Gần ñây, có một số quan ngại về vĩ mô Việt Nam do kinh tế toàn cầu- diễn biến môi trường bên ngoài khá khó khăn; tình hình lạm phát trong nước từ cuối năm 2010 và 4 tháng ñầu năm 2011 gia tăng; thâm hụt thương mại ñi ñôi với thâm hụt ngân sách; áp lực chi ngân sách và nợ công ñang gia tăng ñi ñôi với lãi suất trái phiếu chính phủ khá cao1; hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) ñang chấp nhận rủi ro quá mức (excessive risk taking) và ñang tỏ ra mong manh về thanh khoản; mặt bằng lãi suất của nền kinh tế cao vượt quá khả năng chịu ñựng của các doanh nghiệp… Thị trường chứng khoán cũng ñang hết sực bấp bênh chứa ñựng các yếu tố ñầu cơ; và tình trạng tăng vốn ồ ạt nhưng quản lý, quản trị chưa theo kịp…
Trang 1KINH TẾ VIỆT NAM GẦN ðÂY – CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ VÀ TRIỂN VỌNG
TS Nguyễn Kim Anh- Học viện Ngân hàng
Lê Văn Hinh- Hà Nội
Gần ñây, có một số quan ngại về vĩ mô Việt Nam do kinh tế toàn cầu- diễn biến môi trường bên ngoài khá khó khăn; tình hình lạm phát trong nước từ cuối năm 2010 và 4 tháng
ñầu năm 2011 gia tăng; thâm hụt thương mại ñi ñôi với thâm hụt ngân sách; áp lực chi ngân
sách và nợ công ñang gia tăng ñi ñôi với lãi suất trái phiếu chính phủ khá cao 1 ; hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) ñang chấp nhận rủi ro quá mức (excessive risk taking) và
ñang tỏ ra mong manh về thanh khoản; mặt bằng lãi suất của nền kinh tế cao vượt quá khả
năng chịu ñựng của các doanh nghiệp… Thị trường chứng khoán cũng ñang hết sực bấp bênh chứa ñựng các yếu tố ñầu cơ; và tình trạng tăng vốn ồ ạt nhưng quản lý, quản trị chưa theo kịp…
Chính phủ Việt Nam gần ñây ñã có một loạt các giải pháp ñiều chỉnh khá mạnh, nhằm hướng tới mô hình tăng trưởng mới ít dựa vào vốn, tài nguyên thô hơn; chuyển từ quan
ñiểm tăng trưởng bằng mọi giá sang tăng trưởng thận trọng hơn, thắt chặt chi tiêu chính phủ
(giảm ñầu tư công), thắt chặt tiền tệ hơn và ñịnh hướng lại dòng vốn vào khu vực sản xuất hơn là vào ñầu cơ (nhà ñất, vàng, chứng khoán…)
Bài viết như là một báo cáo tổng quan nhằm phân tích, ñánh giá kinh tế Việt Nam gần ñây (nhất là năm 2010) trên phương diện tài chính vĩ mô (financial progamming) và có một vài nhận ñịnh về các chính sách mà Chính phủ mới ñưa ra cũng như triển vọng của các
chính sách này
PHẦN 1 KINH TẾ VIỆT NAM GẦN ðÂY
Năm 2010 và quý I/2011 ñược coi là ñầy thách thức ñối với kinh tế Việt Nam trong bối cảnh thế giới không thuận lợi như khủng hoảng nợ ở Hy Lạp có nguy cơ lan rộng và những khó khăn ở khu vực ñồng Euro, sự hồi phục khó khăn của nền kinh tế Mỹ, một số bất
ổn ở một số vùng lãnh thổ khác và gần ñây là ñộng ñất và khủng hoảng hạt nhân ở Nhật Bản…
Với kết quả kinh tế năm 2010, nền kinh tế có thể ñược coi là ñã vượt qua ñược nguy
cơ suy thoái, tăng trưởng GDP ñạt 6,78 %, cao hơn năm 2009 (5,32%); các khu vực của nền kinh tế có dấu hiệu hồi phục rõ nét; khu vực tiền tệ, ngân hàng ñã tương ñối ổn ñịnh lại sau thời kỳ bất ổn (như tình trạng kém thanh khoản, ñua lãi suất từ năm 2008) Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn chứa ñựng những yếu kém, biểu hiện của tình trạng mất cân ñối vĩ mô và cơ cấu kinh tế: Nền kinh tế tăng trưởng với chất lượng thấp và dựa vào vốn là chủ yếu; thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách cao từ vài năm qua; tăng trưởng cao, trong ñiều kiện tích lũy nội bộ nền kinh tế còn thấp ñòi hỏi nhu cầu tài trợ từ bên ngoài và ñược biểu hiện vào lãi suất cao trên thị trường tiền tệ trong thời gian qua…
Khu vực kinh tế vi mô cũng chứa ñựng những hạn chế nhất ñịnh, ñó là mô hình quản trị công ty (corporate governance) chưa phù hợp và chưa ñủ năng lực hấp thụ các nguồn lực
về vốn, nhân lực và các tài nguyên khác… ðiều này ñược phản ánh qua các rủi ro ở khu vực
1
Cuối tháng 4/2011, nhiều phiên ñấu thầu không thành trái phiếu Chính phủ, lãi suất cao tới trên 12,3%năm,
Trang 2doanh nghiệp và các NHTM trong thời gian qua Các vấn ựề ựó là tình trạng thất thoát tài sản
ở các tập ựoàn kinh tế, sự tăng vốn quá nhanh và Ộquá dễ dàngỢ ở cả khu vực ngân hàng và các doanh nghiệp (thể hiện ở các công ty niêm yết) trong khi hệ thống giám sát (thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, công bố thông tin, ựịnh mức tắn nhiệm,Ầ) chưa theo kịp Thực trạng này rất có thể ựã ảnh hưởng ựến lòng tin của nhà ựầu tư trong thời gian qua và trong thời gian tới
Hiện tại, các cơ quan quản lý ựã ựưa ra các giải pháp chắnh sách từ vĩ mô ựến biện pháp hành chắnh ựể khắc phục những yếu kém nêu trên, cho dù sẽ mất thời gian hoặc có một
số hiệu ứng phụ, nhưng chắc chắn sẽ tạo ra triển vọng tốt
1.1 Khu vực sản xuất vật chất (Real sector)
Tăng trưởng sản lượng
Năm 2010, tăng trưởng GDP ựạt 6,78%, trong ựó tăng trưởng GDP quý 1/2010 ựạt 5,84%, nhưng ựến quý 2 ựã tăng 6,44%, quý 3 tăng 7,18% và quý 4 ước tăng 7,34% đáng chú ý là mức tăng GDP quý 4/2010 ựạt cao nhất kể từ quý 2/2008 động lực quan trọng thúc ựẩy tăng trưởng năm 2010 chủ yếu là ựầu tư công chiếm gần 40% tổng ựầu tư toàn xã hội
Bảng 1 Tổng sản phẩm trong nước năm 2010 (theo giá so sánh 1994 , %, nguồn TCTK)
A Phân theo khu vực kinh tế
B Phân theo quý trong năm
Quý 1/2011, tăng trưởng GDP ựạt trên 5% có thể là khá ấn tượng; tuy nhiên vấn ựề
ổn ựịnh kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát ựang là ưu tiên hơn ựối với Việt Nam hiện nay
Tèc ệé tẽng GDP vộ CPI giai ệoỰn 1995-2010
12.7
4.5 3.6 9.2
0.1 -0.6 0.8
4.0 3.0
19.89
11.75
9.34
5.76 4.77
8.4
6.52 9.5
12.63
6.6
8.23
5.32
6.79 6.89 7.08
7.34 9.54
-5
0
5
10
15
20
25
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
CPI (%/nẽm) Tèc ệé tẽng GDP (%nẽm)
Trang 3Giá cả hàng hóa, lạm phát
Thời gian gần ñây, lạm phát ñang lại là chủ ñề quan tâm ñối với nền kinh tế Việt Nam Lạm phát có biểu hiện gia tăng từ cuối năm 2010 và tăng tốc từ ñầu năm 2011
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (TCTK), chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2010 so với tháng 12/2009 tăng 11,75% Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2010 tăng 9,19%
so với bình quân năm 2009 Chỉ số giá vàng tháng 12/2010 tăng 5,43% so với tháng trước; tăng 30% so với cùng kỳ năm 2009 Chỉ số giá ñô la Mỹ tháng 12/2010 tăng 2,86% so với tháng trước; tăng 9,68% so với cùng kỳ năm 2009 Bốn tháng ñầu năm 2011, CPI theo tháng của Việt Nam ñã gia tăng mạnh và ñang là quan ngại
ðầu tư và tiết kiệm (I-S)
Từ năm 2006 ñến nay, Việt Nam theo ñuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, mức tăng trưởng mà Chính phủ thường ñặt ra là GDP tăng từ 7 ñến 8% hàng năm Thực tế cho thấy, việc theo ñuổi mục tiêu tăng trưởng cao như vậy ñã ñem ñến cho Việt Nam nhiều thành tựu về xã hội Các chỉ số cho thấy, sự tăng trưởng trong thời gian qua diễn ra theo chiều rộng hơn là về chiều sâu và chất lượng tăng trưởng thấp là vấn ñề trong trung hạn Tình hình này phần nào ñược phản ánh qua chỉ số ICOR cao liên tục trong thời gian qua và cả tình trạng môi trường sinh thái bị tàn phá ñang diễn ra ở nhiều nơi
Về mặt cân ñối tài chính quốc gia, mục tiêu tăng trưởng cao sẽ tiêu tốn nhiều nguồn lực (thể hiện vốn ñầu tư xã hội cao trên 40% GDP) và dựa vào vốn ngoại (thể hiện qua financing gap) Trong ñiều kiện hệ thống tài chính kém hiệu quả, quản trị kém, môi trường kinh doanh chậm ñược cải thiện, thì những hiệu ứng của tình trạng mất cân ñối càng thể hiện
rõ, ñó là: Thâm hụt ngân sách ngày càng tăng, mặt bằng lãi suất luôn cao (hơn quốc tế), thâm hụt thương mại cao và thâm hụt cán cân vãng lai là ñiều chắc chắn diễn ra
Tổng vốn ñầu tư toàn xã hội năm 2010 ñạt 830,3 ngàn tỷ VND tăng 17,1% so với
năm 2009, tương ứng khoảng 41,9% GDP (so với năm 2009 ñạt 708,8 ngàn tỷ VND tương ứng khoảng 42,7% GDP)2 Trong tổng vốn ñầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2010 có 1.980 tỷ ñồng từ nguồn ngân sách trung ương và 4.487,5 tỷ ñồng từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ ñược Thủ tướng cho phép ứng trước ñể bổ sung và ñẩy nhanh tiến ñộ thực hiện một số dự án quan trọng hoàn thành trong năm 2010 Về cơ cấu, vốn ñầu tư toàn xã hội thực hiện năm
2010, vốn khu vực Nhà nước là 316,3 nghìn tỷ ñồng, chiếm 38,1% tổng vốn và tăng 10% (năm 2009 tỷ trọng là 34,8%); khu vực ngoài Nhà nước 299,5 nghìn tỷ ñồng, chiếm 36,1% và
2
Nguồn TCTK và tác giả tính toán, thu thập từ các nguồn hiện có;
Trang 4tăng 24,7%; khu vực có vốn ựầu tư trực tiếp nước ngoài 214,5 nghìn tỷ ựồng, chiếm 25,8% và
tăng 18,4%
Năm 2010, trong vốn ựầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ NSNN ựạt 141,6 nghìn tỷ
ựồng, chiếm 17,1% tổng vốn ựầu tư cả nước, bằng 110,4% kế hoạch năm Vốn ựầu tư từ
NSNN do Trung ương quản lý ựạt 42,7 nghìn tỷ ựồng, bằng 104,7% kế hoạch3 Vốn ựầu tư từ
NSNN do ựịa phương quản lý ước tắnh thực hiện 98,9 nghìn tỷ ựồng, bằng 113% kế hoạch
năm4 Vốn ựầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) từ ựầu năm ựến 21/12/2010 ựạt 18,6 tỷ USD,
bằng 82,2% cùng kỳ năm 2009, bao gồm: Vốn ựăng ký của 969 dự án ựược cấp phép mới ựạt
17,2 tỷ USD (giảm 16,1% về số dự án; tăng 2,5% về số vốn so với năm trước); vốn ựăng ký
bổ sung của 269 lượt dự án ựược cấp phép từ các năm trước với 1,4 tỷ USD Vốn FDI thực
hiện năm 2010 ước tắnh ựạt 11 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2009, trong ựó giá trị giải ngân
của các nhà ựầu tư nước ngoài ựạt 8 tỷ USD Trong các lĩnh vực FDI tại Việt Nam năm 2010,
kinh doanh bất ựộng sản dẫn ựầu với số vốn ựăng ký ựạt 6,8 tỷ USD, bao gồm 6,7 tỷ USD
vốn ựăng ký mới và 0,1 tỷ USD vốn tăng thêm; công nghiệp chế biến, chế tạo ựạt 5 tỷ USD,
bao gồm 4 tỷ USD vốn ựăng ký mới và 1 tỷ USD vốn tăng thêm; sản xuất, phân phối ựiện, khắ
và nước ựạt gần 3 tỷ USD, trong ựó 2,9 tỷ USD là vốn ựăng ký mới
Về hiệu quả ựầu tư toàn xã hội: Chỉ số ICOR cao thể hiện ựầu tư kém hiệu quả (ắt
nhất là trong ngắn hạn) hoặc thể hiện quan ựiểm lấy vốn ựể ựạt ựược tăng trưởng theo kế
hoạch ựề ra Hệ số ICOR cao ựi kèm với chi NSNN lớn và bội chi ngày càng tăng chứng tỏ
ựầu tư kém hiệu quả Thậm chắ, nhiều ựánh giá cho rằng hệ số ICOR của khu vực DNNN hiện
nay khoảng 9-10 trong khi khu vực tư nhân chỉ là 3-4 (Chắnh phủ 20101)
3
Trong ựó: Bộ Giáo dục và đào tạo ựạt 1.336,5 tỷ ựồng (bằng 131,2% kế hoạch năm 2010); Bộ Giao thông Vận tải 8.168 tỷ
ựồng (122,8%); Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 569 tỷ ựồng (96,9%); Bộ Công thương 3.602 tỷ ựồng (89%); Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn 5.080 tỷ ựồng (87,2%); Bộ Y tế 1.050 tỷ ựồng (83,6%); Bộ Xây dựng 689,5 tỷ ựồng (69,7%)
4
Trong ựó một số ựịa phương có số vốn thực hiện lớn: TP Hồ Chắ Minh ựạt 15,3 nghìn tỷ ựồng (bằng 88,4% kế hoạch); Hà
Nội 12,8 nghìn tỷ ựồng(99,9%); đà Nẵng 4,7 nghìn tỷ ựồng (100,6%); Ninh Bình 4,6 nghìn tỷ ựồng (283,2%); Hà Tĩnh 3,3
nghìn tỷ ựồng (183,1%); Bà Rịa-Vũng Tàu 3 nghìn tỷ ựồng (102,4%); Nghệ An 2,9 nghìn tỷ ựồng (133,2%); Hải Phòng 2,4
nghìn tỷ ựồng (143,6%)
Vốn ựầu tư và hệ số ICOR (tắnh toán của CIEM)
0
1.000
0 2 4 6 8 10
Dong von FDI (tr.USD)
-10,000
20,000
30,000
40,000
50,000
60,000
70,000
80,000
FDI-DangKy (tr USD) FDI-ThucHien (tr USD)
Trang 5Tiết kiệm nội địa: Theo các tính tốn, tiết kiệm nội địa mấy năm trước đạt trên 30%
GDP, tuy nhiên mấy năm gần đây chỉ đạt khoảng 28-29% GDP Như vậy, xét về cân đối vốn cho nền kinh tế cho thấy phần thiếu hụt vốn (Financing gap) khoảng trên 10% GDP, và đang
cĩ chiều hướng gia tăng Theo nguyên lý, mức thiếu hụt này bằng đúng mức thâm hụt cán cân vãng lai và đây chắc chắn vẫn là con số của khơng chỉ năm 2010 mà cho cả năm 2011 và một vài năm tiếp theo (ở mức trên dưới 10% GDP) ðiều này địi hỏi nhu cầu tài trợ từ bên ngồi (external financing) ngày càng tăng và nếu trong điều kiện nguồn vốn ngoại đình trệ sẽ tạo nên tình trạng căng thẳng ngoại tệ trên thị trường và cũng gây áp lực lên dự trữ ngoại hối Trong điều kiện mức tín nhiệm trái phiếu quốc gia giảm thì khả năng huy động vốn ngoại của Việt Nam sẽ khĩ khăn hơn và lãi suất sẽ cao là điều dễ dự đốn trong năm 2011
1.2 Khu vực ngân sách (Fiscal sector)
Quy mơ NSNN Việt Nam hiện là loại nhỏ, với tổng thu NSNN hàng năm đạt khoảng 25% GDP; trong khi chi khoảng 30%- 32% GDP Như vậy, thâm hụt NSNN khoảng 5% hàng năm- và được Chính phủ cho là mức hợp lý trong nhiều năm qua Hệ thống quản lý NSNN cịn hạn chế, thu chủ yếu từ tài nguyên và mức độ chứng khốn hĩa cịn rất thấp (vào thời điểm 2010, quy mơ thị trường trái phiếu Chính phủ chiếm khoảng 14% GDP và thị trường trái phiếu kém phát triển, mức độ tín nhiệm thấp…) Mức độ minh bạch hoạt động NSNN đang
trong quá trình cải thiện Tín nhiệm trái phiếu quốc gia đang ở mức rủi ro khá cao; Theo S&P mức tín nhiệm trái phiếu quốc gia của Việt Nam là BB- (theo S&P ngày 23/12/2010)5; Nợ cơng của Việt Nam đạt khoảng 52% GDP (vào cuối năm 2010) và đang cĩ chiều hướng gia tăng
Thu, chi NSNN năm 2010
5
Báo cáo đánh giá tín nhiệm ra ngày 23/12 của S&P, điểm tín nhiệm dành cho nợ ngoại tệ dài hạn của Việt Nam bị cắt giảm xuống BB- từ BB ðiểm tín nhiệm nợ nội tệ dài hạn của Việt Nam cũng bị giảm 1 bậc xuống BB từ BB+, trong khi điểm dành cho nợ nội tệ ngắn hạn được duy trì ở mức B
Trang 6Nợ cơng Việt Nam 2006-2010
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
N ợ n ướ c ngồi (%GDP) T ổ ng n ợ cơng (%GDP)
Tổng thu NSNN năm 2010 (tính đến 15/12/2010) đạt 520,1 ngàn tỷ đồng, bằng 109,3% dự tốn năm (trong đĩ các khoản thu nội địa bằng 107%; thu từ dầu thơ bằng 99,7%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 123,1% dự tốn) Tổng chi NSNN năm 2010 (tính đến 15/12/2010) đạt 637,2 ngàn tỷ đồng, bằng 98,4% dự tốn năm, trong đĩ chi đầu tư phát triển bằng 98,4% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản bằng 97,9%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế- xã hội, quốc phịng, an ninh, quản lý Nhà nước, ðảng, đồn thể bằng 99,6%; chi trả nợ và viện trợ bằng 114,1% Bội chi NSNN năm 2010 ước đạt 117,1 ngàn tỷ tương ứng khoảng 5,95% GDP (so với kế hoạch đề là 6,2% GDP và so với năm 2009 thâm hụt cơng bố là 6,9% GDP)
Theo cách tiếp cận của WB và IMF, các số liệu ngân sách nêu trên chưa phản ánh đủ hoạt động NSNN do cịn nhiều khoản chi từ các nguồn khác mà Việt Nam gọi là các quỹ tài chính cơng ngồi NSNN Theo phương pháp đĩ, nếu tính cả thu chi từ những quỹ như vậy thì hoạt động NSNN năm 2010 cĩ một số khác biệt, chẳng hạn như tỷ lệ thâm hụt NSNN năm
2009 là khoảng 9,6% và năm 2010 khoảng 6,2%
Nợ cơng: Tính đến ngày 31/12/2009, dư nợ Chính phủ bằng khoảng 41,9% GDP, dư
nợ ngồi nước bằng khoảng 38,9% GDP Việc điều chỉnh mức tăng bội chi ngân sách đột biến lên trên 5% GDP, cùng với việc tăng phát hành trái phiếu Chính phủ năm 2010 đưa dư nợ Chính phủ tăng cao, ước đạt khoảng 44,6% GDP vào cuối năm 2010 (trong khi cĩ một số dữ liệu khác là 52% GDP vào cuối năm 2010) Theo quan điểm của WB, IMF và các nghiên cứu theo trường phái này, mức giới hạn nợ Chính phủ của Việt Nam khoảng 50% GDP và nợ nước ngồi chỉ nên dưới 40% GDP Thực tế nếu cộng các khoản bảo lãnh và ngồi NSNN thì mức độ và con số nợ cơng của Việt Nam khác biệt khá nhiều so với số cơng bố và các nguồn cũng thường khác nhau Việc Fith (ngày 29/7/2010) và Moody’s (tháng 12/2010) hạ mức tín nhiệm Việt Nam cho thấy các hãng đã cĩ động thái e ngại về khả năng diễn ra khủng hoảng
nợ ở Việt Nam Theo báo cáo giải trình của Bộ Tài chính tại UBTV Quốc Hội, tính đến 31/12/2010, dư nợ cơng của Việt Nam bằng 56,6% GDP6
6
Theo Bộ Tài chính, nợ cơng bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Theo định nghĩa này, tổng
số dư nợ cơng đến cuối năm 2009 của Việt Nam ước khoảng 44,7% GDP, trong đĩ nợ của Chính phủ là 35,4% GDP, nợ được Chính phủ bảo lãnh là 7,9% GDP và nợ của chính quyền địa phương là 1,4% GDP
Khái niệm nợ cơng này của Bộ Tài chính hẹp hơn so với khái niệm phổ biến của quốc tế Theo Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Hội nghị của LHQ về thương mại và phát triển (UNCTAD), nợ cơng cịn bao gồm các nghĩa vụ nợ của ngân hàng trung ương, các đơn vị trực thuộc chính phủ (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước) ở tất cả các cấp chính quyền Cĩ lẽ đây là nguyên nhân làm cho số liệu về nợ cơng của Việt Nam trong cơ sở dữ liệu của một số tổ chức quốc tế cao hơn hẳn so với số liệu của Bộ Tài chính (xem biểu đồ)
Theo EIU, nợ cơng của Việt Nam tăng liên tục từ 36% GDP trong năm 2001 lên 51% GDP vào năm 2009 Theo IMF, mặc dù tỉ lệ nợ cơng của Việt Nam vẫn nằm trong tầm kiểm sốt nhưng đã trở nên cao hơn so với tỉ lệ phổ biến 30-40% ở các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi khác
Trang 7
đánh giá rủi ro khu vực công: Theo chúng tôi, vấn ựề rủi ro hay yếu kém ở khu vực
ngân sách Việt Nam về trung hạn, cần phải chú ý là:
- Cơ cấu thu ngân sách dựa vào dầu thô (30% thu NSNN) và ựất ựai hay tài nguyên;
áp lực chi vẫn cao cho các công trình lớn và hiện ựại hóa quốc phòng; vấn ựề chứng khoán hóa hoạt ựộng ngân sách khi thị trường trái phiếu chắnh phủ kém phát triển (ước khoảng 14% GDP); vấn ựề tắn nhiệm trái phiếu quốc gia ở mức thấp và việc ựẩy mạnh huy ựộng trong nước của chắnh phủ ựể bù ựắp cho các thiếu hụt chắc chắn sẽ dẫn ựến lãi suất trái phiếu chắnh phủ ở mức khá cao và lãi suất trên thị trường tiền tệ sẽ tăng cao ngay khi nền kinh tế có phục hồi thực sự (tăng trưởng tắn dụng mạnh hơn)
Nguồn tài trợ cho thâm hụt NSNN của VN
0
20
40
60
80
100
120
140
Năm
T ừ trong n ướ c T ừ bên ngoài
- Nợ Chắnh phủ có thể tăng nhanh trong thời gian tới với chi phắ (lãi suất trái phiếu) cao hơn Cho dù mức nợ chắnh phủ có thể ựược coi là vẫn trong tầm kiểm soát nhưng vấn ựề quan ngại
là mức nợ này ựang gia tăng và các chi phắ, nhất là lãi suất trái phiếu, ựang gia tăng Tình trạng này ựang tạo nên hiệu ứng buộc Chắnh phủ phải tăng huy ựộng trong nước, dẫn ựến tăng lãi suất trên thị trường tiền tệ (cản trở chủ trương giảm lãi suất) và cũng tạo nên tình trạng thâm hụt kép (thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại) Nguồn tài trợ từ trong nước cho thâm hụt NSNN ựang trở nên quan trọng phản ánh khuynh hướng này
Theo dữ liệu chúng tôi thu thập ựược, phát hành trái phiếu chắnh phủ của Việt Nam mấy năm gần ựây như sau: Năm 2009, hơn 64.000 tỷ ựồng; năm 2010, khoảng 66 ngàn tỷ ựồng; năm 2011, dự kiến khoảng 40 ựến 45 ngàn tỷ ựồng Từ thực tế về lượng phát hành trái phiếu chắnh phủ như vậy cho thấy, lượng cầu vốn từ NSNN hàng năm khoảng 50- 60 ngàn tỷ ựồng Và như vậy, ựường tổng hợp cầu vốn trên thị trường tiền tệ trong nước tăng lên tương ứng mức 50- 60 ngàn tỷ ựồng
1.3 Kinh tế ựối ngoại (External sector)
Trang 8Thập khẩu theo thị trường 2010
Trung Qu ố c, 24%
ASEAN, 19%
Hàn Qu ố c, 11%
Nh ậ t B ả n, 11%
Khác, 35%
Thương mại quốc tế: Từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO (2007), mức
ñộ mở cửa thương mại quốc tế của Việt Nam tăng khá Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ñạt khoảng 150% GDP; thâm hụt thương mại tăng mạnh trong 3 năm gần ñây ñạt trên dưới 20% kim ngạch xuất khẩu ðiều này phù hợp với mức ñộ thiếu hụt vốn trong nước (financing gap)
và thâm hụt cán cân ngân sách (thâm hụt kép)
Riêng năm 2010, kim ngạch xuất khẩu Việt Nam ước ñạt 71,63 tỷ USD (tăng 25,5% so với năm 2009); nhập khẩu ñạt 84 tỷ USD (tăng 20,1%) Như vậy, nhập siêu là 12,4 tỷ USD (giảm
so với năm 2009, với 12,85 tỷ USD) và chiếm khoảng 17,3% tổng kim ngạch nhập khẩu cả năm 2010 (kế hoạch ñề ra dưới 20%) Nếu loại trừ vàng, kim loại quý và sản phẩm thì nhập siêu hàng hóa năm 2010 ước tính 14,2 tỷ USD, tương ñương 20,7% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu Dự báo cho năm 2011, theo Bộ Công thương, tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa ñạt 10% so với năm 2010, tương ñương kim ngạch 78,8 tỷ USD; nhập siêu không vượt quá 18%, tương ñương 14,18 tỷ USD
Phía xuất khẩu, khu vực FDI có sự phục hồi nhanh hơn các thành phần còn lại và kim ngạch xuất khẩu của khu vực này chiếm 54,2% tổng kim ngạch xuất khẩu, nếu không kể dầu thô là 47,3% (kim ngạch nhập khẩu của khu vực FDI chiếm 43,4% tổng kim ngạch nhập khẩu) Mức tăng trưởng kim ngạch ñạt 27,8%, nếu không kể dầu thô ñạt 40,1%
Thị trường xuất khẩu 2010
Eu, 14%
Asean, 14%
Khác, 29%
Trang 9Cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2010 có sự thay ựổi ở một số nhóm hàng
so với năm trước, trong ựó nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 42,8% lên 46%; nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản giảm từ 29,4% xuống 27,2%; nhóm hàng thủy sản giảm từ 7,4% xuống 6,9%; vàng và các sản phẩm vàng giảm từ 4,6% xuống 4% Về thị trường xuất khẩu, tắnh ựến cuối năm 2010, Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam
Cơ cấu kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2010 không có sự thay ựổi lớn so với năm trước, trong ựó nhóm tư liệu sản xuất vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất với 90,2%; nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng giảm từ 9,3% xuống 8,6%; nhóm vàng và các sản phẩm vàng tăng từ 0,5% lên 1,2% đáng chú ý, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn nhất của Việt Nam với tổng kim ngạch ựạt 17,9 tỷ USD, chiếm 24,9% tổng kim ngạch nhập khẩu và tăng 23,4% so với cùng kỳ năm 2009 (số liệu sơ bộ)
Bước vào năm 2011, số liệu 4 tháng ựầu năm cho thấy, hàng tháng nhập siêu vẫn vào khoảng hơn 1 tỷ USD và tổng 4 tháng ựầu năm 2011, nhập siêu gần ựạt 5 tỷ USD
Cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối
Cán cân thanh toán Việt Nam trong những năm gần ựây có nhiều mất cân ựối Thâm
hụt thương mại chiếm khoảng trên dưới 10% GDP Cán cân vãng lai cũng thâm hụt trong khoảng ựó, phản ánh nhu cầu tài trợ từ bên ngoài ngày càng tăng, phù hợp với thiếu hụt giữa tiết kiệm và ựầu tư (financing gap) Năm 2010, chúng tôi ước thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam khoảng 11,5 tỷ USD Theo thống kê, nguồn kiều hối gần 8 tỷ USD ựã làm mức thâm hụt này ở mức như vậy Tài trợ cho thâm hụt cán cân vãng lai chủ yếu vẫn là dòng FDI, ước ựạt gần 8 tỷ USD (net) Các dòng vốn khác ựều khá yếu, trong ựó dòng FII chỉ trên nửa tỷ USD (net)Ầ và theo ước tắnh của cơ quan chức năng, thâm hụt cán cân tổng thể là khoảng 4,6
tỷ USD7 Sự thâm hụt này diễn ra liên tục nên ựã bào mòn ựáng kể nguồn dự trữ ngoại hối8
Về triển vọng cho năm 2011, theo Bộ Kế hoạch và đầu tư, cán cân vãng lai năm
2011 có khả năng thâm hụt khoảng 10,9 tỷ USD do cán cân thương mại thâm hụt khoảng 9,51
tỷ USD, dịch vụ thâm hụt 1,75 tỷ USD, thu nhập ựầu tư thâm hụt 5,12 tỷ USD và chuyển tiền thặng dư 5,5 tỷ USD Thâm hụt này ựược bù ựắp bởi thặng dư Cán cân vốn dự báo 11,8 tỷ USD, dẫn tới cán cân thanh toán tổng thể có khả năng thặng dư 500 triệu USD trong năm tớiẦ
Việt Nam hiếm khi công bố số liệu dự trữ ngoại hối chắnh thức và do ựó tồn tại
nhiều con số không ựồng nhất; tuy nhiên các dự tắnh ựều hàm ý công nhận mức dự trữ ngoại hối của Việt Nam ựã giảm ựi khoảng 50% so với ựầu 2008 Năm 2008, NHNN công bố dữ trữ ngoại hối chắnh thức với mức khá cao là 23 tỷ USD và giữa năm 2010, các số liệu của IMF ựưa ra là khoảng 15 tỷ USD do NHNN phải ựáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho các doanh nghiệp
Số liệu của Bộ trưởng Bộ kế hoạch và đầu tư ựưa ra về dự trữ ngoại hối chắnh thức của Việt Nam vào cuối năm 2010 là khoảng 10 tỷ USD
Vừa qua, Chắnh phủ Việt Nam yêu cầu các DNNN lớn phải bán ngoại tệ cho NHTM ựồng thời NHNN qui ựịnh áp mức lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các tổ chức kinh tế rất thấp nhằm chống ựầu cơ ngoại tệ Hiện tại, ựã thấy dấu hiệu Chắnh phủ ựã khá thành công trong việc chống ựô la hóa nền kinh tế, hạn chế thị trường vàng và do ựó tập trung nguồn ngoại tệ vào dự trữ ngoại hối chắnh thức
1.4 Khu vực tiền tệ (Money sector)
7
Xen Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Trung ương đảng, Phó Thống ựốc NHNNVN: BÁO CÁO Các giải pháp của Ngân hàng Nhà nước nhằm triển khai Nghị Quyết 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 về kiềm chế lạm phát, ổn ựịnh kinh tế vĩ mô, bảo ựảm an sinh xã hội (tài liệu phục vụ Hội nghị Tổng kết năm 2010 của Ban tuyên giáo trung ương ngày 24/2/2011
8
Theo ước tắnh của IMF và WB, quý III/2010, dự trữ ngoại hối của Việt Nam còn khoảng 14 tỷ USD
Trang 10Chính sách tiền tệ: Chính phủ đã cố gắng đưa ra thơng điệp rằng chính sách trung
hạn của Nhà nước cho khu vực tiền tệ ngân hàng Việt Nam là ổn định, bao gồm ổn định chính sách tiền tệ; ổn định hệ thống NHTM Tuy nhiên, thực tế cho thấy, CSTT vẫn hay thay đổi khĩ dự đốn
Mặc dù độ sâu tài chính (M2/GDP) đã đạt mức khá cao (khoảng 100% GDP), tuy nhiên hiệu quả của điều hành chính sách tiền tệ khá hạn chế do tính độc lập của NHNN với Chính phủ cịn thấp, cơng cụ chính sách tiền tệ nghèo nàn… Quy mơ của thị trường trái phiếu chính phủ và mức độ nắm giữ trái phiếu chính phủ của các NHTM cũng rất hạn hẹp cũng khiến hiệu quả của CSTT thấp và mức độ truyền tải chính sách tiền tệ khá chậm chạp Các điều hành của NHNN do đĩ cần trơng cậy vào các giải pháp hành chính để hỗ trợ, hoặc thơng qua Hiệp hội Ngân hàng, như điều hành lãi suất là một ví dụ
Mức độ an tồn của hệ thống NHTM: Cĩ rất nhiều dấu hiệu về tình trạng chưa thực
sự bền vững của các NHTM Sự mất cân đối giữa huy động vốn chủ yếu là ngắn hạn (80% tổng nguồn vốn) và cho vay chủ yếu là trung và dài hạn (70% tổng dư nợ) là đặc điểm rủi ro của các NHTM Việt Nam hiện nay Thực tế cho thấy, các NHTM rất nhạy cảm với các chính sách “thắt chặt” của NHNN và nhiều khi phải huy động bằng mọi giá- điều đĩ giải thích tại sao các NHTM vẫn thường sẵn sàng cho một cuộc đua lãi suất Với tình trạng mất cân đối vốn (Tài sản Nợ- Tài sản Cĩ) biểu hiện qua lãi suất huy động bằng mọi giá với lãi suất rất cao9, chúng tơi suy đốn rằng tình trạng chấp nhận rủi ro của khu vực ngân hàng Việt Nam là khá cao (excessive risk taking)
Hiện trong khu vực ngân hàng đang cĩ trào lưu đa dạng hĩa hoạt động với việc thành lập nhiều cơng ty trực thuộc như kinh doanh vàng, bất động sản, cơng ty chứng khốn,… mà
nhiều người thường gọi là “Tập đồn tài chính-ngân hàng”10, điều này phản ánh khát vọng
vươn lên của các NHTM, tuy nhiên nếu đĩ là các “bẫy bánh vẽ” thì đĩ lại là một rủi ro tiềm
ẩn, khi thiếu sự quản lý giám sát phù hợp Bài học về Vinashin và Cơng ty cho thuê tài chính
2 (ALC2) thuộc Agribank, nơi tập trung nguồn tài chính rất lớn của xã hội nhưng thiếu những qui định về an tồn và giám sát hiệu quả, dẫn đến đổ vỡ hay thất thốt là một bài học tham chiếu về vấn đề quản lý tập đồn tài chính…
Chính sách tiền tệ năm 2010 và gần đây
Mục tiêu CSTT năm 2010 do NHNN đưa ra là khá thận trọng: Tăng trưởng tín dụng chung tồn ngành khoảng 25% so với 2009; huy động và tăng trưởng M2 khoảng 20% Kết quả thực hiện, năm 2010, tăng trưởng tín dụng thực tế khá cao, tăng 29,81% so với cuối năm
9
Chúng tơi khảo sát thấy rằng cuối tháng 4/2011, lãi suất huy động các tổ chức kinh tế đã lên tới 24% và lãi suất tiền gửi dân
cư đã gần 20%
10
Nhiều NHTM đưa ra mơ hình tập đồn tài chính khổng lồ: gồm NHTM+ NH đầu tư+ Cơng ty chứng khốn+ Cơng ty Vàng + Cơng ty Bảo hiểm+ Cơng ty địa ốc