sách, văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư, phân cấp quản lý nhà nước về đầu tư cho các Bộ ngành, địa phương; - Thủ tưởng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành và địa phương thực hiện luật phá
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÈNG HOÀNG PHONG
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC
QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
BẰNG NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG - TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÈNG HOÀNG PHONG
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƯƠNG - TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Văn Bá Thanh
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Giải pháp tăng cường công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn ngân sách Nhà nước trên
địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” là công trình nghiên cứu của
cá nhân tôi Đề tài hoàn toàn trung thự
tài liệu tham khảo được trích dẫn đầy đủ, mọi sự giúp đỡ
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Lèng Hoàng Phong
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành nội dung đề tài này ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều cá nhân và tập thể
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Văn Bá Thanh - Học
viện Tài chính, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thành đề tài này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo và Sau đại học cũng như các khoa chuyên môn, phòng ban của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của UBND huyện Phú Lương, Văn phòng HĐND&UBND huyện, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện, Chi cục Thống kê huyện Phú Lương đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp và các thông tin hữu ích phục vụ nghiên cứu
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Lèng Hoàng Phong
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Những đóng góp của luận văn 4
5 Kết cấu của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 6
1.1 Tổng quan một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn ngân sách nhà nước 6
1.1.1 Khái niệm, nội dung, biện pháp quản lý các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn ngân sách nhà nước 6
1.1.2 Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý nhà nước dự án đầu tư 12
1.1.3 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư bằng nguồn ngân sách nhà nước 19
1.1.4 Các phương pháp quản lý dự án đầu tư 21
1.1.5 Các công cụ quản lý nhà nước để quản lý dự án đầu tư 24
1.1.6 Phân cấp quản lý nhà nước về đầu tư 28
1.1.7 Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước các dự án đầu tư bằng nguồn ngân sách 37
1.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn ngân sách của một số nước trên thế giới 42
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 45
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 45
2.2 Phương pháp nghiên cứu 45
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu 45
2.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin, số liệu 47
2.3 Hệ thống chỉ tiêu được sử dụng trong nghiên cứu 48
Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƯƠNG 49
3.1 Giới thiệu tổng quan về huyện Phú Lương 49
3.1.1 Vị trí địa lý, kinh tế 49
3.1.2 Tiềm năng và khả năng khai thác nguồn lực của huyện 49
3.2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn NSNN trên địa bàn huyện Phú Lương 55
3.2.1 Thực trạng đầu tư bằng nguồn ngân sách nhà nước 55
3.2.2 Tình hình đầu tư bằng nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 57
3.2.3 Thực trạng sử dụng vốn đầu tư theo lĩnh vực đầu tư 61
3.3 Hoạt động quản lý nhà nước các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn ngân sách trên địa bàn huyện Phú Lương giai đoạn 2011-2013 69
3.3.1 Công tác quy hoạch 69
3.3.2 Công tác kế hoạch hóa nguồn vốn cho các dự án đầu tư 70
3.3.3 Công tác chuẩn bị đầu tư 71
3.3.4 Công tác thực hiện dự án 75
3.4 Đánh giá chung 82
3.4.1 Thành tựu 82
3.4.2 Các mặt hạn chế 85
3.4.3 Những nguyên nhân của các hạn chế 87
Trang 4Chương 4 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC
DỰ ÁN ĐẦU TƯ XDCB BẰNG NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH
THÁI NGUYÊN 89
4.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện giai đoạn 2011 - 2015 và đến năm 2020 89
4.1.1 Quan điểm phát triển kinh tế - xã hội của huyện 89
4.1.2 Định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực chủ yếu 90
4.1.3 Mục tiêu cơ bản phát triển kinh tế - xã hội 93
4.2 Giải pháp tăng cường công tác quản lý các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn ngân sách trên địa bàn huyện Phú Lương 94
4.2.1 Cải tiến, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và tuân thủ việc triển khai thực hiện theo quy hoạch 94
4.2.2 Về kiểm soát phân bổ và quản lý kế hoạch vốn đầu tư và xây dựng 95 4.2.3 Huy động các nguồn vốn đầu tư 96
4.2.4 Tăng cường công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư 98 4.2.5 Tăng cường hiệu quả quản lý, công tác lựa chọn nhà thầu 99
4.2.6 Tăng cường và nâng cao hiệu lực công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong đầu tư xây dựng 100
4.2.7 Tăng cường chế độ trách nhiệm trong quản lý đầu tư và xây dựng 102 4.3 Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động và xác lập trách nhiệm rõ ràng của các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng 103
4.3.1 Nâng cao hoạt động tư vấn xây dựng 103
4.3.2 Nâng cao hoạt động quản lý dự án 104
4.3.3 Xác lập vai trò, trách nhiệm của chủ đầu tư 104
4.3.4 Thực hiện tốt chế độ báo cáo định kỳ 104
4.4 Một số Kiến nghị 104
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Kết quả lựa chọn đối tượng điều tra, phỏng vấn 46
Bảng 3.1: Dân số và lao động huyện Phú Lương giai đoạn 2011 - 2013 54
Bảng 3.2: Kết quả huy động các nguồn vốn đầu tưtrên địa bàn huyện Phú Lương giai đoạn 2011-2013 58
Bảng 3.3: Tình hình đầu tư bằng nguồn ngân sách do huyện Phú Lương quản lý giai đoạn 2011-2013 59
Bảng 3.4: Tổng hợp kết quả điều tra công tác phân bổ kế hoạch vốn trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2013 60
Bảng 3.5: Danh mục một số dự án đầu tư XDCB ngành nông nghiệp 64
Bảng 3.6: Danh mục một số dự án đầu tư XDCBngành giao thông vận tải 65
Bảng 3.7: Danh mục một số dự án đầu tư XDCBlĩnh vực Hạ tầng - Đô thị - Cấp nước 66
Bảng 3.8: Danh mục một số dự án đầu tư XDCBthuộc lĩnh vực Văn hoá - Thông tin - Thể dục thể thao 67
Bảng 3.9: Danh mục một số dự án đầu tư XDCB khối quản lý nhà nước 67
Bảng 3.10: Tổng hợp kết quả điều tra công tác quản lý vốn đầu tưbằng nguồn ngân sách trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2013 73
Bảng 3.11: Tổng hợp kết quả điều tra đội ngũ cán bộ công chức làm công tác thẩm định và quản lý dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2013 79
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ thực trạng hệ thống kết cấu hạ tầng, kinh tế - xã hội của nước ta
hiện nay Đặc biệt là mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2020 đã được Nghị
quyết Đại hội Đảng XI nêu ra là: "Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở
thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại"; các quan điểm phát triển, đặc
biệt là quan điểm "Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững" Nghị
quyết Đại hội Đảng lần thứ XI nêu mục tiêu tổng quát: "Tiếp tục nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc
đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân
chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền
vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định
chính trị - xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”
Đối với tỉnh Thái Nguyên, một tỉnh thuộc vùng trung du miền núi Bắc
Bộ, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, tiềm
lực của nền kinh tế được tăng cường, các lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều
chuyển biến tiến bộ, tình hình an ninh chính trị ổn định Tuy nhiên, trong bối
cảnh cả nước nói chung và Thái Nguyên nói riêng có nhiều thời cơ thuận lợi,
khó khăn và thách thức đan xen Để nền kinh tế toàn tỉnh trong giai đoạn
2011-2015 tiếp tục ổn định và phát triển, tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ
XVIII, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên đã đề
ra mục tiêu phát triển theo hướng "đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo tiền đề vững
chắc để Thái Nguyên trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại trước
năm 2020 và là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục của
cả nước, góp phần thúc đẩy phát triển vùng trung du miền núi Bắc Bộ "
Là huyện miền núi thuộc tỉnh Thái Nguyên, Phú Lương còn nhiều khó khăn so với sự phát triển chung của toàn tỉnh Để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện nhanh hơn, thực hiện cho được những mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra UBND huyện đã xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện; xây dựng các chương trình dự án ưu tiên và đề xuất các giải pháp
để triển khai thực hiện giai đoạn 2011 - 2020 phù hợp với định hướng chung của tỉnh và có những bước đột phá nhằm đưa nền kinh tế huyện phát triển nhanh, ổn định và bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế Đại hội Đảng bộ huyện Phú Lương lần thứ XXII nhiệm kỳ 2010-2015 đề ra nhiệm vụ, mục tiêu đẩy mạnh phát triển kinh tế trên địa bàn Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, giá trị sản xuất bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, tập trung xây dựng đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng, Chương trình xây dựng nông thôn mới
Để đạt được những mục tiêu đó, một trong những vấn đề chủ yếu đối với huyện là làm sao thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư cho công cuộc phát triển, đáp ứng được yêu cầu đề ra Sau khi thu hút được vốn đầu tư thì phải sử dụng sao cho có hiệu quả Vấn đề sử dụng hiệu quả vốn đầu tư không chỉ là vấn đề riêng của từng cá nhân, đơn vị, hay từng địa phương mà còn là vấn đề chung được cả nước quan tâm Việc sử dụng nguồn vốn đầu tư được coi là có hiệu quả khi nó mang lại những lợi ích mong muốn mà chủ đầu tư đặt ra, nó
có thể là hiệu quả về mặt kinh tế hoặc cũng có thể là hiệu quả về mặt xã hội, tuỳ thuộc vào mỗi mục tiêu cụ thể của từng dự án đầu tư Hiệu quả được biểu hiện thông qua những công trình, hạng mục công trình được huy động và phát huy giá trị sử dụng của nó trong thực tế
Trang 6Hiện nay, trên địa bàn huyện Phú Lương ngày càng thu hút được nhiều
nguồn vốn đầu tư cho sự phát triển kinh tế - xã hội Trong đó có nguồn vốn
đầu tư dành cho XDCB, chủ yếu lượng vốn này có nguồn từ ngân sách nhà
nước Vì vậy, việc huy động và sử dụng nguồn vốn đầu tư XDCB của huyện
cần phải được quan tâm, chú trọng Trong những năm qua, huyện đã huy
động và sử dụng nguồn vốn đầu tư XDCB để tiến hành xây dựng, nâng cấp,
cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh những
thành tựu đã đạt được thông qua việc sử dụng vốn đầu tư XDCB thì vẫn còn
những hạn chế cần khắc phục Vì vậy, để phản ánh thực trạng về tình hình sử
dụng vốn đầu tư XDCB của huyện Phú Lương, từ đó đưa ra những giải pháp
khắc phục và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB và thực hiện được
mục tiêu Đảng bộ huyện đề ra Huyện Phú Lương cần thực hiện đồng bộ
nhiều giải pháp, trong đó tăng cường công tác quản lý nhà nước các dự án đầu
tư XDCB từ nguồn ngân sách là một trong những nội dung rất quan trọng và
cần thiết Xuất phát từ yêu cầu thực tế tế trên, tôi chọn Đề tài: “Giải pháp tăng
cường công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn ngân
sách nhà nước trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài
nghiên cứu Luận văn Thạc sỹ
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà
nước đối với các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn ngân sách Từ đó, đề xuất
những giải pháp tăng cường công tác quản lý các dự án đầu tư XDCB bằng
nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý nhà nước các dự
án đầu tư XDCB bằng nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp cụ thể nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn, các nguyên tắc, nội dung, phương thức quản lý nhà nước các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích tình hình thực hiện những vấn
đề cơ bản về kinh tế - xã hội, các dự án đầu tư giai đoạn 2011-2013 Từ đó đề
ra phương hướng, giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các
dự án đầu tư XDCB bằng nguồn NSNN trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
4 Những đóng góp của luận văn
Luận văn có giá trị cả về lý luận và thực tiễn Hệ thống hóa cơ sở khoa học về quản lý các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn ngân sách nhà nước Đánh giá được thực trạng quản lý dự án của địa phương Trên cơ sở đó, đề xuất được một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước các
dự án đầu tư XDCB bằng nguồn ngân sách trên địa bàn nghiên cứu Luận văn
có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo trong việc xây dựng các chính sách về đầu tư và quản lý dự án đầu tư XDCB bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
Trang 75 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn được kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý các dự án đầu tư xây
dựng cơ bản bằng nguồn ngân sách nhà nước
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý nhà nước các dự án đầu tư
XDCB bằng nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh
Thái Nguyên
Chương 4: Một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý
các dự án đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn ngân sách nhà nước trên địa
bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1 Tổng quan một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn ngân sách nhà nước
1.1.1 Khái niệm, nội dung, biện pháp quản lý các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn ngân sách nhà nước
a Khái niệm vốn đầu tư XDCB, quản lý dự án đầu tư:
Vốn đầu tư XDCB là toàn bộ những chi phí để đạt được mục đích đầu
tư bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán
Theo nghĩa chung nhất, quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể vào các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã để ra Quản lý dự
án đầu tư là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng vào dự án đầu tư (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư) bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế xã hội, tổ chức kỹ thuật
và các biện pháp khắc nhằm đạt được kết quả, hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất, trong điều kiện xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật khách quan và quy luật đặc thù của đầu tư
b Nội dung của vốn đầu tư XDCB, quản lý dự án đầu tư:
Nội dung của vốn đầu tư XDCB bao gồm các khoản chi phí gắn liền với hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, nội dung này bao gồm:
Vốn cho xây dựng và lắp đặt
- Vốn cho hoạt động chuẩn bị xây dựng và chuẩn bị mặt bằng
- Những chi phí xây dựng công trình, hạng mục công trình, nhà xưởng, văn phòng làm việc, nhà kho, bến bãi…
- Chi phí cho công tác lắp đặt máy móc, trang thiết bị vào công trình và hạng mục công trình
Trang 8- Chi phí để hoàn thiện công trình
Vốn mua sắm máy móc thiết bị
Đó là toàn bộ các chi phí cho công tác mua sắm và vận chuyển bốc dỡ
máy móc thiết bị được lắp vào công trình Vốn mua sắm máy móc thiết bị bao
gồm được tính bao gồm: giá trị máy móc thiết bị, chi phí vận chuyển, bảo
quản bốc dỡ, gia công, kiểm tra trước khi giao lắp các công cụ, dụng cụ
Vốn kiết thiết cơ bản khác bao gồm:
- Chi phí kiến thiết cơ bản được tính vào giá trị công trình như chi phí
cho tư vấn đầu tư, đền bù, chi phí cho quản lý dự án, bảo hiểm, dự phòng,
thẩm định, …
- Các chi phí kiến thiết tính vào tài sản lưu động bao gồm chi phí cho
mua sắm nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố
định hoặc chi phí cho đào tạo
- Những chi phí kiến thiết cơ bản khác được nhà nước cho phép không
tính vào giá trị công trình (do ảnh hưởng của thiên tai, những nguyên nhân bất
khả kháng)
Phân loại vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản:
Tuỳ theo từng mục đích nghiên cứu mà người ta phân loại vốn đầu tư
XDCB thành các tiêu thức khác nhau Nhưng nhìn chung, các cách phân loại này
đều phục vụ cho công tác quản lý tốt hơn đối với hoạt động đầu tư XDCB
Ta có thể xem xét một số cách phân loại sau đây:
Theo nguồn vốn:
Gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng đầu tư, vốn của các cơ sở
sản xuất kinh doanh dịch vụ; vốn vay nước ngoài, vốn hợp tác liên doanh với
nước ngoài, vốn của dân
Theo cách này, chúng ta thấy được mức độ đã huy động của từng
nguồn vốn, vai trò của từng nguồn để từ đó đưa ra các giải pháp huy động và
sử dụng nguồn vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản có hiệu quả hơn
Theo hình thức đầu tư:
Gồm vốn đầu tư xây dựng mới, vốn đầu tư khôi phục, vốn đầu tư mở rộng đổi mới trang thiết bị
Theo cách này cho ta thấy, cần phải có kế hoạch bố trị nguồn vốn cho đầu tư XDCB như thế nào cho phù hợp với điền kiện thực tế và tương lai phát triển của các ngành, của các cơ sở
Theo nội dung kinh tế:
- Vốn cho xây dựng lắp đặt
- Vốn cho mua sắm máy móc thiết bị
- Vốn kiến thiết cơ bản khác
Như vậy, hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng Để phân tích cụ thể vai trò hoạt động này chúng ta phải sử dụng các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản
* Nội dung quản lý nhà nước về đầu tư bao gồm:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về đầu tư phát triển để huy động và điều tiết các nguồn lực cho đầu tư phát triển
- Ban hành, phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật, xây dựng các tiêu chuẩn quy phạm kỹ thuật và giám sát việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư; tổng hợp, kiến nghị hoặc hủy bỏ các văn bản pháp luật không còn phù hợp hoặc do các cấp ban hành không đúng thẩm quyền hoặc có nội dung không phù hợp
- Thực hiện QLNN về hợp tác quốc tế, đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động đầu tư theo quy định pháp luật về điều ước quốc tế
Trang 9- Quản lý nhà nước về hoạt động xúc tiến đầu tư; xây dựng hệ thống
thông tin quốc gia phục vụ hoạt động đầu tư
* Hoạt động xúc tiến đầu tư bao gồm các nội dung sau:
- Xây dựng chiến lược, kế hoạch, chính sách thu hút vốn đầu tư trong
nước và vốn đầu tư nước ngoài; tạo điều kiện để huy động các nguồn vốn đầu
tư của các thành phần kinh tế
- Thực hiện tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu, cung cấp thông tin về
môi trường, tiềm năng và cơ hội đầu tư
- Tổ chức các cơ sở xúc tiến đầu tư ở trong nước và nước ngoài để vận
động, hỗ trợ, hướng dẫn các nhà đầu tư tìm hiểu chính sách, quy định pháp
luật về đầu tư và lựa chọn lĩnh vực, địa điểm thực hiện dự án đầu tư
- Xây dựng danh mục dự án quốc gia thu hút vốn đầu tư, danh mục dự
án quốc gia thu hút vốn đầu tư của ngành và địa phương phù hợp với quy
hoạch, định hướng phát triển KT-XH trong từng thời kỳ
Căn cứ vào chiến lược, kế hoạch thu hút vốn đầu tư, các cơ quan
QLNN về đầu tư lập kế hoạch xúc tiến đầu tư hàng năm gửi Bộ Kế hoạch và
Đầu tư để phối hợp thực hiện
Kinh phí xúc tiến đầu tư của các cơ quan nhà nước được cấp từ ngân
sách và thực hiện theo quy định, hướng dẫn của Bộ Tài chính
- Cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư; quản lý thống nhất
hoạt động đăng ký đầu tư và cấp Giấy chứng nhận đầu tư
- Kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp
luật đầu tư đối với hoạt động QLNN về đầu tư và hoạt động của nhà đầu tư
Phạm vi thanh tra đầu tư, tổ chức và hoạt động thanh tra đầu tư thực
hiện theo quy định của Luật Đầu tư và quy định của pháp luật về thanh tra đối
với hoạt động QLNN về đầu tư và dự án đầu tư Hành vi vi phạm pháp luật về
đầu tư và việc xử lý vi phạm về đầu tư thực hiện theo quy định của pháp luật
- Hướng dẫn, hỗ trợ nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư và giải quyết những vướng mắc, yêu cầu của nhà đầu tư trong quá trình hoạt động đầu tư
- Đánh giá tác động và hiệu quả kinh tế vĩ mô của hoạt động đầu tư
- Phối hợp giữa các cơ quan QLNN các cấp trong quản lý hoạt động đầu tư
- Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ tăng cường năng lực quản lý đầu tư cho
hệ thống cơ quan QLNN về đầu tư các cấp
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo của các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư theo thẩm quyền Khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích trong hoạt động đầu tư hoặc xử lý vi phạm đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật
c Biện pháp quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư
Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với đầu tư và dự án đầu tư:
+ Sự cần thiết của QLNN đối với các dự án đầu tư: Nhà nước phải quản
lý các dự án đầu tư vì các dự án được thực hiện sẽ có ảnh hưởng đến lợi ích cộng đồng, lợi ích nhà nước nên cần phải quản lý xem xét kỹ trước khi cho phép đầu tư
+ Sự cần thiết khách quan của QLNN đối với các dự án quốc gia
vì các dự án quốc gia là vốn của nhà nước bỏ ra hoặc vốn tín dụng của nhà nước, hoặc vốn viện trợ do nhà nước đứng ra tiếp nhận và sử dụng
Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư:
+ Đối với các loại dự án nói chung, QLNN có chức năng:
- Ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực gây ra bởi đầu ra của các dự án
- Ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực do việc sử dụng đầu vào của các chủ dự án không đứng trên lợi ích toàn diện, lâu dài của đất nước
- Ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực khác mà có thể gây ra như các công trình XD được tạo ra bởi dự án như cảnh quan, thuần phong, mỹ tục, an ninh quốc gia
Trang 10+ Riêng đối với các dự án nhà nước, QLNN có thêm chức năng sau:
- Hỗ trợ các ban QLDA thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ
của người đại diện sở hữu nhà nước trong các dự án
- Kiểm tra, kiểm soát ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử
dụng vốn nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí NSNN
Biện pháp quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư:
Nhà nước thực hiện QLNN đối với các dự án bằng cách sau đây:
+ Thực hiện chế độ cấp Giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án
+ Thực hiện chế độ phê duyệt nhiều bước: Có ba bước phê duyệt sau:
- Phê duyệt chủ trương đầu tư:
- Phê duyệt nghiên cứu tiền khả thi (hay còn gọi là báo cáo đầu tư):
- Phê duyệt nghiên cứu khả thi (hay còn gọi là dự án đầu tư):
+ Thực hiện chế độ phân loại dự án để ấn định chế độ phê duyệt: Dự án
quốc gia áp dụng chế độ phê duyệt 3 lần; dự án nhóm A áp dụng chế độ phê
duyệt 2 lần; dự án nhóm B, C áp dụng chế độ phê duyệt 1 lần
+ Thực hiện chế độ phân loại dự án để phân cấp quyết định đầu tư:
Phân loại dự án để phân cấp phê duyệt là phân chia dự án thành các loại Dự
án quan trọng quốc gia: Thủ tướng chính phủ ra quyết định đầu tư Dự án A,
B, C: Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh
(Nghị định số 16/2005/NĐ-CP)
Dự án B, C có thể phân cấp quyết định đầu tư cho cơ quan cấp dưới
trực tiếp, chẳng hạn hội đồng quản trị Tổng công ty, Tổng cục trưởng, Chủ
tịch UBND cấp huyện, xã
+ Thực hiện chế độ đầu thầu bắt buộc:
Biện pháp này được thực hiện đối với các dự án đầu tư sử dụng vốn
nhà nước, DA đầu tư sử dụng vốn hỗn hợp trong đó vốn nhà nước chiếm từ
Theo quy định của Luật Đấu thầu năm 2005, có 3 hình thức đấu thầu để tuyển chọn nhà thầu:
- Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham dự
- Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà chủ đầu tư chỉ mời một số nhà thầu có đủ khả năng lực và kinh nghiệm tham gia đấu thầu (tối thiểu 5 nhà thầu)
- Chỉ định thầu là hình thức lựa chọn trực tiếp nhà thầu để tiến hành thi công xây dựng công trình Chỉ định thầu chỉ được phép áp dụng trong những trường hợp đặc biệt như sự cố do thiên tai, địch họa cần chỉ định nhà thầu để khắc phục ngay; gói thầu thuộc bí mật quốc gia; hay những gói thầu xây lắp
có giá trị dưới 1 tỷ đồng
Đối với mỗi gói thầu chỉ được tiến hành đấu thầu 01 lần
1.1.2 Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý nhà nước dự án đầu tư
Các nguyên tắc QLNN dự án đầu tư là các quy tắc chỉ đạo, các tiêu chuẩn hành vi mà các cơ quan QLNN phải tuân thủ trong quá trình quản lý dự
án đầu tư
Các nguyên tắc quản lý do con người đặt ra nhưng không phải do ý muốn chủ quan mà phải dựa trên các yêu cầu khách quan của các quy luật chi phối quá trình quản lý kinh tế Đồng thời các nguyên tắc này phải phù hợp với các mục tiêu của quản lý Phải đảm bảo tính hệ thống, tính nhất quán và phải được bảo đảm bằng pháp luật
Trang 11* Nguyên tắc tập trung dân chủ:
Nguyên tắc tập trung dân chủ là sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa hai
chỉ là tập trung hoặc chỉ là dân chủ "Dân chủ" là điều kiện, là tiền đề của tập
trung, cũng như "
tập trung" là cái bảo đảm cho dân chủ được thực hiện Hay
nói cách khác, tập trung phải dựa trên cơ sở dân chủ, dân chủ phải trong
khuôn khổ tập trung
Nguyên tắc tập trung dân chủ được đặt ra xuất phát từ lý do sau đây:
Hoạt động kinh tế là việc của công dân, nên công dân phải có quyền (đó là
dân chủ), đồng thời, trong một chừng mực nhất định, hoạt động kinh tế của
công dân có ảnh hưởng rõ rệt tới lợi ích nhà nước, lợi ích quốc gia, lợi ích
cộng đồng, do đó nhà nước cũng phải có quyền (đó là tập trung)
Hướng vận dụng nguyên tắc: Bảo đảm cho cả nhà nước và công dân,
cho cả cấp trên và cấp dưới, tập thể và các thành viên tập thể đều có quyền
nhất định, không thể chỉ có nhà nước hoặc chỉ có công dân, chỉ có cấp trên
hoặc chỉ có cấp dưới có quyền Có nghĩa là vừa phải có tập trung, vừa phải có
dân chủ
Quyền của mỗi bên phải được xác lập một cách có căn cứ khoa học và
thực tiễn Nghĩa là phải xuất phát từ yêu cầu và khả năng làm chủ của mỗi
chủ thể
Trong mỗi cấp của hệ thống quản lý nhiều cấp của nhà nước phải đảm
bảo vừa có cơ quan chủ quyền chung, vừa có cơ quan thẩm quyền riêng Mỗi
cơ quan phải có thẩm quyền rõ rệt, phạm vi thẩm quyền của cơ quan có thẩm
quyền riêng phải trong khuôn khổ thẩm quyền chung Trong cơ quan thẩm
quyền chung mỗi ủy viên phải được giao nhiệm vụ nghiên cứu chuyên sâu
một số vấn đề, có trách nhiệm phát biểu sâu sắc về các vấn đề đó, đồng thời
tập thể được trao đổi, bổ sung và biểu quyết đa số
Tập trung quan liêu vào cấp trên, vào Trung ương hoặc phân tán, chuyên quyền độc đoán của Nhà nước đến mức vi phạm nhân quyền hoặc dân chủ quá trớn trong hoạt động kinh tế đều trái với nguyên tắc tập trung dân chủ Khuynh hướng phân tán tự do vô tổ chức của nền sản xuất nhỏ đang là cản trở nguy hại và phổ biến hiện nay
* Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ Quản lý nhà nước theo ngành: QLNN theo ngành là việc quản lý về mặt
kỹ thuật, về nghiệp vụ chuyên môn của Bộ quản lý ngành ở Trung ương đối với tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc ngành trong phạm vi cả nước QLNN theo ngành bao gồm các nội dung sau đây:
- Xây dựng và triển khai thực hiện pháp luật, chủ trương chính sách phát triển kinh tế toàn ngành
- Xây dựng và triển khai thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
và các dự án phát triển kinh tế toàn ngành
- Xây dựng và triển khai thực hiện các chính sách, biện pháp phát triển nguồn nhân lực, nguồn vốn, nguồn nguyên liệu và khoa học công nghệ cho toàn ngành
- Xây dựng và triển khai thực hiện các quan hệ tài chính giữa các đơn
vị kinh tế trong ngành với NSNN
- Thống nhất trong toàn ngành và liên ngành về việc tiêu chuẩn hóa quy cách, chất lượng sản phẩm Hình thành tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng sản phẩm
- Thực hiện chính sách, biện pháp phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm chung cho toàn ngành và thực hiện sự bảo hộ sản xuất của ngành nội địa trong những trường hợp cấn thiết
- Áp dụng các hình thức tổ chức sản xuất khoa học và hợp lý các đơn vị sản xuất kinh doanh trong cùng ngành
Trang 12- Thanh tra, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh
tế trong ngành Định hướng đầu tư xây dựng lực lượng của ngành, chống sự
mất cân đối trong cơ cấu ngành và vị trí của ngành trong cơ cấu chung của
nền kinh tế quốc dân
- Thực hiện các chính sách, các biện pháp phát triển thị trường chung
cho toàn ngành, bảo hộ sản xuất nội địa
- Thống nhất hóa, tiêu chuẩn hóa quy cách, chất lượng hàng hóa và
dịch vụ, hình thành hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng sản phẩm để
cơ quan có thẩm quyền ban bố
- Thực hiện các biện pháp, các chính sách quốc gia trong việc phát triển
nguồn nhân lực, nguồn nguyên liệu, nguồn trí tuệ khoa học và công nghệ
chung cho toàn ngành
- Tham gia xây dựng các dự án Luật, Pháp lệnh, pháp quy, thể chế kinh
tế theo chuyên môn của mình để các cơ quan chức năng chuyên môn khác
hình thành hệ thống văn bản pháp luật quản lý ngành
Quản lý theo lãnh thổ: QLNN về kinh tế trên lãnh thổ là việc tổ chức,
điều hòa, phối hợp hoạt động của tất cả các đơn vị kinh tế phân bố trên địa
bàn lãnh thổ ( ở nước ta chủ yếu là theo lãnh thổ các đơn vị hành chính )
Nội dung quản lý theo lãnh thổ:
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch và dự án phát triển KT-XH (không
phân biệt kinh tế trung ương, kinh tế địa phương, các thành phần kinh tế khác
nhau ) nhằm xây dựng một cơ cấu kinh tế lãnh thổ hợp lý và có hiệu quả
- Điều hòa, phối hợp hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các đơn
vị kinh tế trên lãnh thổ nhằm tận dụng tối đa và sử dụng một cách có hiệu quả
nhất nguồn lực sẵn có tại địa phương
- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật của từng vùng lãnh thổ
bao gồm: Hệ thống giao thông vận tải, cung ứng điện năng, cấp thoát nước,
đường sá, cầu cống, hệ thống thông tin liên lạc để phục vụ chung cho cả cộng đồng kinh tế trên lãnh thổ
- Thực hiện công tác thăm dò, đánh giá tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn lãnh thổ
- Thực hiện sự phân bố các cơ sở sản xuất trên địa bàn lãnh thổ một cách hợp lý và phù hợp với lợi ích quốc gia
- Quản lý, kiểm soát việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên quốc gia
và việc xử lý chất thải, bảo vệ môi trường sinh thái trên địa bàn lãnh thổ Quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ là hai mặt không tách rời nhau mà phải được kết hợp chặt chẽ với nhau, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế Các lĩnh vực kinh tế thuộc bất cứ thành phần kinh tế nào, nằm trên địa bàn quản lý đều thuộc một ngành kinh tế - kỹ thuật nhất định và chịu sự quản lý của ngành (Bộ) Mặt khác, các đơn vị kinh tế thuộc các ngành kinh tế kỹ thuật khác nhau đều được phân bổ trên những địa bàn nhất định, chúng có quan hệ mật thiết với nhau về kinh tế và gắn bó với nhau trên các mặt xã hội, tạo nên một cơ cấu kinh tế - xã hội và chịu sự quản lý của chính quyền địa phương Đây là sự thống nhất giữa hai mặt: cơ cấu kinh tế ngành với cơ cấu kinh tế lãnh thổ trong một cơ cấu kinh tế chung Các hoạt động quản lý theo ngành của cơ quan nhà nước nhằm đề ra các chủ trương, chính sách phát triển toàn ngành, tạo môi trường thuận lợi cho các đơn vị kinh tế phát huy tính chủ động, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh
Sự kết hợp QLNN theo ngành và theo lãnh thổ được thực hiện như sau:
- Thực hiện đồng thời theo cả hai chiều: Chiều quản lý theo ngành và theo lãnh thổ Có nghĩa là các đơn vị đó phải chịu sự quản lý đồng thời của ngành (Bộ ), đồng thời nó phải chịu sự quản lý lãnh thổ của chính quyền địa phương trong một số nội dung theo chế độ quy định
Trang 13- Có sự phân công quản lý rành mạch cho các cơ quan quản lý theo
ngành và theo lãnh thổ, không trùng lắp, không bỏ sót về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn
- Các cơ quan QLNN theo mỗi chiều thực hiện chức năng, nhiệm vụ
quản lý theo thẩm quyền của mình trên cơ sở đồng quản, hiệp quản, tham
quản với cơ quan thuộc chiều kia theo quy định cụ thể của nhà nước Đồng
thời cùng có quyền và cùng nhau ra quyết định theo thẩm quyền, theo vấn đề
* Nguyên tắc phân định và kết hợp quản lý nhà nước về kinh tế với
quản lý sản xuất kinh doanh:
Có thể phân biệt sự khác nhau trên 5 tiêu chí sau đây:
- Về chủ thể quản lý: Chủ thể quản lý nhà nước về kinh tế là các cơ quan
nhà nước, còn chủ thể của quản lý sản xuất kinh doanh là các doanh nhân
- Về phạm vi quản lý: Nhà nước quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân,
quản lý tất cả các doanh nhân, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trên
tất cả các lĩnh vực, thuộc tất cả các ngành, còn doanh nhân thì quản lý doanh
nghiệp của mình QLNN về kinh tế là quản lý vĩ mô còn quản lý sản xuất kinh
doanh là quản lý vi mô
- Về mục tiêu quản lý: QLNN theo đuổi lợi ích toàn dân, lợi ích cộng
đồng (phát triển nền kinh tế quốc dân, ổn định sự phát triển kinh tế - chính trị
xã hội, tăng thu nhập quốc dân, tăng mức tăng trưởng của nền kinh tế, giải
quyết việc làm ) Quản lý sản xuất kinh doanh theo đuổi lợi ích riêng của
mình ( thu được lợi nhuận cao, ổn định và phát triển doanh nghiệp, tăng thị
phần, tạo uy tín cho sản phẩm của doanh nghiệp )
- Về phương pháp quản lý: Nhà nước áp dụng tổng hợp các phương
pháp (phương pháp hành chính, kinh tế, giáo dục ) trong đó, phương pháp đặc
trưng của QLNN là cưỡng chế bằng quyền lực nhà nước Trong khi đó, doanh
nhân chủ yếu áp dụng phương pháp kinh tế và giáo dục thuyết phục
- Về công cụ quản lý: Công cụ chủ yếu trong QLNN về kinh tế là: Đường lối phát triển kinh tế, chiến lược phát triển kinh tế, kế hoạch phát triển kinh tế, pháp luật kinh tế, chính sách kinh tế, lực lượng vật chất và tài chính của nhà nước Các doanh nghiệp có công cụ quản lý chủ yếu là: Chiến lược kinh doanh, kế hoạch sản xuất-kỹ thuật- tài chính, dự án đầu tư để phát triển kinh doanh, các hợp đồng kinh tế, các quy trình công nghệ, quy phạm pháp luật, các phương pháp và phương tiện hạch toán
* Nguyên tắc tăng cường pháp chế XHCN trong QLNN về kinh tế:
Một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay là một nền kinh tế đa sở hữu về tư liệu sản xuất Chính sự xuất hiện của nhiều loại hình kinh tế thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư nhân đòi hỏi nhà nước phải quản lý đối với nền kinh tế bằng nhiều biện pháp, trong đó đặc biệt phải coi trọng phương pháp quản lý bằng pháp luật, trên cơ sở pháp luật Thực tiễn QLNN đối với nền kinh tế ở nước ta trong những năm qua cho thấy tình trạng buông lỏng kỷ cương, kỷ luật, sự hữu khuynh trong việc thực hiện chức năng tổ chức, giáo dục, xem nhẹ pháp chế trong hoạt động kinh tế của nhiều doanh nghiệp đã làm cho trật tự kinh
tế của nước ta có nhiều rối loạn, gây ra những tổn thất không nhỏ cho đất nước, đồng thời làm giảm sút nghiêm trọng uy tín và làm lu mờ quyền lực của nhà nước Vì vậy, việc thực hiện nguyên tắc tăng cường pháp chế XHCN là một yêu cầu khách quan của quá trình quản lý kinh tế của nhà nước ta
Để thực hiện nguyên tắc trên, cần phải tăng cường công tác lập pháp và
tư pháp:
Về lập pháp, phải từng bước đưa mọi quan hệ kinh tế vào khuôn khổ pháp luật, các đạo luật phải được xây dựng đầy đủ, có chế tài rõ ràng, chính xác và đúng mực
Trang 14Về tư pháp, mọi việc phải được thực hiện nghiêm minh (từ khâu giám
sát, phát hiện, điều tra, công bố đến khâu xét xử, thi hành án ) không để xảy
ra tình trạng có tội không bị bắt, bắt rồi không xét xử, hoặc xét xử quá nhẹ, xử
rồi không thi hành án hoặc thi hành án nửa vời
1.1.3 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư bằng
nguồn ngân sách nhà nước
* Hoạt động quản lý nhà nước về sử dụng nguồn ngân sách nhà nước:
Cải cách hoạt động quản lý nhà nước về sử dụng nguồn ngân sách nhà
nước là một trong 4 nội dung của cải cách hành chính Nhiều nỗ lực về cải
cách quản lý và sử dụng nguồn ngân sách nhà nước đã được Chính phủ tập
trung xem xét và thực hiện Tuy nhiên, vấn đề quản lý và sử dụng ngân sách
nhà nước là một chủ đề “nóng“ hiện nay khi thất thoát, lãng phí, tham ô, tham
nhũng đang trở nên “quốc nạn” Thực tế chỉ ra rằng quản lý nhà nước về ngân
sách nhà nước nói chung còn nhiều bất cập, cụ thể:
- Công tác tài chính, tiền tệ còn nhiều bất cập
- Kỷ luật thu, chi ngân sách chưa tốt, gây tình trạng lãng phí, thất thoát
trong đầu tư xây dựng cơ bản, trong việc mua sắm thiết bị công
- Hệ thống hải quan, thuế còn gây nhiều bức xúc trong dư luận xã hội
và các doanh nghiệp
- Đổi mới quản lý tài chính công chưa theo kịp với cải cách trên các
lĩnh vực khác
* Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư bằng
nguồn ngân sách nhà nước
Đối với các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước đều thành lập Ban
QLDA thay mặt chủ đầu tư trực tiếp quản lý sử dụng vốn của nhà nước Tuy
vậy, hoạt động quản lý của các Ban QLDA chỉ giới hạn trong phạm vi quản
trị dự án chứ không phải hoạt động QLNN đối với các dự án nhà nước Các
Ban QLDA vẫn phải chịu sự quản lý của tất cả các cơ quan quản lý khác vì hai lý do:
Ban QLDA thực hiện trách nhiệm với tư cách chủ đầu tư, họ là người đại diện cho nhà nước về mặt vốn đầu tư, như vậy các ảnh hưởng khác của dự
án như tác động của môi trường, an ninh quốc phòng, trình độ công nghệ ,
họ không có trách nhiệm và không đủ khả năng quan tâm đến Nếu không có
sự QLNN đối với các Ban QLDA này, các dự án nhà nước trong khi theo đuổi các mục tiêu chuyên ngành có thể sẽ làm tổn hại quốc gia ở các mặt mà họ không lường hết hoặc không quan tâm
Mặt khác, bản thân các Ban QLDA cũng có thể không thực hiện trọn vẹn trách nhiệm đại diện sở hữu vốn, từ đó sở hữu vốn sai mục đích, kém hiệu quả, thậm chí tham ô, chiếm đoạt vốn nhà nước
Do vậy QLNN đối với các dự án đầu tư từ nguồn ngân sách nhằm thực hiện các mục tiêu sau:
- Sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả nguồn vốn, tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động và các tiềm năng khác, bảo vệ môi trường sinh thái, chống tham ô lãng phí trong sử dụng vốn đầu tư và khai thác các kết quả của đầu tư
- Đảm bảo cho quá trình đầu tư, xây dựng công trình đúng quy hoạch
và thiết kế được duyệt, đảm bảo bền vững và mỹ quan, đảm bảo chất lượng và thời hạn xây dựng với chi phí hợp lý
- Ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực do việc sử dụng đầu vào của các chủ dự án không đúng trên lợi ích toàn diện, lâu dài của đất nước và các ảnh hưởng tiêu cực khác có thể gây ra như các công trình xây dựng được tạo ra bởi dự án cảnh quan, thuần phong mỹ tục, an ninh quốc gia
- Hỗ trợ các Ban QLDA thực hiện đúng vai trò chức năng, nhiệm vụ của người đại diện sở hữu nhà nước trong các dự án
- Kiểm tra, kiểm soát ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí ngân sách của nhà nước
Trang 15Một số quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quản lý ngân
sách nhà nước:
Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã xác định:
“Tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách kinh tế; chính sách và hệ
thống thuế; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế của Nhà nước Nhà nước quản lý
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bằng luật pháp, cơ chế,
chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các nguồn lực kinh tế, giữ
vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo lập, phát triển đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị
trường và các loại thị trường, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao sức
cạnh tranh của nền kinh tế, định hướng phát triển, phát huy mặt tích cực, hạn
chế, khắc phục mặt trái, tiêu cực của cơ chế thị trường; phát huy dân chủ,
quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực kinh tế; huy động và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực; từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại
1.1.4 Các phương pháp quản lý dự án đầu tư
* Phương pháp kinh tế:
Phương pháp kinh tế là cách thức tác động gián tiếp của nhà nước, dựa
trên những lợi ích kinh tế có tính hướng dẫn lên đối tượng quản lý nhằm làm
cho các đối tượng quản lý tự giác hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Đặc điểm:
Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động lên đối tượng quản lý
không bằng cưỡng chế hành chính mà bằng lợi ích, tức là Nhà nước chỉ đề ra
mục tiêu, nhiệm vụ phải đạt, đặt ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế,
những phương tiện vật chất có thể sử dụng để họ tự tổ chức việc thực hiện
nhiệm vụ Có thể thấy đây là phương pháp quản lý tốt nhất để thực hiện tiết
kiệm và nâng cao hiệu quả kinh tế Phương pháp này mở rộng quyền hành
động cho các chủ thể kinh tế, đồng thời cũng tăng trách nhiệm kinh tế của họ
Sử dụng chính sách ưu đãi kinh tế
Trường hợp áp dụng phương pháp kinh tế:
Phương pháp kinh tế được áp dụng khi cần điều chỉnh các hành vi không có nguy cơ gây hậu quả xấu cho cộng đồng, cho nhà nước hoặc chưa
đủ điều kiện để áp dụng phương pháp hành chính cưỡng chế Trên thực tế, có những hành vi mà nếu không có sự điều chỉnh của nhà nước sẽ không diễn ra theo chiều hướng có lợi cho nhà nước và cho cộng đồng, nhưng cũng không
có nghĩa là nó gây ra những thiệt hại cần phải điều chỉnh tức thời Ví dụ, nhà nước mong muốn các nhà đầu tư trong và ngoài nước bỏ vốn đầu tư vào các vùng, miền núi biên cương, hải đảo để cải thiện đời sống dân cư ở các vùng này, song nếu không có các ưu đãi hay khuyến khích của nhà nước, các nhà đầu tư chỉ muốn đầu tư vào các vùng đồng bằng, đô thị Hành vi đầu tư này rõ ràng trái với lợi ích của nhà nước mong muốn song không phải vì thế mà gây hại cho nhà nước và cộng đồng Vậy trong trường hợp đó, nếu muốn nhà đầu
tư hành động theo hướng có lợi cho mình, nhà nước phải chia sẻ lợi ích kinh
tế của họ bằng các hình thức như: giảm thuế, miễn thuế thu nhập, cho vay vốn với lãi xuất ưu đãi, hỗ trợ về kỹ thuật
* Phương pháp hành chính:
Phương pháp hành chính là cách thức tác động trực tiếp của nhà nước thông qua các quyết định dứt khoát có tính bắt buộc trong khuôn khổ luật pháp lên các chủ thể kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu của nhà nước trong những tình huống nhất định
Trang 16Đặc điểm: Phương pháp này mang tính bắt buộc và quyền lực: Tính bắt
buộc đòi hỏi các đối tượng quản lý phải chấp hành nghiêm chỉnh các tác động
hành chính, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời thích đáng Tính quyền lực đòi
hỏi các cơ quan QLNN chỉ được phép đưa ra các tác động hành chính đúng
thẩm quyền của mình Thực chất của phương pháp này là sử dụng quyền lực
nhà nước để tạo sự phục tùng của đối tượng quản lý trong hoạt động và quản
lý của nhà nước
Hướng tác động:
Tác động về mặt tổ chức: Nhà nước xây dựng và không ngừng hoàn
thiện khung luật pháp, tạo ra một hành lang pháp lý cho các chủ thể tham gia
vào hoạt động của nền kinh tế Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật quy định về mặt tổ chức hoạt động của các chủ thể kinh tế và những
quy định thuộc về thủ tục hành chính buộc tất cả các chủ thể từ cơ quan nhà
nước đến các doanh nghiệp phải tuân thủ
Tác động điều chỉnh hành động, hành vi của các chủ thể kinh tế là
những tác động mang tính bắt buộc của nhà nước lên quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế, nhằm đảm bảo thực hiện các mục
tiêu quản lý của nhà nước
Trường hợp áp dụng phương pháp hành chính:
Phương pháp hành chính được dùng để điều chỉnh các hành vi mà hậu
quả của có thể gây thiệt hại cho cộng đồng, cho nhà nước Trong trường hợp
những hành vi này diễn ra khác với ý muốn của nhà nước có thể gây ra những
thiệt hại nghiêm trọng cho xã hội thì nhà nước phải sử dụng phương pháp
cưỡng chế để ngay lập tức đưa hành vi đó tuân theo một chiều hướng nhất
định trong khuôn khổ chính sách luật pháp về kinh tế
* Phương pháp giáo dục:
Phương pháp giáo dục là cách thức tác động của nhà nước vào nhận
thức và tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác, tính tích cực và
nhiệt tình lao động của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao
Phương pháp giáo dục mang tính thuyết phục cao, không dùng sự cưỡng chế, không dùng lợi ích vật chất mà là tạo ra sự nhận thức về tính tất yếu khách quan để đối tượng quản lý tự giác thi hành nhiệm vụ
Hướng tác động:
Giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, giáo dục ý thức lao động sáng tạo hiệu quả
Xây dựng tác phong lao động trong thời đại công nghiệp hóa-hiện đại hóa
Trường hợp áp dụng phương pháp giáo dục:
Phương pháp giáo dục cần được áp dụng trong mọi trường hợp và phải được kết hợp với hai phương pháp trên để nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý Sở dĩ như vậy là do, việc sử dụng phương pháp hành chính hay kinh
tế để điều chỉnh các hành vi của đối tượng quản lý suy cho cùng vẫn là tác động bên ngoài, do đó không triệt để toàn diện, một khi không có những ngoại lực này nữa đối tượng rất có thể lại có nguy cơ không tuân thủ người quản lý, hơn nữa bản thân phương pháp hành chính hay phương pháp kinh tế cũng phải qua hoạt động thuyết phục, giáo dục thì mới truyền tới đối tượng quản lý, giúp họ cảm nhận được áp lực hoặc động lực, biết sợ thiệt hại hoặc muốn có lợi ích, từ đó tuân theo những mục tiêu quản lý do nhà nước đề ra
1.1.5 Các công cụ quản lý nhà nước để quản lý dự án đầu tư
Công cụ quản lý nói chung là tất cả mọi phương tiện mà chủ thể quản lý
sử dụng để tác động lên đối tượng quản lý Công cụ quản lý các dự án đầu tư của nhà nước là tổng thể các phương tiện mà nhà nước sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý của nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu đã xác định Công cụ quản lý của nhà nước là một hệ thống bao gồm nhiều loại, trong đó có công cụ quản lý thể hiện mục tiêu, ý đồ của nhà nước, có công cụ thể hiện chuẩn mực xử sự hành vi của các chủ thể kinh tế, có công cụ thể hiện quan điểm của nhà nước trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế, các công
cụ vật chất thuần túy
Trang 17Nhóm công cụ thể hiện ý đồ, mục tiêu quản lý của Nhà nước:
Xác định mục tiêu quản lý là việc khởi đầu quan trọng trong hoạt động
quản lý của nhà nước Các mục tiêu chỉ ra phương hướng và các yêu cầu về
số lượng, chất lượng cho các hoạt động quản lý của nhà nước nhằm giải quyết
các vấn đề cơ bản của nền kinh tế Các công cụ thể hiện ý đồ mục tiêu của
quản lý có thể, bao gồm:
Đường lối phát triển KT-XH: là khởi đầu của quá trình xây dựng và
phát triển kinh tế của đất nước do Đảng cầm quyền của các quốc gia xây dựng
và thực hiện đó là việc xác định trước một cái đích mà nền kinh tế cần đạt tới,
để từ đó mới căn cứ vào thực trạng hoàn cảnh của nền kinh tế mà tìm ra lối đi,
cách đi, trình tự và thời gian tiến hành để đạt tới đích đã xác định
Ở nước ta, đường lối phát triển KT-XH đất nước gắn liền với phát triển
xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện được thể hiện trong các văn
kiện Đại hội Đảng qua các kỳ Đại hội
Đường lối phát triển kinh tế có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với vận
mệnh của đất nước, nó được coi là công cụ hàng đầu của nhà nước trong sự
nghiệp quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân Đường lối đúng sẽ đưa đất nước
đi đến phát triển, ổn định, giàu mạnh, công bằng và văn minh Đường lối sai
sẽ đưa đất nước đi làm đường lạc lối, là tổn thất, là đỗ vỡ, là suy thoái, là lạc
hậu khôn lường về mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội: Là một hệ thống các quan điểm cơ
bản, các mục tiêu lớn và các giải pháp chủ yếu được lựa chọn nhằm đạt được
một bước đường lối phát triển kinh tế đất nước trong một chặng thời gian đủ
dài Thực chất chiến lược phát triển kinh tế xã hội là sự cụ thể hóa đường lối
phát triển đất nước trong mỗi chặng đường lịch sử đất nước (thường là 10
năm, 15 năm hoặc 20 năm) và cũng do Đảng cầm quyền chỉ đạo và xây dựng
Ở nước ta, chiến lược phát triển kinh tế xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam
xây dựng trong các Đại hội Đảng toàn quốc, như chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội từ năm 2010 đến năm 2020
Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội: Là việc đinh hướng phát triển kinh
tế dài hạn, trong đó xác định rõ quy mô và giới hạn cho sự phát triển Thực chất quy hoạch và xác định khung vĩ mô về tổ chức không gian nhằm làm cung cấp những căn cứ khoa học cho các cơ quan QLNN để chỉ đạo vĩ mô nền kinh tế thông qua các kế hoạch, các chương trình dự án đầu tư đảm bảo cho nền kinh tế phát triển mạnh
Thực chất của các quy hoạch là cụ thể hóa chiến lược về không gian và thời gian Trên thực tế công tác quản lý kinh tế của nhà nước có các loại quy hoạch như sau: Quy hoạch Quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch lãnh thổ, quy hoạch ngành, quy hoạch địa phương
Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội: Kế hoạch là cụ thể hóa chiến lược dài hạn, kế hoạch trung hạn và kế hoạch hàng năm Thực chất kế hoạch là một
hệ thống các mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản được xác định như: tốc độ phát triển kinh tế, các cơ cấu kinh tế các chỉ tiêu kế hoạch bao quát các ngành, các vùng, các lĩnh vực và thành phần kinh tế
Ở Việt Nam, các kế hoạch phát triển KT-XH được xem là công cụ quan trọng trong quản lý kinh tế của nhà nước
Chương trình phát triển KT-XH là tổ hợp các mục tiêu, các nhiệm vụ, các thủ tục, các bước phải tiến hành, các nguồn lực và các yếu tố cần thiết để thực hiện một ý đồ lớn, một mục tiêu nhất định đã được xác định trong một thời kỳ nhất định Ví dụ chương trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, chương trình cải cách nền hành chính quốc gia, chương trình đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, chương trình phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, chương trình phát triển công nghiệp, chương trình phát triển kết cấu hạ tầng, chương trình phát triển kinh tế miền núi, vùng đồng bào dân tộc, chương trình xóa đói giảm nghèo
Trang 18Chương trình là cơ sở quan trọng để tập trung những nguồn lực hạn hẹp
vào việc giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ trọng tâm của kế hoạch nhà
nước trong từng thời kỳ và cho phép khắc phục tình trạng tách rời giữa các
nhiệm vụ của kế hoạch đã được xác định để thực hiện kế hoạch nhà nước một
cách có hiệu quả nhất
Nhóm công cụ thể hiện chuẩn mực xử sự hành vi của các chủ thể
tham gia hoạt động trong nền kinh tế:
Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, thực hiện sự quản lý của mình
đối với xã hội nói chung và nền kinh tế quốc dân nói riêng, chủ yếu bằng luật
pháp và theo pháp luật
Hệ thống văn bản pháp luật trong QLNN về kinh tế nói chung và quản
lý dự án đầu tư nói riêng có hai loại: Văn bản quy phạm pháp luật và văn bản
áp dụng quy phạm pháp luật:
- Văn bản quy phạm pháp luật gồm: Văn bản do Quốc Hội và Ủy ban
thường vụ Quốc Hội ban hành (Hiến pháp, Luật, Nghị quyết, Pháp lệnh );
Văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ở Trung ương ban hành để
thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Ủy ban thường vụ
Quốc Hội ban hành (Lệnh, Nghị quyết, Chỉ thị, Nghị định, Thông tư ); Văn
bản do HĐND, UBND các cấp ban hành để thi hành văn bản quy phạm pháp
luật của Quốc Hội, Ủy ban Thường vụ Quốc Hội và văn bản của cơ quan nhà
nước cấp trên
- Văn bản áp dụng quy phạm pháp luật trong QLNN về kinh tế nói
chung và quản lý dự án nói riêng là những văn bản quy phạm pháp luật được
ban hành để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể đối với các đối tượng cụ thể
Nhóm công cụ thể hiện tư tưởng quan điểm của Nhà nước trong việc
điều chỉnh các hoạt động của nền kinh tế:
Công cụ thể hiện tư tưởng, quan điểm của nhà nước trong việc điều
chỉnh các hoạt động của nền kinh tế nói chung và quản lý dự án nói riêng, đó
chính là chính sách kinh tế Chính sách kinh tế là một hệ thống phức tạp gồm nhiều loại:
- Chính sách thu nhập với các công cụ chủ yếu: Giá cả, tiền lương
- Chính sách ngoại thương với các công cụ chủ yếu: Thuế nhập khẩu, hạn ngạch, trợ cấp xuất khẩu, tỷ giá hối đoái, cán cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế
Nhóm công cụ vật chất được dùng làm áp lực, hoặc động lực tác động vào đối tượng quản lý của Nhà nước có thể bao gồm:
- Đất đai, rừng núi, sông hồ, các nguồn nước, thềm lục địa
- Tài nguyên trong lòng đất
- Các ngân hàng thương mại quốc doanh
- Vốn và tài sản của nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước
- Các loại quỹ chuyên dùng vào công tác quản lý của nhà nước
Nhóm công cụ để sử dụng các công cụ nói trên:
Chủ thể sử dụng của các công cụ quản lý của nhà nước về kinh tế là các
cơ quan quản lý của nhà nước về kinh tế Đó chính là các cơ quan hành chính nhà nước, các cán bộ công chức nhà nước trong cơ quan hành chính nhà nước, các công sở và các phương tiện kinh tế - kỹ thuật được sử dụng trong hoạt động quản lý kinh tế
1.1.6 Phân cấp quản lý nhà nước về đầu tư
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư trong phạm vi cả nước; chỉ đạo xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đầu tư phát triển theo ngành, lĩnh vực và vùng kinh tế; ban hành chính
Trang 19sách, văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư, phân cấp quản lý nhà nước về
đầu tư cho các Bộ ngành, địa phương;
- Thủ tưởng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành và địa phương thực hiện
luật pháp, chính sách về đầu tư; phê duyệt hoặc ủy quyền phê duyệt quy
hoạch; quyết định chủ trương đầu tư đối với những dự án đầu tư thuộc thẩm
quyền; quyết định hoặc cho phép thành lập các khu công nghiệp, khu chế
xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế; chỉ đạo giải quyết những vướng mắc
trong quá trình điều hành, quản lý hoạt động đầu tư vượt quá thẩm quyền của
các Bộ, ngành, địa phương;
- Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh,
Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh
tế có chương trình đối ngoại với cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư;
- Các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ban Quản lý có trách
nhiệm quản lý, hướng dẫn hoạt động đầu tư trong lĩnh vực và địa bàn theo
thẩm quyền; bảo đảm thủ tục đầu tư minh bạch, đơn giản, đúng thời hạn
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND cấp tỉnh không được ban hành các
văn bản quy định lĩnh vực cấm đầu tư, lĩnh vực đầu tư có điều kiện và các ưu
đãi đầu tư không đúng với quy định của pháp luật
* Quyền hạn, trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư:
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh xây dựng, rà
soát các văn bản pháp luật, chính sách về đầu tư Hướng dẫn, phổ biến, theo
dõi, kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư Ban
hành các mẫu văn bản liên quan đến thủ tục đầu tư để áp dụng trong phạm vi
cả nước
- Tổ chức, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương xây dựng, tổng
hợp trình Chính phủ về quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển; quy hoạch tổng
thể quốc gia về phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh trong việc lập danh mục dự án quốc gia thu hút vốn đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; tham mưu về việc bổ sung quy hoạch đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ không nằm trong quy hoạch; có ý kiến với cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư về sự cần thiết của dự án đầu tư thuộc thẩm quyền chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ mà thuộc lĩnh vực chưa có quy hoạch để trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận
- Thẩm tra các dự án đầu tư quan trọng quốc gia và dự án đầu tư khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
- Thực hiện QLNN về hoạt động xúc tiến đầu tư; xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện chương trình quốc gia về vận động xúc tiến đầu tư; phối hợp với các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh trong việc tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư; đặt đại diện tổ chức xúc tiến đầu tư tại nước ngoài; thực hiện quản lý quỹ xúc tiến đầu tư quốc gia
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành đàm phán và trình Chính phủ ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động đầu tư; thực hiện hợp tác quốc tế về hoạt động đầu tư
- Tổ chức hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, tăng cường năng lực quản lý đầu tư cho hệ thống cơ quan QLNN về đầu tư các cấp
- Phối hợp với Tổng cục Thống kê tổ chức hoạt động thống kê về đầu
tư theo quy định của pháp luật về thống kê; tổ chức, xây dựng hệ thống thông tin quốc gia phục vụ hoạt động đầu tư
- Phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành, triển khai và thực hiện dự án đầu tư
- Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động đầu tư
- Kiểm tra, giám sát, thanh tra hoạt động đầu tư theo thẩm quyền; xây dựng chương trình, kế hoạch, kiểm tra, giám sát liên ngành đối với hoạt động đầu tư; kiểm tra việc cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư của cơ
Trang 20quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của Luật đầu tư và Nghị định
này; kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy hoạch đã được cấp có thẩm
quyền phê duyệt trong quá trình đầu tư
* Quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước về đầu tư của Bộ Tài chính:
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng
pháp luật, chính sách hỗ trợ và ưu đãi đầu tư; hướng dẫn trình tự, thủ tục về
hỗ trợ và hưởng ưu đãi đầu tư thuộc thẩm quyền
- Cấp phép hoạt động đối với dự án trong lĩnh vực thuộc thẩm quyền;
kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của các dự án đã cấp phép
- Thẩm tra và có ý kiến bằng văn bản về các vấn đề có liên quan đến
lĩnh vực tài chính, bảo lãnh về tài chính của Chính phủ đối với dự án đầu tư
thuộc thẩm quyền chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ và dự án thuộc lĩnh
vực đầu tư có điều kiện
- Tổ chức kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về tài
chính, kế toán, thuế và hải quan liên quan đến hoạt động đầu tư
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và UBND cấp tỉnh giải
quyết các khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư trong lĩnh vực thuế, phí và lệ
phí, thủ tục hải quan, quản lý tài chính và hoạt động tài chính khác
* Quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước về đầu tư của Bộ
Công thương:
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng
pháp luật, chính sách về thương mại liên quan đến hoạt động đầu tư
- Cấp giấy phép hoạt động đối với dự án trong lĩnh vực thuộc thẩm
quyền; kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của các dự án đã cấp phép
- Thẩm tra và có ý kiến bằng văn bản về các vấn đề liên quan đến hoạt
động thương mại của dự án đầu tư thuộc thẩm quyền chấp thuận của Thủ
tướng Chính phủ và dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện; công bố các
điều kiện cam kết liên quan đến đầu tư trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
- Tổ chức kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động thương mại liên quan đến hoạt động đầu tư
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, UBND cấp tỉnh giải quyết các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hoạt động thương mại của dự
- Thẩm tra và có ý kiến bằng văn bản về các vấn đề liên quan đến đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng, quản lý tài nguyên và môi trường của các dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ và các dự
án thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện
- Tổ chức kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách liên quan đến đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng, quản lý tài nguyên và môi trường liên quan đến hoạt động đầu tư
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, UBND cấp tỉnh giải quyết các khó khăn, vướng mắc của các nhà đầu tư trong lĩnh vực đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng, khai thác và sử dụng tài nguyên và môi trường
* Quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước về đầu tư của Bộ Khoa học và Công nghệ:
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng pháp luật, chính sách và hướng dẫn thực hiện các quy định về khoa học công
Trang 21nghệ liên quan đến hoạt động đầu tư; trình Thủ tướng Chính phủ quy hoạch
tổng thể phát triển khu công nghệ cao
- Thẩm tra và có ý kiến bằng văn bản về các vấn đề liên quan đến khoa
học công nghệ của các dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận của Thủ tướng
Chính phủ và các dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện
- Tổ chức kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính
sách về khoa học công nghệ liên quan đến hoạt động đầu tư
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, UBND cấp tỉnh giải
quyết các khó khăn, vướng mắc của các nhà đầu tư trong lĩnh vực khoa học
công nghệ của dự án đầu tư
* Quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước về đầu tư của Bộ Xây dựng:
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng
pháp luật, chính sách và hướng dẫn thực hiện các quy định về xây dựng
- Thẩm tra và có ý kiến bằng văn bản về các vấn đề liên quan đến
QLNN về xây dựng của các dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận của Thủ
tướng Chính phủ và các dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện
- Tổ chức kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính
sách, tiêu chuẩn, quy phạm về xây dựng liên quan đến hoạt động đầu tư
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, UBND cấp tỉnh giải
quyết các khó khăn, vướng mắc của các nhà đầu tư trong lĩnh vực xây dựng
đối với dự án đầu tư
* Quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước về đầu tư của Ngân
hàng Nhà nước:
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng
pháp luật, chính sách và hướng dẫn thực hiện các quy định về tín dụng và
quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động đầu tư
- Cấp phép hoạt động đối với dự án trong lĩnh vực thuộc thẩm quyền;
kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của các dự án đã được cấp phép
- Thẩm tra và có ý kiến bằng văn bản về các vấn đề liên quan đến tín dụng và quản lý ngoại hối của các dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ và các dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện
- Tổ chức kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách về tín dụng và quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động đầu tư
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, UBND cấp tỉnh giải quyết các khó khăn, vướng mắc của các nhà đầu tư trong lĩnh vực tín dụng và quản lý ngoại hối của dự án đầu tư
* Quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước về đầu tư của các Bộ quản lý ngành:
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm QLNN về đầu tư đối với lĩnh vực được phân công, cụ thể như sau:
- Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ ngành có liên quan trong việc xây dựng pháp luật, chính sách liên quan đến hoạt động đầu tư
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng
và ban hành pháp luật, chính sách, tiêu chuẩn quy phạm kỹ thuật và hướng dẫn thực hiện
- Trình Chính phủ ban hành các điều kiện đầu tư đối với lĩnh vực đầu
tư của ngành; tổ chức vận động, xúc tiến đầu tư chuyên ngành
- Công bố công khai quy hoạch, kế hoạch, tiêu chuẩn kỹ thuật, điều kiện đầu tư, danh mục dự án thu hút vốn đầu tư của ngành
- Thẩm tra và có ý kiến bằng văn bản về khả năng đáp ứng điều kiện
mà dự án đầu tư phải đáp ứng đối với các dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ và các dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện
- Kiểm tra, thanh tra, giám sát chuyên ngành việc đáp ứng các điều kiện đầu tư và quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền
Trang 22- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và UBND cấp tỉnh giải
quyết các khó khăn, vướng mắc của các dự án đầu tư trong lĩnh vực thuộc
chuyên ngành quản lý của mình
* Quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước về đầu tư của Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh:
- Căn cứ vào quy hoạch phát triển KT-XH, phối hợp với các Bộ, ngành
liên quan lập và công bố Danh mục dự án thu hút đầu tư tại địa phương; tổ
chức vận động và xúc tiến đầu tư
- Chủ trì tổ chức việc đăng ký đầu tư, thẩm tra và cấp Giấy chứng nhận
đầu tư; điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư; quyết định chấm dứt hoạt
động của dự án đầu tư trước thời hạn đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền
- Thực hiện chức năng QLNN đối với dự án đầu tư trên địa bàn ngoài
khu công nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu
kinh tế theo các nội dung chủ yếu sau:
+ Theo dõi, giám sát, kiểm tra việc thực hiện mục tiêu đầu tư quy định
tại Giấy chứng nhận đầu tư, tiến độ góp vốn và triển khai dự án đầu tư; giám
sát, kiểm tra việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính, quan hệ lao động tiền
lương, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao
động, hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, bảo vệ môi trường sinh
thái; chủ trì hoặc tham gia cùng các Bộ, ngành thực hiện thanh tra các dự án
đầu tư trên địa bàn
+ Tổ chức thực hiện việc giải phóng mặt bằng; cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và giám sát việc sử dụng đất
+ Giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư; kiến nghị Thủ
tướng Chính phủ hoặc các Bộ, ngành có liên quan giải quyết những vấn đề
vượt thẩm quyền
+ Đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư trên địa bàn
- Chỉ đạo lập quy hoạch chi tiết xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất và phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất theo quy định của pháp luật về xây dựng
- Định kỳ hàng quý, 6 tháng và hàng năm, chủ trì, phối hợp với Ban Quản lý tổng hợp để báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư về hoạt động đầu tư trên địa bàn
* Quyền hạn, trách nhiệm QLNN về đầu tư của UBND cấp huyện:
Hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp xã, các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động xây dựng trên địa bàn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng;
Kiểm tra định kỳ, đột xuất việc tuân thủ quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng đối với các công trình xây dựng được ủy quyền quyết định đầu tư và cấp giấy phép xây dựng trên địa bàn;
Phối hợp với Sở Xây dựng, Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành kiểm tra công trình xây dựng trên địa bàn khi được yêu cầu;
Báo cáo sự cố và giải quyết sự cố theo quy định tại Điều 37, Điều 38 của Nghị định số 15/NĐ-CP;
Tổng hợp và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Xây dựng định kỳ hằng năm, đột xuất việc tuân thủ quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng và tình hình chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn
* Quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước về đầu tư của Ban quản
lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế:
- Tham gia ý kiến với các Bộ, ngành địa phương trong việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, quy hoạch liên quan đến hoạt động đầu tư, phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế
Trang 23- Thực hiện việc đăng ký đầu tư; thẩm tra và cấp, điều chỉnh, thu hồi
Giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền
- Kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện mục tiêu đầu tư quy định
tại Giấy chứng nhận đầu tư, tiến độ góp vốn và triển khai dự án đầu tư;
phối hợp kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về lao động tiền
lương, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động và người sử dụng
lao động, hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, bảo vệ môi trường
sinh thái đối với các dự án trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công
nghệ cao, khu kinh tế
- Giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư trong khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế và kiến nghị Thủ tướng
Chính phủ hoặc các Bộ, ngành có liên quan và UBND cấp tỉnh giải quyết
những vấn đề vượt thẩm quyền
- Đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư trong khu công nghiệp, khu chế
xuất, khu kinh tế
- Định kỳ hàng quý, 6 tháng và hàng năm, gửi báo cáo về hoạt động
đầu tư trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế
cho UBND cấp tỉnh và Bộ Kế hoạch và đầu tư
1.1.7 Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước các dự
án đầu tư bằng nguồn ngân sách
Hiệu quả là tiêu chí đánh giá mọi hoạt động nói chung và hoạt động
QLNN nói riêng Đánh giá hiệu quả QLNN các dự án đầu tư từ nguồn ngân
sách nhà nước là công việc khó khăn và phức tạp bởi lẽ, hoạt động QLNN là
hoạt động mang tính đặc thù, hoạt động này không trực tiếp sáng tạo ra các
giá trị vật chất nhưng bản thân nó có những ảnh hưởng nhất định đến quá
trình sáng tạo ra giá trị vật chất, làm cho quá trình này nhiều khi được đánh
giá chủ yếu mang tính chất định tính chứ không phải định lượng Bên cạnh
đó, còn có nhiều yếu tố không thể định lượng một cách cụ thể, chính xác,
chẳng hạn như năng lực, uy tín, trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm và khả năng
am hiểu về các lĩnh vực xã hội cơ bản của chủ thể tiến hành hoạt động QLNN Những yếu tố này có vai trò, tác dụng rất lớn đối với hoạt động QLNN nhưng không thể lượng hóa như các chỉ số khác
Cũng như bất kỳ sự đánh giá một sự vật, hiện tượng nào đó, việc đánh giá hiệu quả hoạt động QLNN cùng cần có những tiêu chí nhất định Việc xác định hệ thống tiêu chí là luận cứ khoa học bảo đảm cho việc đánh giá được khách quan, đúng đắn Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động QLNN dự
án đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước như sau
Thứ nhất, Đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế của địa phương
QLNN các dự án đầu tư hợp lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư,
từ đó tác động tích cực đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Quản lý dự án đầu tư liên quan trực tiếp đến các chính sách tập trung và phân bổ vốn trong nền kinh tế Các chính sách, cơ chế huy động và phân bổ vốn hợp lý không chỉ góp phần làm tăng quy mô vốn trong nền kinh tế mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, gia tăng mức đóng góp của nhân tố vốn trong tốc độ tăng trưởng Ngược lại các chủ trương, chính sách đầu tư không hợp lý, năng lực quản lý yếu kém có thể dẫn đến sự mất cân đối trong huy động các nguồn lực, hiệu quả và mức độ đóng góp của các nguồn lực không tương xứng với tiềm năng, dẫn đến tác động tiêu cực trong tăng trưởng kinh tế Chẳng hạn, với chính sách bao cấp trong đầu tư (qua chế độ cấp phát vốn, tín dụng ) một mặt sẽ tạo ra khan hiếm và lãng phí vốn trong một số đối tượng được bao cấp, phân bổ vốn không hợp lý dẫn đến hiệu quả đầu tư không cao, do đó tác động tiêu cực đến tăng trưởng và phát triển kinh tế
Chính sách đầu tư của một quốc gia, năng lực quản lý hoạt động đầu tư của các cấp, các yếu tố của môi trường đầu tư và yếu tố thể chế nền kinh tế thị trường có tác động mạnh đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và các nguồn lực
khác và sau cùng, tác động đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế
Trang 24Thứ hai, những chuyển biến trong công tác chống thất thoát, lãng phí
trong đầu tư:
Vốn đầu tư thất thoát diễn ra từ khâu chuẩn bị dự án, thẩm định và phê
duyệt dự án đầu tư đến khâu thực hiện đầu tư và xây dựng Tình trạng đầu tư
không theo quy hoạch được duyệt; khâu khảo sát nghiên cứu thiếu tính đồng
bộ, không đầy đủ các chỉ tiêu, khả năng tài chính, nguồn nguyên liệu, bảo vệ
môi trường, điều tra thăm dò thị trường không kỹ; chủ trương đầu tư không
đúng khi xem xét, phê duyệt dự án đầu tư Việc thẩm định và phê duyệt chỉ
quan tâm tới tổng mức đầu tư, không quan tâm tới hiệu quả, điều kiện vận
hành của dự án, nên nhiều dự án sau khi hoàn thành và đưa vào sử dụng
không phát huy tác dụng gây lãng phí rất lớn
Lãng phí, thất thoát, tiêu cực trong đầu tư và xây dựng đang là vấn đề
nhức nhối, cả xã hội quan tâm, kéo dài nhiều năm với mức độ ngày càng trầm
trọng mà đến nay vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu để hạn chế
Một số Bộ, ngành, địa phương khi xác định mức vốn đầu tư ít quan tâm
đến việc tiết kiệm vốn đầu tư, sử dụng đơn giá, định mức trong tính toán cao
hơn quy định, làm tăng khối lượng, tăng dự toán công trình Nhiều dự án
không làm đúng thiết kế, chủ đầu tư và bên thi công móc nối, thỏa thuận khai
tăng khối lượng, điều chỉnh dự toán để rút tiền và vật tư từ công trình
Ngoài ra, do năng lực quản lý điều hành kém của chủ đầu tư, các ban
quản lý dự án, các tổ chức tư vấn cũng là nguyên nhân gây lãng phí, thất thoát
vốn đầu tư
Qua kiểm tra đã phát hiện tình trạng lãng phí và thất thoát vốn nhà
nước diễn ra phổ biến ở nhiều công trình, nhiều dự án, nhiều lĩnh vực, nhiều
cấp; tỷ lệ lãng phí và thất thoát của nhiều công trình có mức lãng phí và thất
thoát cao Đó là chưa tính đến những công trình đầu tư kém hiệu quả, công
nghệ sản xuất lạc hậu, sản xuất ra những sản phẩm kém chất lượng, giá thành
cao và không tiêu thụ được
Nguyên nhân chính, tổng quát của hiện tượng lãng phí và thất thoát nằm ở chính những cơ chế kiểm soát hiện có, vừa cồng kềnh, vừa chồng chéo nhau, làm cho có quá nhiều người can thiệp vào công trình nhưng không thể xác định được trách nhiệm chính thuộc về ai, do đó không thể quản lý được hoặc quản lý rất kém hiệu quả
Đặc biệt cơ chế không quy định rõ chủ thực sự của các công trình, nếu như có được một cơ chế đơn giản, không chồng chéo, trong đó mỗi khâu chỉ có một người chịu trách nhiệm toàn bộ trước pháp luật thì chắc chắn tình hình sẽ không tồi tệ như vậy Do vậy chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư là tiêu chí rất quan trọng trong phản ánh hiệu quả QLNN dự án đầu
tư, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay
Thứ ba, những đảm bảo vệ chất lượng, tuổi thọ các công trình xây
dựng đầu tư:
Chất lượng công trình xây dựng lâu nay vẫn là vấn đề được xã hội hết sức quan tâm, chú ý Chất lượng công trình xây dựng càng trở nên nhạy cảm hơn, sau một số sự cố tại một vài công trình làm xôn xao dư luận
Sự đổi mới công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng là cả một câu chuyện dài mà mục tiêu quan trọng là hướng tới sự thay đổi nhận thức của chính quyền, tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình đảm bảo chất lượng công trình xây dựng Trước đây, nội hàm của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình thì quản lý tiền vốn và tiến độ được đặt lên hàng đầu, sau đó mới đến chất lượng công trình Nhưng từ khi Luật Xây dựng ban hành thì quản lý chất lượng công trình được đặt lên hàng đầu trong năm nội dung cơ bản của Quản lý dự án đầu tư xây dựng Đây là một thay đổi rất quan trọng về luật pháp nhằm tạo ra sự thay đổi về nhận thức: chất lượng công trình xây dựng trước hết không chỉ mang đến sự hài lòng của người hưởng thụ công trình xây dựng mà còn đảm bảo cho sự bền vững, chất lượng công trình được quan tâm, coi trọng không chỉ mang lại lợi ích về kinh tế mà hơn thế là vì con
Trang 25người Và như vậy, chất lượng công trình xây dựng không chỉ như bảo đảm
độ bền của công trình (hữu hình) mà còn đem lại các giá trị quan trọng khác
(vô hình) như sự hài lòng của người sử dụng, sự thân thiện với môi trường, vẻ
đẹp tổng thể của đất nước Tất cả yếu tố đó của chất lượng công trình xây
dựng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của con người
Thứ tư, hiệu quả thực thi các quyết định QLNN:
Một hình thức hoạt động quan trọng của quản lý nhà nước là ban hành
các quyết định QLNN nhằm đưa ra các chủ trương, biện pháp, đặt ra các quy
tắc xử sự hoặc áp dụng các quy tắc đó để giải quyết một công việc cụ thể
trong đời sống xã hội Suy đến cùng, các quyết định QLNN chỉ thực sự có ý
nghĩa khi được thực hiện một cách có hiệu quả trong đời sống xã hội Việc
thực hiện có hiệu quả các quyết định QLNN là yếu tố rất quan trọng để thực
hiện khoa học, hợp lý, đúng lúc, kịp thời, đáp ứng những đòi hỏi, bức xúc của
đời sống xã hội Quá trình tổ chức thực hiện không hợp lý, không kịp thời
không thể mang lại kết quả như mong muốn và hơn thế nữa có thể trực tiếp
làm giảm sút uy quyền của cơ quan quản lý
Thứ năm, tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động QLNN;
Thực chất hoạt động QLNN là tổ chức thực hiện pháp luật và các chủ
trương, chính sách của chính quyền cấp trên vào cuộc sống Đây là một chuỗi hoạt
động kế tiếp nhau rất phức tạp từ khâu nắm bắt tình hình, lên kế hoạch hoạt động,
tổ chức lực lượng, giao nhiệm vụ cho từng bộ phận, đến việc chỉ đạo thực hiện,
điều hòa phối hợp hoạt động và kiểm tra tiến độ thực hiện Suy đến cùng, là hoạt
động để biến cái chung thành cái riêng, thậm chí là cái đơn nhất; là hoạt động thực
hiện những quy định ở trạng thái tĩnh Vì thế nó đòi hỏi chủ thể QLNN căn cứ vào
tình hình, đặc điểm mà đề ra các biện pháp quản lý thích hợp Hơn nữa, tính chủ
động và sáng tạo còn được quy định bởi chính bản thân sự phức tạp, phong phú
của đối tượng quản lý Tiêu chí này được đánh giá thông qua số lượng các sáng
kiến tạo bước phát triển đột phá cho các cấp quản lý
Thứ sáu, tính kinh tế của các hoạt động QLNN:
Để đánh giá đầy đủ, chính xác hiệu quả hoạt động QLNN các dự án đầu
tư , không thể không xem những chỉ số về tính kinh tế trong hoạt động quản
lý Đó là những chi phí tối thiểu hoặc có thể chấp nhận được về ngân sách, thời gian, lực lượng tham gia và những chi phí khác có liên quan đến hoạt động QLNN (có thể có những chi phí không dễ dàng lượng hóa) Tất cả những chi phí cho hoạt động QLNN ở cơ sở phát huy tác dụng ở mức cao nhất Tính kinh tế trong hoạt động của QLNN đòi hỏi phải tính toán được trước những chi phí cho hoạt động QLNN và lựa chọn những phương án hoạt động ít tốn kém nhất
1.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn ngân sách của một số nước trên thế giới
Để nâng cao chất lượng xây dựng, hiệu quả đầu tư, khắc phục tình trạng thất thoát, lãng phí, đặc biệt là đối với các hoạt động đầu tư xây dựng có
sử dụng vốn nhà nước Do đó, việc đưa ra các giải pháp tăng cường các quy định pháp luật để điều chỉnh hoạt động đầu tư xây dựng sử dụng các loại nguồn vốn khác nhau, bảo đảm cho các hoạt động đầu tư xây dựng được thực hiện theo quy hoạch, kế hoạch và được kiểm soát chặt chẽ; tăng cường vai trò, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng đối với toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng kết hợp với việc xác lập quan hệ bình đẳng, phân định rõ trách nhiệm giữa các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng Do vậy, công tác tăng cường quản lý các dự án đầu tư XDCB là vấn đề được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm
- Tại Singapore quản lý rất chặt chẽ việc thực hiện các dự án đầu tư xây dựng Ngay từ giai đoạn lập dự án, chủ đầu tư phải thỏa mãn các yêu cầu về quy hoạch xây dựng, an toàn, phòng, chống cháy nổ, giao thông, môi trường thì mới được cơ quan quản lý về xây dựng phê duyệt
Trang 26Ở Singapore không có đơn vị giám sát xây dựng hành nghề chuyên
nghiệp Giám sát xây dựng công trình là do một kiến trúc sư, kỹ sư chuyên
ngành thực hiện Họ nhận sự ủy quyền của Chủ đầu tư, thực hiện việc quản lý
giám sát trong suốt quá trình thi công xây dựng công trình Theo quy định của
Chính phủ thì đối với cả 02 trường hợp Nhà nước đầu tư hoặc cá nhân đầu tư
đều bắt buộc phải thực hiện việc giám sát Do vậy, các chủ đầu tư phải mời kỹ
sư tư vấn giám sát để giám sát công trình xây dựng
Đặc biệt, Singapore yêu cầu rất nghiêm khắc về tư cách của kỹ sư giám
sát Họ nhất thiết phải là các kiến trúc sư và kỹ sư chuyên ngành đã đăng ký
hành nghề ở các cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước xác định Chính phủ
không cho phép các kiến trúc sư và kỹ sư chuyên nghiệp được đăng báo
quảng cáo có tính thương mại, cũng không cho phép dùng bất cứ một
phương thức mua chuộc nào để môi giới mời chào giao việc Do đó, kỹ sư
tư vấn giám sát thực tế chỉ nhờ vào danh dự uy tín và kinh nghiệm của các
cá nhân để được các chủ đầu tư giao việc
- Tại Trung Quốc, tất cả các dự án đầu tư công đều được quản lý rất
chặt chẽ, phải nằm trong quy hoạch đã được duyệt mới được chuẩn bị đầu tư
Trung Quốc có Luật riêng về Quy hoạch Ủy ban Phát triển và Cải cách nhà
nước Trung Quốc là cơ quan đầu mối tổ chức thẩm định, tổng hợp, lập báo
cáo thẩm định về các quy hoạch phát triển, trình Quốc Vụ viện (Chính phủ)
phê duyệt; kiểm tra, tổng hợp kết quả thực hiện các quy hoạch đã được duyệt
Các Bộ, ngành, địa phương căn cứ vào các quy hoạch phát triển đã được
duyệt để đề xuất, xây dựng kế hoạch đầu tư và danh mục các dự án đầu tư
(bằng vốn của ngân sách nhà nước và vốn đầu tư của xã hội) Trung Quốc rất
coi trọng khâu chủ trương đầu tư dự án Tất cả các dự án đầu tư công đều phải
lập Báo cáo đề xuất dự án (kể cả các dự án đã có trong quy hoạch đã được
phê duyệt) Việc điều chỉnh dự án (mục tiêu, quy mô, tổng mức đầu tư) nằm
trong quy hoạch đã được phê duyệt phải được sự chấp thuận của cơ quan phê duyệt quy hoạch đó
- Nước Pháp đã hình thành một hệ thống pháp luật tương đối nghiêm ngặt và hoàn chỉnh về quản lý nhà nước các dự án đầu tư XDCB, đặc biệt là công tác giám sát và kiểm tra chất lượng công trình xây dựng Ngày nay, nước Pháp có hàng chục công ty kiểm tra chất lượng công trình rất mạnh, đứng độc lập ngoài các tổ chức thi công xây dựng Pháp luật của Cộng hòa Pháp quy định các công trình có trên 300 người hoạt động, độ cao hơn 28 m, nhịp rộng hơn 40 m, kết cấu cổng sân vườn ra trên 200 m và độ sâu của móng trên 30 m đều phải tiếp nhận việc kiểm tra giám sát chất lượng có tính bắt buộc và phải thuê một công ty kiểm tra chất lượng được Chính phủ công nhận
để đảm đương phụ trách và kiểm tra chất lượng công trình
Ngoài ra, tư tưởng quản lý chất lượng của nước Pháp là “ngăn ngừa là chính” Do đó, để quản lý các công trình xây dựng, Pháp yêu cầu bảo hiểm bắt buộc đối với các công trình này Các hãng bảo hiểm sẽ từ chối bảo hiểm khi công trình xây dựng không có đánh giá về chất lượng của các công ty kiểm tra được công nhận Họ đưa ra các công việc và các giai đoạn bắt buộc phải kiểm tra để ngăn ngừa các nguy cơ có thể xảy ra chất lượng kém Kinh phí chi cho kiểm tra chất lượng là 2% tổng giá thành Tất cả các chủ thể tham gia xây dựng công trình bao gồm chủ đầu tư, thiết kế, thi công, kiểm tra chất lượng, sản xuất bán thành phẩm, tư vấn giám sát đều phải mua bảo hiểm nếu không mua sẽ bị cưỡng chế Chế độ bảo hiểm bắt buộc đã buộc các bên tham gia phải nghiêm túc thực hiện quản lý, giám sát chất lượng vì lợi ích của chính mình, lợi ích hợp pháp của Nhà nước và của khách hàng
Trang 27Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
2.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Quản lý dự án đầu tư bằng nguồn ngân sách nhà nước là gì? Kinh
nghiệm của các nước trên thế giới về lĩnh vực này?
- Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư XDCB
bằng nguồn NSNN trên địa bàn huyện Phú Lương giai đoạn 2011-2013 như
thế nào?
- Những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý nhà nước đối với các
dự án đầu tư XDCB bằng nguồn NSNN trên địa bàn huyện Phú Lương là gì?
- Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý nhà
nước đối với các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn NSNN trên địa bàn huyện
Phú Lương là gì?
- Những phương hướng và giải pháp cụ thể nào được áp dụng để tăng
cường công tác quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn
NSNN trên địa bàn huyện Phú Lương
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, tác giả tiến hành thu thập
và sử dụng các số liệu thống kê về tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn
huyện Được thu thập và sử dụng các nguồn thông tin qua các tài liệu của Văn
phòng HĐND&UBND, phòng Thống kê, phòng Tài chính - Kế hoạch, phòng
Kinh tế và Hạ tầng, Ban quản lý các dự án đầu tư và xây dựng huyện Phú
Lương, các báo cáo của UBND huyện Phú Lương, sách báo, tạp chí, các công
trình nghiên cứu của các chuyên gia, các nhà khoa học; thông tin trên các
Website của các đơn vị, tổ chức có liên quan
- Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của huyện Phú Lương đến năm 2020
- Báo cáo của UBND huyện về kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội huyện Phú Lương các năm 2011, 2012, 2013
- Báo cáo chính thức của phòng Thống kê về việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu huyện Phú Lương các năm 2011, 2012, 2013
- Báo cáo của phòng Tài chính - Kế hoạch về việc quyết toán vốn đầu
tư xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện Phú Lương các năm 2011, 2012, 2013
b Số liệu sơ cấp
- Dùng phiếu thu thập thông tin về hiệu quả kinh tế của việc đầu tư các
dự án đầu tư XDCB đối với các đối tượng được hưởng lợi một số nội dung thu thập như: Thông tin chung, thông tin về lao động, thông tin về lao động có việc làm mới trong năm, tình hình sản xuất, tình hình thị trường, thông tin về
sử dụng công nghệ sản xuất, thông tin về môi trường đầu tư và thực hiện các chính sách của nhà nước
Bảng 2.1 Kết quả lựa chọn đối tượng điều tra, phỏng vấn
Số người được điều tra, phỏng vấn/đơn
vị
Tổng số người được phỏng vấn (người)
Trong đó Cán bộ
lãnh đạo quản lý (người)
Các chuyên gia (người)
Đối tượng được hưởng lợi trực tiếp (người)
Trang 28- Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các cán bộ giữ chức vụ chủ
chốt tại một số Sở, Ban ngành của tỉnh, UBND huyện Phú Lương và một số
xã mang tính chất đại diện trên địa bàn huyện; các ý kiến trao đổi với Sở Kế
hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, và lấy số liệu trực tiếp từ các báo cáo của
UBND huyện Phú Lương, phòng Tài chính - Kế hoạch, phòng Thống kê
huyện Phú Lương
c Thể hiện thông tin
Phương pháp thể hiện thông tin chủ yếu thông qua các bảng biểu
2.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin, số liệu
Toàn bộ số liệu thu thập được sử dụng chương trình hỗ trợ trên máy
tính để tính toán tổng hợp, tính toán các chỉ tiêu cần thiết
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả để thông qua các số liệu
thống kê có thể phán ánh thực trạng, tình hình thực tế quản lý các dự án đầu
tư XDCB bằng nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn nghiên cứu
Sử dụng phương pháp thống kê so sánh để thông qua việc so sánh
các chỉ tiêu đã thống kê để phản ánh và phân tích tình hình thực trạng và
thực tế của vấn đề
- Phương pháp điều tra: Điều tra chọn mẫu xã trong huyện, xóm trong
xã thu thập bằng dùng phiếu đến các xóm thuộc mẫu cần điều tra nghiên cứu
- Phương pháp thống kê mô tả: Dùng các chỉ tiêu để phân tích, đánh giá
mức độ biến động và mối quan hệ giữa các dự án đầu tư vào phát triển nông
thôn với tình hình phát triển kinh tế-văn hoá-xã hội tại địa phương thông qua
số liệu tuyệt đối, tương đối
- Phương pháp thống kê so sánh: Nhằm so sánh số tuyệt đối, số tương
đối, số bình quân để đánh giá và kết luận về mối liên hệ giữa sự vật và hiện
tượng theo thời gian
- Phương pháp đối chiếu: Đánh giá được thực trạng khó khăn, thuận lợi
để từ đó có đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác QLNN các dự án phát triển nông thôn ngày một tốt hơn
- Phương pháp hệ thống hóa tài liệu thu thập được làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá thực trạng quản lý nhà nước các dự án đầu tư để phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng theo các tiêu thức, góc độ khác nhau
- Phương pháp chuyên gia: Giúp thu thập, chọn lọc những thông tin, ý kiến trao đổi của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý kinh tế, đầu tư dự án
- Phương pháp ứng dụng phần mềm tin học Exel để xây dựng bảng biểu và xử lý số liệu điều tra, khảo sát
2.3 Hệ thống chỉ tiêu đƣợc sử dụng trong nghiên cứu
Trên cơ sở kết quả thu thập được, tác giả tiến hành xây dựng chỉ tiêu phân tích cơ bản như sau:
- Đất đai, dân số, lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo, lao động có việc làm mới
- Tổng sản phẩm GDP giai đoạn 2011-2013
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế, giá trị sản xuất các ngành kinh tế
- Tình hình đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện, tình hình quản
lý các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn ngân sách giai đoạn 2011-2013, trong
đó nguồn vốn NSNN và tổng vốn đầu tư toàn xã hội
Thông qua phân tích số liệu tổng hợp thấy được những tồn tại, hạn chế, điểm mạnh, điểm yếu của huyện Phú Lương Để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác QLNN các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn ngân sách trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới
Trang 29Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƯƠNG
3.1 Giới thiệu tổng quan về huyện Phú Lương
3.1.1 Vị trí địa lý, kinh tế
Phú Lương là huyện miền núi nằm ở phía bắc tỉnh Thái Nguyên, có
quốc lộ 3 chạy giữa huyện lỵ với chiều dài 39,5 km, cách trung tâm thành phố
Thái Nguyên khoảng 20 km về phía nam
- Phía Bắc giáp huyện Định Hóa và huyện Chợ Mới (của tỉnh Bắc Kạn)
- Phía Nam giáp thành phố Thái Nguyên
- Phía Đông giáp huyện Đồng Hỷ
- Phía Tây giáp huyện Đại Từ
Với vị trí địa lý như trên, Phú Lương có nhiều thuận lợi về giao thông,
thuận lợi trong việc giao lưu với trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh
là thành phố Thái Nguyên Diện tích tự nhiên của huyện là 368,95 km2 toàn
huyện có 16 đơn vị hành chính (14 xã và 2 thị trấn)
3.1.2 Tiềm năng và khả năng khai thác nguồn lực của huyện
a Địa hình và địa chất
Phú Lương là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên có địa hình
tương đối phức tạp và nhiều đồi núi dốc Đây là mặt khó khăn của huyện
trong việc phát triển cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải có thể chia thành 4
dạng địa hình chính như sau:
- Địa hình núi đá phía Tây và Tây Nam
- Địa hình núi đá dốc từ 250C đến 300C chiến 70% diện tích tự nhiên
- Các thung lũng hẹp chiếm 3,5%
- Các dải thoải có độ dốc từ 150C đến 200C có khoảng 40.000 ha
Huyện Phú Lương nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng núi thấp
và vùng bát úp, có độ dốc trung bình từ 200 - 500 so với mực nước biển Thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam với độ dốc trung bình từ 15-20m, địa hình tương đối phức tạp bao gồm cả đồng bằng, đồi núi và núi đá, hệ thống sông suối, ao hồ khá phong phú nhưng chủ yếu là quy mô nhỏ và phân bố không đều
b Khí hậu, thuỷ văn
Phú Lương có điều kiện khí hậu đa dạng mang đậm tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa đặc trưng của khí hậu Việt Nam Trong năm khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng ẩm từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình 25 - 27°C, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình 10 - 18°C, Có hai hướng gió chính là gió Đông Bắc và gió Đông Nam Đặc điểm này tạo cho huyện Phú Lương sự đa dạng và phong phú về các loại cây trồng, đặc biệt là các cây nhiệt đới Bên cạnh những thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng thì sự khác biệt về thời tiết ở đây cũng gây những bất lợi không nhỏ ảnh hưởng đến sự phát triển của nông nghiệp Vào mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, tập trung vào các tháng 6,7,8,9 thường xuyên xảy ra úng lụt trên diện rộng đã tác động không tốt đến việc chăn nuôi và trồng trọt Mùa đông lạnh và khô, nhiều năm rét đậm, hanh khô, nắng nóng, sương muối kéo dài làm ảnh hưởng không tốt đến sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành chè nói riêng
Hệ thống sông, suối trên địa bàn huyện Phú Lương phân bố khá đồng đều, trữ lượng nước lớn, tập trung ở một số sông lớn như: Sông Đu, sông Cầu
và một số phụ lưu sông Cầu Hầu hết các xã đều có suối chảy qua khá thuận tiện cho công tác thuỷ lợi
Nhìn chung, điều kiện khí hậu thời tiết, thuỷ văn của huyện Phú Lương tương đối thuận lợi về các mặt để có thể phát triển một hệ sinh thái đa dạng và