Nền kinh tế của một quốc gia được gọi là phát triển khi nền kinh tế đó không chỉ tăng trưởng, giải quyết các vấn đề về đời sống của người dân trong xã hội mà còn phải tạo được đầy đủ việ
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM THỊ HOA
GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN TẠI HUYỆN LỤC NGẠN
TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngưới hướng dẫn khoa học: TS ĐOÀN QUANG THIỆU
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình do tôi thực hiện, tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm về những gì mình viết
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc, lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo
TS Đoàn Quang Thiệu người đã tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong
suốt thời gian hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã quan tâm, góp ý và nhận xét cho bản luận văn của tôi Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo đã giảng dạy cho tôi trong suốt thời gian qua
Xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo và gia đình mạnh khỏe hạnh phúc, tiếp tục sự nghiệp đào tạo cho các thế hệ học sinh, sinh viên đạt được nhiều thành công hơn nữa trên con đường học tập và nghiên cứu khoa học
Xin trân trọng cảm ơn
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014
Học viên
Phạm Thị Hoa
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của luận văn 3
5 Bố cục của luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 6
1.1.Cơ sở lý luận 6
1.1.1.Một số khái niệm cơ bản 6
1.1.2 Vai trò của nông thôn và việc làm đối với lao động nông thôn 14
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 14
1.2 Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1 Kinh nghiệm về tạo việc làm cho lao động nông thôn ở một số nước trên thế giới 21
1.2.2 Kinh nghiệm tạo việc làm cho lao động nông thôn ở Việt Nam 27
1.2.3 Bài học kinh nghiệm về giải quyết việc làm của huyện Lục Ngan tỉnh Bắc Giang 34
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 35
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 2.2 Phương pháp nghiên cứu 35
2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 35
2.2.2 Thu thập số liệu 35
2.2.3 Phương pháp phân tích 37
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 38
Chương 3: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG 39
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang 39
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 39
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 40
3.2 Thực trạng lao động và việc làm của lao động nông thôn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang 42
3.2.1 Thực trạng lao động nông thôn 42
3.3 Thực trạng tạo việc làm cho lao động nông thôn của huyện Lục Ngạn 51
3.3.1 Các chủ trương, chính sách tạo việc làm cho lao động nông thôn của huyện 51
3.3.2 Thực trạng tạo việc làm cho lao động nông thôn ở xã điều tra 52
3.3.3 Các kết quả đạt được trong việc tạo việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Lục Ngạn 68
3.3.4 Những hạn chế và nguyên nhân tạo việc làm cho lao động nông thôn tại huyện Lục Ngạn 70
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG 72
4.1 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện 72
4.1.1 Về kinh tế 72
4.1.2 Về văn hoá, xã hội 72
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
4.1.3 Về môi trường 73
4.1.4 Về an ninh quốc phòng 73
4.2 Quan điểm định hướng về tạo việc làm cho lao động nông thôn ở huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang 73
4.2.1 Tạo việc làm phải gắn với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của địa phương 73
4.2.2 Tạo việc làm phải gắn với phát triển bền vững 74
4.2.3 Tạo việc làm phải gắn với không ngừng nâng cao chất lượng lao động 74
4.2.4 Tạo việc làm đồng thời phải nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân 75
4.3 Phương hướng và mục tiêu về tạo việc làm cho lao động nông thôn ở huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang 75
4.4 Một số giải pháp chủ yếu nhằm tạo việc làm cho lao động nông thôn ở huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang 76
4.4.1 Chính sách giải quyết việc làm của tỉnh Bắc Giang và Huyện Lục Ngạn 76
4.4.2 Giải pháp chung cho đất và con người huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang 78
4.4.3 Các giải pháp cụ thể 83
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 92
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNKT : Công nhân kỹ thuật
KHKT : Khoa học kỹ thuật
LLLĐ : Lực lượng lao động
SXKD : Sản xuất kinh doanh THPT : Trung học phổ thông TTCN : Tiểu thủ công nghiệp UBND : Ủy ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số lao động ở các địa điểm nghiên cứu 37
Bảng 3.1: Diện tích, dân số, mật độ dân số huyện Lục Ngạn,tỉnh Bắc
Giang 2011-2013 42
Bảng 3.2 Lao động và việc làm của huyện Lục Ngạn trong năm 2013 43
Bảng 3.3: Bảng phân bổ lao động nông thôn theo ngànhcủa huyện Lục
Ngạn 2011- 2013 45
Bảng 3.4: Bảng phân bổ lao động nông thôn theo giới tính 46
Bảng 3.5 Bảng số học sinh phổ thông huyện Lục Ngạn 2011- 2013 47
Bảng 3.6: Tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp trung học phổ thônghuyện Lục
Ngạn 2011- 2013 48
Bảng 3.7: Bảng số giảng viên Đại học trong tỉnh Bắc Giang 49
Bảng 3.8: Bảng số trường, số giáo viên của giáo dục trung cấp chuyên
nghiệp tỉnh Bắc Giang 2011-2013 49
Bảng 3.9: Bảng số trường, số giáo viên của giáo dục cao đẳngtỉnh Bắc
Giang 2011-2013 51
Bảng 3.10: Bảng tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo trong các
ngành kinh tế của huyện Lục Ngạn 2011-2013 51
Bảng 3.11: Tình hình lao động tại Thị trấn Chũ qua 3 năm 2011-2013 53
Bảng 3.12: Số lượng trang trại, Doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh
doanh dịch vụ tăng trên địa bàn thị Trấn Chũ 55
Bảng 3.13: Kết quả tạo việc làm tại Thị Trấn Chũ 56
Bảng 3.14: Tình hình lao động xã Phượng Sơn qua 3 năm 2011-2013 57
Bảng 3.15: Số lượng trang trại, Doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất,kinh
doanh dịch vụ tăng trên địa bàn xã Phượng Sơn 59
Bảng 3.16: Kết quả tạo việc làm tại Xã Phượng Sơn 60
Bảng 3.17: Tình hình lao động xã Phi Điền qua 3 năm 2011-2013 62
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 3.18: Số lượng trang trại, Doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh
doanh dịch vụ tăng trên địa bàn xã Phi Điền 63 Bảng 3.19: Kết quả tạo việc làm tại xã Phi Điền 64 Bảng 4.1: Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế của huyện Lục Ngạntrong
giai đoạn 2007- 2020 72
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm và giải quyết việc làm là vấn đề vừa mang tính kinh tế, vừa mang
tính xã hội, là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới Nền kinh tế của một
quốc gia được gọi là phát triển khi nền kinh tế đó không chỉ tăng trưởng, giải quyết
các vấn đề về đời sống của người dân trong xã hội mà còn phải tạo được đầy đủ
việc làm cho lao động trong xã hội
Trong Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ: “Chú trọng đào tạo
nghề, tạo việc làm cho nông dân và lao động nông thôn, nhất là các vùng nhà nước
thu hồi đất để xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển các cơ sở phi nông nghiệp
Đầy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn, giảm nhanh tỷ trọng lao động
làm nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ Tạo điều kiện
cho lao động nông thôn có việc làm…”
Ngày 05/08/2008 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã
ban hành nghị quyết số 26- NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đã đề cập
nhiều vấn đề bức thiết liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó có
vấn đề về việc làm cho lao động nông thôn Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số
24/2008/NQ - CP ngày 28/10/2008 về Chương trình hành động thực hiện Nghị
quyết số 26- NQ/TW, trong đó đã xác định một chương trình quốc gia về “ Đào tạo
nguồn nhân lực nông thôn bổ sung vào chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục
và đào tạo” với mục tiêu nâng cao khả năng tiếp cận việc làm của lao động nông
thôn Vì vậy, tạo việc làm cho lao động nông thôn đang trở thành vấn đề bức thiết
trong chính sách đối với nông dân hiện nay cũng như những năm tới
Trong những năm qua tỉnh Bắc Giang nói chung và Huyện Lục Ngạn nói
riêng đã có những chính sách nhằm giải quyết việc làm và xáo đói giảm nghèo Bằng
nhiều giải pháp khác nhau huyện Lục Ngạn đã tạo được nhiều việc làm cho người lao
động thông qua các kênh: Cho người lao động vay vốn để học nghề; trung tâm dạy
nghề hướng việc làm cho thanh niên; chuyển đổi nghề cho nông dân khi bị nhà nước
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thu hồi đất nông nghiệp; khuyến khích, thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các trang trại, các hộ kinh doah nhận thêm nhiều lao động vào làm việc… Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa cao Trong thực tế số lao động thiếu việc làm và không thể có việc làm ổ định còn khá đông Hơn nữa, hàng năm số người bước vào độ tuổi lao động lại tăng lên Do vậy, vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn đang đặt
ra như một nhiệm vụ cấp bách không chỉ cho huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang, mà còn đối với nhiều địa phương khác trong cả nước Với ý nghĩa thực tiễn này, tôi đã
chọn đề tài: “Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn tại huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình trong kháo học đạo tạo trình độ
thac sĩ Kinh tế tại trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Từ việc đánh giá thực trạng việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang, ta sẽ làm rõ những ưu điểm, những hạn chế và những tiềm năng trên địa bàn, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm tạo việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn nói riêng và cho phát triển kinh tế xã hội của địa
phương nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề việc làm và tạo việc làm cho người lao động nông thôn ở huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
* Về người lao động
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Lực lượng lao động trong huyện phân theo độ tuổi, giới tính, ngành nghề,
lĩnh vực hoạt động
- Người lao động trong các hình thức tổ chức sản xuất ( hộ nông dân, trang
trại, hợp tác xã, doanh nghiệp)
* Về việc làm
- Số lượng, chất lượng việc làm phân theo ngành nghề, lĩnh vực hoạt động
trên địa bàn huyện
- Các chủ thể tạo việc làm và thu nhập cho người lao động trên địa bàn huyện
- Các cơ quan chính quyền, đoàn thể và các hình thức hiệp hội, tổ chức kinh
tế khác trong huyện
3.2 Phạm vi nghiên cứu
* Về không gian: Luận văn nghiên cứu vấn đề việc làm và giải quyết việc
làm cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
* Về thời gian:
- Tài liệu tổng quan được thu thập từ những tài liệu đã được công bố từ năm
2011 đến năm 2013
- Nghiên cứu thực trạng của địa phương từ 2011 đến nay, đề xuất phương
hướng và giải pháp cho huyện trong thời gian tới
4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của luận văn
Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, là tài liệu giúp
huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xây dựng quy hoạch phát triển nguồn nhân lực,
thực hiện hiệu quả chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo và
đẩy lùi các tệ nạn xã hội trên địa bàn
Đánh giá được thực trạng việc làm và tạo việc làm cho lao động nông thôn
trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc
làm cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị cho các cấp lãnh đạo địa phương và những ngành quan tâm đến việc làm cho lao động nông thôn huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì kết cấu luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm và tạo việc làm cho lao
động nông thôn
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng việc làm và tạo việc làm cho lao động nông thôn của
huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Chương 4: Một số phương hướng và giái pháp tạo việc làm cho lao động
nông thôn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1.1.Cơ sở lý luận
1.1.1.Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm cơ bản về nông thôn và lao động nông thôn
a, Khái niệm, đặc điểm của nông thôn
* Khái niệm: Nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có cộng đồng chủ yếu là nông dân sinh sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp hơn Theo từ điển bách khoa toàn thư thế giới thì “Nông thôn là khu vực mà ở đó tập trung dân cư sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp”
Ở Việt Nam, theo quy định về hành chính và thống kê, thì nông thôn là những địa bàn thuộc xã (những địa bàn thuộc phường hoặc thị trấn được quy định là khu vực thành thị) Cho đến nay, nông thôn ở nước ta được hiểu là nơi sinh sống và làm việc của một cộng đồng bao gồm chủ yếu là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là chính Nông thôn có cơ cấu hạ tầng, trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa thấp hơn so với thành thị
Hiện nay, khái niệm về nông thôn đã được nêu rõ tại Thông tư số 54 ngày
21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là: "Nông thôn là phần lãnh
thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã"
* Đặc điểm nông thôn: Nông thôn nước ta chiếm khoảng 76% dân số cả nước Đây thực sự là một lực lượng lao động bị chi phối lớn trong ngành sản xuất vật chất
b, Khái niệm về lao động
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm lao động, nhưng suy cho cùng lao động là hoạt động đặc thù của con người, phân biệt con người với con vật
và xã hội loài người và xã hội loài vật Bởi vì, khác với con vật, lao động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
biến những vật tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống của con
người Theo C.Mác “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và
tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm
trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” Ph.Ăngghen
viết: “Khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải Lao động đúng là
như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho lao động đem
biến thành của cải Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa,
lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế
đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo
ra bản thân loài người”
Như vậy, có thể nói lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con
người, trong quá trình lao động con người vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể
của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến
đổi nó phù hợp với nhu cầu của mình Nói cách khác, trong bất kỳ nền sản xuất xã
hội nào, lao động bao giờ cũng là điều kiện để tồn tại và phát triển của xã hội
c, Khái niệm lao động nông thôn
* Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động
trong hệ thống kinh tế nông thôn, được bố trí việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp
và ngành nghề tại nông thôn để tạo ra sản phẩm cho xã hội và thu nhập cho gia đình
và bản thân
* Đặc điểm của lao động nông thôn
Lao động nông thôn có những đặc điểm cơ bản sau:
- Trình độ thể lực hạn chế do kinh tế kém phát triển, mức sống thấp Điều
này ảnh hưởng đến năng suất lao động và trình độ phát triển kinh tế
- Trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cũng như trình độ tiếp cận thị trường
thấp Đặc điểm này cũng ảnh hưởng đến khả năng tự tạo việc làm của lao động
- Lao động nông thôn nước ta còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông,
sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động
- Khả năng tự tạo việc làm của lao động hạn chế
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.1.1.2 Tạo việc làm cho lao động nông thôn
a, Khái niệm về việc làm
Việc làm đối với mỗi người lao động, là được làm việc gắn với từng công việc cụ thể, không chỉ để tồn tại mà còn là sự hoàn thiện bản thân Đối với xã hội, việc làm tạo ra của cải vật chất và các dịch vụ cho tăng trưởng kinh tế và phát triển
xã hội Việc làm là mối quan tâm số một của người lao động, và giải quyết việc làm
là nhiệm vụ quan trọng của tất cả các quốc gia Cuộc sống của bản thân và gia đình người lao động phụ thuộc rất lớn vào việc làm của họ Sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng gắn liền với tính hiệu quả của chính sách giải quyết việc làm của quốc gia ấy
- Theo từ điển tiếng Việt, “Việc làm là công việc được giao và trả công sau khi hoàn thành” Khái niệm này tương đối rộng, việc làm có thể do người lao động
tự tạo ra để có thu nhập mà không cần phải ai giao
- Theo Bộ Luật lao động của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, khái niệm việc làm được xác định là: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”
b, Khái niệm về tạo việc làm
- Khái niệm Tạo việc làm: là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu
sản xuất; số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội cần thiết khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động
- Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo việc làm:
+ Nhân tố điều kiện tự nhiên, vốn, công nghệ: là các tiền đề vật chất để tiến hành bất cứ một hoạt động sản xuất nào
+ Nhân tố bản thân người lao động trong quá trình lao động: Bao gồm: thể lực, trí lực, kinh nghiệm quản lý sản xuất của người lao động
+ Cơ chế, chính sách kinh tế- xã hội của mối quốc gia: Việc làm được tạo ra như thế nào, chủ yếu cho đối tượng nào, với số lượng dự tính bao nhiêu,…phụ thuộc vào có cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
+ Hệ thống thông tin thị trường lao động: được thực hiện bởi chính phủ và các tổ chức kinh tế, cá nhân có nhu cầu tuyển dụng lao động thông qua các phường
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tiện thông tin đại chúng như báo chí, truyền hình, đài phát thanh, Các thông tin bao
gồm thông tin về: sẽ học nghề ở đâu? nghề gì? tìm việc ở đầu?
c, Tạo Việc làm cho lao động nông thôn: Là phát huy sử dụng tiềm năng có
sẵn của từng đơn vị, từng địa phương và của từng người lao động nhằm tạo ra
những công việc hợp lý ổn định và đầy đủ xong việc làm đó phải đem lại thu nhập
đảm bảo thỏa mãn nhu cầu đời sống hàng ngày cho người lao động
Tạo việc làm cho người lao động là một công việc hết sức khó khăn và nó
chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: Vốn đầu tư, sức lao động, nhu cầu thị
trường về sản phẩm
Bởi vậy tạo việc làm là quá trình kết hợp các yếu tố trên thông qua nó để
người lao động tạo ra các của cải vật chất (số lượng, chất lượng), sức lao động (tái
sản xuất sức lao động) và các điều kiện kinh tế xã hội khác
Ta nhận thấy rằng: Khối lượng của việc làm được tạo ra tỉ lệ thuận với các
yếu tố trên Chẳng hạn như vốn đầu tư để mua sắm thiết bị máy móc, nhà xưởng mở
rộng quy mô sản xuất là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn Khi vốn đầu tư tăng thì tạo
ra được nhiều chỗ làm việc mới và ngược lại đầu tư ít thì quy mô bị thu nhỏ lại kéo
theo sự giảm đi về số lượng việc làm được tạo ra
Mặt khác nhu cầu của thị trường về sản phẩm sản xuất ra còn ảnh hưởng
không nhỏ đến việc tạo ra chỗ làm mới Nếu sản phẩm sản xuất ra được đưa ra thị
trường đảm bảo cả về chất lượng và số lượng, mà thị trường chấp nhận Bởi vì sản
phẩm tiêu thụ được sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, các doanh nghiệp các nhà xưởng
sẽ mởp rộng quy mô sản xuất, đi đôi với mở rộng sản xuất là cầu về lao động tăng
lên Ngược lại khi cầu về sản phẩm hàng hoá giảm sẽ làm ngừng trệ sản xuất làm
cho lao động không có việc làm và dẫn đến tình trạng thất nghiệp
Ngoài ra còn một số các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến việc làm ở tầng vĩ
mô: Gồm các chính sách kinh tế của nhà nước vì khi các chính sách kinh tế phù hợp
sẽ tạo điều kiện khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển làm cho cầu lao
động tăng đồng nghĩa với việc tạo ra nhiều chỗ làm mới
Dân số và lao động là hai vấn đề có quan hệ rất chặt chẽ với nhau, quy mô
dân số càng lớn thì nguồn lao động càng nhiều và ngược lại khi nguồn lao động
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
càng lớn lại là sức ép đối với công tác tạo việc làm cho người lao động bởi vì: Khi cung về lao động lớn sẽ tạo ra một lượng lao động dư thừa cần giải quyết việc làm Ngược lại khi cầu lao động lớn hơn cung lao động sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động tham gia vào các ngành kinh tế Vì vậy tỉ lệ tăng dân số và nguồn nhân lực
có ảnh hưởng đến vấn đề lao động và tạo việc làm cho người lao động
Tạo việc làm được phân loại thành:
+ Tạo việc làm ổn định: Công việc được tạo ra cho người lao động mà tại chỗ
làm việc đó và thông qua công việc đó họ có thu nhập lớn hơn mức thu nhập tối thiểu hiện hành và ổn định theo thời gian từ 3 năm trở lên: Việc làm ổn định luôn tạo cho người lao động một tâm lý yên tâm trong công việc để lao động hiệu quả hơn
Tạo việc làm không ổn định: Được hiểu theo hai nghĩa Đó là:
+ Công việc làm ổn định nhưng người thực hiện phải liên tục năng động theo không gian, thường xuyên thay đổi vị trí làm việc nhưng vẫn thực hiện cùng một công việc
+ Công việc làm không ổn định mà người lao động phải thay đổi công việc của mình liên tục trong thời gian ngắn
Mục đích ý nghĩa của tạo việc làm
Tạo việc làm là quá trình tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất, công cụ sản xuất và sức lao động Tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động luôn là vấn đề bức xúc và quan trọng,nó mang mục đích ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với từng người lao động và toàn xã hội
Mục đích của tạo việc làm nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, các tiềm năng kinh tế, tránh lãng phí nguồn lực xã hội Về mặt xã hội tạo việc làm nhằm mục đích giúp con người nâng cao vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế, giảm được tình trạng thất nghiệp trong xã hội Không có việc làm là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội như: Trộm cắp, lừa đảo, nghiện hút giải quyết việc làm cho người lao động nhất là các thanh niên là hạn chế các tệ nạn xã hội do không có ăn, việc làm gây ra và giải quyết các vấn đề kinh
tế xã hội đòi hỏi Về mặt kinh tế khi con người có việc làm sẽ thoả mãn được các nhu cầu thông qua các hoạt động lao động để thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần,
ổn định và nâng cao đời sống của người lao động Việc làm hiện nay gắn chặt với
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thu nhập Người lao động không muốn làm ở những nơi có thu nhập thấp đó là một
thực tế do nhu cầu đòi hỏi của xã hội Hiện nay nhiều người lao động được trả công
rất rẻ mạt, tiền công không đủ sống dẫn đến tâm lý không thích đi làm, hiệu quả làm
việc không cao, ỷ lại ngại đi xa các thành phố thị xã Một mặt thất nghiệp nhiều ở
thành thị nhưng nông thôn lại thiếu cán bộ, thiếu người có trình độ chuyên môn
Bởi vậy tạo điều kiện có việc làm cho người lao động thôi chưa đủ mà còn tạo việc
làm gắn với thu nhập cao mang lại sự ổn định cuộc sống cho người lao động
Giải quyết việc làm, tạo việc làm cho người lao động có ý nghĩa giúp họ
tham gia vào quá trình sản xuất xã hội cũng là yêu cầu của sự phát triển, là điều
kiện cơ bản cho sự tồn tại và phát triển của con người Như vậy, có thể nói, giải
quyết việc làm, tạo việc làm là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh tế-xã hội từ
vi mô đến vĩ mô tác động đến người lao động để có thể có việc làm
d Các hoạt động nhằm tạo việc làm cho lao động nông thôn
Những năm qua, công tác giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động
nông thôn đã đạt được kết quả bước đầu rất quan trọng Cơ chế, chính sách về lao
động, việc làm được chú trọng, phù hợp với cơ chế thị trường và từng bước hội nhập
với thị trường lao động quốc tế Hệ thống văn bản quản lý nhà nước về lao động, việc
làm được bổ sung ngày càng hoàn thiện Nhiều luật mới ra đời và đi vào thực tiễn đời
sống như Bộ luật Lao động, Luật Dạy nghề, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật người lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài,… và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành đã
tạo ra hành lang pháp lý về giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn
Cùng với cơ chế, chính sách và hệ thống văn bản pháp luật là các chương trình
mục tiêu: Chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn; Chương trình phát triển
công nghiệp, dịch vụ; Chương trình xây dựng và phát triển các khu chế xuất, khu
công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao và các chương trình, dự án trọng điểm kinh
tế - xã hội được thực hiện, góp phần giải quyết việc làm, từng bước nâng cao đời
sống của người lao động Hằng năm, các chương trình mục tiêu này đã giải quyết
việc làm cho 1,1 đến 1,2 triệu lao động, trong số đó đa số là thanh niên nông thôn
Thực hiện Chương trình về việc làm, Nhà nước thông qua các chính sách,
nguồn lực hỗ trợ có sự lồng ghép với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội
khác như Chương trình 134, Chương trình 135, phát triển kết cấu hạ tầng về đường
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
giao thông, thủy lợi, điện, nước sạch, trạm xá, trường học, công trình văn hóa,… phục vụ cho phát triển nông nghiệp xây dựng nông thôn mới và cải thiện đời sống cho nông dân Ngoài ra, Nhà nước còn thực hiện các dự án về tín dụng việc làm với lãi suất ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động, gắn dạy nghề với tạo việc làm và tự tạo việc làm cho thanh niên Trung bình hằng năm các dự án này đã tạo ra việc làm cho 300.000 đến 350.000 lao động, chủ yếu là lao động thanh niên nông thôn; góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo ở nước ta từ 60% đầu những năm 1990 xuống còn 9,6% năm 2012(2) Số lượng và tỷ
lệ thanh niên tham gia hoạt động kinh tế năm 2008 là hơn 16 triệu, chiếm 67,2% tổng số thanh niên cả nước, bằng 38,7% lực lượng lao động xã hội; năm 2009, con
số đó là gần 18 triệu, chiếm 75,4% tổng số thanh niên, bằng 36,6% lực lượng lao động xã hội và năm 2010 là 17,1 triệu, chiếm 75,9% tổng số thanh niên, bằng 33,7% lực lượng lao động xã hội Tính đến thời điểm 1-10-2012, cả nước có 53,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động (trong đó 70% là lao động thuộc khu vực nông thôn) Hằng năm, có 1,2 đến 1,6 triệu thiếu niên bước vào độ tuổi thanh niên bổ sung cho lực lượng lao động trẻ
Hiện nay, thanh niên lao động ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm tỷ lệ 87,7%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là 4% (tăng 4 lần so với năm 2000)(3) Trình độ chuyên môn, kỹ thuật của thanh niên tham gia hoạt động kinh tế ngày càng tăng Cụ thể, lực lượng lao động thanh niên có trình độ trung cấp chuyên nghiệp năm 2008 là 4,1%, năm 2009 là 6,2%, năm 2012 là 7,5%; tương tự qua các năm, trình độ cao đẳng, đại học là 5,5%, 7,8% và 8,7% Trung bình mỗi năm có khoảng 70 đến 80 nghìn sinh viên cao đẳng, 143 đến 160 nghìn sinh viên đại học tốt nghiệp bổ sung cho lực lượng lao động là thanh niên Đây là nguồn tiềm năng lớn của nước ta trong việc phát huy nội lực của đất nước để phát triển
Bên cạnh một số kết quả đạt được, vấn đề lao động và việc làm của thanh niên nông thôn vẫn trong tình trạng thiếu ổn định, thất nghiệp có chiều hướng gia tăng Số liệu điều tra về lao động và việc làm của thanh niên nông thôn cho thấy cả nước hiện có trên 22,5 triệu thanh niên chiếm 26% dân số, 33,7% lực lượng lao động xã hội thì trong đó 75% là thanh niên nông thôn Những năm qua, đất nông nghiệp thuộc diện thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thị, và các công trình công cộng,… tăng mạnh nên thanh niên nông thôn càng thêm
thiếu việc làm
Tại 49 tỉnh, thành phố trong cả nước từ năm 2004 đến năm 2013 đã thu hồi
750.000 héc-ta đất để thực hiện 29.000 dự án đầu tư, trong đó 80% là đất nông nghiệp,
50% diện tích trong số đó là đất thuộc vùng kinh tế trọng điểm, đất đai màu mỡ trồng
hai vụ lúa một năm Điều đáng nói là, đất bị thu hồi đưa vào dự án nhưng không được
triển khai kịp thời, đất bị bỏ hoang trong nhiều năm nên “kỳ vọng” của những lao động
bị đưa ra khỏi mảnh đất của họ để sau đó sẽ được thu hút vào làm việc tại các khu công
nghiệp như lời hứa của các doanh nghiệp bị rơi vào im lặng Công tác bồi thường, đào
tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ giải quyết việc làm, tái định cư,… cũng có nhiều bất cập
Hệ lụy là thanh niên nông thôn vẫn không có việc làm hoặc có việc làm nhưng thu
nhập không ổn định bởi công tác đào tạo nghề chưa được đáp ứng đủ để thanh niên có
đất bị thu hồi chuyển đổi nghề nghiệp phù hợp Một bộ phận lớn thanh niên nông thôn
không có khả năng tìm kiếm việc làm mới, không chuyển đổi được nghề nên đời sống
khó khăn, làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực cho xã hội
Thiếu việc làm, không ít thanh niên nông thôn chơi bời, lêu lổng sa vào cờ
bạc, rượu chè, nghiện hút và các tệ nạn xã hội khác Đây là nhóm người được đánh
giá là có nguy cơ cao về các tệ nạn xã hội Trước những khó khăn về việc làm,
nhiều người đã ra thành phố, đến các khu đô thị, khu công nghiệp để tìm kế mưu
sinh Tuy nhiên, đại đa số việc làm không ổn định, thu nhập bấp bênh, bởi trình độ
học vấn thấp, quan hệ xã hội hạn hẹp, ít có điều kiện tiếp cận và sử dụng các tư liệu
lao động hiện đại nên họ chỉ có thể làm được những công việc giản đơn theo vụ việc
với mức lương thấp, đời sống khó khăn, tạm bợ Số liệu điều tra xã hội học về lao
động và việc làm với đối tượng là lao động thanh niên ở nông thôn thì số người
không được đào tạo nghề chiếm 68,4%, số người không có đất để sản xuất - kinh
doanh là 53,1%, loại khó khăn tiếp cận các nguồn vốn là 22,3%, thiếu kinh nghiệm
sản xuất là 26,5%, thiếu thông tin về thị trường lao động là 23,3%(4)
Có một thực tế là các doanh nghiệp chưa coi thanh niên nông thôn là lực lượng
lao động chủ chốt nên chưa nhiệt tình và tin cậy để hỗ trợ tài chính cho các hoạt động
sản xuất - kinh doanh Số thanh niên được vay vốn để phát triển sản xuất chưa nhiều
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Việc phổ biến nghề mới, đào tạo nghề, tư vấn nghề và hỗ trợ các kỹ năng nghề cũng như hỗ trợ, khuyến khích đầu tư vào khu vực nông thôn còn rất hạn chế
Một bất cập khác cần quan tâm là trình độ học vấn, nhận thức, năng lực quản lý, trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền và Đoàn Thanh niên ở cơ sở nông thôn còn hạn chế, dẫn đến tình trạng thiếu khả năng tìm cách giải quyết việc làm cho thanh niên, thậm chí trong quá trình thực thi làm chính sách, pháp luật còn có sai lệch, tiêu cực, như cục bộ, bảo thủ, lạc hậu, chậm đổi mới, không thu hút và giữ chân được lực lượng lao động trẻ đã qua đào tạo có năng lực làm việc tại địa phương
1.1.2 Vai trò của nông thôn và việc làm đối với lao động nông thôn
1.1.2.1 Vai trò của nông thôn
- Nông thôn là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống của người dân;
- Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu;
- Cung cấp hàng hóa cho xuất khẩu;
- Cung cấp lao động cho công nghiệp và thành thị;
- Là thị trường rộng lớn để tiêu thụ những sản phẩm của công nghiệp và dịch vụ;
- Phát triển nông thôn tạo điều kiện ổn định về mặt kinh tế- chính trị - xã hội;
- Nông thôn nằm trên địa bàn rộng lớn về các mặt tự nhiên- kinh tế- xã hội;
1.1.2.2 Vai trò của việc làm đối với lao động nông thôn
Việc làm đối với bản thân người lao động, sẽ tạo cơ hội để người lao động có thu nhập đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình đồng thời đóng góp cho xã hội Việc làm đối với lao động động nông thôn có vai trò quan trọng, nếu giải quyết tốt việc làm cho lao động nông thôn sẽ tạo điều kiện và là cơ sở để triển khai các chính sách xã hội như: văn hóa, giáo dục, y tế… góp phần đảm bảo an toàn và
ổn định xã hội
Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn có mục tiêu hướng vào toàn dụng lao động ở nông thôn, chống thất nghiệp và khắc phục tình trạng thiếu việc làm đảm bảo thu nhập Ngoài ra việc làm với lao động nông thôn còn gắn với công cuộc xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
1.1.3.1 Nhân tố về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trong những nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng nguồn công việc, tạo việc
làm cho người lao động, trước hết phải nói đến nhân tố có tính chất tự nhiên, vốn có
sẵn ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương, đó là nhân tố tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Vì
thế nó là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và là cơ sở quan
trọng đầu tiên để tạo việc làm cho người lao động
Tài nguyên thiên nhiên bao gồm tất cả các nguồn khoáng sản, đất đai, năng
lượng có trên mặt đất, dưới lòng đất, trong rừng, dưới biển Ngay cả vị trí địa lý,
khí hậu, thời tiết thuận lợi cũng là những tài nguyên quý giá cho sự tồn tại và phát
triển của con người và xã hội
Mỗi quốc gia, mỗi địa phương nằm trên những vị trí địa lý nhất định, có thể
thuận lợi hoặc khó khăn về mặt khí hậu thời tiết, nhiệt độ, lượng gió, mưa, bão lụt,
hạn hán Những yếu tố này ảnh hưởng đến sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông, lâm,
ngư nghiệp Do đó, mỗi nước, mỗi địa phương có thể có những cách thức tổ chức
sản xuất lao động khác nhau Với những vùng có vị trí địa lý thuận lợi về thời tiết
khí hậu như nước ta: cây cối xanh tươi, hoa quả bốn mùa, các loại cây con, thủy hải
sản đa dạng phong phú, đất đai màu mỡ, chúng ta có thể phát triển nông nghiệp,
công nghiệp chế biến, xuất khẩu các mặt hàng đặc sản quý hiếm trên thị trường
quốc tế Đây cũng là những lợi thế nhất định ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương trong
việc tạo việc làm, mở rộng số lượng loại việc làm thu hút người lao động Tất nhiên,
cũng có khi khí hậu, thời tiết ảnh hưởng xấu đến sản xuất lao động Nắng lắm, mưa
nhiều, hạn hán, lũ lụt, bão, những cơn "sóng thần" gây rất nhiều khó khăn cho việc
tổ chức sản xuất Vì vậy, mỗi quốc gia, mỗi địa phương phải căn cứ vào điều kiện
thiên nhiên nước mình, địa phương mình để tổ chức tạo việc làm cho người lao
động sao cho có hiệu quả cao nhất
Cùng với vị trí địa lý, nguồn tài nguyên đất đai, khoáng sản, sông ngòi, bờ
biển, rừng núi cũng ảnh hưởng rất lớn đến tạo việc làm Vai trò của đất đai đối với
lao động, việc làm là cực kỳ quan trọng Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, đất
canh tác là tư liệu lao động đồng thời là đối tượng lao động của người nông dân Tỷ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
lệ đất canh tác ở Việt Nam chỉ chiếm 21% đất tự nhiên nên bình quân diện tích canh tác trên một lao động nông nghiệp rất thấp đã ảnh hưởng đến việc làm và năng suất của lao động nông nghiệp
1.1.3.2 Nhân tố về dân số
Dân số và kinh tế xã hội là những yếu tố vận động theo các quy luật khách quan trong quá trình tái sản xuất xã hội, nhưng lại có quan hệ hữu cơ với nhau Một trong những mối liên hệ quan trọng giữa dân số và lao động là vấn đề tăng trưởng lực lượng lao động và cơ hội tạo việc làm phù hợp
Khi dân số thay đổi, một vấn đề cần được đặc biệt quan tâm là sự thay đổi lực lượng lao động trong dân số Chúng ta đều biết rằng quy mô, cơ cấu và sự phân bố dân
số có quan hệ ảnh hưởng quyết định đến quy mô, cơ cấu, phân bổ, sử dụng LLLĐ Dân số tăng nhanh là áp lực đối với vấn đề tạo việc làm cho LLLĐ Quan sát cho thấy, ở tất cả các nước trên thế giới, tỷ lệ tham gia LLLĐ của nhóm tuổi 15 -
60 là cao nhất trong LLLĐ so với các nhóm tuổi khác Nếu tỷ lệ dân số trong độ tuổi 15 - 60 tăng thì LLLĐ sẽ tăng ngay cả khi sự tham gia LLLĐ theo nhóm tuổi không tăng Trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của nhiều nước, việc khống chế mức tăng dân số thường được gắn với vấn đề giảm áp lực đối với việc làm Việc giảm tỷ lệ gia tăng dân số cũng có nghĩa là có sự đầu tư cao hơn vào các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa nhằm nâng cao chất lượng lao động
Một vấn đề quan trọng cần được chú ý là, trong vòng 15 năm tới, cho dù mức sinh có đạt đến tỷ lệ giới hạn nào đó thì những người tham gia vào LLLĐ sẽ vẫn còn cao hơn tốc độ tăng dân số Các nhà quản lý cần phải thấy trước để tạo việc làm cho người lao động Số lượng việc làm trong xã hội ngày càng phải mở rộng để khai thác tốt LLLĐ này
Theo chiến lược dân số và kế hoạch hoá gia đình, đến năm 2020 Việt Nam sẽ
có một LLLĐ khoảng 56 triệu người, vì vậy nhu cầu việc làm ngày càng lớn Về mặt kinh tế xã hội, đây là một điều vừa có lợi vừa bất lợi LLLĐ dồi dào là một lợi thế trong phát triển kinh tế xã hội, nếu biết khai thác và sử dụng có hiệu quả, nhưng nếu không tạo được việc làm thì sẽ gây nên những hậu quả khó lường
1.1.3.3 Nhân tố liên quan đến giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang làm thay đổi tính chất
và nội dung nghề nghiệp của người lao động Cách mạng công nghệ đã dẫn đến việc
sử dụng công cụ, phương tiện hiện đại, phức tạp nên lao động trí óc dần dần đã thay
thế lao động chân tay Nếu trình độ học vấn, mặt bằng dân trí được nâng cao thì
năng lực làm việc của con người sẽ được mở rộng Người lao động có trí tuệ không
chỉ nắm vững sâu sắc chuyên môn một nghề mà họ còn có thể tham gia ở những
nghề khác, nghĩa là họ có thể có khả năng làm nhiều loại công việc Tuy nhiên, theo
C.Mác thì khi ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại thường dẫn
đến tăng kết cấu hữu cơ tư bản và tăng năng xuất lao động, mà:
Sự tăng năng xuất lao động thể hiện ra ở việc giảm bớt khối lượng lao động
so với khối lượng tư liệu sản xuất mà lao động đó làm cho hoạt động, hay là thể
hiện ra ở sự giảm bớt đại lượng của nhân tố chủ quan của quá trình lao động so với
nhân tố khách quan của quá trình đó
Vì vậy, phần bất biến của tư bản vận động cùng chiều với sự tăng lên của
tích luỹ tư bản, còn bộ phận tư bản khả biến thì nói chung sẽ vận động ngược chiều
với sự tăng lên của tích luỹ
Không những thế, khi đổi mới tư bản cố định, thường thường người ta thay
bằng máy móc thiết bị hiện đại hơn, khiến cho một số lao động ít hơn cũng đủ để vận
dụng một khối lượng máy móc và nguyên liệu lớn hơn, gây ra sự giảm sút tuyệt đối
lượng cầu về lao động Đồng thời công nghệ hiện đại đòi hỏi người vận hành, quản lý
công nghệ phải có trình độ tương ứng với trình độ công nghệ sử dụng làm cho lao động
có kỹ năng thấp bị xa thải để tuyển chọn lao động có kỹ năng, trình độ tiên tiến
Ở nước ta hiện nay, trình độ công nghệ sử dụng trong các ngành kinh tế lạc
hậu so với trình độ trung bình tiên tiến trên thế giới từ 2 đến 3 thế hệ kỹ thuật
(không kể một số lĩnh vực mới như: dầu khí, viễn thông) Một số ngành công
nghiệp then chốt như cơ khí, chế tạo động cơ có trình độ công nghệ lạc hậu 30-50
năm so với các nước phát triển trung bình Vì vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
gắn với kinh tế mở và hội nhập kinh tế quốc tế nhằm rút ngắn khoảng cách lạc hậu
về trình độ công nghệ so với các nước là con đường tất yếu để phát triển nhanh nền
kinh tế nước ta
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nhưng hiện nay, việc đổi mới công nghệ lại mâu thuẫn với tiềm năng nguồn lực về vốn ít và lực lượng lao động dồi dào Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang đặt ra một vấn đề: lựa chọn công nghệ cần đổi mới trong từng thời kỳ, từng giai đoạn như thế nào cho phù hợp Ngành nào, khâu nào, lĩnh vực nào cần lựa chọn trình độ công nghệ ra sao để vừa đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá sản xuất, vừa tận dụng được tiềm năng lao động để tăng việc làm trong điều kiện nguồn vốn hạn hẹp đang là bài toán đặt ra trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.3.4 Nhân tố quốc tế trong quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế
Quan điểm phát triển kinh tế hàng hóa cùng với việc thực hiện phân công lao động và hợp tác quốc tế tất yếu đặt ra yêu cầu khách quan phải xây dựng một cơ cấu kinh tế mới
Sự điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo cơ chế thị trường làm cho mâu thuẫn giữa lao động và việc làm ngày càng gay gắt Việc tổ chức lại lao động trên phạm vi toàn
xã hội, điều chỉnh cơ cấu lao động xã hội cho phù hợp với cơ cấu của nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tất sẽ dẫn đến dư thừa lao động Theo V.I Lênin, thì sự phát triển kinh tế hàng hóa khiến một bộ phậm ngày càng đông trong dân cư tách khỏi nông nghiệp, tức là nhân khẩu công nghiệp tăng lên làm cho nhân khẩu nông nghiệp giảm xuống, V.I.Lênin nhắc lại luận điểm của C.Mác:
Xu hướng tách và đẩy lao động là rất lớn, trước hết là lao động ở khu vực nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Đó là sự không phù hợp giữa cơ cấu lao động cũ với cơ cấu nền kinh tế đang trong quá trình chuyển dịch: chúng ta vừa thiếu lao động kỹ thuật, lao động chất xám, lại thừa khá nhiều lao động phổ thông, làm cho năng suất xã hội còn thấp Từ đó dẫn đến các dòng "di chuyển" chất xám ngày càng lớn, chủ yếu là từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sự di chuyển lao động từ nông thôn ra các thành phố lớn, các đô thị ngày càng tăng lên cùng với sự gia tăng các vấn đề xã hội nổi cộm cần phải giải quyết
Do đó, tạo việc làm cho người lao động phải lấy mục tiêu của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế để xác định hướng phát triển Để có một đội ngũ lao động đáp ứng những việc làm đa dạng phù hợp với cơ cấu kinh tế mới, ngay từ khâu đào tạo, bồi dưỡng, hướng nghiệp đến tổ chức nơi làm việc, cần phải nắm bắt các cơ hội, đi tắt, đón đầu, hình thành những ngành kỹ thuật mũi nhọn, phát triển theo trình độ khoa học công
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nghệ tiên tiến của thế giới Tạo việc làm tập trung vào những khâu cần thiết và có thể
thực hiện có hiệu quả các công nghệ tiên tiến, đồng thời cải tiến công nghệ truyền
thống nhằm tạo đà cho nền kinh tế phát triển nhanh chóng ở những thập kỷ sau
Thị trường lao động là toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh
vực thuê mướn lao động (nó bao gồm các quan hệ lao động cơ bản nhất như thuê
mướn và sa thải lao động, tiền lương và tiền công, bảo hiểm xã hội, tranh chấp lao
động ) ở đó diễn ra sự trao đổi, thoả thuận giữa một bên là người lao động tự do và
một bên là người sử dụng lao động
Giải quyết việc làm trong cơ chế thị trường về thực chất là giải quyết mối
quan hệ giữa cung và cầu về lao động trên thị trường lao động
Cung về lao động biểu hiện khối lượng lao động (số lượng, chất lượng và cơ
cấu của lực lượng lao động) tham gia vào thị trường lao động trong một thời gian
nhất định
Cầu về lao động là khả năng thuê lao động trên thị trường lao động
Trên thị trường lao động, mức cung - cầu lao động ảnh hưởng trực tiếp tới
mức tiền lương và ngược lại, sự thay đổi mức tiền lương cũng làm thay đổi cung -
cầu lao động, điều chỉnh quan hệ cung - cầu lao động trên thị trường
Khi cung lớn hơn cầu sẽ dẫn đến dư thừa lao động, làm gia tăng số người
không có việc làm và ngược lại Trên thị trường lao động, cung cầu lao động
thường xuyên biến động và chịu sự tác động của nhiều yếu tố, tạo ra mâu thuẫn
giữa cung và cầu Đối với nước ta hiện nay, trình độ phát triển kinh tế còn thấp, khả
năng mở rộng sản xuất có hạn trong khi nguồn lao động dồi dào, tỷ lệ tăng cung lao
động cao, cung lao động luôn lớn hơn cầu, dẫn đến sức ép rất lớn về việc làm, đòi
hỏi Chính phủ phải có những biện pháp nhằm giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp
để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
1.1.3.5 Nhân tố về chính sách vĩ mô
Các chính sách vĩ mô của Nhà nước có vai trò to lớn trong việc tạo việc làm,
đồng thời điều chỉnh việc làm phù hợp với mục tiêu, trình độ phát triển của nền
kinh tế trong từng thời kỳ
Có rất nhiều chính sách tác động đến việc làm như chính sách tạo vốn, chính
sách đất đai, chính sách thuế hợp thành một hệ thống chính sách hoàn chỉnh có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
quan hệ qua lại, bổ sung cho nhau hướng vào phát triển cả cung và cầu về lao động, đồng thời làm cho cung và cầu phù hợp với nhau Thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động
Khi các chính sách vĩ mô của Nhà nước đúng đắn và thích hợp sẽ tạo ra nhân
tố, môi trường, động lực khuyến khích các chủ doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động
mở rộng đầu tư nhằm thu lợi nhuận, tạo việc làm, khai thác tối ưu mọi nguồn lực vào mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh Ngược lại, khi các chính sách vĩ mô của Nhà nước không phù hợp, nó sẽ kìm hãm và tạo nên tâm lý chán nản trong đầu
tư kinh doanh, quy mô sản xuất thu hẹp dẫn đến việc làm giảm sút
Vì vậy, số lượng, chất lượng việc làm, khả năng tạo việc làm chính là một trong những thước đo quan trọng biểu hiện trình độ hoạch định và tính khả thi của hệ thống các chính sách vĩ mô của Nhà nước trong quản lý, điều hành kinh tế - xã hội
Ở nước ta, phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm cho người lao động là chính sách xã hội cơ bản, là hướng ưu tiên trong toàn bộ các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta
Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta, vấn đề giải quyết việc làm được đặt biệt nhấn mạnh:
Phương hướng quan trọng nhất là Nhà nước cùng toàn thể nhân dân ra sức đầu tư phát triển, thực hiện tốt kế hoạch và các chương trình kinh tế - xã hội Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật Phát triển dịch vụ việc làm Tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cư trên các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh - quốc phòng Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị
và thiếu việc làm ở nông thôn
Như vậy, từ quan điểm giải quyết việc làm chỉ là trách nhiệm của Nhà nước với hai thành phần kinh tế cơ bản là quốc doanh và tập thể trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung thì nay quan điểm mới của Đảng và Nhà nước ta đã có những thay đổi lớn "Cùng với Nhà nước, mỗi công dân, mỗi gia đình, mỗi tổ chức đều có thể được
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
phép tạo mở việc làm, người lao động được làm việc trong các thành phần kinh tế
bao hàm mọi hình thức tổ chức kinh doanh không bị pháp luật ngăn cấm, kinh tế hộ
gia đình, các hoạt động trong khu vực kinh tế không kết cấu "
Với quan điểm nhất quán về giải quyết việc làm, trong văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX, một lần nữa Đảng ta khẳng định: "Giải quyết việc làm là
một chính sách xã hội cơ bản", với các phương hướng:
Bằng nhiều giải pháp tạo ra nhiều chỗ làm việc mới, tăng quỹ thời gian lao
động được sử dụng, nhất là trong nông nghiệp và nông thôn Các thành phần kinh tế
mở mang các ngành nghề, các cơ sở sản xuất, dịch vụ có khả năng sử dụng nhiều
lao động Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo an toàn vệ sinh lao động,
phòng chống thiên tai và bệnh nghề nghiệp cho người lao động Khôi phục và phát
triển các làng nghề Tổ chức quản lý chặt chẽ hoạt động xuất khẩu lao động và bảo
vệ quyền lợi của người lao động ở nước ngoài Khẩn trương mở rộng hệ thống bảo
hiểm xã hội và an sinh xã hội, xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm đối với
người lao động thất nghiệp
Từ quan điểm và định hướng trên đây, Nhà nước ta đã có các chính sách
kinh tế xã hội chủ yếu tác động tới phát triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làm
như: Chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần: chính sách khuyến khích sản
xuất hàng hóa xuất khẩu; chính sách tín dụng ưu đãi để các doanh nghiệp đầu tư
chiều sâu, đổi mới công nghệ; chính sách khuyến khích tìm kiếm thị trường xuất
khẩu lao động, chính sách giáo dục đào tạo nghề cho lao động; chính sách khuyến
khích đầu tư trong và ngoài nước thông qua chính sách đất đai, thuế, đầu tư
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm về tạo việc làm cho lao động nông thôn ở một số nước trên
thế giới
1.2.1.1 Kinh nghiệm về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của Nhật Bản
Để tạo việc làm cho lao động nông thôn Chính Phủ Nhật đã đưa ra giải pháp
phát triển nông thôn mới, từ đó giải quyết và tạo việc làm cho lao động nông thôn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nổi bật nhất trong chính sách xây dựng nông thôn mới của Nhật Bản đó là phong trào “ Mỗi làng một sản phẩm” Phong Trào này của Nhật Bản đã có sức lan tỏa rất rộng
Phong trào “mỗi làng, một sản phẩm” do Giáo sư Hiramatsu Morihiko, Chủ tịch tỉnh Oita khởi xướng từ năm 1979, đã được nhân rộng trên toàn nước Nhật Hiện nay
mô hình đã được áp dụng thành công tại nhiều quốc gia Châu Á và châu Phi Phong trào “mỗi làng, một sản phẩm” khuyến khích nỗ lực của người dân địa phương trong việc tận dụng nguồn lực địa phương, phát huy sức mạnh cộng đồng, bảo tồn các làng nghề truyền thống và thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn Từ những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng các thương hiệu đặc sản nổi tiếng của Nhật Bản như nấm hương khô, rượu Shochu lúa mạch, chanh Kabosu…, Giáo sư Hiramatsu nêu ba nguyên tắc chính xây dựng phòng trào “ mỗi làng, một sản phẩm” Đó là địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu; tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo;
và phát triển nguồn nhân lực Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm
Theo Giáo sư Hiramatsu, mỗi địa phương cần chọn ra một đặc sản riêng của vùng quê mình, quảng bá nó, tạo thương hiệu mang tính toàn cầu thì sản phẩm đó mới có giá trị hàng hóa cao
Bên cạnh việc nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ cung ứng, Phong trào cũng đề cao vai trò của việc nghiên cứu phát triển và đào tạo nguồn nhân lực
Vì đây chính là yếu tố thúc đẩy sự phát triển một cách bền vững Và một yếu tố khác khiến cho Phong trào OVOP thành công tại Nhật Bản đến như vậy là vì Phong trào đã hình thành nên cho người sản xuất tinh thần lao động với ý thức rất cao về sản phẩm của mình làm ra
Năm 2003, thu nhập bình quân đầu người của người dân đạt 22.800 USD/người/năm, cao gấp 2 lần so với thời điểm bắt đầu triển khai Phong trào Giá trị sản phẩm nông nghiệp bình quân đầu người cũng cao gấp đôi Trong đó sản phẩm chanh Kabosu của tỉnh này vươn lên chiếm 100% thị phần trong nước Phong trào đã nhanh chóng lan ra nhiều nước ở châu Á, châu Phi như: Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Tuynidi
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Có 3 nguyên tắc cơ bản để phát triển Phong trào OVOP: Hành động địa
phương nhưng tư duy toàn cầu; tự tin sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực Mỗi
địa phương, tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mình, lựa chọn ra những sản
phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của địa phương để phát triển
1.2.1.2 Kinh nghiệp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở Hàn Quốc
Cũng như Nhật Bản Hàn Quốc Trong trong chính sách phát triển kinh tế và
tạo việc làm cho lao động nông thôn Hàn Quốc đã đưa ra chính sách xây dựng nông
thôn mới với phong trào “Làng mới”
Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc
chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện
thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước
nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của
chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo
Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực
vượt khó, và, hợp tác (hiệp lực cộng đồng)
Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả,
Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU và được nông dân
hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao
thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng
được đầu tư xây dựng
Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn, áp dụng canh tác tổng hợp
với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu
Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc
làm và cải thiện thu nhập cho nông dân Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những
thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau 8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông
thôn cơ bản được hoàn thành Trong 8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa
được 43.631km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp
được 1.322m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là
1.280m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối),
kiên cố hóa 7.839km đê, kè, xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng
Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Cụ thể là, năm 1971, cứ 3 làng mới có 1 máy cày, thì đến năm 1975, trung bình mỗi làng đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm 1980 Từ đó, tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế Thắng lợi đó được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn
Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông
thôn - phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước bỏ ra 1 vật
tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình Năm 1971, Chính phủ chỉ hỗ trợ cho 33.267 làng, mỗi làng 335 bao xi măng
Năm 1972 lựa chọn 1.600 làng làm tốt được hỗ trợ thêm 500 bao xi măng và
1 tấn sắt thép Sự trợ giúp này chính là chất xúc tác thúc đẩy phong trào nông thôn mới, dân làng tự quyết định mức đóng góp đất, ngày công cho các dự án
Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục vụ
sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa Chính phủ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn
để chế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông thôn, cho vay thúc đẩy sản xuất Từ năm 1972 đến năm 1977, thu nhập trung bình của các hộ tăng lên 3 lần
Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác định
nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào SU là đội ngũ cán bộ cơ sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu Hàn Quốc đã xây dựng 3 trung tâm đào tạo quốc gia và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương Nhà nước đài thọ,
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
mở các lớp học trong thời gian từ 1-2 tuần để trang bị đủ kiến thức thiết thực như kỹ
năng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án, phát triển cộng đồng
Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập hội
đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên cơ sở công khai,
dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương
Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựa
chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình
Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc đã
thiết lập lại các hợp tác xã (HTX) kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân, cán
bộ HTX do dân bầu chọn Phong trào SU là bước ngoặt đối với sự phát triển của
HTX hoạt động đa dạng, hiệu quả trong dịch vụ tín dụng, cung cấp đầu vào cho sản
xuất, tiếp thị nông sản, bảo hiểm nông thôn và các dịch vụ khác Trong vòng 10
năm, doanh thu bình quân của 1 HTX tăng từ 43 triệu won lên 2,3 tỉ won
Thứ sáu, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh toàn
dân Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp, hỗ trợ giống, tập
huấn cán bộ kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng rừng để hướng dẫn và yêu cầu
tất cả chủ đất trên vùng núi trọc đều phải trồng rừng, bảo vệ rừng Nếu năm 1970,
phá rừng còn là quốc nạn, thì 20 năm sau, rừng xanh đã che phủ khắp nước, và đây
được coi là một kỳ tích của phong trào SU
Phong trào SU của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành
cộng đồng nông thôn mới ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở
thành xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào
SU, với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp
lạc hậu trở nên giàu có Góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thông
1.2.1.3 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở Thái Lan
Kinh nghiệm quan trọng trong giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
Thái Lan là sự liên kết theo mô hình tam giác giữa nhà nước, công ty và hộ gia
đình Trong đó công ty giao nguyên liệu cho hộ gia đình gia công những công đoạn
phù hợp Nhà nước hỗ trợ vốn và kỹ thuật, bồi dưỡng tay nghề cho nông dân cũng
như tạo quan hệ hợp đồng gia công giữa các hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ với
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
các doanh nghiệp lớn Do vây, các ngành nghề truyền thống, các ngành phi nông nghiệp đều phát triển mạnh, góp phần to lớn vào giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn
1.2.1.4 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở Liên bang Malaysia
Liên bang Malaysia có diện tích tự nhiên là 329,8 nghìn km2 với dân số là 22,2 triệu người (năm 1998), mật độ dân số là gần 70 người/km2 Như vậy, mật độ dân số thấp hơn nhiều nước ta Trong khi đó, hiện nay Malaysia có nền kinh tế phát triển khá cao ở khu vực Đông Nam Á, lao động được thu hút mạnh vào các ngành phi nông nghiệp Vì vậy, hiện nay Malaysia là nước thiếu lao động và phải nhập lao động từ bên ngoài Tuy nhiên, thời kỳ đầu công nghiệp hoá, Malaysia cũng dư thừa lao động ở nông thôn và đã giải quyết vấn đề này rất thành công
Malaysia đã thực hiện rất thành công chuyển dịch cơ cấu lao động trong nền kinh tế quốc dân Năm 1996 lao động trong ngành nông lâm nghiệp chỉ còn chiếm 16,84% tổng lao động đang làm việc trong nền kinh tế
Để đạt được kết quả như vậy, Malaysia đã thực hiện một số biện pháp cụ thể như sau:
Thứ nhất, ngay thời kỳ đầu công nghiệp hoá, Malaysia đã đặc biệt chú trọng phát triển nông nghiệp, phát triển các loại cây công nghiệp phù hợp với điều kiện về đất đai, khí hậu của mỗi vùng Cùng với phát triển nông nghiệp, Malaysia cũng chú trọng phát triển công nghiệp chế biến nông sản, điều đó rất có hiệu quả trong việc tìm đầu ra cho sản xuất nông nghiệp và giải quyết việc làm cho nông dân Từ thập
kỷ 1960 Malaysia đã quan tâm áp dụng khoa học vào sản xuất nông nghiệp và phát triển công nghiệp cơ khí phục vụ cơ giới hoá nông nghiệp
Thứ hai là, đẩy mạnh khai hoang phát triển sản xuất nông nghiệp, giải quyết lao động dư thừa trong nông thôn Đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông thôn cũng như đầu tư vào các cơ sở phúc lợi xã hội khác
Thứ ba là, thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào phát triển công nghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biến nông sản, điều đó góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho các ngành hàng nông sản và chuyển dịch nhanh lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thứ tư là, thực hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa các cơ quan nghiên cứu khoa
học, các cơ sở đào tạo, các tổ chức công nghiệp chế biến với các hộ nông dân nhằm
đẩy nhanh tiến bộ khoa học vào sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, kết hợp xây
dựng cơ sở hạ tầng với công nghiệp chế biến, xây dựng nông thôn phát triển toàn diện
1.2.1.5 Một số bài học rút ra từ việc khảo cứu kinh nghiệm của các nước trên
Nhật Bản và Hàn Quốc đặc biệt quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng trong
nông thôn và phát triển nền nông nghiệp có trình độ thâm canh cao Đặc biệt họ
quan tâm phát triển CN và TTCN cùng các ngành phi nông nghiệp khác trong nông
thôn Đây là những vấn đề chúng ta cần nghiên cứu và áp dụng một cách có hiệu
quả vào điều kiện thực tiễn ở nước ta
Nước ta là nước đông dân vì vậy, muốn giải quyết việc làm cho lao động
nông thôn thì nhất thiết phải phát triển mạnh CN và TTCN trong nông thôn, xây
dựng nền nông nghiệp toàn diện dựa trên cơ sở trình độ khoa học kỹ thuật cao,
muốn vậy, cần phải tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông thôn,
áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh sản xuất hàng hoá trong nông
thôn Đặc biệt, diện tích canh tác bình quân đầu người của nước ta vào loại thấp
nhất thế giới, nên điều quan trọng là phải phát triển nền nông nghiệp thâm canh
trình độ cao, nhằm nâng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích Chỉ tiêu này ở nước
ta hiện nay còn thấp hơn nhiều nước trong khu vực
- Kinh nghiệm đáng chú ý của Thái Lan là mối quan hệ hợp tác giữa Nhà
nước - Công ty và hộ gia đình Đây là mô hình rất hay mà chúng ta có thể nghiên
cứu và thực hiện trong điều kiện thực tiễn ở nước ta Bước đầu chúng ta có thể áp
dụng ở vùng có mật độ dân số cao, lao động dồi dào và có trình độ văn hoá cũng
như tay nghề cao như vùng Đồng bằng Sông Hồng, vùng Đông Nam bộ và các vùng
nông thôn ven đô thị…ở đó hộ nông dân có thể hợp đồng với các công ty nhận sản
xuất và gia công một số bộ phận của sản phẩm, xong giao nộp cho công ty Điều
này có ý nghĩa rất lớn trong tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn
1.2.2 Kinh nghiệm tạo việc làm cho lao động nông thôn ở Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình lao động và việc làm ở nông thôn nước ta hiện nay
Để tạo cơ sở đề ra các giải pháp về việc làm và nâng cao thu nhập cho lao
động nông thôn, ta đi xem xét một số vần đề cơ bản về tình hình lao động và việc
làm ở nông thôn nước ta hiện nay với một số nét cơ bản sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Tỷ lệ lao động nông thôn ở nước ta hiện nay là rất lớn trong tổng nguồn lao động xã hội
Nước ta vẫn là một nước nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu Nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao trong GDP, đặc biệt lao động trong nông nghiệp vẫn chiếm phần lớn lực lượng lao động xã hội Theo Niên giám thống kê 2006, dân số cả nước là 84.155 ngàn người Trong đó dân số nông thôn là 61 332 ngàn người chiếm 72,8 % tổng dân số cả nước Dân số thành thị chiếm 27,2% Như vậy, dân số nông thôn chiếm tuyệt đại bộ phận dân số Trong cơ cấu lao động giữa các ngành thì lao động trong nông lâm ngư nghiệp chiếm 55,7% tổng lao động xã hội Điều đó cho thấy cơ cấu lao động trong nền kinh tế nước ta là bất hợp lý, trình độ công nghiệp hoá còn thấp Sức ép về dân số, việc làm và thu nhập ở nông thôn là rất lớn
- Phân bố lao động và dân cư không đồng đều theo vùng lãnh thổ là một đặc điểm nổi bật đối với lao động nông thôn nước ta Có những địa phương có mật độ dân số rất cao như Hưng Yên 1237 người /km2, Bắc Ninh 1227 người /km2
, Thái Bình 1206 người /km2 thì cũng có những tỉnh có mật độ dân cư rất thấp như Lai Châu
35 người /km2, Kon Tum 40người/km2 Thực trạng phân bố dân cư rất không đều sẽ dẫn tới không có khả năng khai thác có hiệu quả các tiềm năng phát triển ở những vùng mật độ dân số và lao động thấp Ngược lại, những vùng có mật độ dân số cao sẽ tạo sức ép lớn về lao động và việc làm Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần có kế hoạch phát triển kinh tế miền núi nhằm phân bố lại lao động và dân cư trên địa bàn cả nước
- Trình độ văn hoá khoa học kỹ thuật thấp là một thực trạng đối với lao động nông thôn nước ta Nếu tính lớp học cao nhất bình quân cho một người thì bình quân
cả nước là 7,4 còn khu vực nôn thôn là 7,0 trong khi đó khu vực thành thị là 8,9 Như vậy, trình độ văn hoá của lao động khu vực thành thị cao hơn rất nhiều so với lao động nông thôn Về tỷ lệ lao động đã qua đào tạo, bình quân cả nước là 12,4% trong khi đó đối với lao động nông thôn tỷ lệ này là 6,8% Điều đó là một khó khăn rất lớn
đối với phát triển kinh tế xã hội nông thôn.(Bộ lao động - Thương binh và xã hội, Thực trạng lao động - việc làm ở Việt Nam, NXB Thống kê, HN 2000)
Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, sự chênh lệch về trình độ văn hoá và chuyên môn kỹ thuật giữa lao động nông thôn và thành thị là rất lớn Về trình độ văn hoá, ở
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
khu vực thành thị cứ 100 người tham gia hoạt động kinh tế thì có 56 người đã tốt
nghiệp phổ thông trung học, cao gấp 4 lần so với khu vực nông thôn Về trình độ
chuyên môn kỹ thuật ở khu vực thành thị, cứ 100 người tham gia hoạt động kinh tế
thì có 63 người đã qua đào tạo, cao gấp 4,5 lần so với khu vực nông thôn (Thực
trạng lao động - việc làm tỉnh Thái Nguyên 2004) Vì vậy, để phát triển kinh tế
nông thôn, việc đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ cho lao động nông thôn là một
yêu cầu cấp thiết
- Cơ cấu kinh tế lạc hậu, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là yếu tố
quan trọng đánh giá trình độ phát triển kinh tế nông thôn
Theo Niên giám thống kê Việt Nam 2006, trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành
nông nghiệp, trồng trọt chiếm 73,5%, trong khi đó chăn nuôi chỉ chiếm 24,7% và
đặc biệt dịch vụ nông nghiệp chỉ chiếm 1,8% Đó là cơ cấu rất mất cân đối, chứng
tỏ trình độ sản xuất nông nghiệp nước ta rất thấp
Trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp (theo nghĩa rộng bao gồm
cả nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp), tỷ lệ của trồng trọt và chăn nuôi là
75,27%, thuỷ sản 19,29%, lâm nghiệp chỉ chiếm 5,44% trong khi 3/4 diện tích nước
ta là đồi núi Trong cơ cấu kinh tế nông thôn thì giá trị sản xuất cũng như lao động
của các ngành phi nông nghiệp chiếm tỉ lệ nhỏ Cơ cấu kinh tế lạc hậu như vậy
không thể khai thác hợp lý các nguồn lực, các tiềm năng sẵn có cho phát triển kinh
tế, vì vậy thiếu việc làm thu nhập thấp là tất yếu trong nông thôn hiện nay Theo
niên giám thống kê 2006, tỷ suất sử dụng thời gian lao động của lao động nông thôn
tính chung cả nước là 81,79%, cao nhất là vùng Đông Nam Bộ 83,46%, thấp nhất là
vùng Bắc trung Bộ 77,91% Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động của lao động nông
thôn tỉnh Thái Nguyên là 78,29% (Thực trạng lao động và việc làm tỉnh Thái
Nguyên 2004) Do đó, để tăng thu nhập cho lao động nông thôn cần phải có những
giải pháp để nâng cao tỷ suất sử dụng lao động cho lao động nông thôn
- Thu nhập của lao động và dân cư nông thôn rất thấp so với thành thị Thu
nhập của dân cư nông thôn thấp hơn thành thị cũng là một thực tế khách quan trong
quá trình đẫy nhanh CNH và HĐH ở nước ta hiện nay Lao động nông nghiệp
chiếm 55% tổng nguồn lao động xã hội chỉ tạo ra hơn 20% thu nhập quốc dân, trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
khi 45% lực lượng lao động còn lại tạo ra gần 80% thu nhập quốc dân Điều đó chứng tỏ năng suất của lao động nông nghiệp rất thấp, dẫn đến thu nhập của lao động nông nghiệp cũng thấp Theo số liệu thống kê, năm 2004 tính chung trên địa bàn cả nước thì thu nhập của dân cư thành thị cao gấp 2,16 lần so với dân cư nông thôn Thái Nguyên là tỉnh có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn mức trung bình của cả nước, trong khi đó thu nhập của dân cư thành thị cũng cao gấp 1,87 lần
so với dân cư nông thôn Điều đó thể hiện dân cư nông thôn Thái Nguyên có thu nhập rất thấp Mặc dù sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa nông thôn và thành thị trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá là tất yếu khách quan, nhưng nhà nước cần có những chính sách phát triển nông thôn làm cho khoảng cách này không quá lớn để đảm bảo phát triển kinh tế bền vững và ổn định về mặt xã hội
1.2.2.2 Kinh nghiệm tạo việc làm cho lao động nông thôn ở Việt Nam
Đảng và nhà nước ta hết sức quan tâm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Điều đó được thể hiện ở nhiều chính sách như chính sách đất đai, chính sách tín dụng nông thôn, chính sách phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá và đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp, chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn…
- Chính sách đất đai Nghề nghiệp và cuộc sống của người nông dân luôn gắn với đất đai Đất đai trở thành nguồn sinh lợi chủ yếu của nông dân Họ có quyền tự chủ cao hơn với đất đai Điều đó làm cho nguồn vốn, kỹ thuật và lực lượng lao động ở nông thôn được giải phóng Việc làm trong nông thôn được tạo ra nhiều hơn, thu nhập của nông dân được nâng cao Hiện nay, để nông nghiệp phát triển cao hơn cần dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất tạo điều kiện phát triển mạnh kinh tế trang trại Trên phạm vi cả nước, xu hướng này đang được khuyến khích phát triển mạnh mẽ
- Chính sách tín dụng nông thôn Vốn là yêu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất nói chung và nông nghiệp, nông thôn nói riêng Đặc biệt nông dân nước ta còn nghèo nên yêu cầu về vốn càng gay gắt Từ thực tế đó, nhà nước đã chỉ đạo hình thành mạng lưới tín dụng cho nông dân rộng khắp trên cả nước nhằm cung cấp vốn kịp thời cho nông dân Hiện nay, một cơ sở kinh doanh được vay tối đa 500 triệu
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
đồng, hộ gia đình được vay tới 20 triệu đồng với lãi suất ưu đãi Đây là điều kiện rất
thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh và tạo việc làm
Ngoài ra còn có nhiều hình thức huy động vốn giúp người nghèo, đặc biệt là
chương trình Nối vòng tay lớn hàng năm huy động được hàng chục tỷ đồng Việc
cung cấp vốn kịp thời cho nông dân đã góp phần đẩy mạnh sản xuất, tạo việc làm và
xoá đói giảm nghèo Hiện nay, chuẩn nghèo mới tính từ 2011 đã nâng cao hơn mức
cũ nhiều nhưng tỷ lệ nghèo ở nước ta ở mức 14,2% là một thành tựu lớn
- Phát triển nông nghiệp hàng hoá, đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp và
nông thôn
Thực chất của chính sách này là thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn, đẩy mạnh phát triển kinh tế nông hôn và trang trại, phát triển các ngành phi
nông nghiệp trong nông thôn
Cùng với sự giúp đỡ của nhà nước, những năm qua kinh tế hộ và trang trại
ngày càng phát triển, nhiều loại cây trồng và con gia súc mới được đưa vào sản xuất
mang lại hiệu quả kinh tế cao Khoa học công nghệ được áp dụng làm cho năng suất
cây trồng và vật nuôi ngày càng cao Trong khi đó các ngành phi nông nghiệp cũng
phát triển mạnh đã giải quyết quan trọng vấn đề việc làm và thu nhập của nông dân
- Chương trình đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Trong những năm qua nước ta đã đưa hàng chục vạn lao động đi làm việc ở
nước ngoài Chương trình này có ý nghĩa to lớn trong giải quyết việc làm và tăng
thu nhập cho lao động Giải quyết được nhu cầu việc làm cho lao động, ngoài ra
hàng năm người lao động ở nước ngoài còn gửi một lượng ngoại tệ khá lớn về
nước Điều đó góp phần quan trọng xoá đói giảm nghèo và tạo việc làm mới trong
nước Về lâu dài hơn, chương trình cũng tạo ra một đội ngũ công nhân lành nghề do
học được kỹ thuật và kinh nghiệm từ các nước mà họ đến làm việc
Chương trình quốc gia giải quyết việc làm
Để chính sách giải quyết việc làm đi vào cuộc sống, Đảng và Nhà nước ta đã
có nhiều chương trình giải quyết việc làm cụ thể
- Nghị quyết 120 / HĐBT ngày 11 - 4 -1992 về những chủ trương, phương
hướng và biện pháp giải quyết việc làm trong những năm tới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nguồn vốn 120 được hình thành từ ngân sách nhà nước, thu từ lao động làm việc ở nước ngoài và từ hỗ trợ của các tổ chức quốc tế Quỹ 120 thực hiện cho vay với lãi suất thấp nhằm tạo việc làm mới, hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động Với nông nghiệp nông thôn, quỹ hỗ trợ áp dụng khoa học kỹ thuật vào phát triển nông lâm ngư nghiệp, mở mang và phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp trong nông thôn
- Chương trình 327 phủ xanh đất trống đồi núi trọc Theo chỉ thị TTg của thủ tướng chính phủ ngày 15/9/1992 Nguồn vốn được hình thành từ ngân sách nhà nước, thuế tài nguyên, vốn viện trợ, vốn vay hợp tác nước ngoài Chương trình 327 nhằm phủ xanh đất trống đồi núi trọc, phát triển nông lâm kết hợp tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho nông dân, phát triển kinh tế bền vững
327/CT Quyết định số 1956/QĐ327/CT TTg của thủ tướng chính phủ ngày 27/11/2009
về đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 Theo chương trình này, từ nay đến năm 2020 sẽ đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm Đây là chương trình lớn, tạo cơ hội thuận lợi cho lao động nông thôn trong những năm tới
1.2.2.3 Kinh nghiệm giải quyết việc làm của tỉnh Bắc Ninh
Các giải pháp giải quyết việc làm đang tiến hành trên các địa phương trong
cả nước là rất đa dạng và phong phú, phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi tỉnh Tuy nhiên có thể tập trung vào một số nội dung cơ bản sau:
- Hỗ trợ vốn cho nông dân phát triển sản xuất và tạo việc làm
Phần lớn nông dân nước ta có thu nhập thấp, do đó ít có khả năng tự đầu tư
mở rộng sản xuất, tự tạo việc làm để nâng cao thu nhập Vì vậy, nhu cầu về vốn sản xuất của nông dân là rất lớn Nắm bắt được nhu cầu đó, Bắc Ninh tích cực huy động các nguồn vốn để hỗ trợ nông dân sản xuất như Quỹ quốc gia giải quyết việc làm, nguồn vốn xoá đói giảm nghèo và vốn của các tổ chức tín dụng…
- Đẩy mạnh đào tạo bồi dưỡng nghề nghiệp cho người lao động
Kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp của người lao động là yếu tố có ý nghĩa quyết định đến phát triển kinh tế và xã hội Đặc biệt, lao động nông thôn nước ta chiếm phần lớn lưc lượng lao động xã hội trong khi tỷ lệ được đào tạo nghề là rất thấp Vì vậy, vấn đề đào tạo nghề cho lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng là đòi hỏi cấp bách
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Phát triển mạnh các ngành phi nông nghiệp, xây dựng cơ cấu kinh tế nông
thôn hợp lý
Muốn phát triển kinh tế nông thôn thì cần phải có cơ cấu kinh tế nông thôn
hợp lý, việc phát triển các làng nghề truyền thống, các doanh nghiệp phi nông
nghiệp trong nông thôn là hết sức quan trọng
1.2.2.4 Kinh nghiệm giải quyết việc làm của một số tỉnh khác
Với các tỉnh miền Bắc thì Hà Đông (Hà Nội), Vĩnh Phúc là những tỉnh có
nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng Những làng nghề đó không những tạo ra
nguồn thu nhập lớn cho người dân và ngân sách địa phương mà còn tạo ra việc làm
và thu nhập cho hàng ngàn lao động địa phương cũng như các địa phương lân cận
Nhìn thấy vai trò đó, Vĩnh Phúc đã có những chính sách quan trọng nhằm
phát triển làng nghề và các ngành phi nông nghiệp nông thôn Hiện Vĩnh Phúc có
50 làng nghề với các nhóm nghề như: mộc, mây tre đan, rèn, luyện kim, gốm, chăn
nuôi và chế biến rắn…Để hỗ trợ các làng nghề phát triển, tỉnh đã thực hiện quy
hoạch các cụm làng nghề nhằm giải quyết khó khăn về mặt bằng phát triển, giảm ô
nhiễm môi trường và tạo điều kiện thuận lợi cho áp dụng tiến bộ KHKT vào sản
xuất Bên cạnh đó Vĩnh Phúc còn khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào làng
nghề làm cho làng nghề có khả năng phát triển nhanh và bền vững hơn
Vĩnh Phúc còn có quyết định số 42 của UBND tỉnh ban hành những quy định
về làng nghề, làng nghề truyền thống, thợ giỏi cấp tỉnh và có ưu tiên cho những đơn
vị và cá nhân đạt các tiêu chí đề ra Đặc biệt, tỉnh hết sức khuyến khích các doanh
nghiệp và cá nhân có công mang những ngành nghề mới về phát triển ở địa phương
1.2.2.5 Bài học kinh nghiệm về giải quyết việc làm của tỉnh Bắc Giang
Từ kinh nghiệm và thực trạng của các tỉnh trong nước Đây cũng chính là
một bài học giúp Bắc Giang đưa ra cho mình hướng phát triển của các ngành phi
nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng cho các vùng nông thôn Đó là:
- Áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất nông nghiệp, hình thành các vùng
chuyên canh hiệu quả cao
Việc quy hoạch phát triển nông nghiệp theo vùng là hết sức quan trọng, Bắc
Giang đã quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp một cách hợp lý, từ đó có kế
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hoạch phát triển cụ thể Đây là vấn đề Bắc Giang có thể xem xét và áp dụng phù hợp cho tỉnh mình
1.2.3 Bài học kinh nghiệm về giải quyết việc làm của huyện Lục Ngan tỉnh Bắc Giang
Kinh nghiệm về giải quyết việc làm của huyện Lục Ngạn có thể được khái quát như sau:
- Chú trọng đầu tư, phát triển giáo dục- đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là đào tạo nghề cho người lao động
- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
- Khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống, du nhập và phát triển ngành nghề mới
- Xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách đầu tư thông thoáng để tạo nên sức hút đầu tư, lựa chọn đầu tư phát triển những ngành nghề có công nghệ phù hợp với khả năng và trình độ của con người huyện Lục Ngạn
- Đẩy mạnh xuất khẩu lao động
- Xây dựng phát triển kinh tế trở thành kinh tế mũi nhọn
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng công tác tạo việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn
huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang?
- Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tạo việc làm cho lao động nông thôn
trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang?
- Giải pháp tăng cường tác tạo việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn
huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đến năm 2020?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng công tác tạo việc làm cho lao động nông thôn
trên địa bàn huyện Lục Ngạn và tiến hành đi sâu, nghiên cứu, tìm hiểu tình hình lao
động cụ thể trên hai khu vực là khu vực trung tâm huyện và khu vực nông thôn
huyện Đây là hai khu vực tập trung nhiều đối tượng trong độ tuổi lao động trên địa
bàn tỉnh, qua đó, có thể nhận biết được những yếu tố ảnh hưởng đến công tác tác tạo
việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Từ những thực trạng và khó
khăn mà huyện đã và đang gặp phải, có thể đưa ra giải pháp tăng cường tác tạo việc
làm cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện trong các năm tiếp theo
2.2.2 Thu thập số liệu
2.2.2.1 Thu thập số liệu đã công bố
Thu thập và tính toán từ các thông tư, chỉ thị, quyết định của Chính phủ và
các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước; những số liệu đã công bố của các cơ
quan thống kê trung ương, các viện nghiên cứu, các trường đại học, các tạp chí, báo
chí chuyên ngành và những báo cáo khoa học đã được công bố; các nghiên cứu ở
trong và ngoài nước, các tài liệu do các cơ quan của tỉnh Bắc Giang, các tài liệu
xuất bản liên quan đến công tác tạo việc làm trê địa bàn tỉnh Bắc Giang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Những số liệu này đã được thu thập chủ yếu ở Cục thống kê Bắc Giang, Chi cục Thống kê Bắc Giang, các sở, ban, ngành ở tỉnh Bắc Giang và tại huyện Lục Ngạn
2.2.2.2 Thu thập số liệu mới
Thu thập số liệu mới được thực hiện qua các phương pháp sau:
a Thu thập tài liệu sơ cấp
Thu thập dữ liệu là một giai đoạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội Trong phạm vi đề tài này tác giả áp dụng phương pháp điều tra trực tiếp bằng hệ thống các bảng câu hỏi để thu thập số liệu Do thời gian có hạn nên tác giả đã sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu Quá trình tổ chức điều tra chọn mẫu như sau:
- Xác định tổng thể chung: Đối tượng lao động trên địa bàn huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang
- Xác định khung chọn mẫu: Đối tượng trong độ tuổi lao động của huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang
- Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên để tiến hành lựa chon mẫu: Theo khung chọn mẫu của từng phường, xã tiến hành các bước sau:
Tính đến thời điểm 12/2012 dân số của huyện Lục Ngạn là 209.906 người Trong đó dân số trung bình ở khu vực thành thị của huyện là 7.074 người chiếm 3,37% dân số của huyện còn lại 96,62% dân số của huyện lại tập trung trong khu vực nông thôn Lao động nông nghiệp là 192274 người chiếm 91,6% lao động toàn huyện
Khu vực trung tâm huyện chọn ngẫu nhiên 5 xã, mỗi xã chọn ngẫu nhiên 100 lao động Khu vực nông thôn chọn ngẫu nhiên 5 xã, mỗi xã chọn ngẫu nhiên 100 lao động để điều tra, thu thập số liệu
b Phương pháp điều tra gồm các bước sau
* Chọn mẫu điều tra
Tổng số mẫu điều tra 200 lao động
Căn cứ vào số lao động trên địa bàn, Huyện Lục Ngạn đã phân loại lao động
ở các nội dung:
- Dưới độ tuổi lao động là những cá nhân dưới 15 tuổi
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Trong độ tuổi lao động là những cá nhân đủ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam
và đủ 15 tuổi đến 55 tuổi đối với nữ
- Ngoài độ tuổi lao động là những cá nhân ngoài 60 tuổi đối với nam và
ngoài 55 tuổi đối với nữ
Bảng 2.1: Số lao động ở các địa điểm nghiên cứu
Số lượng (LĐ)
Cơ cấu (%)
Số lượng (LĐ)
Cơ cấu (%)
Số lượng (LĐ)
Cơ cấu (%)
* Phương pháp điều tra
Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp, bằng hệ thống các câu hỏi, kết
hợp việc trao đổi gợi mở để người được hỏi hiểu và cung cấp đúng nội dung thông
tin cần điều tra
2.2.3 Phương pháp phân tích
2.2.3.1 Phương pháp thống kê
Là phương pháp thu thập dữ liệu và thiết kế nghiên cứu định lượng, nhằm hỗ
trợ tìm hiểu về một vấn đề, đối tượng, hiện tượng hay mối liên hệ giữa các hiện
tượng, được thể hiện qua các chỉ tiêu về số tuyệt đối, số tương đối, số bình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
quân Từ đó đưa ra những kết luận có căn cứ khoa học, những dự báo cho tương lai dựa trên số liệu dã thu thập nghiên cứu
2.2.3.2 Phương pháp phân tích dự báo
Dự báo là một khoa học và nghệ thuật tiên đoán những sự việc sẽ xảy ra trong tương lai, trên cơ sở phân tích khoa học về các dữ liệu đã thu thập được Khi tiến hành dự báo cần căn cứ vào việc thu thập, xử lý số liệu trong quá khứ và hiện tại để xác định xu hướng vận động của các hiện tượng trong tương lai
Từ việc phân tích đánh giá tình hình lao động của huyện Lục Ngạn qua các năm từ 2011 đến nay để dự báo xu hướng phát triển của huyện trong thời gian tới
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
- Cơ cấu lao động theo trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn
- Cơ cấu lao động theo ngành nghề
- Số ngày lao động bình quân/lao động/năm
- Thu nhập bình quân/hộ/năm
- Thu nhập bình quân/lao động/năm
- Thu nhập bình quân/lao động/ngày
- Thu nhập bình quân/ ngày lao động phân theo ngành nghề
- Thời gian có khả năng làm việc trong kỳ
- Thời gian làm việc thực tế trong kỳ
- Tỷ suất sử dụng thời gian lao động
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 3 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG
THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Lục ngạn là một huyền miền núi của tỉnh Bắc Giang, nằm trên trục quốc lộ
31, cách Hà Nội 90 km về phía Nam, cách cửa khẩu Lạng Sơn 120 km về phía đông
Bắc và cách thành phố Bắc Giang 40 km về phía Bắc
- Phía Bắc giáp với huyện Chi Lăng và Hữu Lũng của tỉnh Lạng Sơn
- Phía Đông giáp với huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang và huyện Lộc Bình,
tỉnh Lạng Sơn
- Phía Tây và Phía Nam giáp với huyện Lục Nam của tỉnh Bắc Giang
Lục Ngạn có trục đường quốc lộ 31; 279 và nhiều trục đường tỉnh lộ chạy
qua, tương đối thuận lợi cho giao lưu kinh tế với các vùng miền khác
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình, đất đai
Địa hình của huyện Lục Ngạn không đồng đều, đồi núi xen kẽ ruộng,
nghiêng thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam Có thể chia địa hình của huyện
thành 3 vùng sau:
-Vùng thấp (tiểu vùng 1): Bao gồm các xã Phượng Sơn, Trù Hựu, Nghĩa Hồ,
Hồng Giang, Quý Sơn và thị trấn Trũ
- Vùng đồi núi (tiểu vùng 2): Bao gồm các xã Kiên Thành, Nam Dương, Tân
Hoa, Giáp Sơn, Kiên Lao, Mỹ An, Thanh Hải, Phi Điền, Biển Động, Biên Sơn,
Đồng Cốc, Tân Quang
- Vùng núi cao (tiểu vùng 3): Bao gồm các xã Phong Vân, Đèo Gia, Tân
Mộc, Cấm Sơn, Phú Nhuận, Tân Sơn, Phong Minh, Hộ Đáp, Tân Lập, Xa Lý, Kim
Sơn, Sơn Hải
Tổng diện tích tự nhiên của huyện Lục Ngạn là 101.223,72 ha đứng thứ nhất
trong tổng số 10 huyện, thành phố của tỉnh Hiện nay diện tích đã đưa vào khai thác
sử dụng là 83.077,29 ha, chiếm 82,07% tổng diện tích đất tự nhiên Diện tích đất
chưa sử dụng là 81.146,43 ha, chiếm 17,93%
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.1.1.3 Đặc điểm thời tiết, khí hậu, thủy văn
Theo số liệu của Trạm khí tượng thủy văn huyện Lục Ngạn, thời tiết, khí hậu khu vực huyện Lục ngạn như sau:
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22,60C, nhiệt độ cao nhất tập trung vào tháng 5,6,7; nhiệt độ thấp nhất tập trung vào tháng 12 và tháng 1, tháng 2 năm sau Lượng mưa trung bình 1.289 mm, tập trung và phân bổ theo mùa đặc biệt vào tháng 6,7,8 Độ ẩm không khí trung bình năm là 74,6% Số giờ nắng bình quân trong năm 1.521 giờ, tập trung vào các tháng 6,7,8,9
Nhìn chung, huyện Lục Ngạn chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu Đông Bắc
Bộ khá rõ này với đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè, hanh khô kéo dài về mùa đông Với khí hậu đa dạng như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông lâm nghiệp Tuy nhiên, với lượng mưa tập trung, địa hình dốc là nguyên nhân chính gây nên xói mòn, úng lụt, hủy hoại đất…ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Dân số và lao động
Tính đến thời điểm 12/2012 dân số của huyện Lục Ngạn là 209.906 người Trong đó dân số trung bình ở khu vực thành thị của huyện là 7.074 người chiếm 3,37% dân số của huyện còn lại 96,62% dân số của huyện lại tập trung trong khu vực nông thôn Lao động nông nghiệp là 192274 người chiếm 91,6% lao động toàn huyện Hiện nay trên địa bàn huyện có 8 dân tộc đang sinh sống (Người Kinh chiếm 51%, người dân tộc Nùng chiếm 21%, Sán Dìu chiếm 18%, còn lại là các dân tộc khác như: Sán Chi, Cao Lan, Dao, Hoa, Tày) Mật độ dân cư thấp (200 người/km2, thu nhập bình quân toàn huyện 1.580.200 đồng/người/tháng
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
đường tỉnh lộ 279, 285, 290 đi qua với tổng chiều dài là 85 km Hệ thống đường
liên thôn, liên xã đang dần được mở rộng và bê tông hóa Hiện nay ô tô có thể đến
được tất cả các xã trong huyện
+ Đường sông: Có tuyến sông Lục Nam với chiều dài 32km bắt nguồn từ
Lạng Sơn - Sơn Động - Lục Ngạn - Lục Nam và chảy về sông Thương Bắc Giang
Mạng lưới giao thông huyện Lục Ngạn rất thuận lợi đã góp phần đặc lực vào
việc vận chuyển và lưu thông hàng hóa, làm tăng giá trị sản phẩm nông sản xủa huyện
- Hệ thống thủy lợi: Toàn huyện có 235 hồ đập với tổng diện tích 350 ha,
trong đó có 4 hồ lớn là Khuôn Thần, Làng Thum, Đá Mài, Trại Muối, còn lại là hồ
đập nhỏ và hồ trung Hệ thống kênh mương dài 450 km Trong đó kênh cấp I, cấp II
là 20 km, còn lại 430 km kênh mương nội đồng, trong đó đã ứng hóa được 140 km
Hệ thống trạm bơm đã được xây dựng ở các hồ đập lớn và trung thủy nông, với
tổng số là 39 trạm bơm
Tuy nhiên ở các xã tiểu vùng 2,3 hệ thống thủy lợi còn gặp nhiều khó khăn
Hệ thống kênh mương chưa được xây dựng, vào mùa khô không đáp ứng được như
cầu nước để phục vụ tưới tiêu
- Hệ thống điện lưới quốc gia: Trên địa bàn huyện có 245 km đường dây 35
kv, 25 km đường dây 10 kv và 165 trạm biến áp phụ tải, với tổng lượng điện phát ra
là 35.562.000 kw/giờ Đến nay 100% số xã trong toàn huyện đã có điện lưới quốc
gia phục vụ cho đời sống dân sinh và phục vụ sản xuất Song một số xã thuộc tiểu
vùng 2 và tiểu vùng 3 vào vụ mùa nhu cầu sử dụng máy bơm để tưới tiêu rất lớn
nên hệ thống điện luôn ở tình trạng quá tải, điện rất yếu
- Hệ thống y tế, giáo dục:
+ Y tế: Toàn huyện có 1 bệnh viện đa khoa, 1 trung tâm y tế dự phòng, 1
phòng y tế, 2 phòng khám đa khoa, 30 trạm y tế cơ sở với 270 giường bệnh Đội
ngũ cán bộ y tế 342 người trong đó có 65 y bác sỹ, 194 y tá, 35 nữ hộ sinh Cơ sở
vật chất có đến 80% là nhà mái bằng kiên cố, còn lại là nhà cấp 4, hiện nay bệnh
viện đa khoa đang được đầu tư xây dựng, những trang thiết bị còn thiều còn nghèo
nàn, lạc hậu
+ Giáo dục: Hiện nay huyện Lục Ngạn có 73 trường thuộc hệ giáo dục phổ
thông, với 1.637 lớp học, 52.980 học sinh, trong đó: có 36 trường tiểu học với 932
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
lớp học và 23.019 học sinh; 32 trường trung học cơ sở với 554 lớp, 21.465 học sinh;
5 trường phổ thông trung học với 151 lớp, 7.496 học sinh
Điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học, phòng ở của giáo viên còn thô sơ, thiếu thốn
Tóm lại: Cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng của huyện bước đầu cũng đã
được hình thành và dần được đầu tư xây dựng đây cũng là những điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế nâng cao hiệu quả sản xuất ở huyện Lục Ngạn
3.2 Thực trạng lao động và việc làm của lao động nông thôn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
3.2.1 Thực trạng lao động nông thôn
3.2.1.1 Thực trạng lao động của Huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Dân số và việc làm có quan hệ vừa tương hỗ, vừa hạn chế lẫn nhau Quy mô dân số lớn, dân số tăng nhanh tất yếu sẽ dẫn đến tăng nguồn lao động và đồng nghĩa với tăng sức ép về việc làm với mỗi thành viên và cộng đồng, gây ra tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm trong xã hội Mặt khác nguồn lao động là nguồn lực cơ bản
để phát triển kinh tế, khi kinh tế phát triển thì khả năng tạo việc làm trong xã hội càng nhiều Giải quyết mối quan hệ dân số và việc làm là vấn đề nan giải của mỗi quốc gia Chính phủ luôn phải đối phó với xu hướng gia tăng số lượng lao động với quy mô lớn hơn tốc độ gia tăng chỗ làm việc Vì vậy, bên cạnh việc kiểm soát tốc
độ phát triển về số lượng lao động, việc không kém phần quan trọng là phải nâng cao chất lượng nguồn lao động- một yếu tố tác động trực tiếp đến khả năng giải quyết việc làm trong xã hội
Bảng 3.1: Diện tích, dân số, mật độ dân số huyện Lục Ngạn,
tỉnh Bắc Giang 2011-2013
Diện tích (km2) 1.017,01 1012,28 1018,5 0,28 0,03 1,22 0,12 Dân số trung bình
(người) 207.832 208.523 209.906 691 0,33 1383 0,66 Mật độ dân số
(người/km2
) 204,36 205,0 206,1 0,64 0,31 1,1 0,54
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2013 tỉnh Bắc Giang)
Qua bảng trên ta thấy về diện tích của huyện Lục Ngạn qua 3 năm có sự tăng
lên dù không nhiều năm 2012 tăng so với năm 2011 là 0,28 km2, tăng lên 0,03%;
năm 2013 tăng so với năm 2012 là 1,22 km2
, tức tăng lên 0,12% Mặc dù tỉ lệ tăng không nhiều cũng góp phần cho huyện mở rộng thêm diện tích cây ăn quả Phần
diện tích tăng thêm này chủ yếu do mở rộng khai thác tù rừng
Về dân số qua các năm 2011- 2013 đã có sự tăng lên đánh kể làm cho mật độ
dân số cũng tăng nhưng vẫn ở mực độ trung bình Năm 2012, dân số trung bình là
208.523 người, tăng lên so với năm 2011 là 691người tức đã tăng 0,33% so với năm
trước Năm 2013, dân số trung bình là 209.906 người đã tăng 1.383 người so với năm
2012, tức là tăng lên 0,66% so với năm 2012 Dân số tăng làm cho mật độ dân số
tăng, năm 2011 mật độ dân số là 204,36 người/km2, năm 2012 là 205,0 người/km2,
năm 2013 là 206,1 người/km2
Mật độ dân số của huyện như vậy tương đối là đông, người dân của huyện sông tương đối tập trung Mật độ dân số như vậy là tương đối
đồng đều so với mặt bằng chung của cả tỉnh Bắc Giang So với các địa phương khác
ở khu vực miền trung du vùng núi phía bắc cũng tương đối cao Mật độ dân số như
vậy là đều kiện thuận lợi cho việc tập trung nguồn nhân lực của tỉnh
Xem xét bảng dưới đây về lao động và việc làm của Huyện Lục Ngạn trong
năm 2013 để thấy tình hình việc làm tại huyện ra sao?
Bảng 3.2 Lao động và việc làm của huyện Lục Ngạn trong năm 2013
Chỉ tiêu
có việc làm
Lao động thiếu việc làm
Lao động không
có việc làm
Số lượng
Cơ cấu
Số lượng
Cơ cấu
Lao động nông thôn 73.284 100 58.876 80,34 13.235 18,06 1172 1,6
(Nguồn: Số liệu của Tổng cục thống kê năm 2013)
Qua bảng trên tác giả thống kê tình hình lao động và việc làm của huyện Lục
Ngạn năm 2013 thấy rằng: Tổng số lao động của toàn huyện là 75.862 người, trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
đó số lao động có việc làm là 61.150 người chiếm 80,61% tổng lao động, lao động thiếu việc làm là 13.422 người chiếm 17,69% tổng lao động còn lại 1,7% số lao động là không có việc làm đang trong tình trạng thất nghiệp Như vậy ta thấy rằng tình trạng thiếu việc làm và không có việc làm của toàn huyện còn tương đối cao Tác giả so sánh giữa hai khu vực thành thị và nông thôn trong huyện thấy rằng giữa hai khu vực có sự khác nhau Lao động tại huyện chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn (chiếm 96,6%) Tỉ lệ lao động có việc làm tại khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn (thành thị là 88,19% còn khu vực nông thôn là 80,34%) Tình trạng thiếu việc làm tại khu vực nông thôn cao hơn nhiều so với khu vực thành thị cao gấp 2,2 lần (thành thị là 8,21%, nông thôn 18,06%) Tỷ lệ lao động không
có việc làm ở khu vực thành thị là 3,6% lại cao hơn so với nông thôn 1,6% Vì trong khu vực nông thôn lao động chủ yếu làm nông nghiệp do vậy sẽ đáp ứng được nhu cầu việc làm cho lực lượng lao động trong khu vực này
3.2.1.2 Thực trạng cơ cấu lao động nông thôn của huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý là điều kiện hết sức quan trọng để có thể sử dụng đầy đủ và hợp lý nguồn lao động
Sử dụng đầy đủ nguồn lao động là sử dụng hết nguồn lao động về mặt số lượng, không còn người thất nghiệp và thiếu việc làm Sử dụng hợp lý nguồn lao động là sử dụng nguồn lao động có hiệu quả cao Hai yếu tố này tạo nên sức sản xuất của xã hội
Quá trình điều tra lao động và việc làm đối với lao động nông thôn huyện Lục Ngạn thời kỳ 2011-2013 cho thấy sự phân bổ lao động nông thôn vào các ngành như bảng sau:
Qua bảng trên ta thấy rằng, lao động của huyện Lục Ngạn vẫn tập trung trong lĩnh vực nông- lâm- thủy sản là chủ yếu, tỷ lệ lao động làm việc trong các ngành công nghiệp- xây dựng và thương mại- dịch vụ tuy có tăng nhưng vẫn chiếm
tỷ trọng yếu trong tổng số lao động của huyện Năm 2011, tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực nông- lâm- thủy sản chiếm 70,07% tổng số lao động, tỷ lệ này trong năm 2012 giảm 2,36% còn 67,71%, và năm 2013 tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực này là 67,68% Số lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp- xây dựng năm