Đối với nền kinh tế Hoạt động tín dụng nói chung có vai trò quan trọng trong quá trình thúc đẩy kinh tế phát triển, bên cạnh đó hoạt động tín dụng bán lẻ có một số vai trò đặc thù như s
Trang 1công nghiệp của phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa. Và quan hệ tín dụng
không chỉ bằng hiện vật mà còn phát triển bằng hiện kim, với các hình thức tín dụng
tiến bộ hơn: tín dụng ngân hàng, tín dụng chính phủ…
Tín dụng ngân hàng là quan hệ giữa các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín
dụng với các công ty, doanh nghiệp và cá nhân,… được thực hiện dưới hình thức
ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay (cấp tín dụng) đối với các đối
tối đa hóa hiệu quả sử dụng đồng vốn của mình.
1.1.2 Bản chất
Tín dụng là hình thức vận động của vốn cho vay, nó phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa chủ thể sở hữu và các chủ thể sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn cả gốc lẫn lợi tức.
Quan hệ tín dụng ra đời bắt nguồn từ sự xuất hiện mối quan hệ cung cầu về vốn giữa người đi vay và người cho vay. Quan hệ tín dụng tồn tại trong nhiều nền kinh tế hàng hóa, nhưng do tính chất của các phương thức sản xuất xã hội khác nhau nên tín dụng cũng mang những bản chất khác nhau, và chung quy lại tín dụng mang các đặc điểm cơ bản sau:
Tóm lại: bản chất tín dụng được thể hiện là sự vận động của vốn tiền tệ trong
xã hội dưới nguyên tắc có hoàn trả góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh
doanh, tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống xã hội.
1.1.3 Vai trò 1.1.3.1. Tín dụng góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của các doanh nghiệp phải đồng thời tồn tại ở cả ba giai đoạn: dự trữ – sản xuất – lưu thông nên hiện tượng thừa vốn, thiếu vốn tạm thời luôn xảy ra tại các doanh
Trang 2Một mặt, do tín dụng có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất
hàng hóa và dịch vụ ngày càng gia tăng có thể thỏa mãn nhu cầu đời sống của người
lao động. Mặt khác, do vốn tín dụng cung ứng đã tạo ra khả năng trong việc khai
Tín dụng trung hạn: là hoạt động cấp tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng; mục đích thông thường là tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định;
Tín dụng dài hạn: là hoạt động cấp tín dụng có thời hạn trên 60 tháng; mục
đích thông thường là nhằm tài trợ các dự án đầu tư.
1.1.4.3. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng: Theo tiêu thức này tín
dụng có thể được phân thành các loại sau:
Trang 3Thứ nhất, tín dụng bán buôn được hiểu là tất cả các khoản cho vay thông qua thị trường tài chính (thị trường tiền tệ liên ngân hàng) hoặc cho vay đối với các trung gian tài chính khác (các ngân hàng thương mại, quỹ, các tổ chức làm đại lý ủy thác), không tính đến quy mô giá trị khoản vay. Trong khi đó, tín dụng bán lẻ bao gồm những khoản cho vay trực tiếp đến người vay cuối cùng với các khoản cho vay
có quy mô giá trị khác nhau. Người vay cuối cùng ở đây không phân biệt theo quy
mô lớn hay nhỏ, mà chủ yếu được xác định là người trực tiếp sử dụng vốn vay đưa vào đầu tư, không thực hiện việc cho vay tiếp tới các đối tượng khác.
Thứ hai, tín dụng bán buôn được hiểu tương tự hình thức thứ nhất, cộng thêm những khoản cho vay công ty và doanh nghiệp lớn khác có giá trị lớn hơn một quy
mô nào đó tùy theo quy định cụ thể của từng nước, ví dụ, ở nước Anh, những khoản vay có giá trị từ 50.000 Bảng Anh trở lên được coi là khoản cho vay bán buôn. Tín dụng bán lẻ bao gồm tất cả các khoản cho vay trực tiếp đến các người vay cuối cùng
là các cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ và vừa, cộng thêm các khoản cho vay đối với những công ty và doanh nghiệp lớn nhưng có quy mô nhỏ hơn một mức giá trị nào đấy, ví dụ ở nước Anh là các khoản vay có giá trị dưới 50.000 Bảng Anh. Trong thực tế, những tiêu chí phân định giữa bán buôn, bán lẻ nêu trên chỉ là tương đối và không mang tính phổ biến đối với mọi quốc gia, và các ngân hàng, thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào điều kiện thực tiễn cũng như mục đích quản
lý ở từng nơi.
Theo TS. Lê Khắc Trí, tín dụng bán lẻ là những hình thức cho vay trực tiếp đến các người vay cuối cùng, chủ yếu là các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á – AIT, dịch vụ ngân hàng bán lẻ là cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng
lẻ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua mạng lưới chi nhánh, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện
Trang 4điện tử viễn thông và công nghệ thông tin. Theo định nghĩa trên, tín dụng bán lẻ
Chi phí cho tín dụng bán lẻ lớn hơn mức bình quân chung, do các khoản vay nhỏ, lẻ, lượng khách hàng lớn nên chi phí quản lý, chi phí hoạt động lớn; do nhu cầu sử dụng nguồn trung dài hạn cao nên chi phí vốn cao.
Tín dụng bán lẻ có khả năng phân tán rủi ro, do số lượng khách hàng lớn, các
khoản vay có giá trị nhỏ.
1.2.3. Vai trò 1.2.3.1. Đối với nền kinh tế
Hoạt động tín dụng nói chung có vai trò quan trọng trong quá trình thúc đẩy kinh tế phát triển, bên cạnh đó hoạt động tín dụng bán lẻ có một số vai trò đặc thù như sau:
Góp phần đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, sử dụng hiệu quả nguồn vốn, để các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ gia đình mở rộng sản xuất hàng hóa, dịch
vụ, giải quyết khối lượng lớn công ăn việc làm, nâng cao vai trò của các thành phần kinh tế này trong nền kinh tế, đóng góp ngày càng tăng trong GDP.
Góp phần kích cầu tiêu dùng: với các sản phẩm cho vay mua nhà ở, ôtô, trang thiết bị phục vụ sinh hoạt gia đình …phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng, các sản phẩm tín dụng tiêu dùng thông qua các loại thẻ nội địa và quốc tế, kích thích người dân tăng cường chi tiêu, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư gia tăng năng lực sản xuất, tăng trưởng kinh tế.
Góp phần đẩy lùi tệ nạn tín dụng đen, cho vay nặng lãi ở nhiều nơi: kênh tín dụng bán lẻ được khai thông, giúp các khách hàng cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ,… dễ dàng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng có lãi suất hợp lý sẽ hạn chế nạn cho vay nặng lãi ở nhiều nơi
Trang 5 Trên giác độ tài chính, tín dụng bán lẻ đóng góp quan trọng vào việc tăng
trưởng tín dụng và đem lại hiệu quả kinh doanh cao cho các ngân hàng. Tín dụng
lẻ nói riêng yêu cầu các ngân hàng đầu tư mạnh vào hạ tầng công nghệ thông tin,
cải tiến chất lượng sản phẩm, xây dựng mạng lưới kênh phân phối đa dạng, rộng
Cho vay vốn sản xuất kinh doanh: là sản phẩm tín dụng ngắn hạn nhằm đáp ứng vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh trong nước mua vật tư, hàng hóa, chi phí nhân công, nhiên liệu, nộp thuế,…; xuất nhập khẩu nguyên vật liệu, hàng hoá,…; thông thường thông qua hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng hoặc theo món.
Cho vay mua sắm đầu tư tài sản cố định: là sản phẩm tín dụng trung dài hạn nhằm bổ sung vốn đầu tư mới hoặc sửa chữa, nâng cấp máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, văn phòng làm việc, nhà xưởng,…
Cho vay kinh doanh chứng khoán: là sản phẩm cho nhà đầu tư vay bằng đồng Việt Nam để kinh doanh chứng khoán và ứng trước tiền bán chứng khoán đã được khớp lệnh công ty chứng khoán.
Cho vay tiêu dùng cá nhân: là sản phẩm nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, đây là nguồn tài chính quan trọng để trang trải các nhu cầu sinh hoạt gia đình, mua sắm đồ dùng, chi tiêu cho y tế, giáo dục, du lịch,…
Cho vay du học: là sản phẩm nhằm cung cấp tài chính để hỗ trợ các du học sinh tham dự các khoá đại học, sau đại học của nước ngoài.
Cho vay học phí: thông thường là sản phẩm cho vay tín chấp dưới hình thức trả định kỳ nhằm hỗ trợ người vay có đủ khả năng chi trả học phí khi bản thân người vay hoặc thân nhân của người vay theo học các khóa học tại Việt Nam
Trang 6 Cho vay mua nhà/đất để ở: là sản phẩm dành cho các khách hàng cá nhân
vay vốn để thực hiện việc xây, mua, sửa nhà, chuyển quyền thuê lại nhà của Nhà
United States, với 3.400 chi nhánh, có trụ sở trên 100 nước, và hơn 160.000 nhân
viên trên toàn thế giới. Năm 1977, Citibank bắt đầu hoạt động tại Australia, trở
cá nhân và doanh nghiệp, khoản vay cá nhân, thẻ tín dụng, tài khoản gửi và đầu tư.
Hệ thống kênh phân phối đa dạng, rộng khắp, dễ tiếp cận với 7 chi nhánh, 4.700 điểm ATM và 2.700 điểm thanh toán bưu điện, dịch vụ ngân hàng qua telephone được thực hiện 24/24h, 7 ngày một tuần, và phần lớn khách hàng của Citibank sử dụng hình thức giao dịch từ xa.
Bên cạnh đó, nhân viên được tuyển dụng và đào tạo bài bản, am hiểu về sản phẩm và kỹ năng bán hàng, đảm bảo rằng cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất.
Ngoài ra, công tác quảng cáo và hậu mãi đặc biệt được quan tâm. Trang web Citibank cung cấp tỉ giá chung, các thông tin sản phẩm, tin tức và thể thao. Các khách hàng có thể thực hiện các cuộc giao dịch ngân hàng trực tuyến, là một trong những trang web phong phú và thân thiện với người sử dụng. Các chương trình tiếp thị trực tiếp với rất nhiều sản phẩm sáng tạo, cung cấp cho các khách hàng những chuyến du lịch, trò giải trí đặc biệt, và hàng loạt các sản phẩm và dịch vụ độc đáo khác.
Nhìn chung, Citibank được biết tới với chất lượng phục vụ khách hàng cao, những sản phẩm mới dựa trên sự hiểu biết và nắm bắt rõ nhu cầu của khách hàng, mang giá trị tinh thần bên cạnh những giá trị về tài chính, tạo ra tính khác biệt của sản phẩm, hệ thống kênh phân phối thuận lợi, đa dạng, ứng dụng công nghệ hiện đại
và áp dụng chọn lọc kinh nghiệm trên thế giới vào các thị trường nội địa
Trang 7BNP Paribas là ngân hàng có hoạt động bán lẻ rộng lớn tại Pháp, với 6 triệu
khách hàng và giữ vị trí dẫn đầu trong những dịch vụ ngân hàng qua mạng internet.
Thông qua 2.200 chi nhánh bán lẻ khắp quốc gia, BNP Paribas duy trì mối quan hệ
của họ với các khách hàng cá nhân, với các tập đoàn chuyên nghiệp và độc lập.
Trong năm 2000, sự thắt chặt của việc kinh doanh ngân hàng dựa trên chi phí đã
được bán, từ đó nhóm có thể đề ra những mục tiêu và biện pháp thực hiện. Một
trong những ưu tiên hàng đầu của nhóm là thường xuyên điều chỉnh các loại sản
họ mới thiết kế và triển khai hệ thống các kênh phân phối khác. Ngược lại, họ sẽ tái
cơ cấu toàn bộ các kênh phân phối sản phẩm.
Ngoài ra, BNP Paribas đã thực hiện một chương trình đầu tư rất quy mô để hiện đại hóa mạng chi nhánh. Sự lớn mạnh của mạng lưới tiêu thụ phối hợp với nhân viên trẻ hơn tạo ra thế mạnh cho họ.
Với cam kết đảm bảo chất lượng dịch vụ, thương hiệu PNB Paribas sẽ ngày
càng xứng đáng là “Ngân hàng bán lẻ hàng đầu của Pháp”.
1.3.1.3. Khủng hoảng tín dụng bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ
Cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu hiện nay được bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng bất động sản dưới chuẩn của Mỹ.
Tín dụng bất động sản dưới chuẩn là hình thức tín dụng mà các công ty cho vay thế chấp ở Mỹ đã cung ứng cho khách hàng mua nhà, với các điều kiện cho vay được nới lỏng, như : không cần tiền đặt cọc theo hình thức cho vay truyền thống ; cũng không đòi hỏi người đi vay phải chứng tỏ rõ ràng về khả năng trả nợ, hạ thấp
“điểm tín dụng”, chấp thuận cho vay các khách hàng cho vay dưới 620 điểm và sản phẩm Option Adjustable Rate Mortgage (lãi suất thả nổi) được các công ty áp dụng phổ biến nhất.
Với cách cho vay quá dễ dàng, vô số những khách hàng chưa hề có lý lịch vay mượn, hoặc có lý lịch yếu vì đã từng chậm trả nợ, hoặc không đủ khả năng trả góp hàng tháng cho đến những người đã bị phá sản cũng trở thành chủ nhân những ngôi nhà to lớn, khang trang vượt quá khả năng trả nợ của mình
Trang 8nhiên lượng tiền cho vay từ ngân hàng cũng có giới hạn. Những món nợ vay của
các ngân hàng được dùng làm thế chấp để phát hành những “Trái phiếu bất động
Sau nhiều năm phát hành thẻ tín dụng với hạn mức tín dụng cao, điều kiện
thông thoáng tràn ngập thị trường Mỹ, nhiều tổ chức tín dụng đã cắt giảm mạnh
hoạt động này, trong điều kiện nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng cao, ngày
càng có nhiều người không trả được nợ, nợ xấu tăng cao, các ngân hàng phải đương
đầu với làn sóng thua lỗ sau thời kỳ hoàng kim hưởng lợi từ việc cấp tín dụng dễ dàng.
Đầu năm 2008, tổng số nợ trên thẻ tín dụng ở Mỹ đã lên đến 875 tỉ USD. Các khoản nợ xấu của thẻ tín dụng đã lên tới 21 tỷ USD trong nửa đầu năm 2008. Nguyên nhân do ngày càng nhiều người mất khả năng trả nợ, các công ty đang sa thải hàng chục nghìn công nhân. Dự báo, thua lỗ liên quan đến thẻ tín dụng sẽ tăng thêm khoảng 55 tỷ USD trong 1 năm rưỡi tới. Hiện nay, tổng thua lỗ đứng ở mức 5,5% tổng số nợ chưa trả của thẻ tín dụng, và số thua lỗ này có thể lên tới 7,9%, mức đỉnh cao sau cuộc khủng hoảng dotcom những năm 2000.
Những tổ chức cho vay lớn như American Express, Bank of America, Citigroup đã thắt chặt tiêu chuẩn làm thẻ và đưa ra hạn chế đối với đối tượng khách hàng có độ rủi ro cao. Capital One, một tổ chức phát hành thẻ tín dụng khác, đã đóng cửa tất cả các tài khoản không hoạt động và giảm hạn mức tín dụng thêm 4,5% trong quý 2. American Express cho biết sẽ chuẩn bị tăng lãi suất lên thêm 2% đến 3% đối với một số đối tượng khách hàng, phạt các khách hàng không giữ được đúng cam kết trả nợ: bằng những mức phạt nặng, như tăng lãi suất, từ 9% đến 24%,
có khi lên đến 39%.
Các biện pháp trên được đưa ra nhằm đảm bảo cho tổ chức cho vay tiền nhưng lại gây khó khăn cho khách hàng. Kết quả tất yếu sẽ là người tiêu dùng phải trả lãi suất cao hơn và gặp ngày một nhiều khó khăn hơn trong việc vay tiền. Hạn mức tín dụng sụt giảm có thể khiến người tiêu dùng gặp khó trong việc quản lý chi tiêu. Khủng hoảng tài chính với mức độ sâu rộng như hiện nay khiến người dân những nước phụ thuộc vào thẻ tín dụng phải nghĩ lại về thói quen của họ. Nhiều gia đình quen với việc tiêu trước trả sau đã bắt đầu giảm sự phụ thuộc vào thẻ tín dụng. Các tổ chức phát hành thẻ tín dụng trên thế giới cần thiết xem xét lại tiêu chuẩn làm
thẻ, chọn lọc khách hàng, xem xét lại kế hoạch mở rộng thị trường.
1.3.2 Bài học kinh nghiệm
Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ nói chung, tín dụng bán lẻ nói riêng được xem là một xu hướng tất yếu khi mà nó đóng vai trò ngày càng quan trọng trong
Trang 9 Tăng cường công tác quảng bá thương hiệu, tăng cường hoạt động tiếp thị, chăm sóc khách hàng và hậu mãi nhằm tăng cường chuyển tải thông tin tới công chúng nhằm giúp khách hàng có thông tin cập nhật về năng lực và uy tín của ngân hàng, hiểu biết cơ bản về sản phẩm dịch vụ, nắm được cách thức sử dụng và lợi ích của các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, tạo mối gắn kết đa chiều giữa ngân hàng và khách hàng.
Thực hiện chuyên môn hoá và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng bán lẻ, cả về trình độ nghiệp vụ, tác phong giao dịch và nhận thức về tầm quan trọng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Sắp xếp lại mô
hình tổ chức phù hợp với mô hình ngân hàng bán lẻ.
1.3.2.2. Bài học về rủi ro tín dụng bán lẻ
Kinh doanh bán lẻ với đối tượng khách hàng đa dạng, số lượng lớn, buộc các ngân hàng phải tuân theo những quy định hoạt động chặt chẽ và tỉ lệ an toàn trong điều kiện bị ràng buộc bởi những hạn chế về nguồn lực. Các ngân hàng phải có định hướng rõ ràng về hoạt động kinh doanh ngân hàng bán lẻ, có đầy đủ nguồn lực cần thiết để phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ.
Từ bài học khủng hoảng thẻ tín dụng và khủng hoảng cho vay dưới chuẩn ở
Mỹ rút ra bài học về rủi ro cho hoạt động tín dụng bán lẻ nói chung, tín dụng tiêu dùng và mua nhà ở nói riêng, đây là hai phân khúc lớn trong tín dụng bán lẻ, đó là: không hạ thấp các điều kiện cấp tín dụng cho khách hàng; khi cấp tín dụng cần đánh giá khách hàng toàn diện, không chỉ xem xét đến khả năng trả nợ hiện tại và cần thiết xem xét đến khả năng trả nợ trong tương lai khi có những biến động về lãi suất, giá cả tài sản, nguồn thu nhập, đồng thời quan tâm đến lịch sử quan hệ tín dụng yếu, hệ số nợ trên thu nhập, điểm xếp hạng tín dụng khách hàng…; đa số các ngân hàng thương mại Việt Nam chưa xây dựng được hệ thống chấm điểm khách hàng cá nhân để đánh giá uy tín tín dụng khách hàng trước khi cấp tín dụng; cần
Trang 10thiết có cơ chế giám sát và hệ thống thông tin kiểm soát một khách hàng vay, sử
tiền đề quan trọng để có thể đi sâu phân tích thực trạng tín dụng bán lẻ và đưa ra
một số giải pháp phát triển tín dụng bán lẻ tại BIDV
Chương 2:
THỰC TRẠNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI BIDV
2.1. Giới thiệu chung về sự hình thành và phát triển của BIDV 2.1.1 Giới thiệu chung
BIDV thành lập ngày 26/04/1957 theo Quyết định 177/TTg của Thủ tướng Chính phủ; là một trong những Ngân hàng Thương mại Nhà nước lớn và lâu đời nhất Việt Nam, là Doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, tổ chức và hoạt động theo
mô hình Tổng công ty Nhà nước.
BIDV kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực về tài chính, tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng phù hợp với quy định của pháp luật, không ngừng nâng cao lợi nhuận của ngân hàng, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, phục
vụ phát triển kinh tế đất nước.
BIDV là một trong những ngân hàng có mạng lưới phân phối lớn nhất trong hệ thống các ngân hàng tại Việt Nam với trên 12.000 cán bộ nhân viên, chia thành hai khối:
Khối kinh doanh bao gồm: Hệ thống ngân hàng thương mại trên 108 chi nhánh cấp I, trú đóng khắp các tỉnh thành trong cả nước, trong đó bao gồm: Chi nhánh chỉ định thanh toán phục vụ thị trường chứng khoán và chi nhánh bán buôn phục vụ làm đại lý ủy thác giải ngân nguồn vốn ODA; Công ty chứng khoán BIDV; Công ty bảo hiểm BIDV, Công ty cho thuê tài chính I, II; Công ty đầu tư tài chính,…, các công ty liên doanh: Công ty quản lý đầu tư BVIM, Ngân hàng liên doanh VID Public, Ngân hàng liên doanh Lào Việt; Ngân hàng liên doanh Việt Nga, Công ty liên doanh Tháp BIDV…
Khối sự nghiệp: Trung tâm đào tạo, Trung tâm công nghệ thông tin. Hiện nay, BIDV có quan hệ hợp tác kinh doanh với hơn 800 ngân hàng trên thế giới; là thành viên của Hiệp hội Ngân hàng Châu Á, Hiệp hội ngân hàng ASEAN, Hiệp hội các định chế tài chính phát triển Châu Á – Thái Bình Dương,
Trang 11Ngày 14/11/1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được đổi tên
thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo Quyết định số 401CT của
Các chỉ tiêu tài chính của BIDV giai đoạn 5 năm gần đây, cho thấy hoạt động
của BIDV hiệu quả, an toàn, bền vững, tăng trưởng đều trên các mặt hoạt động: Bảng 2.1: Các chỉ tiêu tài chính của BIDV giai đoạn 2004 – 6/2009
khoản phải trả 67.262 85.747 106.496 138.233 166.291 215.631 Lợi nhuận trước thuế 222 296 650 2.103 2.142 2.225
Nguồn: các báo cáo thường niên của BIDV, số liệu 6/2009 dự ước.
2.2. Tổng quan hoạt động tín dụng BIDV giai đoạn 5 năm 2004 – 2008 2.2.1. Tổng quan hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 5 năm 2004 – 2008
Hệ thống ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn này đã có sự phát triển vượt bậc
về số lượng, quy mô và trình độ công nghệ, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế và là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ hiệu quả.
Trong điều kiện thị trường chứng khoán chưa thực sự phát triển ổn định và phát huy vai trò, kênh vốn tín dụng ngân hàng vẫn là kênh vốn chủ đạo của nền kinh tế. Cùng với sự phát triển vượt bậc về mặt kinh tế giai đoạn 2004 – 2008, với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội – GDP bình quân gần 8%/năm, tốc độ
Trang 122004 2008 tập trung vào việc tái cơ cấu và kiểm soát chất lượng tín dụng.
Về khách hàng, tập trung mở rộng quan hệ toàn diện với các tập đoàn, tổng công ty lớn là các khách hàng truyền thống có tiềm lực tài chính thực sự mạnh, hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế đóng vai trò mũi nhọn, có hiệu quả như: năng lượng, sản xuất vật liệu, công nghiệp tàu thuỷ,… Bên cạnh đó, trong giai đoạn này BIDV ưu tiên phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thuỷ sản, gỗ, các mặt hàng xuất khẩu khác,…
Các cơ cấu chuyển dịch theo hướng giảm dần dư nợ cho vay trung dài hạn, tăng tỷ trọng cho vay có tài sản đảm bảo và tăng tỷ trọng cho vay khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
BIDV luôn kiểm soát chặt chẽ và tuân thủ các giới hạn an toàn trong hoạt động tín dụng theo quy định của Luật các Tổ chức Tín dụng, quyết định 457/2005/QĐNHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, kiểm soát tốt tỷ lệ cho vay đầu tư chứng khoán theo quyết định 03/2007/QĐNHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Hoạt động quản trị ngân hàng dần hướng theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Với 13 năm liên tiếp kiểm toán theo thông lệ quốc tế, 4 năm liên tiếp định hạng doanh nghiệp bởi tổ chức định hạng quốc tế Moody’s và là ngân hàng thương mại đầu tiên thực hiện phân loại nợ theo điều 7 quyết định 493/2005/QĐNHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Trang 132.2.2.3. Chất lượng và quản lý rủi ro tín dụng
Có thể nói thành công nhất trong hoạt động tín dụng của BIDV giai đoạn 2004 – 2008 là công tác xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng và quản lý rủi ro tín
dụng.
Bảng 2.4: Tỷ lệ nợ xấu của BIDV giai đoạn 5 năm 2004 – 2008
ĐVT: tỷ đồng.
Chỉ tiêu 2004 2005 2006 2007 2008 6/2009 Tổng dư nợ 67.831 82.013 93.908 118.058 149.418 186.347
Dư nợ xấu 23.999 23.844 8.689 4.756 4.183
Kiểm toán Quốc tế Tỷ lệ 38,3% 31,3% 9,6% 3,9% 2,75%
Dư nợ xấu 10.138 10.392 8.639 3.865 3.066 4.640
Theo BIDV Tỷ lệ 14,56% 12,47% 9,1% 3,22% 2,01% 2,49% Nguồn: các báo cáo tổng kết của BIDV, số liệu 6/2009 dự ước.
Năm 2004 và năm 2005, chất lượng tín dụng của BIDV cực kỳ yếu kém, về số tuyệt đối nợ xấu/nợ quá hạn ở mức cao trên chục ngàn tỷ đồng, về số tương đối luôn
ở mức trên 2 con số. Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế, các con số này cao hơn gần 2 đến 2,5 lần so với chuẩn mực Việt Nam, theo BIDV.
Bước sang năm 2006, BIDV đã tạo ra bước ngoặt lịch sử, là ngân hàng thương mại đầu tiên xây dựng thành công hệ thống xếp hạng nội bộ và được Ngân hàng Nhà nước chính thức cho phép áp dụng phân loại nợ theo điều 7 quyết định 493/2005/QĐNHNN, giúp kiểm soát chất lượng tín dụng tiệm cận với thông lệ quốc tế, tiêu chí và phương thức đánh giá của BIDV và kiểm toán quốc tế đồng nhất, từ đây nợ xấu của BIDV không còn có 2 chuẩn mực như các năm trước
Trang 14Ngay sau khi hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ ra đời, các chính sách tín
thống, theo đó, phân hệ tiền vay trên hệ thống ngân hàng tích hợp của nhà thầu
Silverlake – SIBS, cho phép ngân hàng quản lý tập trung các số liệu, dữ liệu về thông tin khách hàng, lãi suất, tiền vay, tiền gửi, bảo lãnh… phục vụ cho công tác
quản lý, chỉ đạo điều hành tín dụng.
2.3. Thực trạng tín dụng bán lẻ tại BIDV 2.3.1. Tổng quan hoạt động tín dụng bán lẻ tại một số ngân hàng thương mại Việt Nam
Đến cuối năm 2008, dư nợ tín dụng bán lẻ toàn ngành Ngân hàng Việt Nam hiện ở mức 16,5% tổng dư nợ tín dụng.
Trong đó, dư nợ tín dụng tiêu dùng, theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tính tới cuối tháng 05/2009 đạt 85 ngàn tỷ đồng, chiếm 6,44% tổng dư nợ tín dụng. Tính theo đầu người, dư nợ cho vay tiêu dùng mới chỉ ở mức chưa đến 1 triệu đồng/người, quá thấp so với tiềm năng thị trường của đất nước có trên 85 triệu dân
và có mức tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm qua.
Hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam đều cho vay bán lẻ nhưng thị trường này chỉ thật sự sôi động trong khoảng 2 năm trở lại đây, khi các ngân hàng thương mại Việt Nam đều nhận thức được đây một thị trường đầy tiềm năng và có
sự cạnh tranh mạnh mẽ của các ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính nước ngoài vào lĩnh vực tín dụng tiêu dùng. Trong thời gian tới, cạnh tranh trong phân khúc thị trường sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ nói chung và tín dụng bán lẻ nói riêng
sẽ ngày càng gay gắt, nhất là giữa các ngân hàng thương mại trong nước với các ngân hàng của nước ngoài với công nghệ ngân hàng hiện đại và bề dày kinh nghiệm trong hoạt động tín dụng bán lẻ.
Trong nước, các ngân hàng thương mại cổ phần quan tâm và tập trung nhiều hơn cho phân khúc thị trường bán lẻ, trong đó Sacombank, ACB, Techcombank là những ngân hàng tiêu biểu, đi đầu trong lĩnh vực này. ACB được Tạp chí The Asian Banker trao tặng danh hiệu Ngân hàng bán lẻ xuất sắc nhất Việt Nam năm 2006. Sacombank được Asia Banking and Finance bình chọn là Ngân hàng bán lẻ của năm 2007 tại Việt Nam
Trang 15Năm 2008, dư nợ cho vay bán lẻ của Sacombank đạt 18.356 tỷ đồng, chiếm
dư nợ bán lẻ/tổng
dư nợ
Dư nợ bán lẻ Tổng
dư nợ
Tỷ trọng
dư nợ bán lẻ/tổng
dư nợ
Dư nợ bán lẻ Tổng
dư nợ
Tỷ trọng
dư nợ bán lẻ/tổng
dư nợ BIDV 8.573 93.185 9,2% 16.567 118.090 13,1% 16.220 149.419 10,86%
BIDV là một trong những ngân hàng thương mại Nhà nước hàng đầu, có vị thế mạnh và bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực cho vay đầu tư, phát triển, cho vay đối với các doanh nghiệp lớn (tín dụng bán buôn); riêng hoạt động tín dụng bán lẻ của BIDV còn rất hạn chế và bắt đầu được quan tâm phát triển từ năm 2007. Trước năm 2007, hoạt động cho vay bán lẻ chủ yếu được phát triển tự phát tại các chi nhánh thuộc hệ thống BIDV, được thực hiện trên cơ sở những quy định/quy trình và cơ chế chung về cho vay của Ngân hàng Nhà nước và của BIDV. Trong giai đoạn này, BIDV gần như chưa có định hướng, cơ chế, chính sách, cũng như phát triển hệ thống sản phẩm tín dụng bán lẻ một cách rõ ràng.
Đến năm 2008, với nhận thức rằng hoạt động ngân hàng bán lẻ là cơ sở để tạo lập một nền khách hàng vững chắc và mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng và phù hợp với xu hướng phát triển chung của các ngân hàng hiện đại trên thế giới, BIDV
Trang 16347 tỷ, tương đương giảm 2,09% so với 31/12/2007, tỷ trọng dư nợ tín dụng bán
lẻ/tổng dư nợ giảm tương ứng 3%, còn 10,9%. Sự giảm sút này cho thấy BIDV
các ngân hàng thương mại cổ phần.
2.3.2.3. Chất lượng và quản lý rủi ro tín dụng
Về chất lượng tín dụng bán lẻ, trong giai đoạn 2006 – 2008, nhìn chung nợ quá hạn/nợ xấu tăng lên cùng với xu hướng tăng lên về quy mô tín dụng bán lẻ, tại thời điểm 31/12/2008 là 3% cao hơn so với thời điểm 31/12/2007 là 2.65%, cao hơn
tỷ lệ nợ xấu chung của BIDV là 2,75% (theo kiểm toán quốc tế). Tuy nhiên, xét trong cả giai đoạn 2006 – 2008, tỷ lệ nợ xấu/nợ quá hạn tín dụng bán lẻ ổn định mức 2,6% đến 3%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ nợ xấu chung.
Hệ thống BIDV chưa có hệ thống chấm điểm, xếp hạng tín dụng nội bộ cho khách hàng bán lẻ (khách hàng cá nhân và hộ gia đình), nên tiêu chí nợ xấu được căn cứ định lượng vào tuổi nợ quá hạn và nợ cơ cấu lại, được phân loại theo Điều 6 Quyết định 493/2005/QĐNHNN; đồng thời, do chưa có quy chuẩn đánh giá thống nhất uy tín tín dụng, năng lực tài chính của khách hàng nên cũng chưa đưa ra được
phương thức quản lý rủi ro tín dụng bài bản, chính sách khách hàng phù hợp. 2.3.2.4. Hệ thống quy trình/chính sách/công nghệ trong hoạt động tín dụng bán
lẻ
Trước khi triển khai mô hình tổ chức mới vào tháng 10/2008, hoạt động tín dụng tại các chi nhánh trong hệ thống BIDV chưa có sự phân định giữa bán buôn và bán lẻ, việc cấp tín dụng chung đối với tất cả các đối tượng khách hàng chủ yếu được thực hiện theo các hướng dẫn tại các quy trình tín dụng ngắn, trung, dài hạn, quy trình bảo lãnh của BIDV và quy định tại Quy chế cho vay theo Quyết định số 1627/2001/QĐNHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Quyết định số 203/QĐHĐQT của BIDV cùng hệ thống các văn bản sửa đổi, bổ sung. Hoạt động tín dụng nói chung được điều hành theo các cơ chế, chính sách chung và chưa có các quy định riêng, sản phẩm đặc thù cho từng đối tượng khách hàng
Trang 17Hiện nay, trình tự, thủ tục cấp tín dụng bán lẻ của BIDV chủ yếu thực hiện
theo Quyết định số 4321/QĐTD3 ngày 27/08/2008 và Quyết định số 4072/QĐ
PTSPBL1 ngày 15/07/2009 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam, trong đó bao gồm một số sản phẩm: (i) Cho vay cán bộ công nhân viên;
(ii) Thấu chi tài khoản tiền gửi; (iii) Cho vay hỗ trợ nhu cầu về nhà ở; (iv) Cho vay
ô tô phục vụ nhu cầu tiêu dùng; (v) Cho vay đi du học; (vi) Cho vay cán bộ công
nhân viên mua cổ phiếu phát hành lần đầu trong các Doanh nghiệp Nhà nước cổ
Tại BIDV hiện đang sử dụng hệ thống ngân hàng tích hợp của nhà thầu
Silverlake – SIBS, cho phép ngân hàng quản lý tập trung các số liệu, dữ liệu về
có 7 sản phẩm, ACB có 12 sản phẩm, HSBC có 6 sản phẩm, danh mục sản phẩm của BIDV tương đối đa dạng, bên cạnh một số sản phẩm tương tự như các ngân hàng khác, còn có một số sản phẩm đặc thù: cho vay cán bộ công nhân viên mua cổ phiếu lần đầu của Doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá, cho vay người lao động đi
Trang 18 Lãi suất cho vay thấp, thông thường dưới 150% lãi suất cơ bản, so với
ACB, Techcombank, và một số ngân hàng thương mại cổ phần thực
hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trên 150% lãi suất cơ bản
Ÿ Điểm yếu:
Quy trình thủ tục: yêu cầu xác nhận đơn vị công tác, mức thu nhập tương đối chặt chẽ, nhiều trường hợp gây khó khăn cho khách hàng;
Phương thức vay: khách hàng phải đến trực tiếp Chi nhánh làm thủ tục vay vốn, chưa triển khai phương thức vay vốn trực tuyến (đã được áp
dụng ở các ngân hàng như ACB, Techcombank…).
(ii) Sản phẩm cho vay hỗ trợ nhu cầu nhà ở
Ÿ Điểm mạnh:
Điều kiện cho vay: không quy định mức thu nhập tối thiểu được vay vốn (HSBC là 10 triệu, VCB là 3 triệu)
Mức cho vay: tỷ lệ cho vay so với giá trị tài sản bảo đảm tương đối cao (BIDV là 85%; HSBC là 60%, VCB và ACB là 70%)
Lãi suất cho vay thấp, thông thường dưới 150% lãi suất cơ bản, so với ACB, Techcombank, và một số ngân hàng thương mại cổ phần thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trên 150% lãi suất cơ bản.
Ÿ Điểm yếu:
Thời gian xử lý hồ sơ chậm (BIDV tối thiểu 7 ngày, EAB 24h – 48h kể từ khi nhận đủ hồ sơ); thời hạn cho vay ngắn (BIDV tối đa 10 năm, ABBANK tối đa 20 năm).
Chưa có các sản phẩm cụ thể theo từng mục đích vay (mua nhà, sửa chữa nhà, mua sắm trang thiết bị nội thất, ACB có các sản phẩm: cho vay trả góp mua nhà ở/nền nhà, cho vay trả góp xây dựng/sửa chữa nhà hoặc ANZ có các sản phẩm: cho vay mua nhà để ở, cho vay mua nhà để đầu
tư, cho vay đầu tư bất động sản);
Chưa có sản phẩm riêng về cho vay mua nhà theo dự án mặc dù BIDV đã
ký thỏa thuận hợp tác với nhiều chủ đầu tư lớn (ACB có sản phẩm cho vay mua căn hộ Phú Mỹ Hưng, cho vay mua biệt thự Riveria; VCB có sản phẩm cho vay mua nhà theo dự án)