Lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỉ lệ lao động nông thôn thông qua đào tạo đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%; phát triển đồng bộ kết cấu hạ
Trang 1––––––––––––––––––––––––––
PHẠM KHẮC DŨNG
GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN MỚI CỦA HUYỆN CHỢ MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐOÀN QUANG THIỆU
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và hoàn toàn chua được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin chích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Phạm Khắc Dũng
LỜI CẢM ƠN
Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS Đoàn Quang Thiệu - Người trực tiếp hướng dẫn và giúp
đỡ tôi hoàn thành Luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo khoa kinh tế, phòng QL đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo trong và ngoài Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn Chi cục Thống kê huyện Chợ Mới, phòng nông nghiệp, UBND huyện chợ mới, UBND, các tổ chức chính trị, xã hội thị trấn và các xã trong huyện chợ mới đã cung cấp số liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành Luận văn này
Tôi xin trân thành cảm ơn Trường Đại học Kinh tế & QTKD - ĐHTN
đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi theo học và hoàn thiện khóa học này Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thể gia đình, người thân đã động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu đề tài
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2012
Tác giả luận văn
Phạm Khắc Dũng
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Đóng góp mới của đề tài 3
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới 5
1.1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới 5
1.1.2 Kinh nghiệm xây dựng và phát triển nông thôn ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 13
1.2 Phương pháp nghiên cứu 30
1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 30
1.2.2 Các phương pháp nghiên cứu 30
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ở HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH BẮC KẠN 34
2.1 Đặc điểm của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn 34
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 34
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Chợ Mới 37
2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn trong xây dựng nông thôn mới của huyện Chợ Mới 44
2.2 Thực trạng nông thôn của huyện Chợ Mới 46
2.2.1 Kết quả phát triển nông thôn của huyện giai đoạn 2008 - 2010 46
2.2.2 Thực trạng nông thôn huyện Chợ Mới so với bộ tiêu chí Quốc gia nông thôn mới 49
2.2.3 Một số kết luận về xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ mới 69
2.2.4 Thực trạng nông thôn ở một số xã tiêu biểu ở các vùng 74
Chương 3: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN 123
3.1 Quan điểm về xây dựng và phát triển nông thôn mới 123
3.1.1 Xây dựng nông thôn mới phải phù hợp với chủ trương đường lối của Đảng và nhà nước 123
3.1.2 Xây dựng nông thôn mới phải đảm bảo phát triển nông thôn bền vững 123
3.1.3 Xây dựng nông thôn mới trên quan điểm kế thừa những thành tựu đã đạt được 124
3.1.4 Xây dựng nông thôn mới phải vừa hiện đại nhưng vẫn giữ gìn bản sắc dân tộc 124
3.1.5 Xây dựng nông thôn mới trên quan điểm phát huy mọi nguồn lực để xây dựng với tốc độ nhanh 125
3.2 Phương hướng và mục tiêu xây dựng nông thôn mới ở huyện Chợ Mới 125
3.2.1 Phương hướng 125
3.2.2 Mục tiêu 126
Trang 43.3 Những giải pháp nhằm xây dựng nông thôn mới ở huyện Chợ Mới 126
3.3.1 Giải pháp chung các vùnh trong huyện 126
3.3.2 Giải pháp riêng cho từng vùng 135
3.3.3 Kiến nghị 139
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 141
TÀI LIỆU THAM KHẢO 143
PHỤ LỤC 145
DANH MỤC VIẾT TẮT
CN - XD Công nghiệp - xây dựng CNH - HDH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
CN - TTCN Công nghiệp - Tiêu thủ công nghiệp ĐBSCL Đồng bằng sông cửu long
GD - YT - VHTT Giáo dục - Y tế - Văn hóa thể thao
N - L - T Nông lâm thủy sản
TM - DV Thương mại - Dịch vụ
VH - TT - DL Văn hóa thể thao du lịch
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 01: Tình hình sử dụng đất đai của huyện năm 2010 35
Bảng 02: Tình hình dân số huyện Chợ Mới 37
Bảng 03: Tình hình lao động huyện Chợ Mới 38
Bảng 04: Thống kê đường giao thông huyện Chợ Mới 39
Bảng 05: Tình hình cơ sở Giáo dục ở huyện Chợ Mới 40
Bảng 06: Hệ thống cơ sở y tế ở huyện Chợ Mới 40
Bảng 07: Thu nhập cơ cấu tự nhiên của huyện Chợ Mới qua 3 năm 41
Bảng 08: Phát triển xã hội của huyện qua 3 năm 43
Bảng 09: Kết quả phát triển kinh tế nông thôn của huyện qua 3 năm 46
Bảng 10: Kết quả hoạt động sản xuất nông nghiệp của huyện 47
Bảng 11: Tình hình phát triển xã hội nông thôn của huyện 48
Bảng 12: Tiêu chí quy hoạch và phát triển quy hoạch 50
Bảng 13: Thực trạng tiêu chí hạ tầng kinh tế - xã hội 52
Bảng 14: Các nhân tố kinh tế và tổ chức sản xuất 60
Bảng 15: Nhóm nhân tố văn hóa - xã hội 63
Bảng 16: Nhân tố hệ thống chính trị - an ninh xã hội 68
Bảng 17: Tổng hợp kết quả thực hiện theo chỉ tiêu nông thôn mới của huyện Chợ Mới 69
Bảng 18: Diện tích đất đai xã Thanh Bình 74
Bảng 19: Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch của xã Thanh Bình so với bộ tiêu chí 75
Bảng 20: Thực trạng hạ tầng kinh tế - xã hội so với bộ tiêu chí 77
Bảng 21: Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất của xã so với bộ tiêu chí 83
Bảng 22: Thực trạng Văn hóa - Xã hội - Môi trường của xã so với bộ tiêu chí 85
Bảng 23: Thực trạng hệ thống chính trị của xã so với bộ tiêu chí 88
Bảng số 24: Diện tích đất đai xã Cao Kỳ 90
Bảng 25: Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch của xã so với bộ tiêu chí 91
Bảng 26: Thực trạng hạ tầng kinh tế xã hội của xã so với bộ tiêu chí 93
Bảng 27: Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất xã so với bộ tiêu chí 100
Bảng 28: Thực trạng Văn hóa - Xã hội - Môi trường xã so với bộ tiêu chí 102
Bảng 28: Thực trạng hệ thống chính trị của xã so với bộ tiêu chí 105
Bảng 29: Diện tích đất đai xã Mai Lạp 107
Bảng 30: Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch của xã so với bộ tiêu chí 108
Bảng 31: Thực trạng hạ tầng kinh tế xã hội của xã so với bộ tiêu chí 109
Bảng 32: Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất của xã so với bộ tiêu chí 115
Bảng 33: Thực trạng văn hóa - xã hội - môi trường của xã so với bộ tiêu chí 117
Bảng 34: Thực trạng hệ thống chính trị của xã so với bộ tiêu chí 121
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 01: Tình hình dân số huyện Chợ Mới 38
Biểu đồ 02: Tình hình thu nhập của các ngành của huyện Chợ Mới 42
Biểu đồ 03: Thu nhập bình quân đầu người và hộ nghèo của huyện 43
Biểu đồ 04: Kết quả phát triển kinh tế nông thôn của huyện trong 3 năm 47
Biểu đồ 05: Kết quả hoạt động sản xuất nông nghiệp của nông thôn huyện 48
Biểu đồ 06: Tình hình phát triển xã hội nông thôn của địa phương 49
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông thôn có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh
tế - xã hội của mỗi quốc gia Việt Nam là nước nông nghiệp, dân số sống ở khu vực nông thôn chiếm gần 70% dân số cả nước Vì vậy, phát triển nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế
xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến phát triển nông nghiệp nông thôn Ngày 05/08/2008 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
đã ban hành Nghị quyết số 26 - NQ/TW về nông nghiệp, nông dân nông thôn
Mục tiêu của Nghị quyết, đến năm 2020: “… Giải quyết cơ bản việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn gấp trên 2,5 lần so với hiện nay Lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỉ lệ lao động nông thôn thông qua đào tạo đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%; phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn…”
Để triển khai Nghị quyết số 26 - NQ/TW, với chủ trương đưa nông thôn tiến kịp với thành thị, xây dựng mục tiêu hiện đại hóa nông thôn Việt Nam vào cuối năm 2020, ngày 16 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã
ra Quyết định số 491/QĐ-TTg về việc ban hành bộ tiêu trí quốc gia về xây dựng nông thôn mới Trên cơ sở bộ tiêu chí nông thôn mới này, các địa phương căn cứ để xây dựng, phát triển nông thôn Ngày 2 tháng 2 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 193/QĐ-TTg phê duyệt chương trình
rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới Ngày 4 tháng 6 năm 2010 Chính phủ ra Quyết định số 800/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, với mục tiêu đến năm 2015: 20% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới, đến năm 2020: 50% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng ban hành Thông tư số 54/2009/BNNPTNT ngày 21 tháng 8 năm 2009 về việc
Trang 7hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu trí quốc gia về nông thôn mới… Xây dựng nông
thôn mới được tất cả các tỉnh trên phạm vi toàn quốc quan tâm, là chủ đề của
nhiều hội thảo, hội nghị, theo báo cáo vấn đề nhằm thực hiện thắng lợi nghị
quyết của Đảng và Chính phủ
Trên cơ sở các quyết định của Chính phủ, của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn, các địa phương sẽ tiến hành rà soát và xây dựng chương
trình hành động để thực hiện thắng lợi xây dựng nông thôn theo bộ tiêu chí
mới Cũng như các địa phương vùng núi phía Bắc khác, Bắc Kạn là một tỉnh
miền núi, còn nhiều khó khăn Là một trong số những tỉnh nghèo nhất cả
nước, đặc biệt là khu vực nông nghiệp, nông thôn Bắc Kạn nằm ở vị trí trung
tâm của các tỉnh thuộc khu Việt Bắc, gồm có 8 đơn vị hành chính, gồm 7
huyện và một thị xã Để xây dựng nông thôn Bắc Kạn theo tiêu chí mới, đòi
hỏi phải có sự đánh giá một cách tổng quát, bên cạnh sự nỗ lực của toàn
Đảng, toàn dân và huy động các nguồn lực trong xã hội cùng tham gia vào
phát triển nông thôn
Chợ Mới là một huyện vùng núi cao của tỉnh Bắc Kạn, kinh tế chủ yếu
dựa vào nông - lâm nghiệp Nằm trên trục quốc lộ 3 nối Hà Nội - Thái
Nguyên - Bắc Kạn - Cao Bằng, Chợ Mới vẫn là một huyện phát triển dựa chủ
yếu vào nông nghiệp, nhưng đồng thời cũng có những thuận lợi nhất định để
phát triển và có cơ hội thực hiện thành công xây dựng nông thôn mới Tuy
vậy huyện Chợ Mới chưa có nghiên cứu nào đánh giá thực trạng và đề ra
những giải pháp khoa học nhằm xây dựng nông thôn mới góp phần phát triển
kinh tế xã hội địa phương đồng thời thực hiện thắng lợi nghị quyết của tỉnh
Đảng bộ Bắc Kạn xuất phát từ thực tế khách quan đó đề tài “Giải pháp xây
dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn” là yêu
cầu đặt ra mang tính cấp thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới, đánh giá và phân tích thực trạng tình hình nông thôn ở huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn sẽ phát hiện những mặt mạnh, những tồn tại và những tiềm năng
từ đó đề ra những giải pháp có tính khoa học và khả thi nhằm xây dựng nông thôn mới ở huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn về xây dựng nông thôn mới
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới;
- Đánh giá và phân tích thực trạng tình hình nông thôn ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn;
- Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng thành công nông thôn mới
4 Đóng góp mới của đề tài
Một là, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới
Trang 8Hai là, đánh giá thực trạng nông thôn trong điều kiện để triển hai xây
dựng nông thôn mới, đặc biệt đối với huyện miền núi, điều kiện còn nhiều
khó khăn
Ba là, Đề tài đưa ra các giải pháp khoa học có tính khả thi nhằm xây
dựng nông thôn mới, là tài liệu có giá trị cho các nhà quản lý địa phương
huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn nói riêng và các huyện miền núi nói chung
Đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị cho những người học tập nghiên
cứu và những người quan tâm đến xây dựng nông thôn mới
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về xây dựng nông thôn mới và phương pháp
nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng phát triển nông thôn ở huyện Chợ Mới tỉnh
Bắc Kạn
Chương 3: Giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng và phát triển nông thôn
mới ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới
1.1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới
1.1.1.1 Nông thôn và vai trò của nông thôn trong sự nghiệp phát triển đất nước
* Khái niệm về nông thôn Theo từ điển tiếng Việt: Nông thôn là danh từ chỉ khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông; phân biệt với thành thị
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cho rằng: Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Thông tư số: 54/2009/TT -
BNNPTNT thì nông thôn được khái niệm: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã
Như vậy Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó tập chung chủ yếu là nông dân, nghề nghiệp chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Tập hợp này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh sự quản lý hành chính cơ sở
là UBND xã;
* Đặc điểm của nông thôn Việt Nam trong giai đoạn đổi mới
- Ở vùng nông thôn, các cư dân chủ yếu là nông dân, lao động và GDP nông nghiệp chiếm tỷ cao trong kinh tế nông thôn Nông thôn Việt Nam sau những năm đổi mới đến nay đã có nhiều biến đổi theo xu hướng tích cực Tuy nhiên, lực lượng dân cư chủ yếu vẫn là nông dân, ngành nghề và nguồn thu của hộ vẫn chủ yếu là nông nghiệp Công nghiệp và dịch vụ đã có sự phát
Trang 9triển, nhưng còn chiếm tỷ lệ nhỏ, và chủ yếu phát triển dựa trên sự phát triển
của nông thôn và phục vụ cho sự phát triển nông nghiệp và đời sống người
nông dân là chính
- Nông thôn có điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái đa dạng bao
gồm các tài nguyên đất, nước, khí hậu, rừng,sông suối, ao hồ, khoáng sản, hệ
động thực vật Đây là điều kiện thuận để phát triển nông nghiệp, nông thôn,
nhưng đồng thời cũng là thách thức trong quá trình phát triển bền vững của
khu vực nông thôn nói riêng và cả nước nói chung
- Dân cư nông thôn có mối quan hệ họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với
những quy định cụ thể của từng họ tộc và gia đình Những người ngoài họ tộc
cùng chung sống luôn có tinh thần đòan kết giúp đỡ nhau tạo nên tình làng,
nghĩa xóm lâu bền
- Nông thôn lưu giữ và bảo tồn nhiều di sản văn hóa quốc gia như
phong tục tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp và
ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hóa, các danh lam thắng
cảnh… Đây chính là nơi chứa đựng kho tàng văn hóa dân tộc, đồng thời là
khu vực giải trí và du lịch sinh thái phong phú và hấp dẫn đối với mọi người
* Vai trò của nông thôn trong phát triển kinh tế xã hội
- Nông thôn là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống
nhân dân
- Cung cấp nguyên vật liệu cho công nghiệp
- Cung cấp hàng hóa cho xuất khẩu
- Cung cấp lao động cho công nghiệp và thành thị
- Là thị trường rộng lớn tiêu thụ những sản phẩm công nghiệp vả
dịch vụ
- Phát triển nông thôn tạo điều kiện phát triển ổn định về kinh tế- chính
trị - xã hội
1.1.1.2 Xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là nông thôn được xây dựng đạt được những
tiêu chí quy định và được công nhận của cấp có thẩm quyền
Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đưa ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”;
Như vậy, Xây dựng nông thôn mới phải đạt những nội dung cơ bản sau: làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; đời sống về vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ
Thực tế hiện nay trong quá trình chỉ đạo xã điểm triển khai xây dựng nông thôn mới ở nước ta đang gặp phải 3 khó khăn lớn nhất: Đầu tiên là tăng nhanh, bền vững thu nhập cho nông dân, mục tiêu đến 2020 thu nhập tăng gấp 2,5 lần hiện nay Khó khăn tiếp theo là xây dựng hạ tầng nông thôn hiện đại, trong điều kiện thực tế hạ tầng nông thôn quá lạc hậu nhất là miền núi, vùng ĐBSCL, trong khi nguồn vốn đầu tư của Chính phủ rất hạn chế Cuối cùng là vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn, sao cho đến năm 2020 lao động nông nghiệp chiếm 30% lao động của xã hội (hiện nay gần 60%)
* Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay
Việt Nam là một nước nông nghiệp, tiến lên xây dưng nhà nước xã hội chủ nghĩa, sự ổn định về chính trị - xã hội là nền tảng cơ bản để thực hiện thành công mục tiêu này Việt Nam, với dân số lao động nông nghiệp tính đến
Trang 10năm 2010 là khoảng 27 triệu người, chiếm 60% tổng lao động xã hội, khu vực
nông thôn có vai trò rất lớn trong sự ổn định và phát triển về mặt kinh tế -
chính trị - xã hội
Bên cạnh đó, nông thôn có vai trò rất lớn trong sự phát triển kinh tế
nông nghiêp của Việt Nam; tốc độ tăng trưởng bình quân từ năm 2006 - 2010
đạt 3,36% Giá trị sản xuất toàn ngành từ ước tăng 4,69% trong năm 2010
bình quân 5 năm đạt 4,93% (mục tiêu kế hoạch là 4,5%); Tổng kim ngạch
xuất khẩu toàn ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn tính của năm 2010 (giá
trị đạt 19,15 tỷ USD; tăng 22.3% so vơi kế hoạch đề ra đầu năm) Xuất khẩu
nông sản góp phần cân bằng cán cân thương mại, đồng thời là tích lũy nguồn
vốn cho phát triển các mục tiêu khác của đất nước
Với vai trò quan trọng như vậy, nhưng so với thành thị, nông thôn găp
phải rất nhiều khó khăn Tỷ lệ người nghèo lớn, và tập trung chủ yếu ở khu
vực này Do đó, đòi hỏi phải có sự quan tâm và đầu tư thích đáng cho khu vực
nông nghiệp - nông thôn
Trong nhưng năm qua, nguồn vốn đầu tư cho khu vực nông nghiệp,
nông thôn rất lớn, tuy nhiên đầu tư mang tính dàn trải và hiệu quả không cao
Một trong những lý do dẫn đến tình trạng này là thiếu mục tiêu cụ thể trong
phát triển nông nghiệp - nông thôn
Từ những vai trò, đóng góp, và hiện trạng đầu tư vào khu vực nông
thôn, đòi hỏi Việt Nam phải đẩy mạnh phát triển khu vực này Chúng ta có
thể rút ra một số vấn đề sau:
Một là, phải tập trung đẩy mạnh phát triển nông nghiệp - nông thôn làm
cơ sở cho thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước, xây dựng thành
công nhà nước xã hội chủ nghĩa do dân và vì dân;
Hai là, phải đặt ra mục tiêu cụ thể cho phát triển khu vực nông nghiệp,
nông thôn làm bàn đạp, làm kim chỉ nam cho quá trình đầu tư và phát triển
Ba là, nhanh chóng đưa khu vực nông thôn phát triển, theo kịp với sự phát triển của khu vực thành thị
Từ những nhận thức đó, đòi hỏi phải xây dựng được bộ tiêu chí về nông thôn mới, làm kim chỉ nam cho quá đầu tư và phát triển nông thôn là rấ cần thiết Vì vậy, Chính phủ đã ra Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4 tháng 6 năm 2010 về phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, mục tiêu về xây dựng nông thôn mới: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp , dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng của xã hội chủ nghĩa
* Lịch sử ra đời của mô hình nông thôn mới
Trong 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, sản xuất nông nghiệp và kinh tế - xã hội nông thôn đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, nông nghiệp
có tốc độ phát triển cao (4,25% năm), liên tục và ổn định, đã góp phần đưa đất nước vượt qua cơn khủng hoảng, ổn định trính trị, tạo tiền đề phát triển và thực hiện quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Những thành tựu trong những năm đổi mới đã đưa nước ta từ một nước thiếu lương thực trở thành nước xuất gạo đứng thứ 2 trên thế giới Trên cơ phát huy lợi thế của các vùng sinh thái, thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa gắn liền với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa…, Dựa trên những thành công và kinh nghiệm trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp của nhiều nước phát triển trên thế giới, dựa trên những tình hình, điều kiện phù hợp của nước ta
Trang 11Ngày 05/08/2008 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
đã ban hành Nghị quyết số 26 - NQ/TW về nông nghiệp, nông dân nông thôn
Mục tiêu của Nghị quyết, đến năm 2020: “… Giải quyết cơ bản việc làm,
nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn gấp trên 2,5 lần so với hiện nay Lao
động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỉ lệ lao động nông thôn
thông qua đào tạo đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng
50%; phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn…”
Để triển khai Nghị quyết số 26 - NQ/TW, với chủ trương đưa nông
thôn tiến kịp với thành thị, xây dựng mục tiêu hiện đại hóa nông thôn Việt
Nam vào cuối năm 2020
Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 491/QĐ-TTg , ngày 16 tháng
4 năm 2009 về việc ban hành Bộ tiêu trí quốc gia về xây dựng nông thôn mới
để các địa phương có căn cứ xây dựng, phất triển nông thôn Ngày 2 tháng 2
năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 193/QĐ-TTg phê duyệt
chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới Ngày 4 tháng 6 năm
2010 Chính phủ ra Quyết định số 800/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình mục
tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, với mục tiêu: đến
năn 2015: 20% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới, đến năm 2020: 50% số xã
đạt tiêu chuẩn nông thôn mới Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng
ban hành thông tư số 54/2009/BNNPTNT ngày 21 tháng 8 năm 2009 về việc
hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu trí quốc gia về nông thôn mới… Xây dựng nông
thôn mới được tất cả các tỉnh trên phạm vi toàn quốc quan tâm
1.1.1.3 Tiêu chí xây dựng nông thôn mới
* Nội dung của Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới
Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16
tháng 4 năm 2009 về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
Theo bộ tiêu chí chỉ tiêu quốc gia bộ tiêu chí có 3 cấp độ: xã nông thôn
mới, huyện nông thôn mới và tỉnh nông thôn mới, trong đó xã nông thôn
mới có 19 tiêu chí cụ thể, còn đối với huyện nông thôn mới căn cứ vào tỷ
lệ số xã thuộc huyện đạt nông thôn mới (75% số xã đạt 19 tiêu chí nông thôn mới) và tỉnh nông thôn mới căn cứ vào tỷ lệ số huyện thuộc tỉnh đạt nông thôn mới (80% số huyện đạt tiêu chí nông thôn mới) 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới bao gồm:
Nhóm tiêu chí về quy hoạch có 01 tiêu chí:
Tiêu chí Quy hoạch và thực hiện quy hoạch bao gồm: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ; Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh
tế - xã hội - môi trường theo chuẩn mới; Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp
Nhóm tiêu chí về hạ tầng Kinh tế - Xã hội có 08 tiêu chí:
Tiêu chí Giao thông bao gồm: Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT; tỷ lệ
km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT; tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa; tỷ lệ
km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện Tiêu chí Thủy lợi bao gồm: Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh; tỷ lệ km trên mương do xã quản lý được kiên cố hóa Tiêu chí Điện bao gồm: Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn Tiêu chí Trường học bao gồm: Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học, THCS có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia
Tiêu chí về cơ sở vật chất văn hóa bao gồm: Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ VH-TT-DL; tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ VH-TT-DL
Tiêu chí Chợ nông thôn: Chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng
Trang 12Tiêu chí Bưu điện bao gồm: Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông; có
Internet đến thôn
Tiêu chí nhà ở dân cư bao gồm: Nhà tạm, dột nát; Tỷ lệ hộ có nhà ở đạt
tiêu chuẩn Bộ Xây dựng
Nhóm tiêu chí về Kinh tế và tổ chức sản xuất có 04 tiêu chí:
Tiêu chí thu nhập: Thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức bình
quân chung của tỉnh
Tiêu chí hộ nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo
Tiêu chí cơ cấu lao động: Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong
lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp
Tiêu chí hình thức tổ chức sản xuất: Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt
động có hiệu quả
Nhóm tiêu chí về Văn hóa - Xã hội - Môi trường có 04 tiêu chí:
Tiêu chí về giáo dục bao gồm: Phổ cập giáo dục trung học; tỷ lệ học
sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học
nghề); Tỷ lệ lao động qua đào tạo
Tiêu chí về y tế bao gồm: Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo
hiểm y tế; Y tế xã đạt chuẩn quốc gia
Tiêu chí về văn hóa: Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn
làng văn hóa theo quy định của Bộ VH-TT-DL
Tiêu chí về môi trường bao gồm: Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp
vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia; Các cơ sở SX-KD đạt tiêu chuẩn về môi
trường; không có các hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động
phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp; Nghĩa trang được xây dựng theo quy
hoạch; Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định
Nhóm tiêu chí hệ thống chính trị gồm 02 tiêu chí:
Tiêu chí hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh bao gồm: Cán bộ
xã đạt chuẩn; Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định;
Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”; Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên
Tiêu chí an ninh, trật tự xã hội: An ninh, trật tự xã hội được giữ vững
(Chi tiết theo phụ lục số 01)
1.1.2 Kinh nghiệm xây dựng và phát triển nông thôn ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.2.1 Kinh nghiệm xây dựng và phát triển nông thôn ở một số nước trên thế giới
a Kinh nghiệm xây dựng và phát triển nông thôn ở Hàn Quốc
Nhờ hiệu quả của phong trào Saemaul Undong mà Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia giàu có, hiện đại bậc nhất châu Á
Nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến khu vực kinh tế nông thôn khi thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ I (1962-1966) và thứ II (1966-1971) với chủ trương công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu, tháng 4 năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc phát động phong trào Saemaul Undong Mục tiêu của phong trào này là "nhằm biến đổi cộng đồng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới: mọi người làm việc và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng mình ngày một đẹp hơn và giàu hơn Cuối cùng là để xây dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn"
Theo đó, Chính phủ vừa tăng đầu tư vào nông thôn vừa đặt mục tiêu thay đổi suy nghĩ ỷ lại, thụ động vốn tồn tại trong đại bộ phận dân cư nông thôn Điểm đặc biệt của phong trào NTM của Hàn Quốc là Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần nguyên, vật liệu còn nông dân mới chính là đối tượng ra quyết định và thực thi mọi việc Saemaul Undong cũng rất chú trọng đến phát huy dân chủ trong xây dựng NTM với việc dân bầu ra một nam và một nữ lãnh đạo phong trào Ngoài ra, Tổng thống còn định kỳ mời 2 lãnh đạo phong trào
Trang 13ở cấp làng xã tham dự cuộc họp của Hội đồng Chính phủ để trực tiếp lắng
nghe ý kiến từ các đại diện này Nhằm tăng thu nhập cho nông dân, Chính
phủ Hàn Quốc áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy móc nông
nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến nông sản Ngân hàng Nông nghiệp cho doanh
nghiệp vay vốn đầu tư về nông thôn với lãi suất giảm 2% so với đầu tư vào
ngành nghề khác Năm 2005, Nhà nước ban hành đạo luật quy định mọi hoạt
động của các bộ, ngành, chính quyền phải hướng về nông dân Nhờ hiệu quả
của phong trào Saemaul Undong mà Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp
nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia giàu có, hiện đại bậc nhất châu Á
b Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc
Tháng 3/2006 Trung ương Đảng cộng sản và Quốc vụ viện (Chính phủ)
Trung Quốc công bố Bản “tài liệu số 1” Trung Quốc quyết tâm giải quyết vấn
đề nông thôn; chủ trương xây dựng “Nông thôn mới xã hội chủ nghĩa” là
nhiệm vụ chính của kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 Tài liệu này đề cập những
chiến lược cơ bản trong đó chú trọng đến “Điều chỉnh mối quan hệ trong phân
phối thu nhập, quy phạm, trật tự phân phối: thu nhập, tăng thu nhập cho tầng
lớp người có mức sống trung bình và thấp Kiên trì “Cho nhiều, lấy ít, nuôi
sống” đặc biệt là áp dụng nhiều biện pháp trong việc “cho nhiều” đối với
nông dân; đồng thời đưa ra các giải pháp nhiều mặt về xây dựng nông thôn,
vấn đề xã hội và dân chủ, khác với tài liệu các năm trước nói đến các vấn đề
riêng biệt như sản xuất lương thực, thu nhập nông dân và khả năng sản xuất
nông nghiệp Việc phát triển kinh tế và xã hội của Trung Quốc đã vào một
thời kỳ mới
Có 5 lý do để đặt vấn đề xây dựng nông thôn xã hội chủ nghĩa mới:
Một là: Nông nghiệp chưa đạt mức có thể làm cơ sở cho việc phát triển
kinh tế xã hội và nâng cao sinh kế của nhân dân
Hai là: Sản lượng lương thực đạt 484 triệu tấn năm 2005, chưa đủ thoả
mãn yêu cầu, so với năm cao nhất thấp hơn 30 triệu tấn
Ba là: Thiếu đất trồng trọt và nước là cản trở cho việc phát triển
nông nghiệp
Bốn là: Cần đầu tư nhiều hơn nữa vào nông nghiệp để tăng việc áp
dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất
Năm là: Khoảng cách giữa đô thị và nông thôn đang tăng thêm
Thu nhập thuần đầu người của nông thôn Trung Quốc năm 2005 là 3.255 nguyên (402 USD), trong lúc của dân đô thị là 10.493 nguyên, cao hơn 322%, nếu lấy sự khác nhau về cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội như giáo dục, y tế, văn hóa thì còn cao hơn nhiều Một nông thôn xã hội chủ nghĩa mới cần cho sự tăng nhu cầu trong nước Thu nhập và sức mua thấp của nông dân làm cho nhu cầu của nông thôn không mở rộng, năm 2005 chỉ chiếm 32,9% của giá trị bán lẻ trong nước Xây dựng nông thôn xã hội chủ nghĩa mới sẽ tạo ra một xã hội hài hòa, công bằng và có lợi cho toàn dân
Năm mục tiêu của nông thôn xã hội chủ nghĩa là: năng suất nông thôn,
Cơ sở hạ tầng, phát triển xã hội, dân chủ và mức sống Đây không phải
là xây dựng làng xã mới Phải chú ý đến hiệu quả và hệ quả trước mắt hơn là vào bề ngoài Phải sử dụng sự thương lượng dân chủ hơn là dùng chỉ thị Nông thôn phải phát triển tùy theo khả năng và đặc điểm bản thân, Nhà nước chỉ hỗ trợ bằng dự án
Tài liệu này đưa ra 7 nhiệm vụ chính để tăng lợi nhuận cho nông dân, giảm gánh nặng cho họ và cụ thể hóa nhiệm vụ, chiến lược đề ra thành 32 biện pháp có lợi cho nông dân trong đó có phát triển nông nghiệp hiện đại, tăng thu nhập của nông dân và cải tiến cơ sở hạ tầng nông thôn Sau đây là tóm tắt nội dung các biện pháp:
Nhà nước đầu tư nhiều hơn vào nông nghiệp: Ngân sách cho phát triển nông thôn tăng lên Xây dựng một cơ chế để công nghiệp và đô thị thúc đẩy phát triển nông thôn Sự phân phối thu nhập quốc dân sẽ được điều chỉnh để
Trang 14cho việc tiêu thụ thuế, đầu tư ngân sách, tài sản cố định và tín dụng sẽ tăng
cho nông nghiệp và nông thôn Hỗ trợ từ vốn nhà nước sẽ lớn và tăng liên tục
Phần lớn trái phiếu, vốn ngân sách sẽ đi về phát triển nông thôn Đặc biệt đầu
tư để cải tiến sản xuất và điều kiện sống sẽ trở thành một luồng ổn định để
tăng vốn cho xây dựng
Cơ sở hạ tầng: Thuế vào việc sử dụng đất canh tác sẽ tăng lên và nhiều
thứ thuế mới sẽ được áp dụng trong phát triển nông thôn Sẽ có các quy định
để đảm bảo, điều tiết thu nhập thuế đất cho việc phát triển đất nông nghiệp
Phí thu từ sử dụng đất sẽ được dùng chủ yếu vào các dự án phát triển đất nông
nghiệp nhỏ và bảo vệ nước Chính phủ sẽ ưu tiên xây dựng các cơ sở hạ tầng
cần cấp thiết cho đời sống nông dân Chương trình nước sạch sẽ được thực
hiện nhanh hơn, trước hết ở các vùng nước bị ô nhiễm Năng lượng sạch sẽ
được áp dụng rộng rãi
c Kinh nghiệm xây dựng và phát triển nông thôn ở Nhật Bản
* Nhật Bản và phong trào "Mỗi làng, một sản phẩm"
Từ năm 1979, Tỉnh trưởng Oita-Tiến sĩ Morihiko Hiramatsu đã khởi
xướng và phát triển phong trào "Mỗi làng, một sản phẩm" (One Village, one
Product-OVOP) với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một
cách tương xứng với sự phát triển chung của cả Nhật Bản Phong trào "mỗi
làng một sản phẩm" dựa trên 3 nguyên tắc chính là: địa phương hóa rồi hướng
tới toàn cầu; tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo; phát triển nguồn nhân lực Trong
đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ
thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm được xác định là thế mạnh Sau 20
năm áp dụng OVOP, Nhật Bản đã có 329 sản phẩm đặc sản địa phương có giá
trị thương mại cao như như nấm hương Shitake, rượu Shochu lúa mạch, cam
Kabosu, giúp nâng cao thu nhập của nông dân địa phương
d Kinh nghiệm xây dựng và phát triển nông thôn ở Thái Lan
Tại Thái Lan, thông qua mô hình OVOP, Chính phủ đã xây dựng dự án cấp quốc gia "mỗi xã, một sản phẩm" (One Tambon one Product-OTOP) nhằm tạo ra sản phẩm mang tính đặc thù của địa phương có chất lượng, độc đáo, bán được trên toàn cầu Sản phẩm của OTOP được phân loại theo 4 tiêu chí: có thể xuất khẩu với giá trị thương hiệu; sản xuất liên tục và nhất quán; tiêu chuẩn hóa; đặc biệt, mỗi sản phẩm đều có một câu chuyện riêng Các tiêu chí trên đã tạo thêm lợi thế cho du lịch Thái Lan vì du khách luôn muốn được tận mắt chứng kiến quá trình sản xuất sản phẩm, từ đó có thể hiểu biết thêm
về tập quán, lối sống của người dân địa phương
1.1.2.2 Tình hình phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
* Những thành tựu đạt được trong quá trình phát triển nông thôn:
Kế thừa thành tựu xây dựng nông thôn trong những giai đoạn trước, trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua, phát triển nông thôn nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có thể khái quát như sau:
Một là: Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề đã góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho dân cư nông thôn
Giá trị sản xuất công nghiệp khu vực nông thôn tăng từ 17,34% năm
2000 lên 19,3% năm 2007 Công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản tăng trưởng bình quân 14,8%/năm, chiếm 28% cơ cấu giá trị sản xuất và 14% giá trị xuất khẩu của toàn ngành công nghiệp cả nước Sản xuất tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển với 2.017 làng nghề; số hộ chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh: năm 2007 là 3,46 triệu hộ, tăng 62% so với năm 2000
Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn tiếp tục được đổi mới Kinh
tế hộ tiếp tục phát triển theo hướng mở rộng quy mô sản xuất, góp phần chủ
Trang 15yếu tạo tăng trưởng nông nghiệp, thu nhập cho nông dân Xuất hiện ngày
càng nhiều gia trại, trang trại chăn nuôi, thuỷ sản và kinh doanh tổng hợp đạt
hiệu quả kinh tế cao Tổ hợp tác phát triển nhanh, hoạt động đa dạng, phù hợp
với trình độ của nông dân ở nhiều vùng; các HTX nông nghiệp chuyển đổi và
thành lập mới theo Luật, thực hiện tốt hơn vai trò hỗ trợ kinh tế hộ Doanh
nghiệp nông thôn được phát triển với nhiều thành phần kinh tế tham gia
Hai là: Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được tăng cường,
nhất là thuỷ lợi, giao thông, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, từng bước
làm thay đổi bộ mặt nông thôn:
Thuỷ lợi tiếp tục được quan tâm đầu tư, phát triển theo hướng đa mục
tiêu Từ năm 2000 đến nay, năng lực tưới tăng thêm 575 ngàn ha, tiêu 235 ngàn
ha, đảm bảo tưới tiêu chủ động cho 83% diện tích gieo trồng lúa, một số cây
trồng khác và cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ Hệ thống đê sông,
đê biển được củng cố, nâng cấp một bước, nhiều công trình tiêu thoát lũ và trên
1.100 cụm tuyến dân cư ở ĐBSCL được xây dựng và phát huy tác dụng
Hệ thống giao thông, điện, kết cấu hạ tầng xã hội ở nông thôn có bước
phát triển nhanh về số lượng Đến nay, 96,9% số xã có đường ô tô đến khu
trung tâm; 96,8% số xã và 93,3% số hộ có điện lưới quốc gia; 100% xã có
điện thoại cố định; hầu hết các xã đều có trường học, trạm y tế, trong đó hơn
40% số trường học được kiên cố hoá, 45% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế;
70% cư dân nông thôn có nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 100% số huyện có
Trung tâm văn hoá, thể thao; 38,6% số xã, 36% số thôn có nhà văn hoá
Ba là: Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn tiếp tục được đổi mới,
phát triển đa dạng, đã huy động và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực ở
nông thôn, cư dân ở nông thôn có thêm việc làm, thu nhập được nâng cao
Kinh tế hộ tiếp tục phát triển theo hướng mở rộng quy mô sản xuất,
góp phần chủ yếu tạo tăng trưởng nông nghiệp, thu nhập cho nông dân Xuất
hiện ngày càng nhiều gia trại, trang trại chăn nuôi, thuỷ sản và kinh doanh tổng hợp đạt hiệu quả kinh tế cao Tổ hợp tác phát triển nhanh, hoạt động đa dạng, phù hợp với trình độ của nông dân ở nhiều vùng; các HTX nông nghiệp chuyển đổi và thành lập mới theo Luật, thực hiện tốt hơn vai trò hỗ trợ kinh tế hộ Doanh nghiệp nông thôn được phát triển với nhiều thành phần kinh tế tham gia Từ năm 2000 đến nay số lượng công ty TNHH trong nông nghiệp tăng 2,1 lần, công ty cổ phần 2,7 lần và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,5 lần; các doanh nghiệp nhà nước tiếp tục được sắp xếp,
Xóa đói giảm nghèo đạt thành tựu to lớn, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Nhà nước đã có nhiều chương trình, chính sách, hình thức hỗ trợ thiết thực cho các hộ nghèo, gia đình chính sách, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Đến 2007, về cơ bản đã xóa được đói, tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn còn 18%
Trang 16Năm là: Hệ thống chính trị ở nông thôn do Đảng lãnh đạo được tăng
cường; dân chủ cơ sở được phát huy; vị thế của giai cấp nông dân được nâng
cao; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững
Tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng ở cơ sở được
tăng cường và kiện toàn Đến nay, 89% số thôn, bản có tổ chức đảng, 56% cán
bộ công chức xã được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ và quản lý Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cùng với các đoàn thể quần chúng đóng góp tích cực giải
quyết nhiều vấn đề ở nông thôn Việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ngày
càng đi vào nề nếp, góp phần quan trọng tạo nên sự đồng thuận ở nông thôn
Nông dân là lực lượng lớn, chiếm 54% tổng số lao động cả nước, là chủ
thể trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, trình độ giác ngộ chính trị, kiến
thức về sản xuất hàng hoá của nông dân được nâng lên, dần thích nghi với cơ
chế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế Mặc dù tình hình chính trị trên thế giới
và khu vực có những diễn biến phức tạp, đời sống còn khó khăn, nhưng nông
dân vẫn luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, xã hội nông thôn ổn định
* Những nhược điểm, yếu kém trong quá trình phát triển nông thôn
Bên cạnh những thành tựu đạt được, phát triển nông thôn nước ta đang
bộc lộ một số mặt khuyết điểm, yếu kém, được khái quát với 4 nội dung chính
như sau:
- Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm, năng lực thích ứng, đối
phó với thiên tai thấp
Quy hoạch đô thị, xây dựng nông thôn còn rất thiếu Tới nay mới chỉ
có khoảng 20% khu dân cư nông thôn có quy hoạch xây dựng nhưng chất
lượng quy hoạch lại thấp Đa số nông thôn phát triển tự phát, cảnh quan bị
phá vỡ và nhiều nét văn hóa bị pha tạp, mai một
Thủy lợi chưa đáp ứng đủ nhu cầu của sản xuất nông nghiệp (hiện còn
0,7 triệu ha đất lúa, 50% diện tích cà phê, 80% diện tích rau màu chưa được
tưới); chất lượng nhiều công trình xuống cấp, trung bình mới phát huy khoảng 50-70% công suất thiết kế
Phần lớn chất lượng đường giao thông nông thôn còn thấp, chủ yếu mới phục vụ dân sinh, chưa đảm bảo phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hoá Chưa đáp ứng đủ nhu cầu điện phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và dân cư nông thôn về
cả chất lượng và sản lượng Chất lượng cơ sở khám chữa bệnh còn hạn chế; nhiều trường lớp, cơ sở văn hoá còn tạm bợ, ít cơ sở hoạt động thể dục thể thao Môi trường nông thôn ngày càng bị ô nhiễm, chủ yếu do chất thải sinh hoạt, chăn nuôi, nông dược Hầu hết các vùng ven đô thị, khu công nghiệp bị ảnh hưởng ngày càng trầm trọng Nhiều làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng Trong khi đó mới chỉ có 33% số hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh, 74,7% hộ có nhà tắm, 12,2% xã có công trình thoát nước; 28,4% xã có tổ chức thu gom rác thải; năng lực dự báo, cảnh báo cũng như cơ sở hạ tầng còn thấp kém Hệ thống phòng chống, giảm nhẹ thiên tai và việc phân bố dân cư hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ sản xuất, dân sinh, nhất là để đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu và nước biển dâng trong dài hạn
- Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn còn ở mức thấp, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng ngày càng lớn; tỷ lệ hộ nghèo còn cao; phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc Hiện chưa hình thành một hệ thống an sinh xã hội thống nhất và thông
suốt cho các vùng nông thôn Hệ thống hiện hành mới nhằm bù đắp cho những người có công, cứu trợ nhất thời cho những người khó khăn khi có dịch bệnh, thiên tai Đa số nông dân phải tự lo cho bản thân và gia đình khi gặp khó khăn, rủi ro Hiện tại mới có khoảng 50% dân cư nông thôn có bảo hiểm y tế, những người còn lại phải tự lo khi bị bệnh
Nếp sống văn hoá chậm hình thành (kết quả đạt được trong xây dựng nếp sống văn hoá chưa bền vững); Tệ nạn xã hội vẫn gia tăng; Mức hưởng thụ
Trang 17về văn hoá của nông dân còn thấp, còn có khoảng cách quá xa giữa các vùng
miền; Sinh hoạt văn hoá cộng đồng còn nghèo nàn, thiếu sức hấp dẫn, thu hút
Các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao trong cộng đồng có tỷ lệ người tham
gia rất ít Tình trạng nghiện ma tuý, tệ nạn mại dâm, cờ bạc có xu hướng phát
triển Một số hủ tục vẫn dai dẳng, thậm chí có nơi trỗi dậy mạnh, nhất là trong
việc cưới, việc tang, lễ hội Các mối quan hệ cộng đồng cổ truyền, nhất là
quan hệ làng xã là yếu tố quan trọng làm nền tảng xã hội ở nông thôn ở nhiều
nơi bị xói mòn nghiêm trọng Nhiều quan hệ cộng đồng làng, xã trước đây
được sử dụng rất có hiệu quả thì nay đang bị hành chính hoá làm méo mó các
mối quan hệ ở nhiều vùng nông thôn
Sự phân tầng xã hội ở nông thôn đang diễn ra nhanh, sự chênh lệch về
điều kiện và mức sống gia tăng trong phạm vi cả nước và mỗi làng, xã
Chênh lệch về thu nhập giữa nhóm 10% giàu nhất với 10% nghèo nhất năm
2006 là 13,5 lần
Tới nay vẫn chưa có chương trình chiến lược về đào tạo, nâng cao kiến
thức cho cư dân nông thôn về xây dựng nông thôn mới Sự chuyển dịch cơ
cấu lao động nông nghiệp, nông thôn còn mang tính tự phát và thiếu sự chuẩn
bị Chất lượng lao động nông nghiệp, nông thôn còn thấp so với yêu cầu CNH
HĐH, nhất là ở vùng cao, vùng xa” Việc nâng cao trình độ giác ngộ chính trị
của nông dân nhiều nơi chưa được quan tâm thường xuyên đúng mức, khá
phổ biến là quyền lợi của nông dân không được đảm bảo (phải đóng góp
nhiều, bị thua thiệt khi bị thu hồi đất, việc thực thi dân chủ chưa được đảm
bảo) Tình trạng nghèo khó, chênh lệch thu nhập và cuộc sống, những tiêu cực
trong cuộc sống, nhất là tình trạng tham nhũng, quan liêu, cửa quyền, thoái
hoá, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên làm ảnh hưởng, xói mòn
niềm tin của một bộ phận nông dân
- Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn đổi mới chậm, chưa
đủ sức phát triển mạnh sản xuất hàng hoá Kinh tế hộ đóng vai trò chủ
yếu, nhưng phổ biến là quy mô nhỏ (36% hộ có dưới 0,2 ha) Kinh tế trang trại mới chỉ chiếm hơn 1% tổng số hộ nông, lâm, ngư nghiệp của cả nước Kinh tế tập thể chậm phát triển, nhiều HTX hoạt động hình thức, chưa làm tốt vai trò cùng với kinh tế nhà nước dần trở thành nền tảng Đổi mới, sắp xếp nông lâm trường quốc doanh tiến hành chậm, việc rà soát, điều chỉnh quỹ đất đai gặp nhiều vướng mắc Lao động nông thôn thiếu việc làm Chưa
có cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút các doanh nghiệp đầu tư nhiều vào địa bàn nông thôn
- Công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn Số doanh
nghiệp công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn còn ít và tăng chậm Rất ít nhà máy trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp, phần lớn vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc thú y, bảo vệ thực vật và máy móc nông nghiệp vẫn phải nhập khẩu (năm 2007, nhập khẩu khoảng 5,5 tỷ USD) Tỷ trọng nông nghiệp trong
cơ cấu kinh tế nông thôn còn chiếm hơn 40% so với 20% của cả nước, nhiều vùng chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp
Chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ còn rất chậm, trong giai đoạn 2001-2006, chỉ giảm bình quân gần 2%/năm Năng suất lao động nông nghiệp còn thấp chỉ bằng khoảng ½ của Thái Lan, Inđônêxia và Philipin Sự chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn từ nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ còn khá chậm Trong giai đoạn 2001-2006, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm mới được 10,4% (bình quân 1 năm mới chuyển được gần 2%), trong đó chuyển sang làm công nghiệp, xây dựng 5,1%, làm dịch vụ 4,4%; lao động trong nông nghiệp đến
2006 vẫn chiếm 55,7% trong tổng số của cả nước (24,1 triệu người) Năng suất lao động nông nghiệp còn thấp, chưa bằng ½ của Thái Lan, Indonêxia
và Philipin
Trang 18Những mặt yếu kém trong phát triển nông thôn giai đoạn qua, đang là
những cản trở cho việc thực hiện các mục tiêu của CNH-HĐH, dự báo tới một
sự phát triển không bền vững trong tương lai
Vì vậy, rất cần phải có chương trình phát triển tổng thể, tận dụng được
những bài học kinh nghiệm, giải quyết đồng bộ các mặt yếu kém nhằm đẩy
mạnh xây dựng và phát triển nông thôn mới có kinh tế phát triển, đời sống vật
chất tinh thần của người dân được nâng cao, hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại,
môi trường sinh thái xanh - sạch - đẹp; bản sắc văn hoá được giữ gìn và phát
huy; hệ thống chính trị được củng cố góp phần quan trọng vào thực hiện mục
tiêu cơ bản đưa nước ta thành nước công nghiệp và hiện đại vào năm 2020
* Một số kinh nghiệm phát triển nông thôn trong nước
Những năm qua, Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách và các cuộc
vận động nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, trong đó điển
hình là một số chương trình, dự án tác động nhiều đến nông thôn như:
Chương trình Mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo và tạo việc làm;
Chương trình 135, Chương trình MTQG nước sạch và vệ sinh môi trường
nông thôn, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và một số chương trình, dự án
lớn khác như: phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa";
“Thực hiện quy chế dân chủ và cải cách thủ tục hành chính ở cơ sở”; “Phong
trào xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn”; “Đề án thí điểm xây dựng mô hình
nông thôn mới cấp thôn, bản”; Chương trình vay vốn tín dụng ưu đãi để thực
hiện kiên cố hoá kênh mương, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản và làng nghề
nông thôn; Chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư vuợt lũ ở ĐBSCL;
Chương trình khám chữa bệnh cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi;
Chương trình 134, 120, 193… Mỗi chương trình đó đã tác động đến một hoặc
một số mặt của kinh tế - xã hội nông thôn Tuy nhiên những Chương trình có
mục tiêu phát triển đồng bộ nông thôn thì rất ít, từ năm 2001 đến nay, chỉ có 2
Chương trình thí điểm của Ban Kinh tế Trung ương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng tới mục tiêu này:
- Đề án thí điểm phát triển nông thôn mới cấp xã
Kể từ năm 2001, Ban Kinh tế Trung ương cùng với Bộ Nông nghiệp và PTNT, các Bộ, ngành và địa phương đã bắt đầu triển khai xây dựng mô hình điểm “Phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hợp tác hoá, dân chủ hoá” (gọi chung là mô hình phát triển nông thôn mới cấp xã) tại các vùng sinh thái Chương trình phát triển nông thôn đã được triển khai tại
14 xã điểm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (tăng lên 18 xã trong năm 2004) và khoảng 200 xã điểm của các địa phương Chương trình phát triển nông thôn cấp xã bao gồm 5 nội dung cơ bản: phát triển kinh tế hàng hoá với một cơ chế phù hợp khai thác được lợi thế của địa phương, có thị trường tiêu thụ; phát triển cơ sở hạ tầng phù hợp với nền nông nghiệp hàng hoá đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá; xây dựng khu dân cư văn minh; tăng cường công tác văn hoá, y tế, giáo dục trong nông thôn và xây dựng đội ngũ cán bộ; tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, phát huy vai trò của cán bộ tổ chức quần chúng, thực hiện tập trung dân chủ
Chương trình phát triển nông thôn cấp xã đã triển khai được một số hoạt động như đào tạo cho cán bộ các xã điểm, triển khai qui hoạch cho 18 xã điểm của Bộ Nông nghiệp và PTNT, lồng ghép các chương trình, dự án về khuyến nông, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn cho 18 xã điểm Nhờ vậy, cơ sở hạ tầng và bộ mặt nông thôn của các xã điểm đã có sự thay đổi đáng kể, nhiều hệ thống nước sạch, xử lý nước thải đã hình thành và đi vào hoạt động có hiệu quả Sản xuất nông nghiệp và nhất là ngành nghề có hiệu quả cao hơn, sản phẩm làm ra cạnh tranh được trên địa bàn trong nước cũng như quốc tế
Trang 19Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, mô hình phát triển nông
thôn cấp xã đã bộc lộ một số tồn tại:
Kế hoạch xây dựng mô hình đòi hỏi nhu cầu vốn rất lớn lại không có
nguồn lực đảm bảo nên hầu hết các mô hình cấp xã đều không có tính khả thi
Mặt khác mô hình được xây dựng theo dạng dự án đầu tư phát triển nên cán
bộ và người dân ở "điểm" có tâm lý ỷ lại, trông chờ vào nhà nước mà chưa
huy động được nguồn lực của người dân và cộng đồng nên chưa mang tính xã
hội sâu sắc và vì vậy thiếu tính bền vững trong xây dựng nông thôn mới
Đội ngũ cán bộ xã tuy có được đào tạo, nhưng nội dung đào tạo chưa
đủ tầm, tình trạng phổ biến là chưa nắm vững yêu cầu và phương pháp triển
khai dự án
Bộ máy tổ chức chỉ đạo triển khai chương trình không được hình thành
thống nhất, đồng bộ từ cấp trung ương xuống các địa phương, không phân
định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành, các cấp chính quyền trong việc tổ
chức chỉ đạo, triển khai, theo dõi và đánh giá chương trình nên rời rạc và hiệu
quả thấp
- Đề án thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới cấp thôn, bản
Năm 2007, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã triển khai thí điểm Đề án
Xây dựng Nông thôn mới theo phương pháp tiếp cận mới “dựa vào nội lực và
do cộng đồng làm chủ” Đề án thì điểm này được triển khai ở 15 thôn tại 14
tỉnh đại diện cho các vùng kinh tế văn hoá khác nhau Nội dung thực hiện chủ
yếu gồm: Đào tạo nâng cao năng lực phát triển cộng đồng; Nâng cấp điều
kiện sống cho người dân nông thôn; Hỗ trợ người dân phát triển sản xuất hàng
hoá nông nghiệp, dịch vụ nông thôn để nâng cao thu nhập và Phát triển mỗi
làng một nghề
Qua 2 năm thực hiện, Chương trình thí điểm xây dựng mô hình nông thôn
mới của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đạt được 6 nội dung:
Đã hình thành được 15 mô hình thực tiễn về xây dựng nông thôn mới theo phương pháp tiếp cận mới từ cộng đồng và do cộng đồng làm chủ Bước đầu thay đổi được nhận thức của cán bộ cơ sở và người dân trong việc xác định nội dung xây dựng nông thôn mới, các bước công việc phải làm
và trình tự tiến hành, cách thức huy động nội lực tại chỗ cho xây dựng nông thôn mới;
Đã hình thành được tổ chức của người dân (Ban phát triển thôn bản), là đại diện của cộng đồng dân cư thôn, bản để tự chủ trong việc bàn bạc, lựa chọn, quyết định các nội dung xây dựng nông thôn mới và cuộc sống trên địa bàn của họ
Đã khơi dậy ý thức tự chủ, sáng tạo của người dân trong phát huy nội lực xây dựng nông thôn mới, không ỷ lại vào trợ giúp bên ngoài
Đã xác định rõ hơn nội dung, phương pháp, cách làm, mối quan hệ phối hợp giữa các cấp trong xây dựng mô hình nông thôn mới theo phương pháp tiếp cận từ cộng đồng thôn, bản
Tuy mô hình chưa hoàn thiện, nhưng đã thu hút sự quan tâm của nhiều địa phương tổ chức xây dựng thêm mô hình nông thôn mới ở địa phương (ngoài 15 mô hình thí điểm của Bộ)
Tuy vậy, còn một số tồn tại:
Nhận thức của các ngành, các cấp ở một số địa phương về xây dựng nông thôn mới còn chưa đầy đủ, chưa đúng với chủ trương của đề án
Do chưa có tiêu chí thôn, bản đạt chuẩn nông thôn mới nên việc xác định mục tiêu nhằm xác định kế hoạch phát triển dài hạn, ngắn hạn còn gặp nhiều khó khăn, nhất là khái niệm, nội hàm nông thôn mới còn hiểu theo nhiều cách khác nhau không chỉ với cán bộ các cấp và người dân ở các điểm
mà còn cả trong các đơn vị triển khai
Trang 20Thiếu lực lượng cán bộ xây dựng nông thôn theo phương pháp tiếp cận
mới nên khi thực hiện hầu hết các cán bộ và người dân đều rất lúng túng nảh
hưởng đến tiến độ và chất lượng
Do chưa có cơ chế đặc thù, do vậy việc triển khai xây dựng mô hình
nông thôn mới rất lúng túng nhất là cơ chế quản lý đầu tư, tài chính
* Một số vấn đề rút ra qua việc triển khai xây dựng mô hình nông
thôn mới
Xây dựng NTM thời gian qua thiếu định hướng do chưa có qui hoạch
tổng thể cấp quốc gia và địa phương, chưa có bộ tiêu chí, chuẩn mực thể hiện
các đặc trưng của NTM thời kỳ CNH-HĐH; Chưa có được hệ thống các tiêu
chuẩn kỹ thuật làm chuẩn cho xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội
nông thôn Thiếu đội ngũ cán bộ giỏi về xây dựng NTM làm nòng cốt chỉ đạo
thực hiện ở cơ sở Vì vậy mặc dù Đảng và Nhà nước đã đầu tư không nhỏ cho
khu vực này song việc xây dựng nông thôn cấp cơ sở vẫn nặng tính tự phát,
hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và các nguồn lực thấp
Do đặc điểm địa lý, đất nước ta hình thành nên các vùng sinh thái, vùng
kinh tế-văn hoá đặc thù, những vùng này có đặc điểm sinh thái, nhóm dân tộc
sinh sống khác nhau, hiện đang có văn hoá, trình độ dân trí, trình độ phát triển
kinh tế không đồng đều Vì vậy, phát triển nông thôn vừa phải có tiêu chí
chung, vừa phải xây dựng các tiêu chí đặc thù phù hợp với trình độ và đặc
điểm phát triển của các vùng cũng như theo từng giai đoạn phát triển kinh tế -
xã hội Chính sách hỗ trợ, đầu tư của nhà nước cũng phải linh hoạt để phù hợp
với đặc điểm đó, thể hiện được sự quan tâm nhiều hơn cho các vùng khó
khăn, đảm bảo sự phát triển hài hoà của đất nước
Xây dựng Nông thôn mới là công cuộc vì dân, do dân Vì vậy xây dựng
NTM phải hướng trước mắt vào giải quyết trước vào những vấn đề thiết thực,
mang lại hưởng thụ trực tiếp cho người dân nông thôn (như: cơ sở hạ tầng kinh
tế-xã hội trên địa bàn xã, thôn; xây dựng nếp sống văn hoá lành mạnh, an ninh tốt; bảo vệ và phát triển môi trường sinh sống sạch đẹp ), đồng thời cộng đồng dân cư phải được bàn bạc và quyết định, tổ chức thực hiện Nhà nước cần xây dựng và cải cách các chính sách nhằm đẩy nhanh tốc độ xây dựng NTM (trong
đó nhất là các cơ chế, chính sách liên quan thủ tục xây dựng cơ bản, quản lý vốn ngân sách), đảm bảo phát huy nội lực của người dân
Nguồn lực cần có để xây dựng NTM là rất lớn, cần xuất phát từ nội lực
là chính nhằm đảm bảo tính bền vững Tuy nhiên, trong điều kiện mức tích luỹ của người dân nông thôn còn thấp như hiện nay (nhất là tại các vùng thuộc diện đặc biệt khó khăn) thì để đẩy nhanh tốc độ xây dựng, Nhà nước phải có chính sách hỗ trợ đầu tư lớn từ ngân sách thì mới có nguồn lực tạo bước đột phá trong xây dựng nông thôn mới
* Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nông thôn mới
Mô hình nông thôn mới cấp xã được thực hiện theo phương châm dựa vào nội lực của cộng đồng địa phương Nhà nước hỗ trợ một phần trực tiếp cho các xã Đồng thời khơi dậy tinh thần và sức dân đóng góp tích cực tự giác vào xây dựng làng quê của mình
Các hoạt động cụ thể của từng mô hình thí điểm do chính người dân ở
đó bàn bạc dân chủ, công khai và quyết định trên cơ sở các quy chuẩn của nhà nước có sự tư vấn của cán bộ chuyên môn; Các cấp uỷ Đảng và Chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần cho người dân thực hiện vai trò làm chủ thông qua cộng đồng
Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn
xã hội Trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường, vươn lên của nông dân; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoà thuận, dân
Trang 21chủ, có đời sống văn hoá phong phú làm nền tảng tinh thần của giai cấp nông
dân, tạo động lực cho quá trình xây dựng nông thôn mới
Thực hiện rà soát các chương trình, dự án có liên quan đến xây dựng
nông thôn trên địa bàn Đối chiếu với tiêu chí nông thôn mới, nếu tiêu chí nào
đang có chương trình, dự án triển khai nhưng mức đạt còn thấp do nguồn lực
hạn chế thì bổ sung để đẩy nhanh tiến độ; tiêu chí nào chưa có chương trình,
dự án thì lập dự án mới
Trong quá trình thực hiện, nếu có những chính cách, cơ chế không phù
hợp, cản trở chủ trương phát huy nội lực và quyền tự quyết của cộng đồng thì
được áp dụng cơ chế đặc thù
Mỗi xã điểm xây dựng một đề án phát triển nông thôn mới tổng thể,
làm cơ sở cho thực hiện
Để đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới từ này đến năm 2015 và
tiến tới năm 2020 đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở có
đủ chình độ và năng lực để thục hiện tốt chương trình mục tiêu quốc gia về
xây dựng nông thôn mới
1.2 Phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Một là, cơ sở khoa học về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện
nay là gì?
Hai là, thực trạng nông thôn huyện Chợ Mới hiện nay so với Bộ tiêu
chí về nông thôn mới ở mức nào?
Ba là, giải pháp nào để xây dựng và phát triển mô hình nông thôn mới
tại huyện Chợ Mới?
1.2.2 Các phương pháp nghiên cứu
1.2.2.1 Chọn địa điểm nghiên cứu
Huyện chợ mới có 1 thị trấn và 15 xã nông thôn, các xã có các điều
kiện khác nhau, vì vậy để đánh giá đúng đắn nông thôn mới số lượng xã
không nhiều nên tôi điều tra tất cả các xã
Tuy vậy khi phân tích để đưa ra giải pháp cho từng vùng đề tài đã chọn
3 xã đại diện cho 3 vùng để phân tích
1.2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
* Thu thập các thông tin từ tài liệu đã công bố
Những tư liệu thứ cấp được thu thập từ tài liệu đã công bố gồm những thông tin được tổng kết từ những tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến những vấn đề về phất triển nông nghiệp, nông thôn được thu thập Chủ yếu từ Cục thồng kê tỉnh Bắc Kạn, chi cục thống kê huyện Chợ Mới, trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên, thư viện Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, các trang điện tử: Chính phủ, Nông thôn mới, Tài liệu Việt Nam
* Thu thập thông qua điều tra
Sử dụng phiếu điều tra: 2 loại phiếu điều tra Huyện và điều tra xãThu thập thông tin từ phỏng vấn với những người am hiểu trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, thông qua phỏng vấn về đặc điểm và thực trạng nông thôn, những khó khăn, thuận lợi trong phát triển nông thôn mới Các chuyên gia được phỏng vấn chủ yếu là cán bộ của phòng Nông nghiệp PTNT Huyện Chợ Mới, phòng Tài nguyên môi trường huyện Chợ Mới, cán bộ lãnh đạo huyện, cán bộ lãnh đạo xã, hội nông dân, thôn và một số nông dân có kinh nghiệm, uy tín và hiểu biết về phát triển nông nghiệp, nông thôn của huyện Chợ Mới
1.2.2.3 Phương pháp phân tích đánh giá
* Phương pháp phân thống kê mô tả và so sánh
+ Phương pháp phân tích so sánh
Sử dụng phương pháp dãy số thời gian và so sánh các chỉ tiêu tính toán giữa các nghành, giữa các vùng, giữa các nhóm lao động, từ đó có những giải pháp cụ thể
+ Phương pháp thống kê mô tả Dựa vào các số liệu thống kê được, mô tả được biến động và xu hướng phát triển của một hiện tượng kinh tế xã hội, từ đó rút ra những kết luận cần thiết phục vụ cho công tác nghiên cứu và ứng dụng
Trang 221.2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
- Chỉ tiêu về mức thu nhập
Thu nhập bình quân đầu người/năm là tổng các nguồn thu nhập của
hộ/năm chia đều cho số thành viên trong gia đình Mức thu nhập bao gồm:
Mức thu nhập bình quân đầu người/năm của xã
Mức thu nhập (khu vực nông thôn) bình quân đầu người/năm của huyện
Thu nhập bình quân đầu người/năm so với bình quân chung của huyện
được tính bằng cách lấy mức thu nhập bình quân đầu người/năm của xã chia
cho mức thu nhập bình quân đầu người/năm khu vực nông thôn của huyện
- Chỉ tiêu về tỷ lệ (%)
Chỉ tiêu tỷ lệ được sử dụng rất nhiều trong các tiêu chí: giao thông,
thủy lợi, điện, giáo dục, y tế, văn hóa, nhà ở dân cư, hộ nghèo…
Một số chỉ tiêu cụ thể:
Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế
Tỷ lệ người dân tham
gia bảo hiểm y tế
Số người có bảo hiểm y tế
Tổng số lao động trong độ tuổi
Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học
= ×100 Tổng số học sinh của xã đã tốt nghiệp THCS
Tỷ lệ lao động qua đào tạo
Tỷ lệ lao động qua đào tạo
Lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học
= ×100% Tổng số lao động trong độ tuổi
- Chỉ tiêu về cơ cấu (%) Chỉ tiêu về cơ cấu được sử dụng để phân tích cơ cấu kinh tế xã hội, lao động, giá trị sản xuất giữa các lĩnh vực…
Trang 23Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Ở HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH BẮC KẠN
2.1 Đặc điểm của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lí
Chợ Mới là huyện miền núi nằm ở phía Nam tỉnh Bắc Kạn gồm 16 đơn
vị hành chính cấp xã, thị trấn, với tổng diện tích tự nhiên là 60.651,00 ha (số
liệu kiểm kê đất đai năm 2010) Nằm trên trục quốc lộ 3 nối Hà Nội - Thái
Nguyên - Bắc Kạn - Cao Bằng, Chợ Mới là huyện có điều kiện về vị trí địa lý
thuận lợi bậc nhất trong các huyện của tỉnh Bắc Kạn Địa giới hành chính của
huyện được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp thị xã Bắc Kạn;
- Phía Tây giáp huyện Chợ Đồn, và tỉnh Thái Nguyên;
- Phía Nam giáp huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên;
- Phía Đông giáp huyện Na Rì và tỉnh Lạng Sơn
Với vị trí địa lý thuận lợi, huyện Chợ Mới có điều kiện để thúc đẩy giao
thương hàng hóa, tạo điều kiện thuận lợi để sớm thực hiện thành công mục
tiêu nông thôn mới do Chính phủ đề ra, qua đó đây sẽ là bài học kinh nghiệm
thực tế hữu ích cho các địa phương khác trong tỉnh áp dụng
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình, đất đai
* Địa hình
Huyện Chợ Mới nằm trong khu vực thấp của tỉnh Bắc Kạn, độ cao
trung bình dưới 300m, có địa hình đồi xen kẽ núi thấp, thung lũng, sông suối
Do vậy địa hình bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 15 - 25o, thuận lợi cho canh
tác nông, lâm nghiệp kết hợp, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày và
Đất nâu vàng phát triển trên đá sa thạch, đá lẫn chiếm tỷ lệ cao, mỏng
có thể phục vụ cho phát triển lâm nghiệp;
Đất bồi tụ (phù sa ngòi suối) độ mùn cao, giàu dinh dưỡng, thường phân bố dọc theo sông, ngòi, khe suối thích hợp cho sản xuất nông nghiệp Theo số liệu thống kê, kiểm kê đất năm 2010 (tính đến ngày 01/01/2010) của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện hiện nay đất đai của huyện đã được khai thác sử dụng phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện như sau:
Bảng 01: Tình hình sử dụng đất đai của huyện năm 2010
II Đất lâm nghiệp 39.042,2 38.029,8 46.672,0 46.672,0 50.137,7
Trang 242.1.1.3 Đặc điểm tài nguyên nước
Được phân thành 2 loại chính sau:
Nước mặt: Qua phân tích chế độ mưa, lưu lượng các sông suối, hồ
nước cho thấy nguồn nước mặt ở Chợ Mới khá phong phú, có thể đáp ứng
nhu cầu sản xuất và sử dụng trên địa bàn
Nước ngầm: Không có số liệu điều tra, khảo sát cụ thể về trữ lượng
nước ngầm trên địa bàn huyện Chợ Mới Tuy nhiên qua khảo sát một số giếng
đào tại các khu vực định canh, định cư lượng nước ngầm trên địa bàn huyện
khá lớn đủ để phục vụ sinh hoạt và sản xuất của nhân dân Đặc biệt là ở chân
các hợp thuỷ gần suối mực nước ngầm có thể thấy ở độ sâu từ 7 - 15 m
2.1.1.4 Đặc điểm tài nguyên rừng
Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2010, huyện Chợ Mới có 50.137,73
ha đất lâm nghiệp, chiếm 82,67% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, độ che
phủ đạt 76,56% Trong đó: Rừng sản xuất có 38.968,04 ha, chiếm 64,25%;
rừng phòng hộ 11.169,69 ha, chiếm 18,42%
2.1.1.5 Đặc điểm tài nguyên rừng
Chợ Mới là địa bàn có nhiều loại khoáng sản trong đó phải kể đến một
số khoáng sản có tiềm năng và số lượng lớn như vàng, quặng photphorit, khai
thác vật liệu xây dựng Ngoài ra huyện còn có một số loại khoáng sản khác
nhưng trữ lượng về công nghiệp không nhiều
2.1.1.6 Đặc điểm điều kiện khí hậu thủy văn
Về khí hậu: Khí hậu huyện Chợ mới mang đặc trưng của khí hậu
nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình trong năm 22,2o
C Các tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 6, 7 và tháng 8 (27 - 27,7o
C), các tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 1 (12oC) Tổng tích nhiệt
bình quân năm là 7.850oC
Về thủy văn: Sông Cầu con sông duy nhất chảy qua địa phận huyện
Chợ Mới, đồng thời cũng là con sông lớn nhất tỉnh, bắt nguồn từ núi Tam
Tao, chảy qua Bạch Thông, Chợ Mới, chảy sang Thái Nguyên và hợp lưu với sông Thái Bình, Phả Lại Chiều dài trên địa phận tỉnh Bắc Kạn khoảng
100 km, với lưu vực trên 510 km2
cùng với sông Chu và hàng trăm con suối lớn nhỏ
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Chợ Mới
2.1.2.1 Đặc điểm dân số lao động
- Về dân số: Theo niên gián thống kê năm 2010 thì dân số huyện Chợ mới có 37.814 người, gồm các dân tộc như: Kinh, Tày, Dao, Dân số ở thành thị là 2.432 người chiếm 6,43 %; dân số ở nông thôn là 35.382 người chiếm 93,56% tổng dân số cả huyện
- Về lao động: Năm 2010 lao động trong độ tuổi của huyện chợ mới là 24.262 người chiếm 64,16% tổng dân số trong đó lao động phân chia theo khu vực thì lao động ở thàng thị là 3.438 người chiếm 14,17% còn lại là ở khu vực nông thôn với 20.824 người chiếm 85,82% Trong đó: Lao động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản là 18.589 người chiếm 76,61%, ngành công nghiệp xây dựng
là 1.621 người chiếm 6,68%, ngành thương mại dịch vụ là 2.723 người chiếm 11,22%, còn lại các ngành nghề khác là 1.329 người chiếm 5,47%
Bảng 02: Tình hình dân số huyện Chợ Mới
Tôc độ phát triển BQ (%)
Trang 25Biểu đồ 01: Tình hình dân số huyện Chợ Mới
Theo bảng 02 thì tốc độ phát triển bình quân dân số hàng năm của
huyện chợ mới là 101,7% trong đó tốc độ phát triển giới tính nam là 101,8%
nữ là 101,6%, phân theo khu vực thành thị và nông thôn thì tỉ lệ khu vực này
phát triển không đồng đều ở nông thôn là 101,7% còn ở thành thị là 101%
như vậy tỉ lệ lao động trong nông thôn là rất lớn vì vậy nguồn nhân lực trong
sản xuất và phát triển nông nghiệp là rất lớn
Bảng 03: Tình hình lao động huyện Chợ Mới
Tổng dân số Nam Nữ Thành thị Nông thôn
Theo như số liệu bảng 03 thấy rằng tình hình lao động trên địa bàn huyện chợ mới phát triển rất cao 105,5% tốc độ phát triển lao động ở đô thị trên địa bàn có thể thấy rằng rất cao với 121% trong ba năm trong khi đó với
tỉ lệ lao động chiếm phần lớn ở thủy sản vẫn chiếm cao là lực lượng dồi dào cho nông nghiệp nông thôn thuận lợi cho việc phục vụ và xây dựng mô hình nông thôn mới trên địa bàn Nhưng cũng qua đồ thị ta thấy rằng lực lượng lao động ở thành thị và ngành công nghiệp xây dựng cũng đang có xu hướng tăng cao cho thấy lực lượng lao động ngày càng tiến bộ trong xã hội
2.1.2.2 Đặc điểm cơ sở hạ tầng của huyện Chợ Mới
a Đặc điểm hạ tầng giao thông
Đặc điểm hạ tầng giao thông trên địa bàn huyện thấy rằng huyện rất thuận lợi trong phát triển các ngành dịch vụ, thương mại vì trên địa bàn có 30
km đường quốc lộ chạy qua và có 28km đường liên tỉnh, hơn 98km đường liên huyện thuận lợi cho giao dịch và buôn bán giao thương với các tỉnh, huyện lân cận tỉ lệ đường liên xã 33,35km và thôn rất cao 450km thuận lợi cho giao thương hàng hóa và vận chuyển sản phẩm thu hoạch trên địa bàn
Bảng 04: Thống kê đường giao thông huyện Chợ Mới STT Chỉ tiêu Chiều dài(km) Chiều rộng (m) Diện tích (ha)
Nguồn: Chi cục thống kê huyện Chợ Mới (năm 2010)
Trang 26Tổng số học sinh của tất cả là 13.306 trong đó học sinh đào tạo quốc
lập là 12.684 còn lại là học sinh bổ túc là 622 ( không tính mầm non)
Bảng 05: Tình hình cơ sở Giáo dục ở huyện Chợ Mới
Tổng số (3 năm)
Quốc lập (3năm)
Bán công (3 năm)
Bổ túc (3 năm)
6 Trung tâm giáo dục
Bảng 06: Hệ thống cơ sở y tế ở huyện Chợ Mới
Nguồn: Chi cục thống kê huyện Chợ Mới (năm 2010)
Theo bảng số 06 cơ sở y tế của huyện là 01 bệnh viện, 1 phòng khám
đa khoa khu vực, 16 trạm y tế được chi đều cho các xã và thị trấn trong đó số giường bệnh tại bệnh viện là 50 giường danh cho bệnh nhân ở phòng khám đa khoa khu vực là 19 giường bệnh còn số giường bệnh của các trạm xá tăng lên theo hàng năm, năm 2008 là 16, năm 2009 là 32, năm 2010 là 38
d Đặc điểm hệ thống hạ tầng thông tin - truyền thông
Hiện nay trên địa bàn huyện có 1 bưu điện huyện, và 16 điểm bưu điện văn hoá xã Mạng lưới điện thoại phát triển tương đối nhanh, phủ sóng 16/16
xã tất cả các mạng viền thông Toàn huyện cho đến nay còn 3 xã chưa có trạm truyền thanh
2.1.2.3 Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội
a Đặc điểm phát triển kinh tế của huyện
Tổng thu nhập kinh tế xã hội của các ngành trong huyện tính năm 2010
là 477.675 trong đó ngành nông lâm thủy sản là 254.072 chiếm 53,18%, công nghiệp xây dựng là 34.538 chiếm 7,23%, Thương mại dịch vụ thu được 179.031 chiếm 37,47%, còn lại thu của các ngành khác là 10.034 chiếm 2,10% Như vậy thu nhập của nông lâm thủy sản vẫn mang tầm quan trọng trong thu nhập của người dân trong toàn huyện
Bảng 07: Thu nhập cơ cấu tự nhiên của huyện Chợ Mới qua 3 năm
I Giá trị tổng thu nhập
1 Nông - Lâm nghiệp - Thủy sản - 197.793 208.112 254.072 113,3%
2 Công nghiệp - Xây dựng - 17.564 26.379 34.538 140,2%
3 Thương mại - Dịch vụ - 102.286 154.416 179.031 132,3%
II Cơ cấu thu nhập
1 Nông - Lâm nghiệp - Thủy sản - 38% 36% 32,7%
Nguồn: Chi cục thống kê huyện Chợ Mới (năm 2010)
Trang 27Biểu đồ 02: Tình hình thu nhập của các ngành của huyện Chợ Mới
Giá trị thu nhập và cơ cấu thu nhập của các ngành chính của huyện qua
các năm tính 3 năm từ năm 2008 - 2010 giá trị thu nhập của các ngành đều
tăng ro rệt
Qua bảng 07 cho thấy đối với ngành Nông nghiệp - Lâm nghiệp -
Thủy sản (N - L - TS) tổng thu nhập năm 2008 là 197.793 triệu đồng đến
năm 2010 đã tăng lên 254.072 triệu đồng nhưng đáng chú ý là cơ cấu của
ngành này lại giảm, khác với ngành (N - L - TS) ngành công nghiệp - xây
dựng (CN-XD) và các ngành khác tổng thu nhập năm 2008 cho đến năm
2010 tổng thu nhập đều tăng và cơ cấu cũng tăng theo từng ngành, tổng thu
nhập của khối ngành này là rất cao tỉ lệ thu nhập là 120,9% đây là xu
hướng tốt cho phát triển bền vững
b Tình hình phát triển xã hội của huyện
Tổng thu nhập bình quân đầu người được tăng lên qua các năm theo
số liệu năm 2010 là 9,18 triệu đồng trong đó đô thị thu nhập là 12,0 triệu
đồng, nông thôn là 8,50 triệu đồng Thu nhập bình quân lao động là 10,50
Nguồn: Chi cục thống kê huyện Chợ Mới (năm 2010)
Biểu đồ 03: Thu nhập bình quân đầu người và hộ nghèo của huyện
Qua bảng 08 thấy rằng tình hình phát triển xã hội qua 3 năm của huyện chợ mới từ năm 2008 - 2010, năm 2008 thu nhập bình quân đầu người là 6,16 triệu đồng đến năm 2010 là 9,18 triệu đồng, tốc độ phát triển bình quân của 3 năm là 122,1%, trong đó tốc độ phát triển bình quân của nông thôn là 127,2% còn ở thành thị là 123,6%, qua đồ thị thể hiện tổng thu nhập bình quân về lao động có tỉ lệ phát triển khá cao 127,1%
Tỉ lệ hộ nghèo cũng được thể hiện qua bảng 08 năm 2008, 2009 tỉ lệ hộ nghèo không giảm cũng không tăng đều là 0,06 %, năm 2010 tỉ lệ hộ nghèo
Thành thị Nông thôn Thu nhập bq lao
động
Tỉ lệ hộ nghèo
Trang 28của huyện thể hiện chiều hướng tăng lên 0,07% lý do là năm 2010 Chính phủ
có phát hành quyết định về chuẩn nghèo mới cho nên đã tăng lên 0.01%
2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn trong xây dựng nông thôn mới của
huyện Chợ Mới
* Thuận lợi
Về cơ bản, huyện Chợ mới là một huyện có nhiều điều kiện thuận lợi
để thực hiện xây dựng nông thôn mới Cụ thể:
Trước hết, Chợ Mới là một huyện có truyền thống về phát triển nông
lâm ngư nghiệp Do đó, dự trên cơ sở những hiểu biết và kinh nghiệm cũng
như tập quán về sản xuất nông nghiệp, người dân có thể dễ dàng áp dụng các
kỹ thuật mới vào quá trình trồng trọt, chăn nuôi cũng như quá trình sản xuất
trao đổi hàng hóa, nông sản
Thứ hai, huyện Chợ Mới có diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn
55.479,03 ha có nhiều điều kiện để thực hiện quá dồn điền đổi thửa, tái quy
hoạch, đưa khoa học công nghệ vào sản xuất Bên cạnh đó, với hệ thống sông
ngòi đang dạng, rất thuận tiện cho việc tưới tiêu, cung cấp nước cho trồng
trọt, chăn nuôi nên huyện có thể đầu tư hơn nữa cho phát triển nông nghiệp,
đổi mới nông thôn Khi nói đến sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn
mới thì yếu tố vô cùng quan trọng có tính chất quyết định đó chính là hệ
thống đất đai, sông ngòi nên có thể nói Chợ Mới đang hội tụ đầy đủ những
điều kiện tiên quyết để xây dựng nông thông mới thành công
Thứ ba, với vị trí cửa ngõ cũng với hệ thống giao thông thuận lợi,
huyện chợ mới rất có điều kiện trong việc vận chuyển, giao thương với các
tỉnh khác cũng như trao đổi hàng hóa trong nội tỉnh Muốn sản xuất phát triển,
thì đi đôi với nó là hệ thống giao thông vận tải phải phát triên Mà đây là một
trong những thế mạnh của huyện Vì vậy, Chợ Mới hoàn toàn có thể tin chắc
vào công cuộc xây dựng nông thôn mới thành công
Cuối cùng, không thể thiếu chính là điều kiện đời sống của người dân cũng đã được cải thiện rõ rệt hiện tại thu nhập bình quân đầu người là 8.500.000 đ/ người Chính vì thế, người dân cũng có điều kiện hơn trong việc tiếp cận với các công nghệ mới, tiếp cận và có tư duy sẵn sàng xây dựng nông thôn mới hiện đại hơn, phát triển hơn
Từ các yếu tố nêu trên, có thể thấy huyện Chợ Mới có rất nhiều điều kiện thuận lợi kể cả về điều kiện tự nhiên cũng như con người để thực hiện xây dựng nông thôn mới thành công
* Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi kể trên, thì không thể không kể đến một số khó khăn mà huyện đang gặp phải để xây dựng nông thôn mới Đó là: Thứ nhất, tuy với điều kiện thuận lợi là có diện tích đất nông nghiệp lớn, rộng nhưng chưa được quy hoạch triệt để để phục cho quá trình phát triển nông nghiệp Do đó, người nông dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình trồng trọt, chăn nuôi, tăng gia sản xuất
Thứ hai, tuy thuận lợi là có nhiều đường giao thông nhưng chất lượng
hệ thống giao thông cụ thể là các tuyến đường liên xã, liên thông còn nhỏ, gồ ghề, chưa được bê tông hóa Đặc biệt là mùa mưa lũ, nhiều đoạn đường bị sói mòi, chất lượng mặt đường không được đảm bảo nên đi lại, vận chuyển hàng hóa còn gặp nhiều khó khăn Nó ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình sản xuất, trao đổi Đây là một trong những yếu tố cần sớm được khắc phục
Thứ ba, hệ thống thủy lợi chưa được xây dựng đồng bộ, chất lượng hệ thống thụy lợi cũng không được đảm bảo thậm chí ở một số khu vực vẫn còn rất thô sơ Điều đó dẫn đến việc tưới tiêu đảm bảo nguồn nước cho đồng ruộng chưa được đảm bảo làm ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệp Thứ tư, lao động trong nông nghiệp chủ yếu là lao động thủ công Mọi người thực hiện trồng trọt, chăn nuôi chủ yếu dựa vào kinh nghiệm Tác phong chậm chạm chịu nhiều ảnh hưởng từ tác phong nông nghiệp cũ, chậm đổi mới
Trang 29Số lượng lao động tuy đông nhưng chất lượng lao động chưa cao, số lượng lao
động chưa qua đào tạo chiếm đa số Số người được qua đào tạo còn ít và có rất
ít người chịu đổi mới, tìm tòi qua sách báo, phương tiện thông tin đại chúng và
tập huấn để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm
Thứ năm, một khó khăn nữa của huyện đó là tỉ lệ hộ nghèo ở một số xã
nói riêng và ở huyện nói chung còn cao Điều này gây khó khăn rất nhiều khi
triển khai xây dựng nông thôn mới
Cuối cùng, do địa hình đồi núi phức tạp nên huyện gặp phải không ít
khó khăn trong quá trình sản xuất cũng như xây dựng cơ sở vật chất và thực
hiện quy hoạch hóa nông thôn
Tóm lại, bên cạnh những thuận lợi mà huyện cần phát huy thì huyện
Chợ mới cũng đang gặp phải không ít khó khăn cần phái được giải quyết ngay
để có thể thực hiện thành công xây dựng nông thôn mới
2.2 Thực trạng nông thôn của huyện Chợ Mới
2.2.1 Kết quả phát triển nông thôn của huyện giai đoạn 2008 - 2010
Kết quả phát triển kinh tế trong nông thôn của huyện năm 2010 là
284.605 trong đó ngành nông nghiệp là 254.072 chiếm 89,27%, thu công
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp là 21.781 chiếm 7,75%, thu dịch vụ là 8.752
Nguồn: Chi cục thống kê huyện Chợ Mới (năm 2010)
Biểu đồ 04: Kết quả phát triển kinh tế nông thôn của huyện trong 3 năm
Qua bảng trên ta thấy rằng ở khu vực nông thôn tổng thu nhập về nông nghiệp là rất lớn tốc độ phát triển bình quân là 113,3%, còn thu nhập của công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cũng phất triển rất nhanh và cao là 149,1%, thu dịch vụ là 126,9% thể hiện ở nông thôn huyện chợ mới thu nhập của người dân là rất đều qua các năm
Bảng 10: Kết quả hoạt động sản xuất nông nghiệp của huyện
5 Thu dịch vụ nông nghiệp - 1.980 2.105 2.249 106,6
Nguồn: Chi cục thống kê huyện Chợ Mới (năm 2010)
Trang 30Biểu đồ 05: Kết quả hoạt động sản xuất nông nghiệp của nông thôn huyện
Bảng 10 cho biết kết quả hoạt động sản xuất nông nghiệp của địa
phuơng được thể hiện qua các số liệu Chúng ta thấy rằng thu về trồng trọt và
lâm nghiệp tốc độ phát triển mạnh hơn so với các ngành khác ngành trồng trọt
năm 2008 tổng thu là 120.545 triệu đồng năm 2010 là 186.012 triệu đồng,
ngành lâm nghiệp năm 2008 là 19.700 triệu đồng năm 2010 là 27.361 triệu
đồng còn các ngành khác như chăn nuôi, thủy sản, dịch vụ nông nghiệp thu
Biểu đồ 06: Tình hình phát triển xã hội nông thôn của địa phương
Tình hình phát triển xã hội nông thôn của địa phương được thể hiện qua bảng 11 Thu nhập bình quân đầu người tại nông thôn còn rất thấp tốc độ phát triển không cao trong 3 năm tốc độ phát triển là 127,2%, tổng thu nhập bình quân lao động tại khu vực này đạt 129,0%, tỉ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn huyện năm 2008 đến năm 2009 có giảm đi một ít là năm 2008 có 2.300 hộ năm 2009 giảm xuống còn 2.184 tỉ lệ giảm không đáng kể nhưng đến năm
2010 thì tăng đột biến lên 2.811 hộ Điều này có thể giải thích do sự dịch chuyển của chuẩn nghèo, lạm phát, khủng hoảng kinh tế khiến hàng hóa tăng giá cao, trong khi thu nhập của người dân không được cải thiện, dẫn đến tình trạng khá nhiều hộ nông dân tái nghèo
2.2.2 Thực trạng nông thôn huyện Chợ Mới so với bộ tiêu chí Quốc gia nông thôn mới
2.2.2.1 Thực trạng nông thôn theo tiêu chí quy hoạch và phát triển quy hoạch
Tiêu chuẩn đầu tiên xây dựng nông thôn mới đó là quy hoạch và phát triển quy hoạch nông thôn mới Quy hoạch nông thôn mới bao gồm các nội dung: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu, quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế xã hội và quy hoạch phát triển các khu dân cư Chợ Mới là một
Tổng thu nhập bq/lđ Tỷ lệ hộ nghèo
Trang 31huyện miền núi của tỉnh Bắc Kạn - một trong những tỉnh nghèo nhất cả nước
Trong những năm qua, công tác quy hoạch cả tỉnh nói chung và của huyện nói
riêng chưa được chú tâm thực hiện, nếu có thì kết quả chưa đạt như yêu cầu
So với bộ tiêu chuẩn nông thôn mới của Chính phủ ban hành, công tác quy
hoạch của huyện hầu như chưa có tiêu chí nào đạt tiêu chuẩn Cụ thể về kết
quả công tác quy hoạch được thể hiện thông qua bảng tổng hợp dưới đây
Bảng 12: Tiêu chí quy hoạch và phát triển quy hoạch
Tiêu
Tiêu chuẩn Nông thôn mới
Xã đạt tiêu chuẩn Xã không đạt tiêu chuẩn
SL
xã (xã)
Tỷ
lệ (%)
Chênh lệnh so với tiêu chuẩn
SL xã (xã)
Tỷ lệ (%)
Chênh lệch so với tiêu chuẩn
Quy
hoạch
1.1 Quy hoạch sử dụng đất và
hạ tầng thiết yếu cho phát triển
sản xuất nông nghiệp hàng hóa,
công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, dịch vụ
1.2 Quy hoạch phát triển hạ
tầng kinh tế - xã hội - môi
trường theo chuẩn mới
1.3 Quy hoạch phát triển các
khu dân cư mới và chỉnh trang
các khu dân cư hiện có theo
hướng văn minh, bảo tồn được
bản sắc văn hóa tốt đẹp
Nguồn: Thu thập từ số liệu điều tra
Qua bảng số liệu cho thấy, hiện nay cả ba tiêu chí này của huyện Chợ
Mới đều không đạt chuẩn 16/16 xã của huyện đều chưa có quy hoạch trên cả
ba nội dung đạt yêu cầu bộ tiêu chuẩn nêu ra Nguyên do, Chợ Mới là huyện
miền núi, điều kiện địa hình núi non chia cắt Đất đai, nhất là đất sử dụng trong sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, gây khó khăn trong công tác quy hoạch sử dụng Việc quy hoạch không gian kinh tế cũng như hạ tầng kinh
tế - xã hội gặp nhiều khó khăn Đặc biệt, trong quy hoạch và phân bố dân cư gặp nhiều khó khăn Hơn nữa, người dân thường bố trí theo làng, bản truyền thống, việc quy hoạch mới sẽ không dễ thực hiện và tốn kém Để hoàn thành được chỉ tiêu này là đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn của chính quyền các cấp cũng như sự đồng thuận của người dân Trước hết cần tập trung xây dựng quy hoạch sử dụng đất, sử dụng đất, quy hoạch xây dựng hạ tầng kinh tế xã hội và cuối cùng trên cơ sở đó để quy hoạch bố trí dân cư một cách phù hợp Đối với nhóm tiêu chuẩn này, tác giả cho rằng không nên quy định cứng nhắc trên phạm vi cả nước, mà cần có sự điều chỉnh linh động hài hòa giữa các vùng, miền khác nhau trên cả nước
2.2.2.2 Thực trạng nông thôn theo tiêu chí hạ tầng - kinh tế xã hội
Hạ tầng kinh tế - xã hội là một chỉ tiêu quan trọng, dễ nhìn thấy và dễ đánh giá nhất và xem xét sự phát triển hay không của một vùng, một địa phương Trong bộ tiêu chuẩn nông thôn mới, hạ tầng kinh tế - xã hội là một trong những chỉ tiêu quan trọng Đối với những địa phương vùng núi nói chung và huyện Chợ Mới nói riêng, xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội đồng
bộ, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế và đời sống của dân cư nông thôn
là nhiệm vụ rất khó khăn, nhất là so với yêu cầu phát triển của nông thôn mới hiện nay Vậy, so với bộ tiêu chuẩn nông thôn mới, huyện Chợ Mới đã đáp ứng được những nội dung gì? Nội dung gì cần tiếp tục đầu tư phát triển để có thể hoàn thành được chỉ tiêu xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đạt chuẩn Kết quả xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của huyện Chợ Mới so với bộ tiêu chuẩn được thể hiện cụ thể qua bảng số liệu dưới đây
Trang 32Bảng 13: Thực trạng tiêu chí hạ tầng kinh tế - xã hội
Tiêu
Tiêu chuẩn nông thôn mới
Xã đạt tiêu chuẩn Xã không đạt tiêu
chuẩn
SL xã (xã)
Tỷ lệ (%)
Chênh lệnh so với tiêu chuẩn
SL
xã (xã)
Tỷ lệ (%)
Chênh lệnh so với tiêu chuẩn
3.1 Hệ thống thuỷ lợi cơ bản đáp ứng
yêu cầu phát triển sản xuất và phục vụ
dân sinh
3.2 Tỷ lệ km kênh mương do xã quản
lý được đảm bảo phục vụ tưới, tiêu,
4.1 Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ
4.2 Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện thường
xuyên, an toàn từ các nguồn ≥ 95% 13 81.25 97% 3 18.75 82%
Giáo
dục
Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non,
mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở có
cơ sở vật chất đạt chuẩn Quốc gia
6.1 Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt
chuẩn của Bộ Văn hoá - Thể thao và
Du lịch
6.2 Tỷ lệ thôn bản có nhà văn hóa và
khu thể thao thôn bản đạt quy định của
Bộ Văn hoá-Thể thao và Du lịch
Nguồn: Thu thập từ số liệu điều tra
a Thực trạng tiêu chí về hạ tầng giao thông
Thực trạng hạ tầng giao thông của địa phương được thể hiện qua 4 tiêu chí sau: tiêu chí phản ánh đường liên xã, tiêu chí phản ánh đường liên thôn, tiêu chí phản ánh đường ngõ, xóm và tiêu chí phản ánh giao thông nội đồng Kết quả thực tế của địa phương như sau:
Thứ nhất, tiêu chí về tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa (nền 09m, mặt đường 07m) Yêu cầu của nông thôn mới đối với tiêu chí này là 100% đường trục liên xã phải đạt tiêu chuẩn Kết quả khảo sát tại địa phương cho thấy cả 16/16 xã đều không đạt, tính chung cả huyện không đạt Hiện trạng của địa phương hiện nay, kết quả bình quân toàn huyện mới thực hiện được 37% (37% số đường liên xã đáp ứng được yêu cầu tiêu chuẩn mới) Đối với khu vực miền núi địa hình phức tạp, khó khăn, việc đòi hỏi phải xây dựng hệ thống đường trục đạt chuẩn nằm ngoài khả năng ngân sách của địa phương Do đó, để đạt được tiêu chí này, rất cần sự đầu tư của Nhà nước, bằng nhiều hình thức, trong đó xã hội hóa công tác xây dựng là trọng điểm
Thứ hai, tỷ lệ đường trục thô, liên thôn được cứng hóa (nền 05m, mặt đường 3,5m) Để đạt được tiêu chuẩn nông thôn mới, đòi hỏi tiêu chí này của toàn huyện phải đạt từ 50% trở lên Kết quả thực tế tại địa phương cho thấy chỉ có 2/16 xã, chiếm 12.5% số xã đạt tiêu chuẩn Tỷ lệ trục thô liên thôn được cứng hóa của 2 xã này đạt tỷ lệ 65% số đường liên thôn Có tới 14/16
xã, chiếm 87.5% số xã chưa đạt chuẩn, tỷ lệ thực hiện chỉ tiêu này của 14 xã không đạt mới là 33% Như vậy, để đạt được tỷ lệ đường liên thôn cứng hóa
từ 50% trở lên là một yêu cầu rất khó, nhất là các địa phương này đều nằm trong khu vực khó khăn, là địa phương nghèo so với cả nước Tiêu chí xây dựng đường liên thôn do huyện và xã triển khai thực hiện Với hình thức huy động tổng lực với phương trâm nhà nước và nhân dân cùng làm, tiêu chí này
Trang 33hoàn toàn có thể đạt được theo chuẩn Để đạt được điều đó, đòi hỏi chính
quyền huyện, xã phải tích cực đầu tư, đồng thời tuyên truyền vận động người
dân cùng tham gia đóng góp xây dựng
Thứ ba, tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa
(nền 04m, mặt đường 03m), yêu cầu đạt chuẩn là 100% số đường và có trên
50% được cứng hóa Kết quả khảo sát cho thấy, có 3 xã, chiếm 18.75% số xã
đạt tiêu chuẩn với yêu cầu 100% đường ngõ, xóm không lầy lội và được kiên
cố hóa, trong đó trên 50% được cứng hóa Đây chủ yếu là các xã nằm dọc
theo trục quốc lộ 3 và gần với trung tâm hành chính của huyện, nơi có điều
kiện tự nhiên thuận lợi hơn và cũng được ưu tiên đầu tư hơn Ngoài ra vẫn có
13/16 xã, chiếm 81.25% số xã không đạt tiêu chuẩn Đối với 13 xã không đạt
chuẩn này, mới chỉ có 52% số đường ngõ, xóm đạt so với tiêu chuẩn của nông
thôn mới
Thứ tư, Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới
đi lại thuận tiện (nền 05 m, mặt 3,5 m) Yêu cầu đặt ra phải trên 50% số đường
nội đồng đạt tiêu chuẩn Tuy nhiên, do là huyện miền núi, điều kiện chia cắt,
các cách đồng thường nhỏ hẹp, xen lẫn giữa các dãy núi Do đó, việc đạt tiêu
chuẩn này là khó khăn đối với địa phương Cụ thể, chỉ có 3/16 xã đạt yêu cầu
chiểm tỷ lệ 18.75%; số đường nội đồng của 3 xã này đạt tiêu chuẩn là 55%
Đối với 13 xã không đạt chuẩn, chiếm 81.25% số xã, tỷ lệ giao thông nội đồng
đạt tiêu chuẩn mới chỉ là 34% Để đạt được chỉ tiêu này, đòi hỏi sự cố gắng đầu
tư lớn của địa phương Tuy nhiên, do Chợ Mới là huyện miền núi, chia cắt,
diện tích manh mún, nhỏ lẻ, đất sản xuất thường rất xa khu dân cư Do đó, việc
xây dựng hệ thống đường nội đồng thường gặp nhiều khó khăn
Tóm lại, so với yêu cầu phải đạt từ 70% trở lên số xã trong huyện đạt
yêu cầu của tiêu chuẩn nông thôn mới, thì tiêu chí giao thông của huyện chưa
đạt là huyện nông thôn mới
b Thực trạng tiêu chí hạ tầng Thủy lợi
Tiêu chí hạ tầng thủy lợi được đánh giá bởi hai tiêu chí là hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất, phục vụ dân sinh và tỷ lệ kênh mương
do xã quản lý được đảm bảo phục vụ tưới, tiêu, kiên cố hóa cống đập Đối với tiêu chí hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và phục vụ dân sinh Hiện toàn huyện có 11 xã, chiếm 68.75% số xã đạt yêu cầu, còn lại 5 xã chiếm 31.25% chưa đạt tiêu chuẩn nông thôn mới So với yêu cầu phải đạt từ 70% số xã trở lên để trở thành huyện nông thôn mới, tiêu chí này huyện Chợ Mới về cơ bản đã gần đạt được Chỉ cần địa phương tiếp tự đầu tư cải tạo và xây dựng hệ thống kênh mương thì trong thời gian ngắn tới, chỉ tiêu này sẽ đạt yêu cầu của nông thôn mới
Đối với tiêu chí cứng hóa kênh mương, hiện có 14 xã chiếm 87.5% số
xã đạt tiêu chuẩn, số lượng kenh mương của 14 xã này được cứng hóa là 65% cao hơn mức yêu cầu là trên 50% Chỉ còn 2 xã chiếm 12.5% chưa đạt yêu cầu Số lượng kênh mương được cứng hóa của 2 xã này mới chỉ đạt 20% tổng
số kenh mương của xã Chỉ tiêu này đối với toàn huyện đã đạt yêu cầu của nông thôn mới, tuy nhiên trong thời gian tới huyện cần tiếp tục đầu tư để hoàn thiện việc cứng hóa kenh mương của địa phương, nhất là đối với 2 xã chưa đạt yêu cầu nhằm góp phần giúp nhân dân phát triển kinh tế và phục vụ đời sống người dân tốt hơn
c Thực trạng tiêu chí hạ tầng Điện
Tiêu chí hệ thống điện là một trong các tiêu chí mà huyện Chợ Mới đạt tiêu chuẩn với tỷ lệ rất cao 16/16 xã, đạt 100% số xã đã có hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kĩ thuật của ngành điện Đối với chỉ tiêu tỷ lệ hộ dùng điện thường xuyên Toàn huyện có 13 xã đạt 81.25% số xã đạt tiêu chuẩn, tính chung cả huyện đã đat tiêu này chuẩn này Tỷ lệ hộ dân dùng điện thường xuyên của 13 xã đạt chuẩn này là 97% so với yêu cầu phải đạt từ 95% trở lên
Trang 34Trong số 3 xã chưa đạt yêu cầu tiêu chuẩn (chiếm 18.75%), tỷ lệ hộ dân sử
dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn cũng đã đạt 82%, gần đạt so
với yêu cầu đặt ra (trên 95%)
Có thể nói, đối chiếu với tiêu chuẩn hạ tầng điện của bộ tiêu chí nông
thôn mới, huyện Chợ Mới đều đạt yêu cầu với mức cao (yêu cầu đòi hỏi 70%
số xã trở lên đạt yêu cầu) Việc hoàn thành xây dựng chỉ tiêu hệ thống điện
còn là tiền đề để xây dựng các hạ tầng kinh tế - xã hội khác của địa phương
d Thực trạng tiêu chí hạ tầng giáo dục
Nhóm chỉ tiêu về hạ tầng giáo dục được thể hiện qua tỷ lệ trường học
các cấp bao gồm trường mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở có cơ
sở vật chất đạt chuẩn Quốc gia Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ đạt là rất thấp
chỉ có 1/16 xã đạt chuẩn, chiếm 6.25% tổng số xã Tỷ lệ trường đạt chuẩn của
xã này cũng vừa đạt so với yêu cầu chỉ tiêu là 70% Đối với 15 xã còn lại,
chiếm 93.75% số xã chưa đạt, tỷ lệ số trường đạt chuẩn mới là 39%, vẫn còn
một khoảng cách rất lớn đối với yêu cầu của tiêu chuẩn nông thôn mới
Nguyên nhân của việc hạ tầng cơ sở giáo dục đạt tỷ lệ thấp như thế là do đặc
điểm địa bàn là huyện miền núi, còn nhiều khó khăn Ngân sách đầu tư cho
giáo dục của Nhà nước và tỉnh, huyện quá thấp so với nhu cầu thực tế Đời
sống kinh tế của nhân dân trên địa bàn, đặc biệt là khu vực dân cư miền núi
còn gặp rất nhiều khó khăn, không có điều kiện tự đóng góp kinh phí để cải
thiện giáo dục Thêm vào đó, do đặc điểm địa hình đi lại khó khăn, chính sách
thu hút nhân lực còn nghèo nàn, tiền lương thấp nên một bộ phận không nhỏ
giáo viên không sẵn sàng về công tác và làm việc tại địa phương để đóng góp
cho nền giáo dục huyện nhà
Với thực trạng như vậy, thay đổi bộ mặt của hạ tầng giáo dục huyện
Chợ Mới trong ngắn hạn là điều không thể, bởi hệ thống giáo dục với nhiều
cấp bậc từ mầm non đến trung học phổ thông là hệ thống đào tạo tiếp nối, kéo
dài trong nhiều năm Để cải thiện vấn đề này, huyện Chợ Mới cần xác định mục tiêu chiến lược trong khoảng từ 10 - 15 năm và chia thành nhiều giai đoạn, cùng với đó, phải có các chính sách đẩy mạnh phát triển kinh tế, đầu tư nhiều hơn cho giáo dục, cần mạnh dạn tìm kiếm các nguồn hỗ trợ, ODA cho giáo dục để từng bước cải thiện bộ mặt giáo dục của địa phương
e Thực trạng tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa xã hội
Nhóm tiêu chí Cơ sở vật chất văn hóa được đánh giá bởi hai tiêu chí cơ bản là tỷ lệ nhà văn hóa và khu thể thao đạt tiêu chuẩn của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch và tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch
Kết quả điều tra thực tế cho thấy đối với cả hai chỉ tiêu này, toàn huyện không có xã nào đạt yêu cầu Có thể nói, đối với người dân vùng núi còn gặp rất nhiều khó khăn, thì việc đầu tư cho các hoạt động văn hóa, văn nghệ thể dục thể thao của chính quyền hay của chính người dân chưa thực sư được quan tâm Do đó, trong tương lai việc thực hiện chỉ tiêu này đòi hỏi nỗ lực rất lớn của chính quyền, ngoài ra cũng cần thực hiện tốt việc vận động người dân thực hiện nếp sống văn hóa mới Nếu không, việc đầu tư xây dựng nhà văn hóa, các tụ điểm thể thao nhằm đạt được yêu cầu tiêu chuẩn nhưng lại không thu hút được người dân tới sử dụng sẽ gây nên tình trạng lãng phí
Tuy nhiên, có thể thấy rằng, với huyện Chợ Mới là một huyện miền núi, đời sống kinh tế của nhân dân còn nhiều khó khăn, đường xá đi lại không thuận lợi, ngân sách nhà nước cấp cho được dàn trải để giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề trước mắt, cho nên, thực trạng yếu kém của cơ sở vật chất văn hóa xã hội là điều không thể tránh khỏi Cũng giống như nền tảng cơ sở vật chất giáo dục đào tạo, thực trạng này không thể giải quyết trong ngắn hạn, mà phải được tiến hành đồng bộ với việc cải thiện nhiều tiêu chí khác
Tình hình trước mắt, để cải thiện đời sống văn hóa thể thao của nhân dân các địa phương, lãnh đạo các xã trong huyện cần chủ động, tùy vào tình
Trang 35hình của xã mình mà đứng ra tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao cho phù
hợp với tầm vóc Về lâu dài, việc thay đổi bộ mặt cơ sở vật chất văn hóa xã
hội cần tiền hành đồng thời, được lập kế hoạch chặt chẽ và triển khai đồng bộ
từ tỉnh, đến huyện và xã
f Thực trạng tiêu chí Chợ - Bưu điện và nhà ở nông thôn
Nhóm tiêu chuẩn chợ, bưu điện và nhà ở nông thôn được đánh giá bởi
các tiêu chí là: chợ đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng, có điểm phục vụ bưu
chính viễn thông, có Internet đến thôn xóm, nhà tạm và tỷ lệ hộ có nhà ở đạt
tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng Qua thực tế điều tra, kết quả cụ thể như sau:
Với tiêu chí chợ đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng, hiện nay chỉ có 1/16
xã, với tỷ lệ là 6.3 % đạt yêu cầu này, số xã không đạt là 15/16 xã, tỷ lệ là 93.7
% Kết quả này cho thấy tỷ lệ đạt trên toàn huyện rất thấp, chỉ có 1 đơn vị trên
toàn huyện đạt được tiêu chuẩn của Bộ, cũng như các tiêu chí liên quan đến cơ
sở hạ tầng, muốn cải thiện được cần có thời gian, cần sự đầu tư mạnh mẽ của
tỉnh và huyện và sự nỗ lực của nhân dân Trong ngắn hạn, các xã chưa đạt tiêu
chuẩn về chợ nên chủ động khắc phục, cải thiện, huy động vốn góp trong dân
để sửa sang, xây dựng, sửa chửa các chợ, khu mua bán đã được quy hoạch
Kêu gọi các nguồn vốn ngoài nhà nước hỗ trợ để cải thiện tình hình
Với tiêu chí có điểm phục vụ bưu chính viễn thông, kết quả điều tra cho
thấy 16/16 xã có điểm phục vụ bưu chính viễn thông với tỷ lệ đạt là 100 %
Trong thực tế, tổng công ty bưu chính - viễn thông Việt Nam là đơn vị chịu
trách nhiệm chính trong việc đảm bảo các điểm phục vụ bưu chính viễn thông
trong cả nước, kết quả này phản ánh đúng những đóng góp của ngành bưu
chính - viễn thông trong sự phát triển của nông thôn Việt Nam Việc xây dựng
và phát huy điểm bưu điện văn hóa xã vừa góp phần tạo điều kiện thông tin
liên lạc cho người dân, đồng thời cũng là nơi giao lưu học hỏi các tiến bộ
khoa học kĩ thuật mới cho người dân nông thôn
Về tiêu chí có Internet đến thôn xóm, qua điều tra cho kết quả như sau
số xã đạt là 4/16 chiếm tỷ lệ là 25%, số xã không đạt là 12/16 chiếm 75% trong toàn huyện Qua thực tế điều tra cho thấy, hầu hết các điểm truy cập internet tại các xã là do tư nhân, hộ gia đình tổ chức hoạt động như là một ngành nghề phụ Các điểm truy cập của Bưu chính - Viễn thông Việt Nam rất
ít, hầu như không có Thực tế, với tỷ lệ 75% số xã không đạt tiêu chuẩn này là một thực trạng đáng buồn, bởi tiêu chí này hoàn toàn có thể thay đổi được trong ngắn hạn Các địa phương cần khuyến khích mở và triển khai hoạt động
từ các hộ gia đình, các doanh nghiệp tư nhân như một ngành nghề phụ vừa để thêm thu nhập, vừa phát triển nghề mới, vừa đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn này của bộ Trong dài hạn, địa phương cần phối hợp với tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam khắc phục tình trạng trên, từng bước đưa internet đến với người dân bởi internet có khả năng truyền tin nhanh, rộng, khối lượng thông tin rất lớn Tuy nhiên, đặc biệt với các hộ gia đình kinh doanh điểm internet, địa phương cần có phương pháp quản lý tốt, tránh việc
du nhập các thói hư tật xấu, văn hóa phẩm không lành mạnh có thể lây lan qua Internet
Về tiêu chuẩn nhà tạm, nhà dột nát, toàn huyện có 10/16 xã đạt tiêu chuẩn, đạt tỷ lệ là 62.5 %, và 6/16 xã không đạt với tỷ lệ là 37.5% Kết quả cũng phản ánh phần nào Chợ Mới là một huyện miền núi, đời sống của nhân dân còn nghèo, nhiều hộ gia đình chưa có nhà kiên cố để ở, định cư, phát triển kinh tế Tỷ lệ 62.5 % số xã đạt yêu cầu về nhà cửa cho thấy sự nỗ lực của nhân dân và chính quyền huyện trong những năm vừa qua, tỷ lệ xã không đạt
là 37.5% là một tỷ lệ cao Trong khi đó, tỷ lệ hộ có nhà đạt tiêu chuẩn của bộ Xây dựng chỉ có 2 xã đạt yêu cầu với tỷ lệ là 12.5%; tỷ lệ nhà đạt yêu cầu của
2 xã này là 79% Còn lại 14% số xã chiếm tỷ lệ 87.5% số xã chưa đạt tiêu chuẩn về nhà ở dân cư Trong số 14 xã chưa đạt tiêu chuẩn, tỷ lệ nhà đạt tiêu
Trang 36chuẩn mới chỉ là 38%, cách rất xa so với yêu cầu tiêu chuẩn là trên 75% Để
thay đổi tiêu chí này, địa phương cần có chính sách, chiến lược phát triển kinh
tế hộ gia đình, từng bước tháo gỡ, nâng cấp cuộc sống cho người dân Bên
cạnh đó, các chính sách hộ trợ người nghèo, người có thu nhập thấp cũng rất
tốt trong ngắn hạn, tuy vậy, trong dài hạn vẫn cần có nhưng chính sách để
phát triển kinh tế bền vững
2.2.2.3 Thực trạng xây dựng nông thôn mới theo nhân tố kinh tế và tổ chức
sản xuất
Nhóm các nhân tố kinh tế và tổ chức sản xuất được đánh giá dựa trên
các tiêu chí cơ bản sau: thu nhập bình quần đầu người/năm so với mức bình
quần của tỉnh, tỷ lệ hộ nghèo tại các xã, tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc
tại các xã và có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã sản xuất
Bảng 14: Các nhân tố kinh tế và tổ chức sản xuất
Tiêu chuẩn Nông thôn mới
Xã đạt tiêu chuẩn Xã không đạt tiêu
chuẩn
SL
xã (xã)
Tỷ lệ (%)
Chênh lệnh so với tiêu chuẩn
SL
xã (xã)
Tỷ lệ (%)
Chênh lệnh so với tiêu chuẩn
Thu nhập Thu nhập bình quân đầu người/năm
so với mức BQ chung của tỉnh
Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc
trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp ≤ 45% 2 12.5 30% 14 87.5 72%
Nguồn: Thu thập từ số liệu điều tra
Qua bảng 14 ta thấy, với tiêu chí thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức chung của tỉnh có 14/16 xã, chiếm tỷ lệ 87.5% tổng số xã có mức thu nhập lớn hơn 1.2 lần so với mức chung của tỉnh, còn 2/16 xã, chiếm 12.5% số
xã có mức thu nhập thấp hơn mức chung của tỉnh Kết quả này cho thấy, mức thu nhập bình quần đầu người của huyện so với mức chung của tỉnh đạt mức khá, với mức thu nhập này, đời sống của nhân dân được đảm bảo Trong thời gian tới, các xã cần tập trung triển khai các chính sách hỗ trợ và thúc đẩy nhân dân thoát nghèo, từng bước nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình có thu nhập thấp để toàn huyện tiến tới đàn chuẩn nông thôn mới
Với tiêu chí tỷ lệ hộ nghèo dưới 10 % số hộ trong xã, kết quả là toàn huyện chỉ có 1 xã, chiếm 6.25% tổng số xã có tỷ lệ hộ nghèo đạt 6.32% thấp hơn mức tiêu chuẩn Còn lại, 15/16 xã chiếm 93.7% số xã có mức nghèo đói trên 10% Tỷ lệ nghèo đói trung bình của 15 xã này là 32.61% Kết quả điều tra này với kết quả các tiêu chí đã điều tra ở phần trên là hợp lý, hợp logic Hầu hết các xã trên địa bàn huyện vẫn còn hộ nghèo, tính trung bình con số này chiếm khoảng hơn 30 %, để thoát nghèo cho người dân, toàn huyện cần tiến hành nhiều chính sách kinh tế đồng bộ, một mặt hỗ trợ cho các hộ nghèo
để họ đầu tư phát triển sản xuất, một mặt có cách chính sách khuyến khích các hộ gia đình chủ động trong việc làm kinh tế, mặt khác cần tìm kiếm thêm nhiều đầu ra cho sản xuất nông nghiệp ở địa phương
Về tiêu chí tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc ở lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp yêu cầu đặt ra theo tiêu chuẩn nông thôn mới là mỗi xã có dưới 45% lao động hoạt động trong lĩnh vực này Kết quả thực tế điều tra cho thấy
có 2 địa phương đạt được yêu cầu này chiếm tỷ lệ 12.5%, một tỷ lệ rất nhỏ, và 14/16 xã có trên 45% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Đây là kết quả phản ánh đặc thù của một huyện nông thôn miền núi, với sản xuất nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo nên lực lượng lao động tập trung phần lớn
Trang 37trong lĩnh vực này là hoàn toàn hợp lý Trong ngắn hạn, chuyển một lượng
lớn lao động từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ ở bối
cảnh hiện nay với huyện Chợ Mới là điều rất khó thực hiện vì các lý do: thứ
nhất Chợ Mới là một huyện miền núi, địa hình không thuận lợi, chỉ phù hợp
với phát triển nông nghiệp; thứ hai quy hoạch phát triển công nghiệp và dịch
vụ cho dài hạn ở Chợ Mới là không phù hợp do địa hình và trình độ lao động
còn thấp Toàn huyện nên cải thiện tiêu chí này tuy nhiên không nên đặt quá
nặng về chỉ tiêu, vấn đề chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế cần có chiến
lược trong dài hạn
Tiêu chí có tổ sản xuất hoặc hợp tác xã nghiên cứu điều tra trong
toàn huyện cho một kết quả tương đối khả quản, có 6/16 xã đạt yêu cầu với
tỷ lệ 37.5%, còn lại 10/16 xã chưa có tổ sản xuất hoặc hợp tác xã chiếm tỷ
lệ 62.5% Điều này cho thấy, khoảng gần một nửa số xã trên địa bàn có
hình thức sản xuất tập thể Hợp tác xã hoặc tổ hợp sản xuất có ý nghĩa rất
lớn với sự phát triển kinh tế nông thôn bởi mô hình này sẽ giải quyết rất
nhiều vấn đề khó khăn hiện nay trong sản xuất nông nghiệp như: mô hình
hợp tác xã được coi như một thành phần kinh tế nên có thể vay vốn để sản
xuất; Hợp tác xã có thể trực tiếp ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp
khác đồng nghĩa với việc chủ động tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm nông
nghiệp, thêm vào đó mô hình kinh tế tập thể nhận được rất nhiều sự hỗ trợ
khuyến khích từ nhà nước đặt biệt là thuế Ngoài ra, các mô hình tổ sản
xuất, hợp tác xã có thể giải quyết chính nhu cầu về nguồn nguyên vật liệu,
công cụ sản xuất ngay tại địa phương Mô hình tổ hợp sản xuất, hợp tác xã
cần được huyện nhân rộng trong toàn huyện, đây những mô hình tốt, đúng
đắn có thể góp phần chuyển dịch lao động từ ngành nông nghiệp sang cách
ngành khác nếu được nhân rộng
2.2.2.4 Thực trạng xây dựng nông thông mới theo nhân tố văn hóa - xã hội
Nhóm tiêu chuẩn văn hóa - xã hội được đánh giá bởi các tiêu chí liên quan đến giáo dục , y tế và văn hóa Kết quả điều tra thực tế tại địa phương được trình bày trong bảng 15 Cụ thể các tiêu chí đạt được như sau:
Bảng 15: Nhóm nhân tố văn hóa - xã hội
Tiêu
Tiêu chuẩn Nông thôn mới
Xã đạt tiêu chuẩn Xã không đạt tiêu
chuẩn
SL
xã (xã)
Tỷ lệ (%)
Chênh lệnh so với tiêu chuẩn
SL
xã (xã)
Tỷ lệ (%)
Chênh lệnh so với tiêu chuẩn
Giáo dục
14.1 Đạt chuẩn phổ cập giáo dục
14.2 Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề)
14.3 Tỷ lệ lao động qua đào tạo ≥ 20% 6 37.5 22% 10 62.5 13%
Y tế 15.1 Tỷ lệ người dân tham gia các
và Du lịch
Môi trường
17.1 Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia
17.2 Các cơ sở sản xuất - kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường Đạt 10 62.5 Đạt 6 37.5 K.đạt 17.3 Không có các hoạt động gây
suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp
17.4 Nghĩa trang được xây dựng
17.5 Chất thải, nước thải được thu
Nguồn: Thu thập từ số liệu điều tra
Trang 38* Nhóm chỉ tiêu về giáo dục
Về mức độ phổ biến giáo dục trung học cơ sở 16/16 xã yêu cầu với tỷ
lệ là 100%, có nghĩa là 100 % trẻ em trong độ tuổi cấp trung học cơ sở đều
được đến trường Tuy nhiên, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học
trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề) với mức trên 70% tổng số học sinh
trong xã chỉ có 12/16 xã đạt tỷ lệ 75%, còn lại 4/16 xã, chiếm tỷ lệ 25% tổng
số xã có tỷ lệ các em không theo học trung học phổ thông , học nghề, bổ túc
dưới 70% Kết quả này cho thấy , công tác giáo dục tuyên truyền tới người
dân, khuyến khích các em đến trường làm chưa tốt Ngoài ra, do nhiều hộ gia
đình kinh tế còn khó khăn, không đủ điều kiện cho các em theo học, tuy nhiên
số lượng các hộ gia đình như vậy không nhiều Tiêu chí này, huyện có thể cải
thiện được trong năm tới bằng cách tích cực tuyên truyền vận động các gia
đình có con em trong độ tuổi đến trường tạo điều kiện cho các em họ c tập,
nâng cao dân trí Trong khi đó , tỷ lệ lao động qua đào tạo ở mỗi xã nếu trên
20% tổng số lao động trong xã là đạt yêu cầu thì kết quả điều tra thực tế cho
thấy có 6/16 xã chiếm tỷ lệ 37.5% tổng số xã đạt yêu cầu với số lượng lao
động qua đào tạo đạt bình quân 22% 10/16 xã chiếm tỷ lệ 62.5% số xã không
đạt yêu cầu, tỷ lệ lao động qua đào tạo của các xã này chỉ đạt 13% Với lực
lượng lao động như vậy phát triển kinh tế địa phương sẽ gặp rất nhiều khó
khăn Trong thời gian tới , huyện và các xã có chính sách thu hút nguồn nhân
lực có trình độ hoặc tạo điều kiện để con em xã , huyện mình được đào tạo ,
rèn luyện địa phương Nếu làm tốt công tác này , chỉ tiêu này có thể cải th iện
rõ rệt trong khoảng 2 - 3 năm
* Chỉ tiêu về y tế
Về tiêu chí y tế cộng đồng , tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo
hiểm y tế với số lượng trên 20% dân số được coi là đạt yêu cầu thì kết quả
điều tra cho thấy có 14/16 xã, chiếm tỷ lệ 87.5% tổng số xã đạt được tiêu chí
này với tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế là 77% Số xã không đạt yêu cầu là 2/16 xã, chiếm 12.5% Tỷ lệ người dân được tham gia các hình thức bảo hiểm y tế của 2 xã này chỉ đạt mức 10% Biện pháp nâng cao tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế là đẩy mạnh công tác tuyên truyền ở địa phương , cho nhân dân thấy được lợi ích to lớn của việc tham gia bảo hiểm y tế , muốn thành công cần có sự tham gia đồng của các cấp, từ cấp huyện, xã cho đến các thôn, xóm, bản Điều kiện y tế xã đạt chuẩn quốc gia, qua điều tra có 10/16 xã trong toàn huyện, tỷ lệ đạt trong huyện là 62.5%, đây là yếu tố liên quan đến việc đầu tư cơ sở vật chất ngành y tế , cho nên khắc phục không thể trong 1 hoặc 2 năm, trước mắt để cải thiện tình hình, mỗi địa phương, mỗi xã cần chủ động giải quyết bằng nội lực như vận động đóng góp của nhân dân , xin tài trợ của các tổ chức, đoàn thể khác
* Chỉ tiêu văn hóa
Về tiêu chí xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hóa theo quy định của bộ VH - TT - DL, toàn huyện không có xã nào đạt tiêu chí trên Tiêu chí này cần ít nhất là 5 năm để toàn huyện cải thiện Giải pháp
để cải thiện tiêu chí nà y là toàn huyện cần có bước tiến đồng bộ trên nhiều bình diện, về cơ bản phải nâng cao mức sống của người dân , nâng cao dân trí đồng thời kiến nghị nhà nước đầu tư mạnh để đổi mới cơ sở vật chất , thay đổi bộ mặt nông thôn
* Chỉ tiêu về môi trường
Nhóm chỉ tiêu môi trường được đánh giá bởi các tiêu chí là tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch , các cơ sở SX - KD đạt tiêu chuẩn về môi trường , không có hoạt động suy giảm môi trường và các hoạt độn g phát triển môi trường, nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch và chất thải được gom xử
lý theo quy hoạch
Trang 39Về tiêu chí tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp về sinh theo quy
chuẩn Quốc gia, được đánh giá là đạt khi có trê n 70% số hộ trong xã được sử
dụng nước sạch Kết quả điều tra trong bảng 20 cho thấy có 10/16 xã đạt được
tiêu chí này với tỷ lệ là 62.5% trong toàn huyện Tỷ lệ người dân trong các xã
này được sử dụng nước sạch là 81% Còn lại 6/16 xã không đạt tiêu chuẩn, tỷ
lệ chiếm 37.5% trong toàn huyện Tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch
trong những xã này mới chỉ là 51% Tiêu chí này huyện có thể nâng cao trong
năm tới bằng cách mở rộng chính sách nhà nước và nhân d ân cùng làm , sử
dụng ngân sách nhà nước , vận động đóng góp, viện trợ từ các tổ chức và chủ
yếu từ người dân để xây dựng thêm các trạm bơm , xử lý nước sạch ở các khu
đông dân cư
Tiêu chí các cơ sở sản xuất - kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường
qua điều tra có 10/16 xã đạt tiêu chuẩn , tỷ lệ đạt trong toàn huyện là 62.5%
6/16 xã với tỷ lệ không đạt trong huyện là 37.5% Điều này cho thấy, huyện và
xã vẫn chưa quyết liệt trong việc quản lý, xử phạt các hộ kinh doanh, sản xuất
không đạt tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường Trong thời gian tới , chính quyền
xã, huyện cần mạnh tay với công tác bảo vệ môi trường, xử phạt nghiêm minh
các hộ gia đình không chấp hành c ác quy định của pháp luật , trường hợp nào
chậm chễ có thể thu hồi giấy phép kinh doanh Nếu kiến quyết, xử lý mạnh tay,
tiêu chí này toàn huyện có thể phấn đấu thay đổi trong 1 năm
Điều tra về tiêu chí không có các hoạt động gây suy giảm môi trường
và có các hoạt động phát triển môi trường xanh , sạch đẹp, kết quả thu được là
12/16 xã đạt tiêu chuẩn này , tỷ lệ hoàn thành trong huyện đạt 75%, còn 4/16
xã vẫn còn chưa đạt , chủ yếu do còn c ó các hoạt động gây suy giảm môi
trường gây ra Tiêu chí này có thể đạt được khi tiêu chí bên trên được giải
quyết triệt để, bởi nguyên nhân chủ yếu do một số xã vẫn còn nhiều cơ sở sản
xuất kinh doanh không có các biện pháp bảo vệ môi trường gây ra
Thực trạng đáng ngại nhất trong tiêu chuẩn này là qua điều tra , chỉ có 1/16 xã có nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch và chất thải , nước thải được thu gom xử lý theo quy định Nguyên nhân là C hợ Mới là huyện nông thôn, địa hình miền núi , cơ sở vật chất còn nghèo nàn , công trình phục vụ cho giáo dục , y tế, quản lý nhà nước còn rất thiếu và yếu , nhiều công trình đã sử dụng lâu năm hiện thời đã xuống cấp nhưn g chưa được đầu tư thích đáng Do vậy, việc hầu hết các xã trong toàn huyện không được quy hoạch về nghĩa trang và khu xử lý chất thải , nước thải là điều hoàn toàn dễ hiểu , hoạt động này trên toàn huyện đều tự phát Cũng như các loại hình đầu tư cơ bản khác , hai tiêu chí này cần nhà nước quan tâm , đầu tư vốn để xây dựng , cải tạo, và tiến hành đồng bộ với các công trình xây dựng cơ bản khác , thời gian để nâng cấp toàn bộ hệ thống và xâ y mới cần khoảng thời gian không ít hơn 5 năm, do còn rất nhiều các công trình cơ bản khác trên toàn huyện cần
có nhu cầu xây dựng
2.2.2.5 Thực trạng xây dựng nông thôn mới theo nhân tố hệ thống chính trị -
an ninh xã hội
Hệ thống chính trị - an ninh xã hội ổn định là cơ sở, là nền tảng vững chắc để phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương Cũng như các địa phương khác trên phạm vi cả nước, muốn thực hiện thành công xây dựng nông thôn mới, huyện Chợ Mới cần xây dựng được môi trường chính trị - an ninh xã hội ổn định, vững mạnh Thực trạng hệ thống chính trị - an ninh xã hội được thể hiện dưới đây
Trang 40Bảng 16: Nhân tố hệ thống chính trị - an ninh xã hội
Tiêu chí Nội dung
Tiêu chuẩn nông thôn mới
Xã đạt tiêu chuẩn Xã không đạt tiêu
chuẩn
SL
xã (xã)
Tỷ lệ (%)
Chênh lệnh so với tiêu chuẩn
SL
xã (xã)
Tỷ lệ (%)
Chênh lệnh so với tiêu chuẩn
Nguồn: Thu thập từ số liệu điều tra
Kết quả điều tra về cán bộ xã đạt chuẩn cho thấy có 11/16 xã đạt tiêu
chuẩn, chiếm tỷ lệ 68.75% toàn huyện , như vậy vẫn còn 5/16 xã chưa đạt
chuẩn về cán bộ Tiêu chí này muốn cải thiện cần phải nâng cao được trình độ
cho cán bộ cấp xã Giải pháp để thực hiện có thể theo hai hướng chính: một là
đẩy mạnh việc học tập nâng cao chuyên môn của cán bộ xã đang thực hiện
nhiệm vụ, hai là có các chính sách thu hút nguồn cán bộ có chất lượ ng cao về
với địa phương Song song với đó, cần liên tục các lớp tập huấn, nâng cao đạo
đức nghề nghiệp, giáo dục tư tưởng chính trị để đội ngũ cán bộ xã có lý tưởng
chính trị vững vàng Cũng qua điều tra cho thấy, về hệ thống tổ chức chính trị
cơ sở theo quy định có 16/16 xã trong toàn huyện đạt chuẩn , và 16/16 xã có
Đảng bộ, chính quyền trong sạch vững mạnh chiếm tỷ lệ là 100 % trong toàn
huyện Tỷ lệ tổ chức đoàn thể chính trị dan h hiệu tiên tiến có 13/16 xã của
huyện đạt , tỷ lệ đạt cũng khá cao là 81.25% Với những lợi thế về bộ máy
chính quyền như vậy Chợ Mới có lợi thế rất lớn trong việc đề xuất và triển
khai thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển nông thôn mới
Về tiêu chí an ninh , trật tự xã hội được giữ vững tỷ lệ 100% các xã đạt yêu cầu, kết quả này là do các xã trên toàn huyện đều có một bộ máy chính quyền vững mạnh, tạo tiền đề trong việc nâng cao khối đại đoàn kết toàn dân ,
và giữ vững trật tự an ninh xã hội
2.2.3 Một số kết luận về xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện Chợ mới
2.2.3.1 Tổng kết về thực hiện chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới của huyện Chợ Mới
Tuy là một huyện thuộc một trong những tỉnh nghèo nhất của cả nước, cũng như mới bắt đầu bước vào xây dựng nông thôn mới, huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn gặp không ít khó khăn Trong số những chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới, thậm trí có những chỉ tiêu đối với địa phương miền núi nói chung
và Chợ Mới nói riêng rất khó để thực hiện thành công Kết quả khảo sát ban đầu này chỉ làm cơ sở để huyện xây dựng kế hoạch thực hiện những bước tiếp theo nhằm xây dựng thành công mục tiêu nông thôn mới của huyện Kết quả
cụ thể được thể hiện qua bảng số liệu tổng hợp dưới đây
Bảng 17: Tổng hợp kết quả thực hiện theo chỉ tiêu nông thôn mới
của huyện Chợ Mới
Nhóm chỉ tiêu Tổng số
chỉ tiêu
Chỉ tiêu đạt chuẩn
Chỉ tiêu không đạt chuẩn
Tỷ lệ hoàn thành (%)
I Nhóm chỉ tiêu về quy hoạch và phát triển quy hoạch
III Nhóm chỉ tiêu về kinh tế và tổ chức sản xuất