tăng 2,1 lần, công ty cổ phần 2,7 lần và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,5 lần; các doanh nghiệp nhà nước tiếp tục được sắp xếp,

Xóa đói giảm nghèo đạt thành tựu to lớn, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Nhà nước đã có nhiều chương trình, chính sách, hình thức hỗ trợ thiết thực cho các hộ nghèo, gia đình chính sách, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Đến 2007, về cơ bản đã xóa được đói, tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn còn 18%

Trang 16

Năm là: Hệ thống chính trị ở nông thôn do Đảng lãnh đạo được tăng

cường; dân chủ cơ sở được phát huy; vị thế của giai cấp nông dân được nâng

cao; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững

Tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng ở cơ sở được

tăng cường và kiện toàn Đến nay, 89% số thôn, bản có tổ chức đảng, 56% cán

bộ công chức xã được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ và quản lý Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam cùng với các đoàn thể quần chúng đóng góp tích cực giải

quyết nhiều vấn đề ở nông thôn Việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ngày

càng đi vào nề nếp, góp phần quan trọng tạo nên sự đồng thuận ở nông thôn

Nông dân là lực lượng lớn, chiếm 54% tổng số lao động cả nước, là chủ

thể trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, trình độ giác ngộ chính trị, kiến

thức về sản xuất hàng hoá của nông dân được nâng lên, dần thích nghi với cơ

chế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế Mặc dù tình hình chính trị trên thế giới

và khu vực có những diễn biến phức tạp, đời sống còn khó khăn, nhưng nông

dân vẫn luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, xã hội nông thôn ổn định

* Những nhược điểm, yếu kém trong quá trình phát triển nông thôn

Bên cạnh những thành tựu đạt được, phát triển nông thôn nước ta đang

bộc lộ một số mặt khuyết điểm, yếu kém, được khái quát với 4 nội dung chính

như sau:

- Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã

hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm, năng lực thích ứng, đối

phó với thiên tai thấp

Quy hoạch đô thị, xây dựng nông thôn còn rất thiếu Tới nay mới chỉ

có khoảng 20% khu dân cư nông thôn có quy hoạch xây dựng nhưng chất

lượng quy hoạch lại thấp Đa số nông thôn phát triển tự phát, cảnh quan bị

phá vỡ và nhiều nét văn hóa bị pha tạp, mai một

Thủy lợi chưa đáp ứng đủ nhu cầu của sản xuất nông nghiệp (hiện còn

0,7 triệu ha đất lúa, 50% diện tích cà phê, 80% diện tích rau màu chưa được

tưới); chất lượng nhiều công trình xuống cấp, trung bình mới phát huy khoảng 50-70% công suất thiết kế

Phần lớn chất lượng đường giao thông nông thôn còn thấp, chủ yếu mới phục vụ dân sinh, chưa đảm bảo phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hoá Chưa đáp ứng đủ nhu cầu điện phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và dân cư nông thôn về

cả chất lượng và sản lượng Chất lượng cơ sở khám chữa bệnh còn hạn chế; nhiều trường lớp, cơ sở văn hoá còn tạm bợ, ít cơ sở hoạt động thể dục thể thao Môi trường nông thôn ngày càng bị ô nhiễm, chủ yếu do chất thải sinh hoạt, chăn nuôi, nông dược Hầu hết các vùng ven đô thị, khu công nghiệp bị ảnh hưởng ngày càng trầm trọng Nhiều làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng Trong khi đó mới chỉ có 33% số hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh, 74,7% hộ có nhà tắm, 12,2% xã có công trình thoát nước; 28,4% xã có tổ chức thu gom rác thải; năng lực dự báo, cảnh báo cũng như cơ sở hạ tầng còn thấp kém Hệ thống phòng chống, giảm nhẹ thiên tai và việc phân bố dân cư hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ sản xuất, dân sinh, nhất là để đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu và nước biển dâng trong dài hạn

- Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn còn ở mức thấp, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng ngày càng lớn; tỷ lệ hộ nghèo còn cao; phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc Hiện chưa hình thành một hệ thống an sinh xã hội thống nhất và thông

suốt cho các vùng nông thôn Hệ thống hiện hành mới nhằm bù đắp cho những người có công, cứu trợ nhất thời cho những người khó khăn khi có dịch bệnh, thiên tai Đa số nông dân phải tự lo cho bản thân và gia đình khi gặp khó khăn, rủi ro Hiện tại mới có khoảng 50% dân cư nông thôn có bảo hiểm y tế, những người còn lại phải tự lo khi bị bệnh

Nếp sống văn hoá chậm hình thành (kết quả đạt được trong xây dựng nếp sống văn hoá chưa bền vững); Tệ nạn xã hội vẫn gia tăng; Mức hưởng thụ

Trang 17

về văn hoá của nông dân còn thấp, còn có khoảng cách quá xa giữa các vùng

miền; Sinh hoạt văn hoá cộng đồng còn nghèo nàn, thiếu sức hấp dẫn, thu hút

Các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao trong cộng đồng có tỷ lệ người tham

gia rất ít Tình trạng nghiện ma tuý, tệ nạn mại dâm, cờ bạc có xu hướng phát

triển Một số hủ tục vẫn dai dẳng, thậm chí có nơi trỗi dậy mạnh, nhất là trong

việc cưới, việc tang, lễ hội Các mối quan hệ cộng đồng cổ truyền, nhất là

quan hệ làng xã là yếu tố quan trọng làm nền tảng xã hội ở nông thôn ở nhiều

nơi bị xói mòn nghiêm trọng Nhiều quan hệ cộng đồng làng, xã trước đây

được sử dụng rất có hiệu quả thì nay đang bị hành chính hoá làm méo mó các

mối quan hệ ở nhiều vùng nông thôn

Sự phân tầng xã hội ở nông thôn đang diễn ra nhanh, sự chênh lệch về

điều kiện và mức sống gia tăng trong phạm vi cả nước và mỗi làng, xã

Chênh lệch về thu nhập giữa nhóm 10% giàu nhất với 10% nghèo nhất năm

2006 là 13,5 lần

Tới nay vẫn chưa có chương trình chiến lược về đào tạo, nâng cao kiến

thức cho cư dân nông thôn về xây dựng nông thôn mới Sự chuyển dịch cơ

cấu lao động nông nghiệp, nông thôn còn mang tính tự phát và thiếu sự chuẩn

bị Chất lượng lao động nông nghiệp, nông thôn còn thấp so với yêu cầu CNH

HĐH, nhất là ở vùng cao, vùng xa” Việc nâng cao trình độ giác ngộ chính trị

của nông dân nhiều nơi chưa được quan tâm thường xuyên đúng mức, khá

phổ biến là quyền lợi của nông dân không được đảm bảo (phải đóng góp

nhiều, bị thua thiệt khi bị thu hồi đất, việc thực thi dân chủ chưa được đảm

bảo) Tình trạng nghèo khó, chênh lệch thu nhập và cuộc sống, những tiêu cực

trong cuộc sống, nhất là tình trạng tham nhũng, quan liêu, cửa quyền, thoái

hoá, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên làm ảnh hưởng, xói mòn

niềm tin của một bộ phận nông dân

- Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn đổi mới chậm, chưa

đủ sức phát triển mạnh sản xuất hàng hoá Kinh tế hộ đóng vai trò chủ

yếu, nhưng phổ biến là quy mô nhỏ (36% hộ có dưới 0,2 ha) Kinh tế trang trại mới chỉ chiếm hơn 1% tổng số hộ nông, lâm, ngư nghiệp của cả nước Kinh tế tập thể chậm phát triển, nhiều HTX hoạt động hình thức, chưa làm tốt vai trò cùng với kinh tế nhà nước dần trở thành nền tảng Đổi mới, sắp xếp nông lâm trường quốc doanh tiến hành chậm, việc rà soát, điều chỉnh quỹ đất đai gặp nhiều vướng mắc Lao động nông thôn thiếu việc làm Chưa

có cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút các doanh nghiệp đầu tư nhiều vào địa bàn nông thôn

- Công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn Số doanh

nghiệp công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn còn ít và tăng chậm Rất ít nhà máy trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp, phần lớn vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc thú y, bảo vệ thực vật và máy móc nông nghiệp vẫn phải nhập khẩu (năm 2007, nhập khẩu khoảng 5,5 tỷ USD) Tỷ trọng nông nghiệp trong

cơ cấu kinh tế nông thôn còn chiếm hơn 40% so với 20% của cả nước, nhiều vùng chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp

Chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ còn rất chậm, trong giai đoạn 2001-2006, chỉ giảm bình quân gần 2%/năm Năng suất lao động nông nghiệp còn thấp chỉ bằng khoảng ½ của Thái Lan, Inđônêxia và Philipin Sự chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn từ nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ còn khá chậm Trong giai đoạn 2001-2006, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm mới được 10,4% (bình quân 1 năm mới chuyển được gần 2%), trong đó chuyển sang làm công nghiệp, xây dựng 5,1%, làm dịch vụ 4,4%; lao động trong nông nghiệp đến

2006 vẫn chiếm 55,7% trong tổng số của cả nước (24,1 triệu người) Năng suất lao động nông nghiệp còn thấp, chưa bằng ½ của Thái Lan, Indonêxia

và Philipin

Trang 18

Những mặt yếu kém trong phát triển nông thôn giai đoạn qua, đang là

những cản trở cho việc thực hiện các mục tiêu của CNH-HĐH, dự báo tới một

sự phát triển không bền vững trong tương lai

Vì vậy, rất cần phải có chương trình phát triển tổng thể, tận dụng được

những bài học kinh nghiệm, giải quyết đồng bộ các mặt yếu kém nhằm đẩy

mạnh xây dựng và phát triển nông thôn mới có kinh tế phát triển, đời sống vật

chất tinh thần của người dân được nâng cao, hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại,

môi trường sinh thái xanh - sạch - đẹp; bản sắc văn hoá được giữ gìn và phát

huy; hệ thống chính trị được củng cố góp phần quan trọng vào thực hiện mục

tiêu cơ bản đưa nước ta thành nước công nghiệp và hiện đại vào năm 2020

* Một số kinh nghiệm phát triển nông thôn trong nước

Những năm qua, Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách và các cuộc

vận động nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, trong đó điển

hình là một số chương trình, dự án tác động nhiều đến nông thôn như:

Chương trình Mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo và tạo việc làm;

Chương trình 135, Chương trình MTQG nước sạch và vệ sinh môi trường

nông thôn, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và một số chương trình, dự án

lớn khác như: phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa";

“Thực hiện quy chế dân chủ và cải cách thủ tục hành chính ở cơ sở”; “Phong

trào xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn”; “Đề án thí điểm xây dựng mô hình

nông thôn mới cấp thôn, bản”; Chương trình vay vốn tín dụng ưu đãi để thực

hiện kiên cố hoá kênh mương, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản và làng nghề

nông thôn; Chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư vuợt lũ ở ĐBSCL;

Chương trình khám chữa bệnh cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi;

Chương trình 134, 120, 193… Mỗi chương trình đó đã tác động đến một hoặc

một số mặt của kinh tế - xã hội nông thôn Tuy nhiên những Chương trình có

mục tiêu phát triển đồng bộ nông thôn thì rất ít, từ năm 2001 đến nay, chỉ có 2

Chương trình thí điểm của Ban Kinh tế Trung ương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng tới mục tiêu này:

- Đề án thí điểm phát triển nông thôn mới cấp xã

Kể từ năm 2001, Ban Kinh tế Trung ương cùng với Bộ Nông nghiệp và PTNT, các Bộ, ngành và địa phương đã bắt đầu triển khai xây dựng mô hình điểm “Phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hợp tác hoá, dân chủ hoá” (gọi chung là mô hình phát triển nông thôn mới cấp xã) tại các vùng sinh thái Chương trình phát triển nông thôn đã được triển khai tại

14 xã điểm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (tăng lên 18 xã trong năm 2004) và khoảng 200 xã điểm của các địa phương Chương trình phát triển nông thôn cấp xã bao gồm 5 nội dung cơ bản: phát triển kinh tế hàng hoá với một cơ chế phù hợp khai thác được lợi thế của địa phương, có thị trường tiêu thụ; phát triển cơ sở hạ tầng phù hợp với nền nông nghiệp hàng hoá đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá; xây dựng khu dân cư văn minh; tăng cường công tác văn hoá, y tế, giáo dục trong nông thôn và xây dựng đội ngũ cán bộ; tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, phát huy vai trò của cán bộ tổ chức quần chúng, thực hiện tập trung dân chủ

Chương trình phát triển nông thôn cấp xã đã triển khai được một số hoạt động như đào tạo cho cán bộ các xã điểm, triển khai qui hoạch cho 18 xã điểm của Bộ Nông nghiệp và PTNT, lồng ghép các chương trình, dự án về khuyến nông, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn cho 18 xã điểm Nhờ vậy, cơ sở hạ tầng và bộ mặt nông thôn của các xã điểm đã có sự thay đổi đáng kể, nhiều hệ thống nước sạch, xử lý nước thải đã hình thành và đi vào hoạt động có hiệu quả Sản xuất nông nghiệp và nhất là ngành nghề có hiệu quả cao hơn, sản phẩm làm ra cạnh tranh được trên địa bàn trong nước cũng như quốc tế

Trang 19

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, mô hình phát triển nông

thôn cấp xã đã bộc lộ một số tồn tại:

Kế hoạch xây dựng mô hình đòi hỏi nhu cầu vốn rất lớn lại không có

nguồn lực đảm bảo nên hầu hết các mô hình cấp xã đều không có tính khả thi

Mặt khác mô hình được xây dựng theo dạng dự án đầu tư phát triển nên cán

bộ và người dân ở "điểm" có tâm lý ỷ lại, trông chờ vào nhà nước mà chưa

huy động được nguồn lực của người dân và cộng đồng nên chưa mang tính xã

hội sâu sắc và vì vậy thiếu tính bền vững trong xây dựng nông thôn mới

Đội ngũ cán bộ xã tuy có được đào tạo, nhưng nội dung đào tạo chưa

đủ tầm, tình trạng phổ biến là chưa nắm vững yêu cầu và phương pháp triển

khai dự án

Bộ máy tổ chức chỉ đạo triển khai chương trình không được hình thành

thống nhất, đồng bộ từ cấp trung ương xuống các địa phương, không phân

định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành, các cấp chính quyền trong việc tổ

chức chỉ đạo, triển khai, theo dõi và đánh giá chương trình nên rời rạc và hiệu

quả thấp

- Đề án thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới cấp thôn, bản

Năm 2007, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã triển khai thí điểm Đề án

Xây dựng Nông thôn mới theo phương pháp tiếp cận mới “dựa vào nội lực và

do cộng đồng làm chủ” Đề án thì điểm này được triển khai ở 15 thôn tại 14

tỉnh đại diện cho các vùng kinh tế văn hoá khác nhau Nội dung thực hiện chủ

yếu gồm: Đào tạo nâng cao năng lực phát triển cộng đồng; Nâng cấp điều

kiện sống cho người dân nông thôn; Hỗ trợ người dân phát triển sản xuất hàng

hoá nông nghiệp, dịch vụ nông thôn để nâng cao thu nhập và Phát triển mỗi

làng một nghề

Qua 2 năm thực hiện, Chương trình thí điểm xây dựng mô hình nông thôn

mới của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đạt được 6 nội dung:

Đã hình thành được 15 mô hình thực tiễn về xây dựng nông thôn mới theo phương pháp tiếp cận mới từ cộng đồng và do cộng đồng làm chủ Bước đầu thay đổi được nhận thức của cán bộ cơ sở và người dân trong việc xác định nội dung xây dựng nông thôn mới, các bước công việc phải làm

và trình tự tiến hành, cách thức huy động nội lực tại chỗ cho xây dựng nông thôn mới;

Đã hình thành được tổ chức của người dân (Ban phát triển thôn bản), là đại diện của cộng đồng dân cư thôn, bản để tự chủ trong việc bàn bạc, lựa chọn, quyết định các nội dung xây dựng nông thôn mới và cuộc sống trên địa bàn của họ

Đã khơi dậy ý thức tự chủ, sáng tạo của người dân trong phát huy nội lực xây dựng nông thôn mới, không ỷ lại vào trợ giúp bên ngoài

Đã xác định rõ hơn nội dung, phương pháp, cách làm, mối quan hệ phối hợp giữa các cấp trong xây dựng mô hình nông thôn mới theo phương pháp tiếp cận từ cộng đồng thôn, bản

Tuy mô hình chưa hoàn thiện, nhưng đã thu hút sự quan tâm của nhiều địa phương tổ chức xây dựng thêm mô hình nông thôn mới ở địa phương (ngoài 15 mô hình thí điểm của Bộ)

Tuy vậy, còn một số tồn tại:

Nhận thức của các ngành, các cấp ở một số địa phương về xây dựng nông thôn mới còn chưa đầy đủ, chưa đúng với chủ trương của đề án

Do chưa có tiêu chí thôn, bản đạt chuẩn nông thôn mới nên việc xác định mục tiêu nhằm xác định kế hoạch phát triển dài hạn, ngắn hạn còn gặp nhiều khó khăn, nhất là khái niệm, nội hàm nông thôn mới còn hiểu theo nhiều cách khác nhau không chỉ với cán bộ các cấp và người dân ở các điểm

mà còn cả trong các đơn vị triển khai

Trang 20

Thiếu lực lượng cán bộ xây dựng nông thôn theo phương pháp tiếp cận

mới nên khi thực hiện hầu hết các cán bộ và người dân đều rất lúng túng nảh

hưởng đến tiến độ và chất lượng

Do chưa có cơ chế đặc thù, do vậy việc triển khai xây dựng mô hình

nông thôn mới rất lúng túng nhất là cơ chế quản lý đầu tư, tài chính

* Một số vấn đề rút ra qua việc triển khai xây dựng mô hình nông

thôn mới

Xây dựng NTM thời gian qua thiếu định hướng do chưa có qui hoạch

tổng thể cấp quốc gia và địa phương, chưa có bộ tiêu chí, chuẩn mực thể hiện

các đặc trưng của NTM thời kỳ CNH-HĐH; Chưa có được hệ thống các tiêu

chuẩn kỹ thuật làm chuẩn cho xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội

nông thôn Thiếu đội ngũ cán bộ giỏi về xây dựng NTM làm nòng cốt chỉ đạo

thực hiện ở cơ sở Vì vậy mặc dù Đảng và Nhà nước đã đầu tư không nhỏ cho

khu vực này song việc xây dựng nông thôn cấp cơ sở vẫn nặng tính tự phát,

hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và các nguồn lực thấp

Do đặc điểm địa lý, đất nước ta hình thành nên các vùng sinh thái, vùng

kinh tế-văn hoá đặc thù, những vùng này có đặc điểm sinh thái, nhóm dân tộc

sinh sống khác nhau, hiện đang có văn hoá, trình độ dân trí, trình độ phát triển

kinh tế không đồng đều Vì vậy, phát triển nông thôn vừa phải có tiêu chí

chung, vừa phải xây dựng các tiêu chí đặc thù phù hợp với trình độ và đặc

điểm phát triển của các vùng cũng như theo từng giai đoạn phát triển kinh tế -

xã hội Chính sách hỗ trợ, đầu tư của nhà nước cũng phải linh hoạt để phù hợp

với đặc điểm đó, thể hiện được sự quan tâm nhiều hơn cho các vùng khó

khăn, đảm bảo sự phát triển hài hoà của đất nước

Xây dựng Nông thôn mới là công cuộc vì dân, do dân Vì vậy xây dựng

NTM phải hướng trước mắt vào giải quyết trước vào những vấn đề thiết thực,

mang lại hưởng thụ trực tiếp cho người dân nông thôn (như: cơ sở hạ tầng kinh

tế-xã hội trên địa bàn xã, thôn; xây dựng nếp sống văn hoá lành mạnh, an ninh tốt; bảo vệ và phát triển môi trường sinh sống sạch đẹp ), đồng thời cộng đồng dân cư phải được bàn bạc và quyết định, tổ chức thực hiện Nhà nước cần xây dựng và cải cách các chính sách nhằm đẩy nhanh tốc độ xây dựng NTM (trong

đó nhất là các cơ chế, chính sách liên quan thủ tục xây dựng cơ bản, quản lý vốn ngân sách), đảm bảo phát huy nội lực của người dân

Nguồn lực cần có để xây dựng NTM là rất lớn, cần xuất phát từ nội lực

là chính nhằm đảm bảo tính bền vững Tuy nhiên, trong điều kiện mức tích luỹ của người dân nông thôn còn thấp như hiện nay (nhất là tại các vùng thuộc diện đặc biệt khó khăn) thì để đẩy nhanh tốc độ xây dựng, Nhà nước phải có chính sách hỗ trợ đầu tư lớn từ ngân sách thì mới có nguồn lực tạo bước đột phá trong xây dựng nông thôn mới

* Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nông thôn mới

Mô hình nông thôn mới cấp xã được thực hiện theo phương châm dựa vào nội lực của cộng đồng địa phương Nhà nước hỗ trợ một phần trực tiếp cho các xã Đồng thời khơi dậy tinh thần và sức dân đóng góp tích cực tự giác vào xây dựng làng quê của mình

Các hoạt động cụ thể của từng mô hình thí điểm do chính người dân ở

đó bàn bạc dân chủ, công khai và quyết định trên cơ sở các quy chuẩn của nhà nước có sự tư vấn của cán bộ chuyên môn; Các cấp uỷ Đảng và Chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần cho người dân thực hiện vai trò làm chủ thông qua cộng đồng

Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn

xã hội Trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường, vươn lên của nông dân; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoà thuận, dân

Trang 21

chủ, có đời sống văn hoá phong phú làm nền tảng tinh thần của giai cấp nông

dân, tạo động lực cho quá trình xây dựng nông thôn mới

Thực hiện rà soát các chương trình, dự án có liên quan đến xây dựng

nông thôn trên địa bàn Đối chiếu với tiêu chí nông thôn mới, nếu tiêu chí nào

đang có chương trình, dự án triển khai nhưng mức đạt còn thấp do nguồn lực

hạn chế thì bổ sung để đẩy nhanh tiến độ; tiêu chí nào chưa có chương trình,

dự án thì lập dự án mới

Trong quá trình thực hiện, nếu có những chính cách, cơ chế không phù

hợp, cản trở chủ trương phát huy nội lực và quyền tự quyết của cộng đồng thì

được áp dụng cơ chế đặc thù

Mỗi xã điểm xây dựng một đề án phát triển nông thôn mới tổng thể,

làm cơ sở cho thực hiện

Để đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới từ này đến năm 2015 và

tiến tới năm 2020 đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở có

đủ chình độ và năng lực để thục hiện tốt chương trình mục tiêu quốc gia về

xây dựng nông thôn mới

1.2 Phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu

Một là, cơ sở khoa học về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện

nay là gì?

Hai là, thực trạng nông thôn huyện Chợ Mới hiện nay so với Bộ tiêu

chí về nông thôn mới ở mức nào?

Ba là, giải pháp nào để xây dựng và phát triển mô hình nông thôn mới

tại huyện Chợ Mới?

1.2.2 Các phương pháp nghiên cứu

1.2.2.1 Chọn địa điểm nghiên cứu

Huyện chợ mới có 1 thị trấn và 15 xã nông thôn, các xã có các điều

kiện khác nhau, vì vậy để đánh giá đúng đắn nông thôn mới số lượng xã

không nhiều nên tôi điều tra tất cả các xã

Tuy vậy khi phân tích để đưa ra giải pháp cho từng vùng đề tài đã chọn

3 xã đại diện cho 3 vùng để phân tích

1.2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin

* Thu thập các thông tin từ tài liệu đã công bố

Những tư liệu thứ cấp được thu thập từ tài liệu đã công bố gồm những thông tin được tổng kết từ những tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến những vấn đề về phất triển nông nghiệp, nông thôn được thu thập Chủ yếu từ Cục thồng kê tỉnh Bắc Kạn, chi cục thống kê huyện Chợ Mới, trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên, thư viện Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, các trang điện tử: Chính phủ, Nông thôn mới, Tài liệu Việt Nam

* Thu thập thông qua điều tra

Sử dụng phiếu điều tra: 2 loại phiếu điều tra Huyện và điều tra xãThu thập thông tin từ phỏng vấn với những người am hiểu trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, thông qua phỏng vấn về đặc điểm và thực trạng nông thôn, những khó khăn, thuận lợi trong phát triển nông thôn mới Các chuyên gia được phỏng vấn chủ yếu là cán bộ của phòng Nông nghiệp PTNT Huyện Chợ Mới, phòng Tài nguyên môi trường huyện Chợ Mới, cán bộ lãnh đạo huyện, cán bộ lãnh đạo xã, hội nông dân, thôn và một số nông dân có kinh nghiệm, uy tín và hiểu biết về phát triển nông nghiệp, nông thôn của huyện Chợ Mới

1.2.2.3 Phương pháp phân tích đánh giá

* Phương pháp phân thống kê mô tả và so sánh

+ Phương pháp phân tích so sánh

Sử dụng phương pháp dãy số thời gian và so sánh các chỉ tiêu tính toán giữa các nghành, giữa các vùng, giữa các nhóm lao động, từ đó có những giải pháp cụ thể

+ Phương pháp thống kê mô tả Dựa vào các số liệu thống kê được, mô tả được biến động và xu hướng phát triển của một hiện tượng kinh tế xã hội, từ đó rút ra những kết luận cần thiết phục vụ cho công tác nghiên cứu và ứng dụng

Trang 22

1.2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

- Chỉ tiêu về mức thu nhập

Thu nhập bình quân đầu người/năm là tổng các nguồn thu nhập của

hộ/năm chia đều cho số thành viên trong gia đình Mức thu nhập bao gồm:

Mức thu nhập bình quân đầu người/năm của xã

Mức thu nhập (khu vực nông thôn) bình quân đầu người/năm của huyện

Thu nhập bình quân đầu người/năm so với bình quân chung của huyện

được tính bằng cách lấy mức thu nhập bình quân đầu người/năm của xã chia

cho mức thu nhập bình quân đầu người/năm khu vực nông thôn của huyện

- Chỉ tiêu về tỷ lệ (%)

Chỉ tiêu tỷ lệ được sử dụng rất nhiều trong các tiêu chí: giao thông,

thủy lợi, điện, giáo dục, y tế, văn hóa, nhà ở dân cư, hộ nghèo…

Một số chỉ tiêu cụ thể:

Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế

Tỷ lệ người dân tham

gia bảo hiểm y tế

Số người có bảo hiểm y tế

Tổng số lao động trong độ tuổi

Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học

= ×100 Tổng số học sinh của xã đã tốt nghiệp THCS

Tỷ lệ lao động qua đào tạo

Tỷ lệ lao động qua đào tạo

Lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học

= ×100% Tổng số lao động trong độ tuổi

- Chỉ tiêu về cơ cấu (%) Chỉ tiêu về cơ cấu được sử dụng để phân tích cơ cấu kinh tế xã hội, lao động, giá trị sản xuất giữa các lĩnh vực…

Trang 23

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Ở HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH BẮC KẠN

2.1 Đặc điểm của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lí

Chợ Mới là huyện miền núi nằm ở phía Nam tỉnh Bắc Kạn gồm 16 đơn

vị hành chính cấp xã, thị trấn, với tổng diện tích tự nhiên là 60.651,00 ha (số

liệu kiểm kê đất đai năm 2010) Nằm trên trục quốc lộ 3 nối Hà Nội - Thái

Nguyên - Bắc Kạn - Cao Bằng, Chợ Mới là huyện có điều kiện về vị trí địa lý

thuận lợi bậc nhất trong các huyện của tỉnh Bắc Kạn Địa giới hành chính của

huyện được xác định như sau:

- Phía Bắc giáp thị xã Bắc Kạn;

- Phía Tây giáp huyện Chợ Đồn, và tỉnh Thái Nguyên;

- Phía Nam giáp huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên;

- Phía Đông giáp huyện Na Rì và tỉnh Lạng Sơn

Với vị trí địa lý thuận lợi, huyện Chợ Mới có điều kiện để thúc đẩy giao

thương hàng hóa, tạo điều kiện thuận lợi để sớm thực hiện thành công mục

tiêu nông thôn mới do Chính phủ đề ra, qua đó đây sẽ là bài học kinh nghiệm

thực tế hữu ích cho các địa phương khác trong tỉnh áp dụng

2.1.1.2 Đặc điểm địa hình, đất đai

* Địa hình

Huyện Chợ Mới nằm trong khu vực thấp của tỉnh Bắc Kạn, độ cao

trung bình dưới 300m, có địa hình đồi xen kẽ núi thấp, thung lũng, sông suối

Do vậy địa hình bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 15 - 25o, thuận lợi cho canh

tác nông, lâm nghiệp kết hợp, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày và

Đất nâu vàng phát triển trên đá sa thạch, đá lẫn chiếm tỷ lệ cao, mỏng

có thể phục vụ cho phát triển lâm nghiệp;

Đất bồi tụ (phù sa ngòi suối) độ mùn cao, giàu dinh dưỡng, thường phân bố dọc theo sông, ngòi, khe suối thích hợp cho sản xuất nông nghiệp Theo số liệu thống kê, kiểm kê đất năm 2010 (tính đến ngày 01/01/2010) của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện hiện nay đất đai của huyện đã được khai thác sử dụng phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện như sau:

Bảng 01: Tình hình sử dụng đất đai của huyện năm 2010

II Đất lâm nghiệp 39.042,2 38.029,8 46.672,0 46.672,0 50.137,7

Trang 24

2.1.1.3 Đặc điểm tài nguyên nước

Được phân thành 2 loại chính sau:

Nước mặt: Qua phân tích chế độ mưa, lưu lượng các sông suối, hồ

nước cho thấy nguồn nước mặt ở Chợ Mới khá phong phú, có thể đáp ứng

nhu cầu sản xuất và sử dụng trên địa bàn

Nước ngầm: Không có số liệu điều tra, khảo sát cụ thể về trữ lượng

nước ngầm trên địa bàn huyện Chợ Mới Tuy nhiên qua khảo sát một số giếng

đào tại các khu vực định canh, định cư lượng nước ngầm trên địa bàn huyện

khá lớn đủ để phục vụ sinh hoạt và sản xuất của nhân dân Đặc biệt là ở chân

các hợp thuỷ gần suối mực nước ngầm có thể thấy ở độ sâu từ 7 - 15 m

2.1.1.4 Đặc điểm tài nguyên rừng

Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2010, huyện Chợ Mới có 50.137,73

ha đất lâm nghiệp, chiếm 82,67% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, độ che

phủ đạt 76,56% Trong đó: Rừng sản xuất có 38.968,04 ha, chiếm 64,25%;

rừng phòng hộ 11.169,69 ha, chiếm 18,42%

2.1.1.5 Đặc điểm tài nguyên rừng

Chợ Mới là địa bàn có nhiều loại khoáng sản trong đó phải kể đến một

số khoáng sản có tiềm năng và số lượng lớn như vàng, quặng photphorit, khai

thác vật liệu xây dựng Ngoài ra huyện còn có một số loại khoáng sản khác

nhưng trữ lượng về công nghiệp không nhiều

2.1.1.6 Đặc điểm điều kiện khí hậu thủy văn

Về khí hậu: Khí hậu huyện Chợ mới mang đặc trưng của khí hậu

nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình trong năm 22,2o

C Các tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 6, 7 và tháng 8 (27 - 27,7o

C), các tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 1 (12oC) Tổng tích nhiệt

bình quân năm là 7.850oC

Về thủy văn: Sông Cầu con sông duy nhất chảy qua địa phận huyện

Chợ Mới, đồng thời cũng là con sông lớn nhất tỉnh, bắt nguồn từ núi Tam

Tao, chảy qua Bạch Thông, Chợ Mới, chảy sang Thái Nguyên và hợp lưu với sông Thái Bình, Phả Lại Chiều dài trên địa phận tỉnh Bắc Kạn khoảng

100 km, với lưu vực trên 510 km2

cùng với sông Chu và hàng trăm con suối lớn nhỏ

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Chợ Mới

2.1.2.1 Đặc điểm dân số lao động

- Về dân số: Theo niên gián thống kê năm 2010 thì dân số huyện Chợ mới có 37.814 người, gồm các dân tộc như: Kinh, Tày, Dao, Dân số ở thành thị là 2.432 người chiếm 6,43 %; dân số ở nông thôn là 35.382 người chiếm 93,56% tổng dân số cả huyện

- Về lao động: Năm 2010 lao động trong độ tuổi của huyện chợ mới là 24.262 người chiếm 64,16% tổng dân số trong đó lao động phân chia theo khu vực thì lao động ở thàng thị là 3.438 người chiếm 14,17% còn lại là ở khu vực nông thôn với 20.824 người chiếm 85,82% Trong đó: Lao động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản là 18.589 người chiếm 76,61%, ngành công nghiệp xây dựng

là 1.621 người chiếm 6,68%, ngành thương mại dịch vụ là 2.723 người chiếm 11,22%, còn lại các ngành nghề khác là 1.329 người chiếm 5,47%

Bảng 02: Tình hình dân số huyện Chợ Mới

Tôc độ phát triển BQ (%)

Trang 25

Biểu đồ 01: Tình hình dân số huyện Chợ Mới

Theo bảng 02 thì tốc độ phát triển bình quân dân số hàng năm của

huyện chợ mới là 101,7% trong đó tốc độ phát triển giới tính nam là 101,8%

nữ là 101,6%, phân theo khu vực thành thị và nông thôn thì tỉ lệ khu vực này

phát triển không đồng đều ở nông thôn là 101,7% còn ở thành thị là 101%

như vậy tỉ lệ lao động trong nông thôn là rất lớn vì vậy nguồn nhân lực trong

sản xuất và phát triển nông nghiệp là rất lớn

Bảng 03: Tình hình lao động huyện Chợ Mới

Tổng dân số Nam Nữ Thành thị Nông thôn

Theo như số liệu bảng 03 thấy rằng tình hình lao động trên địa bàn huyện chợ mới phát triển rất cao 105,5% tốc độ phát triển lao động ở đô thị trên địa bàn có thể thấy rằng rất cao với 121% trong ba năm trong khi đó với

tỉ lệ lao động chiếm phần lớn ở thủy sản vẫn chiếm cao là lực lượng dồi dào cho nông nghiệp nông thôn thuận lợi cho việc phục vụ và xây dựng mô hình nông thôn mới trên địa bàn Nhưng cũng qua đồ thị ta thấy rằng lực lượng lao động ở thành thị và ngành công nghiệp xây dựng cũng đang có xu hướng tăng cao cho thấy lực lượng lao động ngày càng tiến bộ trong xã hội

2.1.2.2 Đặc điểm cơ sở hạ tầng của huyện Chợ Mới

a Đặc điểm hạ tầng giao thông

Đặc điểm hạ tầng giao thông trên địa bàn huyện thấy rằng huyện rất thuận lợi trong phát triển các ngành dịch vụ, thương mại vì trên địa bàn có 30

km đường quốc lộ chạy qua và có 28km đường liên tỉnh, hơn 98km đường liên huyện thuận lợi cho giao dịch và buôn bán giao thương với các tỉnh, huyện lân cận tỉ lệ đường liên xã 33,35km và thôn rất cao 450km thuận lợi cho giao thương hàng hóa và vận chuyển sản phẩm thu hoạch trên địa bàn

Bảng 04: Thống kê đường giao thông huyện Chợ Mới STT Chỉ tiêu Chiều dài(km) Chiều rộng (m) Diện tích (ha)

Nguồn: Chi cục thống kê huyện Chợ Mới (năm 2010)

Trang 26

Tổng số học sinh của tất cả là 13.306 trong đó học sinh đào tạo quốc

lập là 12.684 còn lại là học sinh bổ túc là 622 ( không tính mầm non)

Bảng 05: Tình hình cơ sở Giáo dục ở huyện Chợ Mới

Tổng số (3 năm)

Quốc lập (3năm)

Bán công (3 năm)

Bổ túc (3 năm)

6 Trung tâm giáo dục

Bảng 06: Hệ thống cơ sở y tế ở huyện Chợ Mới

Nguồn: Chi cục thống kê huyện Chợ Mới (năm 2010)

Theo bảng số 06 cơ sở y tế của huyện là 01 bệnh viện, 1 phòng khám

đa khoa khu vực, 16 trạm y tế được chi đều cho các xã và thị trấn trong đó số giường bệnh tại bệnh viện là 50 giường danh cho bệnh nhân ở phòng khám đa khoa khu vực là 19 giường bệnh còn số giường bệnh của các trạm xá tăng lên theo hàng năm, năm 2008 là 16, năm 2009 là 32, năm 2010 là 38

d Đặc điểm hệ thống hạ tầng thông tin - truyền thông

Hiện nay trên địa bàn huyện có 1 bưu điện huyện, và 16 điểm bưu điện văn hoá xã Mạng lưới điện thoại phát triển tương đối nhanh, phủ sóng 16/16

xã tất cả các mạng viền thông Toàn huyện cho đến nay còn 3 xã chưa có trạm truyền thanh

2.1.2.3 Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội

a Đặc điểm phát triển kinh tế của huyện

Tổng thu nhập kinh tế xã hội của các ngành trong huyện tính năm 2010

là 477.675 trong đó ngành nông lâm thủy sản là 254.072 chiếm 53,18%, công nghiệp xây dựng là 34.538 chiếm 7,23%, Thương mại dịch vụ thu được 179.031 chiếm 37,47%, còn lại thu của các ngành khác là 10.034 chiếm 2,10% Như vậy thu nhập của nông lâm thủy sản vẫn mang tầm quan trọng trong thu nhập của người dân trong toàn huyện

Bảng 07: Thu nhập cơ cấu tự nhiên của huyện Chợ Mới qua 3 năm

I Giá trị tổng thu nhập

1 Nông - Lâm nghiệp - Thủy sản - 197.793 208.112 254.072 113,3%

2 Công nghiệp - Xây dựng - 17.564 26.379 34.538 140,2%

3 Thương mại - Dịch vụ - 102.286 154.416 179.031 132,3%

II Cơ cấu thu nhập

1 Nông - Lâm nghiệp - Thủy sản - 38% 36% 32,7%

Nguồn: Chi cục thống kê huyện Chợ Mới (năm 2010)

Trang 27

Biểu đồ 02: Tình hình thu nhập của các ngành của huyện Chợ Mới

Giá trị thu nhập và cơ cấu thu nhập của các ngành chính của huyện qua

các năm tính 3 năm từ năm 2008 - 2010 giá trị thu nhập của các ngành đều

tăng ro rệt

Qua bảng 07 cho thấy đối với ngành Nông nghiệp - Lâm nghiệp -

Thủy sản (N - L - TS) tổng thu nhập năm 2008 là 197.793 triệu đồng đến

năm 2010 đã tăng lên 254.072 triệu đồng nhưng đáng chú ý là cơ cấu của

ngành này lại giảm, khác với ngành (N - L - TS) ngành công nghiệp - xây

dựng (CN-XD) và các ngành khác tổng thu nhập năm 2008 cho đến năm

2010 tổng thu nhập đều tăng và cơ cấu cũng tăng theo từng ngành, tổng thu

nhập của khối ngành này là rất cao tỉ lệ thu nhập là 120,9% đây là xu

hướng tốt cho phát triển bền vững

b Tình hình phát triển xã hội của huyện

Tổng thu nhập bình quân đầu người được tăng lên qua các năm theo

số liệu năm 2010 là 9,18 triệu đồng trong đó đô thị thu nhập là 12,0 triệu

đồng, nông thôn là 8,50 triệu đồng Thu nhập bình quân lao động là 10,50

Nguồn: Chi cục thống kê huyện Chợ Mới (năm 2010)

Biểu đồ 03: Thu nhập bình quân đầu người và hộ nghèo của huyện

Qua bảng 08 thấy rằng tình hình phát triển xã hội qua 3 năm của huyện chợ mới từ năm 2008 - 2010, năm 2008 thu nhập bình quân đầu người là 6,16 triệu đồng đến năm 2010 là 9,18 triệu đồng, tốc độ phát triển bình quân của 3 năm là 122,1%, trong đó tốc độ phát triển bình quân của nông thôn là 127,2% còn ở thành thị là 123,6%, qua đồ thị thể hiện tổng thu nhập bình quân về lao động có tỉ lệ phát triển khá cao 127,1%

Tỉ lệ hộ nghèo cũng được thể hiện qua bảng 08 năm 2008, 2009 tỉ lệ hộ nghèo không giảm cũng không tăng đều là 0,06 %, năm 2010 tỉ lệ hộ nghèo

Thành thị Nông thôn Thu nhập bq lao

động

Tỉ lệ hộ nghèo

Trang 28

của huyện thể hiện chiều hướng tăng lên 0,07% lý do là năm 2010 Chính phủ

có phát hành quyết định về chuẩn nghèo mới cho nên đã tăng lên 0.01%

2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn trong xây dựng nông thôn mới của

huyện Chợ Mới

* Thuận lợi

Về cơ bản, huyện Chợ mới là một huyện có nhiều điều kiện thuận lợi

để thực hiện xây dựng nông thôn mới Cụ thể:

Trước hết, Chợ Mới là một huyện có truyền thống về phát triển nông

lâm ngư nghiệp Do đó, dự trên cơ sở những hiểu biết và kinh nghiệm cũng

như tập quán về sản xuất nông nghiệp, người dân có thể dễ dàng áp dụng các

kỹ thuật mới vào quá trình trồng trọt, chăn nuôi cũng như quá trình sản xuất

trao đổi hàng hóa, nông sản

Thứ hai, huyện Chợ Mới có diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn

55.479,03 ha có nhiều điều kiện để thực hiện quá dồn điền đổi thửa, tái quy

hoạch, đưa khoa học công nghệ vào sản xuất Bên cạnh đó, với hệ thống sông

ngòi đang dạng, rất thuận tiện cho việc tưới tiêu, cung cấp nước cho trồng

trọt, chăn nuôi nên huyện có thể đầu tư hơn nữa cho phát triển nông nghiệp,

đổi mới nông thôn Khi nói đến sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn

mới thì yếu tố vô cùng quan trọng có tính chất quyết định đó chính là hệ

thống đất đai, sông ngòi nên có thể nói Chợ Mới đang hội tụ đầy đủ những

điều kiện tiên quyết để xây dựng nông thông mới thành công

Thứ ba, với vị trí cửa ngõ cũng với hệ thống giao thông thuận lợi,

huyện chợ mới rất có điều kiện trong việc vận chuyển, giao thương với các

tỉnh khác cũng như trao đổi hàng hóa trong nội tỉnh Muốn sản xuất phát triển,

thì đi đôi với nó là hệ thống giao thông vận tải phải phát triên Mà đây là một

trong những thế mạnh của huyện Vì vậy, Chợ Mới hoàn toàn có thể tin chắc

vào công cuộc xây dựng nông thôn mới thành công

Cuối cùng, không thể thiếu chính là điều kiện đời sống của người dân cũng đã được cải thiện rõ rệt hiện tại thu nhập bình quân đầu người là 8.500.000 đ/ người Chính vì thế, người dân cũng có điều kiện hơn trong việc tiếp cận với các công nghệ mới, tiếp cận và có tư duy sẵn sàng xây dựng nông thôn mới hiện đại hơn, phát triển hơn

Từ các yếu tố nêu trên, có thể thấy huyện Chợ Mới có rất nhiều điều kiện thuận lợi kể cả về điều kiện tự nhiên cũng như con người để thực hiện xây dựng nông thôn mới thành công

* Khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi kể trên, thì không thể không kể đến một số khó khăn mà huyện đang gặp phải để xây dựng nông thôn mới Đó là: Thứ nhất, tuy với điều kiện thuận lợi là có diện tích đất nông nghiệp lớn, rộng nhưng chưa được quy hoạch triệt để để phục cho quá trình phát triển nông nghiệp Do đó, người nông dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình trồng trọt, chăn nuôi, tăng gia sản xuất

Thứ hai, tuy thuận lợi là có nhiều đường giao thông nhưng chất lượng

hệ thống giao thông cụ thể là các tuyến đường liên xã, liên thông còn nhỏ, gồ ghề, chưa được bê tông hóa Đặc biệt là mùa mưa lũ, nhiều đoạn đường bị sói mòi, chất lượng mặt đường không được đảm bảo nên đi lại, vận chuyển hàng hóa còn gặp nhiều khó khăn Nó ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình sản xuất, trao đổi Đây là một trong những yếu tố cần sớm được khắc phục

Thứ ba, hệ thống thủy lợi chưa được xây dựng đồng bộ, chất lượng hệ thống thụy lợi cũng không được đảm bảo thậm chí ở một số khu vực vẫn còn rất thô sơ Điều đó dẫn đến việc tưới tiêu đảm bảo nguồn nước cho đồng ruộng chưa được đảm bảo làm ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệp Thứ tư, lao động trong nông nghiệp chủ yếu là lao động thủ công Mọi người thực hiện trồng trọt, chăn nuôi chủ yếu dựa vào kinh nghiệm Tác phong chậm chạm chịu nhiều ảnh hưởng từ tác phong nông nghiệp cũ, chậm đổi mới

Trang 29

Số lượng lao động tuy đông nhưng chất lượng lao động chưa cao, số lượng lao

động chưa qua đào tạo chiếm đa số Số người được qua đào tạo còn ít và có rất

ít người chịu đổi mới, tìm tòi qua sách báo, phương tiện thông tin đại chúng và

tập huấn để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm

Thứ năm, một khó khăn nữa của huyện đó là tỉ lệ hộ nghèo ở một số xã

nói riêng và ở huyện nói chung còn cao Điều này gây khó khăn rất nhiều khi

triển khai xây dựng nông thôn mới

Cuối cùng, do địa hình đồi núi phức tạp nên huyện gặp phải không ít

khó khăn trong quá trình sản xuất cũng như xây dựng cơ sở vật chất và thực

hiện quy hoạch hóa nông thôn

Tóm lại, bên cạnh những thuận lợi mà huyện cần phát huy thì huyện

Chợ mới cũng đang gặp phải không ít khó khăn cần phái được giải quyết ngay

để có thể thực hiện thành công xây dựng nông thôn mới

2.2 Thực trạng nông thôn của huyện Chợ Mới

2.2.1 Kết quả phát triển nông thôn của huyện giai đoạn 2008 - 2010

Kết quả phát triển kinh tế trong nông thôn của huyện năm 2010 là

284.605 trong đó ngành nông nghiệp là 254.072 chiếm 89,27%, thu công

nghiệp và tiểu thủ công nghiệp là 21.781 chiếm 7,75%, thu dịch vụ là 8.752

Nguồn: Chi cục thống kê huyện Chợ Mới (năm 2010)

Biểu đồ 04: Kết quả phát triển kinh tế nông thôn của huyện trong 3 năm

Qua bảng trên ta thấy rằng ở khu vực nông thôn tổng thu nhập về nông nghiệp là rất lớn tốc độ phát triển bình quân là 113,3%, còn thu nhập của công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cũng phất triển rất nhanh và cao là 149,1%, thu dịch vụ là 126,9% thể hiện ở nông thôn huyện chợ mới thu nhập của người dân là rất đều qua các năm

Bảng 10: Kết quả hoạt động sản xuất nông nghiệp của huyện

5 Thu dịch vụ nông nghiệp - 1.980 2.105 2.249 106,6

Nguồn: Chi cục thống kê huyện Chợ Mới (năm 2010)

Trang 30

Biểu đồ 05: Kết quả hoạt động sản xuất nông nghiệp của nông thôn huyện

Bảng 10 cho biết kết quả hoạt động sản xuất nông nghiệp của địa

phuơng được thể hiện qua các số liệu Chúng ta thấy rằng thu về trồng trọt và

lâm nghiệp tốc độ phát triển mạnh hơn so với các ngành khác ngành trồng trọt

năm 2008 tổng thu là 120.545 triệu đồng năm 2010 là 186.012 triệu đồng,

ngành lâm nghiệp năm 2008 là 19.700 triệu đồng năm 2010 là 27.361 triệu

đồng còn các ngành khác như chăn nuôi, thủy sản, dịch vụ nông nghiệp thu

Biểu đồ 06: Tình hình phát triển xã hội nông thôn của địa phương

Tình hình phát triển xã hội nông thôn của địa phương được thể hiện qua bảng 11 Thu nhập bình quân đầu người tại nông thôn còn rất thấp tốc độ phát triển không cao trong 3 năm tốc độ phát triển là 127,2%, tổng thu nhập bình quân lao động tại khu vực này đạt 129,0%, tỉ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn huyện năm 2008 đến năm 2009 có giảm đi một ít là năm 2008 có 2.300 hộ năm 2009 giảm xuống còn 2.184 tỉ lệ giảm không đáng kể nhưng đến năm

2010 thì tăng đột biến lên 2.811 hộ Điều này có thể giải thích do sự dịch chuyển của chuẩn nghèo, lạm phát, khủng hoảng kinh tế khiến hàng hóa tăng giá cao, trong khi thu nhập của người dân không được cải thiện, dẫn đến tình trạng khá nhiều hộ nông dân tái nghèo

2.2.2 Thực trạng nông thôn huyện Chợ Mới so với bộ tiêu chí Quốc gia nông thôn mới

2.2.2.1 Thực trạng nông thôn theo tiêu chí quy hoạch và phát triển quy hoạch

Tiêu chuẩn đầu tiên xây dựng nông thôn mới đó là quy hoạch và phát triển quy hoạch nông thôn mới Quy hoạch nông thôn mới bao gồm các nội dung: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu, quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế xã hội và quy hoạch phát triển các khu dân cư Chợ Mới là một

Tổng thu nhập bq/lđ Tỷ lệ hộ nghèo

Trang 31

huyện miền núi của tỉnh Bắc Kạn - một trong những tỉnh nghèo nhất cả nước

Trong những năm qua, công tác quy hoạch cả tỉnh nói chung và của huyện nói

riêng chưa được chú tâm thực hiện, nếu có thì kết quả chưa đạt như yêu cầu

So với bộ tiêu chuẩn nông thôn mới của Chính phủ ban hành, công tác quy

hoạch của huyện hầu như chưa có tiêu chí nào đạt tiêu chuẩn Cụ thể về kết

quả công tác quy hoạch được thể hiện thông qua bảng tổng hợp dưới đây

Bảng 12: Tiêu chí quy hoạch và phát triển quy hoạch

Tiêu

Tiêu chuẩn Nông thôn mới

Xã đạt tiêu chuẩn Xã không đạt tiêu chuẩn

SL

xã (xã)

Tỷ

lệ (%)

Chênh lệnh so với tiêu chuẩn

SL xã (xã)

Tỷ lệ (%)

Chênh lệch so với tiêu chuẩn

Quy

hoạch

1.1 Quy hoạch sử dụng đất và

hạ tầng thiết yếu cho phát triển

sản xuất nông nghiệp hàng hóa,

công nghiệp, tiểu thủ công

nghiệp, dịch vụ

1.2 Quy hoạch phát triển hạ

tầng kinh tế - xã hội - môi

trường theo chuẩn mới

1.3 Quy hoạch phát triển các

khu dân cư mới và chỉnh trang

các khu dân cư hiện có theo

hướng văn minh, bảo tồn được

bản sắc văn hóa tốt đẹp

Nguồn: Thu thập từ số liệu điều tra

Qua bảng số liệu cho thấy, hiện nay cả ba tiêu chí này của huyện Chợ

Mới đều không đạt chuẩn 16/16 xã của huyện đều chưa có quy hoạch trên cả

ba nội dung đạt yêu cầu bộ tiêu chuẩn nêu ra Nguyên do, Chợ Mới là huyện

miền núi, điều kiện địa hình núi non chia cắt Đất đai, nhất là đất sử dụng trong sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, gây khó khăn trong công tác quy hoạch sử dụng Việc quy hoạch không gian kinh tế cũng như hạ tầng kinh

tế - xã hội gặp nhiều khó khăn Đặc biệt, trong quy hoạch và phân bố dân cư gặp nhiều khó khăn Hơn nữa, người dân thường bố trí theo làng, bản truyền thống, việc quy hoạch mới sẽ không dễ thực hiện và tốn kém Để hoàn thành được chỉ tiêu này là đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn của chính quyền các cấp cũng như sự đồng thuận của người dân Trước hết cần tập trung xây dựng quy hoạch sử dụng đất, sử dụng đất, quy hoạch xây dựng hạ tầng kinh tế xã hội và cuối cùng trên cơ sở đó để quy hoạch bố trí dân cư một cách phù hợp Đối với nhóm tiêu chuẩn này, tác giả cho rằng không nên quy định cứng nhắc trên phạm vi cả nước, mà cần có sự điều chỉnh linh động hài hòa giữa các vùng, miền khác nhau trên cả nước

2.2.2.2 Thực trạng nông thôn theo tiêu chí hạ tầng - kinh tế xã hội

Hạ tầng kinh tế - xã hội là một chỉ tiêu quan trọng, dễ nhìn thấy và dễ đánh giá nhất và xem xét sự phát triển hay không của một vùng, một địa phương Trong bộ tiêu chuẩn nông thôn mới, hạ tầng kinh tế - xã hội là một trong những chỉ tiêu quan trọng Đối với những địa phương vùng núi nói chung và huyện Chợ Mới nói riêng, xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội đồng

bộ, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế và đời sống của dân cư nông thôn

là nhiệm vụ rất khó khăn, nhất là so với yêu cầu phát triển của nông thôn mới hiện nay Vậy, so với bộ tiêu chuẩn nông thôn mới, huyện Chợ Mới đã đáp ứng được những nội dung gì? Nội dung gì cần tiếp tục đầu tư phát triển để có thể hoàn thành được chỉ tiêu xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đạt chuẩn Kết quả xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của huyện Chợ Mới so với bộ tiêu chuẩn được thể hiện cụ thể qua bảng số liệu dưới đây

Trang 32

Bảng 13: Thực trạng tiêu chí hạ tầng kinh tế - xã hội

Tiêu

Tiêu chuẩn nông thôn mới

Xã đạt tiêu chuẩn Xã không đạt tiêu

chuẩn

SL xã (xã)

Tỷ lệ (%)

Chênh lệnh so với tiêu chuẩn

SL

xã (xã)

Tỷ lệ (%)

Chênh lệnh so với tiêu chuẩn

3.1 Hệ thống thuỷ lợi cơ bản đáp ứng

yêu cầu phát triển sản xuất và phục vụ

dân sinh

3.2 Tỷ lệ km kênh mương do xã quản

lý được đảm bảo phục vụ tưới, tiêu,

4.1 Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ

4.2 Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện thường

xuyên, an toàn từ các nguồn ≥ 95% 13 81.25 97% 3 18.75 82%

Giáo

dục

Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non,

mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở có

cơ sở vật chất đạt chuẩn Quốc gia

6.1 Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt

chuẩn của Bộ Văn hoá - Thể thao và

Du lịch

6.2 Tỷ lệ thôn bản có nhà văn hóa và

khu thể thao thôn bản đạt quy định của

Bộ Văn hoá-Thể thao và Du lịch

Nguồn: Thu thập từ số liệu điều tra

a Thực trạng tiêu chí về hạ tầng giao thông

Thực trạng hạ tầng giao thông của địa phương được thể hiện qua 4 tiêu chí sau: tiêu chí phản ánh đường liên xã, tiêu chí phản ánh đường liên thôn, tiêu chí phản ánh đường ngõ, xóm và tiêu chí phản ánh giao thông nội đồng Kết quả thực tế của địa phương như sau:

Thứ nhất, tiêu chí về tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa (nền 09m, mặt đường 07m) Yêu cầu của nông thôn mới đối với tiêu chí này là 100% đường trục liên xã phải đạt tiêu chuẩn Kết quả khảo sát tại địa phương cho thấy cả 16/16 xã đều không đạt, tính chung cả huyện không đạt Hiện trạng của địa phương hiện nay, kết quả bình quân toàn huyện mới thực hiện được 37% (37% số đường liên xã đáp ứng được yêu cầu tiêu chuẩn mới) Đối với khu vực miền núi địa hình phức tạp, khó khăn, việc đòi hỏi phải xây dựng hệ thống đường trục đạt chuẩn nằm ngoài khả năng ngân sách của địa phương Do đó, để đạt được tiêu chí này, rất cần sự đầu tư của Nhà nước, bằng nhiều hình thức, trong đó xã hội hóa công tác xây dựng là trọng điểm

Thứ hai, tỷ lệ đường trục thô, liên thôn được cứng hóa (nền 05m, mặt đường 3,5m) Để đạt được tiêu chuẩn nông thôn mới, đòi hỏi tiêu chí này của toàn huyện phải đạt từ 50% trở lên Kết quả thực tế tại địa phương cho thấy chỉ có 2/16 xã, chiếm 12.5% số xã đạt tiêu chuẩn Tỷ lệ trục thô liên thôn được cứng hóa của 2 xã này đạt tỷ lệ 65% số đường liên thôn Có tới 14/16

xã, chiếm 87.5% số xã chưa đạt chuẩn, tỷ lệ thực hiện chỉ tiêu này của 14 xã không đạt mới là 33% Như vậy, để đạt được tỷ lệ đường liên thôn cứng hóa

từ 50% trở lên là một yêu cầu rất khó, nhất là các địa phương này đều nằm trong khu vực khó khăn, là địa phương nghèo so với cả nước Tiêu chí xây dựng đường liên thôn do huyện và xã triển khai thực hiện Với hình thức huy động tổng lực với phương trâm nhà nước và nhân dân cùng làm, tiêu chí này

Trang 33

hoàn toàn có thể đạt được theo chuẩn Để đạt được điều đó, đòi hỏi chính

quyền huyện, xã phải tích cực đầu tư, đồng thời tuyên truyền vận động người

dân cùng tham gia đóng góp xây dựng

Thứ ba, tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa

(nền 04m, mặt đường 03m), yêu cầu đạt chuẩn là 100% số đường và có trên

50% được cứng hóa Kết quả khảo sát cho thấy, có 3 xã, chiếm 18.75% số xã

đạt tiêu chuẩn với yêu cầu 100% đường ngõ, xóm không lầy lội và được kiên

cố hóa, trong đó trên 50% được cứng hóa Đây chủ yếu là các xã nằm dọc

theo trục quốc lộ 3 và gần với trung tâm hành chính của huyện, nơi có điều

kiện tự nhiên thuận lợi hơn và cũng được ưu tiên đầu tư hơn Ngoài ra vẫn có

13/16 xã, chiếm 81.25% số xã không đạt tiêu chuẩn Đối với 13 xã không đạt

chuẩn này, mới chỉ có 52% số đường ngõ, xóm đạt so với tiêu chuẩn của nông

thôn mới

Thứ tư, Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới

đi lại thuận tiện (nền 05 m, mặt 3,5 m) Yêu cầu đặt ra phải trên 50% số đường

nội đồng đạt tiêu chuẩn Tuy nhiên, do là huyện miền núi, điều kiện chia cắt,

các cách đồng thường nhỏ hẹp, xen lẫn giữa các dãy núi Do đó, việc đạt tiêu

chuẩn này là khó khăn đối với địa phương Cụ thể, chỉ có 3/16 xã đạt yêu cầu

chiểm tỷ lệ 18.75%; số đường nội đồng của 3 xã này đạt tiêu chuẩn là 55%

Đối với 13 xã không đạt chuẩn, chiếm 81.25% số xã, tỷ lệ giao thông nội đồng

đạt tiêu chuẩn mới chỉ là 34% Để đạt được chỉ tiêu này, đòi hỏi sự cố gắng đầu

tư lớn của địa phương Tuy nhiên, do Chợ Mới là huyện miền núi, chia cắt,

diện tích manh mún, nhỏ lẻ, đất sản xuất thường rất xa khu dân cư Do đó, việc

xây dựng hệ thống đường nội đồng thường gặp nhiều khó khăn

Tóm lại, so với yêu cầu phải đạt từ 70% trở lên số xã trong huyện đạt

yêu cầu của tiêu chuẩn nông thôn mới, thì tiêu chí giao thông của huyện chưa

đạt là huyện nông thôn mới

b Thực trạng tiêu chí hạ tầng Thủy lợi

Tiêu chí hạ tầng thủy lợi được đánh giá bởi hai tiêu chí là hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất, phục vụ dân sinh và tỷ lệ kênh mương

do xã quản lý được đảm bảo phục vụ tưới, tiêu, kiên cố hóa cống đập Đối với tiêu chí hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và phục vụ dân sinh Hiện toàn huyện có 11 xã, chiếm 68.75% số xã đạt yêu cầu, còn lại 5 xã chiếm 31.25% chưa đạt tiêu chuẩn nông thôn mới So với yêu cầu phải đạt từ 70% số xã trở lên để trở thành huyện nông thôn mới, tiêu chí này huyện Chợ Mới về cơ bản đã gần đạt được Chỉ cần địa phương tiếp tự đầu tư cải tạo và xây dựng hệ thống kênh mương thì trong thời gian ngắn tới, chỉ tiêu này sẽ đạt yêu cầu của nông thôn mới

Đối với tiêu chí cứng hóa kênh mương, hiện có 14 xã chiếm 87.5% số

xã đạt tiêu chuẩn, số lượng kenh mương của 14 xã này được cứng hóa là 65% cao hơn mức yêu cầu là trên 50% Chỉ còn 2 xã chiếm 12.5% chưa đạt yêu cầu Số lượng kênh mương được cứng hóa của 2 xã này mới chỉ đạt 20% tổng

số kenh mương của xã Chỉ tiêu này đối với toàn huyện đã đạt yêu cầu của nông thôn mới, tuy nhiên trong thời gian tới huyện cần tiếp tục đầu tư để hoàn thiện việc cứng hóa kenh mương của địa phương, nhất là đối với 2 xã chưa đạt yêu cầu nhằm góp phần giúp nhân dân phát triển kinh tế và phục vụ đời sống người dân tốt hơn

c Thực trạng tiêu chí hạ tầng Điện

Tiêu chí hệ thống điện là một trong các tiêu chí mà huyện Chợ Mới đạt tiêu chuẩn với tỷ lệ rất cao 16/16 xã, đạt 100% số xã đã có hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kĩ thuật của ngành điện Đối với chỉ tiêu tỷ lệ hộ dùng điện thường xuyên Toàn huyện có 13 xã đạt 81.25% số xã đạt tiêu chuẩn, tính chung cả huyện đã đat tiêu này chuẩn này Tỷ lệ hộ dân dùng điện thường xuyên của 13 xã đạt chuẩn này là 97% so với yêu cầu phải đạt từ 95% trở lên

Trang 34

Trong số 3 xã chưa đạt yêu cầu tiêu chuẩn (chiếm 18.75%), tỷ lệ hộ dân sử

dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn cũng đã đạt 82%, gần đạt so

với yêu cầu đặt ra (trên 95%)

Có thể nói, đối chiếu với tiêu chuẩn hạ tầng điện của bộ tiêu chí nông

thôn mới, huyện Chợ Mới đều đạt yêu cầu với mức cao (yêu cầu đòi hỏi 70%

số xã trở lên đạt yêu cầu) Việc hoàn thành xây dựng chỉ tiêu hệ thống điện

còn là tiền đề để xây dựng các hạ tầng kinh tế - xã hội khác của địa phương

d Thực trạng tiêu chí hạ tầng giáo dục

Nhóm chỉ tiêu về hạ tầng giáo dục được thể hiện qua tỷ lệ trường học

các cấp bao gồm trường mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở có cơ

sở vật chất đạt chuẩn Quốc gia Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ đạt là rất thấp

chỉ có 1/16 xã đạt chuẩn, chiếm 6.25% tổng số xã Tỷ lệ trường đạt chuẩn của

xã này cũng vừa đạt so với yêu cầu chỉ tiêu là 70% Đối với 15 xã còn lại,

chiếm 93.75% số xã chưa đạt, tỷ lệ số trường đạt chuẩn mới là 39%, vẫn còn

một khoảng cách rất lớn đối với yêu cầu của tiêu chuẩn nông thôn mới

Nguyên nhân của việc hạ tầng cơ sở giáo dục đạt tỷ lệ thấp như thế là do đặc

điểm địa bàn là huyện miền núi, còn nhiều khó khăn Ngân sách đầu tư cho

giáo dục của Nhà nước và tỉnh, huyện quá thấp so với nhu cầu thực tế Đời

sống kinh tế của nhân dân trên địa bàn, đặc biệt là khu vực dân cư miền núi

còn gặp rất nhiều khó khăn, không có điều kiện tự đóng góp kinh phí để cải

thiện giáo dục Thêm vào đó, do đặc điểm địa hình đi lại khó khăn, chính sách

thu hút nhân lực còn nghèo nàn, tiền lương thấp nên một bộ phận không nhỏ

giáo viên không sẵn sàng về công tác và làm việc tại địa phương để đóng góp

cho nền giáo dục huyện nhà

Với thực trạng như vậy, thay đổi bộ mặt của hạ tầng giáo dục huyện

Chợ Mới trong ngắn hạn là điều không thể, bởi hệ thống giáo dục với nhiều

cấp bậc từ mầm non đến trung học phổ thông là hệ thống đào tạo tiếp nối, kéo

dài trong nhiều năm Để cải thiện vấn đề này, huyện Chợ Mới cần xác định mục tiêu chiến lược trong khoảng từ 10 - 15 năm và chia thành nhiều giai đoạn, cùng với đó, phải có các chính sách đẩy mạnh phát triển kinh tế, đầu tư nhiều hơn cho giáo dục, cần mạnh dạn tìm kiếm các nguồn hỗ trợ, ODA cho giáo dục để từng bước cải thiện bộ mặt giáo dục của địa phương

e Thực trạng tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa xã hội

Nhóm tiêu chí Cơ sở vật chất văn hóa được đánh giá bởi hai tiêu chí cơ bản là tỷ lệ nhà văn hóa và khu thể thao đạt tiêu chuẩn của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch và tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch

Kết quả điều tra thực tế cho thấy đối với cả hai chỉ tiêu này, toàn huyện không có xã nào đạt yêu cầu Có thể nói, đối với người dân vùng núi còn gặp rất nhiều khó khăn, thì việc đầu tư cho các hoạt động văn hóa, văn nghệ thể dục thể thao của chính quyền hay của chính người dân chưa thực sư được quan tâm Do đó, trong tương lai việc thực hiện chỉ tiêu này đòi hỏi nỗ lực rất lớn của chính quyền, ngoài ra cũng cần thực hiện tốt việc vận động người dân thực hiện nếp sống văn hóa mới Nếu không, việc đầu tư xây dựng nhà văn hóa, các tụ điểm thể thao nhằm đạt được yêu cầu tiêu chuẩn nhưng lại không thu hút được người dân tới sử dụng sẽ gây nên tình trạng lãng phí

Tuy nhiên, có thể thấy rằng, với huyện Chợ Mới là một huyện miền núi, đời sống kinh tế của nhân dân còn nhiều khó khăn, đường xá đi lại không thuận lợi, ngân sách nhà nước cấp cho được dàn trải để giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề trước mắt, cho nên, thực trạng yếu kém của cơ sở vật chất văn hóa xã hội là điều không thể tránh khỏi Cũng giống như nền tảng cơ sở vật chất giáo dục đào tạo, thực trạng này không thể giải quyết trong ngắn hạn, mà phải được tiến hành đồng bộ với việc cải thiện nhiều tiêu chí khác

Tình hình trước mắt, để cải thiện đời sống văn hóa thể thao của nhân dân các địa phương, lãnh đạo các xã trong huyện cần chủ động, tùy vào tình

Trang 35

hình của xã mình mà đứng ra tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao cho phù

hợp với tầm vóc Về lâu dài, việc thay đổi bộ mặt cơ sở vật chất văn hóa xã

hội cần tiền hành đồng thời, được lập kế hoạch chặt chẽ và triển khai đồng bộ

từ tỉnh, đến huyện và xã

f Thực trạng tiêu chí Chợ - Bưu điện và nhà ở nông thôn

Nhóm tiêu chuẩn chợ, bưu điện và nhà ở nông thôn được đánh giá bởi

các tiêu chí là: chợ đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng, có điểm phục vụ bưu

chính viễn thông, có Internet đến thôn xóm, nhà tạm và tỷ lệ hộ có nhà ở đạt

tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng Qua thực tế điều tra, kết quả cụ thể như sau:

Với tiêu chí chợ đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng, hiện nay chỉ có 1/16

xã, với tỷ lệ là 6.3 % đạt yêu cầu này, số xã không đạt là 15/16 xã, tỷ lệ là 93.7

% Kết quả này cho thấy tỷ lệ đạt trên toàn huyện rất thấp, chỉ có 1 đơn vị trên

toàn huyện đạt được tiêu chuẩn của Bộ, cũng như các tiêu chí liên quan đến cơ

sở hạ tầng, muốn cải thiện được cần có thời gian, cần sự đầu tư mạnh mẽ của

tỉnh và huyện và sự nỗ lực của nhân dân Trong ngắn hạn, các xã chưa đạt tiêu

chuẩn về chợ nên chủ động khắc phục, cải thiện, huy động vốn góp trong dân

để sửa sang, xây dựng, sửa chửa các chợ, khu mua bán đã được quy hoạch

Kêu gọi các nguồn vốn ngoài nhà nước hỗ trợ để cải thiện tình hình

Với tiêu chí có điểm phục vụ bưu chính viễn thông, kết quả điều tra cho

thấy 16/16 xã có điểm phục vụ bưu chính viễn thông với tỷ lệ đạt là 100 %

Trong thực tế, tổng công ty bưu chính - viễn thông Việt Nam là đơn vị chịu

trách nhiệm chính trong việc đảm bảo các điểm phục vụ bưu chính viễn thông

trong cả nước, kết quả này phản ánh đúng những đóng góp của ngành bưu

chính - viễn thông trong sự phát triển của nông thôn Việt Nam Việc xây dựng

và phát huy điểm bưu điện văn hóa xã vừa góp phần tạo điều kiện thông tin

liên lạc cho người dân, đồng thời cũng là nơi giao lưu học hỏi các tiến bộ

khoa học kĩ thuật mới cho người dân nông thôn

Về tiêu chí có Internet đến thôn xóm, qua điều tra cho kết quả như sau

số xã đạt là 4/16 chiếm tỷ lệ là 25%, số xã không đạt là 12/16 chiếm 75% trong toàn huyện Qua thực tế điều tra cho thấy, hầu hết các điểm truy cập internet tại các xã là do tư nhân, hộ gia đình tổ chức hoạt động như là một ngành nghề phụ Các điểm truy cập của Bưu chính - Viễn thông Việt Nam rất

ít, hầu như không có Thực tế, với tỷ lệ 75% số xã không đạt tiêu chuẩn này là một thực trạng đáng buồn, bởi tiêu chí này hoàn toàn có thể thay đổi được trong ngắn hạn Các địa phương cần khuyến khích mở và triển khai hoạt động

từ các hộ gia đình, các doanh nghiệp tư nhân như một ngành nghề phụ vừa để thêm thu nhập, vừa phát triển nghề mới, vừa đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn này của bộ Trong dài hạn, địa phương cần phối hợp với tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam khắc phục tình trạng trên, từng bước đưa internet đến với người dân bởi internet có khả năng truyền tin nhanh, rộng, khối lượng thông tin rất lớn Tuy nhiên, đặc biệt với các hộ gia đình kinh doanh điểm internet, địa phương cần có phương pháp quản lý tốt, tránh việc

du nhập các thói hư tật xấu, văn hóa phẩm không lành mạnh có thể lây lan qua Internet

Về tiêu chuẩn nhà tạm, nhà dột nát, toàn huyện có 10/16 xã đạt tiêu chuẩn, đạt tỷ lệ là 62.5 %, và 6/16 xã không đạt với tỷ lệ là 37.5% Kết quả cũng phản ánh phần nào Chợ Mới là một huyện miền núi, đời sống của nhân dân còn nghèo, nhiều hộ gia đình chưa có nhà kiên cố để ở, định cư, phát triển kinh tế Tỷ lệ 62.5 % số xã đạt yêu cầu về nhà cửa cho thấy sự nỗ lực của nhân dân và chính quyền huyện trong những năm vừa qua, tỷ lệ xã không đạt

là 37.5% là một tỷ lệ cao Trong khi đó, tỷ lệ hộ có nhà đạt tiêu chuẩn của bộ Xây dựng chỉ có 2 xã đạt yêu cầu với tỷ lệ là 12.5%; tỷ lệ nhà đạt yêu cầu của

2 xã này là 79% Còn lại 14% số xã chiếm tỷ lệ 87.5% số xã chưa đạt tiêu chuẩn về nhà ở dân cư Trong số 14 xã chưa đạt tiêu chuẩn, tỷ lệ nhà đạt tiêu

Trang 36

chuẩn mới chỉ là 38%, cách rất xa so với yêu cầu tiêu chuẩn là trên 75% Để

thay đổi tiêu chí này, địa phương cần có chính sách, chiến lược phát triển kinh

tế hộ gia đình, từng bước tháo gỡ, nâng cấp cuộc sống cho người dân Bên

cạnh đó, các chính sách hộ trợ người nghèo, người có thu nhập thấp cũng rất

tốt trong ngắn hạn, tuy vậy, trong dài hạn vẫn cần có nhưng chính sách để

phát triển kinh tế bền vững

2.2.2.3 Thực trạng xây dựng nông thôn mới theo nhân tố kinh tế và tổ chức

sản xuất

Nhóm các nhân tố kinh tế và tổ chức sản xuất được đánh giá dựa trên

các tiêu chí cơ bản sau: thu nhập bình quần đầu người/năm so với mức bình

quần của tỉnh, tỷ lệ hộ nghèo tại các xã, tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc

tại các xã và có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã sản xuất

Bảng 14: Các nhân tố kinh tế và tổ chức sản xuất

Tiêu chuẩn Nông thôn mới

Xã đạt tiêu chuẩn Xã không đạt tiêu

chuẩn

SL

xã (xã)

Tỷ lệ (%)

Chênh lệnh so với tiêu chuẩn

SL

xã (xã)

Tỷ lệ (%)

Chênh lệnh so với tiêu chuẩn

Thu nhập Thu nhập bình quân đầu người/năm

so với mức BQ chung của tỉnh

Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc

trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp ≤ 45% 2 12.5 30% 14 87.5 72%

Nguồn: Thu thập từ số liệu điều tra

Qua bảng 14 ta thấy, với tiêu chí thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức chung của tỉnh có 14/16 xã, chiếm tỷ lệ 87.5% tổng số xã có mức thu nhập lớn hơn 1.2 lần so với mức chung của tỉnh, còn 2/16 xã, chiếm 12.5% số

xã có mức thu nhập thấp hơn mức chung của tỉnh Kết quả này cho thấy, mức thu nhập bình quần đầu người của huyện so với mức chung của tỉnh đạt mức khá, với mức thu nhập này, đời sống của nhân dân được đảm bảo Trong thời gian tới, các xã cần tập trung triển khai các chính sách hỗ trợ và thúc đẩy nhân dân thoát nghèo, từng bước nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình có thu nhập thấp để toàn huyện tiến tới đàn chuẩn nông thôn mới

Với tiêu chí tỷ lệ hộ nghèo dưới 10 % số hộ trong xã, kết quả là toàn huyện chỉ có 1 xã, chiếm 6.25% tổng số xã có tỷ lệ hộ nghèo đạt 6.32% thấp hơn mức tiêu chuẩn Còn lại, 15/16 xã chiếm 93.7% số xã có mức nghèo đói trên 10% Tỷ lệ nghèo đói trung bình của 15 xã này là 32.61% Kết quả điều tra này với kết quả các tiêu chí đã điều tra ở phần trên là hợp lý, hợp logic Hầu hết các xã trên địa bàn huyện vẫn còn hộ nghèo, tính trung bình con số này chiếm khoảng hơn 30 %, để thoát nghèo cho người dân, toàn huyện cần tiến hành nhiều chính sách kinh tế đồng bộ, một mặt hỗ trợ cho các hộ nghèo

để họ đầu tư phát triển sản xuất, một mặt có cách chính sách khuyến khích các hộ gia đình chủ động trong việc làm kinh tế, mặt khác cần tìm kiếm thêm nhiều đầu ra cho sản xuất nông nghiệp ở địa phương

Về tiêu chí tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc ở lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp yêu cầu đặt ra theo tiêu chuẩn nông thôn mới là mỗi xã có dưới 45% lao động hoạt động trong lĩnh vực này Kết quả thực tế điều tra cho thấy

có 2 địa phương đạt được yêu cầu này chiếm tỷ lệ 12.5%, một tỷ lệ rất nhỏ, và 14/16 xã có trên 45% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Đây là kết quả phản ánh đặc thù của một huyện nông thôn miền núi, với sản xuất nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo nên lực lượng lao động tập trung phần lớn

Trang 37

trong lĩnh vực này là hoàn toàn hợp lý Trong ngắn hạn, chuyển một lượng

lớn lao động từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ ở bối

cảnh hiện nay với huyện Chợ Mới là điều rất khó thực hiện vì các lý do: thứ

nhất Chợ Mới là một huyện miền núi, địa hình không thuận lợi, chỉ phù hợp

với phát triển nông nghiệp; thứ hai quy hoạch phát triển công nghiệp và dịch

vụ cho dài hạn ở Chợ Mới là không phù hợp do địa hình và trình độ lao động

còn thấp Toàn huyện nên cải thiện tiêu chí này tuy nhiên không nên đặt quá

nặng về chỉ tiêu, vấn đề chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế cần có chiến

lược trong dài hạn

Tiêu chí có tổ sản xuất hoặc hợp tác xã nghiên cứu điều tra trong

toàn huyện cho một kết quả tương đối khả quản, có 6/16 xã đạt yêu cầu với

tỷ lệ 37.5%, còn lại 10/16 xã chưa có tổ sản xuất hoặc hợp tác xã chiếm tỷ

lệ 62.5% Điều này cho thấy, khoảng gần một nửa số xã trên địa bàn có

hình thức sản xuất tập thể Hợp tác xã hoặc tổ hợp sản xuất có ý nghĩa rất

lớn với sự phát triển kinh tế nông thôn bởi mô hình này sẽ giải quyết rất

nhiều vấn đề khó khăn hiện nay trong sản xuất nông nghiệp như: mô hình

hợp tác xã được coi như một thành phần kinh tế nên có thể vay vốn để sản

xuất; Hợp tác xã có thể trực tiếp ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp

khác đồng nghĩa với việc chủ động tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm nông

nghiệp, thêm vào đó mô hình kinh tế tập thể nhận được rất nhiều sự hỗ trợ

khuyến khích từ nhà nước đặt biệt là thuế Ngoài ra, các mô hình tổ sản

xuất, hợp tác xã có thể giải quyết chính nhu cầu về nguồn nguyên vật liệu,

công cụ sản xuất ngay tại địa phương Mô hình tổ hợp sản xuất, hợp tác xã

cần được huyện nhân rộng trong toàn huyện, đây những mô hình tốt, đúng

đắn có thể góp phần chuyển dịch lao động từ ngành nông nghiệp sang cách

ngành khác nếu được nhân rộng

2.2.2.4 Thực trạng xây dựng nông thông mới theo nhân tố văn hóa - xã hội

Nhóm tiêu chuẩn văn hóa - xã hội được đánh giá bởi các tiêu chí liên quan đến giáo dục , y tế và văn hóa Kết quả điều tra thực tế tại địa phương được trình bày trong bảng 15 Cụ thể các tiêu chí đạt được như sau:

Bảng 15: Nhóm nhân tố văn hóa - xã hội

Tiêu

Tiêu chuẩn Nông thôn mới

Xã đạt tiêu chuẩn Xã không đạt tiêu

chuẩn

SL

xã (xã)

Tỷ lệ (%)

Chênh lệnh so với tiêu chuẩn

SL

xã (xã)

Tỷ lệ (%)

Chênh lệnh so với tiêu chuẩn

Giáo dục

14.1 Đạt chuẩn phổ cập giáo dục

14.2 Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề)

14.3 Tỷ lệ lao động qua đào tạo ≥ 20% 6 37.5 22% 10 62.5 13%

Y tế 15.1 Tỷ lệ người dân tham gia các

và Du lịch

Môi trường

17.1 Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia

17.2 Các cơ sở sản xuất - kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường Đạt 10 62.5 Đạt 6 37.5 K.đạt 17.3 Không có các hoạt động gây

suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp

17.4 Nghĩa trang được xây dựng

17.5 Chất thải, nước thải được thu

Nguồn: Thu thập từ số liệu điều tra

Trang 38

* Nhóm chỉ tiêu về giáo dục

Về mức độ phổ biến giáo dục trung học cơ sở 16/16 xã yêu cầu với tỷ

lệ là 100%, có nghĩa là 100 % trẻ em trong độ tuổi cấp trung học cơ sở đều

được đến trường Tuy nhiên, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học

trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề) với mức trên 70% tổng số học sinh

trong xã chỉ có 12/16 xã đạt tỷ lệ 75%, còn lại 4/16 xã, chiếm tỷ lệ 25% tổng

số xã có tỷ lệ các em không theo học trung học phổ thông , học nghề, bổ túc

dưới 70% Kết quả này cho thấy , công tác giáo dục tuyên truyền tới người

dân, khuyến khích các em đến trường làm chưa tốt Ngoài ra, do nhiều hộ gia

đình kinh tế còn khó khăn, không đủ điều kiện cho các em theo học, tuy nhiên

số lượng các hộ gia đình như vậy không nhiều Tiêu chí này, huyện có thể cải

thiện được trong năm tới bằng cách tích cực tuyên truyền vận động các gia

đình có con em trong độ tuổi đến trường tạo điều kiện cho các em họ c tập,

nâng cao dân trí Trong khi đó , tỷ lệ lao động qua đào tạo ở mỗi xã nếu trên

20% tổng số lao động trong xã là đạt yêu cầu thì kết quả điều tra thực tế cho

thấy có 6/16 xã chiếm tỷ lệ 37.5% tổng số xã đạt yêu cầu với số lượng lao

động qua đào tạo đạt bình quân 22% 10/16 xã chiếm tỷ lệ 62.5% số xã không

đạt yêu cầu, tỷ lệ lao động qua đào tạo của các xã này chỉ đạt 13% Với lực

lượng lao động như vậy phát triển kinh tế địa phương sẽ gặp rất nhiều khó

khăn Trong thời gian tới , huyện và các xã có chính sách thu hút nguồn nhân

lực có trình độ hoặc tạo điều kiện để con em xã , huyện mình được đào tạo ,

rèn luyện địa phương Nếu làm tốt công tác này , chỉ tiêu này có thể cải th iện

rõ rệt trong khoảng 2 - 3 năm

* Chỉ tiêu về y tế

Về tiêu chí y tế cộng đồng , tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo

hiểm y tế với số lượng trên 20% dân số được coi là đạt yêu cầu thì kết quả

điều tra cho thấy có 14/16 xã, chiếm tỷ lệ 87.5% tổng số xã đạt được tiêu chí

này với tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế là 77% Số xã không đạt yêu cầu là 2/16 xã, chiếm 12.5% Tỷ lệ người dân được tham gia các hình thức bảo hiểm y tế của 2 xã này chỉ đạt mức 10% Biện pháp nâng cao tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế là đẩy mạnh công tác tuyên truyền ở địa phương , cho nhân dân thấy được lợi ích to lớn của việc tham gia bảo hiểm y tế , muốn thành công cần có sự tham gia đồng của các cấp, từ cấp huyện, xã cho đến các thôn, xóm, bản Điều kiện y tế xã đạt chuẩn quốc gia, qua điều tra có 10/16 xã trong toàn huyện, tỷ lệ đạt trong huyện là 62.5%, đây là yếu tố liên quan đến việc đầu tư cơ sở vật chất ngành y tế , cho nên khắc phục không thể trong 1 hoặc 2 năm, trước mắt để cải thiện tình hình, mỗi địa phương, mỗi xã cần chủ động giải quyết bằng nội lực như vận động đóng góp của nhân dân , xin tài trợ của các tổ chức, đoàn thể khác

* Chỉ tiêu văn hóa

Về tiêu chí xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hóa theo quy định của bộ VH - TT - DL, toàn huyện không có xã nào đạt tiêu chí trên Tiêu chí này cần ít nhất là 5 năm để toàn huyện cải thiện Giải pháp

để cải thiện tiêu chí nà y là toàn huyện cần có bước tiến đồng bộ trên nhiều bình diện, về cơ bản phải nâng cao mức sống của người dân , nâng cao dân trí đồng thời kiến nghị nhà nước đầu tư mạnh để đổi mới cơ sở vật chất , thay đổi bộ mặt nông thôn

* Chỉ tiêu về môi trường

Nhóm chỉ tiêu môi trường được đánh giá bởi các tiêu chí là tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch , các cơ sở SX - KD đạt tiêu chuẩn về môi trường , không có hoạt động suy giảm môi trường và các hoạt độn g phát triển môi trường, nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch và chất thải được gom xử

lý theo quy hoạch

Trang 39

Về tiêu chí tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp về sinh theo quy

chuẩn Quốc gia, được đánh giá là đạt khi có trê n 70% số hộ trong xã được sử

dụng nước sạch Kết quả điều tra trong bảng 20 cho thấy có 10/16 xã đạt được

tiêu chí này với tỷ lệ là 62.5% trong toàn huyện Tỷ lệ người dân trong các xã

này được sử dụng nước sạch là 81% Còn lại 6/16 xã không đạt tiêu chuẩn, tỷ

lệ chiếm 37.5% trong toàn huyện Tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch

trong những xã này mới chỉ là 51% Tiêu chí này huyện có thể nâng cao trong

năm tới bằng cách mở rộng chính sách nhà nước và nhân d ân cùng làm , sử

dụng ngân sách nhà nước , vận động đóng góp, viện trợ từ các tổ chức và chủ

yếu từ người dân để xây dựng thêm các trạm bơm , xử lý nước sạch ở các khu

đông dân cư

Tiêu chí các cơ sở sản xuất - kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường

qua điều tra có 10/16 xã đạt tiêu chuẩn , tỷ lệ đạt trong toàn huyện là 62.5%

6/16 xã với tỷ lệ không đạt trong huyện là 37.5% Điều này cho thấy, huyện và

xã vẫn chưa quyết liệt trong việc quản lý, xử phạt các hộ kinh doanh, sản xuất

không đạt tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường Trong thời gian tới , chính quyền

xã, huyện cần mạnh tay với công tác bảo vệ môi trường, xử phạt nghiêm minh

các hộ gia đình không chấp hành c ác quy định của pháp luật , trường hợp nào

chậm chễ có thể thu hồi giấy phép kinh doanh Nếu kiến quyết, xử lý mạnh tay,

tiêu chí này toàn huyện có thể phấn đấu thay đổi trong 1 năm

Điều tra về tiêu chí không có các hoạt động gây suy giảm môi trường

và có các hoạt động phát triển môi trường xanh , sạch đẹp, kết quả thu được là

12/16 xã đạt tiêu chuẩn này , tỷ lệ hoàn thành trong huyện đạt 75%, còn 4/16

xã vẫn còn chưa đạt , chủ yếu do còn c ó các hoạt động gây suy giảm môi

trường gây ra Tiêu chí này có thể đạt được khi tiêu chí bên trên được giải

quyết triệt để, bởi nguyên nhân chủ yếu do một số xã vẫn còn nhiều cơ sở sản

xuất kinh doanh không có các biện pháp bảo vệ môi trường gây ra

Thực trạng đáng ngại nhất trong tiêu chuẩn này là qua điều tra , chỉ có 1/16 xã có nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch và chất thải , nước thải được thu gom xử lý theo quy định Nguyên nhân là C hợ Mới là huyện nông thôn, địa hình miền núi , cơ sở vật chất còn nghèo nàn , công trình phục vụ cho giáo dục , y tế, quản lý nhà nước còn rất thiếu và yếu , nhiều công trình đã sử dụng lâu năm hiện thời đã xuống cấp nhưn g chưa được đầu tư thích đáng Do vậy, việc hầu hết các xã trong toàn huyện không được quy hoạch về nghĩa trang và khu xử lý chất thải , nước thải là điều hoàn toàn dễ hiểu , hoạt động này trên toàn huyện đều tự phát Cũng như các loại hình đầu tư cơ bản khác , hai tiêu chí này cần nhà nước quan tâm , đầu tư vốn để xây dựng , cải tạo, và tiến hành đồng bộ với các công trình xây dựng cơ bản khác , thời gian để nâng cấp toàn bộ hệ thống và xâ y mới cần khoảng thời gian không ít hơn 5 năm, do còn rất nhiều các công trình cơ bản khác trên toàn huyện cần

có nhu cầu xây dựng

2.2.2.5 Thực trạng xây dựng nông thôn mới theo nhân tố hệ thống chính trị -

an ninh xã hội

Hệ thống chính trị - an ninh xã hội ổn định là cơ sở, là nền tảng vững chắc để phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương Cũng như các địa phương khác trên phạm vi cả nước, muốn thực hiện thành công xây dựng nông thôn mới, huyện Chợ Mới cần xây dựng được môi trường chính trị - an ninh xã hội ổn định, vững mạnh Thực trạng hệ thống chính trị - an ninh xã hội được thể hiện dưới đây

Trang 40

Bảng 16: Nhân tố hệ thống chính trị - an ninh xã hội

Tiêu chí Nội dung

Tiêu chuẩn nông thôn mới

Xã đạt tiêu chuẩn Xã không đạt tiêu

chuẩn

SL

xã (xã)

Tỷ lệ (%)

Chênh lệnh so với tiêu chuẩn

SL

xã (xã)

Tỷ lệ (%)

Chênh lệnh so với tiêu chuẩn

Nguồn: Thu thập từ số liệu điều tra

Kết quả điều tra về cán bộ xã đạt chuẩn cho thấy có 11/16 xã đạt tiêu

chuẩn, chiếm tỷ lệ 68.75% toàn huyện , như vậy vẫn còn 5/16 xã chưa đạt

chuẩn về cán bộ Tiêu chí này muốn cải thiện cần phải nâng cao được trình độ

cho cán bộ cấp xã Giải pháp để thực hiện có thể theo hai hướng chính: một là

đẩy mạnh việc học tập nâng cao chuyên môn của cán bộ xã đang thực hiện

nhiệm vụ, hai là có các chính sách thu hút nguồn cán bộ có chất lượ ng cao về

với địa phương Song song với đó, cần liên tục các lớp tập huấn, nâng cao đạo

đức nghề nghiệp, giáo dục tư tưởng chính trị để đội ngũ cán bộ xã có lý tưởng

chính trị vững vàng Cũng qua điều tra cho thấy, về hệ thống tổ chức chính trị

cơ sở theo quy định có 16/16 xã trong toàn huyện đạt chuẩn , và 16/16 xã có

Đảng bộ, chính quyền trong sạch vững mạnh chiếm tỷ lệ là 100 % trong toàn

huyện Tỷ lệ tổ chức đoàn thể chính trị dan h hiệu tiên tiến có 13/16 xã của

huyện đạt , tỷ lệ đạt cũng khá cao là 81.25% Với những lợi thế về bộ máy

chính quyền như vậy Chợ Mới có lợi thế rất lớn trong việc đề xuất và triển

khai thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển nông thôn mới

Về tiêu chí an ninh , trật tự xã hội được giữ vững tỷ lệ 100% các xã đạt yêu cầu, kết quả này là do các xã trên toàn huyện đều có một bộ máy chính quyền vững mạnh, tạo tiền đề trong việc nâng cao khối đại đoàn kết toàn dân ,

và giữ vững trật tự an ninh xã hội

2.2.3 Một số kết luận về xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ mới

2.2.3.1 Tổng kết về thực hiện chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới của huyện Chợ Mới

Tuy là một huyện thuộc một trong những tỉnh nghèo nhất của cả nước, cũng như mới bắt đầu bước vào xây dựng nông thôn mới, huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn gặp không ít khó khăn Trong số những chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới, thậm trí có những chỉ tiêu đối với địa phương miền núi nói chung

và Chợ Mới nói riêng rất khó để thực hiện thành công Kết quả khảo sát ban đầu này chỉ làm cơ sở để huyện xây dựng kế hoạch thực hiện những bước tiếp theo nhằm xây dựng thành công mục tiêu nông thôn mới của huyện Kết quả

cụ thể được thể hiện qua bảng số liệu tổng hợp dưới đây

Bảng 17: Tổng hợp kết quả thực hiện theo chỉ tiêu nông thôn mới

của huyện Chợ Mới

Nhóm chỉ tiêu Tổng số

chỉ tiêu

Chỉ tiêu đạt chuẩn

Chỉ tiêu không đạt chuẩn

Tỷ lệ hoàn thành (%)

I Nhóm chỉ tiêu về quy hoạch và phát triển quy hoạch

III Nhóm chỉ tiêu về kinh tế và tổ chức sản xuất

Ngày đăng: 03/08/2016, 19:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 01: Tình hình sử dụng đất đai của huyện năm 2010 - Giải pháp xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn
Bảng 01 Tình hình sử dụng đất đai của huyện năm 2010 (Trang 23)
Bảng 04: Thống kê đường giao thông huyện Chợ Mới  STT  Chỉ tiêu  Chiều dài(km)  Chiều rộng (m)  Diện tích (ha) - Giải pháp xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn
Bảng 04 Thống kê đường giao thông huyện Chợ Mới STT Chỉ tiêu Chiều dài(km) Chiều rộng (m) Diện tích (ha) (Trang 25)
Bảng 10: Kết quả hoạt động sản xuất nông nghiệp của huyện - Giải pháp xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn
Bảng 10 Kết quả hoạt động sản xuất nông nghiệp của huyện (Trang 29)
Bảng 12: Tiêu chí quy hoạch và phát triển quy hoạch - Giải pháp xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn
Bảng 12 Tiêu chí quy hoạch và phát triển quy hoạch (Trang 31)
Bảng 20: Thực trạng hạ tầng kinh tế - xã hội  so với bộ tiêu chí - Giải pháp xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn
Bảng 20 Thực trạng hạ tầng kinh tế - xã hội so với bộ tiêu chí (Trang 44)
Bảng 21: Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất của xã so với bộ tiêu chí - Giải pháp xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn
Bảng 21 Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất của xã so với bộ tiêu chí (Trang 47)
Bảng 26: Thực trạng hạ tầng kinh tế xã hội của xã so với bộ tiêu chí - Giải pháp xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn
Bảng 26 Thực trạng hạ tầng kinh tế xã hội của xã so với bộ tiêu chí (Trang 52)
Bảng 28: Thực trạng Văn hóa - Xã hội - Môi trường xã so với bộ tiêu chí - Giải pháp xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn
Bảng 28 Thực trạng Văn hóa - Xã hội - Môi trường xã so với bộ tiêu chí (Trang 57)
Bảng 28: Thực trạng hệ thống chính trị của xã so với bộ tiêu chí - Giải pháp xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn
Bảng 28 Thực trạng hệ thống chính trị của xã so với bộ tiêu chí (Trang 58)
Bảng 29: Diện tích đất đai xã Mai Lạp - Giải pháp xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn
Bảng 29 Diện tích đất đai xã Mai Lạp (Trang 59)
Bảng 30: Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch của xã - Giải pháp xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn
Bảng 30 Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch của xã (Trang 60)
Bảng 34: Thực trạng hệ thống chính trị của xã  so với bộ tiêu chí - Giải pháp xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn
Bảng 34 Thực trạng hệ thống chính trị của xã so với bộ tiêu chí (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w