Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình do chính tôi thực hiện với đề tài: “Giải pháp tăng cường huy động và sử dụng vốn
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
DƯƠNG ĐÌNH HIẾU
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VÀ
SỬ DỤNG VỐN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
DƯƠNG ĐÌNH HIẾU
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VÀ
SỬ DỤNG VỐN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS THỊNH VĂN VINH
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do chính tôi thực hiện với đề tài:
“Giải pháp tăng cường huy động và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp vừa và
nhỏ trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên” dưới sự hướng
dẫn khoa học của PGS.TS Thịnh Văn Vinh Các số liệu do bản thân tôi điều
tra thu thập, Kết quả nghiên cứu này chưa được công bố trong những công trình
được nghiên cứu từ trước
Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Thái Nguyên, ngày 05 tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
Xin chân thành gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo Trường Đại Học Kinh tế
và QTKD Thái Nguyên, đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành khóa học Xin chân thành cảm ơn đến ban lãnh đạo cùng các anh, chị đang công tác tại: Sở Công thương Thái Nguyên, Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Nguyên, Chi cục thuế tỉnh Thái Nguyên, BHXH
TP Thái Nguyên, Chi cục thống kê tỉnh Thái Nguyên, Hội doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn sự hướng dẫn trực tiếp và tận tình của thầy giáo
PGS.TS Thịnh Văn Vinh cùng với sự tới giúp đỡ của các thầy cô giáo Trường Đại
Học Kinh tế và QTKD Thái Nguyên, đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày 05 tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
Dương Đình Hiếu
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VÀ CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và đóng góp mới của đề tài 2
5 Bố cục của luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 4
1.1 Cơ sở lý luận về doanh nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ 4
1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp và các loại hình doanh nghiệp 4
1.1.2 Khái niệm và tiêu chí xác định DNVVN 5
1.1.3 Đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong phát triển kinh tế - xã hội 8
1.2 Các hình thức huy động sử dụng nguồn vốn trong nền kinh tế thị trường 11
1.2.1 Khái quát về vốn kinh doanh 11
1.2.2 Cơ sở hình thành nguồn vốn kinh doanh 12
1.2.3 Vai trò của vốn kinh doanh trong nền kinh tế thị trường 13
1.2.4 Các hình thức huy động vốn cho DNVVN trong nền kinh tế thị trường 14
1.2.5 Vai trò của nguồn vốn trong nước với phát triển kinh tế và ý nghĩa của vấn đề huy động vốn 16
1.2.6 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong các DN 18
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động và sử dụng vốn trong DNVVN 20
1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn kinh doanh của DNVVN 20
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của DN 23
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 1.3.3 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp 25
1.4 Kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn cho DNVVN của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 26
1.4.1 Kinh nghiệm trong huy động và sử dụng vốn trong phát triển các DNVVN của các nước trên thế giới 26
1.4.2 Bài học kinh nghiệm trong huy động và sử dụng vốn trong phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam 33
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 36
2.2 Phương pháp nghiên cứu 36
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 36
2.2.2 Lựa chọn địa điểm và thời gian nghiên cứu 37
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 37
2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 38
2.2.5 Phương pháp so sánh và phân tích hệ thống 39
2.3 Các chỉ tiêu lựa chọn cho phân tích và đánh giá 39
2.3.1 Số lượng doanh nghiệp 39
2.3.2 Nguồn vốn của DN 39
2.3.3 Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn 40
2.3.4 Các chỉ tiêu về kết quả kinh tế xã hội 40
2.3.5 Phân tích các chỉ tiêu về hiệu suất và hiệu quả sử dụng nguồn vốn DNVVN 40
Chương 3 THỰC TRẠNG VỀ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN 42
3.1 Đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội thành phố Thái Nguyên 42
3.1.1 Đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên của thành phố Thái Nguyên 42
3.1.2 Đặc điểm và tình hình kinh tế xã hội thành phố Thái Nguyên 48
3.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm địa bàn nghiên cứu 58
3.2 Thực trạng phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2013 60
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.2.1 Khái quát sự phát triển của DNVVN thành phố Thái Nguyên 60
3.2.2 Những đóng của DNVVN thành phố Thái Nguyên cho NSNN 66
3.3 Thực trạng về huy động và sử dụng vốn trong các DNVVN tại thành phố Thái Nguyên 66
3.3.1 Khái quát chung về huy động vốn tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại
thành phố Thái Nguyên 66
3.3.2 Nghiên cứu thực trạng huy động vốn trong DNVVN tại TP Thái Nguyên 72
3.3.3 Đánh giá thực trạng sử dụng vốn trong DNVVN tại thành phố Thái Nguyên 76
3.3.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến huy động và sử dụng vốn trong các
DNVVN tại thành phố Thái Nguyên 86
3.3.5 Những nguyên nhân tồn tại trong quá trình huy động và sử dụng vốn tại
các DNVVN trên địa bàn thành phố Thái Nguyên 88
Chương 4 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN 90
4.1 Quan điểm định hướng mục tiêu về huy động và sử dụng vốn trong các
DNVVN tại thành phố Thái Nguyên 90
4.1.1 Quan điểm chung về huy động và sử dụng vốn tại các DNVVN trên địa
bàn thành phố Thái Nguyên 90
4.1.2 Định hướng và mục tiêu trong huy động và sử dụng vốn tại các DNVVN
tại thành phố Thái Nguyên 91
4.2 Một số giải pháp tăng cường huy động và sử dụng vốn trong các DNVVN
tại thành phố Thái Nguyên 92
4.2.1 Các căn cứ để đề xuất giải pháp 92
4.2.2 Các giải pháp của cơ quan quản lý nhằm nâng cao khả năng huy động và sử
dựng vốn cho DNVVN tại thành phố Thái Nguyên 94
4.2.3 Giải pháp tăng khả năng tự huy động và sử dụng vốn kinh doanh đối với
DNVVN tại thành phố Thái nguyên 97
4.2.4 Một số giải pháp hỗ trợ khác nhằm tăng cường hiệu quả huy động sử
dụng nguồn vốn kinh doanh cho DNVVN tại thành phố Thái Nguyên 102
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
4.3 Những kiến nghị về công tác huy động và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Thái Nguyên 104 4.3.1 Xây dựng các giải pháp hỗ trợ vốn cho DNVVN 104 4.3.2 Những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn đối với DNVVN tại thành phố Thái Nguyên 106
KẾT LUẬN 108 TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VÀ CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHXH : Bảo hiểm xã hội
BQ : Bình quân
CP : Cổ phần
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa hiện đại hóa
CN-TTCN : Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp
CTCP : Công ty cổ phần
CTTC : Cho thuê tài chính
DN : Doanh nghiệp
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DNVVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ
DNTN : Doanh nghiệp tư nhân
DT : Doanh thu
ĐTNN : Đầu tư nước ngoài
ĐVT : Đơn vị tính
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Dometic Products)
HĐND : Hội đồng nhân dân
HTX : Hợp tác xã
KH : Kế hoạch
KH&ĐT : Kế hoạch và Đầu tư
KT-XH : Kinh tế xã hội
NĐ-CP : Nghị định chính phủ
LN : Lợi nhuận
LN/DT : Lợi nhuận trên doanh thu
LN/VKD : Lợi nhuận trên vốn kinh doanh
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTM CP : Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTM NN : Ngân hàng thương mại nhà nước
NN : Nhà nước
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TMCP : Thương mại cổ phần
TMDV : Thương mại dịch vụ
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
TP : Thành phố
UBND : Ủy ban nhân dân
VLXD : Vật liệu xây dựng
VNĐ : Việt Nam đồng
VKD : Vốn kinh doanh
TTCK : Thị trường chứng khoán
WTO : Tổ chức Thương mại thế giới
XDCB : Xây dựng cơ bản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại DNVVN của một số quốc gia trên thế giới 7
Bảng 1.2 Phân loại DNVVN tại Việt Nam 8
Bảng 1.3 Tiêu chuẩn DNVVN của Nhật Bản 28
Bảng 1.4 Tiêu chuẩn về DNVVN theo giá trị tổng tài sản 30
Bảng 3.1 Thực trạng sử dụng đất TP thái nguyên 45
Bảng 3.2 Dân số và nhân khẩu của thành phố Thái Nguyên năm 2011 - 2013 50
Bảng 3.3 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu KT - XH 2011-2013 54
Bảng 3.4 Giá trị sản xuất công nghiệp thành phố Thái Nguyên 2011 - 2013 56
Bảng 3.5 Số lượng DNVVN thành phố Thái Nguyên năm 2013 62
Bảng 3.6 Sự phát triển các DNVVN thành phố Thái Nguyên năm 2011 - 2013 64
Bảng 3.7 Mục đích vay vốn các doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2003 68
Bảng 3.8 Tỷ trọng cho vay DNVVN của một số ngân hàng tại TPTN năm 2013 69
Bảng 3.9 Thống kê huy động vốn các DNVVN thành phố Thái Nguyên năm 2013 73
Bảng 3.10 Các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2013 79
Bảng 3.11 Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ 81
Bảng 3.12 Chỉ tiêu tài chính điều tra DNVVN năm 2013 84
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu và thực trạng sử dụng đất tại Thành phố Thái Nguyên 2013 45
Biểu đồ 3.2 Giá trị SXCN thành phố Thái Nguyên 2011 - 2013 57
Biểu đồ 3.3 Sự phát triển DNVVN TP Thái Nguyên năm 2011-2013 65
Biểu đồ 3.4 Tỷ trọng vốn vay phân theo khu vực kinh tế cấp I năm 2013 74
Biểu đồ 3.5 Tỷ trọng vốn vay phân theo loại hình DN năm 2013 74
Biểu đồ 3.6 Cơ cấu vay vốn theo loại hình doanh nghiệp năm 2013 83
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam thì DNVVN là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số và chủ yếu trong nền kinh tế Theo đó, loại hình DN này đóng vai trò quan trọng nhất là tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển và xóa đói giảm nghèo Nhưng trong những năm gần đây do ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế khu vực và trên thế giới đã ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế Việt Nam và ảnh hưởng mạnh đến những DNVVN
Các DNVVN nói chung và DNVVN tại TP Thái Nguyên nói riêng luôn gặp phải thách thức hơn các DN quy mô lớn về việc trả lời bài toán làm thế nào để có thể đáp ứng nhu cầu nguồn vốn Trong quá trình phát triển các DNVVN cũng bộc lộ nhiều khiếm khuyết và yếu kém như: Vốn cho SXKD còn thiếu, tiềm lực kinh tế còn nhỏ bé, sức đầu tư hạn chế, quy mô đầu tư còn nhỏ lẻ hoạt động manh mún, khối lượng sản phẩm sản xuất và năng suất còn thấp dẫn đến khả năng cạnh tranh kém Cùng với
đó là những biến động về giá cả, lãi suất cho vay cùng những chính sách chi tiêu, chính sách tiền tệ thắt chặt của chính phủ, khủng hoảng tài chính tiền tệ trong những năm gần đây đã làm cho việc huy động vốn cho đầu tư phát triển của các DNVVN ngày càng
có nhiều khó khăn Đứng trước những khó khăn đó để có thể tồn tại và phát triển các DNVVN đã tập trung giải quyết vấn đề về vốn cho đầu tư và phát triển SXKD
Nhận thấy tầm quan trọng đó tôi đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp tăng cường
huy động và sử dụng vốn tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên” để thực hiện khóa luận tốt nghiệp của mình
Giải quyết tốt vấn đề huy động và sử dụng vốn cho DNVVN có thể tăng cường phát triển cho các DNVVN, tạo công ăn việc làm cho số lượng lớn lao động trong tỉnh cũng như lao động nhập cư, tăng thu nhập cho người lao động, đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế từ đó tăng nguồn thu cho Ngân sách nhà nước của TP Thái Nguyên cũng như tỉnh Thái Nguyên Đồng thời tháo gỡ được vướng
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
mắc về vốn sẽ tạo điều kiện ổn định và thúc đẩy hoạt động SXKD cho các DNVVN
từ đó tạo sự ổn định cho nền kinh tế
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hình huy động và sử dụng
vốn trong các DNVVN tại TP Thái Nguyên đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn cho DNVVN tại TP Thái Nguyên
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về huy động và sử dụng vốn cho DNVVN
- Tập trung nghiên cứu, đánh giá về nguồn vốn, quá trình huy động vốn, nhu
cầu vốn cho SXKD trong DNVVN
- Phân tích thực trạng nguồn vốn, cơ cấu trong huy động và sử dụng nguồn
vốn trong đầu tư; Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến huy động và sử dụng vốn
- Đề xuất một số giải pháp trong huy động và sử dụng vốn cho các DNVVN
tại TP Thái Nguyên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các DNVVN được định nghĩa theo luật pháp
của Việt Nam và những đối tượng khác có liên quan tới quá trình hoạt động SXKD
của các DNVVN
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Luận văn nghiên cứu thực trạng đề xuất giải pháp tăng
cường huy động và sử dụng vốn trong các DN vừa và nhỏ tại TP Thái Nguyên
- Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện trong thời gian từ tháng 01 năm 2013
đến tháng 06 năm 2014 Số liệu và nội dung phân tích và đánh giá từ tài liệu đã
công bố trong các năm 2011- 2013
- Phạm vi không gian: Thực hiện thu thập số liệu tại thành phố Thái Nguyên
tỉnh Thái Nguyên
4 Ý nghĩa khoa học và đóng góp mới của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trên cơ sở nghiên cứu khoa học, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn luận văn có những đóng góp sau:
- Đề tài hoàn thành nhằm hệ thống hóa những lý luận và thực tiễn trong công tác huy động và sử dụng vốn trong các DNVVN
- Đề xuất giải pháp tăng cường huy động và sử dụng vốn trong các DNVVN
tại TP Thái Nguyên nói riêng và các DNVVN nói chung
- Về mặt xã hội: Luận văn là tài liệu khoa học có ý nghĩa thực tiễn cho công tác quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước trong xây dựng kế hoạch sử dụng và phân bổ nguồn vốn, lập kế hoạch và chỉ đạo thực hiện công tác hỗ trợ vốn cho DN nhằm thúc đẩy thị trường tài chính phát triển cũng như ổn định SXKD
4.2 Đóng góp mới
Đã có những nghiên cứu về DNVVN tại Thái Nguyên, tuy nhiên các đề tài nghiên cứu trong những năm trước đây chưa nghiên cứu về vấn đề huy động và sử dụng vốn trong DNVVN, do đó thông qua việc phân tích về huy động và sử dụng vốn cho DNVVN tại TP Thái Nguyên nhằm đề xuất được những giải pháp phù hợp trong công tác huy động và sử dụng vốn cho các DNVVN tại TP Thái Nguyên, Từ
đó có giá trị tham khảo trong quản lý và các nghiên cứu tương tự, làm cơ sở khoa học trong công tác quản lý cũng như áp dụng vào thực tiễn tại các đơn vị
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 4 chương như sau: Chương 1: Cơ sở lý luận chung về huy động và sử dụng vốn trong doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng về huy động và sử dụng vốn trong doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại thành phố Thái Nguyên
Chương 4: Giải pháp tăng cường huy động và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Thái Nguyên
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG
VÀ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1 Cơ sở lý luận về doanh nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp và các loại hình doanh nghiệp
Theo Luật DN năm 2005: “DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có
trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”
Theo quy định của pháp luật DN hiện hành, có những loại hình tổ chức kinh
doanh sau: DN tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ
phần, và nhóm công ty Các loại hình DN: Theo Luật DN 2005 có 4 loại hình DN:
- DN tư nhân: Là DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn
bộ số tài sản của mình về mọi hoạt động của DN
- Công ty hợp danh: Là DN trong đó phải có ít nhất 2 thành viên là đồng sở hữu
chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (gọi là thành viên hợp
danh), ngoài các thành viên hợp danh còn có thể là có thành viên góp vốn; Thành viên
hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp, chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; Thành viên góp vốn
chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào
công ty Loại hình công ty hợp danh có lợi thế hơn doanh nghiệp tư nhân về khả năng
huy động vốn do có thể có nhiều thanh viên tham gia góp vốn kinh doanh
- Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH): Là loại công ty do các thành viên
góp vốn để thành lập và họ chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn đã đóng góp
vào công ty Công ty TNHH gồm Công ty TNHH một thành viên và Công ty
TNHH hai thành viên trở lên
- Công ty cổ phần: Là DN trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều
phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ
đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách
nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp
vào DN; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người
khác theo quy định của pháp luật So với các loại hình DN khác, công ty cổ phần
có lợi thế về các hình thức huy động vốn Ngoài các hình thức huy động vốn như
các DN khác, công ty cổ phần là loại DN duy nhất được cấp phép huy động vốn
thông qua phát hành chứng khoán để thu hút vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DN có vốn đầu tư nước ngoài, theo Khoản 6 Điều 3 của Luật Đầu tư, là DN do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là
DN Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại Tuy nhiên, tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài thành lập DN có vốn đầu tư nước ngoài phải theo một trong ba loại hình như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005
1.1.2 Khái niệm và tiêu chí xác định DNVVN
1.1.2.1 Khái niệm DNVVN
Quá trình phát triển của mỗi quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của các DN Các loại hình DN trong nền kinh tế thị trường lại rất đa dạng và phong phú Tùy theo từng cách tiếp cận khác nhau mà người ta có thể chia DN thành các loại khác nhau, trong đó nếu dựa theo quy mô có thể chia DN thành DN lớn và DN vừa và nhỏ (DNVVN) Đối với các nước đang phát triển, như Việt Nam hiện nay,
DNVVN chiếm tỷ trọng rất lớn và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế của đất nước Tuy nhiên, để thực hiện quá trình quản lý nhà nước đối với các DN này, mỗi quốc gia nhất thiết phải xác định được khái niệm DNVVN
Khái niệm về DNVVN phải dựa trước tiên vào quy mô của DN Thực tế trên thế giới, các nước có quan niệm rất khác nhau về DNVVN, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau này là do tiêu chí dùng để phân loại quy mô DN khác nhau, có thể là tiêu chí về số nhân công, vốn đăng kí, doanh thu Tuy nhiên trong hàng loạt các tiêu chí phân loại đó có hai tiêu chí được sử dụng ở phần lớn các nước
là quy mô vốn và số lượng lao động Theo đó, cách hiểu chung nhất, DNVVN là
DN có quy mô vốn và số lượng lao động nhỏ hay vừa phải Nhưng nhỏ ở mức độ như nào thì tùy thuộc vào sự quy định cụ thể của mỗi nước, trong từng thời kỳ để phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó
Theo Bộ kế hoạch và Đầu tư Việt Nam: “DNVVN là cơ sở kinh doanh được thành lập theo quy định của pháp luật có quy mô về vốn hoặc số lao động phù hợp với quy định của Chính phủ”
Theo khái niệm này thì một DNVVN ở Việt Nam là một cơ sở kinh doanh,
có thể là một DN (thành lập và đăng ký theo Luật DN), có thể là một hợp tác xã (thành lập và đăng ký theo Luật hợp tác xã) hay cá nhân, nhóm SXKD (thành lập và đăng ký kinh doanh theo Nghị định Chính phủ), có thể thuộc mọi lĩnh vực, mọi
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thành phần kinh tế trong cả nước Tuy nhiên, quy mô về vốn hoặc số lao động của
các DNVVN phải theo quy định của Nghị định 56/2009/NĐ-CP
1.1.2.2 Tiêu chí xác định và phân loại DNVVN
Tiêu chí xác định và phân loại DNVVN có ý nghĩa rất lớn, nhằm xác định
đúng đối tượng cho các chương trình phát triển kinh tế, xã hội, các chính sách hỗ
trợ của nhà nước Nếu phạm vi hỗ trợ quá lớn sẽ không đủ sức bao quát và tác dụng
sẽ bị giảm Nếu phạm vi đối tượng hỗ trợ quá hẹp thì sẽ không có ý nghĩa và ít có
tác dụng trong nền kinh tế
Trên thế giới, các tiêu chí để phân loại DN có hai nhóm: tiêu chí định tính và
tiêu chí định lượng
* Nhóm tiêu chí định tính: dựa trên những đặc trưng cơ bản của các DN như
không có vị thế độc quyền, chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức
tạp của quản lý thấp… Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề
nhưng thường khó xác định trên thực tế Do đó, nhóm tiêu chí định tính thường dùng
làm cơ sở tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng để phân loại trong thực tế
* Nhóm tiêu chí định lượng: bao gồm các tiêu chí như số lượng lao động, giá
trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận Trong đó:
- Số lao động có thể là lao động trung bình trong danh sách, lao động thường
xuyên, lao động thực tế
- Tài sản hoặc vốn có thể dung là tổng tài sản (hay vốn), cố định, giá trị tài sản
còn lại
- Doanh thu, lợi nhuận có thể là tổng doanh thu, lợi nhuận trong một năm,
tổng giá trị gia tăng trong một năm
Trong điều kiện thực tế của mỗi quốc gia có những quan niệm khác nhau
và lựa chọn tiêu thức không hoàn toàn giống nhau, tuy vậy để thuận tiện cho việc
so sánh DN giữa các quốc gia thì tiêu thức số lượng lao động được sử dụng
thường xuyên, bởi yếu tố lao động không chịu nhiều ảnh hưởng của sự khác biệt
giữa các quốc gia về mức thu nhập cũng như những thay đổi trong giá trị đồng
tiền nội địa hiện hành qua từng thời kỳ Nhưng nếu theo tiêu thức này thì nhất
thiết phải phân chia theo từng nhóm ngành, lĩnh vực SXKD vì ngành nghề, lĩnh
vực kinh doanh khác nhau có nhu cầu về lượng lao động hoàn toàn khác nhau
Ngoài tiêu thức lao động, tiêu thức khác là tổng vốn đầu tư cũng được nhiều
nước sử dụng Thông thường đơn vị đo lường đồng tiền nội địa thường quy đổi ra
loại tiền thông dụng trong giao dịch như đô la Mỹ để khắc phục hạn chế trong việc
so sánh quốc tế
Phân loại DN chỉ mang tính chất tương đối, phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
phân loại đảm bảo phù hợp với trình độ phát triển, điều kiện và mục đích phân loại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
của những quốc gia Dưới đây là một số cách phân loại DNVVN của một số quốc
- Đối với ngành sản xuất
- Đối với ngành thương mại
- Đối với ngành dịch vụ
1-300 1-100 1-100
6 New Zealand
Vừa và nhỏ < 50 Không quy định Không quy định
7 Hàn quốc - Ngành chế tạo, khai thác,
xây dựng + DN vừa + DN nhỏ
- Ngành thương mại + DN vừa + DN nhỏ
20-300
<20 6-20
<6
<600.000 USD <250.000USD/
năm
8 Đài loan - Ngành khai khoáng
- Ngành công nghiệp xây dựng
Không quy định Không quy định
< NT$ 40 triệu
B NHÓM CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
1 Thái Lan Vừa và nhỏ Không
quy định < Baht 200 triệu Không quy định
2 Malaysia - Đối với ngành sản xuất 0-150 Không quy định RM 0-25 triệu
Không quy định
4 Indonesia Vừa và nhỏ Không
quy định
< US$ 1 triệu < US$ 5 triệu
5 Brunei Vừa và nhỏ 1-100 Không quy định Không quy định
C NHÓM CÁC NƯỚC KINH TẾ ĐANG CHUYỂN ĐỔI
Vừa
1-249 250-999
Không quy định Không quy định
2 Trung Quốc
Nhỏ Vừa 101-500 50-100
Không quy định Không quy định
Vừa
< 50 51-200
Không quy định Không quy định
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nguồn: 1) DN vừa và nhỏ, APEC, 1998; 2) Định nghĩa DN vừa và nhỏ, UN/ECE, 1999; 3) Tổng quan về
DN vừa và nhỏ, OECD, 2000
Ở Việt Nam, theo Khoản 1 điều 3 Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009
của Thủ tướng Chính phủ thì DNVVN được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, vừa và nhỏ
theo quy mô tổng nguồn vốn (Tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác
định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm Tiêu chí
nguồn vốn là tiêu chí được ưu tiên, cụ thể như sau (Bảng 1.2):
Bảng 1.2 Phân loại DNVVN tại Việt Nam
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người
II Công nghiệp và
xây dựng
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người III Thương mại và
dịch vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
50 người
từ trên 10 tỷ đồng đến 50
tỷ đồng
từ trên 50 người đến
100 người
(Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP)
Như vậy mỗi quốc gia, nền kinh tế, vùng lãnh thổ, DNVVN được chia cụ thể theo
từng ngành nghề và khác nhau trong từng thời kỳ Tiêu thức phân loại DN được sử dụng
chủ yếu là số lao động, vốn đầu tư và doanh thu Sự khác nhau về giá trị trong tiêu thức
xác định và phân loại DN phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc
gia, vùng lãnh thổ và nền kinh tế
1.1.3 Đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong phát triển kinh tế - xã hội
1.1.3.1 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nghiên cứu những đặc điểm chung của DNVVN để biết được thế mạnh và
hạn chế nhằm có những tác động phù hợp, để hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển của DN
cũng là điều thiết thực nhằm phát triển nền kinh tế đất nước nói chung Các
DNVVN có một số đặc điểm chung cơ bản là thế mạnh như sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- DNVVN dễ khởi sự: Hầu hết các DNVVN chỉ cần một lượng vốn ít, số lao
động không nhiều, diện tích mặt bằng nhỏ với các điều kiện làm việc đơn giản để có thể bắt đầu kinh doanh ngay sau khi có ý tưởng kinh doanh Loại hình DN này gần như không đòi hỏi một lượng đầu tư lớn ngay trong giai đoạn đầu
Do tốc độ vòng quy vốn nhanh nên DNVVN có thể huy động vốn từ nhiều nguồn không chính thức khác nhau như bạn bè, người thân để nhanh chóng biến ý tưởng kinh doanh thành hiện thực
- Về tính chất hoạt động kinh doanh: DNVVN thường tập trung nhiều ở khu
vực chế biến và dịch vụ, tức là gần với người tiêu dùng hơn và sử dụng không nhiều lao động
Chính nhờ tính chất hoạt động kinh doanh này mà các DN vừa và nhỏ có lợi thế
về tính linh hoạt (khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh thậm chí cả địa điểm kinh doanh được coi là mặt mạnh của các DN vừa và nhỏ) Trên góc độ thương mại, nhờ tính năng động này làm các DNVVN dễ dàng tìm kiếm được thị trường nhỏ và gia nhập những thị trường này khi thấy việc kinh doanh có thể thu được nhiều lợi nhuận hoặc rút khỏi các thị trường này khi các công việc kinh doanh trở nên khó khăn và kém hiệu quả Điều này đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế đang chuyển đổi hoặc các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam hiện nay
- Có lợi thế trong việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống: So
với các DN lớn thì DNVVN có lợi thế hơn trong việc khai thác, duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống Với đặc điểm các DN sản xuất, kinh doanh ngành nghề truyền thống thường phát triển xuất phát từ các hộ gia đình, do vậy xuất phát điểm đều là những DN nhỏ Tuy nhiên, có nhiều DNVVN của Việt Nam và thế giới
đã từng bước trưởng thành và lớn mạnh khi khai thác và sử dụng có hiệu quả những nguồn lực đầu vào như lao động, tài nguyên hay vốn tại chỗ của địa phương
- DNVVN có lợi thế về sử dụng lao động: Quan hệ lao động trong các DNVVN
thường có tính chất thân thiện, gần gũi hơn so với các DN lớn Do đó người lao động thường dễ dàng được quan tâm, động viên, khuyến khích hơn trong công việc Đặc biệt là mối quan hệ gần gũi, thân thiện đó rất phù hợp với văn hóa của người Châu Á nói chung và người Việt Nam nói riêng
Bên cạnh những thế mạnh được nêu ra thì các DNVVN còn có các hạn chế nhất định như:
- Thiếu nguồn lực vật chất: Nhìn chung các DNVVN bị hạn chế bởi nguồn
vốn, tài nguyên, đất đai và công nghệ Sự hữu hạn về nguồn lực này là do tôn chỉ và nguồn gốc hình thành DN Mặt khác còn do sự hạn hẹp trong các quan hệ với thị
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trường tài chính - tiền tệ (ngân hàng, chính phủ, cũng như sự ủng hộ của đông đảo
công chúng), quá trình tự tích luỹ thường đóng vai trò quyết định của từng DNVVN
Chính vì vậy, nhiều DNVVN bị phụ thuộc rất vào các DN lớn trong quá trình phát
triển như về thương hiệu hàng hóa, thị trường, công nghệ, tài chính…
- Thiếu sự quản lý điều hành chuyên nghiệp: Xuất phát từ nguồn gốc hình
thành, tính chất, quy mô các quản trị gia DNVVN thường nắm bắt, bao quát và
quán xuyến hầu hết các mặt của hoạt động kinh doanh Thông thường họ được coi
là nhà quản trị DN hơn là nhà quản lý chuyên sâu Có rất nhiều những nhà quản lý
DN không được đào tạo mà họ chỉ là người có vốn và từ đó mở DN và trực tiếp
quản lý điều hành DN mà mình thành lập ra Chính vì vậy mà nhiều kỹ năng,
nghiệp vụ quản lý trong các DNVVN còn rất thấp so với yêu cầu và sự phát triển
ngày càng nhanh của thị trường, của khoa học và công nghệ cũng như mối quan hệ
kinh tế quốc tế…
- Tính phụ thuộc, hay bị động và chịu nhiều rủi ro trong kinh doanh: Chính
do những đặc trưng trên nên các DNVVN thường không đóng vai trò “dẫn dắt” hay
“đánh thức” thị trường mà vai trò này thường nằm ở các DN lớn Mặt khác, khi gặp
phải khó khăn, DNVVN khó có thể khắc phục được một cách nhanh chóng, đa số
rơi vào tình trạng bị phá sản Có những DN bị phá sản chỉ sau một thời gian hoạt
động rất ngắn, nói cách khác các DNVVN có “tuổi thọ” trung bình thấp Theo kết
quả nghiên cứu thực nghiệm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới thì các DNVVN
có tỉ lệ phá sản và thất bại cao trong năm hoạt động thứ tư
1.1.3.2 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong phát triển kinh tế - xã hội
DNVVN có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, kể cả các nước
có trình độ phát triển cao Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá như hiện nay thì
các nước đều chú ý hỗ trợ các DNVVN nhằm huy động tối đa các nguồn lực và hỗ
trợ cho công nghiệp lớn, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm Quá trình công nghiệp
hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam được tiến hành với xuất phát điểm chủ yếu là sản
xuất nhỏ thì việc phát triển DNVVN được coi là chủ trương có tính chiến lược và có
vị trí hết sức quan trọng
Ở nước ta, các DNVVN có ở tất cả các loại hình kinh tế, và ngày càng đóng
vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vai trò được thể
hiện qua một số yếu tố sau:
Thứ nhất, các DNVVN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số DN, đóng góp khối lượng
lớn sản phẩm cho nền kinh tế, vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thứ hai, góp phần giải phóng sức lao động, thu hút mọi nguồn lực vào giải
quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Thứ ba, các DNVVN cùng với các DN có quy mô lớn có sự bổ sung hỗ trợ
lẫn nhau, tạo ra một nền kinh tế thị trường đích thực, có hiệu quả, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ, bền vững
Thứ tư, DNVVN cũng là nơi phát triển ngành nghề truyền thống của đất
nước, khai thác những tiềm năng rất phong phú trong dân cư đồng thời góp phần gìn giữ giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
Thứ năm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vai trò này của các DNVVN
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với khu vực nông thôn
Ngoài ra, DNVVN có vai trò trong việc gieo mầm cho các tài năng kinh doanh Số lượng DNVVN ngày càng nhiều, số lượng các nhà quản lý ngày càng tăng lên Sự phát triển của DNVVN có tác dụng đào tạo các nhà quản lý, các nhà kinh doanh qua thực tế
1.2 Các hình thức huy động sử dụng nguồn vốn trong nền kinh tế thị trường
1.2.1 Khái quát về vốn kinh doanh
Vốn là tiền đề của hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế hàng hóa - tiền
tệ Trước khi bước vào hoạt động kinh doanh nhất thiết DN phải có một lượng vốn kinh doanh nhất định Vốn kinh doanh của DN được quan niệm như là khối lượng giá trị được tạo lập và đưa vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi Vốn tài sản kinh doanh là những phương tiện, tài sản, các yếu tố vật chất mà một DN phải có để tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình
Vốn tài sản vừa là nhân tố đầu vào, vừa ảnh hưởng đến kết quả phân phối thu nhập đầu ra của DN Chính trong quá trình đó, vốn tài sản là một nhân tố không thể thiếu được trong quá trình hoạt động kinh doanh Vốn tài sản sau khi được đầu tư một thời gian thì phải được thu về để tiếp ứng cho chu kỳ kinh doanh tiếp theo Thực chất vốn tài sản kinh doanh là một quỹ tiền tệ đặc biệt có hai đặc trưng cơ bản:
Thứ nhất, vốn tài sản kinh doanh là lượng tiền (giá trị) cần thiết để mua sắm
những yếu tố cần thiết cho hoạt động kinh doanh Điều này có nghĩa là trước khi được Nhà nước cấp giấy phép hoạt động kinh doanh, các chủ đầu tư phải tích tụ
và tập trung một lượng vốn tài sản kinh doanh tối thiểu ít nhất bằng vốn pháp định
mà Nhà nước quy định cho mỗi lĩnh vực kinh doanh
Thứ hai, vốn tài sản không thể mất đi mà phải được bảo toàn, bổ sung và
phát triển; đây chính là điều kiện cần thiết để các DN thực hiện quá trình tái sản
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
xuất giản đơn cũng như quá trình tái sản xuất mở rộng
Xét theo công dụng và đặc điểm luân chuyển giá trị, vốn tài sản kinh doanh
của một DN bao gồm:
- Vốn tài sản cố định: là sự biểu hiện bằng tiền về toàn bộ tài sản cố định
(TSCĐ) phục vụ cho hoạt động kinh doanh của DN
- Vốn tài sản lưu động: là biểu hiện bằng tiền về toàn bộ tài sản lưu động
(TSLĐ) của DN để phục vụ cho quá trình kinh doanh của DN
- Vốn tài sản đầu tư tài chính: trong nền kinh tế thị trường, ngoài lý do tìm
kiếm lợi nhuận, các DN phi tài chính cần phải phân tán rủi ro, đảm bảo an toàn
đồng vốn đầu tư của DN
1.2.2 Cơ sở hình thành nguồn vốn kinh doanh
Nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của DN là những nguồn lực tài chính có
trong nền kinh tế, được DN huy động, khai thác bằng nhiều phương pháp, hình
thức, cơ chế khác nhau nhằm đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động kinh
doanh trước mắt và lâu dài Như vậy, một cấu trúc vốn an toàn ổn định, hợp lý, linh
hoạt sẽ mang lại sự phát triển năng động và hiệu quả cho DN Nếu xét trên những
tiêu chí khác nhau sẽ có những cơ sở hình thành vốn khác nhau:
- Căn cứ phạm vi tài trợ có:
+ Nguồn vốn bên trong: chủ yếu trích lập từ lợi nhuận có được từ kết quả
kinh doanh của DN
+ Nguồn vốn bên ngoài: hình thành từ nguồn vốn liên doanh, liên kết,
phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu, tín dụng ngân hàng…
- Căn cứ thời gian tài trợ:
+ Nguồn vốn tài trợ ngắn hạn: có được từ tín dụng thương mại, các khoản
chiếm dụng về tiền lương, tiền thuế, tín dụng ngân hàng, các khoản phải trả khác…
+ Nguồn vốn dài hạn: hình thành từ tín dụng ngân hàng dài hạn, phát hành trái
phiếu, huy động vốn góp cổ phần, liên doanh, bổ sung vốn từ lợi nhuận…
- Căn cứ vào tính chất sở hữu nguồn tài chính:
+ Nguồn vốn chủ sở hữu DN: là vốn đóng góp ban đầu của các chủ sở hữu
DN, vốn bổ sung bằng cách kết nạp thêm các thành viên mới, vốn tài trợ từ lợi
nhuận sau thuế
+ Nguồn vốn đi vay và chiếm dụng: khai thác từ nguồn vốn tín dụng ngân
hàng, tín dụng thương mại, phát hành trái phiếu DN, các nguồn chiếm dụng khác…
- Căn cứ vào hình thức huy động vốn:
+ Nguồn huy động dưới dạng tiền
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Nguồn huy động dưới dạng tài sản hữu hình hoặc vô hình
- Căn cứ vào tính pháp lý:
+ Vốn huy động từ thị trường chính thức + Vốn huy động từ thị trường phi chính thức như tín dụng nặng lãi, góp vốn với pháp nhân không chính thức để rửa tiền hoặc né tránh thuế
1.2.3 Vai trò của vốn kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
Trong một quá trình đầu tư, để tạo sự tăng trưởng thì yếu tố có tính tiền đề không thể thiếu được đó là vốn Chính sự phát triển thế giới ngày nay đã chứng minh một cách thuyết phục: vốn là nhân tố đặc biệt quan trọng, là chìa khóa của
sự thành công về tăng trưởng và phát triển kinh tế, cụ thể:
* Đối với các đơn vị kinh tế: vốn là nhân tố tiền đề cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi đơn vị kinh tế Vốn được biểu hiện bằng giá trị và đại diện cho một khối lượng tài sản nhất định Giữa vốn và tiền có mối quan hệ với nhau, Muốn
có vốn thì phải có tiền, song có tiền, thậm chí là những khoản tiền lớn cũng chưa là vốn Một khối lượng tiền được gọi là vốn kinh doanh của DN khi đáp ứng các điều kiện như tiền phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản có thật; tiền phải được tích
tụ và tập trung đủ lớn; tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lời Vốn vừa là nhân tố đầu vào, đồng thời là kết quả của quá trình phân phối thu nhập đầu ra của quá trình đầu tư Chính trong quá trình đó, vốn tồn tại với tư cách là một nhân tố độc lập không thể thiếu Vốn khi được đầu tư và sau một thời gian hoạt động phải được thu về để tiếp ứng cho chu kỳ kinh doanh sau
* Đối với nền kinh tế quốc dân:
- Tác động của vốn đến cân bằng kinh tế vĩ mô: trong những điều kiện cơ bản nền kinh tế tăng trưởng và phát triển là đòi hỏi phải đảm bảo sự cân bằng kinh
tế vĩ mô, trong đó giữa tiết kiệm và đầu tư phải có sự cân đối để nền kinh tế vừa có
đủ vốn cho đầu tư phát triển, vừa tiêu hóa số tiền tiết kiệm một cách có hiệu quả Vốn chính là hiện thân của sự kết hợp giữa tiết kiệm và đầu tư
- Tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế: vốn là nhân tố quyết định đối với tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Quan điểm này có thể chưa thuyết phục vì trong quá trình đầu tư phát triển nền kinh tế cần có sự kết hợp hài hòa giữa các nhân tố nguồn lực đầu vào chứ không phải duy nhất chỉ có vốn Hơn nữa, có vốn chưa hẳn tạo được sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nếu không biết đầu tư và
sử dụng vốn có hiệu quả Ngược lại, nếu cho rằng vốn là nhân tố cần thiết như mọi nhân tố khác thì lại có sự đánh đồng và hạ thấp vai trò của vốn Thực tế cho thấy nguồn lực tài nguyên thiên nhiên không còn quan trọng đối với nhiều nền kinh tế
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Tác động của vốn đến sự phát triển cơ sở hạ tầng và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế Sự phát triển kinh tế phải đặt trong sự tương quan chặt chẽ với phát triển cơ sở hạ
tầng Để gia tăng sự phát triển kinh tế, nền kinh tế nhất thiết phải có vốn để tập trung
đầu tư vào cơ sở hạ tầng Khi nền kinh tế phát triển cao thì cơ sở hạ tầng cần phải phù
hợp với sự tiến triển của nhu cầu Do đó, nền kinh tế phải tạo lập vốn với quy mô lớn
để đáp ứng Mặt khác, để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững đòi hỏi nền kinh tế
phải tạo ra bộ khung kinh tế cân đối, hài hòa cả về cơ cấu ngành lẫn cơ cấu vùng và
lãnh thổ Vốn chính là nhân tố đặc biệt quan trọng để khai thác các nguồn lực tiềm
năng như nhân lực, vật lực… tạo ra tổng lực đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu
1.2.4 Các hình thức huy động vốn cho DNVVN trong nền kinh tế thị trường
Để chủ động kinh doanh theo các phương án đầu tư đã chọn, các DN phải chủ
động về nguồn vốn Do đó, việc xác định quy mô lựa chọn nguồn cung cấp vốn kinh
doanh có ý nghĩa rất quan trọng Trong nền kinh tế thị trường, một DN hoạt động chủ
yếu dựa vào hai nguồn vốn: nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả Tương ứng với mỗi
nguồn có những cách huy động vốn khác nhau
* Đối với nguồn vốn chủ sở hữu: DN huy động theo các phương pháp sau:
- Huy động vốn góp ban đầu của các chủ sở hữu: đây là nguồn vốn ban đầu
do các chủ sở hữu DN trực tiếp đầu tư khi thành lập DN Tuỳ theo loại hình sở hữu
của DN mà nguồn vốn này được tạo lập theo các hình thức khác nhau Cụ thể: DN
Nhà nước thì do ngân sách Nhà nước cấp vốn; DN sở hữu một chủ thì vốn ban đầu
là do chính chủ sở hữu đầu tư; các DN thuộc sở hữu tập thể thì vốn đầu tư ban đầu
được hình thành từ sự tham gia đóng góp của các thành viên cổ đông Để huy động
được nguồn vốn này một cách hiệu quả, DN có thể vận động các nguồn tiết kiệm
nhàn rỗi từ người thân, bạn bè… Ngoài ra, DN cần có phương án kinh doanh khả
thi và hấp dẫn nhằm thu hút các thành viên góp vốn
- Huy động vốn từ lợi nhuận sau thuế: trong quá trình kinh doanh, DN có thể
làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu bằng thình thức tái đầu tư lợi nhuận thu được
Nghĩa là lợi nhuận sẽ được đưa trở lại quá trình kinh doanh nhằm tăng thêm nguồn
vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, nguồn vốn này phụ thuộc vào quy mô lợi nhuận kiếm
được trong quá trình kinh doanh của DN Để có được nguồn vốn từ lợi nhuận sau
thuế, DN sẽ không chia lợi nhuận mà tái đầu tư thành vốn kinh doanh Mặt khác, DN
có thể chia lợi nhuận dưới hình thức cổ phiếu cho cổ đông Phương pháp này vừa tăng
nguồn vốn kinh doanh, vừa tạo cho các thành viên góp vốn cảm giác an toàn vì đã nhận
được kết quả từ đồng vốn mình bỏ ra
- Huy động nguồn vốn bổ sung bằng cách kết nạp thêm thành viên mới: khi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cần tăng thêm quy mô kinh doanh, các DN thuộc loại hình công ty có thể huy động thêm vốn bằng cách kêu gọi thêm các nhà đầu tư mới Tuy nhiên, hình thức huy động này sẽ dẫn đến tình trạng các nhà đầu tư cũ phải phân chia quyền kiểm soát
DN và lợi ích kinh tế cho các nhà đầu tư mới
Nguồn vốn chủ sở hữu có những ưu điểm sau như: DN được chủ động trong đầu tư lâu dài mà không bị áp lực về thời gian sử dụng; tạo ra năng lực tài chính mang lại sự an toàn, uy tín trong kinh doanh; tạo ra khả năng huy động các nguồn vốn khác
* Nợ phải trả: là số tiền DN đi chiếm dụng hoặc vay mượn làm vốn kinh
doanh, và phải cam kết thanh toán cho các chủ sở hữu đó trong một thời gian nhất định Để bổ sung vốn cho kinh doanh, DN phải huy động từ các hình thức:
- Huy động từ vốn tín dụng ngân hàng: vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn quan trọng để tài trợ vốn cho DN Do đặc điểm luân chuyển vốn trong quá trình kinh doanh là luôn tạo ra sự không ăn khớp về thời gian và quy mô giữa nhu cầu vốn và khả năng tài trợ nên dẫn đến tình trạng thiếu hụt vốn Phần thiếu hụt này chỉ có thể giải quyết bằng nguồn vốn vay ngân hàng Nguồn vốn tín dụng có những ưu điểm như: đáp ứng kịp thời nhu vầu vốn kinh doanh; lãi suất vay được hạch toán vào chi phí kinh doanh, nên có sự chia sẻ về lợi ích kinh tế giữa các nhà đầu tư
và Nhà nước; dù tăng vốn nhưng các ngân hàng không chi phối trực tiếp sự quản lý
và điều hành kinh doanh của DN Tuy nhiên, khi sử dụng phương thức huy động này,
DN phải có tài sản đảm bảo cho số tiền vay, nghĩa là DN phải thanh toán cho ngân hàng đúng hạn Do đó, số tiền vay không phải là vô hạn và quy mô vốn vay phụ thuộc vào độ tín nhiệm của người đi vay
- Huy động vốn từ tín dụng thương mại: nguồn vốn này hình thành trong quan hệ mua bán chịu giữa các DN với nhau Đây là loại hình tín dụng ngắn hạn, nó thường được thực hiện giữa các DN khi có sự tín nhiệm và thiết lập được quan hệ cung ứng thường xuyên Do chu kỳ SXKD và luân chuyển vốn giữa các DN có sự tách biệt nên sẽ dẫn đến hiện tượng, trong cùng một thời điểm, một DN đang có sẵn một lượng hàng cần bán trong khi một DN khác đang cần mua lượng hàng ấy Trong trường hợp này, trên cơ sở quen biết, tín nhiệm nhau, họ có thể thỏa thuận quan hệ vay mượn Như vậy, người mua dù chưa đủ tiền nhưng vẫn có được lượng hàng cần và sẽ hoàn trả cho người bán theo thời hạn thoả thuận
- Nguồn vốn của CTTC: thuê mua tài chính là một phương thức tài trợ tín dụng trung hạn hay dài hạn không thể hủy ngang Theo đó, người cho thuê cam kết mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê hoặc người cho thuê cung cấp tài sản của họ cho người đi thuê Như vậy người cho thuê nắm giữ quyền sở hữu pháp lý,
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
còn người đi thuê ngoài các lợi ích như gia tăng năng lực sản xuất, tiết kiệm thời gian
và công sức để hoàn thành thủ tục mua tài sản nếu không đi thuê tài chính… còn giải
quyết vấn đề đổi mới công nghệ Ngoài ra, phương thức này có ưu điểm như bên đi
thuê nhận tài sản (100% vốn vay) mà không phải thế chấp giá trị tài sản, còn bên cho
thuê thì hạn chế được rủi ro, đảm bảo vốn vay được sử dụng đúng mục đích, an toàn
Theo hình thức này, DN cần vốn trang bị máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển
và các động sản khác… sẽ được các công ty CTTC đáp ứng
- Nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước: là một trong các kênh huy động vốn của
DNVVN, các nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước hiện nay được cung cấp cho các DN
thông qua các Quỹ hỗ trợ phát triển, Quỹ hỗ trợ xuất khẩu Các quỹ này là các tổ
chức tài chính của Nhà nước Việt Nam, được thành lập với mục đích cung cấp tín
dụng ưu đãi cho các dự án vay vốn đầu tư nếu đáp ứng một số điều kiện nhất định
- Các nguồn vốn chiếm dụng hợp pháp như tiền lương, bảo hiểm xã hội, tiền
thuế chưa nộp, các khoản thanh toán khác là những nguồn vốn mà DN có thể sử
dụng trong một thời gian ngắn nhằm giải quyết phần nào nhu cầu vốn trong quá
trình kinh doanh Tuy nhiên, với việc chiếm dụng này, phải lưu ý đến khả năng
thanh toán kịp thời các khoản nợ khi đến hạn, các quy định về pháp luật mà DN
phải tuân thủ như thời hạn nộp thuế, xử phạt…
Như vậy, hoạt động trong điều kiện môi trường đã có các nguồn vốn tiềm
năng cho kinh doanh, việc lựa chọn hình thức huy động vốn, số lượng vốn huy động
tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng DN, khả năng và hiệu quả của từng nguồn
vốn cấp Mỗi hình thức huy động có những điểm mạnh, điểm yếu khác nhau nên
DN sẽ phải cân nhắc cẩn thận trước khi quyết định hình thức huy động vốn sao cho
có hiệu quả nhất trong quá trình kinh doanh
1.2.5 Vai trò của nguồn vốn trong nước với phát triển kinh tế và ý nghĩa của vấn
đề huy động vốn
(1) Vai trò của nguồn vốn trong nước với phát triển kinh tế
Chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa có tính kế hoạch nhiều thành phần,
định hướng XHCN nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất của xã hội, khai thác và sử
dụng có tiềm năng vốn của đất nước đã đặt kinh tế nước ta đến một loạt các mâu thuẫn
lớn cần giải quyết cấp bách Nguồn vốn trong dân cư còn rất bé, vốn nhàn rỗi trong dân
cư không huy động được, theo kết quả điều tra mức sống gần đây của ủy ban nhà nước
và tổng cục thống kê cho thấy số tiền của người dân được tích lũy rất lớn và dưới nhiều
hình thức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trước yêu cầu mới, vấn đề huy động và sử dụng vốn vẫn đang gặp nhiều khó khăn phức tạp cần khắc phục Ngân sách nhà nước luôn ở trong tình trạng căng thẳng, không thể đáp ứng đủ cho nhu cầu đầu tư phát triển Đầu tư của nhà nước bị phân tán do đáp ứng nhiều nhiệm vụ, các nguồn vốn thu từ thuế, các khoản lệ phí, dịch vụ công cộng còn nhiều thất thoát và lãng phí Số vốn huy động được thông qua tín dụng chủ yếu là vốn vay ngắn hạn không đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển và chuyển đổi cơ cấu sản xuất Vốn đầu tư trực tiếp từ khu vực tư nhân hãy còn chiếm tỷ lệ nhỏ tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực thương mại dịch vụ, phục vụ tiêu dùng
- Đối với việc huy động vốn trong nước thì đây chính là nguồn vốn đóng vai trò quan trọng, quyết định Trong khi đất nước nghèo nàn, khả năng tích lũy còn thấp thì tiết kiệm những phần chỉ tiêu không mang lại hiệu quả thì nó không những là quốc sách mà chúng ta cần có các giải pháp để hoàn thiện dần; Nhà nước, các DN, hộ gia đình, các tổ chức tài chính Phải gắn tiết kiệm với tích lũy trong sự tác động của các nhân tố kích thích về lợi ích kinh tế đã huy động tối đa các nguồn vốn trong nước
- Vốn đầu tư trong nước được hình thành từ các nguồn vốn trong các khu vực: Như ngân sách nhà nước, tín dụng nhà nước, DN nhà nước và các tổ chức tín dụng tư nhân
- Vốn đầu tư từ khu vực nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn, mở mang các ngành nghề ở nông thôn phát triển, tiểu thủ công nghiệp, vận tải, dịch vụ và thương nghiệp
- Củng cố các ngân hàng thương mại và tín dụng theo hướng đảm bảo mục tiêu an toàn vốn cho gửi tiết kiệm Mở thêm các điểm gửi thuận lợi cho người gửi
và rút tiền linh hoạt khi xử lý các mức thời hạn
- Quán triệt chủ trương của Đảng nguồn vốn trong nước là quyết định cuối cùng với việc tích cực tranh thủ các nguồn vốn bên ngoài, nhân dân ta góp tiền của
và sẽ tiếp tục cung ứng tiền của để xây dựng đất nước nhanh chóng thiết lập các cơ chế chính sách thích hợp đồng bộ hóa các thủ tục hành chính và các giải pháp vi mô
để lập môi trường đầu tư lành mạnh, an toàn, hiệu quả
(2) Huy động vốn trong nước với các vấn đề xã hội Nguồn vốn đầu tư toàn xã hội ngày càng đa dạng hóa, hình thức huy động được huy động qua nhiều kênh như vốn ngân sách nhà nước, phát hành trái phiếu công trình Hiện nay hình thức cổ phần hóa các DN nhà nước để tái đầu tư hoặc đầu
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tư xây dựng mới đang được mở rộng Phần không nhỏ nguồn vốn huy động ở trong
nước còn đang nằm ở ngân hàng thương mại đang bị ứ đọng không trở thành vốn
đầu tư được Nguyên nhân của các yếu kém trên là do:
- Trình độ phát triển kinh tế của nước ta vẫn còn thấp, mức độ tiền tệ hóa nền
kinh tế và các quan hệ tài chính tiền tệ mới ở giai đoạn đầu của sự phát triển, mức
độ phân tán ở trong nước vừa nhỏ vừa phân tán
- Cơ cấu sản xuất nói chung kém hiệu quả, sau hơn 20 năm đổi mới cầu về
những sản phẩm truyền thống gần như đã bão hòa cần phải thay bằng những sản
phẩm mới có chất lượng và hình thức cao hơn
- Chính sách quản lý vĩ mô chưa hoàn thiện và đồng bộ, chưa khuyến khích
mọi người bỏ vốn ra mở rộng sản xuất, môi trường đầu tư chưa ổn định còn nhiều
rủi ro cho các nhà đầu tư
- Khả năng kinh doanh sinh lợi cao hơn lãi trả ngân hàng của nhiều DN còn
hạn chế Điều đó cũng kéo theo các ngân hàng cũng gặp rủi ro khi cho vay, khó thu
hồi vốn, phải sử dụng thế chấp như một công cụ chủ yếu Đây chính là yếu tố hạn
chế phân bổ có hiệu quả nguồn vốn
1.2.6 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong các DN
1.2.6.1 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của DN
Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ
sử dụng các nguồn nhân tài vật lực của DN để đạt được kết quả cao nhất trong quá
trình SXKD với chi phí bỏ ra thấp nhất
Theo cách hiểu đơn giản thì “sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả” nghĩa là
với một lượng vốn nhất định bỏ vào kinh doanh sẽ đem lại lợi nhuận cao nhất và làm
cho đồng vốn không ngừng tăng lên Như vậy hiệu quả sử dụng vốn thể hiện trên hai
mặt: bảo toàn vốn và tạo ra được các kết quả theo mục tiêu kinh doanh, đặc biệt là kết
quả về mức sinh lời của đồng vốn Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của
DN phải đảm bảo khai thác nguồn lực vốn một cách triệt để, không để cho vốn nhàn
rỗi hay không vận động sinh lời; phải sử dụng vốn một cách hợp lý, tiết kiệm, đúng
mục đích và mang lại hiệu quả ngày càng cao trong hoạt động SXKD
1.2.6.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của DN
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu hàng đầu của các DN kinh doanh là
thu được lợi nhuận cao Để tìm ra những biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vốn, DN trước tiên phải đánh giá được tình hình sử dụng VKD của mình thông qua phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VKD của DN
a) Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn
* Vòng quay toàn bộ vốn trong kỳ: phản ánh vốn của DN trong một kỳ quay
được bao nhiêu vòng Qua chỉ tiêu này, ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài sản của doanh thu, thể hiện qua doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản mà doanh thu đã đầu tư
không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập DN và nguồn gốc của vốn kinh doanh
Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (ROAE) =
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế VKD bình quân sử dụng trong kỳ
* Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh: phản ánh mỗi đồng vốn
kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên VKD =
Lợi nhuận trước thuế VKD bình quân sử dụng trong kỳ
* Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh: phản ánh mỗi đồng vốn kinh
doanh bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên VKD (ROA) =
Lợi nhuận sau thuế VKD bình quân sử dụng trong kỳ
* Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu: phản ánh một đồng vốn chủ sở hữu bình
quân sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế cho chủ sở hữu Trị số chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ khả năng sinh lời của vốn cao và ngược lại
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ
sở hữu (ROE) =
Lợi nhuận sau thuế Vốn CSH bình quân sử dụng trong kỳ
b) Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
(1) Tốc độ luân chuyển vốn lưu động: Để xác định tốc độ luân chuyển của
vốn lưu động, người ta thường sử dụng hai chỉ tiêu sau:
- Số lần luân chuyển vốn lưu động: phản ánh số vòng quay VLĐ thực hiện
trong một kỳ (thường là 1 năm )
Số lần luân chuyển VLĐ = Tổng mức luân chuyển VLĐ
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Số VLĐ sử dụng bình quân trong kỳ
- Kỳ luân chuyển vốn lưu động: Phản ánh số ngày bình quân cần thiết để
thực hiện một vòng quay vốn lưu động
Kỳ luân chuyển vốn lưu động = Số ngày trong kỳ
Số vòng quay vốn lưu động
(2) Hàm lượng vốn lưu động: chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng
doanh thu thuần cần phải có bao nhiêu đồng vốn lưu động
Hàm lượng vốn lưu động = Số vốn lưu động bình quân trong kỳ
Doanh thu thuần
(3) Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động: phản ánh một đồng VLĐ có thể tạo ra
bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế TNDN
Tỷ suất lợi nhuận
vốn lưu động =
Lợi nhuận trước thuế (sau thuế) VLĐ bình quân trong kỳ
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động và sử dụng vốn trong DNVVN
1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn kinh doanh của DNVVN
Các doanh nghiệp nói chung và DNVVN nói riêng cũng chịu tác động của
nhiều nhân tố khác nhau trong quá trình phát triển:
Thứ nhất: là nhóm nhân tố vi mô như khả năng tìm kiếm thị trường, vón kinh
doanh, trình độ thiết bị công nghệ, nhà xưởng, mặt bằng sản xuất - kinh doanh và
kết cấu hạ tầng khác; kiến thức và năng lực quản lý kinh doanh của chủ DN, trình
độ của lực lượng lao động… Một nhóm nhân tố nữa có ảnh hưởng rất lớn, chi phối
sự hoạt động của các DNVVN
Thứ hai: là nhóm nhân tố vĩ mô như hệ thống chính sách và môi trường luật
pháp, hệ thống tổ chức quản lý kiểm soát của nhà nước và các thiết chế cộng đồng
xã hội nông thôn, hệ thống các biện pháp và các tổ chức hỗ trợ phát triển… Tạo lập
và kết hợp hài hòa các nhân tố trên sẽ tạo được điều kiện kinh tế- xã hội đảm bảo sự
phát triển nhanh mạnh và có hiệu quả đối với các DNVVN
1.3.1.1 Nhóm môi trường vi mô
a Thị trường
Đối với hoạt động sản xuất - kinh doanh của mỗi DN điều kiện để tồn tại và
phát triển là nhân tố thị trường Thị trường là nhân tố quan trọng mang tính tổng
hợp nhất, là nhân tố hàng đầu tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho các DN
Trong đó, điều kiện về thị trường tiêu thụ sản phẩm, thị trường đầu ra là quan trọng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nhất quyết định sự tồn tại, sự thành bại, sự phát triển thịnh vượng hay thua lỗ, phá sản của các DN trong nền kinh tế thị trường Khó khăn lớn nhất của các DNVVN nước ta hiện nay chính là thị trường tiêu thụ sản phẩm, có thể thị trường tiêu thụ trong nước và trường quốc tế Với đặc điểm và ưu thế của mình, định hướng chiến lược ngắn hạn, trước mắt của các DNVVN là tập trung vào thị trường trong nước là những thị trường nhỏ, lẻ, địa phương và đặt trọng tâm vào những sản phẩm hàng hóa có giá bán thấp Những định hướng chiến lược dài hạn cần phải chú ý đến thị trường của địa phương khác và tới thị trường quốc tế, hướng vào những sản phẩm hàng hóa có chất lượng và có giá trị kinh tế cao
b Vốn: Mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh đều cần có vốn, qua sự vận
động luân chuyển của vốn có thể đánh giá được các trạng thái hoạt động của các
DN Qui mô vốn tự có của các DNVVN không đủ sức để tài trợ cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh có chất lượng và hiệu quả cao, đặc biệt là đối với các DN muốn mở rộng, phát triển qui mô và đổi mới nâng cấp chất lượng thiết bị công nghệ, sản phẩm Chính vì vậy, DNVVN cần có nguồn vốn vay và tiếp cận được các nguồn vốn trên thị trường tín dụng Tuy nhiên ở một số nước trên thế giới nói chung
và ở Việt Nam nói riêng, vấn đề này còn nhiều hạn chế và khó khăn như: không đủ tài sản thế chấp; mức lãi suất cho vay còn quá cao so với lợi nhuận thu được; hình thức và thể chế tính dụng, nhất là khu vực nông thôn còn nghèo nàn, đơn điệu và hiệu lực pháp lý không cao Những khó khan đó cần được tháo gỡ để tạo điều kiện
thuận lợi cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát triển của các DNVVN
c Trình độ trang thiết bị - công nghệ của DN
Ba yếu tố Thị trường - Vốn - Công nghệ luôn là vấn đề cốt lõi của mọi DN, trong đó có các DNVVN Điều kiện thiết bị công nghệ sẽ quyết định tới năng suất, chất lượng sản phẩm, giúp cho các DN nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường Các DNVVN dù có thị trường các yếu tố nguyên vật liệu, lao động tốt, đã tìm được thị trường đầu ra đảm bảo tiêu thụ sản phẩm của mình nhưng nếu trình độ trang thiết bị lạc hậu thì khó lòng có thể đảm bảo thực hiện tốt kế hoạch SXKD Hơn nữa điều kiện vốn tài chính và các điều kiện khác không cho phép các DNVVN tự tài trợ để đổi mới, áp dụng một cách mạnh mẽ các loại thiết bị tiên tiến, hiện đại Vì vậy bên cạnh sự nỗ lực phấn đấu của bản thân các DNVVN còn cần sự hỗ trợ tích cực từ phía chính quyền nhà nước các cấp để nhanh chóng và thường xuyên cải thiện thiết
bị công nghệ cho các DNVVN
d Nhân tố nhà xưởng, mặt bằng SXKD và kết cấu hạ tầng kỹ thuật khác của DNVVN
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nhà xưởng, mặt bằng SXKD và các kết cấu hạ tầng kỹ thuật khác cũng là
một yếu tố quan trọng để có thể tiến hành SXKD Nếu điều kiện cho mặt bằng
SXKD của các DNVVN chật hẹp sẽ khiến cho các DN gặp nhiều khó khăn trong
việc sản xuất và mở rộng SXKD Ngoài ra các điều kiện về kho bãi, đường xá trong
và ngoài DN, hệ thống giao thông công cộng phục vụ cho SXKD, giao lưu hàng hóa
của các DN cũng cần phải thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các DN nói
chung, DNVVN nói riêng
e Kiến thức, trình độ quản lý kinh doanh của các chủ DN, tri thức và
trình độ tay nghề của lực lượng lao động
Hoạt động SXKD trên thương trường với sự cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi các
chủ DN phải có trình độ kiến thức cao, năng lực quản lý giỏi, mới có thể thành đạt
trong kinh doanh, đưa DN của mình ngày một phát triển Mỗi một chủ DN phải biết
thu thập, tổng hợp, phân tích đánh giá các loại thông tin kinh tế kỹ thuật, biết đề ra
những chiến lược đúng đắn và đưa ra nhưng quyết định sáng suốt kịp thời Đồng
thời chủ DN phải biết quản lý, giám sát, điều khiển công việc của những người lao
động làm việc cho mình một cách hợp lý và có hiệu quả Ngoài ra chủ DN còn phải
biết đánh giá, động viên, khuyến khích, thưởng phạt và trả công tương xứng với
những đóng góp của người lao động và kết quả chung của DN
f Khả năng tiếp nhận thông tin và hệ thống thông tin
Hệ thống thông tin và khả năng tiếp nhận thông tin, nhất là những thông tin về
thị trường, giá cả, công nghệ, sản phẩm là hết sức quan trọng đối với hoạt động
SXKD của các DN Hệ thống thông tin ở nước ta hiện nay mặc dù so với trước đã
được phổ biến khá rộng rãi, các phương tiện thông tin tương đối phong phú, hiện đại,
phương pháp thu thập và cung cấp thông tin có nhiều tiến bộ… song nhìn chung tính
chất nhanh nhạy, kịp thời, chính xác và đầy đủ, hoàn thiện của hệ thống thông tin
chưa đáp ứng những yêu cầu của SXKD trong điều kiện của thị trường và cuộc cách
mạng khoa học công nghệ hiện đại
1.3.1.2 Các nhân tố vĩ mô
a Hệ thống chính sách và pháp luật của Nhà nước
Sự tồn tại và phát triển của DN chịu ảnh hưởng của nhiều môi trường khác
nhau: Môi trường kinh tế, chính trị, chính sách và pháp luật… đây chính là môi trường
có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc là gây khó khăn cản trở đối với sự ra đời hoạt động
và phát triển của DNVVN Hệ thống chính sách và luật pháp đồng bộ, hợp lý sẽ tạo
môi trường hoạt động hiệu quả cho các DNVVN, hỗ trợ khuyến khích các DN này phát
triển đi lên Ở nước ta trong những năm đổi mới hệ thống chính sách và pháp luật liên
quan đến khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (trong đó các DNVVN là chủ yếu) đã được
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hình thành và đổi mới từng bước với những kết quả tích cực Vì vậy để tạo điều kiện thúc đẩy mạnh mẽ sự hình thành và phát triển của DNVVN cần phải có sự đổi mới hoàn thiện hơn nữa chính sách và pháp luật của Nhà nước
b Hệ thống tổ chức quản lý kiểm soát của Nhà nước và các thiết chế cộng đồng xã hội ở địa phương
Đây là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả hoạt động của các DNVVN ở những nước có đặc điểm như nước ta Hệ thống tổ chức quản lý kiểm soát của Nhà nước từ trung ương đến các tỉnh, huyện, xã với nhiều ban ngành nếu
có sự phối hợp chặt chẽ phân công trách nhiệm rõ ràng sẽ làm tăng hiệu lực quản lý của bộ máy Các hoạt động của các đội kiểm tra liên ngành, quản lý thị trường, công
an , thuế vụ… nếu không có sự thống nhất sẽ chồng chéo, nhiều khi còn đổ lỗi và có những hành động triệt tiêu hiệu quả công tác quản lý lẫn nhau Như vậy sẽ gây khó khăn cho các hoạt động SXKD của các DN Vì vậy cần thiết phải có sự kiện toàn, sắp xếp, đổi mới hệ thống và phương pháp quản lý, kiểm soát trên tinh thần hỗ trợ cho DNVVN phát triển là chính
c Hệ thống các biện pháp và tổ chức hỗ trợ của Nhà nước
Hệ thống các biện pháp và tổ chức hỗ trợ của Nhà nước cũng như của các tổ chức phi Chính phủ và các tổ chức quốc tế nhằm khắc phục những khó khăn và thế bất lợi của các DNVVN để chúng nhanh chóng có đủ khả năng cạnh tranh một cách bình đẳng được với các DN khác trên thị trường ở hầu hết các nước trên thế giới, việc tiến hành các biện pháp hỗ trợ cho các DNVVN được thông qua những chính sách ưu đãi
về miễn giảm các loại thuế, các khoản vay với lãi suất ưu đãi từ các nguồn vốn tín dụng của Nhà nước, thiết lập các tổ chức tư vấn và cung cấp thông tin, các trung tâm đào tạo kiến thức quản lý và kỹ năng lao động miễn giảm phí và thành lập các quỹ tín dụng hoặc bảo lãnh tín dụng riêng cho các DNVVN
Tùy từng đặc điểm kinh tế chính trị xã hội của mỗi nước mà có những quan điểm khác nhau Song vai trò của DNVVN trong phát triển kinh tế, chính trị, xã hội là không thể phủ nhận được Trong phần trên chúng ta đã xem xét những vấn đề chung nhất về loại hình DNVVN như: các quan điểm khác nhau về DNVVN, tiêu thức xác định… và đặc biệt là các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các DNVVN
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của DN
Trong quá SXKD, vốn kinh doanh chịu tác động của nhiều nhân tố Do vậy,
để đạt được kết quả cao trong hoạt động SXKD nói chung, trong sử dụng vốn nói
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
riêng, các DN cần phải nắm bắt được các nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng
tác động đến hiệu quả sử dụng vốn và kết quả kinh doanh
a Nhóm nhân tố khách quan
- Do cơ chế quản lý và các chính sách kinh tế của nhà nước: Nhà nước tạo ra
môi trường và hành lang pháp lý thuận lợi cho các DN phát triển SXKD và định hướng
cho các hoạt động thông qua các chính sách vĩ mô Do vậy chỉ cần một sự thay đổi
trong chính sách kinh tế của nhà nước như chính sách giá cả, phương pháp đánh giá tài
sản, phương pháp khấu hao TSCĐ… cũng có thể gây ra những ảnh hưởng nhất định
đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của DN
- Do tác động của nền kinh tế: yếu tố lạm phát làm cho đồng tiền bị mất giá,
sức mua của đồng tiền bị giảm sút dẫn đến sự tăng giá của các loại vật tư hàng
hoá… Vì vậy vốn của DN rất có thể bị mất dần do tốc độ trượt giá của đồng tiền
nếu DN không có biện pháp quản lý và sử dụng hiệu quả
- Sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ: làm cho tài sản cố
định bị lỗi thời và lạc hậu nhanh chóng Nếu DN không nhạy bén trong kinh doanh,
thường xuyên đổi mới máy móc trang thiết bị để làm ra những sản phẩm đáp ứng
nhu cầu thị trường thì DN sẽ mất đi khả năng cạnh tranh, hoạt động kinh doanh rơi
vào tình trạng thua lỗ Sự cạnh tranh khốc liệt của các DN trên thị trường đã buộc
các DN phải nhạy cảm trong kinh doanh, không ngừng tìm tòi để có những biện
pháp quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh của mình
- Do những rủi ro phát sinh trong quá trình SXKD mà DN không lường
trước được như thiên tai, hỏa hoạn, bão lụt hoặc những rủi ro kinh doanh mà làm
thiệt hại đến vốn của DN
b Nhóm nhân tố chủ quan
Ngoài những nhân tố khách quan trên, còn có nhiều nhân tố chủ quan do chính
bản thân DN tạo nên làm ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn Đó là:
- Trình độ quản lý và tay nghề của người lao động: Nếu trình độ quản lý
không tốt sẽ gây ra tình trạng thất thoát vốn, nếu tay nghề người lao động không cao
sẽ làm giảm năng suất lao động, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
- Sự lựa chọn phương án đầu tư: Nếu DN lựa chọn phương án sản xuất tạo
ra sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng sẽ
mang lại hiệu quả kinh tế lớn Ngược lại, sẽ là sự thất bại của phương án kinh doanh
và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Sự hợp lý của cơ cấu tài sản và nguồn vốn kinh doanh trong DN: Việc đầu
tư vào các tài sản không sử dụng hoặc chưa sử dụng quá lớn hoặc vay nợ quá nhiều,
sử dụng không triệt để nguồn vốn bên trong thì không những không phát huy tác dụng của vốn mà còn bị hao hụt, mất mát, tạo ra rủi ro cho DN
- Vấn đề xác định nhu cầu VKD: việc xác định nhu cầu vốn không chính xác
sẽ dẫn đến việc thừa hoặc thiếu vốn trong quá trình SXKD, làm hiệu quả sử dụng VKD suy giảm
- Mức độ sử dụng năng lực sản xuất hiện có của DN vào SXKD: sử dụng
lãng phí VLĐ trong quá trình mua sắm, không tận dụng hết nguyên vật liệu vào SXKD, để NVL tồn kho dự trữ quá mức cần thiết trong thời gian dài, sẽ tác động đến cơ cấu vốn cũng như hiệu quả sử dụng vốn của DN
Để nâng cao hiệu quả sử dụng VKD, DN cần xem xét từng yếu tố để từ đó
đưa ra những biện pháp quản lý thích hợp
1.3.3 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Trong cơ chế thị trường, mọi DN đều bình đẳng trước pháp luật, phải đối mặt với cạnh tranh, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, tự chủ về vốn Do đó việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết Để sử dụng vốn
kinh doanh có hiệu quả, các DN cần phải thực hiện tốt một số biện pháp sau:
Thứ nhất: Cần phải tiến hành thẩm định và lựa chọn dự án đầu tư phù hợp với
tình hình thực tế và điều kiện của DN Lựa chọn quy mô SXKD phù hợp với năng lực
tổ chức vốn của DN trên cơ sở phát huy được những thế mạnh của DN để có thể đủ sức cạnh tranh trên thị trường
Thứ hai: Xác định chính xác nhu cầu vốn cần thiết, tối thiểu cho hoạt động
SXKD của DN trong kỳ, từ đó có biện pháp huy động vốn hợp lý tránh tình trạng thừa hoặc thiếu vốn trong SXKD Nếu thừa vốn DN phải có biện pháp xử lý linh hoạt như: đầu tư mở rộng sản xuất, cho các đơn vị khác vay tránh tình trạng để vốn nhàn rỗi không phát huy được hiệu quả kinh tế cho DN Nếu thiếu vốn DN cần
có biện pháp huy động để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho SXKD, không làm gián đoạn quá trình sản xuất
Thứ ba: Lựa chọn hình thức huy động vốn thích hợp, đảm bảo mức độ tự
chủ của DN trong hoạt động tài chính và hạ thấp được chi phí sử dụng vốn Khi có nhu cầu đầu tư, DN cần khai thác triệt để nguồn vốn bên trong Tránh tình trạng nguồn vốn bên trong chưa được khai thác sử dụng hết lại phải huy động từ bên ngoài làm tăng chi phí sử dụng vốn, tăng mức rủi ro và giảm tính tự chủ của DN trong hoạt động SXKD
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thứ tư: Đầu tư vốn một cách hợp lý, đồng bộ giữa các bộ phận các khâu của
quá trình sản xuất Lập ra phương án sản xuất, xác định chính xác nhu cầu vốn cần
đầu tư sao cho tiết kiệm và hợp lý: phân bổ đúng nơi đúng chỗ, đúng thời điểm khi
nhu cầu phát sinh, hạn chế tình trạng thiếu vốn ở khâu này nhưng dư thừa ở khâu
khác, các khâu, các bộ phận không phối hợp nhịp nhàng làm ảnh hưởng xấu đến
quá trình SXKD và hiệu quả sử dụng vốn
Thứ năm: Có biện pháp quản lý thích hợp đối với từng loại vốn
- Đối với vốn cố định: Phải đánh giá đúng giá trị, tạo điều kiện phản ánh
chính xác tình hình biến động vốn cố định, điều chỉnh kịp thời giá trị của TSCĐ, lựa
chọn phương pháp khấu hao và mức khấu hao thích hợp
Chú trọng đổi mới trang thiết bị, phương pháp công nghệ sản xuất, kịp thời
thanh lý các TSCĐ không cần dùng hay đã hư hỏng
- Đối với vốn lưu động: Quản lý chặt chẽ vốn lưu động, nâng cao ý thức của
cán bộ công nhân viên trong việc giữ gìn, bảo vệ tài sản của DN, sử dụng tiết kiệm
nguyên vật liệu, đồng thời quản lý các khoản phải thu, không để vốn bị chiếm dụng
quá lâu, áp dụng các hình thức khuyến khích khách hàng trả tiền trước, trả đúng thời
hạn như khuyến mãi, giảm giá
Thứ sáu: Chủ động thực hiện biện pháp phòng ngừa rủi ro bất thường trong
kinh doanh bằng cách đa dạng hóa hình thức đầu tư, đa dạng hóa sản phẩm Tiến
hành trích lập các khoản đầu tư dự phòng phải thu khó đòi, hàng tồn kho tham gia
bảo hiểm cho tài sản, vật tư của DN để có nguồn bù đắp kịp thời khi rủi ro xảy ra
Thứ bảy: Phát huy vai trò tài chính trong giám sát, kiểm tra sử dụng vốn
nhằm phát hiện những tồn tại, hạn chế từ đó đưa ra những biện pháp khắc phục
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Thực hiện việc kiểm tra tài chính
đối với việc sử dụng vốn cho tất cả các khâu từ dự trữ sản xuất, sản xuất đến tiêu
thụ sản phẩm và đầu tư mới tài sản cố định
1.4 Kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn cho DNVVN
của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm trong huy động và sử dụng vốn trong phát triển các DNVVN
của các nước trên thế giới
a Phát triển DNVVN ở Mỹ
Tiêu chí và vai trò của các DNVVN Mỹ: Cục quản lý kinh doanh nhỏ (SBA)
Mỹ xác định DNVVN là “một đơn vị kinh doanh có ít hơn 500 lao động” Đây là
định nghĩa được sử dụng rộng rãi nhất và có thể coi là tiêu chuẩn về DNVVN chính
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thức của chính phủ Mỹ Những năm gần đây, kinh doanh nhỏ của Mỹ đang trong đà phát triển thịnh vượng Theo số liệu của cục quản lý kinh doanh nhỏ của Mỹ, năm
2008 các DN kinh doanh nhỏ đã chiếm 98.6% tổng số hàng kinh doanh có thuê nhân công; thu hút 56% lực lượng lao động trong khu vực tư nhân, 53% lực lượng trợ giúp công cộng và 37% trong lĩnh vực công nghệ cao Nếu kể cả các lao động tự tạo việc làm và nông nghiệp thì số lao động trong các DNVVN chiếm khoảng 58% tổng số lao động; cung cấp 65-70% trong tổng số việc làm mới được tạo ra; sản xuất
ra 55% tổng sản phẩm của khu vực tư nhân; chiếm 46% tổng doanh thu bán hàng; chiếm 30% doanh thu xuất khẩu hàng hóa; chiếm 96% tổng các nhà xuất khẩu Chính sách hỗ trợ giúp kinh nhỏ của Mỹ: Các biện pháp trợ giúp kinh doanh nhỏ của Mỹ dựa trên những cột trụ chính như cải cách pháp lý, trợ giúp tài chính, trợ giúp xuất khẩu, hướng dẫn quản lý và mua sắm của Chính phủ
Đối với trợ giúp tài chính: Theo thống kê của SBA, năm 1997, Mỹ có 125 chương trình trợ giúp kinh doanh trị giá 75 tỷ USD Trong năm 1999, Mỹ có khoảng 200 chương trình cấp liên bang tài trợ kinh doanh nhỏ đang hoạt động Những chương trình này bao trùm mọi loại trợ giúp tài chính như: Tài chính trực tiếp và bảo lãnh tín dụng, thưởng kinh doanh, thưởng xuất khẩu, hỗ trợ tài chính
cho các chương trình đào tạo và nhiều loại bảo hiểm khác nhau
(2) Hình thức tổ chức “mắt xích” tập đoàn sản xuất bao gồm nhiều công ty được liên kết với nhau theo kiểu mắt xích, tập đoàn sản xuất bao gồm nhiều công ty được liên kết với nhau theo kiểu mắt xích
Cả hai hình thức tổ chức DN trên đều phù hợp với các loại hình DNVVN, do vậy loại hình DN này ở Nhật Bản đã phát triển rất sớm Trong lịch sử phát triển khu vực DNVVN đã khẳng định vai trò của mình trong đời sống kinh tế - xã hội, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Nhật Bản Luật cơ bản về DNVVN đã được sửa đổi với nhiều nội dung thay đổi chủ yếu là tăng giới hạn vốn tối đa cho các DNVVN trong từng lĩnh vực Mục đích của sự thay đổi này là làm
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tăng số lượng DN có đủ điều kiện được hưởng các biện pháp trợ giúp DNVVN
Theo luật mới, các tiêu chí xác đinh DNVVN được thể hiện ở bảng sau (Bảng 1.3)
Bảng 1.3 Tiêu chuẩn DNVVN của Nhật Bản
bình quân
Số vôn đầu tư
Ngành sản xuất 1-300 300 triệu Yên
Ngành thương mại 1-100 100 triệu Yên
Ngành Dịch vụ 1-100 500 triệu Yên
Nguồn: 1) Định nghĩa DNVVN, UN,ECE,1999;
2) Tổng quan về DNVVN, OECD,2000
Một số chính sách phát triển DNVVN của Nhật Bản: Xét một cách tổng quát,
các chính sách phát triển DNVVN của Nhật Bản tập trung vào mục tiêu thức đẩy sự
tăng trưởng và phát triển của các DNVVN; tăng cường lợi ích kinh tế và xã hội của
các nhà DN và người lao động tại DNVVN; khắc phục nhưng bất lợi mà các
DNVVN gặp phải; và hỗ trợ tính tự lực của các DNVVN Dưới đây là một số nội
dung chủ yếu của các chính sách tài chính:
Tại Nhật Bản, các chính sách về DNVVN được hình thành từ những năm
1950, trong đó dành sự hỗ trợ đặc biệt với việc hỗ trợ tài chính nhằm giúp các
DNVVN tháo gỡ khó khăn, cản trở việc tăng vốn trong quá trình SXKD như khả
năng tiếp cận tín dụng thấp, thiếu sự đảm bảo về vốn vay… Các biện pháp hỗ trợ
này được thực hiện thông qua hệ thống hỗ trợ tín dụng và các tổ chức tài chính công
cộng phục vụ DNVVN như công ty tài chính DNVVN, công ty tài chính nhân dân
và ngân hàng Shoko Chukin do Chính phủ đầu tư thành lập toàn bộ hoặc một phần
nhằm tài trợ cho các DNVVN để đổi mới máy móc thiết bị, hỗ trợ vốn lưu động dài
hạn để mở rộng và phát triển SXKD Luật cơ bản về DNVVN được ban hành năm
1999 nhằm trợ giúp cho việc cải cách quản lý tài chính để tăng tính thích nghi của
DNVVN với những thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội, tạo thuận lợi cho việc tái
cơ cấu DN Một số hệ thống chính sách hỗ trợ tài chính cũng đã được thiết lập nhằm
hạn chế sự phá sản của DNVVN
- Trợ giúp về vốn: Các biện pháp trợ giúp vốn được thực hiện từ ba định chế
tài chính thuộc chính phủ là Công ty đầu tư kinh doanh nhỏ, ngân hàng hợp tác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trung ương về thương mại và công nghiệp, công ty đầu tư mạo hiểm quốc gia Trợ giúp có thể thực hiện dưới dạng các khoản vay đặc biệt với những ưu đãi theo các khoản mục tiêu chính sách Theo hệ thống trợ giúp tăng cường cơ sở quản lý các DNVVN ở từng khu vực, các khoản vay được thực hiện tùy theo điều kiện của khu vực thông qua một quỹ chung được đóng góp bởi chính quyền trung ương và các chính quyền địa phương, được ký quỹ ở một thể chế tài chính tư nhân
- Kế hoạch cho vay nhằm cải tiến quản lý của các DN nhỏ (kế hoạch cho vay Marukei) được áp dụng đối với các DN nhỏ, không đòi hỏi phải có thế chấp hoặc bảo lãnh
- Hệ thống bảo lãnh tín dụng nhận bảo lãnh cho các DNVVN vay vốn tại các thể chế tài chính tư nhân Còn hiệp hội bảo lãnh tín dụng có chức năng mở rộng các khoản tín dụng bổ sung và bảo lãnh tín dụng cho các DNVVN Hệ thống bảo lãnh đặc biệt, hoạt động từ năm 1998, có chức năng như một mạng lưới an toàn, nhằm giảm những rối loạn về tín dụng và góp phần giảm các vụ phá sản của các DNVVN
- Trợ giúp về quản lý tài chính: Hoạt động tư vấn quản lý tài chính trong kinh doanh được thực hiện thông qua hệ thống đánh giá DNVVN Mỗi quận, huyện và chính quyền của 12 TP lớn đánh giá các điều kiện quả lý tài chính của DNVVN, đưa ra những khuyến nghị cụ thể và cung cấp các hướng dẫn (Đỗ Đức Định,
2009, tr.7)
c Hỗ trợ phát triển DNVVN ở Trung Quốc7
Tiêu chí xác định DNVVN của Trung Quốc chỉ dựa vào số lao động mà không căn cứ vào vốn đăng ký hay bất kỳ một tiêu chí nào kháo Theo Luật Khuyến khích phát triển DNVVN của Trung Quốc ngày 29/6/2002 thì: DNVVN là những
DN có sử dụng từ 101 đến 500 lao động Theo tiêu chí đó, tính tới năm 2003, Trung Quốc có khoảng 3,6 triệu DNVVN, đóng góp 55,6% GDP, giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 70,6% lực lượng lao động toàn quốc
Các chính sách hỗ trợ phát triển DNVVN của Trung Quốc có những đặc điểm cơ bản sau:
Phát triển các DNVVN ở lĩnh vực công nghiệp được dựa trên cơ sỏ tôn trọng các yêu cầu khách quan và các quy luật kinh tế Các chính sách phát triển DNVVN ở Trung Quốc dựa trên bốn điểm chính là phải căn cứ vào quy mô kinh tế hợp lý để tổ chức sản xuất; các DNVVN cần được đầu tư với kỹ thuật và kỹ năng quản trị hiện đại, nâng cao chất lượng sản phẩm và chất lượng quản lý; các DNVVN cần linh hoạt để phù hợp với thị trường để tránh sự trùng lặp và tình trạng dư thừa và các DN lớn vẫn
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
đóng vai trò quan trọng trong ngành kinh tế, sự phát triển của các DN này sẽ kéo theo
sự tăng trưởng của các DNVVN
Hiện nay, trong lĩnh vực trọng điểm của phát triển các DNVVN ở Trung
Quốc là mở rộng việc làm và tập trung vào khu vực dịch vụ Trung Quốc đang xúc
tiến thành lập ủy ban kinh tế mậu dịch quốc gia trực tiếp thuộc ủy ban DNVVN Đây
chính là đầu mối để giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính quyền và DN, có trách
nhiệm tư vấn, giúp đỡ hỗ trợ vốn cho các DNVVN, nhưng không can thiệp vào các
hoạt động kinh doanh như đâu tư, kinh doanh sản xuất, tiêu thụ của các DNVVN
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo ra nhiều cơ hội cho các DNVVN
của Trung Quốc Đó là việc tận dụng các công nghệ hiện đại, vốn và trình độ quản lý
tiên tiến của các DN nước ngoài Mở rộng các cơ hội trở thành các nhà thầu cho các
DN lớn nước ngoài… bên cạnh đó, DNVVN của Trung Quốc còn gặp một số khó
khăn khác do mới trở thành thành viên của WTO Những cam kết của chính phủ
Trung Quốc là cắt giảm thuế quan, chuyển dần sang hàng rào phi thuế quan và mở
cửa các khu dịch vụ tạo sự cạnh tranh quyết liệt của các DNVVN Trung Quốc với
các DN nước ngoài (Đỗ Đức Định, 2009, tr.11)
d Hỗ trợ vốn DNVVN của Thái Lan
Trước đây, Thái Lan hầu như không có chính sách hỗ trợ giúp các DNVVN
Hiện nay, chính sách DNVVN đang trở thành một trong những tiêu điểm củ hệ
thống chính sách cải cách kinh tế của Thái Lan kể từ sau cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ năm 1998 Các DNVVN được coi là những nhân tố chủ chốt trong quá
trình phục hồi kể từ giai đoạn khủng hoảng Thái Lan Tiêu chuẩn của Thái Lan về
DNVVN: Thái Lan không có định nghĩa chính thức về DNVVN Các cơ quan Chính
phủ khác nhau của Thái Lan sử dụng những tiêu chí khác nhau như doanh thu, tài sản
cố định, số lao động và vốn đăng ký để định nghĩa về DNVVN Chính phủ Thái Lan
đã thông qua tiêu chí xác định DNVVN ngày 22/12/1998 Tuy nhiên, các tiêu chí đó có
tính chất định hướng
Bảng 1.4 Tiêu chuẩn về DNVVN theo giá trị tổng tài sản
Đơn vị: triệu Baht
Sản xuất Dưới 200 Dưới 50
Thương mại dịch vụ Dưới 200 Dưới 50
Bán buôn Dưới 100 Dưới 50
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
(Nguồn: Chính sách DNVVN ở Thái Lan, Viện nghiên cứu dân số
và xã hội Thái Lan - 2009)
Cho tới giữa năm 2006, các cơ quan Chính phủ vẫn ban hành và sử dụng những định nghĩa khác nhau về DNVVN Bộ Công nghiệp và Hiệp hội công nghiệp Thái Lan
sử dụng thêm nhiều tiêu chuẩn số lao động dưới 200 người để xác định DNVVN Trong khi đó, Tập đoàn tài chính công nghiệp Thái Lan (IFCT) lại coi các DNVVN là những DN có tài sản cố định dưới 100 triệu Baht
Các chính sách trợ giúp DNVVN của Thái Lan: Ngay từ đầu thập kỷ 1960 đã
có một số chính sách trợ giúp dành cho các DNVVN Văn phòng tài chính DN nhỏ
đã được thành lập từ năm 1963, Văn phòng này về sau được chuyển thành Tập đoàng Tài chính DN nhỏ Dù vậy, các chính sách DNVVN ở Thái Lan chỉ được coi trọng trong một vài năm rồi lại lắng xuống và không được duy trì một cách hệ thống Trọng tâm của các chính sách trợ giúp DNVVN của Thái Lan là phát triển các mạng lưới trợ giúp công nghiệp phục vụ xuất khẩu với mục tiêu chính là phục
vụ cho chiến lược phục hồi sau khủng hoảng của Thái Lan dựa trên xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Thái Lan cũng thành lập viện nghiện cứu phát triển DNVVN, củng cố các tổ chức như: Tập đoàn bảo lãnh tín dụng kinh doanh nhỏ, Tập đoàn Tài chính kính doanh nhỏ, Hiệp hội công nghiệp
e Hỗ trợ vốn DNVVN Đài Loan: Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, Đài
Loan đã áp dụng nhiều biện pháp, chính sách khuyến khích phát triển các DNVVN trong một số ngành sản xuất như: nhựa, dệt, xi măng, gỗ… Năm 1981, Đài Loan đã lập ra Cục quản lý DNVVN thuộc Bộ kinh tế Hiện nay, số lượng DNVVN ở Đài Loan chiếm khoảng 96% tổng số DN Chúng tạo ra được khoảng 40% sản lượng công nghiệp, hơn 50% giá trị xuất khẩu và chiếm hơn 70% chỗ làm việc Để đạt được những thành tựu đó, Đài Loan đã dành nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ huy động vốn cho các DNVVN Hiện nay, rất nhiều ngân hàng Nhà nước và tư nhân ở Đài Loan đứng ra tài trợ cho các DNVVN Bộ Tài chính Đài Loan có quy định một tỷ lệ tài trợ nhất định cho các DNVVN và tỷ lệ này có xu hướng tăng dần sau mỗi năm Đồng thời cũng lập ra 3 Quỹ là Quỹ phát triển, Quỹ Sino, -US, Quỹ phát triển DNVVN nhằm tài trợ cho các hoạt động SXKD của DNVVN Nhận thức được sự khó khăn của các DNVVN trong việc thế chấp tài sản vay vốn ngân hàng, năm 1974, Quỹ Bảo lãnh tín dụng ra đời Nguyên tắc hoạt động của Quỹ này là cùng chia sẻ rủi ro với các tổ chức tín dụng Các tổ chức tín dụng này
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
đã ngày càng tin tưởng hơn vào việc tài trợ cho vay đối với các DNVVN Ngoài ra,
Đài Loan còn áp dụng nhiều biện pháp khác như: giảm lãi suất đối với những khoản
vay phục vụ mục đích mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ, phát triển sản
xuất và nâng cao tính cạnh tranh, mời các chuyên gia đến giúp DNVVN nhằm tối ưu
hóa cơ cấu vốn và tăng cường các điều kiện vay vốn (Đỗ Đức Định, 2009, tr.13]
f Hỗ trợ vốn DNVVN Đức, khu vực DNVVN đóng một vai trò rất quan trọng
trong nền kinh tế nước này Nó tạo ra gần 50% GDP, chiếm hơn một phần hai doanh
thu chịu thuế của các DN, cung cấp các loại hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu đa
dạng của người tiêu dùng trong và ngoài nước Để đạt được những thành tựu đó,
chính phủ Đức đã áp dụng hàng loạt chính sách và chương trình thúc đẩy DNVVN
trong việc huy động các nguồn vốn
Công cụ chính để thực hiện chính sách và chương trình hỗ trợ này là thông
qua tín dụng ưu đãi, có sự bảo lãnh của Nhà nước Các khoản tín dụng này được
phân bổ ưu tiên đặc biệt cho các dự án đầu tư thành lập DN, đổi mới công nghệ vào
những khu vực kém phát triển trong nước Do phần lớn các DNVVN không đủ tài
sản thế chấp để có thể nhận được khoản tín dụng lớn bên cạnh những khoản tín
dụng ưu đãi, ở Đức còn khá phổ biến các tổ chức bảo lãnh tín dụng Những tổ chức
này được thành lập và bắt đầu hoạt động từ những năm 1950 với sự hợp tác chặt
chẽ của Phòng thương mại, Hiệp hội DN, Ngân hàng và chính quyền Liên bang
Nguyên tắc hoạt động cơ bản là vì khách hàng, DNVVN nhận được khoản vay từ
ngân hàng với sự bảo lãnh của một tổ chức bảo lãnh tín dụng Nếu DN làm ăn thua
lỗ, tổ chức này sẽ có trách nhiệm hoàn trả khoản vay đó cho ngân hàng Ngoài ra,
các khoản vay có thể được chính phủ tái bảo lãnh Với các cơ chế và chính sách hỗ
trợ như vậy, các DNVVN ở Đức đã khắc phục được khá nhiều khó khăn trong quá
trình huy động vốn (Đỗ Đức Định, 2009, tr.15)
Qua kinh nghiệm phát triển DNVVN của các nước nêu trên, có thể thấy Chính
phủ đóng vai trò khá lớn trong việc định hướng phát triển và hỗ trợ cho hoạt động của
khu vực kinh tế này Tuy nhiên, các chính sách hỗ trợ sẽ không phát huy hết tác dụng
nếu như không có sự nỗ lực tích cực từ phía DN Có thể khái quát các giải pháp mà
trong quá trình vận động, DNVVN các nước trên thế giới đã thực hiện như sau:
Thứ nhất, Các DN này không ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà nước, sẵn sàng
khai thác các cơ hội để phát triển mà không ngại rủi ro
Thứ hai, các DN luôn tự thích ứng một cách nhanh chóng khi thay đổi hoàn
cảnh, điều kiện kinh doanh Khi có bất ổn kinh tế xảy ra, các DN này có thể tự điều
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chỉnh tổ chức sản xuất, tận dụng những thiết bị sản xuất có ưu thế và dùng hình thức đầu tư dời đến nơi khác để tiếp tục sản xuất và phát triển
Thứ ba, các DNVVN luôn có mối quan hệ liên hoàn với nhau và đều có các
DN khác bảo vệ Mặt khác, các DNVVN luôn kết hợp với nhau trong việc làm vệ tinh cho các DN lớn trong quá trình cung ứng đầu vào sản xuất của các DN này Như vậy, không cần phải mở rộng thị trường ra nước ngoài, sản phẩm đầu ra của các DNVVN vẫn được tiêu thụ tốt nhờ các DN lớn Ngoài ra, trong trường hợp
có sự biến động về môi trường kinh doanh, các DNVVN luôn sẵn sàng chi viện, giúp đỡ nhau cùng vượt qua khó khăn
1.4.2 Bài học kinh nghiệm trong huy động và sử dụng vốn trong phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam
Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế, chính vì vậy Chính phủ cần cải cách cơ chế, hệ thống chính sách và hệ thống quản lý hành chính, nỗ lực đảm bảo sự bình đẳng giữa các loại hình DN Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có sự phân biệt đối xử giữa các DNVVN tư nhân với các DNNN đặc biệt trong việc hoàn thành các thủ tục hành chính, vốn tín dụng Điều này đã gây ra tâm lý không tốt đối với các khu vực DNVVN và hạn chế việc khai thác có hiệu quả các nguồn lực xã hội Vì thế, cũng cần quan tâm đến việc giảm các thủ tục hành chính kều cho các DNVVN Các quy định về điều tiết kinh doanh của Chính phủ đảm bảo sự bình đẳng của DNVVN với các DN lớn trong nền kinh tế và phải đơn giản, bảo đảm tính
dễ thực thi để nâng cao tính hiệu lực của các hệ thống văn bản pháp luật
a Xây dựng cơ chế và hệ thống hỗ trợ vốn cho DNVVN thống nhất có hiệu quả từ Trung ương đến địa phương: Các nước có DNVVN phát triển là
những nước có hệ thống cơ chế quản lý và hỗ trợ tài chính thống nhất giữa các ngành và các địa phương Một số nước có các cơ quan quản lý chuyên trách của Chính phủ đối với DNVVN Các cơ quan này một mặt có nhiệm vụ ban hành các chính sách phát triển DNVVN cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước
và phù hợp với các chính sách, chiến lược phát triển kinh tế xã hội chung, mặt khác các cơ quan này chính là người đại diện về mặt pháp lý bảo vệ quyền lợi của DNVVN Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý nhà nước đối với DNVVN cần có cơ chế phối hợp với mạng lưới các tổ chức có liên quan để thực sự hỗ trợ tài chính cho DNVVN một cách có hiệu quả
b Đẩy mạnh các biện pháp hỗ trợ DNVVN
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thứ nhất, hỗ trợ nâng cao năng lực tài chính nội tại của DNVVN, các chính
sách phát triển DNVVN ở các nước không chỉ tập trung vào việc tăng cường năng
lực đổi mới trong chính bản thân DNVVN Nền kinh tế Việt Nam vẫn đang trong
giai đoạn chuyển đổi nhằm hội nhập toàn diện vào nền kinh tế thế giới Trong khi
đó, năng lực về tài chính nội tại của các DNVVN Việt Nam là rất yếu, đặc biệt là sự
hiểu biết của các chủ DN về nghiệp vụ và kinh nghiệm kinh doanh trong nền kinh tế
thị trường, trong môi trường quốc tế Để phát huy vai trò của các DNVVN Việt
Nam trong nền kinh tế thị trường Chính phủ cần xác định rõ các năng lực vốn còn
yếu kém của các DNVVN là gì, từ đó và có các chính sách hỗ trợ phù hợp
Thứ hai, các hình thức hỗ trợ qua cơ chế tài chính: Các chính sách hỗ trợ
DNVVN bằng các hình thức hỗ trợ tài chính, các cơ chế và hỗ trợ kỹ thuật Một
trong các hình thức hỗ trợ đem lại nhiều thành công ở nhiều quốc gia là hình thức
sử dụng vườn ươm DN Danh từ “vườn ươm” DN mới xuất hiện ở Việt Nam trong
một vài năm trở lại đây nhưng nó đã gây được sự chú ý và quan tâm của nhiều
người có tâm huyết với việc phát triển DNVVN Tuy nhiên việc xây dựng và áp
dụng loại hình “vườn ươm” DN vào Việt Nam mới ở giai đoạn thử nghiệm bước
đầu và cũng mới chỉ có ở các TP lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh Việc lựa chọn
hình thức thực hiện như thế nào cho phù hợp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều
kiện kinh tế văn hóa của đất nước, của từng vùng
Thứ ba, hỗ trợ về tài chính trực tiếp: Ngoài các hình thức hỗ trợ trực tiếp trên,
các nước còn có hình thức hỗ trợ tài chính như Quỹ bảo lãnh tín dụng, Quỹ khuyến
khích phát triển các ngành nghề truyền thống Hiện nay ở nhiều nơi của Việt Nam
đang thực hiện hình thức là quỹ khuyến công, quỹ hỗ trợ tư vẫn… Các hình thức này
đều có thể áp dụng vào việc hỗ trợ các DNVVN ở Việt Nam Tuy nhiên do đặc thù
của nền kinh tế Việt Nam, các quỹ hỗ trợ này cần phải có một cơ chế hoạt động đảm
bảo tính công bằng, khách quan, tránh tình trạng hình thành nên các quỹ này để tăng
quyền lực của các cơ quan công quyền ở các bộ ngành hoặc các cấp địa phương
Ngoài quỹ hỗ trợ tài chính, một số nước thành công trong việc hỗ trợ tài
chính thông qua các hình thức thuê mua tài chính Đây là một hình thức giải quyết
vốn dài hạn và trung hạn cho các DNVVN đòi hỏi các cán bộ ngân hàng phải nắm
được nhu cầu của DN để có thể mua tài sản phù hợp với nhu cầu cần vay vốn, DN
sẽ nhận tài sản từ ngân hàng thay cho việc nhận vốn Hình thức này phù hợp với các
DN không có tài sản thế chấp nhưng lại có kế hoạch kinh doanh có hiệu quả Đây
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cũng chính là hình thức giúp đỡ các DNVVN giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh mà nhiều ngân hàng trên thế giới đã làm rất thành công
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài nghiên cứu này, các câu hỏi chính cần phải được giải
đáp đó là:
- Hãy cho biết tình hình phát triển của các DNVVN tại TP Thái Nguyên ?
- Những khó khăn về vốn trong sản xuất kinh doanh của DNVVN tại TP
Thái nguyên là gì?
- Giải pháp nào để giải quyết vấn đề huy động và sử dụng nguồn vốn trong
DNVVN tại Thành phố Thái nguyên?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập và tính toán từ những số liệu
của các cơ quan quản lý đã được công bố; các tài liệu được công bố trên các báo khoa
học, các tài liệu tham khảo và tài liệu các công trình khoa học, các báo cáo tổng kết,
các bài viết, Thu thập các tài liệu, số liệu đã công bố của Sở công thương, Cục
thống kê, Chi cục thống kê, Cục thuế, Chi cục thuế TP Thái Nguyên, BHXH TP
Thái Nguyên, Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH các năm
2011-2013 của UBND Tỉnh và UBND TP Thái Nguyên, thông qua các bài viết,
báo cáo, tạp chí, Internet Căn cứ tài liệu của các DNVVN, các báo cáo tài
chính, báo cáo khác được lưu trữ tại các cơ quan quản lý và tại DNVVN để thực
hiện thu thập số liệu cần thiết, đối chiếu, tổng hợp số liệu để tiến hành phân tích
và đánh giá
a Phương pháp thu thập số liệu từ tài liệu tham khảo: Phương pháp này dựa
trên nguồn thông tin thu thập được từ những tài liệu tham khảo có sẵn gồm hồ sơ, tài
liệu, sổ sách thống kê… để xây dựng cơ sở luận cứ nhằm chứng minh vấn đề
- Các số liệu của Tổng Cục thống kê, Chi cụ thuế, Hội DNVVN tỉnh Thái Nguyên,
các cơ quan ban ngành khác
b Phương pháp thu thập số liệu phi thực nghiệm
Thứ nhất: xác định ranh giới nghiên cứu: Bằng cách tự hỏi các cơ quan liên
quan để nắm bắt được các kiến thức, ý kiến và thông tin chung
Thứ hai: chọn mẫu hay chọn đối tượng phỏng vấn: Theo nguyên tắc, chọn
mẫu phi ngẫu nhiên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Có hai phương pháp phỏng vấn: Phương pháp phỏng vấn - trả lời và phương pháp sử dụng bảng câu hỏi - trả lời bằng viết:
Một là, phương pháp phỏng vấn trả lời
Phỏng vấn là một loạt các câu hỏi mà người nghiên cứu đưa ra để phỏng vấn người trả lời Phỏng vấn có thể được tổ chức có cấu trúc, nghĩa là người nghiên cứu hỏi các câu hỏi được xác định rõ ràng; và phỏng vấn không theo cấu trúc, nghĩa là người nghiên cứu cho phép một số các câu hỏi của họ được trả lời (hay dẫn dắt) theo ý muốn của người trả lời
Hai là, phương pháp sử dụng bảng câu hỏi - trả lời bằng viết
Bảng câu hỏi là một loạt các câu hỏi được viết hay thiết kế bởi người nghiên cứu để gửi cho người trả lời phỏng vấn trả lời và gửi lại bảng trả lời câu hỏi qua thư bưu điện cho người nghiên cứu
Thu thập thông tin sơ cấp được tiến hành bằng phương pháp điều tra các DNVVN: Tiến hành nghiên cứu bằng cách tiếp cận với các doanh nghiệp thuộc hội DNVVN tỉnh Thái Nguyên, từ đó tiến hành lập danh sách các thành viên thuộc hội trên địa bàn TP Thái Nguyên, sau khi đã có danh sách các DN tiến hành phân tổ các
DN theo khu vực kinh tế bao gồm: Khu vực nông lâm nghiệp thủy sản, Công nghiệp và Xây dựng, Thương mại Dịch vụ, sau đó phân loại theo 2 nhóm DN vừa,
DN nhỏ Đồng thời phân loại số DN trên địa bàn nghiên cứu theo loại hình DN bao gồm: Công ty cổ phần, Công ty TNHH, DN tư nhân, Các hợp tác xã Từ đó thực hiện nghiên cứu để thu thập những thông tin và số liệu cần thiết làm nguồn cơ sở dữ liệu khoa học cho phân tích và đánh giá
- Chọn mẫu nghiên cứu: Tổng hợp số liệu và đánh giá các chỉ tiêu cho các DNVVN của TP Thái Nguyên, đồng thời tiến hành điều tra nghiên cứu 20 DNVVN
và thu thập các số liệu chi tiết để thực hiện việc phân tích
2.2.2 Lựa chọn địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TP Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên
Thời gian thực hiện nghiên cứu số liệu giai đoạn 2011-2013, Nguồn số liệu các DNVVN năm 2011- 2013
Đề tài thực hiện từ tháng 01 năm 2013 hoàn thành tháng 06 năm 2014
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Các tài liệu sau khi thu thập được tiến hành chọn lọc, hệ thống hóa để tính toán các chỉ tiêu phù hợp cho việc phân tích đề tài Sử dụng phân tổ thống kê để hệ
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thống và tổng hợp tài liệu Các công cụ và kỹ thuật tính toán được xử lý trên
chương trình Microsoft Excel 2007 Bao gồm các tài liệu theo chỉ tiêu điều tra:
- Số liệu trong báo cáo của các đơn vị
- Tài liệu và số liệu sơ cấp: Thu thập bằng cách thực hiện điều tra, quan sát,
phỏng vấn
- Tài liệu, số liệu đã công bố: số liệu của cơ quan nhà nước như Cục thống
kê, Chi cục thống kê, sở, ban, ngành khác
- Phương pháp tổng hợp số liệu: Để có thể quan sát được những thông tin đã
thu thập, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tổ để tiến hành tổng hợp số liệu qua đó
phản ánh tổng quan nhất về những chỉ tiêu đã xác định Bên cạnh đó, sử dụng đồ thị
nhằm mục đích đưa tới cho người nghiên cứu, người đọc cái nhìn trực quan và sinh
động về mức độ của hiện tượng qua nguồn thông tin, số liệu đã thu thập
2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin
- Phương pháp thống kê mô tả: Là phương pháp nghiên cứu việc tổng hợp,
số hóa, biểu diễn bằng đồ thị các số liệu thu thập được Phương pháp này được áp
dụng để phân tích thực trạng công tác huy động và sử dụng vốn trong DNVVN tại
TP Thái Nguyên năm 2011-2013
- Phương pháp phân tổ: Được áp dụng để phân tổ hiện tượng nghiên cứu theo các
tiêu thức như: Theo ngành kinh tế cấp I, Theo loại hình theo tính sở hữu, theo lĩnh vực
kinh doanh, theo quy mô; để thuận lợi trong tính toán, tổng hợp, phân tích và đánh giá
- Phương pháp so sánh: Được dùng để đối chiếu các chỉ tiêu đã được lượng hóa
cùng nội dung và tính chất thông qua việc tính toán các tỷ số, so sánh thông tin của các
DN khác nhau theo các tiêu thức để từ đó đưa ra những đánh giá chính xác, khoa học
về công tác huy động và sử dụng vốn tại các DNVVN TP Thái Nguyên
- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn những chuyên gia có kinh nghiệm trong
các lĩnh vực như: tài chính Ngân hàng, Những nhà quản lý ngành và lãnh đạo địa
phương, Hội DNNVV tỉnh Thái Nguyên để có được thông tin phù hợp trong việc đánh
giá và đề xuất giải pháp Phương pháp này được sử dụng trong việc lựa chọn tài liệu,
phân tích và dự báo xu hướng vận động, lựa chọn kết quả nghiên cứu, tham khảo các ý
kiến chuyên gia trong quản lý nhà nước cũng như trong lĩnh vực tài chính Ngân hàng
- Phương pháp thảo luận: Sau khi tiến hành thu thập thông tin cần thiết,
chúng tôi thảo luận cùng các chuyên gia về những nội dung đã thu thập để chắt lọc
và lựa chọn thông tin, qua đó tăng tính chính xác của thông tin thu thập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2.2.5 Phương pháp so sánh và phân tích hệ thống
Phương pháp so sánh là phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc) Tiêu chuẩn để so sánh thường là: Chỉ tiêu kế hoạch của một kỳ kinh doanh, tình hình thực hiện các kỳ kinh doanh đã qua Điều kiện để so sánh là: Các chỉ tiêu so sánh phải phù hợp về yếu tố không gian, thời gian, cùng nội dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương pháp tính toán Phương pháp so sánh có hai hình thức: So sánh tuyệt đối và so sánh tương đối So sánh tuyệt đối dựa trên hiệu số của hai chỉ tiêu so sánh là chỉ tiêu kỳ phân tích và chỉ tiêu cơ
sở So sánh tương đối là tỷ lệ (%) của chỉ tiêu kỳ phân tích so với chỉ tiêu gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỷ lệ của số chênh lệch tuyệt đối với chỉ tiêu gốc để nói lên tốc độ tăng trưởng Trong luận văn có sự kết hợp cả hai hình thức so sánh tương đối và tuyệt đối để phân tích thực trạng phát triển DNVVN ở Thái Nguyên Sự kết hợp này sẽ bổ trợ cho nhau giúp chúng ta vừa có được những chỉ tiêu cụ thể về khối lượng và giá trị, vừa thấy được tốc độ tăng trưởng của đơn vị trong kỳ phân tích Phương pháp phân tích hệ thống: Phân tích hệ thống đòi hỏi sự phân tích các mối tương tác giữa các phân hệ của hệ thống kinh tế- xã hội, từ đó xác định vị trí, vai trò của từng yếu tố trong hệ thống Phương pháp này dùng trong luận văn để phân tích các nhân tố tác động đến phát triển DN VVN tại Thành phố Thái Nguyên Các phân tích này luôn được gắn bó chặt chẽ mang tính hệ thống xuyên suốt trong luận văn
2.3 Các chỉ tiêu lựa chọn cho phân tích và đánh giá
2.3.1 Số lượng doanh nghiệp
Số lượng DN là toàn bộ các đơn vị kinh tế hạch toán độc lập, có đầy đủ tư cách pháp nhân, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập theo quy định của pháp luật (Luật DN, Luật hợp tác xã) đang còn tồn tại về mặt pháp lý tại một thời điểm nhất định
i) Nguồn vốn của DN theo thời điểm là tổng nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ
DN và các khoản nợ phải trả có tại thời điểm nhất định (thường là có đến thời điểm đầu năm vào ngày 01/01 hoặc thời điểm cuối năm vào ngày 31/12) với cách tính như sau: Đối với vốn thuộc sở hữu của chủ DN (kể cả vốn góp liên doanh, vốn của các
cổ đông) đầu tư vào DN được tính bằng cách lấy số vốn đầu tư ban đầu cộng (+) với số vốn đầu tư bổ sung trong quá trình SXKD trừ (-) số vốn bị giảm trong quá trình SXKD
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Đây là tổng số vốn của chủ DN đầu tư vào SXKD hiện có đến thời điểm báo cáo, Đối
với các quỹ của DN lấy theo số dư có quỹ (tồn quỹ) tại thời điểm báo cáo
Đối với các nguồn sở hữu khác lấy theo số dư tại thời điểm báo cáo Đối với nợ
phải trả lấy theo số dư nợ còn phải trả hoặc phải thanh toán với chủ nợ hay khách hàng
tại thời điểm báo cáo, không tính theo số cộng dồn các khoản vay nợ trong kỳ
ii) Tổng nguồn vốn của DN bình quân: Là số vốn bình quân của DN trong
thời kỳ nhất định, thường là 1năm Công thức xác định như sau:
(1) Tổng nguồn vốn bình quân = (Tổng nguồn vốn bình quân 12 tháng trong năm) /12
(2) Tổng nguồn vốn bình quân = (Tổng nguồn vốn bình quân 4 quí trong năm)/4
(3) Tổng nguồn vốn bình quân năm = (VKD đầu kỳ + VKD cuối kỳ)/2
2.3.3 Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn
Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn là toàn bộ giá trị của sản phẩm vật chất
(thành phẩm, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang) và dịch vụ sản xuất ra trong một
thời kỳ nhất định trên phạm vi một tỉnh/TP, không phân biệt nguồn vốn và chủ sở
hữu thực hiện các hoạt động sản xuất trong hay ngoài tỉnh/TP, Giá trị sản xuất được
tính theo giá thực tế và giá so sánh
2.3.4 Các chỉ tiêu về kết quả kinh tế xã hội
- Tổng giá trị sản xuất: Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn là chỉ tiêu thống kê
tổng hợp phản ánh kết quả của toàn bộ hoạt động sản xuất của một thời kỳ nhất
định, phục vụ cho việc tính chỉ tiêu giá trị tăng thêm, xác định tăng trưởng kinh tế
từng ngành kinh tế, loại hình kinh tế… của mỗi tỉnh, Thành phố
- Chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (Gross Domestic Product):
là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra
trong phạm vi một lãnh thổ, trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
2.3.5 Phân tích các chỉ tiêu về hiệu suất và hiệu quả sử dụng nguồn vốn DNVVN
a) Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (vốn kinh doanh): Khi đánh giá hiệu
quả hoạt động SXKD của một DN, các nhà phân tích thường xem xét hai chỉ tiêu là tỷ
suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA - Return on Total Asset) và tỷ suất sinh lời trên vốn
chủ (ROE - Return on Equity) Về cơ bản, hai chỉ tiêu ROA và ROE càng cao càng tốt,
tức là DN hoạt động có hiệu quả cao Số liệu về lợi nhuận sau thuế được lấy từ báo cáo
kết quả kinh doanh còn chỉ tiêu Tổng tài sản và vốn chủ sở hữu được lấy từ bảng cân
đối kế toán của DN
Số trung bình = (số đầu kỳ + số cuối kỳ)/2
b) Vòng quay vốn: Vòng quay vốn = Doanh thu thuần/ Vốn kinh doanh
bình quân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
c) Vòng quay VLĐ: Có thể tính chỉ tiêu này bằng công thức:
- Số vòng quay của vốn LĐ = Tổng mức luân chuyển trong kỳ chia cho vốn lưu động bình quân
- Kỳ luân chuyển vốn là số ngày bình quân cần thiết để thực hiện 1 vòng quay trong kỳ(Kỳ luân chuyển bằng 360 ngày chia cho số lần luân chuyển)
d) Hiệu suất sử dụng vốn
Hiệu suất sử dụng vốn LĐ = Doanh thu hoặc tổng doanh thu trong kỳ chia cho vốn lưu động bình quân trong năm Và "hiệu suất sử dụng vốn" càng lớn, thì trình độ sử dụng vốn của DN càng tốt
e) Hàm lượng vốn lưu động: Hàm lượng vốn lưu động = vốn lưu động bình
quân chia cho tổng doanh thu trong kỳ
f) Mức doanh lợi vốn lưu động: Mức doanh lợi vốn lưu động = Lợi nhuận
sau thuế(LN ròng) chia cho vốn lưu động bình quân Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập)
g) Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu trong một kỳ nhất định được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng hoặc lợi nhuận sau thuế trong kỳ chia cho doanh thu trong kỳ Công thức tính như sau:
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = 100%
x Lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế)
Doanh thu Lợi nhuận ròng và doanh thu có thể lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh của công ty Chỉ tiêu này cho biết trong 100đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợi nhuận hoặc lợi nhuận sau thuế
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 3 THỰC TRẠNG VỀ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
3.1 Đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội thành phố
Thái Nguyên
3.1.1 Đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên của thành phố Thái Nguyên
3.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển thành phố Thái Nguyên
Sau cách mạng tháng tám 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa ra đời, thị xã Thái Nguyên là tỉnh lỵ tỉnh Thái Nguyên Năm 1956, khu Tự trị
Việt Bắc được thành lập, thị xã Thái Nguyên vừa là tỉnh lỵ tỉnh Thái Nguyên, vừa là
Thủ phủ của Khu Tự trị Việt Bắc Theo quyết định số 114/CP ngày 19-10-1962 của
Thủ tướng Chính phủ, thị xã Thái Nguyên được nâng cấp thành TP Thái Nguyên,
thuộc tỉnh Thái Nguyên, với tổng diện tích tự nhiên hơn 100 km2 và với dân số
khoảng 60.000 người Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và tăng cường
khả năng quốc phòng, theo quyết định ngày 21-4-1965 của Quốc hội nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, từ ngày 1-7-1965, hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn sát nhập
thành tỉnh Bắc Thái, TP Thái Nguyên là tỉnh lỵ tỉnh Bắc Thái Để phù hợp với sự
phát triển kinh tế, xã hội của TP Thái Nguyên và huyện Đồng Hỷ, ngày 2-4-1985,
Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra quyết định số 102/HĐBT chuyển huyện
Đồng Hỷ sang phía đông - bắc sông Cầu; TP Thái Nguyên tiếp nhận thêm 7 xã phía
tây, tây bắc của huyện Đồng Hỷ, đồng thời cắt xã Đồng Bẩm và 2 phường Chiến
Thắng, Núi Voi về huyện Đồng Hỷ Ngày 8-4-1985, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết
định số 109/HĐBT, thành lập phường Tân Thịnh, và giải thể 3 xã Đồng Quang, Cam
Giá, Gia Sàng để thành lập 3 phường Đồng Quang, Cam Giá, Gia Sàng
Theo Quyết định số 25/HĐBT ngày 13-2-1987 của Hội đồng Bộ trưởng, các
xã Túc Duyên, Quang Vinh thành phường Quang Vinh; phường Tân Thịnh được
chia thành 2 phường Tân Thịnh và Tân Lập Thực hiện Nghị định số 64/CP ngày
11-7-1994 của Chính phủ, phường Đồng Quang tách thành 2 phường Đồng Quang
và Quang Trung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Theo Quyết định ngày 6-11-1996 của Quốc hội khóa IX, từ ngày 1-1-1997, tỉnh Bắc Thái được tách thành 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn, TP Thái Nguyên là tỉnh lỵ tỉnh Thái Nguyên
Theo Quyết định số 14/2004/NĐ-CP, ngày 1-9-2004 của Chính phủ, xã Thịnh Đán được tách thành phường Thịnh Đán và xã Quyết Thắng Ngày 31-7-2008 Chính phủ đã có Nghị định số 84/2008-CP về điều chỉnh địa giới huyện Đồng Hỷ để mở rộng TP Thái Nguyên, hai xã Cao Ngạn và Đồng Bẩm về TP Thái Nguyên Ngày 13-1-2011, Chính phủ đã có nghị quyết số 05/2011/NQ-CP về giải thể, điều chỉnh địa giới để thành lập các phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong đó chuyển xã Tích Lương thành phường Tích Lương thuộc TP Thái Nguyên
Như vậy sau hơn 50 năm thành lập TP Thái Nguyên, đến nay sau nhiều lần điều chỉnh, chuyển đổi, toàn TP Thái Nguyên đã có 28 xã, phường trong đó có 19phường và 9xã; Diện tích tự nhiên là 18.970,48 ha; Dân số 330.707 người; trong
đó dân số thường trú là 279.710 người(thời điểm31/12/2011) Đối với TP sau 50 năm đã dược Thủ tướng Chính phủ 4 lần quyết định phê duyệt điều chỉnh và nâng cấp TP, đó là các lần quyết định như sau:
Ngày 30-10-1996, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 802/TTG phê duyệt quy hoạch chung TP Thái Nguyên, công nhận TP Thái Nguyên là trung tâm vùng Việt Bắc
Ngày14-10-2002, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số TTG công nhận TP Thái Nguyên là đô thị loại II
135/2002/QĐ-Ngày 2-11-2005, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định 278/2005 phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung TP Thái Nguyên đến năm 2020
Ngày 1-9-2010, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 1615/QĐ-TTG công nhận TP Thái Nguyên là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thái Nguyên
3.1.1.2 Vị trí địa lý của thành phố Thái Nguyên
TP Thái Nguyên: Tổng diện tích tự nhiên 189,705km2, phía bắc giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương, phía đông giáp thị xã Sông Công, phía tây giáp huyện Đại Từ, phía Nam giáp huyện Phổ Yên và huyện Phú Bình
Là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật, y tế, du lịch, dịch vụ của tỉnh Thái Nguyên
và vùng trung du miền núi phía Bắc; trung tâm vùng trung du, miền núi Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 80 km TP Thái Nguyên nằm ở trung tâm tỉnh Thái Nguyên là đầu mối giao thông quan trọng nối các tỉnh miền núi phía Bắc với các tỉnh đồng bằng Bắc bộ Có QL 3 nối Hà Nội - Thái Nguyên - Bắc Cạn - Cao Bằng, QL 1B đi
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Lạng Sơn, Quốc Lộ 37 đi Bắc Giang, Tuyên Quang Mạng lưới đường sắt Hà Nội -
Thái Nguyên và Lưu Xá - Kép, đây là tuyến đường vận chuyển hàng hóa quan trọng
trong vùng TP Thái Nguyên có hai con sông lớn chảy qua: Sông Cầu và sông Công
rất thuận lợi cho giao thông thủy trong vùng Do ở vị trí tiếp giáp giữa vùng rừng
núi và đồng bằng Bắc Bộ, có giao thông đường thuỷ, đường bộ thuận lợi, TP Thái
Nguyên trở thành nơi trao đổi và thông thương hàng hóa Mối quan hệ giữa TP Thái
Nguyên với các địa phương trong và ngoài tỉnh được tăng cường TP Thái Nguyên
là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội của tỉnh Thái Nguyên và vùng Việt
Bắc: có vị trí thuận lợi, quan trọng trong việc phát triển Kinh tế - Xã hội của tỉnh
Thái Nguyên và các tỉnh miền núi phía bắc (UBND thành phố Thái Nguyên, 2013)
3.1.1.3 Đặc điểm địa hình
Địa hình Thái Nguyên chủ yếu là đồi núi thấp chạy theo hướng bắc - nam,
thấp dần từ bắc xuống nam Bao quanh phía tây nam và phía bắc là những dãy núi
Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn Phía tây nam có dãy Tam Đảo với đỉnh cao nhất
1.591m, các vách núi dựng đứng và kéo dài theo hướng tây bắc - đông nam Dãy
Ngân Sơn bắt đầu từ Bắc Kạn phân bố theo hướng đông bắc - tây nam đến Võ Nhai
Dãy núi Bắc Sơn cũng có hướng tây bắc - đông nam Được ba dãy núi Tam Đảo,
Ngân Sơn, Bắc Sơn đều là những dãy núi hình cánh cung che chắn nên TP Thái
Nguyên ít chịu ảnh hưởng lớn của gió mùa đông bắc
Địa hình Thái Nguyên hầu như nằm ngang (<30
- 90): chiếm diện tích rất nhỏ
ở các khu vực ven sông lớn và khu vực phía nam và đông nam tỉnh Vùng có độ dốc
nghiêng (9 - 150): chiếm phần lớn diện tích khu vực quanh TP Thái Nguyên Địa
hình TP Thái Nguyên với nhiều đồi thấp, tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho phát
triển nông, lâm nghiệp, thủy sản và xây dựng các công trình công nghiệp và phát
triển hạ tầng khu dân cư đô thị
3.1.1.4 Đặc điểm điều kiện đất đai
Tổng diện tích đất của TP Thái Nguyên tính đến thời điểm 31/12/ 2013 là
18.630,6 ha, đất đai trên địa bàn toàn tỉnh tương đối đa dạng, gồm nhiều loại khác
nhau Kết hợp giữa sự đa dạng về đất đai và khí hậu là điều kiện thuận lợi để TP
Thái Nguyên chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho phát triển KT-XH
Qua số liệu thống kê cho thấy trong tổng 18.630,6 ha diện tích đất tự nhiên
thì có 63,8% là diện tích đất nông nghiệp, 26,19% là đất phi nông nghiệp và 10,73%
đất chưa sử dụng
Diện tích đất nông lâm nghiệp trên địa bàn TP theo thống kê đến 31/12/2013
là 11.751,8 ha Diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm dần qua các năm (bình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
quân giảm 5%) Đất phi nông nghiệp là 4.879,4 ha, chiếm 26,19%, diện tích đất phi nông nghiệp có xu hướng tăng dần qua các năm, diện tích đất chưa sử dụng trên địa
bàn là 1999,4 ha, chiếm 10,73% (Bảng 3.1) (Biểu 01)
Về cơ cấu sử dụng Đất ở, đất chuyên dùng có xu hướng tăng bình quân khoảng 6%, do những điều chỉnh quy hoạch đô thị phù hợp với quá trình đô thị hóa diễn ra, do đó đã dành nhiều quỹ đất cho xây dựng các công trình và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Ngược lại Đất sản xuất nông nghiệp lâm nghiệp có xu hướng giảm dần hàng năm khoảng 5% Như vậy đã cho thấy xu hướng biến động và những thay đổi
về cơ cấu đất trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.1.1.5 Đặc điểm khí hậu
Thành phố Thái Nguyên mang những nét chung của khí hậu vùng đông bắc
Việt Nam, thuộc miền khí hậu cận nhiệt đới ẩm, có mùa đông phi nhiệt đới lạnh giá,
ít mưa, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều Khí hậu của TP Thái Nguyên chia làm 4 mùa:
xuân, hạ, thu, đông và nằm trong vùng ấm của tỉnh, có lượng mưa trung bình khá lớn
Đặc điểm quan trọng của khí hậu TP Thái Nguyên là tính chuyển tiếp giữa đồng bằng
và miền núi Sự chuyển tiếp này thể hiện trước hết ở chế độ nhiệt Biên độ dao động
ngày và đêm của nhiệt độ lớn hơn đồng bằng Bắc Bộ, trung bình chênh lệch khoảng
0,5 - 10C; Tính chất chuyển tiếp còn thể hiện trong chế độ mưa và chế độ gió Khí
hậu Thái Nguyên được hình thành từ một nền nhiệt cao của đới chí tuyến và sự thay
thế của các hoàn lưu lớn theo mùa, kết hợp với đặc điểm địa lý cụ thể đã làm nên khí
hậu nóng ẩm, mưa mùa, có mùa đông lạnh và rất thất thường trong năm
3.1.1.6 Tài nguyên thiên nhiên
TP Thái Nguyên có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú bao gồm:
- Tài nguyên đất: so với diện tích đất tự nhiên thì tổng diện tích đất phù sa
không được bồi hàng năm với độ trung tính ít chua là 3.125,35 ha, chiếm 17,65% so
với tổng diện tích tự nhiên; đất phù sa không được bồi hàng năm, chua, glây yếu có
100,19ha, chiếm 0,75% tổng diện tích đất tự nhiên được phân bổ chủ yếu ở phường
Phú Xá; đất phù sa ít được bồi hàng năm trung tính ít chua có 379,84ha, chiếm
2,35% tổng diện tích đất tự nhiên; đất (Pcb1) bạc màu phát triển trên phù sa cũ có
sản lượng feralit trên nền cơ giới nhẹ có 271,3ha, chiếm 1,53%; đất (Pcb2) bạc màu
phát triển trên phù sa cũ có sản lượng feralit trên nền cơ giới nặng có 545,6ha,
chiếm 3,08%
- Tài nguyên rừng: rừng ở Thái Nguyên chủ yếu là rừng nhân tạo và rừng
trồng theo chương trình 327, rừng trồng theo chương trình PAM, vùng chè Tân
Cương cùng với các loại cây trồng của nhân dân như cây nhãn, vải, quýt, chanh
Cây lương thực chủ yếu là cây lúa nước, ngô, đậu thích hợp và phát triển ở những
vùng đất bằng trên các loại đất phù sa, đất mới phát triển, đất glây trung tính ít chua
- Tài nguyên khoáng sản: 2 tuyến sông lớn chảy qua (sông Cầu và sông
Công), do đó cung cấp cho TP một lượng cát, sỏi phục vụ xây dựng khá lớn, đủ đáp
ứng nhu cầu xây dựng cho toàn TP Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng đông
bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương Mỏ than nội địa
Khánh Hoà thuộc xã Phúc Hà có trữ lượng than rất lớn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Nguồn nước: Hai bên bờ sông của khu vực Đồng Bẩm, Túc Duyên có lượng nước ngầm phong phú Hiện tại nguồn nước của TP Thái Nguyên rất thuận lợi được cấp bởi cả hệ thống sông hồ, gồm sông Cầu và Sông Công gắn với hệ thống kênh đẫn nước hồ Núi cốc, đảm bảo nước sạch cho toàn TP và các huyện, hiện nay Nhà Máy nước sạch Tích Lương được đánh giá là một trong những nhà máy lớn nhất toàn quốc (UBND thành phố Thái Nguyên, 2013, tr.10]
cố hóa trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên; đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình xây dựng ký túc xá sinh viên và khu đô thị sinh viên trên địa bàn, từ năm 2011-2013 đã tổ chức khởi công xây dựng trên 30 công trình; tập trung xây dựng khu đô thị sinh viên giai đoạn II với tổng kinh phí 670 tỷ đồng, Mở rộng đại học Thái nguyên tổng kinh phí 600 tỷ đồng Trong năm 2013, các trường, trung tâm, cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh đã tổ chức dạy nghề trình độ sơ cấp cho 4.026 người, đạt 107,9% kế hoạch; nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trên địa bàn TP Thái Nguyên đến hết năm 2013 đạt 32% (Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2014), (Cổng thông tin điện tử của TP Thái Nguyên), (Báo Cáo UBND thành phố Thái Nguyên, 2013, tr.13)
3.1.1.8 Y tế
Thành phố Thái Nguyên là nơi tập trung 9 bệnh viện đa khoa, chuyên khoa của Trung ương và địa phương như Bệnh viện đa khoa Trung ương, Bệnh viện A, bệnh viện lao, bệnh viện mắt, bệnh viện y học cổ truyền, bệnh viện phục hồi chức năng với trên 3.000 giường bệnh đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và điều trị cho nhân dân trong vùng Ngoài ra còn có 5 trung tâm trực thuộc sở y tế làm công tác
dự phòng và chỉ đạo chuyên môn Với vai trò là trung tâm y tế vùng, các bệnh viện
đã triển khai, đầu tư hệ thống máy móc, thiết bị kỹ thuật y tế chuyên sâu, hiện đại nâng cao năng lực khám, chữa bệnh cho nhân dân, góp phần giảm áp lực cho các
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
bệnh viện lớn ở Hà Nội TP Thái Nguyên đã đầu tư khá đầy đủ về cơ sở vật chất y
tế để chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, đặc biệt với sự đầu tư tập trung, đồng bộ
cho hệ thống cơ sở y tế xã, phường, với đội ngũ y bác sỹ có trình độ chuyên môn
và tay nghề cao (Cổng thông tin điện tử của TP Thái Nguyên), (UBND thành phố
Thái Nguyên, 2013, tr.13)
3.1.2 Đặc điểm và tình hình kinh tế xã hội thành phố Thái Nguyên
3.1.2.1 Đặc điểm xã hội thành phố Thái Nguyên
Thành phố Thái Nguyên có 28 đơn vị hành chính (phường, xã): Tổng số gồm
19 Phường, 9 xã Diện tích 18.630,6 ha; Dân số: 290.620 người, Mật độ 15.599
người/km², dân số thành thị chiếm 79,92%, Nông thôn 20,08% Với cơ cấu kinh tế
của TP Thái Nguyên tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng CNH-HĐH sẽ thúc
đẩy đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng cao TP Thái
Nguyên có tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú, có điều kiện khí hậu thuận
lợi cho phát triển cây rừng, cây công nghiệp, cây ăn quả và vật nuôi Có tiềm năng
lớn để phát triển du lịch với Hồ Núi Cốc, di tích lịch sử, cách mạng, có khu Gang
Thép Thái Nguyên- cái nôi của ngành thép Việt Nam Đặc biệt, Thái Nguyên có
nhiều khả năng phát triển nông - lâm nghiệp, có vùng chè nổi tiếng, đứng thứ hai
trong cả nước về diện tích trồng chè
Trên địa bàn TP có nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp về khai khoáng, luyện
kim, cơ khí, VLXD, hàng tiêu dùng Khu Gang Thép Thái Nguyên được xây dựng
từ những năm 1962 là nơi sản xuất thép từ quặng duy nhất tại Việt Nam và hiện
đang được tiếp tục đầu tư chiều sâu để phát triển Có nhiều nhà máy thuộc nhiều
lĩnh vực khác nhau đã và đang được tiến hành xây dựng TP Thái Nguyên có đội
ngũ cán bộ, công nhân có kinh nghiệm, năng lực, trình độ cao và đội ngũ sinh viên
tốt nghiệp hàng năm từ các trường Đại học, chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật
trên địa bàn, đáp ứng yêu cầu phát triển
a) Tình hình nhân khẩu và lao động
Thành phố
Kinh Năm 2013 tổng dân số của TP Thái Nguyên là 290.620 người 1.559 người/km2 như vậy về diện tích chỉ
chiếm 5,3% toàn tỉnh nhưng dân số chiếm 25,1% của tỉnh cho thấy mật độ dân số
của TP là khá cao Năm 2013, tổng số nhân khẩu trên toàn thành phố là 290.620
người Theo khu vực thì dân số thành thị chiếm 79,92%; Nông thôn chiếm 20,08%
Theo giới tính thì Nam chiếm 49,1%; Nữ chiếm 50,9%
Về lao động ta thấy lao động nông lâm nghiệp thuỷ sản chiếm 31,2%, lao động
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản chiếm 32%, lao động dịch vụ
thương mại chiếm 39,4% Số lao động bình quân 2011-2013 tăng 4,8% Trong đó lao
động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản và lao động dịch vụ đều
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tăng; lao động khu vực nông lâm nghiệp thuỷ sản giảm, Tỷ lệ lao động CN-TTCN, XDCB, lao động TM-DV ngày càng tăng lên là dấu hiệu của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn Tuy nhiên trình độ lao động còn thấp, lực lượng lao động chưa qua đào tạo rất lớn ảnh hưởng không nhỏ đến giá trị sản xuất của các ngành (Cục thống kê
tỉnh Thái Nguyên, 2014) (Bảng 3.2)