1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính

70 481 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

32 1.4 NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH MILLAR WESTERN FOREST PRODUCTS GIAO DỊCH HỢP ĐỒNG GIAO SAU VÀ QUYỀN CHỌN TRÊN SÀN GIAO DỊCH HÀNG HÓA CHICAGO CME- BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÁC DOANH

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH

NGHIỆP SẢN XUẤT CHẾ BIẾN

Chuyên ngành: Kinh tế tài chính- ngân hàng

Mã số : 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS: NGUYỂN THỊ UYÊN UYÊN

TP.Hồ Chí Minh- Năm 2011

LỜI CAM ĐOAN

Kính thưa Quý thầy cô, Quý bạn đọc!

Tác giả luận văn: Tôi, Cao Hữu Lộc, học viên cao học khóa 16, Khoa Kinh tế Tài chính- Ngân hàng, xin cam đoan: Đề tài này là do tôi tự nghiên cứu, không sao chép Mọi số liệu, bản biểu được trích dẫn trong luận văn, các tài liệu tham khảo để thực hiện luận văn đều được trích dẫn nguồn gốc

rõ ràng Mọi sai trái tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

TP Hồ Chí Minh, ngày _ tháng _ năm 2011

Người cam đoan

CAO HỮU LỘC

Trang 2

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt

Danh mục các bảng, biểu

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

MỞ ĐẦU: ……… 12

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ SẢN PHẨM PHÁI SINH TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH ……… 16

1.1 RỦI RO TÀI CHÍNH- NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÀI CHÍNH ……….……… ………16

1.1.1 Rủi ro tài chính là gì, các loại rủi ro tài chính………… ……… 16

1.1.1.1 Định nghĩa rủi ro tài chính, rủi ro kiệt giá tài chính ……….16

1.1.1.2 Các loại rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp….…….……… 16

1.1.1.2.1 Rủi ro tỷ giá ……….….……… …17

1.1.1.2.2 Rủi ro lãi suất ……….……… 17

1.1.1.2.3 Rủi ro biến động giá cả hàng hóa ……….……….17

1.1.2 Nguyên nhân và tác động của rủi ro tài chính: ……….………… 17

1.1.2.1 Nguyên nhân của rủi ro tài chính……….……….……… 17

1.1.2.1.1 Nguyên nhân từ sự bất ổn của tỷ giá ………… ……….……… 18

1.1.2.1.2 Nguyên nhân từ sự bất ổn của lãi suất ……… ………18

1.1.2.1.3 Nguyên nhân từ sự bất ổn của giá cả hàng hóa ……… 18

1.1.2.2 Tác động của rủi ro tài chính:……… 19

1.1.2.2.1 Tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.………… 19

1.1.2.2.2 Tác động đến khả năng chịu đựng tài chính và tái đầu tư của doanh nghiệp ….……… ……… ….………… 20

1.1.2.2.3 Tác động đến lợi nhuận ròng của doanh nghiệp … ……… 20

1.1.2.2.4 Tác động đến dòng tiền của doanh nghiệp ……… ……… 20

1.2 SẢN PHẨM PHÁI SINH CÔNG CỤ QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH HIỆU QUẢ ……….……… …… 21

1.2.1 Hợp đồng kỳ hạn (forwards) ……….….……… 22

1.2.2 Hợp đồng giao sau (future) ……….………… 24

1.2.3 Hợp đồng quyền chọn (options) ……….…… …….25

1.2.4 Hợp đồng hoán đổi (swaps) ……….…….…… 26

1.3 TÍNH HAI MẶT CỦA SẢN PHẨM PHÁI SINH TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH ……… ……… …… 29

1.3.1 Vai trò, lợi ích của các sản phẩm phái sinh …….……….……… … 29

1.3.1.1 Quản trị rủi ro ……….………….… 29

1.3.1.2 Thông tin hiệu quả hình thành giá ……… ………….… 29

1.3.1.3 Các lợi thế hoạt động ……….……… ………….… 30

1.3.1.4 Thị trường hiệu quả …… ……….……… ……….….… 30

1.3.1.5 Lợi ích của công cụ phái sinh……… ………….….… 30

1.3.2 Sản phẩm phái sinh chứa đựng nhiều rủi ro…….……….……… … 31

1.3.2.1 Rủi ro từ việc đầu cơ quá mức để tìm kiếm lợi nhuận ……… 31

1.3.2.2 Từ “phòng ngừa rủi ro” chuyển sang “đầu cơ” và sử dụng sản phẩm phái sinh không phù hợp ……… ……….…… ………….… 32

1.3.3 Sự cần thiết sử dụng sản phẩm phái sinh … ……….……….… … 32

1.4 NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH MILLAR WESTERN FOREST PRODUCTS GIAO DỊCH HỢP ĐỒNG GIAO SAU VÀ QUYỀN CHỌN TRÊN SÀN GIAO DỊCH HÀNG HÓA CHICAGO (CME)- BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU GỖ VIỆT NAM ……… ………33

Trang 3

1.4.1 Nghiên cứu trường hợp điển hình: Millar Western Forest Products giao dịch

hợp đồng giao sau và quyền chọn trên sàn giao dịch Chicago (CME) ………… .33

1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ Việt Nam ……… ……… ………38

1.4.2.1 Tối ưu hóa chi phí dự trữ gỗ nguyên liệu để bán hoặc để chế biến thành sản phẩm đồ gỗ………… ……… ……… …38

1.4.2.2 Các dự báo về biến động giá cả và tỷ giá chỉ làm “sắc nét” cho kế hoạch phòng ngừa, chứ không phải là căn cứ cho quyết định phòng ngừa rủi ro … 39

1.4.2.3 Quy mô hợp đồng giao sau, thời điểm đáo hạn ……….… 39

1.4.2.4 Các bước tiến hành khi thực hiện phòng ngừa rủi ro giá gỗ nguyên liệu:……… 39

1.4.2.5 Tiến hành nhận diện, đo lường độ nhạy cảm và am hiểu các loại rủi ro công ty đang gánh chịu: ……….…… 41

1.5 NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM VỀ HOẠT ĐỘNG SÀN GIAO DỊCH CÀ PHÊ TẠI VIỆT NAM BÀI HỌC KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM PHÁI SINH ĐỂ PHÒNG NGỪA RỦI RO TÀI CHÍNH CHO CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU GỖ VIỆT NAM… ………42

1.5.1 Kinh nghiệm hoạt động sàn giao dịch cà phê tại Việt Nam ………….…… 42

1.5.1.1 Giới thiệu về trung tâm giao dịch cà phê Buôn Mê Thuột (BCEC)……42

1.5.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của BCEC………44

1.5.1.3 Nguyên nhân BCEC chưa triển khai thành công giao dịch giao sau ….44 1.5.1.4 Giao dịch bằng hợp đồng tương lai trên thị trường Luân Đôn, thông qua môi giới là ngân hàng Techcombank……….47

1.5.2 Bài học phát triển sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính cho các doanh nghiệp sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ Việt Nam ……….47

1.5.2.1 Thành lập trung tâm giao dịch, cung ứng gỗ cho 3 miền Bắc, Trung, Nam……….49

1.5.2.2.Tạo điều kiện cho doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro qua thực hiện hợp đồng giao sau và quyền chọn gỗ xẻ trên sàn giao dịch Chicago 50

1.5.2.3 Đặc thù rủi ro tài chính, phái sinh ngành gỗ có gì khác với cà phê hoặc các nông sản khác:……….51

Kết luận chương 1: ……… ………52

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG SẢN PHẨM PHÁI SINH TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU GỖ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 53

2.1 ĐẶC THÙ RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU GỖ VIỆT NAM ……… ….53

2.1.1 Khó khăn về biến động tỷ giá trong xuất khẩu sản phẩm gỗ và nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ nước ngoài……….……… 53

2.1.2 Khó khăn do biến động lãi suất từ các khoản vốn vay ngắn hạn và dài hạn từ các tổ chức tài chính và ngân hàng……… 56

2.1.3 Khó khăn về biến động giá cả gỗ nguyên liệu, thu mua gỗ nguyên liệu trong nước và nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ nước ngoài.……… ……….57

2.2 NHẬN DIỆN RỦI RO TÀI CHÍNH VÀ NGUYÊN NHÂN TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÀI CHÍNH ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU GỖ VIỆT NAM ……….59

2.2.1 Rủi ro tỷ giá: ……….……….……… …59

2.2.2 Rủi ro lãi suất: ……….………….……… …60

2.2.3 Rủi ro biến động giá cả hàng hóa- nguyên vật liệu: ……….…… …62

2.3 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG SẢN PHẨM PHÁI SINH TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN GỔ VÀ XUẤT KHẨU GỖ VIỆT NAM ……….64

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu điều tra và xử lý số liệu ……… 64

2.3.2 Một số giá trị thống kê về cuộc điều tra………65

2.3.2.1 Số lượng doanh nghiệp trả lời phỏng vấn cuộc điều tra………… … 65

2.3.2.2 Nhận diện những rủi ro tài chính mà doanh nghiệp sản xuất chế biến và

Trang 4

2.3.2.3 Đánh giá mức độ quan ngại của doanh nghiệp đối với các loại rủi ro phổ

biến ở doanh nghiệp: ……… 68

2.3.2.4 Thực trạng sử dụng sản phẩm phái sinh ……… 69

2.3.2.5 Mức độ am hiểu của các doanh nghiệp đối với sản phẩm phái sinh tài chính (kỳ hạn, giao sau, quyền chọn và hoán đổi)……….70

2.3.3 Nguyên nhân các Doanh nghiệp gỗ Việt Nam còn xem nhẹ việc sử dụng sản phẩm phái sinh ……… 71

2.3.3.1.Nguyên nhân từ phía thị trường ……… 71

2.3.3.2.Nguyên nhân từ điều tiết tỷ giá của Nhà nước,biên độ giao dịch USD… 72

2.3.3.3.Nguyên nhân từ hạch toán kế toán và chi phí ………72

2.3.3.4.Nguyên nhân từ trình độ nhận thức của các doanh nghiệp ……… 73

2.3.4 Đo lường độ nhạy cảm của các doanh nghiệp đối với rủi ro tài chính thông qua Báo cáo thường niên, Bảng cân đối kế toán hợp nhất và Báo cáo thu nhập hợp nhất, bảng lưu chuyển tiền tệ (báo cáo dòng tiền)……… ……… 74

2.3.4.1 Các chỉ số về tính thanh khoản của công ty: ……… … 75

2.3.4.2 Công ty sử dụng đòn bẩy tài chính:……… 75

2.3.4.3 Độ nhạy cảm về giao dịch đối với tỷ giá ……… … 76

2.3.4.4 Độ nhạy cảm với lãi suất ……….… 77

2.3.4.5 Độ nhạy cảm với biến động giá hàng hóa……… …….… 79

2.3.5 Tác động của việc xem nhẹ trong việc sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính của các DN sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ Việt Nam…… 80

2.3.5.1 Rủi ro về cân đối dòng tiền…… ……… 80

2.3.5.2 Rủi ro về lãi suất tiền vay………82

2.3.5.3 Rủi ro về tỷ giá hối đoái ……….……… 82

2.3.5.4 Rủi ro về khả năng tái đầu tư……….……….… 83

2.3.5.5 Khó khăn nhập khẩu nguyên vật liệu……….……….… 83

2.4 NHỮNG HẠN CHẾ TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC 2.4.1 Chưa nhận diện và am hiểu đầy đủ những rủi ro tài chính mà doanh nghiệp đang gặp phải ……… ……… 84

2.4.2 Doanh nghiệp hiện nay “Phòng” hơn là “Chống” các biến động tỷ giá, lãi suất, giá cả hàng hóa (những biến động đã xảy ra) ………….……… 85

2.4.3 Doanh nghiệp còn xem nhẹ công tác kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro tài chính……….……….……… ……….86

2.4.4 Chưa am hiểu và quan tâm việc sử dụng công cụ phái sinh tài chính trong phòng chống rủi ro ……….……….……….……….……… 86

2.4.5 Chưa xây dựng chính sách và chương trình quản trị rủi ro tài chính…… 87

2.4.6 Doanh nghiệp có hoặc chưa có giám đốc tài chính: ….….……….… 87

2.4.7 Những nhà quản trị cấp cao chưa quan tâm đúng mức công tác quản trị rủi ro tài chính……… ……… 88

Kết luận chương 2: ……….……….………88

Chương 3 GIẢI PHÁP SỬ DỤNG CÔNG CỤ PHÁI SINH ĐỂ PHÒNG NGỪA RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU GỖ VIỆT NAM ……… ………89

3.1 GIẢI PHÁP VỀ PHÍA DOANH NGHIỆP … ……… 90

3.1.1 Doanh nghiệp cần nhận diện và am hiểu đầy đủ những rủi ro tài chính đang gặp phải …… ……… 90

3.1.2 Nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về rủi ro, về tầm quan trọng của quản trị rủi ro, đào tạo kỹ năng thực tế sử dụng sản phẩm phái sinh ……….……91

3.1.3 Phổ biến, tuyên truyền chính sách quản trị rủi ro, thuyết phục hội đồng quản trị và cổ đông chấp thuận việc phòng ngừa rủi ro ….……… ……… 92

3.1.4 Nâng cao nhận thức, chất lượng của ban quản trị cấp cao và tăng cường vai trò của hội đồng quản trị: ……… 93

3.1.5 Doanh nghiệp xây dựng các kịch bản và hành động phòng ngừa rủi ro thích hợp ……… 95

3.1.6 Doanh nghiệp cần phân biệt giữa quản trị rủi ro và đầu cơ, công cụ phái sinh tài chính phải được sử dụng phù hợp 96

Trang 5

3.1.7 Đánh giá đúng đắn hiệu quả của hoạt động quản trị rủi ro mang lại 96

3.1.8 Nâng cao vai trò kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro tài chính: 97

3.1.9 Tạo sự minh bạch, công khai trong hoạt động kinh doanh và sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro 98

3.1.10 Xây dựng tổ chức bộ máy nhân sự và quy trình cho công tác phòng ngừa rủi ro .……… 99

3.1.11 Xây dựng chính sách và chương trình quản trị rủi ro tài chính phù hợp cho từng doanh nghiệp ……… 102

3.2 GIẢI PHÁP VỀ PHÍA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VÀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 107

3.2.1.Ngân hàng hỗ trợ tư vấn, tuyên truyền, quảng bá giao dịch phái sinh đến doanh nghiệp 107

3.2.2 Ngân hàng cần cải tiến chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm phái sinh, đào tạo đội ngũ tư vấn có chất lượng … 108

3.2.3 Xác định phí quyền chọn hợp lý hơn ….109

3.2.4 Sử dụng các loại option không phí ….109

3.2.5 Rút ngắn thời hạn tối thiểu của option 110

3.2.6 Thực hiện việc ký quỹ cho hợp đồng kỳ hạn: …110

3.3 GIẢI PHÁP VỀ PHÍA CHÍNH PHỦ, BỘ CÔNG THƯƠNG, HIỆP HỘI GỖ VÀ LÂM SẢN VIỆT NAM ………111

3.3.1 Giảm rủi ro trong giao dịch hợp đồng kỳ hạn gỗ nguyên liệu thông qua các hiệp định song phương giữa Việt Nam và các nước có rừng ……… ………… …….111

3.3.2 Tạo điều kiện cho doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro qua thực hiện hợp đồng giao sau và quyền chọn trên sàn giao dịch Chicago, bên cạnh sàn giao dịch điện tử và chợ giao ngay tại 3 miền Bắc Trung Nam………… … ……….…… 112

3.3.3 Tạo văn hóa quản trị rủi ro cho toàn xã hội, thu hút khách hàng tham gia giao dịch phái sinh ……….……… 113

3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HỖ TRỢ SỬ DỤNG CÔNG CỤ TÀI CHÍNH PHÁI SINH ĐỂ PHÒNG NGỪA RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU GỖ VIỆT NAM 114

3.4.1 Nhà nước cần điều hành hợp lý kinh tế vĩ mô, minh bạch hóa các chỉ số vĩ mô, xây dựng khung pháp lý hoàn chỉnh cho thị trường chứng khoán phái sinh …….114

3.4.2 Nhà nước cần tạo điều kiện phát triển công nghiệp quản trị rủi ro nhằm phát triển thị trường phái sinh, đưa công cụ phái sinh tiếp cận đến doanh nghiệp … 116

3.4.3 Từ phía Ngân hàng Nhà nước: nới lỏng vai trò điều hành của nhà nước vào thị trường ….……… 117

3.4.4 Kiến nghị đối với Hiệp Hội gỗ và Lâm sản Việt Nam … 119

3.4.5 Kiến nghị đối với Bộ Tài chính……… 120

Kết luận chương 3: ……… 121

KẾT LUẬN: ……… ……… 122

Tài liệu tham khảo: ……… ……… 124

Phụ lục 1: Phiếu điều tra……….…….126

Phụ lục 2: Danh sách các công ty điều tra ……….…….130

Phụ lục 3: Đơn vị đo lường gỗ ở thị trường hàng hóa Mỹ và đặc điểm giao dịch gỗ xẻ trên sàn CME……… ………….……….…… 134

Phụ lục 4: Bảng cân đối KT hợp nhất của Công ty CP kỹ nghệ gỗ Trường Thành… 137

Trang 6

DANH MỤC BẢNG KÊ

Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu gỗ (2000-2010)

Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ (10 nước có kim ngạch xuất

khẩu cao)

Bảng 2.3: Số liệu thị trường cung cấp gỗ nguyên liệu chính cho Việt Nam (đến

tháng 6/2008)

Bảng 2.4: Cơ cấu vốn vay của một số doanh nghiệp sản xuất chế biến và xuất khẩu

gỗ niêm yết trên thị trường chứng khoán năm 2010

Bảng 2.5: Số lượng doanh nghiệp trả lời phỏng vấn phiếu điều tra

Bảng 2.6 : Thống kê thăm dò loại rủi ro DN thường gặp

Bảng 2.7: Thống kê thăm dò mức độ quan ngại rủi ro

Bảng 2.8: Kết quả điều tra loại rủi ro DN quan ngại nhất

Bảng 2.9: Thống kê thăm dò thực trạng sử dụng các sản phẩm phái sinh phòng ngừa

rủi ro tài chính trong các doanh nghiệp

`Bảng 2.10: Số liệu các khoản vay và chi phí lãi vay

Bảng 3.1: Tóm lược các tình huống phòng ngừa trong hợp đồng giao sau

Bảng 3.2: Các tình huống phòng ngừa rủi ro

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

rằng tất cả thiên nga đều có màu trắng Nhưng vào đầu thập niên 1790, phát hiện

của một nhà tự nhiên học người Anh, John Latham, về loài thiên nga đen ở vùng Tây Nam nước Úc đã khiến cả thế giới kinh ngạc Do đó, theo cách diễn giải của

Giáo sư Taleb, "những sự kiện mà ai cũng tin rằng hầu như không thể nào xảy

ra nhưng lại tác động rất lớn được xem là Thiên Nga Đen" và "khả năng xảy ra của những sự kiện tưởng chừng như không thể cũng tương đương với khả năng không xảy ra của những sự kiện tưởng chừng như vô cùng chắc chắn"

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 2.1: Thống kê thăm dò các loại rủi ro doanh nghiệp thường gặp

Hình 2.2: Mức quan ngại các loại rủi ro của doanh nghiệp

Hình 2.3: Mức độ am hiểu của các doanh nghiệp đối với sản phẩm phái sinh

Hình 2.4: Các nguyên nhân ngăn trở việc sử dụng sản phẩm phái sinh

Sơ đồ 3.1: Cơ cấu bộ máy tổ chức nhân sự công tác quản trị rủi ro tài chính cho các

doanh nghiệp vừa và lớn

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ giai đoạn hiện nay là trầm trọng nhất trong

100 năm trở lại đây và sẽ có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới doanh nghiệp Việt Nam

là điều không thể tránh khỏi So với các nước tư bản có nền kinh tế thị trường hàng trăm năm nay, các doanh nghiệp của Việt Nam nhìn chung còn thiếu kinh nghiệm trong kinh

tế thị trường Mặt khác, do có sự bảo hộ của nhà nước quá lâu nên gây ra tâm lý ỷ lại, chủ quan từ phía các doanh nghiệp Nên một khi khủng hoảng tài chính xảy ra hoặc bị ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính – tiền tệ thế giới như hiện nay làm cho các doanh nghiệp Việt Nam vô cùng bị động, cứ loay xoay để tìm hướng đi mới cho doanh nghiệp trong thời kỳ khủng hoảng

Người ta hầu như không thể dự đoán được những biến cố kiểu ''Thiên Nga Đen''

Do vậy, thay vì duy trì ảo tưởng rằng có thể lường trước tương lai, các nhà quản trị doanh nghiệp nên tìm cách giảm thiểu ảnh hưởng từ những nguy cơ khó nhận biết Không một

mô hình dự báo nào dự đoán được tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế hiện tại, những tác động vẫn đang tiếp tục khiến các nhà kinh tế học và giáo sư các trường kinh doanh sửng sốt

Những biến cố xác suất thấp, tác động lớn và gần như không thể dự đoán “Thiên Nga Đen” - đang ngày càng thống trị thế giới Nhờ internet và quá trình toàn cầu hóa, thế giới đã trở thành một hệ thống phức tạp với mạng lưới các mối quan hệ rối rắm và những nhân tố có mối quan hệ chằng chịt Sự phức tạp không chỉ gia tăng phạm vi ảnh hưởng của các biến cố “Thiên Nga Đen” mà còn khiến người ta không thể dự báo các biến cố dù rất bình thường khác

Thay vì cố gắng dự báo cho bằng được các biến cố xác suất thấp, tác động lớn, các doanh nghiệp nên tìm cách hạn chế "khả năng phơi nhiễm" trước những biến cố này Quản trị rủi ro tài chính nên phát huy vai trò giảm thiểu tác động của những điều không biết, thay vì làm một công việc phù phiếm là sáng tạo những kỹ thuật công phu và những minh họa tinh vi để kéo dài ảo tưởng về khả năng hiểu biết và dự đoán môi trường kinh

tế, xã hội quanh mình

Cùng với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta, rủi ro và phòng ngừa, quản trị rủi ro tài chính ngày càng nhận được sự quan tâm của các nhà đầu

Trang 8

Hợp đồng tương lai (future), Hợp đồng quyền chọn (options) và Hợp đồng hoán đổi

(swaps)… đang được giới thiệu như là những công cụ phòng ngừa rủi ro có hiệu quả cao

cho các doanh nghiệp

Lý do chọn đề tài:

Cả nước hiện có khoảng 2.526 doanh nghiệp sản xuất chế biến gỗ và xuất khẩu gỗ,

sử dụng đến 170.000 lao động, năm 2010 kim ngạch xuất khẩu đạt 3,4 tỷ USD, tăng

32,26% so với cùng kỳ năm trước và vượt mức kế hoạch năm 2010 Mặt hàng gỗ và sản

phẩm gỗ trở thành mặt hàng xuất khẩu có giá trị thứ 5 của Việt Nam

Hoạt động sản xuất kinh doanh chính của các doanh nghiệp sản xuất chế biến và

xuất khẩu gỗ (doanh nghiệp CBG) chủ yếu là xuất khẩu sản phẩm gỗ vào thị trường quốc

tế Với doanh thu xuất khẩu chiếm hơn 80% trong tổng doanh số và cũng nhập khẩu

nguyên vật liệu chiếm đến hơn 50% doanh số cũng bằng ngoại tệ là đô la Mỹ (80%

nguyên vật liệu doanh nghiệp CBG phải nhập khẩu) Trong báo cáo tài chính các công ty

kinh doanh ngành sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ, tỷ lệ vay vốn ngắn hạn và dài hạn

khá lớn từ các tổ chức tài chính và ngân hàng Điều này cho thấy các công ty đã vận dụng

mạnh đòn bẩy tài chính từ công cụ nợ Dự kiến năm 2011 và năm 2012 giá cả nguyên vật

liệu ngành gỗ, tỷ giá, lãi vay luôn biến động hàm chứa rất nhiều rủi ro

Do vậy những rủi ro, tổn thất của khu vực doanh nghiệp sản xuất chế biến và xuất

khẩu gỗ nếu diễn ra trên diện rộng, sẽ gây tổn thất lớn cho quốc gia cả về kinh tế và xã

hội Việc nhận diện các loại rủi ro tài chính thường gặp đối với doanh nghiệp để có biện

pháp phòng ngừa thích hợp là hết sức cần thiết

Mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ trở thành mặt hàng xuất khẩu có giá trị thứ 5 Thế

nhưng hiện nay ngành gỗ Việt Nam vẫn tồn tại những phương thức kinh doanh mua bán

cũ, không phù hợp để có thể cạnh tranh với các nước trên thế giới, nền sản xuất trong

nước phụ thuộc vào biến động giá gỗ nguyên liệu thế giới Để có thể khắc phục điểm yếu

và nâng cao khả năng chủ động trong sản xuất, ổn định lợi nhuận không chỉ của các

doanh nghiệp kinh doanh gỗ mà còn của người trồng rừng, doanh nghiệp trồng rừng thì

việc sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính của các doanh nghiệp sản

xuất chế biến và xuất khẩu gỗ Việt Nam là một trong những giải pháp khả thi và hữu

hiệu

2 Mục đích, ý nghĩa và đối tượng nghiên cứu

Mục đích: Luận văn tập trung vào trả lời 03 câu hỏi lớn sau:

- Bên cạnh các rủi ro về kinh doanh, doanh nghiệp sản xuất chế biến và xuất khẩu

gỗ ở Việt Nam thường phải đối diện với những rủi ro tài chính nào?

- Doanh nghiệp có thể quản trị rủi ro tài chính như thế nào để phòng ngừa, né tránh, loại trừ hoặc giảm thiểu những thiệt hại tài chính mà rủi ro có thể gây ra?

- Giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính của các doanh nghiệp sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ Việt Nam như thế nào?

Kết quả nghiên cứu sẽ giúp các doanh nghiệp nhận thức rõ hơn về các mối nguy

cơ rủi ro tài chính, hiểu được lợi ích của quản trị rủi ro tài chính, sử dụng công cụ phái sinh tài chính để phòng ngừa rủi ro tài chính của các doanh nghiệp

Đối tượng nghiên cứu là các nguy cơ rủi ro tài chính có khả năng gây tác động đến khu vực doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ ở Việt Nam

3 Giới hạn đề tài nghiên cứu

Đặc thù doanh nghiệp thường phải đối diện với rất nhiều loại rủi ro trong quá trình hoạt động, các rủi ro này hầu hết đều có mối liên hệ với nhau và hậu quả của nó đều dẫn đến các khoản thiệt hại tài chính Do vậy đề tài nghiên cứu tổng thể các yếu tố rủi ro tài chính đối với khu vực doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến gỗ xuất khẩu Việt Nam và

đề xuất giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính của các doanh nghiệp sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở các lý thuyết tổng quan về sản phẩm phái sinh trong quản trị rủi ro tài chính và mục tiêu nghiên cứu được xác định, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích nhằm làm rõ các loại rủi ro tài chính và giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính của các doanh nghiệp; lợi ích của việc quản trị rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp Tác giả cũng sẽ tiến hành phỏng vấn trực tiếp 141 doanh nghiệp đang hoạt động để đánh giá mức độ quan tâm của doanh nghiệp đến rủi ro và quản trị rủi

ro tài chính, nhằm minh họa cụ thể hơn nữa về thực trạng rủi ro và quản trị rủi ro tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến gỗ xuất khẩu ở Việt Nam hiện nay và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tài chính thích hợp

Trang 9

5 Kết cấu luận văn

Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương:

Chương 1 Tổng quan về sản phẩm phái sinh trong quản trị rủi ro tài chính

Chương 2 Thực trạng sử dụng sản phẩm phái sinh trong quản trị rủi ro tài chính

của doanh nghiệp sản xuất chế biến xuất khẩu gỗ ở Việt Nam trong thời gian qua

Chương 3 Giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính của

các doanh nghiệp sản xuất chế biến xuất khẩu gỗ ở Việt Nam

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SẢN PHẨM PHÁI SINH TRONG QUẢN

TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH

1.1 RỦI RO TÀI CHÍNH- NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÀI CHÍNH

1.1.1 Rủi ro tài chính, các loại rủi ro tài chính

1.1.1.1 Rủi ro tài chính- rủi ro kiệt giá tài chính

Rủi ro tài chính: là những rủi ro liên quan đến các thiệt hại có thể xảy ra đối với

thị trường tài chính do sự thay đổi của các biến số tài chính: giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, chứng khoán và những rủi ro do doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính - sử dụng nguồn vốn vay - trong kinh doanh

Các doanh nghiệp ngày nay thường xuyên phải đối mặt với những thay đổi từ các nhân tố thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa và chứng khoán Độ nhạy cảm từ các nhân tố giá cả thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa và chứng khoán tác

động lên thu nhập của doanh nghiệp được gọi là rủi ro kiệt giá tài chính

Khái niệm rủi ro tài chính và rủi ro kiệt giá tài chính gần như nhau nhưng rủi ro tài chính có ý nghĩa rộng hơn Rủi ro tài chính vừa hàm ý các trạng thái kiệt giá tài chính và còn nói lên những rủi ro do doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính- sử dụng vốn vay trong kinh doanh

Trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ tập trung vào giới thiệu những vấn đề liên quan đến rủi ro kiệt giá tài chính và chỉ xem xét 3 biến số tài chính là lãi suất, tỷ giá và giá cả hàng hóa Như vậy khái niệm liên quan đến rủi ro tài chính trong đề tài này chỉ hàm ý đến rủi ro kiệt giá tài chính

1.1.1.2 Các loại rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp

Trước khi ban quản trị đưa ra bất kỳ một quyết định nào về phòng ngừa rủi ro, họ cần phải nhận diện được tất cả những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải Hầu hết các tổ chức phi tài chính đều phải đối mặt với rủi ro kinh doanh, là những rủi ro có liên quan đến bản chất của các hoạt động sản xuất và kinh doanh và các rủi ro này là không thể phòng ngừa do “không thể mua đi bán lại được” Tuy nhiên độ nhạy cảm của giá cả

có tác động đến lợi nhuận doanh nghiệp thì có thể phòng ngừa được

Các loại rủi ro tài chính bao gồm:

Trang 10

1.1.1.2.1 Rủi ro tỷ giá

Rủi ro tỷ giá là sự thay đổi tỷ giá ngoại tệ mà doanh nghiệp không thể dự báo

trước Trong trường hợp các giao dịch của doanh nghiệp thực hiện trên cơ sở tỷ giá ngoại

tệ mà hàng hóa đã được định giá trước, khi tỷ giá có sự biến động có thể tạo ra rủi ro dẫn

đến thua lỗ Tùy theo quy mô sử dụng ngoại tệ, doanh nghiệp có thể chịu số lỗ do rủi ro

về tỷ giá nhiều hay ít

1.1.1.2.2 Rủi ro lãi suất

Trong hoạt động kinh doanh, hầu như tất cả các doanh nghiệp đều phải sử dụng

vốn vay Khi lập kế hoạch kinh doanh, tuy lãi suất tiền vay đã được dự tính, song có rất

nhiều nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp tác động đến lãi suất tiền vay

Chẳng hạn khi lạm phát xảy ra, lãi suất tiền vay tăng đột biến, những tính toán, dự kiến

trong kế hoạch kinh doanh ban đầu bị đảo lộn Tùy thuộc vào lượng tiền vay của doanh

nghiệp và sự biến động của lãi suất mà mức độ tiêu cực của rủi ro lãi suất cũng sẽ khác

nhau

1.1.1.2.3 Rủi ro biến động giá cả hàng hóa

Đối với các doanh nghiệp có các giao dịch mua, bán hàng hóa theo hợp đồng cố

định giá trong một thời gian dài, rủi ro biến động giá cả hàng hóa có thể sẽ là một rủi ro

lớn Đặc biệt trong trường hợp nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao, giá cả hàng hóa thay đổi

hàng ngày Đối với đa số doanh nghiệp sản xuất, sản phẩm đầu ra thường được ký hợp

đồng theo đơn hàng trước khi sản xuất, khi giá cả biến động, nguyên vật liệu đầu vào

tăng, nhưng giá bán sản phẩm đã cố định từ trước, nguy cơ thua lỗ là rất lớn

1.1.2 Nguyên nhân và tác động của rủi ro tài chính

1.1.2.1 Nguyên nhân của rủi ro tài chính

Những biến động không thể dự đoán trước của tỷ giá, lãi suất và giá cả hàng hóa

không những ảnh hưởng đến các khoản lợi nhuận được báo cáo hàng quý của một công

ty mà còn có thể định đoạt liệu công ty đó có thể tồn tại hay không Môt công ty không

chỉ cần có các công nghệ sản xuất tiên tiến nhất, nguồn cung lao động rẻ nhất hoặc là

chiến lược tiếp thị tốt nhất; những biến động giá cả đột ngột có thể đẩy những công ty

được điều hành tốt rơi vào tình trạng phá sản

Rủi ro tài chính bắt nguồn từ vô số các giao dịch liên quan trực tiếp đến tài chính

tiếp của các chính sách thay đổi trong quản lý, trong cạnh tranh, trong các quan hệ quốc

tế và thậm chí có thể chỉ do sự thay đổi của thời tiết hay khí hậu

1.1.2.1.1 Nguyên nhân từ sự bất ổn của tỷ giá

Dưới hệ thống tỷ giá cố định Bretton Woods, các nhà nhập khẩu biết được họ sẽ trả bao nhiêu đồng nội tệ để mua hàng hóa và nhà xuất khẩu biết họ sẽ nhận về bao nhiêu đồng tiền nước mình Nếu nhà nhập khẩu có thể bán cho người tiêu dùng ở một mức giá đem lại lợi nhuận và chi phí của nhà xuất khẩu thấp hơn mức giá xuất khẩu thì tất đều có lợi trong hoạt động thương mại

Với việc hệ thống Bretton Woods sụp đỗ, các qui luật đã thay đổi Cả hai bên tham gia giao dịch hiện nay đều phải đối mặt với rủi ro tỷ giá Mỗi công ty đều muốn tiến hành giao dịch bằng đồng tiền của quốc gia mình Mức lợi nhuận biên của các nhà nhập khẩu

có thể bị giảm hoặc bị lỗ nếu đồng tiền của họ giảm giá mạnh và hàng hóa nhập khẩu được định giá bằng đồng tiền của quốc giá xuất khẩu

1.1.2.1.2 Nguyên nhân từ sự bất ổn của lãi suất

Diễn biến trên thị trường tài chính Mỹ Sau khi hệ thống Bretton Woods sụp đỗ, những bất ổn lãi suất đã giảm đi trong suốt cuối giai đoạn thập kỷ 1970 (mặc dù lãi suất

đã tăng để đói phó với lạm phát) Những bất ổn trong lãi suất của đồng USD trong giai đoạn thập kỷ 1980 đã lên đỉnh điểm Khi mà Chủ tịch Quỹ dự trữ liên bang Mỹ Ông Paul Volcker đã bãi bỏ thông lệ hướng về mục tiêu lãi suất và thay vào đó là bắt đầu hướng về mục tiêu mức tăng cung tiền Hậu quả lãi suất biến động thất thường

1.1.2.1.3 Nguyên nhân từ sự bất ổn của giá cả hàng hóa

Do xăng dầu là nguyên liệu đầu vào quan trọng của nhiều ngành sản xuất kinh doanh, việc tăng giá sẽ có những ảnh hưởng nhất định (tăng chi phí) đến các DN và nền kinh tế Dù tăng hay giảm giá, mỗi cuộc khủng hoảng dầu lửa trong 40 năm qua đều gắn liền với xung đột chính trị và suy thoái kinh tế, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới tình hình tài chính toàn cầu

Tính bất ổn của giá dầu bắt đầu gia tăng trong giai đoạn thập kỷ 1980 xảy ra cùng lúc với việc bãi bỏ quy định quản lý xăng dầu ở Mỹ Giá tăng cao năm 1980 phản ánh tác động của việc Iraq xâm lược Kuwait Kể từ khi Mỹ phát động chiến tranh với Iraq lần thứ hai, giá dầu đã liên tục phá vỡ các mức kỷ lục và đã vượt qua giá đỉnh năm 1990 Đợt khủng hoảng giá dầu nghiêm trọng năm 2007-2008 cùng với cuộc khủng hoảng tài chính

Trang 11

năm 2008 (cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng nhất kể từ cuộc Đại suy thoái 1929 –

1933) đã có lúc giá dầu lên tới 145USD/ thùng Cả thế giới rơi vào tình trạng lạm phát

tăng tốc khó có thể kiểm soát lại được nữa

Sự bất ổn của giá cả hàng hóa nói chung đã tăng dần kể từ thập kỷ 1970 và 1980

Cho đến nay cùng với tình trạng lạm phát giá cả hàng hóa đã biến động rất khó lường

Tính bất ổn trong chi phí của các nhập lượng dùng để sản xuất của doanh nghiệp càng

cao, rủi ro tài chính của doanh nghiệp đó càng lớn Chẳng hạn doanh nghiệp ngành gỗ đã

chịu tác động đáng kể do sự biến động của giá nguyên vật liệu gỗ, chi phí vận chuyển do

giá nhiên liệu biến động mạnh

Tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế mang lại không ít lợi ích Tuy nhiên quá

trình này lại tạo ra một môi trường cạnh tranh gây gắt và điều đó khiến hầu hết các doanh

nghiệp đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường

Những tác động bất ổn của thị trường thế giới về giá cả hàng hóa, tỷ giá, lãi suất đã tác

động trực tiếp sâu rộng đến doanh nghiệp trong nước

Sự tiếp cận các yếu tố, nguyên nhân gây ra rủi ro tài chính trên đây giúp chúng ta

có nhìn nhận một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan hơn, từ đó sẽ đưa ra được những đề

xuất phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro tài chính trong kinh doanh của các doanh nghiệp một

cách hữu ích và thiết thực hơn

1.1.2.2 Tác động của rủi ro tài chính

1.1.2.2.1 Tác động đến năng lực cạnh tranh cuả doanh nghiệp

Rủi ro tỷ giá làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh cuả doanh nghiệp so với các

đối thủ ở yếu tố "giá của sản phẩm" trên thị trường Nếu doanh nghiệp chịu sự tác động

của rủi ro tỷ giá dẫn đến tổn thất ngoại hối thì doanh nghiệp sẽ phải tìm cách nâng giá

bán sản phẩm để trang trãi tổn thất Khi đồng nội tệ tăng giá, một công ty thuần túy kinh

doanh trong nước vẫn bị tác động bởi tỷ giá do sự xuất hiện của các công ty cạnh tranh

nước ngoài có chi nhánh trong nước nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài về tiêu thụ trong

nước Như vậy giá cả hàng hóa cùng loại ở nước ngoài bây giờ rẻ tương đối so với hàng

hóa trong nước Do đó giá sản phẩm cuả DN sẽ không hấp dẫn so với các đối thủ cạnh

tranh, khả năng cạnh tranh cuả DN sẽ bị giảm sút

1.1.2.2.2 Tác động đến khả năng chịu đựng tài chính và tái đầu tư cuả doanh nghiệp

Rủi ro tỷ giá, lãi suất, giá cả hàng hóa tác động đến việc hoạch định tài chính cuả doanh nghiệp đối với các dự án đầu tư dài hạn

Bên cạnh đó, doanh nghiệp muốn phát triển bền vững, quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp phải diễn ra liên tục, vòng sau phải cao hơn vòng trước Đó chính là quá trình tái đầu tư Nguồn vốn để tái đầu tư là quỹ khấu hao, lợi nhuận thu được

từ quá trình sản xuất kia doanh trước đó Khi rủi ro tài chính tăng cao không kiểm soát được, nguồn vốn để tái đầu tư bị giảm đi, thậm chí là một số âm Do đó, khả năng tái đầu

tư bị triệt tiêu, doanh nghiệp sẽ không thể hoạt động liên tục, quy mô kinh doanh bị thu hẹp Nếu điều đó xảy ra trong một thời gian dài, doanh nghiệp có thể sẽ "biến mất” trên thị trường Với những doanh nghiệp đang thực hiện các dự án đầu tư rủi ro tài chính có thể làm cho dự án đầu tư phải dừng lại thậm chí là "nằm chờ vĩnh viễn" do tổng mức đầu

tư tăng đột biến, lãi suất tiền vay tăng cao, việc vay vốn bị chặn lại

1.2.2.2.3 Tác động đến lợi nhuận ròng của doanh nghiệp

Khi có những thay đổi trong giá hàng hóa, lãi suất và tỷ giá sẽ làm thay đổi giá trị một khoản tiền thu được hoặc các khoản chi phí

Biến động trong tỷ giá đã làm cho doanh thu và chi phí không tương thích khi nhập khẩu hàng nước ngoài bán hàng trong nước hoặc ngược lại Ngoài ra, biến động tỷ giá làm thay đổi giá trị công ty khi tài sản ở nước ngoài được chuyển đổi sang đồng nội

tệ Tác động của thay đổi tỷ giá có thể ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến lợi nhuận ròng của công ty

Thay đổi trong lãi suất cũng có thể tác động đến báo cáo kết quả kinh doanh, tác động đến các khoản thu hoặc các khoản chi phí Đa số các công ty đều tập trung quan tâm vào chi phí lãi vay, thay đổi lãi suất tác động đến chi phí của công ty, có thể làm thay đổi

số lượng hàng hóa do công ty bán ra

Tác động biến động của giá cả hàng hóa ảnh hưởng đến các khoản thu hoặc các khoản chi phí Tác động này phản ảnh trong báo cáo thu nhập của các công ty theo hướng làm tăng giảm khoản thu hoặc tăng giảm khoản chi phí của một công ty Việc tăng giá

Trang 12

thu nhập của các công ty theo hướng tăng các khoản thu của các công ty sản xuất dầu,

tăng chi phí với các công ty sử dụng dầu

1.2.2.2.4 Tác động đến dòng tiền của doanh nghiệp

Các luồng tiền vào doanh nghiệp (dòng thu) và các luồng tiền ra khỏi doanh

nghiệp (dòng chi) diễn ra một cách thường xuyên liên tục Trên thực tế, tại những thời

điểm nhất định có thể xảy ra, hiện tượng lượng tiền vào doanh nghiệp (số thu) nhỏ hơn

lượng tiền ra khỏi doanh nghiệp (số chi) đến hạn Khi đó, tình trạng mất cân đối về dòng

tiền đã xảy ra Sự mất cân đối này tiềm ẩn một rủi ro lớn đối với hoạt động kinh doanh

Sự mất cân đối dòng tiền được chia thành: mất cân đối tạm thời và mất cân đối dài

hạn Mất cân đối tạm thời về dòng tiền có thể khắc phục được bằng nhiều biện pháp và

hậu quả thường không lớn Mất cân đối dài hạn xảy ra do những nguyên nhân quan trọng

như: phần định phí trong tổng chi phí của doanh nghiệp quá lớn; vốn lưu động tự có quá

ít; nợ khó đòi tăng lên; doanh thu chưa bù đắp đủ các khoản chi phí thường xuyên, v.v…

Khi rủi ro tài chính tăng cao do các biến động về giá cả hàng hóa, tỷ giá và lãi

suất Đã tác động lớn làm mất cân đối dòng tiền trong doanh nghiệp và do tác động dây

chuyền giữa các doanh nghiệp, số nợ phải thu, đặc biệt là nợ phải thu khó đòi tăng lên,

mất cân đối tạm thời rất dễ chuyển thành mất cân đối dài hạn Mất cân đối dài hạn về

dòng tiền có thể làm cho doanh nghiệp bị phá sản

1.2 SẢN PHẨM PHÁI SINH CÔNG CỤ QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH HIỆU

QUẢ

Trong xu thế toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại, với sự hỗ trợ của công nghệ

thông tin, thế giới ngày càng trở nên "phẳng hơn", sự lưu thông và dịch chuyển các

nguồn tài chính cùng như các loại hàng hóa nhanh chóng và dễ dàng hơn, nhưng cũng vì

thế mà sự bất ổn cũng cao hơn và rủi ro cũng nhiều hơn và ngày càng trở nên khó dự báo

hơn

Trước tình hình đó, thị trường xuất hiện nhu cầu về các phương thức quản trị rủi

ro một cách năng động và chủ động hơn Đó là nguyên nhân ra đời của các công cụ

phòng ngừa rủi ro Các công cụ này cho phép các doanh nghiệp có thể chuyển giao trực

tiếp các rủi ro tài chính cho bên thứ ba sẵn sàng chấp nhận rủi ro đó Tùy theo đặc điểm

ngành nghề hoạt động của mình, các doanh nghiệp có thể sử dụng các công cụ quản trị

rủi ro khác nhau với mục tiêu khác nhau, nhưng chủ yếu là để quản trị các rủi ro liên quan đến độ bất ổn của lãi suất, của giá cả hàng hóa và của tỷ giá

Các công cụ phái sinh trên thị trường ngoại hối, thị trường tiền tệ và hàng hóa:

1.2.1 Hợp đồng kỳ hạn (forwards)

- Hợp đồng kỳ hạn (forwards), là loại công cụ quản trị rủi ro ra đời sớm nhất, đơn giản nhất trong các sản phẩm phái sinh, xuất phát từ nhu cầu quản trị rủi ro những bất ổn liên quan đến giá cả hàng hóa Đây là loại hợp đồng giữa hai bên - người mua và người bán - để mua hoặc bán tài sản vào một ngày trong tương lai với giá đã thỏa thuận ngày hôm nay Nếu vào ngày đáo hạn, giá thực tế cao hơn giá thực hiện, người sở hữu hợp đồng sẽ kiếm được lợi nhuận, nếu giá thấp hơn, người sở hữu hợp đồng sẽ chịu một khoản lỗ

- Hợp đồng kỳ hạn gần giống với một quyền chọn, nhưng quyền chọn cho quyền nhưng không bắt buộc phải thực hiện giao dịch, trong khi người sở hữu hợp đồng kỳ hạn bắt buộc phải thực hiện Nếu giá trị tài sản cơ sở thay đổi, người nắm giữ quyền chọn có thể quyết định mua hoặc bán với giá cố định Mặt khác, hai bên trong hợp đồng kỳ hạn có nghĩa vụ phải mua và bán hàng hóa

- Mặc dù thị trường kỳ hạn tồn tại đã lâu đời nhưng xem ra chúng cũng chưa được quen thuộc với mọi người cho lắm Không giống như thị trường quyền chọn, chúng không có các phương tiện thực sự phục vụ cho giao dịch và không có một nơi nào hoặc một công ty nào được tổ chức riêng như một thị trường Các hợp đồng kỳ hạn hoàn toàn được giao dịch trên thị trường OTC bao gồm các liên lạc trực tiếp giữa các định chế tài chính là chủ yếu

Hợp đồng kỳ hạn thị trường hàng hóa: là loại hợp đồng mà giá cả gọi là giá kỳ

hạn, nghĩa là việc giao hàng và thanh toán sẽ là một ngày nào đó được chỉ ra trong tương lai, kể từ khi bản hợp đồng được ký kết (1 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng,…)

Giá kỳ hạn được tính dựa trên mức giá giao ngay và một số thông số khác phỏng đoán về mức tăng giảm của giá cả hàng hóa này tính cho đến thời điểm hàng sẽ thực sự được giao nhận Với phương thức giao dịch này, người mua hàng phải có đặt cọc (ký quỹ) hoặc thế chấp một khoản tài sản nhất định để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng Tiền ký quỹ trong phạm vi tối thiểu theo thỏa thuận và không được hưởng lãi nhưng

Trang 13

phát sinh từ tài sản thế chấp Với tư cách là công cụ phòng chống rủi ro, Hợp đồng kỳ

hạn được sử dụng để cố định khoản thu nhập hay chi trả theo một mức giá cố định đã biết

trước, bất chấp sự biến động của giá trên thị trường

Hợp đồng kỳ hạn thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ: Là một thỏa thuận

giữa một doanh nghiệp và một ngân hàng hay giữa hai ngân hàng với nhau để trao đổi

một số lượng tiền nhất định với một tỷ giá xác định gọi là tỷ giá kỳ hạn vào một ngày nào

đó trong tương lai Khi doanh nghiệp (hay ngân hàng thứ 2) có nhu cầu chi trả hoặc các

khoản phải thu trong tương lai, có thể thiết lập hợp đồng kỳ hạn để cố định tỷ giá mà tại

mức tỷ giá này có thể mua hoặc bán một ngoại tệ nào đó

Tỷ giá có kỳ hạn thường được yết theo hai cách: yết giá theo kiểu outright và yết

giá theo kiểu swap Tỷ giá có kỳ hạn theo kiểu outright đơn giản là giá cả của một đồng

tiền này tính bằng một số đơn vị đồng tiền kia Nó cũng được niêm yết tương tự như tỷ

giá giao ngay chỉ khác một điều là tỷ giá được hai bên xác định và thỏa thuận ở hiện tại

nhưng sẽ được áp dụng trong tương lai Tỷ giá theo kiểu swap chỉ yết phần chênh lệch

theo số điểm căn bản (basic points) giữa tỷ giá có kỳ hạn và tỷ giá giao ngay tương ứng

Yết giá theo kiểu swap thường được sử dụng trên thị trường liên ngân hàng, tức là trong

giao dịch giữa một ngân hàng này với một ngân hàng khác

Tỷ giá có kỳ hạn (forward rate) là tỷ giá áp dụng trong tương lai nhưng được xác

định ở hiện tại Tỷ giá này áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ có kỳ hạn và được

xác định dựa trên cơ sở tỷ giá giao ngay và lãi suất trên thị trường tiền tệ

Trên thị trường quốc tế, hợp đồng kỳ hạn tỏ ra thích hợp hơn đối với các công ty

lớn vì vậy các giao dịch thường có giá trị ít nhất là một triệu đôla trở lên

Các khách hàng và công ty nhỏ thường rất ít sử dụng hợp đồng kỳ hạn Trong một

vài trường hợp, ngân hàng có thể yêu cầu các khách hàng ký quỹ ban đầu để thực hiện

nghĩa vụ của mình Trong một số trường hợp khác, ngân hàng có niềm tin hoàn toàn vào

khách hàng và họ không yêu cầu ký quỹ ban đầu

Các hợp đồng kỳ hạn có ưu điểm là được thiết kế thích hợp để đáp ứng yêu cầu

của cả hai bên cả về qui mô giao dịch và ngày giao kỳ hạn Một số các hợp đồng kỳ hạn

có các thời gian đáo hạn không đạt tiêu chuẩn như 37 ngày hoặc 81 ngày nhưng chi phí

giao dịch của hợp đồng kỳ hạn dạng này thì đắt hơn bình thường

Tuy nhiên, một bất lợi của hợp đồng kỳ hạn là nó không thể hủy bỏ đơn phương

mà không có sự thỏa thuận của hai đối tác; nghĩa vụ của mỗi bên không được chuyển giao cho bên thứ ba Hợp đồng kỳ do đó không phải là một dạng hợp đồng có tính thanh khoản cao Một bất lợi nữa là không có gì bảo đảm rằng sẽ không có một bên vỡ nợ và hủy bỏ các nghĩa vụ hợp đồng Điều này dễ xảy ra khi tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay

có sự chênh lệch lớn vào thời điểm đến hạn

1.2.2 Hợp đồng giao sau (future)

Hợp đồng giao sau (future) cũng là một loại công cụ quản trị rủi ro do bất ổn về giá cả hàng hóa, lãi suất và ngoại tệ, là hợp đồng giữa hai bên - người mua và người bán -

để mua hoặc bán tài sản vào một ngày tương lai với giá đã thỏa thuận ngày hôm nay Hợp đồng giao sau là sự phát triển của hợp đồng kỳ hạn và có nhiều đặc điểm giống hợp đồng

kỳ hạn, nhưng loại hợp đồng này được giao dịch trên thị trường có tổ chức, gọi là sàn giao dịch giao sau

Hợp đồng giao sau thị trường hàng hóa: là loại hợp đồng có sẵn những tiêu

chuẩn về số lượng, phẩm cấp hàng, chủng loại mặt hàng, điều kiện vận chuyển và giao nhận hàng,… tất cả đều được sở giao dịch tiêu chuẩn hóa, vấn đề duy nhất phải thỏa thuận là giá cả

Giá cả sau khi được quyết định tại phiên giao dịch, gọi là giá giao sau Đó là mức giá được tính toán gần giống như giá giao trong tương lai Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của loại hợp đồng này, hai bên mua bán không hề có thêm bất kỳ thỏa thuận nào khác trừ giá cả Nên hàng hóa mua bán theo loại hợp đồng thường được qui định giao nhận hàng ở một vài thời điểm nhất định trong năm mà thôi, khi đó giá giao sau sẽ là giá giao kỳ hạn với thời điểm kỳ hạn chính là mốc đã định sẵn ở trên

Thể thức này mới được sử dụng phổ biến từ những năm 60 – 70 thế kỷ XIX trên thị trường hàng hóa và những năm 70 – 80 của thế kỷ XX trên thị trường tiền tệ Từ năm

2001, hầu hết các sàn giao dịch điện tử quốc tế đều thống nhất các qui chuẩn chung của hợp đồng này, tuỳ theo hàng hóa cơ sở mua bán (gạo, café, cao su, … vàng, bạc, platin,… USD, …) mà sẽ có những đặc tả chi tiết hàng hóa riêng Đây là công cụ chính cung cấp cho những nhà đầu cơ (speculator) một phương tiện kinh doanh và những người ngại rủi

ro (hedger) một phương tiện phòng chống rủi ro

Hợp đồng giao sau thị trường tiền tệ: là một thỏa thuận mua bán một số lượng

Trang 14

giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày trong tương lai được xác định bởi Sở giao

dịch Tuy nhiên, khác với hợp đồng có kỳ hạn, hợp đồng giao sau chỉ sẵn sàng cung cấp

đối với một vài loại ngoại tệ mà thôi Chẳng hạn, thị trường Chicago chỉ cung cấp hợp

đồng với sáu loại ngoại tệ mạnh đó là GBP, CAD, EUR, JPY, CHF và AUD Thị trường

giao sau thực chất chính là thị trường có kỳ hạn được tiêu chuẩn hóa về loại ngoại tệ giao

dịch, số lượng ngoại tệ giao dịch và ngày chuyển giao ngoại tệ

Tất cả các hợp đồng giao sau đều thực hiện giao dịch ở Sở giao dịch có tổ chức

Sở giao dịch là người đề ra quy chế và kiểm soát hoạt động của các hội viên Hội viên

của Sở giao dịch là các cá nhân, có thể là đại diện của các công ty, ngân hàng thương mại

hay cá nhân có tài khoản riêng

Bên cạnh đó thị trường giao sau phòng ngừa rủi ro về lãi suất dài hạn và ngắn hạn

thông qua phòng ngừa vị thế mua và bán trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty

1.2.3 Hợp đồng quyền chọn (options)

Mặc dù hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng giao sau có thể sử dụng để phòng ngừa rủi

ro, nhưng vì tất cả những hợp đồng bắt buộc thực hiện khi đến hạn nên nó cũng đánh mất

đi cơ hội kinh doanh, nếu như sự biến động giá thuận lợi Đây là nhược điểm lớn nhất của

hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng giao sau Để khắc phục nhược điểm này phát sinh một

dạng hợp đồng mới là hợp đồng quyền lựa chọn mua hay bán hàng hóa hay không khi

đến hạn hợp đồng (gọi tắt là hợp đồng quyền chọn – HĐQC)

- Quyền chọn (options) là một hợp đồng giữa hai bên - người mua và người bán,

trong đó cho người mua quyền, nhưng không phải nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài sản

nào đó vào một ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay Quyền chọn

được chia làm quyền chọn mua và quyền chọn bán Quyền chọn có thể được sử dụng làm

công cụ quản trị rủi ro các bất ổn về lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa

- Quyền chọn trên hợp đồng giao sau là một kết hợp của thị trường giao sau và thị

trường quyền chọn Quyền chọn trên thị trường giao sau cho người mua quyền được mua

hoặc bán một hợp đồng giao sau vào một ngày trong tương lai với giá cố định vào ngày

hôm nay

HĐQC được đưa sử dụng vào những năm cuối của thập niên 70 thế kỷ XIX Tuy

nhiên thị trường này phát triển nhanh chóng và được vận dụng vào các giao dịch trên thị

XX Bước sang thế kỷ XXI, thị trường các HĐQC (options market) là một trong những

phân khúc thị trường có tốc độ phát triển nhanh và chiếm doanh số giao dịch hàng ngày lớn nhất trên thế giới Nói chung, quyền chọn (options) là một hoạt động giao dịch mà cho phép người mua nó có quyền mua (call option) hay quyền bán (put option) ở một mức giá và thời hạn được xác định trước, nhưng không bắt buộc thực hiện quyền này Hợp đồng lựa chọn kiểu 1 (American Options): cho phép người mua nó có quyền thực hiện hợp đồng ở bất kỳ thời điểm nào trước khi hợp đồng hết hạn

Hợp đồng lựa chọn kiểu 2 (European Options): chỉ cho phép người mua nó có quyền thực hiện hợp đồng khi đến hạn hợp đồng

Giá trị của quyền chọn tùy thuộc vào giá cả thực hiện (exercise or strike price) và

sự biến động của giá cả hàng hóa trên thị trường Giá cả biến động có thể làm cho quyền chọn trở nên sinh lợi (in-the-money), hòa vốn (at-the-money) hoặc lỗ vốn (out-of-the-money)

1.2.4 Hợp đồng Hoán đổi (swaps)

Mặc dù các hợp đồng quyền chọn, kỳ hạn và giao sau kết hợp lại thành một tập hợp các công cụ cơ bản trong thị trường các công cụ phái sinh, nhưng cũng có nhiều kết hợp và biến thể khác Một trong số đó hoán đổi- swaps là công cụ phổ biến nhất Hoán đổi là một giao dịch mà trong đó cả hai bên đồng ý thanh toán cho các bên còn lại một chuỗi các dòng tiền trong khoản thời gian xác định Có 4 loại hoán đổi là hoán đổi tiền tệ, hoán đổi lãi suất, hoán đổi hàng hóa và hoán đổi chứng khoán

Hóan đổi tiền tệ: Là việc mua và bán đồng thời tài sản gốc tương tự hoặc nghĩa

vụ tương đương với số tiền vốn mà việc hoán đổi các giao dịch tài chính cho phép cả hai bên tham gia các điều kiện thuận lợi hơn mong muốn Thực chất của hợp đồng này là hai bên thoả thuận trao đổi dòng tiền trong tương lai

Đặc điểm của hợp đồng hoán đổi là giao dịch trên thị trường OTC và không có qui định chuẩn Cụ thể, ở thị trường hoán đổi Mỹ, hầu như chưa có qui định nào ràng buộc Hiện nay, hiệp hội hoán đổi và phái sinh quốc tế mới chỉ đưa ra tài liệu chuẩn về quy trình giao dịch và thủ tục pháp lý (chỉ áp dụng ở Mỹ) Ở Châu Âu, thị trường hoán đổi chủ yếu do các ngân hàng vận hành, được điều chỉnh bởi một số quy định của Luật Ngân hàng

Trang 15

Nhìn chung, cho đến nay chỉ có quy định đối với người môi giới về việc tổ chức

các giao dịch hoán đổi, không quy định về trách nhiệm của các đối tác trên thị trường đối

với việc thực hiện hợp đồng

Hạn chế của thị trường này là khi muốn giao dịch, một bên đối tác phải tìm được

đối tác bên kia đang sẵn sàng làm đối tác giao dịch với mình (phải có sự trùng hợp về nhu

cầu đối với thời gian đáo hạn, cấu trúc các dòng tiền và khối lượng vốn)

Hợp đồng hoán đổi được thiết kế riêng theo nhu cầu của hai bên đối tác, chính vì

vậy các điều kiện của hợp đồng mang tính cứng nhắc và thiếu linh hoạt

Hợp đồng gồm có hai loại cơ bản: hoán đổi lãi suất và hoán đổi tiền tệ:

Hoán đổi lãi suất: Hoán đổi lãi suất là một chuỗi các thanh toán lãi suất giữa hai

phía Mỗi tập hợp thanh toán được dựa trên lãi suất cố định hoặc thả nổi Nếu lãi suất thả

nổi và hoán đổi thực hiện trên đồng đôla thì lãi suất sử dụng thường là LIBOR Hoán đổi

trên các đồng tiền khác sử dụng lãi suất tương ứng với đồng tiền đó Hai bên đồng ý

thanh toán một chuỗi các thanh toán tiền lãi trên cùng một đồng tiền vào nhiều ngày

thanh toán khác nhau Kết quả thanh toán được dựa vào một số vốn khái toán cụ thể,

nhưng các bên tham gia không thanh toán số vốn khái toán này vì thực ra nó chỉ là việc

mỗi bên thanh toán cho nhau trên cùng một số tiền

Hình thức phổ biến nhất của các loại hoán đổi lãi suất mà thực ra là phổ biến nhất

trong tất cả các loại hoán đổi là hình thức mà một phía chi trả theo lãi suất cố định và

phía còn lại chi trả theo lãi suất thả nổi Công cụ này được gọi là hoán đổi vanilla thuần

nhất (plain vanilla swap) và thỉnh thoảng chỉ gọi là hoán đổi vanilla

Hợp đồng hoán đổi lãi suất là một dạng khá phổ biến trong các công cụ tài chính

phái sinh Trong hợp đồng này, một bên sẽ hoán đổi một dòng lãi suất của mình lấy dòng

lãi suất của đối phương

Hóan đổi hàng hóa: Hoán đổi hàng hóa là giao dịch đàm phán trực tiếp giữa hai

phía đối tác hay thông qua trung gian, đồng ý trao đổi một loạt những thanh toán được

tính trên những cơ sở khác: thanh toán giá cả hàng hóa với mức cố định (fixed) được

hóan đổi cho mức giá trôi nổi (floating), thanh toán dựa tên chỉ số giá hàng hóa A thay

bằng chỉ số giá hàng hóa B, mua hoặc bán hàng hóa A thay bằng mua hoặc bán hàng hóa

B và ngược lại, mua hàng ở mức giá cơ bản giao ngay và bán lại hàng với mức giá kỳ

khác biệt Hai bên đối tác dàn xếp một cuộc trao đổi với những nhu cầu bổ sung, và

những kỳ hạn thanh toán được đặt định

Sử dụng hóan đổi như một công cụ ngừa rủi ro Thông qua hợp đồng hóan đổi, các bên tham gia có được hàng hóa hoặc mức giá mình mong muốn mà không cần phải thông qua nhiều giao dịch trung gian nên tránh được sự biến động giá và chênh lệch giữ giá bán

và giá mua

Sự khác biệt giữa các hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng giao sau là sử dụng trong ngắn hạn, trong khi hợp đồng hóan đổi sử dụng trong dài hạn Nhưng ngày càng nhiều, hợp đồng hóan đổi cũng được sử dụng trong ngắn hạn, bổ sung những hạn chế của các dạng hợp đồng với nhau, tạo ra sự cạnh tranh giữa chúng Các yếu tố cạnh tranh bao gồm

sự năng động, chi phí và sự quen thuộc Hợp đồng hóan đổi hơn hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng giao sau ở yếu tố năng động nhưng thua ở yếu tố quen thuộc sử dụng Còn về chi phí, nhìn chung hợp đồng có kỳ hạn và hợp đồng giao sau có ưu thế hơn, nhưng không lớn lắm

Sử dụng hợp đồng hóan đổi để hạ thấp chi phí vốn thông qua phòng ngừa rủi ro,

do tận dụng những ưu thế tương đối, chênh lệch thuế khóa, việc phát triển thị trường mới Hoán đổi có ảnh hưởng lớn đến hoạt động tài trợ và phòng ngừa rủi ro, nó cho phép các công ty đột phá vào thị trường mới và tận dụng những ưu thế của nó để gia tăng kinh doanh mà không phải gia tăng rủi ro kèm theo Thông qua hóan đổi, có thể chuyển rủi ro ở một thị trường hay ở một loại hàng hóa nào đó sang thị trường khác, ở quốc gia khác mà hoạt động của chúng có liên quan đến thị trường hàng hóa quốc tế

Tất cả những hình thức giao dịch trên được sử dụng như những công cụ trợ giúp hữu hiệu cho việc phòng chống những rủi ro trong kinh doanh trên thị trường hàng hóa, rủi ro thanh toán ngoại tệ và cũng có thể coi là những công cụ giúp giảm thiểu chi phí vốn Tuy nhiên, bên cạnh đó, một giải pháp được đánh giá là có ưu thế nhất trong công tác hỗ trợ vốn cho những nhà kinh doanh nói chung là việc phát hành trái phiếu Thông thường, sự biến động của giá cả một loại hàng hóa nào đó trên thị trường sẽ luôn gây những bất ổn khác cho những kế hoạch kinh doanh đã được đặt định Song, đối với một

số những sản phẩm hay phẩm vật có tính chất ưu thế hơn tại mỗi địa phương nhất định, giá cả của chúng lại có thể được sử dụng như một yếu tố cốt yếu trợ giúp nguồn lực tài chính cho nhà sản xuất – kinh doanh

Trang 16

Trong thị trường tài chính, các sản phẩm phái sinh là hàng hoá, tỷ giá, lãi suất

được giao dịch, bản thân các sản phẩm này cũng mang lại lợi nhuận hoặc thua lỗ cho

người mua và bán (với ý nghĩa là nhà đầu cơ) Tuy nhiên luận văn này chỉ đề cập đến vai

trò công cụ quản trị rủi ro của các sản phẩm này và các doanh nghiệp sử dụng các sản

phẩm phái sinh để quản trị rủi ro chứ không phải cho mục đích đầu cơ Bằng việc sử

dụng các công cụ phái sinh, doanh nghiệp có thể chuyển rủi ro mà họ không mong muốn

cho các đối tác khác

1.3 TÍNH HAI MẶT CỦA SẢN PHẨM PHÁI SINH TÀI CHÍNH TRONG QUẢN

TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH

1.3.1 Vai trò, lợi ích của các sản phẩm phái sinh

1.3.1.1 Quản trị rủi ro

Vì sản phẩm phái sinh có quan hệ với giá của hàng hóa cơ sở trên thị trường giao

ngay, các sản phẩm phái sinh có thể được sử dụng để làm giảm hay tăng rủi ro của việc

sở hữu tài sản giao ngay

Thị trường sản phẩm phái sinh cho phép những người muốn làm giảm rủi ro của

mình chuyển giao rủi ro cho những người sẵn sàng chấp nhận nó, đó là những nhà đầu

cơ Vì vậy, thị trường này rất có hiệu quả trong việc phân phối lại rủi ro giữa các nhà đầu

tư, không có ai cần phải chấp nhận một mức rủi ro không phù hợp với bản thân mình Và

cũng vì thế mà họ sẵn sàng cung cấp nhiều vốn hơn cho thị trường tài chính, điều này tạo

điều kiện cho nền kinh tế phát triển, phát huy khả năng huy động vốn và giảm chi phí sử

dụng vốn

1.3.1.2 Thông tin hiệu quả hình thành giá

Các thị trường kỳ hạn và tương lai là nguồn thông tin quan trọng đối với giá cả

Đặc biệt, thị trường tương lai được xem là một công cụ chủ yếu để xác định giá giao ngay

của tài sản Điều này không hề bất bình thường, bởi có rất nhiều hàng hoá được giao dịch

trên thị trường tương lai nhưng thị trường giao ngay của nó rất rộng lớn và phân tán nên

rất khó có thể xác định được giá giao ngay của chúng Ở đây, thường giá tương lai của

những giao dịch sớm nhất sẽ được xác định là giá giao ngay Thêm nữa, thị trường giao

sau, trên thế giới thường nhộn nhịp hơn nên các thông tin do nó cung cấp có tính tin cậy

cao hơn Những thông tin được cung cấp trên thị trường phái sinh dù trực tiếp hay gián

tiếp đều góp phần hình thành giá giao ngay trong tương lai một cách có hiệu quả mà những người tham gia thị trường có thể chốt lại trong giới hạn chấp nhận của mình

Các giao dịch bán khống được thực hiện dễ dàng hơn Ngoài ra, các nhà đầu tư có thể tìm kiếm được những khoản lợi nhuận đáng kể từ chênh lệch giá, chênh lệch lãi suất Tất cả các chủ thể tham gia thị trường đều có thể tìm thấy lợi nhuận

1.3.1.4 Thị trường hiệu quả

Có các mối liên hệ quan trọng giữa giá giao ngay và giá sản phẩm phái sinh Việc giao dịch dễ dàng hơn và chi phí thấp hơn trên thị trường này tạo điều kiện cho giao dịch kinh doanh chênh lệch giá và những điều chỉnh nhanh chóng về giá cả loại trừ ngay lập tức những cơ hội lợi nhuận này Thị trường phái sinh giúp các tín hiệu thị trường khó bị bóp méo Vì thế, các nhà đầu cơ với ý định thao túng thị trường cũng có những khó khăn nhất định Chính vì thế, đặt bên cạnh thị trường giao ngay, sự hiệu quả của thị trường phái sinh giúp nâng cao tính lành mạnh cho thị trường đó Như vậy công cụ tài chính phái sinh là sản phẩm của nền kinh tế hiện đại.Nền kinh tế sẽ hưởng lợi nhiều vì giá của tài sản cơ sở phản ánh chính xác hơn giá trị kinh tế thật sự của hàng hóa

1.3.1.5 Lợi ích của công cụ phái sinh

Là một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia, việc hoàn thiện các công cụ tài chính phái sinh và phát triển thị trường này hiệu quả là thể hiện mức độ cao và chiều sâu của phát triển Hệ thống tài chính, sẽ là điều kiện cần để phát triển kinh tế ở tốc độ cao hơn

Xét ở góc độ tổng thể của nền kinh tế: Thị trường công cụ phái sinh đóng góp cho tăng trưởng kinh tế thông qua việc phát huy tốt các chức năng của hệ thống tài chính, đó là: Cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư; Sàng lọc, chuyển giao, và phân tán rủi ro; Giám sát doanh nghiệp; tăng tính thanh khoản của các công cụ tài chính (vận hành hệ thống thanh

Trang 17

Xét ở góc độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong phòng ngừa rủi ro tài

chính về tỷ giá, lãi suất, giá cả hàng hóa: Trong kinh doanh, các doanh nghiệp luôn phải

đối mặt với nhiều rủi ro Các biến động trên thị trường có thể làm cho một khoản lỗ

thương mại trở thành một khoản lợi nhuận, và một khoản lợi nhuận có thể trở thành một

khoản lỗ lớn Trong 2 nguy cơ trên thì nguy cơ thứ hai có khả năng xảy ra nhiều hơn Do

vậy, phòng ngừa rủi ro là biện pháp tốt nhất để bảo toàn thu nhập và chi phí Với một chi

phí chấp nhận được, các giao dịch phái sinh (forward, swap, future, option) giúp các

doanh nghiệp có hoạt động cố định chi phí và bảo toàn lợi nhuận, tránh ảnh hưởng bởi sự

biến động tỷ giá, lãi suất, giá cả hàng hóa

1.3.2 Sản phẩm phái sinh chứa đựng nhiều rủi ro

1.3.2.1 Rủi ro từ việc đầu cơ quá mức để tìm kiếm lợi nhuận

- Các sản phẩm phái sinh cho phép chuyển giao rủi ro từ những người muốn loại

trừ rủi ro hay giảm thiểu rủi ro sang những người muốn chấp nhận hay gia tăng rủi ro

Thị trường này đòi hỏi sự tồn tại các nhà đầu cơ sẵn sàng chấp nhận rủi ro để tạo điều

kiện cho những nhà phòng ngừa rủi ro mong muốn giảm thiểu những bất ổn phải gánh

chịu Hầu hết các nhà đầu cơ thật sự không kinh doanh các tài sản cơ sở và đôi khi không

biết gì về chúng Vì vậy, những nhà đầu cơ có một số đặc tính giống những tay cờ bạc

- Mặc dù sản phẩm phái sinh đầu tiên xuất hiện với tư cách là một công cụ phòng

ngừa rủi ro nhưng với sự lớn mạnh và phức tạp của thị trường tài chính, các công cụ tài

chính phái sinh cũng được sử dụng nhiều hơn để tìm kiếm lợi nhuận và thực hiện các

hoạt động đầu cơ Chính sự biến thái như trên mà việc sử dụng công cụ tài chính phái

sinh không phải lúc nào cũng có hiệu quả Các công cụ phái sinh tài chính ngày càng tinh

vi và mang theo một số rủi ro gây gián đoạn lớn hơn độ rủi ro thông thường Sự sụp đổ

của thị trường tài chính kinh tế Mỹ năm 1987 chính được đẩy nhanh nhờ sử dụng rộng rãi

kỹ thuật tự bảo hiểm Delta, được mua bán các hợp đồng bảo hiểm danh mục đầu tư

Những người bảo hiểm này đã đầu tư mạnh hơn vào thị trường mà nếu như không có kỹ

thuật này thì có thể họ đã không làm như vậy Khi thị trường sụp giảm đã kích hoạt bảo

hiểm, khối lượng bán đột ngột gây ra gián đoạn và thị trường sụp đổ

Bên cạnh đó, thị trường các sản phẩm phái sinh cũng là một công cụ hiệu quả cho

hoạt động đầu cơ Thay vì giao dịch cổ phiếu hoặc trái phiếu cơ sở, nhà đầu cơ có thể

bằng chứng khoán cơ sở Việc đầu cơ dễ dàng hơn bằng hơn sản phẩm phái sinh lại tạo điều kiện cho việc phòng ngừa rủi ro ít tốn kém hơn

1.3.2.2 Từ “phòng ngừa rủi ro” chuyển sang “đầu cơ” và sử dụng sản phẩm phái sinh không thích hợp

Các sản phẩm phái sinh đôi khi là nguyên nhân dẫn đến các khoản lỗ lớn cho các công ty lớn, quỹ đầu tư, chính phủ, nhà đầu tư phi lợi nhuận và các cá nhân

Sản phẩm phái sinh chứa đựng đòn bẩy khá cao, nghĩa là những thay đổi nhỏ trong giá cả có thể dẫn đến những khoản lợi nhuận hoặc mức lỗ rất lớn Sử dụng sản phẩm phái sinh trong những trường hợp không phù hợp là rất nguy hiểm Tiến hành đầu cơ trong khi phải tiến hành phòng ngừa rủi ro là một sai lầm mà ngay cả những người thông thái nhất cũng thường mắc phải Quá tự tin vào năng lực dự báo giá cả hay lãi suất của bản thân và sau đó hành động dựa trên những dự báo đó bằng cách sử dụng sản phẩm phái sinh có thể

là cực kỳ rủi ro

1.3.3 Sự cần thiết của sản phẩm phái sinh

Người muốn phòng ngừa rủi ro phải tìm được một người khác có nhu cầu đối lập hoàn toàn với mình, tức là rủi ro của người muốn phòng ngừa rủi ro phải được hấp thụ bởi các nhà đầu cơ Tại sao các giao dịch này lại có thể được thực hiện, khi mà thực tế rõ ràng là khi một bên có lợi thì tất yếu bên còn lại sẽ không thể tránh khỏi những thiệt hại? Bởi mỗi nhà đầu tư có một “khẩu vị rủi ro” khác nhau, khả năng chấp nhận rủi ro cũng khác nhau Tuy nhiên, ai cũng có mong muốn là giữ cho các khoản đầu tư của mình ở một mức rủi ro có thể chấp nhận được Và thế là họ gặp nhau và tiến hành việc chuyển giao một phần rủi ro của mình cho đối tác Và cũng không giống như người ta thường nghĩ, thị trường phái sinh không dẫn vốn trong nền kinh tế vào những âm mưu đầu cơ khủng khiếp Những nhà đầu cơ không phải là những tay cờ bạc Chỉ đơn giản là thay vì giao dịch cổ phiếu, họ giao dịch các sản phẩm phái sinh và chính việc đầu tư vào công cụ tài chính phái sinh lại tạo điều kiện cho việc phòng ngừa các rủi ro ít tốn kém hơn và hiệu quả hơn Bởi cần khẳng định chắc chắn rằng, thị trường phái sinh không hề tạo ra mà cũng chẳng thể phá huỷ được tài sản, chúng chỉ là những phương tiện chuyển giao rủi ro trên thị trường, những rủi ro sẵn có của thị trường tài sản, chuyển những khoản rủi ro đó

từ những người không đủ khả năng chấp nhận nó sang những người sẵn sàng tiếp nhận

Trang 18

Trong những năm gần đây, đã có nhiều nhà quản trị đưa công ty đến bờ vực nguy

hiểm và phá sản do sử dụng sản phẩm phái sinh không thích hợp Và hậu quả là sản phẩm

phái sinh- chứ không phải con người- bị phê phán rất nhiều Tuy vậy, các công cụ tài

chính phái sinh vẫn phát triển mạnh mẽ và được sử dụng rộng rãi ở các thị trường tài

chính lớn của thế giới Nguyên nhân không nằm ngoài việc đó là phương thức duy nhất

để các chủ thể trên thị trường phòng chống rủi ro Việc thực hiện quản trị rủi ro tài chính

và kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng công cụ phái sinh tài chính sẽ giúp cho doanh nghiệp

và thị trường tài chính có một công cụ phòng ngừa rủi ro tài chính một cách hiệu quả

1.4 NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH MILLAR WESTERN FOREST

PRODUCTS GIAO DỊCH HỢP ĐỒNG GIAO SAU VÀ QUYỀN CHỌN TRÊN

SÀN GIAO DỊCH HÀNG HÓA CHICAGO (CME)- BÀI HỌC KINH NGHIỆM

CHO CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU GỖ VIỆT

NAM

Năm 1969, Sở giao dịch Chicago đã trở thành sàn giao dịch đầu tiên tiến hành trao

đổi cung cấp bảo vệ giá cho ngành công nghiệp lâm sản với việc niêm yết của CME hợp

đồng giao sau chiều dài và rộng ngẫu nhiên của bản gỗ xẻ Các công ty tham gia vào sản

xuất, tiếp thị, gia công chế biến, sử dụng gỗ và các sản phẩm gỗ đã có thể tự bảo hiểm

phòng ngừa rủi ro, làm giảm nguy cơ đang nắm giữ hoặc mua hàng để tồn kho thông qua

việc có một vị thế mua hoặc bán trong hợp đồng giao sau gỗ xẻ

1.4.1 Nghiên cứu trường hợp điển hình: Millar Western Forest Products giao

dịch hợp đồng giao sau và quyền chọn trên sàn giao dịch Chicago (CME)

Millar Western Forest Productslà một công ty sản xuất và cung cấp gỗ xẻ ở

bang Alberta, Canada Mỗi năm công ty sản xuất 375 triệu BF gỗ Cung cấp cho thị

trường Canada, Hoa Kỳ và các quốc gia khác Do giá sản phẩm gỗ tại Canada hình thành

dựa trên giá tại Mỹ và định danh bằng bằng đồng đôla Mỹ Công ty thường xuyên thực

hiện phòng ngừa rủi ro biến động của giá gỗ và tỷ giá bằng các công cụ tài chính phái

sinh hợp đồng giao sau và quyền chọn trên sàn giao dịch CME

Mục tiêu của phòng ngừa rủi ro: Phòng ngừa chống lại giảm giá gỗ xẻ và biến

có điều chỉnh của năm năm trước trung bình ở mức Can$17,55 thấp hơn giá giao sau tháng 9/2009 Điều này có nghĩa là công ty kỳ vọng phòng ngừa ở mức giá mục tiêu (giá

kỳ vọng) của gỗ xẻ SPF Can$286,65/MBF (Đơn vị đo lường theo phụ lục 3) Giá kỳ vọng được tính toán như sau, ngày 15 tháng 5, bán giao sau tháng 9 với giá US$260/MBF Với tỷ giá dự tính là Can$1,17 thì mức giá kỳ vọng (mục tiêu) được xác định như sau:

Basic có điều chỉnh trung bình - (US$15,00/MBF) Giá kỳ vọng = US$245,00/MBF Tính theo đôla Canada

US$260 x Can$1,17/US$ = Can$304,20/MBF Basic có điều chỉnh trung bình - (Can$17,55/MBF) Giá kỳ vọng = Can$286,65/MBF

Dự kiến vào ngày 15 tháng 9, công ty bán gỗ trên thị trường giao ngay trong nước

và mua lại hợp đồng giao sau trên sàn giao dịch CME

Phòng ngừa vị thế bán gỗ xẻ SPF 2x4 giao sau tháng 9/2009 tại mức giá giao sau US$260,00/MBF (Can$304,20/MBF) với tỷ giá Can$1,17

Ngày 15 tháng 9 năm 2009 Giá tăng Giá giảm

a Vị thế mua hợp đồng giao sau tháng 9 US$275,00/MBF US$250,00/MBF

b Basic = c –a -(US$15,00/MBF) -(US$15,00/MBF)

d Lợi nhuận (lỗ) giao sau -(US$15,00/MBF) US$10,00/MBF

Ngày 15 tháng 9 năm 2009 Giá tăng Giá giảm

a Vị thế mua hợp đồng giao sau tháng 9 Can$321,75/MBF Can$292,50/MBF

b Basic = c –a -(Can$17,55/MBF) -(Can$17,55/MBF)

d Lợi nhuận (lỗ) giao sau - (Can$17,55)/MBF Can$11,70/MBF

Trang 19

+ Trường hợp giá tăng, lỗ trên vị thế giao sau = (US$260- US$275,00) x 1,17=

(304,2- 321,75)= - Can$17,55 Khoản lỗ trên vị thế giao sau Can$17,55 sẽ được bù trừ

bằng khoản lãi trên vị thế mua giao ngay Can$304,20 – Can$286,65= Can$17,55

+ Trường hợp giảm giá, lãi trên vị thế giao sau =(US$260- US$250,00) x 1,17

=(304,2- 292,50)= Can$11,70 Khoản lãi trên vị thế giao sau Can$11,70 sẽ được bù trừ

bằng khoản lỗ trên vị thế mua giao ngay Can$274,95 –Can$286,65= -Can$11,70

* Trường hợp không phòng ngừa rủi ro Giá tăng là một thuận lợi với công ty,

nhưng giá giảm là một rủi ro rất lớn Công ty phải tốn chi phí lưu kho lớn khi giá bán

không thuận lợi

* Trường hợp Đôla Canada tăng giá, basic có điều chỉnh không đổi: Công ty gặp

phải rủi ro với tỷ giá Do đôla Canada tăng giá nên giờ đây giá gỗ tính bằng đôla Mỹ quy

sang đôla Canada đã giảm đi (cần ít đôla Canada hơn để mua 1 đôla Mỹ)

Giả sử tỷ giá ngày 15/9/2009 đôla Canada sẽ tăng giá như sau :

1 USD = 1.08 CAD (giá dự tính theo tổ chức tư vấn về tỷ giá)

1 US Dollar = 1.08 Canadian Dollar

Vào ngày 15 tháng 9, công ty bán gỗ trên thị trường giao ngay trong nước và mua

lại hợp đồng giao sau trên sàn giao dịch CME

Phòng ngừa vị thế bán gỗ xẻ SPF 2x4 giao sau tháng 9/2009 tại mức giá giao sau

US$260/MBF (Can$304,2/MBF) với tỷ giá Can$1,08

Do đôla Canada tăng giá từ tỷ giá Can$1,17 đến Can$1,08 Nên giá gỗ xẻ SPF 2x4

tính bằng đôla Mỹ sang giá tính bằng đôla Canada đã giảm đi (cần ít đôla Canada hơn để

mua 1 đôla Mỹ) Trường hợp đầu tiên giá giao sau tăng lên là Can$297/MBF (US$275 x

1,08), so với trước đây là Can$321,75/MBF Trường hợp thứ hai giá giao sau giảm đi là

Can$270/MBF, so với trước đây là Can$292,5/MBF

Với tỷ giá là 1,08 giá kỳ vọng được tính toán như sau, ngày 15 tháng 5, bán giao

sau tháng 9 với giá US$260/MBF Với tỷ giá dự tính là Can$1,08 thì mức giá kỳ vọng

(mục tiêu) được xác định như sau:

US$260 x Can$1,08/US$ = Can$280,80/MBF

Basic có điều chỉnh trung bình - (Can$17,55/MBF)

Ngày 15 tháng 9 năm 2009 Giá tăng Giá giảm

a Vị thế mua hợp đồng giao sau tháng 9 Can$297,00/MBF Can$270,00/MBF

b Basic = c –a -(Can$17,55/MBF) -(Can$17,55/MBF)

d Lợi nhuận (lỗ) giao sau - (Can$16,20)/MBF Can$10,80/MBF

e Giá thuần = c+d Can$263,25/MBF Can$263,25/MBF

+ Trường hợp giá tăng, lỗ trên vị thế giao sau (US$260- US$275,00) x 1,08= (297,00- 280,80)= - Can$16,20 Khoản lỗ trên vị thế giao sau Can$16,20 sẽ được bù trừ bằng khoản lãi trên vị thế mua giao ngay Can$279,45 – Can$263,25= Can$16,20 + Trường hợp giảm giá, lãi trên vị thế giao sau = (US$260,00- US$250,00)x 1,08= (280,80- 270,00)= Can$10,80 Khoản lãi trên vị thế giao sau Can$10,80 sẽ được bù trừ bằng khoản lỗ trên vị thế mua giao ngay Can$252,45 – Can$263,25= -Can$10,80 Những biến động trong vị thế giao sau trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 9 không đủ để cân bằng lại những hậu quả do đôla Canada tăng giá Đồng đôla Canada tăng giá nên giá gỗ giao ngay quy từ giá định danh bằng đôla Mỹ về giá tính bằng đôla Canada giảm đi Cụ thể, trước đây giá giao ngay ngày 15/9/2009 là Can$286,65/MBF thời điểm nhà sản xuất kết thúc hợp đồng –mua giao sau và bán giao ngay- nay do đồng đôla tăng giá nên giá giao ngay chỉ còn là Can$263,25/MBF lỗ Can$23,40/MBF Bằng cách xem xét các tác động của tỷ giá hối đoái bằng cách so sánh các mức giá

và basic khi giá giao sau tăng lên và giảm xuống Trong các trường hợp trên công ty đã giả định basic có điều chỉnh giữ nguyên ở mức Can$17,55/MBF Trong thực tế basic có điều chỉnh của giá gỗ có những biến động không đáng kể, nhà sản xuất, nhà phân phối, người mua gỗ làm nguyên vật liệu có khả năng gặp phải rủi ro basic nhưng dạng rủi ro này không đáng kể bằng rủi ro biến động về giá cả gỗ và biến động tỷ giá

Thực hiện phòng ngừa rủi ro về biến động tỷ giá và giá sản phẩm gỗ xẻ

Công ty đã gặp rủi ro do đôla Canada tăng giá, giá bán của nhà sản xuất chỉ còn là Can$263,25/MBF thay vì Can$286,65/MBF như dự kiến Khoản lỗ do tỷ giá mang lại là Can$23,40/MBF Bằng cách mua giao sau đôla Canada với tỷ giá hối đoái, công ty sẽ lãi khi đôla Canada tăng giá và lỗ nếu như đôla Canada giảm giá Các khoản lãi (lỗ) ở vị thế giao sau được bù trừ tương ứng bằng các khoản lỗ và lời trên thị trường giao ngay Vào ngày 15 tháng 9, công ty bán gỗ trên thị trường giao ngay trong nước và mua lại hợp đồng giao sau trên sàn giao dịch CME Bằng việc phòng ngừa cho cả đồng đôla Canada và cho giá gỗ, kết quả việc phòng ngừa của công ty bắt đầu vào ngày 15/5 và kết thúc vào ngày 15/9 được tóm tắt trong bảng sau:

Trang 20

Basic có điều chỉnh(giảm

(Can$21,28/MBF)

=(265,37-286,65) Quy mô hợp đồng

(làm tròn: 2.200 x Can$

286,65=Can$630.630)

Can$600.000(6 hợp đồng) 2.200 MBF (20 hợp đồng)

(*) Kết quả phòng ngừa= (US$260/MBF- US$251,45/MBF) x 1 Can$1,0861

Đánh giá kết quả của việc phòng ngừa rủi ro của công ty

Tỷ giá đôla Canada/ đôla Mỹ đã được các nhà xuất khẩu Canada quan tâm hơn

trong những năm gần đây khi có những biến động lớn trong giá trị của đồng đôla Canada

Điều này có tầm quan trọng đặc biệt bởi giá cả của nhiều loại hàng hóa nông nghiệp được

xác định trên thị trường Mỹ, cũng gần giống như những gì mà những ngư dân nuôi cá

Basa của Việt Nam phải đối mặt với thực tế này Giá hàng hóa tuy sản xuất tại một quốc

gia nhưng lại thay đổi phụ thuộc vào những diễn biến của quốc gia khác Đôi khi, giá trị

cao của đôla Canada sẽ có tác động tiêu cực đáng kể lên giá cả hàng hóa được sản xuất

tại Canada Ngược lại là nhà nhập khẩu các yếu tố đầu vào phải đối phó với rủi ro đôla

Canada giảm giá sẽ làm giá cả hàng hóa nhập khẩu tăng lên

Nhà sản xuất tại Canada khi bán hàng hóa có giá được tính bằng đôla Mỹ, họ sẽ

phải gặp rủi ro do giá bán mặt hàng này giảm đi do đôla Canada tăng giá Như vậy khi

công ty dự định bán hàng hóa trong tương lai, sẽ gặp rủi ro khi đồng nội tệ tăng giá

Trong trường hợp này công ty tiến hành rủi ro tỷ giá bằng cách mua giao sau đôla

Số lượng đôla Canada cần thiết cho phòng ngừa cho 2.200MBF với giá kỳ vọng là Can$286,65/MBF Giá trị phải phòng ngừa là 2.200MBF x Can$286,65/MBF = Can$630.630

Số lượng hợp đồng tính bằng đôla Canada cần phòng ngừa chia cho 100.000 đôla Canada Như vậy với giá trị số lượng đôla Canada cần phòng ngừa công ty cần 6,3 hợp đồng (Can$630.630/Can$700.000) Công ty đã làm tròn xuống là 06 hợp đồng Bởi giá trị hàng hóa không được tiêu chuẩn hóa theo từng lô 100.000 đôla Canada nên sẽ không có

sự trùng khớp tương xứng Điều này phụ thuộc vào việc xác định có nên làm tròn lên hay xuống khi tính toán số lượng hợp đồng cần thiết để phòng ngừa rủi ro tiền tệ

Nếu không tính các chi phí giao dịch trên sàn CME cho gỗ xẻ và tỷ giá đôla Canada Bằng việc phòng ngừa cho cả đồng đôla Canada lẫn cho giá gỗ xẻ, nhà sản xuất nhận được Can$256,08/MBF (giá giao ngay cuối cùng) cộng với Can$9,29/MBF kết quả phòng ngừa rủi ro trên hợp đồng giao sau gỗ xẻ cộng với Can$19,55/MBF (=Can$43.010/2.200MBF) của việc phòng ngừa rủi ro đôla Canada Kết quả cho chúng ta

có tổng giá bán thuần là Can$284,92 Mức giá này thấp hơn mục tiêu ban đầu là Can$286,65 là do đôla đã được phòng thấp hơn mức yêu cầu (do quy mô hợp đồng công

Trang 21

1.4.2.1 Tối ưu hóa chi phí dự trữ gỗ nguyên liệu để bán hoặc để chế biến

thành sản phẩm đồ gỗ

Giá khám phá – Giá giao sau chứa đựng các thông tin bên trong nó, thường gọi là

chức năng “khám phá giá” của hợp đồng giao sau Nhà sản xuất và người tiêu dùng có

thể có những nhận định hiệu quả về cung cầu hàng hóa trong tương lai, giá giao ngay và

giá giao sau sẽ như thế nào bằng cách xem xét giá tương lai vào thời điểm hiện tại ra sao?

Từ đó, nhà sản xuất, chế biến và xuất khẩu gỗ Việt Nam có thể đưa ra những quyết định

sản xuất và dự trữ gỗ nguyên liệu tối ưu nhất Điều này giúp cho doanh nghiệp giảm chi

phí lưu kho

1.4.2.2 Các dự báo về biến động giá cả và tỷ giá làm “sắc nét” cho kế hoạch

phòng ngừa

Những chuyển động giá gỗ nguyên liệu trên thị trường là không thể dự đoán trước

được Nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro phải luôn luôn tìm cách giảm thiểu rủi ro, chứ không

nên thực hiện phòng ngừa theo hướng chuyển động của thị trường Các dự báo làm “sắc

nét” cho cho kế hoạch phòng ngừa và không là căn cứ cho quyết định phòng ngừa rủi ro

1.4.2.3 Quy mô hợp đồng giao sau, thời điểm đáo hạn

Các hợp đồng tiền tệ được giao dịch với nhiều tháng đến hạn khác nhau và có thể

sẽ không khớp nhau với ngày mua bán thực tế trên thị trường giao ngay hoặc giao sau

tương ứng Trong hầu hết các trường hợp, tháng trên hợp đồng được tính toán dựa trên

thời điểm sau thời điểm bán hàng Đây là tháng đáo hạn thích hợp cho phòng ngừa rủi ro

tỷ giá

Đối với hợp đồng giao sau gỗ xẻ trên sàn giao dịch Chicago rơi vào các tháng lẻ

(tháng 1, tháng 3, tháng 5, tháng 7, tháng 9 và tháng 11)

Số lượng hợp đồng tính bằng đồng đôla Canada để phòng ngừa cho một vị thế

được tính xấp xỉ bằng cách lấy giá trị phòng ngừa chia cho 100.000 đôla Canada Ở Việt

Nam qui mô hợp đồng là 100.000đôla Mỹ

1.4.2.4 Các bước tiến hành khi thực hiện phòng ngừa rủi ro giá gỗ nguyên

để phòng ngừa rủi ro Phòng ngừa rủi ro có thể được sử dụng để hỗ trợ trong việc lập lịch sản xuất, ổn định cân đối dòng tiền Mục tiêu phòng ngừa rủi ro không nên xem xét lợi nhuận có được trong tương lai Việc cân đối dòng tiền và lợi nhuận ổn định sẽ đạt được nhiều lợi ích quan trọng hơn cho sự thành công của doanh nghiệp trong một thời gian dài tốt hơn là một thời gian ngắn doanh nghiệp có thể đạt được hoặc thổn thất

Công ty cần xác định rõ ra các mục đích mà những hoạt động phòng ngừa nào có thể và không thể được sử dụng Định rõ ra những giới hạn về giá trị danh nghĩa cho những hoạt động phòng ngừa “quá nhạy cảm” ở từng thời điểm

Bước 2: Xác định vị thế phòng ngừa:

Khi một công ty đã viết ra một tập hợp rõ ràng về các mục tiêu cần phòng ngừa rủi

ro, bước tiếp theo thực hiện để cô lập nơi mà những rủi ro trong công ty Việc xác định đầu tiên là cho dù công ty có nhiều nguy cơ dài hạn, ngắn hạn hoặc cả hai Các yếu tố khác bao gồm chiều dài và kích thước của rủi ro tính theo giá trị VND hoặc theo m3

và mức chi phí để phòng ngừa rủi ro Một công ty có thể làm việc với kế toán để các số lượng, quy mô cho một chương trình phòng ngừa có thể được tạo ra khi cần thiết Bước 3: Kiểm tra thị trường

Công ty cũng có thể chuẩn bị một dự báo thị trường cơ bản Kiểm tra giá cả thị trường sẽ bao gồm một dự báo mức giá cao, giá thấp và dự báo biến đổi dự kiến trong phạm vi, phân tích kỹ thuật, đọc các biểu đồ giá để xác định xu hướng theo mùa và xu hướng giá trong dài hạn, xem bảng biểu giá giao sau và giá giao ngay có thể cung cấp một sự xác nhận về cơ bản và giúp dự báo cho công ty xu hướng xác định trong các mô hình cơ sở

Bước 4: Kế hoạch phòng ngừa

Trang 22

Trừ khi có một chương trình bảo hiểm rủi ro là hoàn toàn tự động thì tất cả công ty

phải đưa ra quyết định cuối cùng để phòng ngừa rủi ro

Mỗi công ty cũng sẽ lập kế hoạch thực hiện các phòng ngừa rủi ro cùng một lúc

hoặc thu nhỏ thời gian đáo hạn, chỉ sử dụng dự báo để làm sắc nét cho kế hoạch

Bước 5: Thực hiện phòng ngừa

Một khi đã đưa ra kế hoạch phòng ngừa công ty sẽ tiến hành thực hiện phòng

ngừa Xác định quy mô và thời gian đáo hạn cần thiết Đây là một vấn đề cần thảo luận

với các nhà môi giới của công ty Một khi các phòng ngừa được thực thi, các công ty nên

kiểm tra với kế toán của mình để đảm bảo rằng vị thế giao sau quyền chọn hàng hóa được

đặt phù hợp với vị thế giao sau hoặc quyền chọn của tỷ giá

Bước 6: Chấm dứt các phòng ngừa

Nghĩa vụ của hợp đồng giao sau có thể được thực hiện thông qua quá trình giao

hàng hoặc thông qua bù trừ Trong trường hợp thanh toán bằng tiền mặt: chỉ thanh toán

tiền qua tài khoản với nhau mà không cần giao nhận hàng Trong trường hợp thanh toán

bù trừ người nắm giữ hợp đồng giao sau sẽ thực hiện vị thế bằng nhau nhưng trái ngược

với vị thế giao sau hiện tại

Bước 7: Đánh giá hiệu quả phòng ngừa

Kế hoạch phòng ngừa rủi ro được lập bằng văn bản cho phép một công ty xem xét

và đánh giá sau sáu tháng hoặc một năm thực hiện hợp đồng giao sau Xem xét kết quả

phòng ngừa có đạt được mục tiêu ban đầu hay không? Nếu có, công ty đã phòng ngừa

hiệu quả các rủi ro biến động Nếu không, tại sao không?

1.4.2.5 Tiến hành nhận diện, đo lường độ nhạy cảm và am hiểu các loại rủi ro

công ty đang gánh chịu

- Công ty sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ Việt Nam phải chắc chắn rằng đã biết

là đang gánh chịu bao nhiêu rủi ro Công ty phải có một phương pháp đo lường điều gì sẽ

xảy ra nếu có rủi ro kiệt giá tài chính Nguyên tắc này quan trọng nếu công ty đang sử

dụng sản phẩm phái sinh để làm giảm rủi ro, ở chỗ công ty có thể muốn sở hữu một biện

pháp đo lường nhạy cảm trước và sau khi sử dụng sản phẩm phái sinh Tuy nhiên, nguyên

tắc này là trọng yếu nếu công ty sử dụng sản phẩm phái sinh để thực hiện vị thế đầu tư

- Công ty phải chắc chắn rằng mọi người trong công ty hiểu như nhau Các nhà

thay đổi độ nhạy cảm của công ty với các biến động trong giá, tỷ giá, lãi suất Và đặc biệt

là nếu bộ phận này mở ra một vị thế, các nhà quản trị cao cấp cần phải biết điều gì sẽ xảy

ra đối với dòng tiền công ty nếu như có các biến động trong giá hàng hóa, tỷ giá và lãi suất

1.5 NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM VỀ HOẠT ĐỘNG SÀN GIAO DỊCH CÀ PHÊ TẠI VIỆT NAM BÀI HỌC KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM PHÁI SINH ĐỂ PHÒNG NGỪA RỦI RO TÀI CHÍNH CHO CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU GỖ VIỆT NAM

1.5.1 Kinh nghiệm hoạt động sàn giao dịch cà phê tại Việt Nam:

1.5.1.1 Giới thiệu về trung tâm giao dịch cà phê Buôn Mê Thuột (BCEC)

Trung tâm giao dịch cà phê Buôn Mê Thuột (BCEC- Buon Ma Thuot Coffee Exchange Center) là một tổ chức dịch vụ thương mại, nơi giao dịch, mua bán các loại cà phê hạt khô (cà phê nhân) sản xuất tại Việt Nam, hoạt động theo phương thức đấu giá tập trung và công khai gồm giao dịch mua bán giao ngay và giao dịch mua bán giao sau; hoạt động theo nguyên tắc thành viên, dưới sự quản lý của UBND tỉnh Đaklak Theo đó BCEC vừa là thị trường sơ cấp vừa là thị trường thứ cấp:

- Thị trường sơ cấp: Là những giao dịch mua bán lần đầu, sản phẩm của người sản xuất lần đầu tiên được đưa vào giao dịch (sản phẩm không xuất xứ từ hợp đồng mua trước đó tại Trung tâm Giao dịch Cà phê BMT) hình thành hợp đồng nguyên thuỷ

- Thị trường thứ cấp (dành riêng cho giao dịch kỳ hạn): Là những giao dịch mua bán lại quyền mua từ hợp đồng nguyên thuỷ (bên mua bán lại hợp đồng cho người khác) Nghĩa là Trung tâm giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột phục vụ cho cả người sản xuất và người kinh doanh, tiêu thụ

Các tổ chức kinh doanh trong nước muốn trở thành thành viên của BCEC phải có vốn tự có ít nhất là 5 tỷ đồng, và có 3 năm liên tục gần nhất có số lượng cà phê xuất khẩu, chế biến hoặc tiêu thụ ít nhất là 5.000 tấn/niên vụ

Đối với các tổ chức môi giới phải có giấy phép hoạt động môi giới tài chính, thương mại và có vốn điều lệ tối thiểu là 3 tỷ đồng, còn đối với các tổ chức môi giới nước ngoài là 2 triệu USD Các tổ chức, đơn vị không hội đủ các điều kiện để trở thành thành viên nhưng muốn tham gia giao dịch tại Trung tâm phải được môi giới thông qua một tổ chức thành viên

Trang 23

Trung tâm có sàn giao dịch nên các tổ chức thành viên có thể giao dịch trực tiếp

tại sàn hoặc giao dịch qua mạng Internet Thời gian giao dịch tại trung tâm là 5

phiên/tuần bắt đầu từ 19h30 đến 21h00 theo giờ giao dịch của thị trường Luân Đôn

Sản phẩm cà phê đăng ký tham gia giao dịch tại trung tâm gồm 2 loại cà phê chính

là cà phê Arabica ký hiệu trong giao dịch là A và cà phê Robusta ký hiệu là R Mỗi loại

cà phê được phân thành 6 thứ hạng từ hạng đặc biệt đến hạng 5 và loại cà phê nhân xô

(hỗn hợp)

BCEC có ba tổ chức ủy thác:

- Ngân hàng ủy thác thanh toán là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương

(TECHCOMBANK), thực hiện các nghiệp vụ thanh toán cho các hoạt động giao

dịch tại Trung tâm

- Tổ chức uỷ thác kiểm định chất lượng sản phẩm là Chi nhánh Công ty Giám định

hàng hóa nông sản xuất khẩu thuộc Bộ NN&PTNT tại Đaklak (CafeControl) thực

hiện việc kiểm định chất lượng, phẩm cấp, chủng loại cà phê

- Công ty An Giang ủy thác quản lý, kinh doanh kho với hệ thống kho bãi do công

ty Thái Hòa (công ty mẹ) đầu tư

Để làm tốt các chức năng, nhiệm vụ trên và nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho

các các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, chế biến, xuất khẩu cà phê, nhất là đối với

người trực tiếp sản xuất cà phê, BCEC cùng với Techcombank và doanh nghiệp quản lý

kho triển khai hoạt động ký gửi hàng hóa, cung cấp dịch vụ tín dụng, các dịch vụ kho bãi,

các dịch vụ khác về kiểm định, gia công, chế biến, giao nhận hàng hóa khi khách hàng có

nhu cầu, với hệ thống gồm 04 kho và 01 xưởng chế biến ngay tại Trung tâm

Khi xây dựng dự thảo quy chế giao dịch, BCEC dự định triển khai cả hai cách

thức giao dịch là mua bán giao ngay và mua bán kỳ hạn Tuy nhiên, sau đó BCEC chỉ

chọn mua bán giao hàng thật để bảo đảm từng bước đi phù hợp với trình độ mua bán cà

phê của phần đông nông dân và doanh nghiệp hiện nay

Với phương thức mua bán này khiến BCEC giống một đại lý thu mua chứ chưa

hẳn đã trở thành một sàn giao dịch khi chưa có mua bán kỳ hạn, mà chỉ là mua bán giao

ngay Khi giao dịch tại sàn người nông dân được hưởng khá nhiều lợi ích, cụ thể như:

- Người nông dân có thể yên tâm khi gửi kho của sàn, không sợ vỡ nợ, rủi ro như ký

gửi cà phê ở đại lý như bao lâu nay

- Người nông dân được hướng dẫn phân loại cà phê xô theo ba tiêu chuẩn dựa trên kích cỡ hạt (có sàng đo kích cỡ để phân loại), đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, nhờ đó bán thành phẩm được giá cao hơn nhiều so với bán xô tại đại lý

- Cà phê ký gửi được kiểm định chất lượng bởi công ty Cafecontrol, chỉ cần 30 phút sau khi nhập kho là có thể cho người gửi biết kết quả lô hàng nhập là bao nhiêu phần trăm sàng 18 (cỡ hạt), sàng 16, sàng 13, độ ẩm, tỷ lệ hạt đen vỡ, tỷ lệ tạp chất… đồng thời được cấp giấy chứng thư đã ký gửi trong đó có chứng nhận tiêu chuẩn cà phê của Cafecontrol Người nông dân có thể dùng nó để bán, cầm cố vay tiền ngân hàng, còn nếu chưa cần tiền thì cứ gửi ở kho của sàn, khi nào cần thì bán

1.5.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của BCEC

Thế nhưng khi nhìn vào khối lượng và giá trị giao dịch qua BCEC - năm 2009 chỉ

có 320 tấn cà phê gửi kho với giá trị giao dịch gần 9 tỷ đồng, 9 tháng đầu năm 2010 có khá hơn khi lượng hàng giao dịch là 960 tấn cà phê với giá trị giao dịch khoảng gần 27 tỷ đồng - có thể thấy BCEC còn thua xa một đại lý cà phê cấp 3 ở huyện trong mùa vụ thu hoạch cà phê có thể mua bán hàng chục hay hàng trăm tấn một ngày, trong khi trung tâm được nhà nước đầu tư hàng chục tỉ đồng nhưng khối lượng giao dịch chỉ có 16 tấn với giá trị 380 triệu đồng như vào ngày 25/3/2010 Trong những tháng đầu niên vụ cà phê 2009-2010, hàng ngày nông dân, đại lý chỉ ký gửi vài chục tấn, chẳng thấm là bao so với hàng trăm ngàn tấn cà phê nhân ở Đak Lak

Mặc dù trong gần 3 năm qua, sàn đã liên tục có những điều chỉnh cần thiết, phù hợp hơn với thực tế như: hạ thấp lượng cà phê ký gửi vào đây để làm thành viên từ 5 tấn xuống còn 1 tấn; từ 1 tấn trở lên là có thể thực hiện được một phiên giao dịch trên sàn; nhiều thủ tục hành chính khác cũng được giản lược…, nhưng số thành viên và lượng cà phê được ký gửi vào đây vẫn quá khiêm tốn, thành viên đăng ký bán cà phê ở sàn tới giờ,

dù có tăng nhưng cũng chỉ hơn 40 cá nhân mà đa phần là đại lý, một con số rất khiêm tốn nếu so với hàng vạn hộ dân trồng cà phê ở Đắk Lắk nói riêng và hàng trăm ngàn hộ nông dân trồng cà phê ở Tây Nguyên mà sàn này định hướng nhắm tới Thành viên đăng ký kinh doanh, hay nói chính xác hơn là đăng ký mua, cũng chỉ mới có 21 doanh nghiệp, con số quá ít ỏi so với hơn 140 doanh nghiệp có kinh doanh cà phê hiện nay ở tỉnh Đaklak

Chiều 11-3, trong khuôn khổ Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần 3 - 2011, tỉnh Dak Lak đưa vào hoạt động thí điểm (1 năm) sàn giao dịch cà phê kỳ hạn (giao sau) tại Trung

Trang 24

các hợp đồng giao dịch kỳ hạn Biểu hiện rõ nhất là sự sụt giảm của thanh khoản Vào

tháng 3/2011, khi sàn này mới đưa các hợp đồng cà phê giao sau vào khớp lệnh, thanh

khoản thị trường duy trì ở mức 70 – 80 lô/ngày

Nhưng gần đây, thanh khoản giảm xuống dưới 20 lô/ngày, nhiều mã hàng không

có giao dịch Giá trị giao dịch giảm xuống trên dưới 1 tỷ đồng/phiên Nguyên nhân của

tình trạng này, theo BCEC là do thời gian đầu, các thành viên môi giới tự lập nên thị

trường ban đầu để lôi kéo NĐT Nhưng một thời gian sau đó, các thành viên này vẫn

chưa đủ về năng lực tài chính dẫn đến sự “mất nhiệt” từ các đối tượng tham gia giao dịch,

do trên sàn không có lệnh đối ứng để khớp

Một trong các thách thức với BCEC đến từ mô hình và khả năng tài chính eo hẹp,

dù đang sàn này đang tọa lạc tại thủ phủ của xứ cà phê

BCEC đang kỳ vọng phương án chuyển đổi Trung tâm thành CTCP được cơ quan

quản lý thông qua Trong khi chờ đợi, nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các NĐT cũng như

các thành viên giao dịch, Trung tâm đang nỗ lực làm mới mình và tăng sự hấp dẫn cho

sân chơi bằng cách định hướng thay đổi sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu trong nước

Cụ thể, BCEC đang khảo sát nhu cầu của NĐT về thời gian giao dịch (hiện nay từ

14 – 17h) và biên độ giá (hiện nay là +/-4%) Thậm chí, để tăng tính hấp dẫn cho sân

chơi, bên cạnh biên độ giá đề xuất +/-5% và +/-10%, BCEC còn để ngỏ về khả năng bỏ

hoàn toàn biên độ Sự thông thoáng này nếu được áp dụng sẽ gia tăng đáng kể cơ hội và

thu hút các NĐT lướt sóng nếu thanh khoản được cải thiện

Việc thành lập BCEC là đúng nhưng rõ ràng hiệu quả không được như mong đợi

và không thu hút được người nông dân đến sàn Để giao dịch giao sau hiệu quả hơn thiết

nghĩ cần thiết lập một mạng lưới giao dịch rộng lớn có tổ chức từ Sàn Giao Dịch cho đến

vườn của người nông dân để thay thế cho một hệ thống đại lý tự sinh tự phát đã ẩn chứa

quá nhiều rủi ro cho người nông dân trong thời gian qua

1.5.1.3 Nguyên nhân BCEC chưa triển khai thành công giao dịch giao sau:

Khung pháp lý còn thiếu đồng bộ, chưa đầy đủ và chưa phù hợp với thông lệ

quốc tế

Hiện nay chúng ta đã và đang xây dựng hoàn thiện các khuôn khổ pháp lý của cơ

chế thị trường giao sau, song còn thiếu đồng bộ, chưa đầy đủ và chưa phù hợp với thông

lệ quốc tế Do tính đặc thù của thị trường phái sinh mà cụ thể là thị trường giao sau nên

Vì vậy cùng với việc hoàn thiện sửa đổi các luật đã có, bước đầu Chính phủ cần nghiên cứu, soạn thảo và ban hành các thông tư, nghị định quy định về việc kinh doanh, giao dịch trên thị trường hàng hóa giao sau Sau đó cần phải nghiên cứu và soạn thảo pháp lệnh kinh doanh trên thị trường này Tuy nhiên để xây dựng công cụ pháp lý riêng cho loại thị trường này là khó khăn lớn của Việt Nam Luật chứng khoán Việt Nam cũng

đã có quy định về các hình thức giao dịch giao sau Tuy nhiên trên thực tế thì vẫn chưa thể áp dụng vì chưa được hướng dẫn thực hiện cụ thể Những phương thức này chỉ có thể

áp dụng khi thị trường giao sau Việt Nam đảm bảo các yếu tố về hạ tầng kỹ thuật, pháp lý

và phát triển đến một trình độ cao hơn nhiều so với hiện nay

Thông lệ tập quán kinh doanh của người nông dân

Đó là thói quen mua bán cũ khá tiện lợi cho nông dân Nông dân thu hoạch cà phê với bất kỳ khối lượng nào cũng được đại lý, thương lái ở thôn buôn, trong xã tới mua cà phê xô mà tiền có thể trao ngay hoặc ghi nợ mà nông dân có thể lấy bất kỳ lúc nào mình muốn Trong khi nếu muốn bán cho sàn, đầu tiên phải làm ra cà phê đạt tiêu chuẩn Việt Nam - vốn khá rắc rối với nông dân, sau đó nông dân phải chuyên chở tới sàn mà không phải ai cũng có phương tiện

BCEC có hệ thống kho lớn nhưng nông dân thu hoạch mỗi lần vài tấn cà phê ở các huyện, xã cách xa trung tâm hàng chục cây số phải thuê xe chở về trung tâm, làm phát sinh chi phí Thế nên, nông dân gửi cà phê cho đại lý trong thôn, xã vẫn thuận tiện hơn Bên cạnh đó các doanh nghiệp lại có mạng lưới thu mua cà phê đủ mạnh thông qua các đại lý ở huyện, xã và họ cũng chẳng cần tham gia sàn dù thừa biết đây là phương thức mua bán hiện đại mà nhiều nước tiên tiến đã và đang áp dụng cho nông sản

Hay nói khác hơn, bản chất của kiểu mua bán cũ là qua nhiều tầng nấc trung gian

để đưa hạt cà phê từ nông dân tới nhà xuất khẩu hay chế biến Đột phá để phá vỡ một phần trong hệ thống mua bán cũ đã ăn sâu vào nông dân, đại lý không phải là điều dễ dàng Đây là một thông lệ có từ rất lâu đời, do vậy để thay đổi cần có thời gian và tác động của các cơ quan quản lý

Tham gia thị trường giao sau – hoạt động vẫn còn mới mẻ ở Việt Nam

Những hạn chế về kiến thức của các nhà kinh doanh và các cấp quản lý ở Việt Nam khiến cho việc xây dựng trong thực tiễn vấp phải nhiều trở ngại Muốn xây dựng được thị trường thì trước hết phải huấn luyện được đội ngũ nhà kinh doanh am hiểu về sản phẩm phái sinh và thị trường giao sau

Trang 25

Kinh doanh ở các doanh nghiệp hiện nay chủ yếu là do phán đoán chủ quan có

được do tích luỹ từ nhiều năm, thế hệ trước truyền cho thế hệ sau Tuy nhiên khi mở rộng

quy mô kinh doanh, hội nhập ngày càng sâu rộng thì tính chất rủi ro cũng có nhiều biến

động do vậy không thể lường trước được Hơn nữa kiến thức về tài chính thế giới cũng

như các kỹ thuật phân tích đo lường, ước lượng mô hình mô phỏng biến động giá cả còn

rất thiếu và yếu Chỉ một bộ phận nhỏ các cán bộ trong doanh nghiệp được đào tạo nhưng

chưa có sự chuyên sâu Vừa kinh doanh vừa học do vậy những sai lầm mắc phải là không

thể tránh khỏi

Đội ngũ các nhà kinh doanh rủi ro trên thị trường thứ cấp chưa thật sự mạnh về cả

chất lẫn lượng Do mức độ phát triển của thị trường tiền tệ, thị trường vốn còn thấp, trên

thị trường cón thiếu vắng các nhà đầu tư am hiểu kỹ về lợi ích cũng như kỹ thuật tính

toán lợi nhuận từ các loại nghiệp vụ này Bên cạnh đó, các nhà môi giới còn quá ít để

thúc đẩy các nhà đầu tư tham gia mạnh mẽ thị trường này

1.5.1.4 Giao dịch bằng hợp đồng tương lai trên thị trường Luân Đôn, thông

qua môi giới là ngân hàng Techcombank:

Giao dịch bằng hợp đồng tương lai trên thị trường Luân Đôn đang được khá nhiều

nhà xuất khẩu của Việt Nam quan tâm Một đặc điểm của việc sử dụng hợp đồng tương

lai của Việt Nam là các qui định của Ngân hàng Nhà nước đòi hỏi việc giao dịch loại hợp

đồng này phải được thực hiện qua các Ngân hàng đồng thời phải diễn ra trên cơ sở giao

hàng thực để tránh hiện tượng lợi dụng giao dịch hợp đồng tương lai trên thị thường hàng

hóa để đầu cơ Ở các nước khác hầu như không có một qui định như vậy

DN muốn tham gia giao dịch những loại nông sản nói trên phải là đơn vị chuyên

kinh doanh những loại đó và hiểu biết sâu về thị trường hàng hóa này DN ký một hợp

đồng nguyên tắc, mở tài khoản ở Techcombank và đăng ký giao dịch hằng ngày Do nối

mạng Internet trực tiếp với các sàn giao dịch như: LIFFE, NYBOT, SIMEX, TOCOM

của châu Âu nên DN tại Việt Nam phải lên mạng giao dịch từ 16 giờ 30 đến gần 24 giờ

DN dự đoán hàng hóa mình đang buôn bán sắp tới giá sẽ lên hay xuống để đặt lệnh mua,

bán về số lượng và giá cả cho hợp đồng tương lai Lệnh này sẽ được chuyển về trung tâm

của Techcombank Sau khi kiểm tra cứ liệu chắc chắn, chuyên viên giao dịch sẽ cho khớp

lệnh với sàn giao dịch Nếu lệnh được khớp thì nó sẽ được nhập trực tiếp đến sàn giao

dịch ở nước ngoài và tại trung tâm của Techcombank Như vậy, giao dịch coi như đã thực

hiện xong Mỗi đơn vị hợp đồng (lot) đối với cà phê là 5 tấn.Việc thực hiện hợp đồng

tương lai thông thường bằng 2 cách: sẽ giao hàng thực theo thỏa thuận hoặc chỉ thanh toán tiền qua tài khoản với nhau mà không cần giao nhận hàng

Trước đây, khi chưa trực tiếp giao dịch tại thị trường kỳ hạn Lon don, DN xuất khẩu cà phê phải chịu rất nhiều thua thiệt Thông thường, chênh lệch giữa giá chào bán cà phê Việt Nam với giá giao dịch trên thị trường kỳ hạn London khá lớn, luôn ở mức trên 100USD/tấn Ví dụ như, trong khi hồi đầu tháng 9 năm 2004, giá cà phê chào bán trung bình của các công ty Việt Nam là 540-550USD/tấn (khách mua cũng chỉ trả 520USD/tấn), thì giá giao dịch trên thị trường London giao tháng 11/2004 là 660USD/tấn; chưa kể nhiều thời điểm, mức giá còn lên đến trên 700USD/tấn

Nay thì, nhờ giao dịch trực tiếp trên thị trường kỳ hạn London, DN không còn bị thua thiệt về chênh lệch giá như đã nói trên, thay vào đó DN chỉ phải chịu một khoản phí không đáng kể cho nhà môi giới (Techcombank) Khoản phí này là 10 USD/tấn cho mỗi giao dịch dưới 200 lot (lot là đơn vị tính cho mỗi hợp đồng 5 tấn cà phê nhân) và trên

1000 lot phí giảm còn 2 USD/tấn

Giao dịch hợp đồng giao sau đầu tiên đối với mua bán cà phê được thực hiện vào ngày 26/11/2004 giữa Cty đầu tư xuất nhập khẩu Đắc Lắc (Inexim Dak Lak) với sàn giao dịch Liffe (London Internationnal Financial Futures & Options Exchange) mà Techcombank là môi giới (nơi thực hiện ký quỹ) Từ đó đến nay, đã có nhiều DN thực hiện phương thức mua bán này, nhưng qua khảo của Sở thương mại – du lịch thì đa số các DN đều bị thua lỗ trên thị trường giao dịch với số tiền ước tính khoảng 31 tỷ đồng Nguyên nhân dẫn đến thua lỗ của các nhà đầu tư là do giá cà phê trên thế giới từ khoảng tháng 10/2008 đến đầu năm 2010 có xu hướng tăng giảm bất thường và các doanh nghiệp Việt Nam thường “chốt giá” vào thời điểm giá xuống do “tâm lý sợ giá xuống nữa” nên dẫn đến thu nhập thấp hoặc thua lỗ Đây chính là một số nguyên nhân dẫn đến thua lỗ của các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Tuy nhiên, điều này không phản ánh bản chất kinh doanh của phương thức giao dịch hợp đồng giao sau mà cho thấy trình

độ vận dụng phương thức này của các doanh nghiệp còn hạn chế

1.5.2 Bài học phát triển sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính cho các doanh nghiệp sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ Việt Nam

1.5.2.1 Thành lập trung tâm giao dịch,cung ứng gỗ cho 3 miền Bắc,Trung,Nam:

Đây phương án liên kết giúp doanh nghiệp ngành gỗ vượt qua rào cản gia tăng liên

Trang 26

phụ thuộc vào nguyên liệu gỗ nhập khẩu (80% nhu cầu gỗ nguyên liệu phải nhập khẩu,

trong nước chỉ đáp ứng 20% nhu cầu) Không chủ động về nguồn hàng, các DN này đều

phải tuân theo sự trồi sụt của thị trường gỗ thế giới Hiện cả nước có trên 600 DN kinh

doanh xuất khẩu gỗ, chế biến gỗ là từng ấy DN tham gia nhập khẩu gỗ nguyên liệu Sự

phân tán này không chỉ dẫn tới những bất ổn về giá cả, mà còn khiến doanh nghiệp mất

nhiều thời gian thương thảo, tốn chi phí vận chuyển Do vậy, số lượng các đơn hàng

thường nhỏ lẻ, phụ thuộc vào thời gian giao hàng của đối tác, tốn nhiều công sức, tiền bạc

để làm thủ tục hải quan Ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản

nhận xét, trong 700 triệu USD bỏ ra để nhập gỗ nguyên liệu, nếu tập trung vào 2-3 đầu

mối chính chúng ta có thể tiết kiệm ít nhất 100 triệu USD Đó là chưa kể, các DN nhỏ

thường gặp rủi ro trong giao dịch mua bán vì không thông hiểu luật lệ nước ngoài Thậm

chí, nhiều DN còn cạnh tranh nguồn nguyên liệu tạo điều kiện cho đối tác nâng giá, gây

thiệt hại chung cho cả ngành gỗ

Theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Công văn số 1940/TTg-

NN vừa ban hành.Thủ tướng cũng yêu cầu việc tổ chức hoạt động của các chợ đầu mối

phải đảm bảo nguyên tắc kiểm soát, quản lý được các nguồn gỗ nguyên liệu và lâm sản

khai thác hợp pháp từ rừng tự nhiên trong nước và nguồn gỗ nhập khẩu từ nước ngoài,

ngăn chặn việc lợi dụng đưa gỗ phạm pháp vào chợ để hợp lý hóa trong khâu lưu thông

tiêu thụ.Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam chịu trách nhiệm liên hệ với các tỉnh Gia Lai,

Kon Tum, Đắk Lắk, Bình Phước và các tỉnh có rừng để tổ chức thu mua hoặc liên kết

khai thác tận thu Đồng thời, tận dụng các loại gỗ từ diện tích rừng và đất lâm nghiệp

được chuyển đổi mục đích sử dụng để tạo nguồn nguyên liệu phục vụ cho chế biến, sản

xuất hàng xuất khẩu và hàng mộc gia dụng đáp ứng nhu cầu trong nước

Hoạt động của trung tâm là tập hợp các nhu cầu của doanh nghiệp, là đầu mối

chính để tiến hành thu mua gỗ nguyên liệu ở trong nước và ngoài nước DN kinh doanh

gỗ sẽ xem xét, đặt mua các loại gỗ nguyên liệu tại các sàn giao dịch này Có thể trung

tâm giao dịch gỗ này sẽ một công ty cổ phần với sự góp vốn của các công ty chế biến

kinh doanh đồ gỗ cùng trên một địa bàn, cùng nhu cầu về chủng loại nguyên liệu Sự

thành công của Công ty TNHH gỗ Tiến (Tien Timber Group) là một kinh nghiệm thiết

thực cho việc thành lập các trung tâm giao dịch và cung ứng gỗ nguyên liệu và các phụ

liệu cho ngành gỗ Công ty TNHH gỗ Tiến đã khởi công xây dựng kho ngoại quan gỗ đầu

tiên của Việt Nam tại Khu công nghiệp Nam Tân Uyên, nơi đây đồng thời được xây dựng

dựng thành nơi giao dịch nguyên phụ liệu cho công nghiệp gỗ ở Bình Dương và các tỉnh

Tuy nhiên, nếu thành lập được DN thì việc nhập khẩu cũng có một số khó khăn nhất là nguồn vốn để nhập khẩu nguyên liệu Theo tính toán, 1m3

gỗ tròn hiện nay có giá trung bình 200USD Mỗi lần, phải nhập ít nhất vài chục ngàn khối và số tiền lên tới hàng triệu USD Đó là chưa kể đến chi phí vận tải, lưu kho rất lớn.Trong khi đó, để thu hồi vốn hết vốn bỏ ra phải mất nhiều thời gian có khi gần một năm vì phải trải qua quá trình chế biến, xuất khẩu rồi mới được thanh toán Nếu vay vốn ngân hàng thì các DN chỉ được vay ngắn hạn với lãi suất kinh doanh trên thị trường chắc chắn DN không thể nào trụ được Vì thế, Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam đã đề nghị sự hỗ trợ từ phía Nhà nước về vấn đề vốn, kho bãi, chính sách thuế xuất nhập khẩu…

Như vậy trung tâm giao dịch cung ứng gỗ nguyên liệu của 3 miền Bắc, Trung, Nam hoạt động theo phương thức đấu giá tập trung và công khai thực hiện giao dịch mua bán giao ngay và kỳ hạn (thị trường sơ cấp)

1.5.2.2 Tạo điều kiện cho doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro qua thực hiện hợp đồng giao sau và quyền chọn gỗ xẻ trên sàn giao dịch Chicago

Vậy vấn đề hiện nay là doanh nghiệp có thể giảm được chi phí nhập khẩu gỗ nguyên liệu tuy nhiên chưa có công cụ nào để doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro do biến động về giá gỗ nguyên liệu

Xét hiệu quả về kinh doanh qua sàn cà phê BCEC và thực hiện hợp đồng giao sau giữa các doanh nghiệp kinh doanh cà phê với sàn giao dịch Liffe (London Internationnal Financial Futures & Options Exchange) mà Techcombank là môi giới (Ngân hàng Kỹ thương VN, nơi thực hiện ký quỹ) thì hoạt động trực tiếp với sàn giao dịch quốc tế thông qua môi giới là ngân hàng là có hiệu quả hơn

- Sản lượng gỗ Việt Nam chỉ đáp ứng có 20% nhu cầu, kinh nghiệm từ việc lập sàn Sicom Singapore sàn giao dịch phải gắn với vùng nguyên liệu (Sicom không thành công với cà phê có nguyên nhân khá đơn giản là Sicom không có lợi thế ở trung tâm các vùng nguyên liệu của các quốc gia sản xuất cà phê lớn như Braxin, Việt Nam, Indonesia)

- Với doanh thu xuất khẩu chiếm hơn 80% trong tổng doanh số và cũng nhập khẩu nguyên vật liệu chiếm đến hơn 50% doanh số phần lớn bằng ngoại tệ là đô la Mỹ Tuy không sử dụng đồng tiền Việt Nam để giao dịch và ký quỹ nhưng với nguồn ngoại tệ dồi dào từ xuất khẩu sẽ hạn chế được rủi ro biến động tỷ giá cũng như giảm nhu cầu ngoại tệ trong giao dịch Thì việc ký quỹ 10% bằng ngoại tệ là đôla Mỹ cho hợp đồng giao sau và quyền chọn sản phẩm gỗ xẽ trên sàn giao dịch Chicago là một vấn đền không đáng ngại cho doanh nghiệp

Trang 27

Do đó giải pháp tạo điều kiện cho doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro qua thực hiện

hợp đồng giao sau và quyền chọn gỗ xẻ trên sàn giao dịch Chicago là khả thi

Ngân hàng và Hiệp Hội gỗ và Lâm sản Việt Nam dưới sự hỗ trợ của Bộ Công

Thương tạo điều kiện cho các doanh nghiệp CBG giao dịch trực tiếp tại thị trường giao

sau sàn giao dịch Chicago (CME group), thông qua nhà môi giới là ngân hàng Thực hiện

các giao dịch các hợp đồng giao sau và quyền chọn về gỗ xẻ Ngoài khoảng chi phí giao

dịch theo quy định trên sàn CME là $0,1/MBF, quy mô hợp đồng 110 MBF/hợp đồng,

doanh nghiệp sẽ chỉ phải trả một khoản phí không đáng kể cho nhà môi giới (ngân hàng)

1.5.2.3 Đặc thù rủi ro tài chính, phái sinh ngành gỗ có gì khác với cà phê

hoặc các nông sản khác:

Tỷ giá VND/ đôla Mỹ đã được các nhà nhập khẩu và xuất khẩu quan tâm hơn

trong những năm gần đây khi có những biến động lớn trong giá trị của VND Điều này có

tầm quan trọng đặc biệt bởi giá cả của nhiều loại hàng hóa nông nghiệp được xác định

trên thị trường Mỹ và thị trường quốc tế, cũng gần giống như những gì mà những ngư

dân nuôi cá Basa của Việt Nam phải đối mặt với thực tế này Giá hàng hóa tuy sản xuất

tại một quốc gia nhưng lại thay đổi phụ thuộc vào những diễn biến của quốc gia khác

Đôi khi, giá trị cao của đôla Mỹ sẽ có tác động tích cực đáng kể lên giá cả hàng hóa xuất

khẩu được sản xuất tại Việt Nam Ngược lại là nhà nhập khẩu các yếu tố đầu vào phải đối

phó với rủi ro đôla Mỹ tăng giá sẽ làm giá cả hàng hóa nhập khẩu tăng lên

Thứ nhất, do mức độ phát triển của thị trường tiền tệ, ngoại hối của nước ta còn

thấp Trong thực tế, những biến động về tỷ giá, lãi suất được dự báo khá “chắc chắn” và

giống nhau giữa các đối tượng có mặt trên thị trường tài chính và những “sai lệch” dễ dự

báo đó được các bên “cân đối” ngay vào giá của sản phẩm chính như tỷ giá, lãi suất Thứ

hai, trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD/VNĐ không dao động mạnh, do có sự điều tiết

từ phía ngân hàng Nhà Nước khiến cho tỷ giá ổn định theo chiều hướng đi lên để khuyến

khích xuất khẩu Nên mức độ quan ngại và rủi ro tài chính thường gặp của các doanh

nghiệp ngành gỗ và các doanh nghiệp cà phê, nông sản khác sẽ có đánh giá giống nhau

tuy rằng mức độ ảnh hưởng cụ thể tính theo thang điểm đánh giá là khác nhau Theo đó

rủi ro lớn nhất của DN là giá cả hàng hóa, kế đó là rủi ro lãi suất, sau cùng là rủi ro về tỷ

giá

Đặc thù sản phẩm phái sinh về tỷ giá và lãi suất giữa các ngành là giống nhau Tuy

nhiên có sự khác nhau đôi chút về hợp đồng giao sau về gỗ xẻ trên thị trường Chicago so

của sản phẩm gỗ xẻ ở Việt Nam là m3

ở Mỹ là MBF (phụ lục 4) Những nguyên tắc về phân hạng gỗ xẻ được ngành công nghiệp gỗ cứng ở Mỹ chấp nhận và dựa trên hệ thống

đo lường của Anh với hệ đơn vị inch và feet ; Ngoài ra, qui định phân hạng được phát triển dựa trên chiều dài và rộng ngẫu nhiên của bản gỗ xẻ (Random length lumber) Sản phẩm giao dịch trên sàn Chicago là Random Length Western Spruce-Pine-Fir (SPF) 2x4s (gỗ thông linh sam loại có kích cở 2x4) là loại gỗ xẻ nguyên liệu thông dụng trong ngành

gỗ ở thị trường Bắc Mỹ Basic của các loại gỗ nguyên liệu so với sản phẩm gỗ xẻ này sẽ khác nhau (xem biểu đồ phụ lục 4), xu hướng tăng/giảm giữa các gỗ nguyên liệu là giống nhau

Bài học kinh nghiệm trên được trích từ tài liệu hợp đồng giao sau và quyền chọn sản phẩm gỗ xẻ của sở giao dịch Chicago; thực tế hoạt động sàn giao dịch cà phê BCEC; giao dịch giao sau cà phê sàn Liffe ( Luân Đôn) thông qua môi giới là ngân hàng Techcombank Vấn đề được đề cập trong minh họa trên liên quan đến hoạt động kinh doanh và phòng ngừa rủi ro do biến động của giá cả gỗ xẻ, giá cà phê, tỷ giá bằng việc

sử dụng sản phẩm phái sinh Bài học kinh nghiệm cũng cảnh báo cho chúng ta trước nguy cơ thua lỗ của các tố chức tài chính và các doanh nghiệp Việt Nam do sử dụng không hợp lý các công cụ phái sinh trên thị trường tiền tệ và thị trường hàng hóa Nếu không có sự kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng hợp lý các sản phẩm phái sinh trong phòng ngừa rủi ro sẽ dẫn đến thua lỗ lớn cho các doanh nghiệp sản xuất chế biến và xuất khẩu

gỗ Việt Nam nói riêng và các doanh nghiệp Việt Nam nói chung

Kết luận chương 1

Những biến động ngày càng phức tạp của giá cả hàng hóa nguyên liệu, lãi suất, tỷ giá đã làm cho rủi ro tài chính của các doanh nghiệp ngày càng trở nên khó lường Trong chương này, trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu khoa học cả trong nước và ngoài nước, tác giả đã tổng hợp và trình bày khái quát những lý luận cơ bản về: Rủi ro tài chính; phân tích và chỉ rõ trong hoạt động của DN phải đối diện với rủi ro về tài chính; phân tích mối quan hệ giữa rủi ro và hoạt động của doanh nghiệp; đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến rủi ro tài chính; giới thiệu các công cụ phái sinh tài chính; sử dụng hiệu quả các công cụ phái sinh tài chính phòng ngừa rủi ro; Bài học kinh nghiệm về sử dụng công cụ phái sinh tài chính để phòng ngừa rủi ro tài chính

Các vấn đề đã trình bày ở trên sẽ tiếp tục được đối chiếu, so sánh với thực trạng sử dụng sản phẩm phái sinh trong quản trị rủi ro tài chính của các doanh nghiệp CBG ở Việt

Trang 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG SẢN PHẨM PHÁI SINH

TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN

XUẤT CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU GỖ VIỆT NAM

TRONG THỜI GIAN QUA

2.1 ĐẶC THÙ RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU GỖ VIÊT NAM

Ngành công nghiệp sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ Việt có tốc độ tăng trưởng

bình quân 30%/năm trong vòng 5 năm qua Giá trị xuất nhập khẩu tăng từ 219 triệu USD

năm 2000 lên 2,5 tỷ USD vào năm 2007 và 2,8 tỷ USD vào năm 2008 Năm 2010 giá trị

xuất khẩu đạt 3,4 tỷ USD Hiệp hội gỗ và lâm sản (VIFORES) đã đưa ra dự báo kim

ngạch xuất khẩu gỗ năm 2011 sẽ đạt khoảng 4 tỉ USD Mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ trở

thành mặt hàng xuất khẩu có giá trị thứ 5 của Việt Nam

Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu gỗ (2000-2010); Đơn vị tính: triệu USD

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010

KNXK 219 334 435 567 1,154 1,562 1,930 2,500 2,829 2,598 3,435

( nguồn: Tổng Cục Hải Quan)

Đến nay, cả nước đã có trên 2.526 doanh nghiệp sản xuất chế biến gỗ, trong đó

khoảng 50% là số cơ sở chế biến gỗ quy mô nhỏ làm ra sản phẩm chủ yếu tiêu thụ nội

địa hoặc gia công, sơ chế theo đặt hàng của các doanh nghiệp lớn Hiện có 1.028 doanh

nghiệp chuyên sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ, nhiều doanh nghiệp đã phát triển thành

các tập đoàn lớn Trong đó, chỉ với hơn 421 doanh nghiệp FDI đã tạo ra khoảng hơn

50% giá trị kim ngạch xuất khẩu

2.1.1 Khó khăn do biến động tỷ giá trong xuất khẩu sản phẩm gỗ, nhập khẩu gỗ

nguyên liệu từ nước ngoài

Hoạt động sản xuất kinh doanh chính của các doanh nghiệp CBG chủ yếu là xuất

khẩu sản phẩm gỗ vào thị trường quốc tế Với doanh thu xuất khẩu chiếm hơn 80% trong

tổng doanh số của các công ty, và cũng nhập khẩu nguyên vật liệu chiếm đến hơn 50%

doanh số đa số bằng ngoại tệ là đô la Mỹ Rủi ro biến đổi tỷ giá đối với thành phẩm xuất

khẩu và rủi ro tỷ giá đối với nguyên vật liệu nhập khẩu ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập

của doanh nghiệp

Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ (10 nước có kim ngạch xuất khẩu cao) Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Đơn vị tính: 1.000USD)

Nguồn nguyên liệu trong nước đáp ứng cho sản xuất chỉ mới đạt khoảng 20%, 80% còn lại phải nhập khẩu từ nước ngoài như: Campuchia, Myanma, Indonesia, Mỹ, Canađa… và một số quốc gia khác

Bảng 2.3: Số liệu thị trường cung cấp gỗ nguyên liệu chính cho Việt Nam (tháng 1/2008 đến tháng 6/2008)( Nguồn: Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam)

Thị trường Giá trị Tổng số 504.329.718

Trang 29

Giá trị gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2007 đến

năm 2010(Nguồn: Tổng Cục Thống kê) (Đơn vị tính: USD)

Hàng năm, ngành chế biến gỗ của Việt Nam vẫn phải nhập khối lượng gỗ nguyên

liệu rất lớn Trong 3 năm (2006-2008), các doanh nghiệp đã phải chi ra tới hơn 2,7 tỷ

USD (hay 41,54% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ) để nhập nguyên liệu

Năm 2009 nhập khẩu 0,9 tỷ USD, năm 2010 ước tính nhập khẩu khoảng 1,37 tỷ USD

- Mặc dầu khối lượng gỗ nhập khẩu rất lớn, nhưng đến nay Việt Nam chưa hình

thành những chợ gỗ nguyên liệu có quy mô lớn để cho các doanh nghiệp CBG đến giao

dịch mua bán

- Gỗ được nhập khẩu ở nhiều quốc gia khác nhau và luật lệ, thủ tục xuất khẩu ở

mỗi nước lại khác nhau, trong khi đó các kiến thức về lĩnh vực này của doanh nghiệp

nhập khẩu gỗ của Việt Nam còn hạn chế, cộng với giá vận tải tăng (do gia dầu tăng) làm

cho giá thành của gỗ nhập khẩu tăng cao

- Tiêu chuẩn gỗ nguyên liệu và các sản phẩm gỗ như: tiêu chuẩn về kích thước, độ

bền cơ lý, màu sắc, hoá chất an toàn và vệ sinh môi trường của Việt Nam còn thiếu và

chưa tương thích với các tiêu chuẩn của quốc tế dẫn đến việc sử dụng nguyên liệu kém

hiệu quả, tăng giá thành, giảm sức cạnh tranh

2.1.2 Khó khăn do biến động lãi suất từ các khoản vốn vay ngắn hạn và dài hạn

từ các tổ chức tài chính và ngân hàng

Nhiều doanh nghiệp sản xuất chế biến và xuất khẩu ngành gỗ của Việc Nam có các đơn đặt hàng cho cả năm Thị trường nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng 20%, còn lại 80% doanh nghiệp phải nhập khẩu Để chủ động được nguồn nguyên liệu và một số doanh nghiệp lớn như Công ty cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ gỗ Trường Thành, Công ty cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai, Công ty cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai đầu tư trồng rừng, sản xuất ván nhân tạo nên doanh nghiệp cần rất nhiều vốn

Bảng 2.4: Cơ cấu vốn vay của một số doanh nghiệp sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ niêm yết trên thị trường chứng khoán năm 2010 Đơn vị tính: triệu VND

Doanh nghiệp

CK Vốn chủ

sở hữu Vốn vay ngắn hạn Vốn vay dài hạn

tỷ lệ nợ vay/vốn chủ sở hữu

CT CP Chế biến gỗ Đức Thành GDT 149,863 22,426 15.00% Công ty CP Tập đoàn KN gỗ Trường Thành TTF 734,310 1,658,903 102,732 239.90% Công ty CP chế biến gỗ Thuận An GTA 157,234 38.04 24,2% Công ty cổ phần Hợp tác kinh tế và Xuất

nhập khẩu SAVIMEX SAV 291,223 111,710 26,145 47.30% Công ty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai DLG 397,862 337,947 108,067 112.10% Công ty CP Hoàng Anh Gia Lai HAG 9,158,000 3,092,000 2,782,000 64.10% Công ty CP Tổng hợp gỗ Tân Mai TMW 91,387 7,307 14,250 23.60%

Theo số liệu của cuộc điều tra phỏng vấn của doanh nghiệp (phụ lục 1) có tới 84 doanh nghiệp thiếu vốn (chiếm tỷ lệ 61,7%) Xem xét số liệu báo cáo tài chính năm 2010 của các doanh nghiệp sản xuất và chế biến gỗ Việt Nam có cổ phiếu niêm yết trên sàn giao dịch (bảng 2.4) các doanh nghiệp phải vay vốn ngắn hạn và dài hạn của các tổ chức tài chính và ngân hàng Để có vốn mua nguyên vật liệu gỗ cho đơn đặt hàng, đầu tư trồng rừng, sản xuất ván nhân tạo, đổi mới trang thiết bị và công nghệ nên đặc thù của doanh nghiệp CBG Việt Nam sử dụng vốn vay ngắn hạn và dài hạn khá lớn từ các tổ chức tài chính và ngân hàng Các công ty CBG vận dụng mạnh đòn bẩy tài chính từ công cụ nợ Những biến động khó lường của lãi suất năm 2009 và năm 2010 đã đưa doanh nghiệp có rủi ro tài chính rất lớn, ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đối

Trang 30

nghiêm trọng và có thể dẫn đến tình trạng phá sản doanh nghiệp nếu nó tồn tại trong một

thời kỳ dài

Bên cạnh đó, công nghệ dây chuyền thiết bị, máy móc làm gỗ và sản phẩm gỗ lạc

hậu; có tới 80% nguyên liệu cũng như các phụ liệu cho sản xuất như sơn, keo, các loại

giấy phải nhập khẩu thì điểm yếu lớn nhất khiến cho năng lực cạnh tranh của sản phẩm

gỗ Việt Nam yếu thế hơn so với các sản phẩm gỗ của Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia vì

năng suất lao đông thấp, thiếu đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề Nhân công ngày

càng khan hiếm và đắt đỏ, cùng với hàng loạt chi phí đầu vào đều tăng do ngành công

nghiệp hỗ trợ kém phát triển và phần lớn doanh nghiệp chưa tự túc được nguồn nguyên

liệu, đang gây ra nhiều khó khăn cho ngành chế biến gỗ nước ta

Đặc thù của doanh nghiệp chế biến gỗ đối diện với khá nhiều rủi ro như rủi ro kinh

doanh, là những rủi ro liên đến bản chất hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

CBG Tuy nhiên do giới hạn của đề tài chỉ nhận diện và phân tích các rủi ro về tài chính

mà các doanh nghiệp có thể phòng ngừa được bằng cách sử dụng hiệu quả các công cụ

phái sinh tài chính

2.1.3 Khó khăn về biến động giá cả nguyên vật liệu, mua gỗ nguyên liệu trong

nước và nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ nước ngoài

Giá gỗ nguyên liệu biến động và có xu hướng tăng Xét thị trường nhập khẩu gỗ

nguyên liệu từ Malaysia, trong 12 năm (từ 1995 đến 2007) quá giá gỗ tròn luôn biến động

và trung bình tăng liên tục (Nguồn Phòng lâm nghiệp Sabah Malaysia)

Tuy nhiên, vấn đề làm đau đầu nhiều nhà sản xuất hiện nay chính là giá đầu vào không ngừng tăng lên Từ nguyên liệu gỗ cho đến các loại vật tư, bao bì đều tăng 10-15%, có loại đến 50-60%; trong khi việc tăng giá các đơn hàng xuất khẩu là rất khó Những biến động lớn và nhanh của giá cả nguyên vật liệu đầu vào đã gây cho các doanh nghiệp CBG những thiệt hại về tài chính khá lớn làm ảnh hưởng lớn đến thu nhập và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp

Đơn hàng xuất khẩu chốt giá cho thời hạn ngắn nhất cũng phải trong sáu tháng Đối với đơn hàng lớn phải chốt giá thời hạn gần một năm, trong khi giá đầu vào thì thay đổi hàng tuần Nhưng chỉ cần doanh nghiệp tự tính các khoản dự tính sẽ tăng vào giá, báo cho khách hàng thì lập tức sẽ mất thế cạnh tranh do giá cao hơn doanh nghiệp khác Vật tư sản xuất phải đặt hàng cho nhiều nhà cung cấp khác nhau Nhiều nhà cung cấp trong nước mặc dù đã chốt giá nhưng nếu giá vật tư lên có thể hủy cung cấp Trong khi đó, giải pháp nhập hàng về cũng không còn phù hợp trong bối cảnh lãi suất tăng làm tăng chi phí vốn, đồng thời đơn hàng xuất khẩu ngày càng đòi hỏi nhiều kiểu dáng với nhiều loại vật tư khác nhau

Giá nguyên liệu đầu vào tăng cao từ gỗ cao su cho đến sơn gỗ, phụ kiện kim loại Năm 2010, gỗ cao su nguyên liệu chính tăng giá cao do chịu tác động giá mủ cao su thế giới tăng đến 50% so với năm 2009 Đến tháng 10, 11 năm 2010 các nông trường sẽ chặt cây già lấy gỗ nhưng giá mủ tăng cao thì các nông trường ngừng lại để khai thác thêm

mủ, tạo khan hiếm nguồn gỗ cao su Riêng các loại sơn gỗ chỉ trong có năm 2010 cũng tăng giá đến 15-20%

Tuy nhiên cũng có một nghịch lý ở đây Gỗ nguyên liệu trong nước chỉ cung cấp 20% nhu cầu nhưng gần đây các nhà thương mại nước ngoài, cụ thể đến từ Đài Loan, Malaysia, đặc biệt là Trung Quốc mua và nhập khẩu gỗ thô Việt Nam với số lượng rất lớn, đã đẩy giá nguyên liệu một số loại gỗ như keo, tràm bông vàng, cao su , tà vẹt, hay

gỗ thô đã qua chế biến như xẻ vuông 20x20, gỗ xẻ thanh kích thước 2 mét chiều dài và dày khoảng 3-4 phân.Với tài chính và nhu cầu lớn hơn so với doanh nghiệp trong nước, các nhà thương mại nước ngoài sẵn sàng trả cao hơn doanh nghiệp trong nước vài trăm ngàn đồng/khối gỗ

Các loại gỗ nguyên liệu của DN sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ Việt Nam:

- Theo loại sản phẩm được chế biến ra, gỗ nguyên liệu được chia thành các loại:

Gỗ nguyên liệu cho đồ mỹ nghệ, gỗ nguyên liệu cho hàng mộc cao cấp, gỗ nguyên liệu

Trang 31

cho ván nhân tạo, gỗ nguyên liệu cho sản xuất giấy và ván sợi, gỗ nguyên liệu cho xây

dựng Trong từng nhóm gỗ nguyên liệu này lại được chia thành các phân loại nhỏ hơn

như: loại gỗ nguyên liệu cho ván nhân tạo được chia thành gỗ nguyên liệu cho gỗ dán

lạng, gỗ nguyên liệu cho ván dăm, gỗ nguyên liệu cho ván ghép thanh

- Theo quá trình hình thành gỗ, gỗ nguyên liệu được chia thành 2 loại là gỗ rừng

trồng (gỗ được khai thác từ rừng trồng) và gỗ tự nhiên (gỗ được khai thác từ rừng tự

- Theo quan điểm thương mại, gỗ nguyên liệu được chia thành hai loại gỗ nguyên

liệu sản xuất trong nước và gỗ nguyên liệu nhập khẩu

2.2 NHẬN DIỆN RỦI RO TÀI CHÍNH, NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA

RỦI RO TÀI CHÍNH ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

SẢN XUẤT CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU GỖ VIỆT NAM

Trong những năm gần đây, bên cạnh những thành quả đã đạt được, doanh

nghiệp CBG của Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn đang tồn tại như: Luôn thiếu hụt

nguyên liệu cho sản xuất, thiếu vốn, tốc độ đổi mới máy móc, công nghệ sản xuất còn

chậm, năng suất sản xuất còn thấp, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ còn rất khiêm

tốn Do đó, cần phải có một sự nhìn nhận, phân tích hết sức tỉ mỉ từng các yếu tố rủi ro

tài chính tác động Việc phân tích các yếu tố rủi ro tài chính sẽ giúp cho chúng ta nhìn

thấy rõ hơn những khó khăn còn đang tồn tại, để từ đó làm cơ sở cho việc đề ra các

giải pháp QTRR tài chính thích hợp, khắc phục khó khăn, hướng tới đẩy mạnh xuất

khẩu sản phẩm gỗ

2.2.1 Rủi ro tỷ giá

Mô hình phát triển kinh tế nước ta hiện nay hướng mạnh về xuất khẩu, do vậy rủi

ro tỷ giá có tác động rất lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp CBG

không trực tiếp thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu, hay các DN có hoạt động liên

quan đến xuất nhập khẩu vẫn chịu tác động khá lớn của rủi ro tỷ giá Trong khoản thời

gian này, Ngân hàng Nhà nước quản lý tỷ giá khá chặt chẽ, nên tác động của rủi ro tỷ giá

đến các doanh nghiệp nói chung không lớn, ngoại trừ một số thời điểm xảy ra tình trạng khan hiếm ngoại tệ, không đáp ứng kịp thời nhu cầu của doanh nghiệp

Sự biến động tỷ giá giữa các ngoại tệ mạnh như đồng USD, đồng Euro, Yên Nhật trên thị trường tiền tệ quốc tế cũng đã gây cho các doanh nghiệp một số khó khăn Ngoài

ra, rủi ro tỷ giá là rủi ro xảy ra khi các giao dịch kinh tế được thực hiện bằng ngoại tệ và

tỷ giá hối đoái biến động theo hướng làm cho đồng nội tệ bị mất giá Với những doanh nghiệp sử dụng nhiều ngoại tệ, khi tỷ giá hối đoái tăng, số lỗ về tỷ giá có thể làm giảm đáng kể, thậm chí là triệt tiêu toàn bộ lợi nhuận thu được trong kinh doanh Đây là rủi ro bất khả kháng của các doanh nghiệp trong một nền kinh tế nhập siêu với tỷ lệ lớn

Từ cuối 2009 đến cuối quý 1/2010, tỷ giá chính thức của đồng Việt Nam so với đôla đã được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh 2 lần về biên độ và tỷ giá công bố Sự điều chỉnh này khiến đồng Việt Nam đã mất giá khoảng 8,86% so với USD, đồng thời Tính riêng trong ngày 9/4, tỷ giá phổ biến được các ngân hàng thương mại công bố là 19.080 đồng đổi một USD trong khi trên thị trường tự do, giá bán ra đôla Mỹ cũng chỉ ở mức

19.130 đồng mỗi USD (nguồn: Theo Vneconomy)

Hoạt động sản xuất kinh doanh chính của các doanh nghiệp CBG chủ yếu là xuất khẩu sản phẩm gỗ vào thị trường quốc tế Với doanh thu xuất khẩu chiếm khoảng hơn 80% trong tổng doanh số của doanh nghiệp, và cũng nhập khẩu nguyên vật liệu chiếm đến hơn 50% doanh số cùng bằng ngoại tệ là đô la Mỹ, do đó các công ty ít bị ảnh hưởng nhiều bởi rủi ro về tỷ giá hối đoái Bên cạnh đó, thị trường chính của các công ty là Châu

Âu (chiếm khoảng 44%) nên nguồn thu bằng đồng Euro cũng rất lớn nên hạn chế được rủi ro khi đồng đô la Mỹ mất giá Tuy nhiên, với thông điệp của nhà điều hành là điều chỉnh tỷ giá chủ động, phù hợp với tình hình cung cầu ngoại tệ (thực tế và bám sát với thị trường hơn), bảo đảm tính thanh khoản của thị trường, góp phần kiềm chế nhập siêu và

hỗ trợ cho việc thực thi chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt hơn Vì vậy có thể nhận

định rằng rủi ro về tỷ giá là một rủi ro lớn đối với hoạt động của doanh nghiệp CBG trong thời gian tới

2.2.2 Rủi ro lãi suất

Theo kết quả khảo sát nêu ở phụ lục 01 ở 141 doanh nghiệp có đến 87 doanh nghiệp bị áp lực thiếu vốn (chiếm đến 61.7%)

Để phục vụ kinh doanh, đầu tư, hầu như tất cả các doanh nghiệp CBG đều phải sử

Trang 32

quan trọng trong chi phí sản xuất kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp Khi lập kế

hoạch kinh doanh và dự án đầu tư, lãi suất tiền vay đã được dự tính Song, có rất nhiều

nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp tác động đến lãi suất tiền vay Năm

2010 khi lạm phát xảy ra tăng cao dự kiến 11,75%, lãi suất tiền vay cho xuất khẩu của

ngành đồ gỗ tăng đột biến từ 15% đến 17% Do đó, những tính toán, dự kiến trong kế

hoạch kinh doanh, đầu tư bị đảo lộn Một rủi ro lớn đã xảy ra và ảnh hưởng lớn tới hoạt

động kinh doanh Lượng tiền vay càng lớn, tác động tiêu cực của rủi ro này càng nghiêm

trọng và có thể dẫn đến tình trạng phá sản doanh nghiệp nếu nó tồn tại trong một thời kỳ

dài

DN ngoài nguồn vốn chủ sở hữu, chỉ có thể vay vốn từ các tổ chức tín dụng, nhiều

trường hợp phải huy động từ thị trường tín dụng phi chính thức với lãi suất cao Trong

một vài năm gần đây, lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại thường xuyên biến

động và đôi khi không tuân theo một qui luật nào Năm 2006 khi mà chỉ số CPI giảm,

kéo theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm, các ngân hàng thương

mại vẫn điều chỉnh tăng lãi suất Sang năm 2008 trước tác động của lạm phát, lãi suất

ngân hàng có thời điểm đã tăng lên đến 21%/năm Từ cuối năm 2008 và sang năm 2009,

trước tác động của giảm phát và suy thoái kinh tế, lãi suất đã giảm xuống, xoay quanh

mức 10%/năm Tuy nhiên các doanh nghiệp đã ký hợp đồng vay vốn với lãi suất cao từ

giữa năm 2008 vẫn phải chịu mức lãi suất cao theo hợp đồng đã ký trước đây Sự biến

động thất thường của lãi suất đã tạo ra không ít rủi ro cho DN

- Trong cả năm 2010 lãi suất tiếp tục diễn biến phức tạp Đầu năm 2010 theo tài

liệu công bố của Ngân hành nhà nước Khối ngân hàng quốc doanh (Agribank, BIDV,

MHB) và hai thành viên vừa cổ phần hóa nhưng Nhà nước vẫn nắm tỷ lệ sở hữu lớn là

Vietcombank và Vietinbank cùng thống nhất mức lãi suất cho vay VND tối đa trong thời

gian tới từ 14% - 14,5%/năm; trong đó Vietinbank, BIDV, MHB thống nhất tối đa là

14%/năm Với tín dụng nông thôn và tín dụng xuất khẩu, nhóm ngân hàng trên chỉ áp tối

đa từ 12% - 14%/năm Trong khối ngân hàng cổ phần, những thành viên như Maritime

Bank, ACB, Eximbank, VIB chỉ áp mức tối đa là 15%; cá biệt tại VPBank là 14,5%/năm,

tại MB chỉ từ 13,7% - 14,5%/năm Riêng tín dụng đối với xuất khẩu, nhóm này áp phổ

biến dưới 14,4%/năm, tại MB tối đa chỉ 13,7%/năm Cá biệt, trong nhóm ngân hàng cổ

phần, mức tối đa khá cao có tại Techcombank với 18%/năm, với tín dụng nông thôn tối

đa là 17,5%, với tín dụng xuất khẩu là 16,5%/năm Phần lớn các ngân hàng huy động ở

- Vào giữa năm 2010 lãi suất cho vay tối đa là 12,5% đối với các doanh nghiệp thuộc 3 nhóm đối tượng: doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp

và nông thôn, doanh nghiệp xuất khẩu Doanh nghiệp xuất khẩu cũng được ưu tiên áp dụng mức lãi suất này, nhưng phải có cam kết bán ngoại tệ cho Ngân hàng Lãi suất huy động phổ biến VND ở mức 11,5%/năm tại nhiều kỳ hạn

- Tuy nhiên vào cuối năm 2010 lãi suất huy động tăng cao đột biến đến 14%/năm (và mức cao nhất là 18% /năm bởi Ngân hàng Đông Nam Á (SeABank) Mức lãi suất này

áp dụng cho các kỳ hạn từ một tháng trở lên vào chiều ngày 18/12, nhưng sau khi có công văn yêu cầu các ngân hàng thực hiện các mức lãi suất huy động và cho vay phù hợp với quy định của pháp luật, chủ trương của Chính phủ và nội dung đồng thuận giữa các thành viên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam Ngày 19/12 Ngân hàng Đông Nam Á (SeABank) đã giảm lãi suất tiết kiệm VND từ 18% xuống 14%/năm) Lãi suất cho vay VND ngắn hạn, theo cập nhật của Ngân hàng Nhà nước, đối với nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu ở mức 12,5% - 14,5%/năm; đối với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác ở mức 15%- 18%/năm; đối với lĩnh vực phi sản xuất ở mức 18% - 20%/năm

Theo bảng 2.4 và kết quả điều tra của phụ lục 1 doanh nghiệp CBG có tỷ lệ vay vốn ngắn hạn và dài hạn khá lớn từ các tổ chức tài chính và ngân hàng Điều này cho thấy

các công ty vận dụng mạnh đòn bẩy tài chính từ công cụ nợ Vì vậy có thể nhận định

rằng rủi ro về lãi suất là một rủi ro khá lớn đối với hoạt động của doanh nghiệp sản xuất chế biến xuất khẩu gỗ

2.2.3 Rủi ro biến động giá cả hàng hóa- nguyên vật liệu

Mặc dù xuất khẩu nhiều sản phẩm gỗ song doanh nghiệp CBG hiện tại vẫn đang phụ thuộc khá lớn vào nguồn gỗ nhập khẩu Hiện tại sản lượng gỗ trong nước chỉ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu Việc phụ thuộc nguyên liệu ở nước ngoài sẽ gây lúng túng và mất chủ động cho các DN Rủi ro về nguồn cung nguyên liệu có thể không đều và các

DN cũng sẽ phải bị động về xu hướng tăng giá của nguyên liệu

-Tình trạng thiếu hụt nguyên liệu cho sản xuất ngày càng trầm trọng, nguồn nguyên liệu trong nước đáp ứng cho sản xuất chỉ mới đạt khoảng 20%, 80% còn lại phải nhập khẩu từ nước ngoài như: Campuchia, Myanma, Indonesia, Mỹ, Canađa… và một

số quốc gia khác Việc nhập khẩu gỗ nguyên liệu không còn dễ dàng như trước mà DN nhập khẩu phải đảm bảo 100% lượng gỗ nhập khẩu có tính hợp pháp Nhưng để đạt được yếu tố hợp pháp cần phải có đầy đủ bộ chứng từ do nhiều cơ quan quốc tế xác nhận Điều

Trang 33

này khiến DN mất nhiều thời gian, tốn kém chi phí Mặt khác, giá gỗ nguyên liệu nhập

khẩu luôn biến động theo hướng tăng dần; Mặc dù giá gỗ FOB và sản lượng cung cấp

trên thế giới tương đối ổn định nhưng giá CIF lại thay đổi tương đối lớn do giá năng

lượng, chi phí vận tải tăng, cộng với một tình hình chính trị bất ổn tại các nước xuất

khẩu nguyên liệu đã làm cho việc nhập khẩu nguyên liệu của doanh nghiệp gặp

nhiều khó khăn (nguồn: Theo Vneconomy)

-Giá nguyên liệu nhập khẩu lại tăng cao ở hầu khắp các nước Chẳng hạn tại

Nam Phi, giá nguyên liệu tăng tới 30%; Nam Mỹ tăng 40%

- Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang lan tỏa rất nhanh ra

nhiều nước, mức tiêu dùng đồ gỗ cũng giảm đi Giá sản phẩm bán ra chỉ tăng khoảng 5 –

7% nên doanh nghiệp xuất khẩu sang Nhật, Mỹ, EU gặp rất nhiều khó khăn

Bên cạnh đó do nguyên liệu chủ yếu là gỗ, chiếm tỷ trọng từ 40% đến 60% trong

giá thành sản phẩm nên sự biến động giá cả nguyên liệu này sẽ tác động đến lợi nhuận

của các công ty

Rủi ro tăng giá nguyên liệu bao gồm:

- Đặc tính trồng rừng khai thác gỗ với chu kỳ đầu tư khá dài, mất từ 4 đến 10 năm,

thậm chí có gỗ lên đến 20-30 năm Vì vậy trong những năm qua, khi nền kinh tế Việt

Nam còn nhiều khó khăn về vốn đầu tư trung, dài hạn, ngành trồng rừng của chúng ta đã

chưa đủ sức thu hút các doanh nghiệp đầu tư, dẫn đến tình trạng thiếu gỗ địa phuơng cho

ngành chế biến và xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam

- Các doanh nghiệp sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ đã phải nhập khẩu nguyên

liệu đến 80% nhu cầu sử dụng Trước đây, khi việc thu mua nguyên liệu phần lớn từ

Indonesia và Malaysia, nhưng hiện nay, giá cả không còn cạnh tranh so với Nam Mỹ, và

Châu Phi Tuy nhiên, khi thu mua từ Nam Mỹ và Châu Phi, với cự ly vận chuyển xa hơn,

sẽ có rủi ro về cước vận chuyển tăng cao và đặc biệt với thời gian vận chuyển dài sẽ ảnh

hưởng đáng kể đến ngân lưu và vốn lưu động phải tăng cao

- Với lý do cung cầu còn tạm thời là chưa cân đối nên trung bình mỗi năm giá

nguyên liệu tăng khoảng 10-20% tùy chủng loại

- Những công ty là doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu theo tiêu chuẩn CoC

(Chain of Custody) của thế giới, và cũng là thành viên của GFTN (Global Forest & Trade

những nguồn rừng được chứng nhận quản lý bền vững do có chứng nhận FSC hoặc tương đương) Vì vậy, nguyên liệu đã, đang và sẽ mua giá cao hơn các loại gỗ cùng chủng loại

mà không có chứng nhận

Theo đánh giá chung từ báo cáo tài chính cùa các doanh nghiệp CBG Do phụ thuộc phần lớn vào nguyên liệu nhập khẩu nên lợi nhuận của ngành chế biến gỗ xuất khẩu Việt Nam khá thấp, dưới 5% doanh thu Giá nguyên liệu đầu vào nhìn chung tăng giá từ 10 đến 30% mỗi năm, giá bán được điều chỉnh tương ứng nên tỷ lệ giá vốn hàng bán/doanh thu được duy trì ổn định hoặc thấp hơn Nhưng do giá bán không thể điều chỉnh thường xuyên và tiêu dùng giảm mạnh do ảnh hưởng của tình hình khủng hoảng tài

chính Vì vậy có thể nhận định rằng rủi ro về giá cả hàng hóa nguyên vật liệu là một

rủi ro lớn nhất đối với hoạt động của DN sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ

2.3 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG SẢN PHẨM PHÁI SINH TRONG QUẢN TRỊ RỦI

RO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU GỖ VIỆT NAM

Những biến động ngày càng phức tạp của giá cả gỗ nguyên liệu, lãi suất, tỷ giá, đã làm cho rủi ro tài chính của các doanh nghiệp ngày càng trở nên khó lường

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu điều tra và xử lý số liệu

Thiết kế bảng câu hỏi điều tra về các vấn đề liên quan đến mức độ am hiểu về rủi

ro, quản trị rủi ro, việc sử dụng và mối quan tâm đến sản phẩm phái sinh của các doanh nghiệp CBG Việt Nam

Bảng câu hỏi điều tra được thiết kế dựa theo những nội dung cơ bản về mức độ hiểu biết, quan tâm, sử dụng các sản phẩm phái sinh để quản trị rủi ro tài chính phù hợp thực tế sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ Việt Nam

Để có đánh giá tin cậy về thực trạng rủi ro và nhận thức về rủi ro trong các doanh nghiệp CBG , từ tháng 10 đến tháng 11 năm 2010, tác giả đã tiến hành gặp -phỏng vấn trực tiếp hoặc gián tiếp qua thư từ và email 141 Doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Biên Hòa, Ngoài ra tác giả đã gặp và phỏng vấn các doanh nghiệp CBG tại hội chợ EXPO đồ gỗ hằng năm vào tháng 10 diễn ra tại trung tâm triển lãm hội chợ Tân Bình TP Hồ Chí Minh Doanh nghiệp được lựa chọn phỏng vấn thỏa mãn các điều kiện sau:

Trang 34

- DN đã hoạt động liên tục từ 2 năm trở lên và hiện đang hoạt động bình thường

2.3.2 Một số giá trị thống kê về cuộc điều tra

2.3.2.1 Số lượng doanh nghiệp trả lời phỏng vấn cuộc điều tra

Số lượng doanh nghiệp trả lời phỏng vấn cuộc điều tra Bảng 2.5 dưới đây

Bảng 2.5: Thống kê về cuộc điều tra

Số bảng câu hỏi đủ tiêu chuẩn xử lý 120

Số DN có hoạt động XNK chiếm tỷ trọng quan trọng 88

2.3.2.2 Nhận diện những rủi ro tài chính mà doanh nghiệp sản xuất chế biến

và xuất khẩu gỗ thường gặp và mức độ quan trọng của mỗi rủi ro

Đánh giá xem xét mức độ quan trọng các loại rủi ro tài chính tương quan so với

các rủi ro kinh doanh theo nhận định của các doanh nghiệp CBG

Bảng 2.6 - Thống kê thăm dò loại rủi ro DN thường gặp

Loại rủi ro

Thang điểm và số ý kiến đồng ý Điểm trung

bình

Rủi ro lãi suất 17 21 28 18 36 3.29

Rủi ro giá cả hàng hóa 12 22 21 12 53 3.60

Rủi ro thay đổi tỷ giá 12 35 30 25 18 3.02

Rủi ro năng lực kinh doanh 53 12 8 45 2 2.43

Rủi ro tín dụng 26 30 33 20 11 2.67

Trong bảng kết quả điều tra trên, tác giả đưa ra 5 loại rủi ro phổ biến đề nghị các

chủ doanh nghiệp cho điểm về mức độ thường gặp: ít gặp nhất là điểm 1 và thường gặp

nhất là điểm 5 Số ý kiến đồng ý sẽ được nhân với số điểm tương ứng, cộng lại và chia

trung bình cho tổng số người tham gia trả lời phỏng vấn Trong 141 chủ doanh nghiệp, có

120 người tham gia trả lời câu hỏi này (7 người cho biết chưa gặp rủi ro)

Kết quả thống kê thu được cho thấy: Rủi ro từ các biến động giá cả nguyên vật

liệu là thường gặp nhất với điểm số trung bình là 3,60 điểm, tiếp theo là rủi ro lãi suất

3,29 điểm, đứng thứ 3 và thứ 4 là rủi ro tỷ giá 3,02 và rủi ro về tín dụng là 2,67 điểm và

cuối cùng là rủi ro năng lực kinh doanh là 2,43 điểm

Số doanh nghiệp trả lời đã từng chịu rủi ro, nhưng thiệt hại không lớn hầu hết trả

là từ rủi ro lãi suất và sau nữa mới tới rủi ro tỷ giá Trong khi đó 61 chủ doanh nghiệp đã chịu rủi ro và bị tổn thất, phần lớn thì lại cho rằng thường gặp nhất là rủi ro lãi suất, tiếp theo là giá cả hàng hóa và sau nữa là các rủi ro còn lại

Trong hình bên:

- Trục tung: Điểm số chỉ mức độ rủi ro DN thường gặp;

- Trục hoành: Các loại rủi ro, từ trái qua phải:

Kết quả điều tra cho phép có thể nhận định: Rủi ro tài chính từ biến động giá cả hàng hóa, biến động tăng lãi suất và thay đổi tỷ giá là khá phổ biến với DN sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ ở nước ta, mức độ tổn thất thường khá rõ ràng Kết quả này cũng gần giống kết quả nghiên cứu của Phó giáo sư- Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Trang về quản trị rủi ro của các doanh nghiệp quy mô lớn: Rủi ro lãi suất và giá cả hàng hóa cùng với rủi ro tỷ giá là 3 loại rủi ro tác động lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp Đối với các

DN xuất khẩu thì rủi ro quan trọng nhất là rủi ro về giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu

Hình 2.1: Thống kê thăm dò loại rủi ro DN thường gặp

3.29 3.60 3.02 2.43 2.67

- 0.50 1.00 1.50 2.00 2.50 3.00 3.50 4.00 Rủi ro lãi suất

Rủi ro giá cả hàng hóa Rủi ro thay đổi tỷ giá Rủi ro năng lực kinh doanh Rủi ro tín dụng

M ức độ rủi ro DN thường gặp

Lý giải cho vấn đề này của 61 doanh nghiệp đã chịu rủi ro và tổn thất khi cho rủi

ro thường gặp nhất là rủi ro về lãi suất, tiếp theo mới là rủi ro giá cả hàng hóa:

Điều đáng chú ý là thời điểm xảy ra rủi ro đối với 61 DN này xảy ra từ năm 2008 Các DN này phần lớn là các DN vừa và nhỏ Hơn 2/3 số DN chủ yếu là gia công gỗ nguyên liệu, công nghệ chế biến còn thô sơ, mang nặng tính thủ công, máy móc vẫn ở mức trung bình và lạc hậu Còn lại 1/3 số DN còn lại luôn chủ động tích lũy trước nguồn

gỗ nguyên liệu từ đầu năm 2008 (do giá gỗ nguyên liệu năm 2007 luôn biến động và tăng liên tục) nguồn vốn tích lũy gỗ nguyên liệu là từ vốn vay ngân hàng 61 chủ DN này nằm trong số 87 doanh nghiệp bị áp lực thiếu vốn, do đó khủng hoảng tài chính năm 2008 nổ

ra các DN này ít nhiều đã chịu rủi ro và xảy ra tổn thất Bên cạnh đó, các giải pháp kích

Trang 35

cầu của Chính phủ hiện nay với những điều kiện cho vay chặt chẽ, khó khăn, thời gian

cho vay ngắn, khó đưa đồng vốn với lãi suất vay ưu đãi đến với với các DN vừa và nhỏ

Quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế

thị trường ở nước ta cũng là quá trình giải phóng sức sản xuất Hoạt động của doanh

nghiệp từ chỗ bị kìm hãm, nay được tự do phát triển, các doanh nghiệp ngành gỗ nói

riêng trong những năm qua vẫn phát triển thuận, kinh tế nước ta vẫn tăng trưởng cao và

ổn định Tuy năng lực cạnh tranh quốc gia cũng như năng lực cạnh tranh của từng doanh

nghiệp còn yếu, nhưng mức độ mở cửa của nền kinh tế còn giới hạn, nên cho đến trước

khi gia nhập WTO (01/01/2007), về cơ bản các rủi ro từ những biến động trên thị trường

quốc tế tác động đến nền kinh tế nước ta còn khá nhỏ, cạnh tranh của các công ty đa quốc

gia tác động đến các doanh nghiệp trong nước cũng chưa nhiều Tuy nhiên từ năm 2008,

với hàng loạt các biến động của thị trường, sự bất ổn kinh tế vĩ mô, nên số doanh nghiệp

gặp rủi ro đã tăng lên rõ rệt

Từ tháng 3/2008, Chính phủ đã đột ngột đổi chiều, cỗ xe kinh tế đang phi nước đại

bị thắng gấp bằng tất cả các phương tiện kỹ thuật cho phép nhằm mục tiêu ưu tiên mới là

kiềm chế lạm phát Lãi suất cơ bản được nâng lên, dự trữ bắt buộc với lãi suất rất thấp

được áp đặt, tín phiếu bắt buộc được phân bổ, biện pháp hạn chế tín dụng “hà khắc” được

áp đặt lên các ngân hàng thương mại, cắt giảm đầu tư Tất cả biện pháp này gây ra gánh

nặng lớn cho các ngân hàng thương mại cũng như doanh nghiệp nhỏ và vừa

Bắt đầu từ quí 3/2008, một sự cộng hưởng ngoài ý muốn giữa hiệu lực của các

biện pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ với tác động của cuộc khủng hoảng tài

chính, suy thoái kinh tế toàn cầu đã xuất hiện Giá hàng loạt nguyên vật liệu trên thế giới

giảm mạnh khiến tốc độ tăng giá tiêu dùng giảm dần và chỉ số giá của hai tháng 10 và 11

lần lượt giảm thấp hơn tháng trước

Trong khi đó, xuất khẩu giảm cả về kim ngạch lẫn khối lượng, đối mặt với những

khó khăn dồn dập từ các nước nhập khẩu (về tín dụng, khả năng thanh toán, sức mua,

giảm giá) Nhiều doanh nghiệp đã phải giãn thợ, giảm công suất, thu nhập của người lao

động càng khó khăn hơn

Bên cạnh đó các DN này thường chọn giải pháp tìm kiếm các đơn hàng giá cao

hoặc ký kết các đơn hàng ngắn hạn để giảm rủi ro về biến động giá gỗ nguyên liệu Do đó

các biến động giá cả nguyên liệu thường được các doanh nghiệp phản ánh một phần kịp

thời vào đơn hàng Với tình hình kinh tế năm 2008, đa số DN cho rằng thường gặp nhất

là rủi ro lãi suất, tiếp theo là giá cả hàng hóa và sau nữa là các rủi ro còn lại

2.3.2.3 Đánh giá mức độ quan ngại của doanh nghiệp đối với các loại rủi ro phổ biến ở doanh nghiệp

Đánh giá xem xét mức độ quan ngại các loại rủi ro tài chính tương quan so với các rủi ro kinh doanh theo nhận định của các DN sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ Bảng 2.7 - Thống kê thăm dò mức độ quan ngại rủi ro

Số chủ doanh nghiệp tham gia trả lời 127

Kết quả phỏng vấn đa số chủ doanh nghiệp đều cảm thấy quan ngại về khả năng rủi ro có thể gây tổn thất cho doanh nghiệp, kể cả các nghiệp đã trả lời đến nay chưa từng gặp rủi ro Chỉ có 17 doanh nghiệp cho rằng rủi ro là bình thường Khi xem xét đến khía cạnh ngành hoạt động kinh doanh thì hầu hết 17 doanh nghiệp này đều hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực gia công chế biến cho đối tác trong và ngoài nước

Với câu hỏi: "Loại rủi ro nào doanh nghiệp của ông (bà) quan ngại nhất trong các rủi ro sau đây", đã thu được kết quả như sau:

Bảng 2.8 – Kết quả điều tra loại rủi ro DN quan ngại nhất

Loại rủi ro

Thang điểm và số ý kiến đồng ý Điểm

trung bình

Rủi ro lãi suất 0 23 28 38 38 3.72 Rủi ro giá cả hàng hóa 0 24 22 23 58 3.91 Rủi ro thay đổi tỷ giá 28 31 35 21 12 2.67 Rủi ro năng lực kinh doanh 87 12 9 19 0 1.69 Rủi ro tín dụng 12 37 33 26 19 3.02

Trong bảng 2.8 kết quả điều tra, tác giả đưa ra 5 loại rủi ro phổ biến đề nghị các chủ doanh nghiệp cho điểm về mức độ quan ngại: ít quan ngại nhất là điểm 1 và quan ngại nhất là điểm 5 Số ý kiến đồng ý sẽ được nhân với số điểm tương ứng, cộng lại và chia trung bình cho tổng số người tham gia trả lời 127 doanh nghiệp đã tham gia trả lời câu hỏi này; số câu trả lời hợp lệ đưa vào phân tích là Kết quả thống kê thu được cho thấy: Rủi ro giá cả hàng hóa là rủi ro có mức quan ngại cao nhất với điểm số trung bình là 3,91 điểm, tiếp theo là rủi ro về lãi suất với điểm số trung bình là 3,72 điểm Kết quả này

là khá phù hợp với thực tiễn, vì thời điểm phỏng vấn vào giữa và cuối năm 2010, các

Ngày đăng: 03/08/2016, 17:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu gỗ (2000-2010);  Đơn vị tính: triệu USD - Giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính
Bảng 2.1 Kim ngạch xuất khẩu gỗ (2000-2010); Đơn vị tính: triệu USD (Trang 28)
Bảng  2.4:  Cơ  cấu  vốn  vay  của  một  số  doanh  nghiệp sản  xuất chế  biến  và  xuất  khẩu gỗ niêm yết trên thị trường chứng khoán năm 2010 - Giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính
ng 2.4: Cơ cấu vốn vay của một số doanh nghiệp sản xuất chế biến và xuất khẩu gỗ niêm yết trên thị trường chứng khoán năm 2010 (Trang 29)
Bảng 2.6 - Thống kê thăm dò loại rủi ro DN thường gặp - Giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính
Bảng 2.6 Thống kê thăm dò loại rủi ro DN thường gặp (Trang 34)
Hình 2.1: Thống kê thăm dò loại rủi ro DN thường gặp - Giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính
Hình 2.1 Thống kê thăm dò loại rủi ro DN thường gặp (Trang 34)
Bảng 2.5: Thống kê về cuộc điều tra.. - Giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính
Bảng 2.5 Thống kê về cuộc điều tra (Trang 34)
Bảng 2.8 – Kết quả điều tra loại rủi ro DN quan ngại nhất - Giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính
Bảng 2.8 – Kết quả điều tra loại rủi ro DN quan ngại nhất (Trang 35)
Hình 2.2 - Mức quan ngại về các loại rủi ro của DN - Giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính
Hình 2.2 Mức quan ngại về các loại rủi ro của DN (Trang 36)
Bảng  2.9  Thống  kê  thăm  dò  thực  trạng  sử  dụng  các  sản  phẩm  phái  sinh  phòng - Giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính
ng 2.9 Thống kê thăm dò thực trạng sử dụng các sản phẩm phái sinh phòng (Trang 36)
Hình 2.3: Mức độ am hiểu của các doanh nghiệp đối với sản - Giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính
Hình 2.3 Mức độ am hiểu của các doanh nghiệp đối với sản (Trang 37)
Hình 2.4: Các nguyên nhân ngăn trở việc sử dụng sản - Giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính
Hình 2.4 Các nguyên nhân ngăn trở việc sử dụng sản (Trang 38)
Bảng cân đối kế toán của Công ty Trường Thành cho thấy một số vấn đề cần quan - Giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính
Bảng c ân đối kế toán của Công ty Trường Thành cho thấy một số vấn đề cần quan (Trang 39)
Bảng 3.1: Tóm lược các tình huống phòng ngừa trong hợp đồng giao sau: - Giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính
Bảng 3.1 Tóm lược các tình huống phòng ngừa trong hợp đồng giao sau: (Trang 49)
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu bộ máy tổ chức nhân sự công tác quản trị rủi ro tài chính - Giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu bộ máy tổ chức nhân sự công tác quản trị rủi ro tài chính (Trang 52)
Bảng cân đối kế toán hợp nhất - Giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính
Bảng c ân đối kế toán hợp nhất (Trang 70)
Bảng kết quả sản xuất kinh doanh công ty Trường Thành - Giải pháp sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính
Bảng k ết quả sản xuất kinh doanh công ty Trường Thành (Trang 70)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w