Một khái niệm về thuế được coi là hoàn hảo nhất được nêu trong cuốn “economics” của hai nhà kinh tế học của Mỹ Makkollhell và Brury như sau: “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ
THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số : 60 34 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Thế Phán
Thái Nguyên, năm 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào
Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Lan Hương
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Được sự hướng dẫn nhiệt tình của Phó giáo sư - TS Nguyễn Thế Phán cùng
với những ý kiến đóng góp quý báu của các Thầy, cô trong khoa sau đại học, trường
Đại học Kinh tế Thái Nguyên Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc
nhất tới những sự giúp đỡ quý báu đó
Để hoàn thành Luận văn này tôi xin chân thành cám ơn Lãnh đạo Cục thuế
tỉnh Bắc Ninh, Sở kế hoạch đầu tư, Sở tài chính tỉnh Bắc Ninh, Các ban ngành cùng
với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã giúp tôi trong suốt quá trình
thực hiện Luận văn này
Tôi xin chân thành cám ơn./
Bắc Ninh, ngày tháng năm 2012
Nguyễn Thị Lan Hương MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục Lục iii
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng, biểu viii
Danh mục các hình (hình vẽ, ảnh chụp, đồ thị…) ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Những đóng góp của luận văn 3
5 Kết cấu luận văn 3
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế TNCN 4
1.1 Tổng quan về thuế và thuế thu nhập ở Việt Nam 4
1.1.1 Tổng quan về thuế 4
1.1.2 Tổng quan về thuế TNCN 6
1.2 Tổng quan về quản lý thuế TNCN 8
1.2.1 Khái niệm quản lý thuế TNCN 8
1.2.2 Sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý thuế TNCN 9
1.2.3 Đặc điểm của công tác quản lý thuế TNCN 11
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN 12
1.2.5 Nội dung công tác quản lý thuế TNCN 17
1.3 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý thuế TNCN 21
1.3.1 Công tác quản lý thuế TNCN ở nước ta 21
1.3.2 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về thuế TNCN 30
Trang 31.3.3 Kinh nghiệm của một số Cục thuế trong công tác quản lý thuế TNCN và bài
học kinh nghiệm đối với Cục thuế tỉnh Bắc Ninh 33
Chương II: Phương pháp nghiên cứu công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 38
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 38
2.2 Phương pháp nghiên cứu 38
2.2.1 Khung phân tích 38
2.2.2 Lựa chọn địa bàn nghiên cứu 39
2.2.2 Lựa chọn địa bàn nghiên cứu 40
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin 40
2.2.4 Phương pháp xử lý, tổng hợp và phân tích thông tin 42
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu đánh giá công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh 43
2.3.1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả và chất lượng công tác quản lý thuế TNCN 43
2.3.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá tính tuân thủ Pháp luật thuế của ĐTNT 43
Chương III: Thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh 47
3.1 Khái quát về kinh tế - xã hội của Tỉnh Bắc ninh và Cục thuế Bắc Ninh 47
3.1.1 Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Ninh 47
3.1.2 Khái quát về Cục thuế Bắc Ninh 49
3.2 Thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 53
3.2.1 Công tác tổ chức bộ máy quản lý thuế TNCN 53
3.2.2 Quy trình quản lý thu thuế 56
3.3 Đánh giá chung công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 70
3.3.1 Những kết quả đạt được 70
3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 73
Chương IV: Giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới 81
4.1 Định hướng nhằm nâng cao công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh 81
4.1.1 Đảm bảo đúng chủ trương, chính sách, pháp luật thuế trong từng giai đoạn 81
4.1.2 Đảm bảo công bằng xã hội và nguồn thu cho NSNN 81
4.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 82
4.2.1 Giải pháp chung 82
4.2.2 Giải pháp cụ thể 84
4.3 Kiến nghị 92
4.3.1 Kiến nghị với Bộ tài chính và Tổng cục thuế 92
4.3.2 Kiến nghị với UBND tỉnh Bắc Ninh 94
4.3.3 Kiến nghị UBND các huyện, thị xã, thành phố 94
4.3.4 Các cơ quan, tổ chức liên quan 95
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 101
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ TỰ VIẾT TẮT
1 TNCN :Thu nhập cá nhân
2 NSNN : Ngân sách nhà nước
3.NNT : Người nộp thuế
4: ĐTNT : Đối tượng nộp thuế
5:TNCT : Thu nhập chịu thuế
6: MST : Mã số thuế
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Biểu 1.1 Tổng hợp mức thuế suất TNCN
Biểu 1.3 Biểu thuế suất áp dụng cho cá nhân không cư trú
Biểu 3.1 Kết quả thu thuế TNCN trên tổng nguồn thu
trên địa bàn Bắc Ninh giai đoạn 2009 -2011 50 Biểu 3.2 Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế theo chức năng
Biểu 3.3 Kết quả cấp Mã số thuế TNCN 57 Biểu 3.4 Tổng hợp kết quả khai thuế TNCN giai đoạn 2009-2011 60 Biểu 3.5 Kết quả kiểm tra về thuế TNCN giai đoạn 2009 - 2011 66 Biểu 3.6 Số liệu nợ thuế của cơ quan chi trả
Biểu 3.7 Kết quả thu nợ thuế TNCN của Cục Thuế Bắc Ninh
bằng biện pháp đôn đốc, thu nợ bình thường 69
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH ( HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ)
Sơ đồ 2.1 Khung nghiên cứu giải pháp tăng cường quản lý thuế
Hình 3.2
Tỷ lệ đánh giá về hiệu quả sử dụng công nghệ thông
tin của CQCT và NNT có thu nhập từ kinh doanh
62
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Thuế thu nhập nói chung và thuế TNCN nói riêng đã được áp dụng từ lâu trên thế giới và có lịch sử hàng trăm năm Thuế TNCN được áp dụng lần đầu tiên ở Anh năm 1799 dưới hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức ban hành vào năm 1842 Sau đó, thuế TNCN được nhanh chóng lan truyền sang các nước công nghiệp khác như: Nhật (năm 1887), Mỹ (năm 1913), Pháp (năm 1914) Các nước Châu Á như Thái Lan bắt đầu
áp dụng vào năm 1939, ở Phi-líp-pin năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, In-đô-nê-sia năm 1949, Trung Quốc năm 1984 Đến nay, đã có khoảng 180 nước áp dụng thuế TNCN và thuế TNCN đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách thuế của nhiều nước Các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều coi thuế TNCN là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Ở Việt Nam, thuế TNCN lần đầu tiên được ban hành vào năm 1990 dưới hình thức Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật thuế TNCN
đã được Quốc hội Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XII thông qua tại kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 27/11/2007 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2009 thay cho Pháp lệnh thuế đối với người có thu nhập cao Sau hơn 03 năm thực hiện, Luật thuế TNCN đã chứng tỏ được những ưu thế của nó, đặc biệt là đảm bảo
và góp phần làm tăng số thu cho Ngân sách Nhà nước, đồng thời cũng khắc phục được những hạn chế của thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trước đây Bên cạnh đó, việc thực thi hành Luật thuế TNCN cũng đã nảy sinh nhiều vướng mắc mà bằng chứng là trong những năm qua Bộ Tài chính đã phải ban hành rất nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Luật và những văn bản sửa đổi bổ sung để phù hợp với tình hình phát triển của kinh tế - xã hội Việt Nam
Thuế TNCN là loại thuế trực thu, thu trực tiếp vào thu nhập của cá nhân, có phạm vi ảnh hưởng rộng, áp dụng đối với nhiều đối tượng và đánh trên nhiều loại
Trang 6thu nhập Luật thuế TNCN có hiệu lực từ 01/01/2009 đến nay đã hơn 3 năm thực
hiện, trong quá trình thực hiện công tác quản lý thuế TNCN ở Việt Nam nói chung
và quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói riêng còn hạn chế như: Chính
sách thuế chưa rõ ràng, chưa quản lý hết người nộp thuế, đối tượng chịu thuế, tổ
chức bộ máy cơ quan thuế còn hạn chế Chính vì thế, để quản lý được tốt NNT, đối
tượng chịu thuế góp phần tăng thu NSNN về thuế TNCN trên địa bàn tỉnh là vấn đề
cấp thiết Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đề tài: “Giải pháp tăng cường công
tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh “ được lựa chọn để nghiên
cứu làm luận văn cao học
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn từ đó đề xuất một số giải pháp chủ
yếu nhằm tăng cường công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu đề ra, đề tài tập trung vào một số nhiệm vụ cơ bản sau:
Hệ thống hóa và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về thuế Việt Nam nói
chung và thuế TNCN nói riêng
Nghiên cứu kinh nghiệm của một số địa phương về công tác quản lý thuế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhằm tăng cường công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
gồm một số vấn đề cơ bản sau:
Cơ quan quản lý thuế các cấp (từ tỉnh xuống thành phố, huyện, thị xã)
Đối tượng chịu thuế TNCN; Đối tượng nộp thuế
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài tập trung chủ yếu nghiên cứu, đánh giá công tác quản
lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Về thời gian: Các số liệu thống kê được phân tích từ giai đoạn 2009 - 2011
4 Những đóng góp của luận văn
Hệ thống hoá các vấn đề lý thuyết cơ bản về công tác quản lý thuế TNCN Làm sáng tỏ thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trong những năm qua Xác định những điểm mạnh, điểm yếu, những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Đề xuất một số một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế TNCN
Chương 2: Địa bàn và phương pháp nghiên cứu công tác quản lý thuế TNCN
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý thuế TNCN ở tỉnh Bắc Ninh
Chương 4: Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 7Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TNCN
Trong chương này đề tài nghiên cứu những cơ sở lý thuyết về thuế Việt Nam
nói chung và thuế TNCN nói riêng như: Khái niệm, vai trò, đặc điểm, phân loại
thuế và nghiên cứu công tác quản lý thuế TNCN của một số địa phương Từ đó, rút
ra những bài học kinh nghiệm cho tỉnh Bắc Ninh vận dụng vào thực tế, phát huy
những mặt tốt và tránh mắc phải những sai lầm đã gặp của một số địa phương Trên
cơ sở đó có những bước đi và giải pháp đúng đắn, hợp lý đối với công tác quản lý
thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
1.1 Tổng quan về thuế và thuế thu nhập ở Việt Nam
1.1.1 Tổng quan về thuế
1.1.1.1 Khái niệm về thuế
Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về thuế, vì thế chúng ta vẫn chưa có
một khái niệm thống nhất về thuế Một khái niệm về thuế được coi là hoàn hảo nhất
được nêu trong cuốn “economics” của hai nhà kinh tế học của Mỹ (Makkollhell và
Brury) như sau: “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền hoặc chuyển
bằng hàng hóa, dịch vụ của Công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự
trao đổi đó họ không được nhận trực tiếp hàng hóa, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó
không phải là khoản tiền phạt mà tòa án phạt do hành vi vi phạm pháp luật.”
Các khái niệm về thuế có thể có nhiều cách hiểu khác nhau về thuế nhưng
nhìn chung trong các cách hiểu thì: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà
nước mang tính bắt buộc, gắn với quyền lực của nhà nước và người nộp thuế đóng
góp bắt buộc theo luật thuế mà không được hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu
chi tiêu của Nhà nước
1.1.1.2 Hệ thống thuế của Việt Nam
Hệ thống thuế của nước ta bao gồm nhiều sắc thuế mà Nhà nước sử dụng để
tạo lập nguồn thu NSNN và thực hiện các mục tiêu nhất định trong quản lý nền kinh
tế
Hệ thống thuế nước ta qua nhiều lần cải cách bằng nhiều văn bản luật thuế, pháp lệnh và áp dụng chung cho mọi thành viên trong cả nước Hệ thống thuế của Việt Nam bao gồm các loại thuế sau: (1) Thuế giá trị gia tăng; (2) Thuế thu nhập doanh nghiệp; (3) Thuế tiêu thụ đặc biệt; (4) Thuế xuất khẩu, nhập khẩu; (5) Thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp; (6) Thuế tài nguyên; (7) Thuế TNCN; (8) Thuế môn bài; (9) Thuế môi trường; …
Ngoài ra, còn có một số loại phí khác có tính chất như thuế: lệ phí trước bạ,
lệ phí chứng thư, lệ phí hải quan, phí giao thông, phí cầu phà, thu tiền sử dụng đất… Một hệ thống thuế hiện đại phải bảo đảm được các yêu cầu cơ bản sau: (1) Tính công bằng (theo chiều dọc và chiều ngang); (2) Tính hiệu quả (đối với công tác thuế và với nền kinh tế); (3) Tính trung lập; (4) Tính rõ ràng, minh bạch; (5) Tính thân thiện; (6) Tính ổn định
1.1.1.3 Phân loại thuế Phân loại theo tính chất chuyển giao của thuế gồm:
Thuế trực thu: là loại thuế huy động trực tiếp một phần thu nhập của người làm nghĩa vụ, NNT là người chịu thuế, không có sự chuyển giao gánh nặng cho người khác chịu
Thuế gián thu: là loại thuế mà NNT gián tiếp nộp cho người tiêu dùng, họ không phải là người chịu thuế.Ở đây có sự chuyển giao gánh nặng thuế từ NNT sang người tiêu dùng thông qua cơ chế giá cả
Phân loại theo đối tượng đánh thuế gồm:
Thuế thu nhập như: thuế TNCN, thuế thu nhập doanh nghiệp…
Thuế tài sản như: thuế sử dụng tài sản nhà nước (thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế tài nguyên ), thuế chuyển nhượng tài sản (thuế chuyển giao quyền sử dụng đất, thuế mua, bán các tài sản như nhà, xe cộ…)
Thuế tiêu dùng đánh vào hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thị trường trong nước và xuất khẩu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu…
Trang 81.1.1.4 Các yếu tố cấu thành một sắc thuế
Tên gọi của thuế: Bất kì một loại thuế nào cũng có tên gọi; tên gọi của thuế
xác định nội dung kinh tế của thuế
Đối tượng nộp thuế: NNT được qui định rõ ràng trong luật thuế
Đối tượng chịu thuế: Là người phải gánh chịu khoản thuế sau cùng phải nộp
cho NSNN
Đối tượng đánh thuế: Là các khách thể của luật thuế, là những thu nhập, tài
sản, hàng hóa mà một luật thuế nhất định tác động vào.Đối tượng đánh thuế là mục
tiêu tác động của thuế
Căn cứ tính thuế: là những yếu tố mà người thu thuế dựa để tính số tiền thuế
phải nộp Các loại thuế khác nhau thì có cách tính khác nhau Khi cần xem xét căn
cứ tính thuế thì cần xem xét các yếu tố như: Thuế suất, đơn vị tính thuế, giá tính
thuế
Miễn giảm thuế: qui định cho phép NNT không phải thực hiện nghĩa vụ nộp
toàn bộ số tiền thuế mà người đó phải nộp cho nhà nước (miễn thuế) hoặc chỉ nộp
một phần số tiền thuế đó (giảm thuế)
Thưởng phạt: thưởng là hình thức nhà nước khuyến khích người có thành
tích trong thực hiện các luật thuế Phạt là hình thức kỉ luật đối với người vi phạm
luật thuế
Thủ tục thuế: đó là những qui định về giấy tờ và trình tự thu nộp mang tính
chất hành chính để thi hành luật thuế (như thủ tục kê khai, tính thuế và nộp thuế)
Ngoài những yếu tố trên, trong luật thuế cũng bao giờ qui định rõ quyền hạn
trách nhiệm của chính phủ, UBND các cấp, của Bộ tài chính, cơ quan thuế ở trung
ương và các địa phương, nghĩa vụ của người nộp thuế
1.1.2 Tổng quan về thuế TNCN
1.1.2.1 Khái niệm về thuế TNCN
Thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh trên thu nhập nhận được của các
cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) hoặc theo từng
lần phát sinh
Thuế TNCN là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách và thực hiện công bằng xã hội.Thuế TNCN đánh vào cả cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh
1.1.2.2 Vai trò của thuế TNCN
Là một bộ phận của hệ thống thuế, thuế TNCN vừa mang các vai trò chủ yếu của thuế nói chung vừa có các vai trò riêng mà các loại thuế khác không có được như:
Tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước: Thuế là nguồn thu chủ yếu
của NSNN, trong đó thuế TNCN là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành thuế nói chung nên cũng góp một phần quan trọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nước Thuế TNCN được tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn Bên cạnh đó, thuế TNCN tác động trực tiếp vào thu nhập của dân cư mà người dân của bất kỳ quốc gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng có thu nhập ngày càng cao để nâng cao đời sống vật chất tinh thần Thuế TNCN luôn có sự gia
tăng nhanh chóng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người
Góp phần thực hiện công bằng xã hội: Thực hiện công bằng xã hội là một
trong những vai trò quan trọng của thuế nói chung, ngoài ra thuế TNCN cùng với việc thực hiện biểu thuế luỹ tiến từng phần, thuế TNCN đã thực hiện được việc điều
tiết thu nhập, đảm bảo công bằng trong xã hội
Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm: Thuế TNCN cũng có tác dụng điều
tiết vĩ mô đối với nền kinh tế.Loại thuế này điều tiết trực tiếp nên một mặt tác động trực tiếp đến tiết kiệm, mặt khác làm cho khả năng thanh toán của các cá nhân bị
giảm.Từ đó cầu hàng hoá, dịch vụ giảm sẽ tác động đến sản xuất
Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp: Thực tế đã chứng minh nhiều
khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật mà nhà nước không kiểm soát được như tham ô, nhận hối lộ, buôn bán hàng quốc cấm, trốn tránh thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhà nước và công dân Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Phải kết hợp hữu hiệu nhiều
Trang 9biện pháp để ngăn chặn và chống lại những hành vi trên, một trong số các biện pháp
ngăn chặn đó thì phải kể đến vai trò của thuế TNCN.Tuy nhiên, vì công tác quản lý
thuế TNCN còn nhiều hạn chế nên những vai trò này vẫn chưa thực sự được phát
huy ở những nước chậm phát triển
1.1.2.3 Đặc điểm của thuế TNCN
Một là, thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của NNT,
người nộp thuế đồng nhất với người chịu thuế nên khó có thể chuyển gánh nặng
thuế sang cho người khác
Hai là, thuế TNCN là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực tiếp
đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã
hội Đặc điểm này xuất phát từ tính trực thu của thuế TNCN
Ba là, thuế TNCN là loại thuế luôn gắn liền với chính sách xã hội của mỗi
quốc gia mặc dù các quốc gia hiện nay vẫn luôn hướng tới một hệ thống chính sách
thuế mang tính trung lập.Khi tính Thuế TNCN có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân
của người nộp thuế bằng việc quy định một số khoản được khấu trừ có tính chất xã
hội trước khi tính thuế
Bốn là, thuế TNCN thường được tính theo biểu thuế luỹ tiến từng phần do
thuế TNCN được đánh theo nguyên tắc “khả năng nộp thuế” và cũng xuất phát từ
vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, động viên
sự đóng góp của những người có thu nhập thấp, thu nhập trung bình trong xã hội
Năm là, thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hoá, dịch vụ.Thuế TNCN
không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hoá, dịch vụ nên nó không tạo
ra sự sai lệch giá cả hàng hoá, dịch vụ
1.2 Tổng quan về quản lý thuế TNCN
1.2.1 Khái niệm quản lý thuế TNCN
Quản lý thuế TNCN là sự tác động có chủ đích của cơ quan chức năng trong
bộ máy nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế TNCN để thay đổi quá trình này
nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được các mục tiêu nhà nước đặt ra
1.2.2 Sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý thuế TNCN
Tăng cường công tác quản lý đối với thuế TNCN nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách thuế TNCN đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội: Có thể nói thuế TNCN không chỉ là nguồn thu của NSNN mà còn là công cụ quan trọng điều tiết thu nhập của cá nhân có thu nhập theo hướng người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều, người không có thu nhập hoặc thu nhập thấp không phải nộp thuế hoặc nộp thuế ít, tạo ra môi trường bình đẳng về pháp luật cho người Việt Nam cũng như người nước ngoài, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế Trong những năm vừa qua, nền kinh tế nước ta phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã tiến hành các cuộc cải cách thuế nói chung và hệ thống chính sách thuế TNCN nói riêng, không ngừng hoàn thiện và kiện toàn hệ thống thuế nhằm đảm bảo tính hiệu lực của Luật thuế TNCN trong cả nước và tính hiệu quả của công tác quản lý thu thuế Nhờ vậy, chính sách thuế TNCN đã góp phần tích cực vào nguồn thu NSNN và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Tuy nhiên, trước những yêu cầu đặt ra của thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, công tác quản lý thuế đối với thuế TNCN hiện nay đã bộc lộ những hạn chế Để tạo bộ khung pháp
lý về quản lý thuế hoàn chỉnh, phù hợp với những thay đổi của sự phát triển kinh tế quốc tế thì việc hoạch định, cải cách chính sách về quản lý thuế nhằm nâng cao công tác quản lý của Nhà nước đối với thuế TNCN là rất cần thiết vì:
Công tác quản lý thuế của Nhà nước đối với thuế TNCN nhằm góp phần
tăng nguồn thu cho NSNN để phát triển đất nước: Kinh tế - xã hội càng phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước để giải quyết các vấn đề an ninh, quốc phòng, an sinh xã hội, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế cũng ngày càng gia tăng Do đó, hệ thống chính sách thuế TNCN phải bao quát được hết mọi nguồn thu nhập cần thiết, các khoản thu nhập phát sinh cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, cơ cấu thuế suất không quá cao, quá phức tạp, quá khả năng đóng góp, thực hiện của người nộp thuế, bảo đảm tăng thu vào tổng số thu NSNN.Qua đó, đáp ứng được mọi nhu cầu chi tiêu thường xuyên, vừa
Trang 10góp phần tích luỹ cho xây dựng cơ sở hạ tầng và trả nợ, góp phần giảm bội chi ngân
sách, kiềm chế lạm phát
Ví dụ: Tỷ trọng thu thuế TNCN trong tổng thu ngân sách của nhiều quốc gia
đã phản ánh tiến trình đó, tại các nước khối ASEAN: 5-10%, các nước phát triển có
tỷ trọng 15-16% có nước đạt tới tỷ trọng 30- 40% như Anh, Mỹ Việt Nam, tỷ trọng
thu về thuế TNCN cũng mới chỉ đạt khoảng 5% tổng thu ngân sách
Quản lý thuế của Nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện thuế TNCN được
nghiêm minh: Do đặc điểm của Thuế TNCN là một loại thuế trực thu điều tiết vào
thu nhập của cá nhân, do người chịu thuế trực tiếp nộp thuế vào NSNN, nên nó rất
có tác dụng trong việc điều hoà thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu
nhập và tài sản giữa các những người dân cư.Tuy nhiên, thuế TNCN lại có hạn chế
lớn là dễ gây phản ứng từ phía NNT hoặc dễ xảy ra tình trạng trốn, lậu thuế nếu quy
định mức thuế suất cao Hơn nữa, thuế TNCN có diện thu thuế rộng và phân tán,
việc theo dõi, tính toán và thu thuế rất phức tạp.Vì vậy, nếu không có biện pháp
quản lý thu thuế hiệu quả thì dễ dẫn đến hạn chế tác dụng của loại thuế này trong
việc tập trung số thu đầy đủ, kịp thời về cho NSNN, do đó phải có quản lý thuế của
Nhà nước để đảm bảo việc thu thuế được nghiêm chỉnh, đúng pháp luật
Quản lý thuế của Nhà nước đối với thuế TNCN để đảm bảo mục tiêu công
bằng xã hội: Thuế TNCN động viên trực tiếp vào thu nhập của cá nhân, thể hiện rõ
nghĩa vụ của công dân đối với đất nước và được căn cứ trên các nguyên tắc "lợi
ích", "công bằng" và "khả năng nộp thuế" Theo nguyên tắc lợi ích thì mọi người
trong xã hội đều được hưởng những thành quả phát triển của đất nước về luật pháp
thể chế, cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội, an ninh trật tự đồng thời cũng có nghĩa vụ
đóng góp một phần thu nhập của mình cho xã hội thông qua việc nộp thuế Nguyên
tắc "công bằng" và “khả năng nộp thuế” thể hiện ở chỗ: người có thu nhập cao hơn
thì nộp thuế nhiều hơn, người có thu nhập như nhau nhưng có hoàn cảnh khó khăn
hơn thì nộp thuế ít hơn, mỗi cá nhân dù có thu nhập từ các nguồn khác nhau đều
được điều chỉnh thống nhất trong một chính sách thuế; Ở nước ta hiện nay cùng với
sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập của các những người dân cư cũng tăng lên,
nhưng khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao và nhóm người có thu nhập thấp cũng có xu hướng ngày càng tăng, thu nhập của các những người nhân dân có sự chênh lệch nhau, số đông dân cư có thu nhập còn thấp, nhưng cũng có một số cá nhân có thu nhập khá cao, nhất là những cá nhân làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong khu chế xuất hoặc có một
số cá nhân người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Mặc dù thuế TNCN chưa mang lại số thu lớn cho NSNN, song xét trên phương diện công bằng xã hội và phương diện công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước thì thuế TNCN có vị trí cực kỳ quan trọng, do đó việc điều tiết thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao là cần
thiết, đảm bảo thực hiện chính sách công bằng xã hội
Quản lý thuế của Nhà nước đối với thuế TNCN nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế: Trong diễn trình toàn cầu hóa.Việt Nam đã là thành viên của
nhiều tổ chức kinh tế - chính trị quốc tế và khu vực Chúng ta đã là thành viên của Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Ở cấp liên khu vực, chúng ta là thành viên tích cực của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á - Âu
(ASEM), của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
Quá trình hội nhập Việt Nam đã có nhiều cam kết về chính sách cắt giảm thuế,đồng nghĩa với việc NSNN sẽ bị giảm một phần.Tuy nhiên bên cạnh việc thực hiện cắt giảm một số sắc thuế trong đó có thuế TNCN với phạm vi điều chỉnh rộng liên quan đến mọi những người dân cư, hiện nay chúng ta đã hội nhập đầy đủ toàn diện với kinh tế quốc tế do đó để đảm bảo yêu cầu đòi hỏi về tính phù hợp với các điều ước và thông lệ quốc tế về chính sách tài chính; đồng thời tạo điều kiện tối đa cho cho người nộp thuế trong việc kê khai nộp thuế thì đòi hỏi việc quản lý thuế của Nhà nước đối với thuế TNCN phải được nâng cao
1.2.3 Đặc điểm của công tác quản lý thuế TNCN
Đối với công tác quản lý thu thuế thì trước hết chúng ta cần phải xây dựng
Bộ máy quản lý thuế TNCN Một đội ngũ cán bộ thuế chuyên trách được đào tạo chuyên sâu trong công tác quản lý thu thuế TNCN là điều cần thiết nếu như chúng
Trang 11ta muốn thực hiện tốt công tác quản lý thuế TNCN Đội ngũ này cần phải tổ chức
lại một cách thống nhất, đồng bộ và có khoa học Nếu làm được điều này thì chúng
ta sẽ vừa tiết kiệm được chi phí cho công tác quản lý thu thuế đồng thời vẫn đảm
bảo thực hiện tốt công tác thu thuế
Công tác quản lý thuế TNCN đặc biệt quan trọng ở khâu quản lý thu nhập
của các ĐTNT Chính vì vậy, chúng ta cần phải giám sát thu nhập của tất cả các đối
tượng lao động.Để từ đó chúng ta có thể xác định được đối tượng nào phải nộp thuế
và nộp thuế là bao nhiêu Muốn thực hiện tốt điều này thì chúng ta cần phải có chế
độ giám sát các khoản thu nhập một cách chặt chẽ như phải mở sổ sách kế toán,
chứng từ và các khoản chi trả thu nhập cần phải được làm sáng tỏ trong sổ sách kế
toán Khi đó cơ quan thuế sẽ dễ dàng hơn nhiều trong việc xác định cũng như kiểm
tra thu nhập của người lao động Đồng thời để tạo thuận lợi cho công tác giám sát
kiểm tra các ĐTNT thì cơ quan thuế cần phải tiến hành cấp MST cho các ĐTNT và
cơ quan chi trả thu nhập Sau khi cấp MST thì cơ quan thuế có thể giám sát các đối
tượng qua MST của họ, nhờ đó mà tránh được tình trạng thiếu sót các ĐTNT đồng
thời cũng đảm bảo sự nhanh gọn cho cơ quan thuế trong công tác quản lý thu thuế
Công tác quản lý thuế TNCN không chỉ dừng lại ở việc thu thuế đầy đủ
đúng như qui định, nó còn cần phải phát hiện ra những bất cập, thiếu sót trong qui
định về nội dung luật thuế cũng như những qui định trong công tác quản lý kê khai
nộp thuế Trong quá trình thực hiện quản lý thuế, cơ quan sẽ dễ dàng tìm ra những
sai sót trong quá trình lập chính sách, đồng thời cũng sẽ dễ tìm ra những cách thức
phương pháp quản lý thuế tốt nhất, thuận tiện nhất, đơn giản nhất và tất nhiên đảm
bảo được yêu cầu thu đủ và kịp thời số thu vào NSNN.Từ đó cơ quan thuế có thể
kiến nghị lên cấp trên xem xét để có thể hoàn thiện tốt hơn Luật thuế TNCN và
công tác tổ chức quản lý thuế TNCN
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN.Mỗi nhân tố
đều có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới công tác này tùy theo tính chất và
trạng thái của nhân tố đó.Nhiệm vụ của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà
nước là phải tìm cách hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực cũng như phát huy những ảnh hưởng tích cực nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN Các nhân tố ảnh
hưởng chủ yếu đó là:
1.2.4.1 Quan điểm của những người lãnh đạo nhà nước
Để đảm bảo cho pháp luật thuế được thực hiện một cách triệt để, tập trung đúng, đủ, kịp thời nguồn thu vào NSNN chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi quan điểm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong công tác quản lý thuế Quan điểm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo có ảnh hưởng trước hết tới các chính sách thuế TNCN, sau là tới quá trình tổ chức thực hiện và các công việc khác thuộc phạm vi quản lý Một hệ thống chính sách thuế và cơ cấu thuế suất hợp lý nhưng tổ chức và cơ chế quản lý thu thuế kém sẽ không đạt được hiệu quả cao Các cấp lãnh đạo cần phải có biện pháp phù hợp, nhanh chóng đáp ứng yêu cầu về công tác quản lý thu thuế, tạo được niềm tin cho ĐTNT, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách vững chắc, ổn định Quan điểm của lãnh đạo ảnh hưởng đến việc phân bổ nguồn thu, công tác tổ chức bộ máy nhân sự, trang bị cơ sở vật chất, kế hoạch triển khai công tác thu.Người lãnh đạo phải biết phân công giao việc một cách hợp lý, khoa học nhằm thực thi công việc một cách tốt nhất Như vậy, người lãnh đạo không chỉ phải có cách nhìn bao quát công việc, mà còn phải biết phân quyền, ủy quyền một cách hợp
lý cho cấp dưới, cho những người thực thi nhằm khai thác các ý tưởng sáng tạo mới của tập thể cán bộ trong quản lý, tạo điều kiện để cho mọi cán bộ đều có cơ hội thăng tiến, phát huy khả năng làm việc cũng như học tập để nâng cao kiến thức và trau dồi kỹ năng quản lý thu thuế Theo đó là các chế độ thưởng đột xuất, thường xuyên đối với cán bộ thuế nói chung và cán bộ thuế có thành tích xuất sắc trong công tác quản lý thu thuế nói riêng Đồng thời có những biện pháp xử lý nghiêm những cán bộ vi phạm quy chế làm việc, có hành vi tham ô, nhận hối lộ
Khai thác các yếu tố tâm lý giữ vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý thu thuế Cán bộ lãnh đạo phải thực sự song hành cùng cán bộ thuế.Sự công tâm, tâm lý trong công tác chỉ đạo, quản lý tác động tích cực rất lớn đến tính tự giác và thái độ làm việc của cán bộ thuế
Trang 12Quan điểm của lãnh đạo ảnh hưởng đến các biện pháp xử lý đối với các
ĐTNT tìm cách trốn thuế, dây dưa, chây ì trong việc thực hiện nghĩa vụ kê khai,
nộp thuế và hợp tác với cơ quan thuế Đối với những đối tượng có hành vi gian lận
thuế, trốn thuế cần có những hình thức xử phạt thích đáng, đảm bảo tính công bằng,
làm cho mọi người tin tưởng vào pháp luật, tích cực đấu tranh chống các hành vi vi
phạm
1.2.4.2 Cơ sở vật chất của ngành thuế
Nhân tố này có ảnh hưởng mạnh mẽ tới công tác quản lý thuế TNCN.Những
quy định trong chính sách về diện thu thuế (rộng hay hẹp), phương thức kê khai,
nộp thuế, quyết toán thuế…phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đáp ứng của ngành
thuế.Khả năng này lại phụ thuộc rất lớn vào cơ sở vật chất của ngành thuế Cũng
như vậy, một hệ thống thu thuế được kết nối bằng mạng nội bộ sẽ là một nhân tố rất
hữu ích cho cơ quan thuế trong việc quản lý thu thuế hiệu quả, chính xác, kịp thời
và tiết kiệm chi phí.Việc xây dựng mạng thông tin nội bộ để quản lý cơ sở dữ liệu
sẽ đòi hỏi những chi phí bước đầu tương đối lớn, nhưng xét về dài hạn thì điều này
sẽ tiết kiệm chi phí hơn rất nhiều so với việc quản lý dữ liệu theo kiểu thủ công
1.2.4.3 Trình độ và phẩm chất đạo đức đội ngũ lãnh đạo cán bộ thuế
Trình độ đội ngũ cán bộ thuế có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý
thuế, đặc biệt là thuế TNCN.Nhân tố này tác động vào tất cả các khâu của công tác
quản lý thuế TNCN, từ ban hành chính sách, tổ chức thực hiện chính sách tới thanh
tra, kiểm tra thuế và tổ chức bộ máy quản lý thuế
Để ban hành chính sách đúng đắn, đáp ứng được yêu cầu của những thay đổi
kinh tế xã hội và đảm bảo được những mục tiêu của công tác quản lý thuế TNCN
thì đội ngũ cán bộ thuế ở tầm hoạch địch chính sách cần phải có trình độ cao về vấn
đề thực tế cũng như lý thuyết liên quan đến thuế, kinh tế vĩ mô và quản lý nhà
nước… và phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với công việc.Nếu nhà hoạch định
Công tác thanh tra, kiểm tra thuế càng cần một đội ngũ có trình độ cao về phẩm chất đạo đức tốt đủ khả năng phát hiện những sai phạm và giữ thái độ công minh, chính trực trong quá trình thanh tra, kiểm tra.Nhờ đó thanh tra, kiểm tra mới đạt hiệu quả mong muốn
Đội ngũ lãnh đạo làm công tác tổ chức thiết lập nên bộ máy quản lý thuế phải có đủ năng lực và phẩm chất để xây dựng một bộ máy phù hợp với những điều kiện kinh tế xã hội và có hiệu quả cao
1.2.4.4 Phương thức thanh toán chủ yếu trong dân cư
Phương thức thanh toán chủ yếu trong dân cư ảnh hưởng lớn tới khâu quản
lý thu thuế Quản lý thuế TNCN khó khăn và phức tạp chủ yếu ở khâu quản lý thu nhập của các đối tượng Nếu như các khoản thu nhập được thanh toán qua hệ thống ngân hàng dưới hình thức tài khoản cá nhân thì sẽ rất thuận tiện cho cơ quan thuế trong việc giám sát, kê khai của NNT Bên cạnh đó, nếu phương thức thanh toán trong dân cư chủ yếu thông qua ngân hàng thì nhà nước có thể áp dụng phương pháp thu thuế TNCN thông qua ngân hàng Điều này vừa giúp giảm bớt công việc
và chi phí cho cơ quan thuế,vừa kiểm soát chặt chẽ hơn thu nhập của ĐTNT.Chính
vì vậy, sự phát triển của hệ thống ngân hàng đi kèm với việc phát triển hình thức thanh toán qua tài khoản sẽ là một điều kiện tất yếu để có thể thực hiện tốt công tác quản lý thuế TNCN
Trang 131.2.4.5 Tính nghiêm minh của luật pháp
Cơ quan quản lý làm việc có hiệu quả, luật pháp được thực hiện nghiêm
minh sẽ đảm bảo việc vi phạm giảm đi.Các ĐTNT cũng như cơ quan thuế cũng sẽ
thực hiện nghiêm túc hơn các quy định trong luật thuế bởi họ biết rằng khi vi phạm
họ sẽ không tránh khỏi những hình phạt.Như vậy, công tác quản lý thuế TNCN sẽ
đạt hiệu quả hơn
1.2.4.6 Tình hình kinh tế và mức sống của người dân
Hiệu quả của công tác quản lý thuế TNCN phụ thuộc không nhỏ vào mức độ
phát triển kinh tế và đời sống của dân cư.Cùng một đơn vị thu thuế trên một khu
vực, số đối tượng nộp thuế TNCN nhiều, số thuế thu được nhiều sẽ giảm bớt chi phí
trên một đồng thuế thu được, và ngược lại có ít đối tượng nộp thuế và số thuế thu
được ít thì chi phí cho một đồng thuế thu được sẽ cao Sự phát triển kinh tế sẽ đồng
hành với sự phát triển của cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác quản lý nói chung và
công tác quản lý thuế TNCN nói riêng Khi cơ sở hạ tầng tốt thì khả năng quản lý
thuế cũng sẽ được đơn giản và hiệu quả
1.2.4.7 Ý thức chấp hành luật thuế của đối tượng nộp thuế
Ý thức chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng tỉ lệ thuận
với ý thức và trách nhiệm nộp thuế Khi người dân có ý thức chấp hành luật thuế
tốt, họ sẽ tự giác trong kê khai, nộp thuế; Hành vi trốn thuế sẽ ít xảy ra Từ đó, công
tác quản lý thu thuế sẽ gặp nhiều thuận lợi và đạt kết quả tốt hơn Nếu người dân có
ý thức chất hành luật thuế kém sẽ làm giảm hiệu quả của công tác quản lý thu
thuế.Thực tế, khi người dân nhận thức được quyền lợi họ sẽ được hưởng những
hàng hóa, dịch vụ công cộng mà nhà nước cung cấp họ sẽ thấy rõ trách nhiệm của
mình đối với nhà nước là đóng thuế cho Nhà nước
Tóm lại: ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT cũng ảnh hưởng một
phần tới công tác quản lý thuế TNCN.Ý thức chấp hành luật của người dân có thể
nâng cao dần qua quá trình tuyên truyền, giáo dục
1.2.5 Nội dung công tác quản lý thuế TNCN
Công tác quản lý là một phần quan trọng của quản lý tài chính nhà nước, công tác này không chỉ được nhìn nhận ở tầm vĩ mô, mà còn cả ở tầm vi mô và phải bao gồm toàn bộ các công việc thuộc lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp về thu thuế
Sau khi đã được phê chuẩn và ban hành, chính sách thuế TNCN được tổ chức, thực hiện Đây là khâu đóng vai trò quan trọng nhất quyết định hiệu quả của việc sử dụng công cụ thuế Nhờ việc tổ chức thực hiện chính sách thuế và quá trình tính, thu thuế mới diễn ra trong thực tế, đồng thời các quy định về quá trình mới đến được mọi người dân thông qua tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế Nội dung công tác quản lý thuế TNCN bao gồm:
1.2.5.1 Tổ chức bộ máy thu thuế
Nhà nước xây dựng bộ máy quản lý thu thuế để quản lý thuế TNCN cũng như các sắc thuế khác.Bộ máy quản lý thuế được xây dựng tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng nước Nhìn tổng thể trong phạm vi nền kinh tế quốc dân, cơ quan thuế ở các nước trên thế giới đều được tổ chức thành hệ thống bao gồm nhiều cấp Tại nhiều nước, hệ thống đó không hoàn toàn phù hợp với hệ thống chính quyền nhà nước và bao gồm: Cơ quan thuế trung ương, cơ quan thuế cấp tỉnh, thành phố và cơ quan thuế cấp quận, huyện như Trung quốc, Việt Nam…Ngoài ra, ở một số quốc gia thì hệ thống của ngành thuế còn được tổ chức theo các dạng khác
Ở từng cấp, bộ máy cơ quan thuế có thể được tổ chức theo các mô hình sau:
Mô hình tổ chức theo sắc thuế: Các phòng, ban riêng biệt được thành lập để
quản lý một số loại thuế cụ thể.Mỗi phòng, ban phải thực hiện tất cả các chức năng, nghiệp vụ quản lý các loại thuế được phân công.Có thể nói đây là “mô hình quản lý kép kín” đối với mỗi loại thuế
Mô hình tổ chức theo chức năng: Tổ chức các phòng, ban chức năng riêng rẽ
trong Mỗi phòng, ban thực hiện một công việc nghiệp vụ cụ thể có liên quan đến tất cả các sắc thuế như phòng kê khai kế toán thuế, phòng kiểm tra ĐTNT…
Trang 14Mô hình tổ chức theo đối tượng nộp thuế: ĐTNT được chia thành các nhóm
dựa trên quy mô hoạt động, hình thức sở hữu hoặc ngành kinh tế… mỗi phòng, ban
chịu trách nhiệm quản lý cung cấp những thông tin đầy đủ về từng nhóm ĐTNT
Để đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế, đảm bảo nguồn thu kịp
thời cho NSNN và đảm bảo công bằng, bình đẳng trong xã hội mỗi nước sẽ lựa
chọn một mô hình cụ thể theo điều kiện kinh tế - xã hội Có những nước lựa chọn
kiểu mô hình pha trộn giữa các kiểu trên
1.2.5.2 Quản lý đối tượng nộp thuế
Đây là khâu đặc biệt quan trọng đối với công tác quản lý thuế TNCN.Quản
lý tốt ĐTNT sẽ đảm bảo phần lớn hiệu quả của công tác quản lý thuế TNCN bởi
chúng ta chưa biết chính xác ai là những đối tượng phải nộp thuế trước khi kê khai
thu nhập của họ Do đó, cần giám sát thu nhập của tất cả các đối tượng lao động, từ
đó chúng ta có thể xác định được đối tượng nào phải nộp thuế và nộp thuế bao
nhiêu
Cơ quan thuế phải tiến hành đăng ký ĐTNT.Phương thức đăng ký ĐTNT
thường được áp dụng là phương thức thủ công và quản lý bằng máy vi tính Tuy
nhiên, phương thức quản lý bằng mạng vi tính thích hợp với công tác quản lý thuế
TNCN vì đối tượng nộp thuế TNCN ở đây nhiều và không tập trung Phương thức
này thì cơ quan quản lý thuế cần phải tiến hành cấp mã số thuế cho các đối tượng
nộp thuế và cơ quan chi trả thu nhập thống nhất trong phạm vi cả nước Mỗi ĐTNT
được gắn với một mã số thuế duy nhất.Mọi thông tin cần thiết về ĐTNT được lưu
trữ vào cơ sở dữ liệu với một file riêng mà tên file là mã số của ĐTNT Khi cần
kiểm tra thông tin ĐTNT, cơ quan quản lý thuế chỉ cần mở file theo mã số của đối
tượng đó, nhờ đó mà tránh được tình trạng bỏ sót các ĐTNT đồng thời cũng đảm
bảo sự nhanh gọn cho cơ quan thuế trong công tác quản lý thu thuế
1.2.5.3 Quản lý kê khai nộp thuế
Có hai hình thức kê khai, đăng ký, nộp thuế TNCN:
Thông qua cơ quan ủy nhiệm thu hay cơ quan chi trả thu nhập tính thuế cho
các ĐTNT có thu nhập do đơn vị mình chi trả Sau khi tính thuế và khấu trừ thuế
của ĐTNT, cơ quan chi trả thu nhập sẽ tiến hành khấu trừ phần thuế phải nộp ra khỏi thu nhập trước thuế của ĐTNT để đem nộp NSNN Cơ quan chi trả thu nhập được hưởng một khoản tiền theo tỷ lệ trên số thuế thu được và nộp vào NSNN ĐTNT sẽ trực tiếp kê khai thu nhập và tự tính mức thuế mình phải nộp.Sau
đó sẽ đến nộp tờ khai cho cơ quan thuế và tiến hành nộp thuế vào NSNN Cơ quan thuế sẽ có nhiệm vụ ghi lại tất cả các khoản thuế mà các ĐTNT phải nộp để từ đó
có thể giám sát và kiểm tra khi cần thiết Đồng thời đó cũng là cơ sở để đảm bảo sự minh bạch trong công tác thu nộp cả cho ĐTNT và cơ quan thuế cũng như cơ quan
ủy nhiệm thu thuế
1.2.5.4 Quản lý quyết toán thuế, hoàn thuế
Việc quyết toán thuế cho ĐTNT là cần thiết.Việc này sẽ giúp cơ quan thuế biết được tình hình thu nhập và nộp thuế của từng đối tượng, qua đó có thể cung cấp cho các cơ quan khác, các nhà lập chính sách hoặc chính cơ quan thuế cũng có thể
sử dụng trong phân tích và đánh giá về chính sách thuế khả năng nộp thuế của dân
cư Quyết toán thuế hàng năm cũng sẽ giúp cơ quan thuế có thể phát hiện ra các trường hợp sai phạm thông qua so sánh mức thu nhập nộp giữa các năm với nhau
1.2.5.5 Thanh tra, kiểm tra thuế
Đây là nội dung quan trọng của công tác quản lý thuế TNCN Thanh tra, kiểm tra thuế TNCN được thực hiện bởi bộ phận cán bộ chuyên ngành.Đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế là các tổ chức kinh tế và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế TNCN cho nhà nước và bao gồm cả các đơn vị thuộc ngành thuế.Mục tiêu thanh tra, kiểm tra thuế TNCN là phát hiện và xử lý các trường hợp sai phạm nhằm giảm bớt những tổn thất cho Nhà nước và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Đồng thời cũng qua quá trình thanh tra, kiểm tra thuế cơ quan thuế có thể phát hiện những thiếu sót, bất cập trong văn bản pháp luật thuế và quá trình tổ chức thực hiện, từ đó tìm ra những hướng giải quyết nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN Thanh tra, kiểm tra thuế TNCN được thực hiện dưới các hình thức và phương pháp khác nhau
Trang 15Các hình thức thanh tra, kiểm tra xét theo thời gian tiến hành thanh tra, kiểm tra:
Hình thức thanh tra, kiểm tra thường xuyên được thực hiện mang tính định
kỳ, không phụ thuộc vào việc có xảy ra vụ việc hay không trong các ĐTNT và cơ
quan quản lý thuế
Thanh tra, kiểm tra đột xuất là hình thức thanh tra, kiểm tra mang tính bất
thường và đối tượng tranh tra, kiểm tra không được biết.Hình thức này được tiến
hành khi có những vụ việc xảy ra từ phía các ĐTNT hoặc trong các cơ quan thuế để
có biện pháp xử lý
Các hình thức thanh tra, kiểm tra xét theo phạm vi và nội dung gồm:
Thanh tra, kiểm tra toàn diện:Được tiến hành với tất cả các nội dung thanh
tra, kiểm tra, hoặc với tất cả đối tượng thanh tra, kiểm tra Hình thức này thường
được áp dụng để phục vụ cho những nghiên cứu cải tiến lớn về hệ thống thuế
Thanh tra, kiểm tra có trọng điểm: Được tiến hành chỉ với một số nội dung,
một số đối tượng Người ta thường chọn ra các đối tượng điển hình và tổ chức thanh
tra, kiểm tra từ đó rút ra kết luận chung cho toàn hệ thống
Trên thực tế, người ta cũng có thể kết hợp cả hai hình thức này trong trường
hợp cần thiết
1.2.5.6 Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế
Ngoài những quy định trong văn bản pháp quy có được hoàn hảo hay không
thì sự thành công trong việc thực hiện các chính sách thuế còn phụ thuộc rất lớn vào
sự hiểu biết sâu sắc và ý thức chấp hành nghiêm túc của cán bộ thuế cũng như
NNT Để nội dung của chính sách thuế đến với mọi người dân trong xã hội, cơ quan
thuế cần phải tiến hành công tác tuyên truyền, phổ biến về chính sách thuế Công
tác này cần phải được thực hiện trước hết từ cán bộ thuế, sau đó tới mọi người dân
Để thành công trong tuyên truyên, phổ biến thuế TNCN thì các cơ quan thuế
có thể sử dụng các phương thức như thông qua các lớp tập huấn, phương tiện thông
tin đại chúng, phát hành các ấn phẩm, tờ rơi, áp phích, tổ chức các buổi đối thoại,
các cuộc thi tìm hiểu về thuế TNCN…
Đối với cán bộ thuế việc tập huấn nghiệp vụ về một chính sách thuế nào đó
cho các cán bộ ngành thuế, nhất là cán bộ cơ sở thường được tiến hành ngay sau khi Nhà nước ban hành một chính sách thuế mới hoặc sửa đổi, bổ sung một chính sách thuế đã có Qua đó, cán bộ thuế có thể nắm chắc được chính sách thuế từ mục đích,
ý nghĩa đến nội dung cụ thể, đủ khả năng chuyên môn và làm tròn nhiệm vụ như một tuyên truyền viên giỏi về thuế
Đối với mọi người dân trong xã hội ĐTNT là người trực tiếp tính số thuế phải nộp vào NSNN, do đó phải có một kiến thức cơ bản để hiểu được các quy định của các luật thuế Cơ chế tự khai, tự nộp đòi hỏi sự tự giác cao, ý thức tuân thủ pháp luật của ĐTNT Do vây, công tác tuyên truyền phổ biến về nghĩa vụ thuế và nội dung của chính sách thuế đến mọi tầng lớp dân cư cần phải được tiến hành đều đặn, thường xuyên, luôn đổi mới và nâng cao hiệu quả
1.3 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý thuế TNCN
1.3.1 Công tác quản lý thuế TNCN ở nước ta
1.3.1.1 Hệ thống các văn bản pháp luật và chính sách về thuế TNCN
Căn cứ Nghị quyết Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 6 ngày 28/12/1989 về việc ủy quyền cho Hội đồng nhà nước quy định một số thuế mới bằng hình thức pháp lệnh, ngày 27/12/1990, Hội đồng nhà nước đã ban hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/1991 Kể từ ngày có hiệu lực, Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã được sử đổi 6 lần vào các năm 1992, 1994, 1997, 2001, 2004, 2007
Sau Pháp lệnh số 14/2004/PL-UBTVQH11 ngày 24/3/2004 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, ngày 21/7/2007 Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2 đã thông qua việc ban hành Luật Thuế TNCN có hiệu lực vào ngày 01/01/2009 Sau khi Luật Thuế TNCN có hiệu lực, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Luật.Cụ thể là:
- Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008, quy định chi tiết thi hành Luật thuế TNCN;
- Thông tư số: 84/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 30 tháng 9 năm 2008
Trang 16hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế TNCN và hướng dẫn thi hành Nghị
định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số
điều của Luật Thuế TNCN;
- Thông tư số: 27/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 06 tháng 02 năm
2009 hướng dẫn thực hiện việc giãn thời hạn nộp thuế TNCN;
- Thông tư số: 62 /2009/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 27 tháng 3 năm
2009 hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008
của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế TNCN và hướng
dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy
định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN;
- Thông tư số: 160/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 12 tháng 8 năm
2009 hướng dẫn miễn thuế TNCN năm 2009 theo Nghị quyết số 32/2009/QH12
ngày 19/6/2009 của Quốc hội;
- Thông tư số: 161/2009/TT-BTC của Bộ tài chính ngày 12 tháng 08 năm
2009 hướng dẫn về TNCN đối với trường hợp chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận
quà tặng là bất động sản;
- Thông tư số 02/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 11 tháng 1 năm 2010
hướng dẫn bổ sung thông tư số 84/2008/ TT-BTC ngày 30/9/2008 của bộ tài chính
hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế TNCN và hướng dẫn thi hành nghị
định số 100/2008/NĐ-CP ngày 8/9/2008 của chính phủ quy định chi tiết một số điều
của luật thuế TNCN;
- Thông tư số: 12/2011/TT-BTC ngày 26/1/2011 của Bộ Tài chính v/v Sửa
đổi Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Thuế TNCN và sửa đổi Thông tư số 02/2010/TT-BTC
ngày 11/01/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung Thông tư số
84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính;
- Thông tư số: 78/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 08 tháng 6 năm
2011: Hướng dẫn không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN đối với khoản hỗ trợ
khám chữa bệnh hiểm nghèo cho người lao động và thân nhân của người lao động
từ nguồn thu nhập sau thuế thu nhập doanh nghiệp; quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng của doanh nghiệp;
- Thông tư số: 113/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 04 tháng 08 năm 2011: Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009, Thông tư số 02/2010/TT-BTC ngày 11/01/2010 và Thông tư số 12/2011/TT-BTC ngày 26/01/2011;
- Thông tư số: 154/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 11 tháng 11 năm
2011 hướng dẫn Nghị định số 101/2011/NĐ-CP ngày 4/11/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số 08/2011/QH13 của Quốc hội về ban hành bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân
1.3.1.2 Nội dung của luật thuế TNCN
* Đối tƣợng nộp thuế
Một đặc điểm của thuế TNCN là đối tượng chịu thuế đồng thời là ĐTNT.Xác định ĐTNT là một trong những nội dung quan trọng của thuế TNCN, từ đó mới có thể vận dụng cách tính thuế cho phù hợp.Thực tế thường dựa vào hai tiêu thức là
“nơi cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập” để tiến hành xác định ĐTNT
Theo tiêu thức “nơi cư trú”, một cá nhân được xác định là cư trú ở một nước phải nộp thuế tại đó đối với mọi khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới, còn một cá nhân được xác định là không cư trú ở một nước chỉ phải nộp thuế cho phần thu nhập phát sinh tại nước đó
Theo tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập”, một cá nhân phải nộp thuế TNCN ở một nước đối với mọi khoản thu nhập của cá nhân sinh tại nước đó Hiện nay, đa số các nước tính thuế TNCN theo tiêu thức “nơi cư trú”.Sự phân biệt cư trú hay không cư trú của một ĐTNT là rất quan trọng để xác định ĐTNT đó phải nộp thuế ở mức độ nào Như vậy, tại mỗi nước khái niệm cá nhân cư trú lại được định nghĩa khác nhau tùy vào chính sách và trình độ quản lý của từng nước sao cho phù hợp với tình hình của đất nước mình.Thông thường quy định cá nhân cư trú là người định cư tại nước đó hoặc những người đến nước đó thường xuyên nhưng tổng số ngày ở tại nước đó vượt quá 183 ngày trong một năm (năm
Trang 17dương lịch hay năm tài chính)
Luật thuế TNCN Việt nam quy định, công dân Việt Nam ở trong nước hoặc
đi lao động, công tác ở nước ngoài; các nhân khác định cư không thời hạn ở Việt
nam, người nước ngoài ở Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương
lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam được coi
là cư trú ở Việt Nam là ĐTNT thu nhập đối với mọi khoản thu nhập chịu thuế
Việc xác định ĐTNT căn cứ vào tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” được
hầu hết các nước áp dụng để tính thuế các khoản thu nhập phát sinh tại nước đó của
những cá nhân không cư trú Cách tính thuế theo nguồn phát sinh thu nhập chỉ thích
hợp với những nước có nhiều người nước ngoài đến làm việc và đầu tư, còn công
dân ở nước đó ít đi làm hay đầu tư ở nước ngoài.Có rất ít nước áp dụng duy nhất
tiêu thức này khi xác định ĐTNT
Ở Việt Nam, Đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát
sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu
thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam Theo đó, thì mọi cá nhân là người Việt nam
hay nước ngoài có thu nhập chịu thuế thuộc diện nộp thuế TNCN
*Thu nhập chịu thuế
Việc xác định TNCT có thể cho thấy loại thuế TNCN mà từng nước có thể
áp dụng có công bằng không, thuế này tạo được nguồn thu như thế nào cho NSNN,
đó là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu được đề cập trong chính sách
thuế TNCN của các nước
TNCT là một số khoản nằm trong diện tính thuế TNCN theo quy định trong
chính sách thuế TNCN của từng quốc gia.Việc quy định khoản thu nhập nào phải
tính thuế, khoản thu nhập nào không phải tính thuế, mức độ cao hay thấp phụ thuộc
vào quan điểm của mỗi chính phủ, vào mục tiêu điều tiết thu nhập cũng như mục
tiêu kinh tế, chính trị xã hội khác nhau của mỗi quốc gia trong từng điều kiện, hoàn
cảnh cụ thể
Để tính được thuế TNCN phải nộp trước tiên phải xác định được những
khoản thu nhập nào là TNCT và tính toán thu nhập đó như thế nào Sau đó, căn cứ
vào một số quy định khác trong chính sách thuế như các khoản miễn giảm, khấu trừ… cơ quan thuế xác định được thu nhập tính thuế, kết hợp với thuế suất sẽ xác định được thuế phải nộp Nhiệm vụ của ngành thuế mỗi nước là phải xác định TNCT từ thu nhập sao cho NNT chấp nhận và để luật thuế có tính khả thi cao Có như vậy mới đảm bảo được mục tiêu kinh tế, xã hội trong việc thu thuế TNCN Luật thuế TNCN ở nước ta quy định thu nhập chịu thuế TNCN bao gồm:
- Thu nhập từ kinh doanh: Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ (riêng đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chỉ áp dụng đối với trường hợp không đủ điều kiện được miễn thuế); thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật
- Thu nhập từ tiền lương, tiền công: là các khoản thu nhập người lao động
nhận được từ người sử dụng lao động dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền:Tiền lương, tiền công, và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công; các khoản phụ cấp, trợ cấp; tiền thù lao dưới các hình thức; tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý và các tổ chức; các khoản lợi ích khác mà ĐTNT nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền; tiền thưởng
- Thu nhập từ đầu tư: lãi cổ tức, lãi cho vay, thu nhập từ đầu tư vốn dưới các
hình thức khác
- Thu nhập khác: lãi từ chuyển nhượng tài sản (chuyển nhượng vốn, chuyển
nhượng bất động sản), thu nhập từ trúng thưởng, thu nhập từ bản quyền, thu nhập từ nhượng quyền thương mại, thu nhập từ thừa kế, thu nhập từ quà tặng
* Các khoản thu nhập không tính thuế TNCN:
Luật thuế TNCN quy định những khoản thu nhập không tính thuế TNCN gồm:
Các khoản phụ cấp, trợ cấp: Phụ cấp đối với người có công với cách mạng; phụ cấp quốc phòng an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm, khó khăn, vùng xa xôi, hẻo lánh, khí hậu xấu; các khoản trợ cấp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và
Bộ Luật lao động; trợ cấp để giải quyết tệ nạn xã hội theo quy định của pháp luật
Trang 18Các khoản tiền thưởng: Tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước
phong tặng; tiền thưởng kèm theo các giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế, cải
tiến kỹ thuật, sáng chế, về phát hiện khai báo hành vi vi phạm pháp luật được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền công nhận
*Kỳ tính thuế
Đối với cá nhân cư trú: Kỳ tính thuế theo năm áp dụng đối với thu nhập từ
kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công;
Tính thuế theo từng lần phát sinh thu nhập áp dụng đối với thu nhập từ đầu
tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, trừ thu nhập từ chuyển nhượng chứng
khoán; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ trúng thưởng; thu nhập
từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại; thu nhập từ thừa kế; thu nhập
từ quà tặng;
Tính thuế theo từng lần chuyển nhượng hoặc theo năm đối với thu nhập từ
chuyển nhượng chứng khoán
Đối với cá nhân không cư trú: Thuế được tính theo từng lần phát sinh thu
nhập áp dụng đối với tất cả các loại thu nhập chịu thuế
*Căn cứ tính thuế TNCN: Là thu nhập tính thuế nhân thuế suất
Thu nhập tính thuế: Thu nhập tính thuế TNCN ở Việt Nam kết hợp áp dụng
mức khởi điểm tính thuế và không áp dụng mức khởi điểm mà sử dụng suất miễn
thu
Đối với cá nhân cư trú, thu nhập tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu
thuế trừ đi các khoản: các khoản đóng góp bảo hiểm thất nghiệp, các khoảm giảm
trừ gia cảnh ( mức giảm trừ cho đối tượng nộp thuế là 4 triệu đồng/ tháng; mức
giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng là
1,6 triệu đồng/ tháng), các khoản đóng góp vào quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ
khuyến học.Còn với cá nhân không cư trú không quy định các khoản giảm trừ
Riêng thu nhập tính thuế từ trúng thưởng, thừa kế, thu nhập từ bản quyền,
chuyển nhượng thương mại là phần giá trị nhận được vượt trên 10 triệu đồng mỗi
lần nhận, áp dụng cho cả cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú
TNCT cũng quy định khác nhau cho cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú.TNCT của cá nhân cư trú bao gồm tổng thu nhập nhận được trừ các khoản chi phí hợp lý liên quan trực tiếp đến việc tạo ra TNCT trong kỳ tính thuế Còn TNCT của cá nhân không cư trú là toàn bộ thu nhập nhận được, không được tính trừ các khoản chi phí Như vậy, thu nhập tính thuế được quy định riêng cho cá nhân cư trú
và cá nhân không cư trú, không phân biệt giữa người Việt Nam hay nước ngoài
Thuế suất: Luật thuế TNCN sử dụng kết hợp thuế suất thuế TNCN được xác
định theo thuế suất luỹ tiến từng phần và thuế suất theo tỷ lệ quy định cho từng
nguồn thu nhập
Đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú thì áp dụng theo thuế suất luỹ tiến từng phần Còn các loại TNCT còn lại thì áp dụng thuế suất theo tỷ lệ với mức thuế suất khác nhau
Biểu 1.1: Tổng hợp mức thuế suất TNCN theo Luật của Việt Nam
cƣ trú (%)
Thuế suất áp dụng cá nhân không cƣ trú
(%)
1 Thu nhập từ kinh doanh Theo biểu thuế suất luỹ tiến
từng phần (biểu 1.2)
Được xác định đối với từng lĩnh vực ngành nghề, sản xuất, kinh doanh (biểu 1.3)
2 Thu nhập từ tiền lương, tiền công
Theo biểu thuế luỹ tiến từng
5 Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán
20% thu nhập tính thuế hoặc
Trang 196 Thu nhập từ chuyển nhượng bất
động sản
25% thu nhập tính thuế hoặc
7 Thu nhập từ bản quyền, nhượng
8 Thu nhập từ trúng thưởng, từ
Nguồn: Luật thuế TNCN
Thuế suất thuế TNCN đối với thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền
công của cá nhân cư trú được áp dụng theo biểu thuế luỹ tiến từng phần theo quy
định tại điều 22 Luật Thuế TNCN, cụ thể như sau:
Biểu 1.2: Biểu thuế luỹ tiến từng phần Bậc
thuế
Phần thu nhập tính thuế/năm
(triệu đồng)
Phần thu nhập tính thuế/tháng (triệu đồng)
Thuế suất (%)
Nguồn: Luật thuế TNCN
Thu nhập tính thuế áp dụng biểu thuế này là thu nhập của cá nhân cư trú có
TNCT từ kinh doanh và từ tiền lương, tiền công sau khi đã trừ đi khoản giảm trừ gia
cảnh, các khoản đóng bảo hiểm bắt buộc, đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học
Biểu 1.3: Biểu thuế suất áp dụng cho cá nhân không cƣ trú có thu nhập
chịu thuế từ kinh doanh
3 Hoạt động sản xuất, xây dựng, vận tải và kinh doanh
Nguồn: Luật thuế TNCN
Qua các biểu trên cho thấy cá nhân không cư trú chịu mức thuế TNCN cao hơn đối với cá nhân cư trú
* Đăng ký, kê khai, quyết toán thuế, hoàn thuế
Tất cả các tổ chức, cá nhân trả thu nhập, cá nhân kinh doanh, cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công và cá nhân có thu nhập chịu thuế TNCN khác (nếu phát sinh thường xuyên) phải đăng ký thuế TNCN
Việc kê khai nộp thuế TNCN thực hiện theo nguyên tắc khấu trừ tại nguồn CQCT có nghĩa vụ khấu trừ tiền thuế trước khi chi trả thu nhập cho ĐTNT CQCT nộp thay tiền thuế vào NSNN và cấp chứng từ khấu trừ thuế theo yêu cầu của bên bị khấu trừ Bên canh đó một số trường hợp có thể áp dụng phương pháp tự kê khai,
Đó là những người hành nghề tự do, có thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau Các tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc diện chịu thuế TNCN và cá nhân có thu nhập thuộc diện chịu thuế TNCN thực hiện khai thuế như sau:
Khai thuế tháng: Khai thuế đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện
khấu trừ thuế Cá nhân nhận thu nhập từ tiền lương, tiền công do các tổ chức, cá nhân trả từ nước ngoài; các cá nhân là người Việt Nam có thu nhập từ tiền lương, tiền công do các tổ chức quốc tế, các Đại sứ quán, Lãnh sự quán tại Việt Nam trả
Kê khai theo quý: các cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh thực hiện
đúng chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ
Khai thuế theo năm: Các cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ
Trang 20Kê khai theo từng lần phát sinh: Cá nhân có thu nhập từ các nguồn còn lại
Thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế
Quyết toán thuế: Theo hướng dẫn tại thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày
30/09/2008 của Bộ Tài Chính thì các ĐTNT phải quyết toán thuế TNCN bao gồm:
Các tổ chức, cá nhân trả các khoản thu nhập phải khấu trừ thuế không phân
biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không khấu trừ thuế, có trách nhiệm khai quyết
toán thuế TNCN theo quy định
Cá nhân có thu nhập từ kinh doanh nộp thuế theo kê khai phải khai quyết
toán thuế
Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công phải khai quyết toán thuế trong
các trường hợp: Có số thuế phải nộp trong năm lớn hơn số thuế đã khấu trừ hoặc đã
tạm nộp trong năm; có phát sinh nghĩa vụ thuế nhưng trong năm chưa bị khấu trừ
hoặc chưa tạm nộp hoặc có yêu cầu về hoàn thuế hoặc bù trừ số thuế vào kỳ sau
Trường hợp cá nhân cư trú là người nước ngoài khi kết thúc hợp đồng làm
việc tại Việt Nam trước khi xuất cảnh phải thực hiện quyết toán thuế
Các trường hợp khác không phải khai quyết toán thuế: Đối với cá nhân có thu nhập
tại một nơi duy nhất thì có thế uỷ quyền cho cơ quan chi trả quyết toán thay, còn cá
nhân có thu nhập tại nhiều nơi thì phải yêu cầu CQCT cấp chứng từ khấu trừ và tự
quyết toán thuế TNCN
Hoàn thuế: Cá nhân được hoàn thuế trong các trường hợp:
Số tiền thuế TNCN đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp trong kỳ tính thuế
Cá nhân đã nộp thuế TNCN nhưng có thu nhập tính thuế chưa đến mức phải
nộp thuế
Các trường hợp khác theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Việc hoàn thuế TNCN chỉ áp dụng đối với những cá nhân đã đăng ký thuế và
có mã số thuế
1.3.2 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về thuế TNCN
Trên thế giới đã có khoảng trên 180 nước áp dụng thuế TNCN Hà Lan là
quốc gia đầu tiên áp dụng thuế TNCN vào năm 1797, sau đó là Anh vào năm 1799,
Phổ vào năm 1808 và Mỹ vào năm 1864 Một số nước ở Châu Âu, Úc, Niu Dilân và Nhật Bản áp dụng các loại thuế thu nhập thường xuyên vào nửa cuối Thế kỷ 19 Tại Châu Á: Thái Lan bắt đầu áp dụng năm 1939, Philippin năm 1945, Hàn quốc năm
1948, Indonesia năm 1949, Trung quốc năm 1984 Các nước Đông Âu áp dụng muộn hơn: Rumani (1990), Nga (1991), Ba lan (1992)
Thời gian đầu khi mới ban hành Luật thuế TNCN, các Chính phủ ở một số nước áp dụng luật thuế TNCN thường chọn đánh thuế vào những đối tượng dễ đo lường được như đất đai, tài sản, hàng hoá hữu hình… Tuy nhiên cho đến nay sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thay thế những chế định quan trọng trong Luật thuế TNCN đã có nhiều biến đổi Có thể nói khác với các loại thuế khác, thuế TNCN có diện điều chỉnh rộng với tất cả các cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ kinh doanh; từ đầu tư gián tiếp như mua, bán cổ phần, trái phiếu, cổ phiếu… Thuế TNCN điều chỉnh không chỉ cá nhân trong nước mà cả cá nhân nước ngoài nếu làm việc có thu nhập tại nước sở tại Các khoản TNCT cũng có diện rộng bao gồm tất cả các khoản thu nhập của cá nhân Tuy nhiên, thực hiện chính sách xã hội và mục tiêu công bằng của thuế TNCN, luật thuế cũng qui định cụ thể một số khoản thu nhập không chịu thuế, miễn thuế
- Luật thuế TNCN ở Trung Quốc:
+ Đối tượng nộp thuế là các cá nhân có chỗ ở hoặc không có chỗ ở trong nước Trung Quốc, mà cư trú tại Trung Quốc đủ một năm, thì phải nộp thuế đối với toàn bộ thu nhập của người đó nhận được từ trong và ngoài nước Trung Quốc Cá nhân không có chỗ ở tại Trung Quốc mà cư trú dưới một năm, thì phải nộp thuế đối với thu nhập phát sinh từ Trung Quốc
+ Thu nhập chịu thuế TNCN bao gồm các khoản: Thu nhập từ tiền công, tiền lương, sản xuất kinh doanh, cho thuê tài sản, chuyển nhượng tài sản, kinh doanh chứng khoán, dịch vụ, nhuận bút, sử dụng quyền đặc biệt, lãi cho vay, cổ tức, hoa hồng, thu nhập ngẫu nhiên và thu nhập khác
+ Các khoản thu nhập không phải chịu thuế TNCN đó là: Tiền thưởng, lợi tức tiền gửi tiết kiệm, lợi tức trái phiếu do Bộ Tài chính cho phép phát hành và trái
Trang 21phiếu tín dụng do Quốc vụ viện cho phép phát hành; tiền phụ cấp, trợ cấp, tiền phúc
lợi, tiền dưỡng lão, tiền cứu tế, bồi thường bảo hiểm, tiền chuyển ngành, tiền phục
viên của quân nhân; tiền thôi việc, lương hưu
+ Biểu thuế luỹ tiến từng phần (biểu tháng) chia làm 9 bậc với mức thuế suất
thấp nhất là 5%, cao nhất là 45%
- Thuế TNCN tại Philippin:
+ Đối tượng nộp bao gồm: cá nhân cư trú tính theo thu nhập toàn cầu (cả
trong nước và từ nước ngoài); cá nhân không cư trú, người nước ngoài cư trú hoặc
người nước ngoài không cư trú tính theo phần thu nhập phát sinh tại Philippin
+ Thu nhập chịu thuế gồm: Phí dịch vụ, thu nhập từ kinh doanh, lãi buôn bán
tài sản, lãi tiền cho vay, tiền cho thuê, tiền bản quyền, cổ tức, tiền trợ cấp hàng năm,
phần thưởng và tiền thưởng, tiền lương hưu, khoản phân chia từ thu nhập ròng của
công ty hợp danh chuyên nghiệp chung cho người vay vốn
+ Biểu thuế luỹ tiến từng phần chia làm 7 bậc với mức lãi suất thấp nhất là
5%, cao nhất là 32%
- Thuế TNCN ở Hàn Quốc:
+ Các khoản TNCT gồm: Thu nhập toàn cầu từ lao động, kinh doanh, cho
thuê bất động sản, tài sản tạm thời và thu nhập khác TNCT riêng biệt, thu nhập từ
lương hưu, chuyển nhượng tài sản, trồng rừng và khai thác gỗ
+ Thu nhập không chịu thuế: thu nhập từ kinh doanh của hộ nông dân, tiền
lương, tiền hưu, trợ cấp, từ tài sản đặc biệt khác theo quy định
+ Biểu thuế luỹ tiến từng phần chia làm 4 bậc, trong đó mức thuế suất thấp
nhất là 10%, cao nhất là 40%
- Thuế TNCN tại Nhật Bản:
+ Đối tượng là cá nhân cư trú: đã sống từ lâu hay đã và đang định cư tại Nhật
từ một năm trở lên.Cá nhân không cư trú tại Nhật Bản là người có thời gian cư trú
tại Nhật dưới một năm
+ Các khoản thu nhập chịu thuế gồm 10: Thu nhập từ lao động, hoạt động
kinh doanh, buôn bán bất động sản, tiền lãi cổ phần, lợi tức, các khoản hưu trí, buôn
bán gỗ, các khoản vốn, thu nhập bất thường và thu nhập khác
+ Biểu thuế luỹ tiến từng phần chia làm 3 mức, mức thuế suất thấp nhất là 5%, cao nhất là 37%
1.3.3 Kinh nghiệm của một số Cục thuế trong công tác quản lý thuế TNCN và bài học kinh nghiệm đối với Cục thuế tỉnh Bắc Ninh
1.3.3.1 Kinh nghiệm của Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh với số thu lớn nhất cả nước, chiếm trên 1/3 tổng số thu của cả nước, đồng thời cũng là đơn vị luôn thực hiện tốt nhiệm vụ thu NSNN, tiên phong trong cải cách thủ tục hành chính, áp dụng công nghệ thông tin vào quản
lý thuế, xây dựng được đội ngũ cán bộ công chức tinh thông về nghiệp vụ
Thứ nhất: Công tác tuyên truyền chính sách thuế TNCN:
Là đơn vị dẫn đầu thực hiện trung tâm tư vấn thuế miễn phí, hỗ cho NNT thông qua công tác tuyên truyền hỗ trợ.Thiết lập các đường dây nóng, tổ chức đối thoại với các doanh nghiệp, kịp thời giải đáp, xử lý những vướng mắc trong quá trình thực hiện các luật thuế cũng như luật thuế TNCN
Là đơn vị tiên phong thực hiện cải cách thu tục hành chính thuế với mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp, xây dựng được mối quan hệ thân thiện giữa các cơ quan Nhà nước với NNT cùng nhau thực hiện tốt chính sách thuế
Thứ hai: Tổ chức thực hiện thuế TNCN:
Là đơn vị đầu tiên trong cả nước áp dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý thuế mang lại hiệu quả cao cho các địa phương học tập Đã tổ chức tốt việc cấp giấy phép kinh doanh, giấy phép đầu tư, cấp MST người nộp thuế; xây dựng được một số trang Web như : trang Web Hải quan ; thương mại ; Đầu tư ; thuế để giúp cho NNT khai thác, tìm kiếm được những thông tin cần thiết về văn bản pháp luật thuế, NNT không còn tồn tại kinh doanh, những hóa đơn không còn giá trị sử dụng thông qua đó phát hiện và xử lý kịp thời các thủ đoạn gian lận về thuế
Là đơn vị áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 vào một số hoạt động đầu tư, thương mại như: quản lý công văn đi và đến; quản lý cán bộ công chức; đăng ký MST cho người nộp thuế; cấp bán hóa đơn và đăng ký hóa đơn tự in;
Trang 22cung cấp thông tin và xác nhận nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế
Xây dựng tổ chức bộ máy vào đào tạo đội ngũ cán bộ công chức: Xác định
yếu tố về con người là quan trọng quyết định đến mọi thành công Thành phố Hồ
Chí Minh đã không ngừng xây dựng bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ công chức
ngày càng trong sạch, giỏi về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sử dụng thành thạo
tin học, đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý thuế trong giai đoạn mới Riêng đối
với trình độ của cán bộ thuế tại Cục thuế 100% cán bộ đã qua đại học trở lên luôn
được đào tạo nâng cao với nhiều hình thức đạo tạo đa dạng, phong phú
Tổ chức bộ máy của cơ quan quản lý thuế TNCN: Các phòng kiểm tra thuế
thuộc văn phòng Cục thuế thực hiện việc quản lý thuế TNCN theo các tổ chức trả
thu nhập là các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Riêng phòng quản lý
thuế TNCN chỉ thực hiện quản lý thu thuế các cơ quan, tổ chức hưởng lương từ
Ngân sách nhà nước, các dự án, văn phòng đại diện, tổ chức quốc tế; còn các chi
cục thuế các quận, huyện thì tổ chức quản lý thu thuế các cơ quan, tổ chức hưởng
lương từ NSNN, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn
1.3.3.2 Kinh nghiệm của Cục thuế thành phố Hà Nội
Thứ nhất, công tác tuyên truyền chính sách thuế TNCN: Cục thuế thành lập
bộ phận chuyên trách về tuyên truyền thuế ở thành phố, các quận, huyện các bộ
phận tuyên truyền thuế ngoài nhiệm vụ tuyên truyền chính sách thuế hiện hành còn
có nhiệm vụ tuyên truyền cả nội dung về tổ chức quản lý thuế để nâng cao ý thức
tuân thủ nghiêm chỉnh chính sách thuế cho NNT, để chính sách thuế đi vào đời sống
kinh tế, xã hội
Hàng năm, Cục thuế xây dựng, lập kế hoạch và chỉ đạo các đơn vị trong
ngành phối hợp với cơ quan liên quan thực hiện thống nhất công tác tuyên truyền
trong toàn thành phố Kế hoạch tuyên truyền hàng năm được UBND thành phố,
thành ủy phê duyệt trong đó quy định kế hoạch tuyên truyền của ngành thuế, các cơ
quan tuyên truyền, tuyên truyền với nội dung trọng tâm, trọng điểm, thời gian tuyên
truyền, hình thức tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng như truyền
hình, đài phát thanh, báo chí
Tổ chức hoạt động tư vấn thuế: Tư vấn là một nội dung quan trọng được thực hiện đồng thời với chính sách cải cách thuế toàn diện
Trung tâm tư vấn thuế là cơ quan có nhiệm vụ quản lý Nhà nước về hoạt động tư vấn thuế, thực hiện thẩm định và cấp giấy phép hoạt động và quản lý hoạt động các tổ chức tư vấn thuế Các tổ chức tư vấn thuế hoạt động dịch vụ tư vấn về thuế, hoạt động theo luật công ty, thực hiện hạch toán kinh doanh và có nghĩa vụ nộp thuế như các doanh nghiệp khác
Hoạt động của các tổ chức tư vấn về thuế là cung cấp các thông tin cho các doanh nghiệp như: thông tin kinh tế, chính sách và nghiệp vụ thuế, tình hình kê khai thuế, làm trung gian giải quyết các vướng mắc giữa cơ quan thuế và các doanh nghiệp; Hướng dẫn và đào tạo cán bộ doanh nghiệp nắm vững chính sách thuế và nghiệp vụ thuế Phí thu khi thực hiện tư vấn được UBND các tỉnh, thành phố quy định và quản lý khống chế theo mức phí tối đa
Thứ hai, Tổ chức bộ máy quản lý thuế TNCN: Tổ chức bộ máy quản lý thuế
TNCN ở thành phố Hà Nội theo hệ thống dọc từ Cục thuế thành phố có Phòng quản
lý thuế TNCN - Chi cục thuế các quận, huyện có Đội quản lý thuế TNCN Hiện nay
bộ máy quản lý thuế TNCN của Hà Nội gồm 01 phòng chuyên quản lý thuế TNCN
và 29 Đội quản lý thuế TNCN với 58 cán bộ
Chức năng nhiệm vụ của phòng quản lý thuế TNCN thuộc văn phòng Cục có
22 cán bộ, trực tiếp thực hiện dự toán thu ngân sách nhà nước về thuế TNCN đối với các tổ chức là các cơ quan hành chính, sự nghiệp, đoàn thể, các tổ chức quốc tế văn phòng đại diện của tổ chức nước người, các dự án; đồng thời hướng dẫn có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra công tác thu thuế trong nội bộ ngành
Thứ ba: Công tác thanh tra, kiểm tra thuế TNCN đã được tập trung chuyên
sâu: Hà Nội có 04 phòng thanh tra, 06 phòng kiểm tra thuế, 29 Đội kiểm tra thuế;
01 phòng kiểm tra nội bộ; với 839 cán bộ làm công tác kiểm tra thuế và 175 cán bộ làm công tác thanh tra thuế Các phòng thanh tra, kiểm tra thuế, đội thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế các sắc thuế trong đó có sắc thuế TNCN đối với doanh nhiệp thuộc mọi thành phần kinh tế thuộc phạm vi quản lý
Trang 231.3.3.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra đối với tỉnh Bắc Ninh về quản lý
nhà nước đối với thuế TNCN
Qua công tác quản lý thuế TNCN của thành phố Hồ Chí Minh và thành phố
Hà Nội, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm khả dĩ có thể áp dụng cho Bắc
Ninh như sau:
Thứ nhất, về nhận thức, phải khẳng định việc quản lý thuế TNCN ở các địa
phương trên đã góp phần điều tiết thu nhập hợp lý; góp phần công bằng xã hội; huy
động nguồn lực cho ngân sách nhà nước; kiểm soát được TNCN; góp phần hạn chế
tham nhũng, lãng phí Bắc Ninh không thể là ngoại lệ, cần phải nhận thức đúng vai
trò của công tác quản lý thuế TNCN
Thứ hai, xây dựng bộ máy tổ chức quản lý thuế TNCN và đội ngũ cán bộ
công chức quản lý thuế TNCN có phẩm chất đạo đức tốt, giỏi về chuyên môn
nghiệp vụ, thành thạo về tin học, giao tiếp được ngoại ngữ nhất là tiếng Anh hoặc
theo hướng chuyên sâu về từng lĩnh vực như: nhóm quản lý thuế TNCN đối với cá
nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công; nhóm quản lý thu nhập từ đầu tư vốn;
nhóm quản lý thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản Bắc Ninh nên áp dụng mô
hình quản lý thuế TNCN như ở Hà Nội: Phòng quản lý thuế TNCN ở văn phòng
Cục thuế chỉ quản lý thu thuế TNCN thông qua các tổ chức của người nộp thuế là
các cơ quan hành chính, sự nghiệp, đoàn thể, các tổ chức quốc tế, văn phòng đại
diện của tổ chức nước người, các dự án; còn phòng kiểm tra quản lý thuế sẽ quản lý
thuế TNCN của những cá nhân thuộc doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, dịch vụ
Thứ ba, tăng cường công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế, thành lập
các tổ chức tư vấn thuế, thông qua các tổ chức tư vấn thuế giúp cho người nộp thuế
nâng cao tinh thần trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế, hạn chế được rủi ro về thuế,
tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra người nộp thuế; thanh tra nội bộ ngành để
nâng cao ý thức chấp hành luật thuế của người nộp thuế và xây dựng được đội ngũ
cán bộ công chức quản lý thuế TNCN trong sạch, công tâm trong thực thi nhiệm vụ
Thứ tư, tăng cường sự phối kết hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước với
cơ quan thuế nhằm quản lý được người nộp thuế một cách có hiệu quả, tăng thu
NSNN về thuế TNCN Thuế TNCN liên quan đến nhiều lĩnh vực quản lý kinh tế xã hội, do đó trong quá trình thực hiện cần phải có sự tham gia của các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các đoàn thể quần chúng, các cơ quan quản lý Nhà nước.Gắn trách nhiệm của các cấp các ngành, cấp
ủy chính quyền địa phương với cơ quan quản lý thuế TNCN
Thứ năm: xây dựng các tiêu chí phân loại người nộp thuế thành các nhóm
đối tượng như: người Nhật, người Trung quốc, Hàn quốc, Mỹ, Anh hoặc phân cho cán bộ công chức quản lý thuế theo thu nhập như: thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ đầu tư vốn, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản từ đó tìm ra các biện pháp quản lý, phương thức hỗ trợ thích hợp
Thứ sáu, để quản lý được thu nhập của các cá nhân nhất thiết phải ứng dụng
công nghệ thông tin vào quản lý thuế Không có công nghệ thông tin thì hiệu quả quản lý thuế TNCN sẽ không cao, không kiểm soát được thu nhập của các cá nhân
có thu nhập ở nhiều nơi, có nhiều loại thu nhập Vì vậy, cơ quan quản lý thuế TNCN ở Bắc Ninh áp dụng công nghệ thông tin về quản lý thuế TNCN nhập dữ liệu đầy đủ thông tin về người nộp thuế như thu nhập chịu thuế, hồ sơ giảm trừ gia cảnh, số nộp NSNN của cá nhân có thu nhập trên địa bàn tỉnh để kiểm soát được thu nhập của người nộp thuế có thu nhập ở nhiều nơi Vì vậy ngành thuế Bắc Ninh cần tranh thủ sự ủng hộ của Đảng bộ, UBND tỉnh Bắc Ninh, và các cơ quan ban ngành khác trong việc hướng dẫn, tuyên truyền cho mọi tầng lớp trong xã hội có chứng minh nhân dân (hoặc hộ chiếu) đều được cấp mã số thuế TNCN
Trang 24Chương II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng công tác thu thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay như
Cần những giải pháp nào để công tác quản lý thu thuế TNCN trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh hiệu quả hơn, tốt hơn trong thời gian tới?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Khung phân tích
Để tìm ra những giải pháp góp phần tăng cường công tác quản lý thuế TNCN
ở Bắc Ninh, khung phân tích của luận văn phải đảm bảo trên cơ sở lý luận và thực
tiễn chung, phân tích đánh giá toàn bộ thực trạng công tác quản lý thuế TNCN của
Bắc Ninh trong thời gian vừa qua, rút ra những ưu điểm, nhược điểm, những hạn
chế, tồn tại cần khắc phục và nguyên nhân của chúng, từ đó đề ra những giải pháp
nhằm tăng cường công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Theo đó, khung
nghiên cứu được thể hiện ở sơ đồ sau (Sơ đồ 2.1.):
Giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Mục tiêu nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu
Giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Thực trạng quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Cơ sở khoa học
Tổng quan về quản
lý thuế TNCN
Tổng quan về thuế TNCN
Tổng quan về Thuế
ở Việt Nam
Bài học rút ra cho Bắc Ninh
Thực tiễn quản lý thuế TNCN trên thế giới và ở Việt
Nam
Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế
Giải quyết khiếu nại,
tố cáo về thuế
Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt Quản lý thông tin về người nộp thuế;
Kiểm tra thuế, thanh tra thuế Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
Xử lý vi phạm pháp luật về thuế
Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế, giảm thuế
Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng
Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý thuế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý thuế TNCN
Nâng cao hiệu quả của cơ quan QL thuế
Tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế về chính sách thuế TNCN
Tăng cường quán triệt, thực hiện đúng chính sách thuế TNCN
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra
về thuế TNCN
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế TNCN
Trang 252.2.2 Lựa chọn địa bàn nghiên cứu
Tỉnh Bắc Ninh có tổng dân số theo số liệu đến 31/12/2010 là 1.038.229
người Tổng số người phải nộp thuế TNCN là 23.830 trong đó các địa bàn: Thành
phố Bắc Ninh 7.591; Thị xã Từ Sơn 3.186; Thuận Thành 2.934; Tiên Du 2.470;
Lương Tài 1.431; Yên Phong 2.578; Quế Võ 2.386 và Gia Bình 1.254 Theo các cơ
quan hành chính, sự nghiệp, đoàn thể, các tổ chức quốc tế, văn phòng đại diện của
tổ chức nước người, các dự án thì có: 1.565 Cơ quan, đơn vị Theo hệ thống các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, dịch vụ thì có: 4.993 doanh nghiệp
Để đánh giá công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, tác giả
sẽ nghiên cứu công tác quản lý thuế TNCN trước hết ở Cục thuế Bắc Ninh, sau đó
là một số Chi cục thuế thành phố, huyện, thị xã và một số cơ quan, đơn vị và doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc ninh
Tuy nhiên, để minh chứng cho thực tiễn, đề ra những giải pháp mang tính
khả thi, tác giả luận văn cũng sẽ tiến hành điều tra một số mẫu theo cách chọn mẫu
đa cấp và mẫu điển hình
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập thông tin tốt sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin về lý luận và thực tế,
tạo điều kiện cho việc xử lý và phân tích thông tin, từ đó đưa ra đánh giá chính xác
về thực trạng của vấn đề nghiên cứu và đề xuất các giải pháp xác thực giúp cho việc
hoàn thiện công việc nghiên cứu của mình và của cơ sở Đề tài sử dụng hai nguồn
dữ liệu thứ cấp và sơ cấp
* Phương pháp thu thập thông tin số liệu thứ cấp:
Sử dụng các số liệu thống kê có sẵn của các bộ phận có liên quan như: các
phòng nghiệp vụ của Cục Thuế; các Chi cục thuế của các huyện và Thành phố Bắc
Ninh theo từng địa bàn, từng mốc thời gian, từng giai đoạn
Các tài liệu về tình hình chung của tỉnh như: điều kiện tự nhiên, đất đai, dân
số, kinh tế, xã hội, kết quả cấp MST, kết quả thanh tra kiểm tra, số thu nộp ngân
sách, tình hình nợ đọng ngân sách nhà nước giai đoạn 2009 - 2011 Số liệu, thông
tin phản ánh thực trạng tuân thủ pháp luật thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn,
thực trạng công tác quản lý thuế TNCN của Cục thuế Tỉnh, của các Chi cục thuế Các thông tin, tài liệu, số liệu trên thế giới và trong nước được thu thập từ Internet, Tổng cục thuế, qua sách báo, tạp chí, các kết quả nghiên cứu v.v… có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
*Phương pháp thu thập thông tin số liệu sơ cấp:
Tác giả sẽ điều tra, thu thập các thông tin, số liệu liên quan đến việc phân tích nhân tố tác động đến tính tuân thủ pháp luật thuế TNCN của NNT trên địa bàn
và công tác cải cách thủ tục hành chính thuế của cơ quan thuế (đánh giá, nhận xét, quan điểm, chính kiến, giải pháp…)
- Đối tượng điều tra:
+ Một số lãnh đạo, cán bộ nghiệp vụ của Cục Thuế, của các Chi cục thuế huyện, thành phố và một số đối tượng nộp thuế TNCN theo phương pháp chọn mẫu
đa cấp, điển hình và ngẫu nhiên Thông tin của cán bộ quản lý thuế được sử dụn g để đánh giá thực trạng công tác quản lý về thuế TNCN
+ Một số lãnh đạo và một số người trực tiếp tính và thu thuế TNCN của các
cơ quan hành chính sự nghiệp , đoàn thể, các tổ chức quốc tế , văn phòng đại diện của tổ chức nước người , các dự án, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh , dịch vụ Thông tin điều tra đó được sử dụng để đánh giá tình hình thực thi côn g tác quản lý
và ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của NNT
+Một số người có thu nhập cao để đánh giá thái độ, quan điểm và kiến nghị,
đề xuất của họ
- Cách chọn mẫu:
+ Chọn mẫu đa cấp, Từ Cục thuế đến Chi cục thuế
+ Chọn mẫu ngẫu nhiên: Khi lựa chọn các Chi cục thuế, có thể tùy chọn một
số Chi cục vừa theo đa cấp, vừa ngẫu nhiên
+ Chọn mẫu điển hình: lựa chọn một số người có thu nhập cao điển hình, đại diện cho các đối tượng: lãnh đạo, công chức, doanh nhân, người nước ngoài…
- Mẫu đã chọn: Chọn mẫu xác suất (mẫu ngẫu nhiên theo danh sách) có phân lớp theo từng đối tượng điều tra
Trang 26Lượng mẫu được chọn theo công thức của Yamane Taro (1967):
N
n = -
1 + N*e2
Trong đó: N là tổng thể mẫu, e là tỉ mức ý nghĩa, chính xác (%)
Số người điều tra được chọn theo công thức của Yamane Taro như sau:
+ Đối tượng nộp thuế có thu nhập từ tiền lương, tiền công năm 2011: 17.005
người, do thời gian, nhân lực, kinh phí có hạn nên tôi chọn 100 người để điều tra
(mức ý nghĩa 10%)
+ Đối tượng nộp thuế có thu nhập từ sản xuất kinh doanh năm 2011: 6.825
người, do thời gian, nhân lực, kinh phí có hạn nên tôi chọn 44 người để điều tra
(mức ý nghĩa 15%)
- Phương pháp anket: Đây là phương pháp thu thập thông tin gián tiếp thông
qua bảng hỏi (phiếu trưng cầu ý kiến) Đây là phương pháp khá phổ biến nhằm thu
thập thông tin định lượng, qua đó cho chúng ta biết được quy mô kinh doanh, ý thức
chấp hành của NNT, Phương pháp này được dùng để nghiên cứu của luận văn để
đáp ứng được mục tiêu của đề tài
- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn trực tiếp các đối tượng bằng các câu
hỏi đã được chuẩn bị trước.Thông qua phương pháp chuyên gia sẽ có được những
đánh giá, đề xuất những giải pháp mang tính khoa học và tính khả thi cao
2.2.4 Phương pháp xử lý, tổng hợp và phân tích thông tin
Thông tin và các số liệu sau khi thu thập được sẽ được làm sạch, loại bỏ
những thông tin sai lệch, thiếu chính xác rồi sẽ tiến hành tổng hợp theo các phương
pháp tổng hợp thống kê: sắp xếp, phân tổ, thiết kế thành hệ thống các biểu bảng
thống kê và đồ thị với các chỉ tiêu số lượng và chất lượng khoa học nhất Cụ thể:
- Phương pháp thống kê mô tả: Tổng hợp các số liệu, tư liệu đã thu thập
được để mô tả tình hình quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, chỉ ra
những ưu, nhược, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân
- Phương pháp phân tổ thống kê: Dựa vào phương pháp này, toàn bộ số liệu thu thập được sẽ được phân tổ theo những tiêu thức khác nhau tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu Phương pháp phân tổ thống kê là cơ sở cho việc vận dụng các phương pháp phân tích thống kê khác như phương pháp chỉ số, phương pháp hồi quy, phương pháp cân đối, Sử dụng công cụ excel để tính toán
- Phương pháp phân tích so sánh: Phương pháp này dùng để so sánh đối chiếu các chỉ tiêu thống kê, so sánh sự khác nhau về tình hình tuân thủ các quy định
về quản lí thuế Sử dụng phương pháp này để so sánh các chỉ tiêu theo thời gian và theo không gian, để làm rõ sự khác nhau về việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế từ đó nhằm chỉ ra sự khác biệt và đi tìm nguyên nhân của hiện tượng kinh
tế - xã hội ấy Phân tích so sánh là phương pháp tính toán các chỉ tiêu theo các tiêu chí khác nhau và được đem so sánh với nhau, so sánh có nhiều loại: So sánh với kế hoạch, so sánh theo thời gian, so sánh theo không gian, trong cùng một vấn đề…
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như: Phương pháp chuyên khảo, phương pháp chuyên gia: Dựa vào các phân tích để rút ra những nhận xét, nhận định đánh giá thực trạng hay đề ra giải pháp
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu đánh giá công tác quản lý thuế TNCN 2.3.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả và chất lượng công tác quản lý thuế TNCN
Hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả của công tác quản lý thuế TNCN: Tổng
số tiền thuế thu được qua các năm (theo địa bàn, theo đối tượng nộp thuế); tốc độ phát triển, tốc độ tăng thuế thu nhập quốc dân…
Hệ thống chỉ tiêu phản ánh chất lượng và hiệu quả công tác quản lý thuế TNCN: Tỷ lệ ĐTNT đúng hạn, tỷ lệ đối tượng trốn thuế, khai sai thuế so với tổng ĐTNT, chi phí cho công tác quản lý thuế tính trên một đồng thuế thu được cụ thể:
2.3.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá tính tuân thủ pháp luật thuế TNCN của đối tượng nộp thuế
- Chỉ tiêu đánh giá nghĩa vụ đăng ký thuế: Số lượng cá nhân đề nghị cấp mã
Trang 27số thuế TNCN: Là chỉ tiêu số tuyệt đối thời kỳ, phản ánh số lượng NNT đã đăng ký
mã số thuế trong năm.Chỉ tiêu cho thấy ý thức chấp hành của NNT đăng ký MST
Tỷ lệ đăng ký thuế (%): Là chỉ tiêu số tương đối phản ánh tỷ lệ NNT đã
thực hiện nghĩa vụ đăng ký mã số thuế trong năm so với tổng số NNT phải đăng ký
cấp mã số thuế.Chỉ tiêu càng tiến đến 100 thì tính tuân thủ Pháp luật càng tốt
- Chỉ tiêu đánh giá tính tuân thủ nghĩa vụ khai thuế TNCN :
+ Tỷ lệ nộp hồ sơ khai thuế (%): Là chỉ tiêu số tương đối phản ánh tỷ lệ hồ
sơ khai thuế đã được NNT nộp trong một năm so với tổng số hồ sơ khai thuế phải
nộp Chỉ tiêu càng tiến đến 100 thì tính tuân thủ Pháp luật càng tốt
+ Số hồ sơ khai thuế đã nộp: Là chỉ tiêu số tuyệt đối thời kỳ phản ánh tổng
số hồ sơ khai thuế đã nhận được trong một năm Chỉ tiêu cho thấy ý thức chấp hành
người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ khai thuế
+ Tỷ lệ nộp hồ sơ khai thuế quá hạn (%): Là chỉ tiêu số tương đối phản ánh
tỷ lệ hồ sơ khai thuế đã được người nộp thuế nộp trong một năm so với tổng số hồ
sơ khai thuế phải nộp Chỉ tiêu càng tiến đến 100 thì tính tuân thủ Pháp luật càng
tốt
+ Số hồ sơ khai thuế nộp quá hạn: Là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số hồ
sơ khai thuế người nộp thuế nộp hồ sơ quá hạn trong một năm so với tổng số hồ sơ khai thuế phải nộp Chỉ tiêu phản ánh qui mô ý thức chấp hành của người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế quá hạn quy định
- Chỉ tiêu đánh giá nghĩa vụ nộp thuế + Tỷ lệ nợ thuế (%): Là chỉ tiêu số tương đối so sánh, phản ánh tỷ lệ số tiền thuế còn nợ đến 31/12 hàng năm với tổng số tiền thuế đã nộp trong năm Chỉ tiêu càng tiến đến 0 thì tính tuân thủ Pháp luật càng tốt
+ Tỷ lệ NNT nợ thuế (%): Là chỉ tiêu số tương đối so sánh, phản ánh tỷ lệ người nộp thuế còn nợ đến 31/12 hàng năm với tổng số NNT Chỉ tiêu càng tiến đến
0 thì tính tuân thủ Pháp luật càng tốt
+ Số lượng các khoản nợ trên / người nộp thuế: Là số khoản nợ bình quân của một NNT tại thời điểm đánh giá Số lượng các khoản nợ càng ít thì tính tuân thủ càng tốt
+ Cơ cấu nợ theo thời gian (%): Là tỷ trọng các khoản thuế nợ, số tiền thuế
nợ trong một khoảng thời gian qui định gồm các mốc nợ trên 30 ngày và trên 90 ngày Chỉ tiêu phản ánh tỷ trọng thời gian nợ thuế của các khoản nợ, số thuế nợ Nếu tỷ trọng các khoản nợ, số thuế nợ ở dưới mức 30 ngày cao thì mức tuân thủ càng tốt
- Chỉ tiêu đánh giá nghĩa vụ cung cấp thông tin đối với kết quả thanh tra kiểm tra: Là số thuế truy thu bình quân qua hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế: Số
Trang 28thuế truy thu càng thấp thì tính tuân thủ càng tốt Chỉ tiêu được tính theo phương
pháp tính bình quân số học giản đơn
- Chỉ tiêu đánh giá tỷ lệ hồ sơ phải điều chỉnh( %): là tỷ lệ so sánh giữa số
hồ sơ khai thuế phải điều chỉnh số liệu với tổng số hồ sơ khai thuế đã nộp trong
năm.Tỷ lệ điều chỉnh càng thấp thì tính tuân thủ càng tốt
Chương III: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TNCN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
3.1 Khái quát về kinh tế - xã hội của Tỉnh Bắc ninh và Cục thuế Bắc Ninh
3.1.1 Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng, nằm trong tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và là cửa ngõ phía Đông Bắc của thủ đô Hà Nội là tỉnh có địa giới hành chính tiếp giáp với các tỉnh: Bắc Giang ở phía Bắc, Hải Dương ở phía Đông Nam, Hưng Yên ở phía Nam và thủ đô Hà Nội ở phía Tây Theo số liệu thống kê năm 2011 tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên 823km2 với tổng dân số 1.038.229 người Chiếm 1,21% dân số cả nước và đứng thứ 39/64 tỉnh, thành phố, trong đó nam 511,7 nghìn người và nữ 526,5 nghìn người Trong đó 652.302 người có độ tuổi lao động
Bắc Ninh ở vị trí thuận lợi về giao thông đường bộ và đường không.Các tuyến đường huyết mạch: Quốc lộ 1A, 1B, quốc lộ 18, quốc lộ 38, đường sắt Hà Nội- Lạng Sơn, Hà Nội- Quảng Ninh nối liền Bắc Ninh với các trung tâm kinh tế, văn hóa và thương mại của khu vực phía Bắc Việt Nam, với cảng hàng không quốc
tế Nội Bài và liên thông với hệ thống các trục đường quốc lộ đến với mọi miền trong cả nước.Có thể nói, Bắc Ninh là địa phương có vị trí địa chính trị, địa kinh tế thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Thời gian qua, Bắc ninh đã có những bước chuyển biến về phương pháp điều hành, chỉ đạo và có thái độ kiên quyết thực hiện nội dung cải cách thủ tục hành chính phải ưu tiên hàng đầu.Trong đó gồm xây dựng cơ bản, chính sách kịp thời, phù hợp, rõ ràng, bình đẳng… Xây dựng mô hình bộ máy tinh gọn, đội ngũ công chức có tính chuyên nghiệp cao, trách nhiệm rõ ràng Đội ngũ công chức phải thường xuyên được cập nhật thông tin mới, đào tạo lại để hiểu biết ngang tầm với nhiệm vụ Sử dụng tài chính công tiết kiệm, hiệu quả, không dàn trải, tiết kiệm chi thường xuyên để tập trung vốn cho đầu tư phát triển cùng với việc thu hút mạnh các nguồn đầu tư khác để hàng năm tăng vốn đầu tư xã hội từ 15-20% trở lên Mặt