1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển VN

36 443 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với nền kinh tế Hoạt động tín dụng nói chung có vai trò quan trọng trong quá trình thúc đẩy kinh tế phát triển, bên cạnh đó hoạt động tín dụng bán lẻ có một số vai trò đặc thù như s

Trang 1

công  nghiệp  của  phương  thức  sản  xuất  Tư  bản  chủ  nghĩa.  Và  quan  hệ  tín  dụng 

không chỉ bằng hiện vật mà còn phát triển bằng hiện kim, với các hình thức tín dụng 

tiến bộ hơn: tín dụng ngân hàng, tín dụng chính phủ… 

Tín dụng ngân hàng là quan hệ giữa các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín 

dụng với  các công ty, doanh nghiệp  và  cá  nhân,… được thực  hiện dưới  hình thức 

ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay (cấp tín dụng) đối với các đối 

tối đa hóa hiệu quả sử dụng đồng vốn của mình. 

1.1.2 Bản chất 

Tín dụng  là hình  thức vận  động  của  vốn  cho  vay,  nó  phản  ánh mối  quan hệ kinh tế  giữa chủ thể sở hữu và các chủ  thể  sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi  trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn cả gốc lẫn lợi tức. 

Quan hệ  tín dụng ra đời bắt  nguồn từ  sự  xuất hiện mối quan hệ cung cầu về vốn giữa người đi vay và người cho vay. Quan hệ tín dụng tồn tại trong nhiều nền kinh  tế  hàng  hóa,  nhưng  do  tính  chất  của  các  phương  thức  sản  xuất  xã  hội  khác nhau nên tín dụng cũng mang những bản chất khác nhau, và chung quy lại tín dụng mang các đặc điểm cơ bản sau: 

Tóm lại: bản chất tín dụng được thể hiện là sự vận động của vốn tiền tệ trong 

xã  hội  dưới  nguyên  tắc  có  hoàn  trả  góp  phần  thúc  đẩy  hoạt  động  sản  xuất  kinh 

doanh, tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống xã hội. 

1.1.3 Vai trò  1.1.3.1. Tín dụng góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển 

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của các doanh nghiệp phải đồng thời tồn tại ở cả ba giai đoạn: dự trữ – sản xuất – lưu  thông  nên  hiện  tượng  thừa  vốn,  thiếu  vốn  tạm  thời  luôn  xảy  ra  tại  các  doanh

Trang 2

Một  mặt,  do  tín  dụng  có  tác  dụng  thúc  đẩy  nền  kinh  tế  phát  triển,  sản  xuất 

hàng hóa và dịch vụ ngày càng gia tăng có thể thỏa mãn nhu cầu đời sống của người 

lao động. Mặt khác, do vốn tín dụng cung ứng đã tạo  ra khả  năng trong việc khai 

­ Tín dụng trung hạn: là hoạt động cấp tín dụng có  thời hạn từ  trên 12 tháng đến 60 tháng; mục đích thông thường là tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định; 

­ Tín dụng dài hạn: là hoạt động cấp tín dụng có thời hạn trên 60 tháng; mục 

đích thông thường là nhằm tài trợ các dự án đầu tư. 

1.1.4.3.  Căn  cứ  vào  mức  độ  tín  nhiệm  của  khách  hàng:  Theo  tiêu  thức  này  tín 

dụng có thể được phân thành các loại sau:

Trang 3

Thứ nhất, tín dụng bán buôn được hiểu là tất cả các khoản cho vay thông qua thị  trường  tài  chính  (thị  trường  tiền  tệ  liên  ngân  hàng)  hoặc  cho  vay  đối  với  các trung gian tài chính khác (các ngân hàng thương mại, quỹ, các tổ chức làm đại lý ủy thác), không tính đến quy mô giá trị khoản vay. Trong khi đó, tín dụng bán lẻ bao gồm những khoản cho vay trực tiếp đến người vay cuối cùng với các khoản cho vay 

có quy mô giá trị khác nhau. Người vay cuối cùng ở đây không phân biệt theo quy 

mô lớn hay nhỏ, mà chủ yếu được xác định là người trực tiếp sử dụng vốn vay đưa vào đầu tư, không thực hiện việc cho vay tiếp tới các đối tượng khác. 

Thứ hai, tín dụng bán buôn được hiểu tương tự hình thức thứ nhất, cộng thêm những khoản cho vay công ty và doanh nghiệp lớn khác có giá trị lớn hơn một quy 

mô nào đó tùy theo quy định cụ thể của từng nước, ví dụ, ở nước Anh, những khoản vay có giá trị từ 50.000 Bảng Anh trở lên được coi là khoản cho vay bán buôn. Tín dụng bán lẻ bao gồm tất cả các khoản cho vay trực tiếp đến các người vay cuối cùng 

là các cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ và vừa, cộng thêm các khoản cho vay đối với những công ty và doanh nghiệp lớn nhưng có quy mô nhỏ hơn một mức giá trị nào đấy, ví dụ ở nước Anh là các khoản vay có giá trị dưới 50.000 Bảng Anh. Trong thực tế, những tiêu chí phân định giữa bán buôn, bán lẻ nêu trên chỉ là tương đối  và  không  mang  tính  phổ biến  đối  với mọi  quốc  gia,  và  các  ngân  hàng, thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào điều kiện thực tiễn cũng như mục đích quản 

lý ở từng nơi. 

Theo  TS.  Lê  Khắc  Trí, tín dụng bán  lẻ  là những hình  thức  cho  vay  trực  tiếp đến các người vay cuối cùng, chủ yếu là các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa. 

Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á – AIT, dịch vụ ngân hàng bán lẻ là cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng 

lẻ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua mạng lưới chi nhánh, khách hàng có thể tiếp  cận  trực  tiếp  với  sản  phẩm  và  dịch  vụ ngân  hàng  thông  qua  các phương  tiện

Trang 4

điện tử  viễn  thông  và  công  nghệ  thông tin.  Theo  định  nghĩa  trên,  tín dụng  bán  lẻ 

­ Chi phí cho tín dụng bán lẻ lớn hơn mức bình quân chung, do các khoản vay nhỏ, lẻ,  lượng  khách hàng  lớn nên  chi  phí  quản  lý,  chi phí  hoạt  động  lớn; do nhu cầu sử dụng nguồn trung dài hạn cao nên chi phí vốn cao. 

­ Tín dụng bán lẻ có khả năng phân tán rủi ro, do số lượng khách hàng lớn, các 

khoản vay có giá trị nhỏ. 

1.2.3. Vai trò  1.2.3.1. Đối với nền kinh tế 

Hoạt động tín dụng nói  chung có  vai  trò quan trọng trong quá trình thúc đẩy kinh tế phát triển, bên cạnh đó hoạt động tín dụng bán lẻ có một số  vai trò đặc thù như sau: 

­ Góp phần đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, sử dụng hiệu quả nguồn vốn, để các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ gia đình mở rộng sản xuất hàng hóa, dịch 

vụ, giải quyết khối lượng lớn công ăn việc làm, nâng cao vai trò của các thành phần kinh tế này trong nền kinh tế, đóng góp ngày càng tăng trong GDP. 

­  Góp  phần  kích  cầu  tiêu  dùng:  với  các  sản  phẩm  cho  vay  mua  nhà  ở,  ôtô, trang thiết bị phục vụ sinh hoạt gia đình …phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng,  các sản phẩm  tín  dụng  tiêu  dùng  thông  qua  các  loại  thẻ  nội  địa  và  quốc  tế, kích thích người dân tăng cường chi  tiêu, từ đó  thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư gia tăng năng lực sản xuất, tăng trưởng kinh tế. 

­ Góp phần đẩy lùi tệ nạn tín dụng đen, cho vay nặng lãi ở nhiều nơi: kênh tín dụng bán lẻ được khai thông, giúp các khách hàng cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ,… dễ dàng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng có lãi suất hợp lý sẽ hạn chế nạn cho vay nặng lãi ở nhiều nơi

Trang 5

­  Trên  giác  độ  tài  chính,  tín dụng bán  lẻ đóng  góp  quan  trọng  vào việc  tăng 

trưởng tín dụng và đem lại hiệu quả  kinh doanh cao  cho các ngân hàng. Tín  dụng 

lẻ  nói  riêng  yêu cầu các ngân hàng đầu tư  mạnh vào hạ tầng công nghệ thông tin, 

cải  tiến  chất  lượng  sản phẩm,  xây dựng mạng  lưới  kênh phân phối  đa dạng,  rộng 

­ Cho vay vốn sản xuất kinh doanh: là sản phẩm tín dụng ngắn hạn nhằm đáp ứng vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh trong nước mua vật tư, hàng hóa, chi phí nhân  công, nhiên  liệu, nộp  thuế,…;  xuất  nhập khẩu  nguyên  vật  liệu, hàng hoá,…; thông thường thông qua hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng hoặc theo món. 

­ Cho vay mua sắm đầu tư tài sản cố định: là sản phẩm tín dụng trung dài hạn nhằm bổ sung vốn đầu tư mới hoặc sửa chữa, nâng cấp máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, văn phòng làm việc, nhà xưởng,… 

­ Cho  vay  kinh  doanh  chứng  khoán:  là  sản  phẩm  cho  nhà  đầu  tư  vay  bằng đồng Việt Nam để kinh doanh chứng khoán và ứng trước tiền bán chứng khoán đã được khớp lệnh công ty chứng khoán. 

­ Cho  vay  tiêu  dùng  cá nhân:  là  sản phẩm nhằm  tài  trợ  cho nhu  cầu  chi  tiêu của  người  tiêu  dùng,  đây  là  nguồn  tài  chính  quan  trọng  để  trang  trải  các  nhu  cầu sinh hoạt gia đình, mua sắm đồ dùng, chi tiêu cho y tế, giáo dục, du lịch,… 

­ Cho vay du học: là sản phẩm nhằm cung cấp tài chính để hỗ trợ các du học sinh tham dự các khoá đại học, sau đại học của nước ngoài. 

­ Cho vay học phí: thông thường là sản phẩm cho vay tín chấp dưới hình thức trả  định  kỳ  nhằm  hỗ  trợ  người  vay  có  đủ  khả  năng  chi  trả  học  phí  khi  bản  thân người vay hoặc thân nhân của người vay theo học các khóa học tại Việt Nam

Trang 6

­ Cho  vay  mua  nhà/đất để  ở:  là  sản  phẩm dành cho  các  khách hàng  cá  nhân 

vay vốn để  thực hiện  việc  xây,  mua,  sửa nhà, chuyển  quyền  thuê  lại nhà  của  Nhà 

United States, với 3.400 chi  nhánh, có  trụ sở trên 100 nước, và hơn 160.000  nhân 

viên  trên  toàn  thế  giới.  Năm  1977,  Citibank  bắt  đầu  hoạt  động  tại  Australia,  trở 

cá nhân và doanh nghiệp, khoản vay cá nhân, thẻ tín dụng, tài khoản gửi và đầu tư. 

Hệ thống kênh phân phối đa dạng, rộng khắp, dễ tiếp cận với 7 chi nhánh, 4.700 điểm  ATM  và  2.700 điểm  thanh  toán  bưu  điện, dịch  vụ ngân  hàng qua  telephone được thực hiện 24/24h, 7 ngày một  tuần, và phần lớn khách hàng của Citibank sử dụng hình thức giao dịch từ xa. 

Bên cạnh  đó, nhân viên được tuyển dụng và đào tạo bài bản, am hiểu về sản phẩm và kỹ năng bán hàng, đảm bảo rằng cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất. 

Ngoài ra, công tác quảng cáo và hậu mãi đặc biệt được quan tâm. Trang web Citibank  cung  cấp  tỉ  giá  chung,  các  thông  tin  sản  phẩm,  tin  tức  và  thể  thao.  Các khách hàng có thể thực hiện các cuộc giao dịch ngân hàng trực tuyến, là một trong những trang web phong phú và thân thiện với người sử dụng. Các chương trình tiếp thị  trực tiếp với rất nhiều sản phẩm sáng tạo, cung cấp cho các khách hàng những chuyến du lịch, trò giải trí đặc biệt, và hàng loạt các sản phẩm và dịch vụ độc đáo khác. 

Nhìn chung,  Citibank  được biết tới  với  chất  lượng  phục vụ  khách hàng  cao, những sản phẩm mới dựa trên sự hiểu biết và nắm bắt rõ nhu cầu của khách hàng, mang giá trị tinh thần bên cạnh những giá trị về tài chính, tạo ra tính khác biệt của sản phẩm, hệ thống kênh phân phối thuận lợi, đa dạng, ứng dụng công nghệ hiện đại 

và áp dụng chọn lọc kinh nghiệm trên thế giới vào các thị trường nội địa

Trang 7

BNP Paribas là ngân hàng có hoạt động bán lẻ rộng lớn tại  Pháp,  với 6 triệu 

khách hàng và giữ vị trí dẫn đầu trong những dịch vụ ngân hàng qua mạng internet. 

Thông qua 2.200 chi nhánh bán lẻ khắp quốc gia, BNP Paribas duy trì mối quan hệ 

của  họ  với  các  khách  hàng  cá  nhân,  với  các  tập  đoàn  chuyên  nghiệp  và  độc  lập. 

Trong  năm 2000,  sự  thắt  chặt  của việc  kinh doanh  ngân hàng dựa  trên  chi  phí đã 

được bán,  từ  đó nhóm  có  thể  đề  ra  những  mục  tiêu  và  biện  pháp  thực  hiện.  Một 

trong  những  ưu  tiên  hàng  đầu  của  nhóm  là  thường  xuyên  điều  chỉnh  các  loại  sản 

họ mới thiết kế và triển khai hệ thống các kênh phân phối khác. Ngược lại, họ sẽ tái 

cơ cấu toàn bộ các kênh phân phối sản phẩm. 

Ngoài  ra, BNP Paribas  đã  thực hiện một  chương  trình  đầu  tư  rất  quy  mô  để hiện  đại  hóa  mạng  chi  nhánh.  Sự  lớn mạnh  của  mạng  lưới  tiêu  thụ  phối  hợp  với nhân viên trẻ hơn tạo ra thế mạnh cho họ. 

Với  cam kết đảm bảo  chất  lượng dịch  vụ,  thương hiệu PNB Paribas sẽ ngày 

càng xứng đáng là “Ngân hàng bán lẻ hàng đầu của Pháp”. 

1.3.1.3. Khủng hoảng tín dụng bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ 

Cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu hiện nay được bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng bất động sản dưới chuẩn của Mỹ. 

Tín dụng bất  động sản dưới  chuẩn là hình thức tín dụng mà các công ty  cho vay thế chấp ở Mỹ đã cung ứng cho khách hàng mua nhà, với các điều kiện cho vay được nới  lỏng, như :  không cần tiền đặt cọc theo hình thức cho vay truyền thống ; cũng không đòi hỏi người đi vay phải chứng tỏ rõ ràng về khả năng trả nợ, hạ thấp 

“điểm tín dụng”, chấp thuận cho vay các khách hàng cho vay dưới 620 điểm và sản phẩm Option Adjustable Rate Mortgage (lãi suất thả nổi) được các công ty áp dụng phổ biến nhất. 

Với cách cho vay quá dễ dàng, vô số những khách hàng chưa hề có lý lịch vay mượn, hoặc có lý lịch yếu vì đã từng chậm trả nợ, hoặc không đủ khả năng trả góp hàng  tháng  cho đến  những  người đã  bị  phá  sản   cũng  trở thành  chủ nhân  những ngôi nhà to lớn, khang trang vượt quá khả năng trả nợ của mình

Trang 8

nhiên  lượng  tiền  cho  vay  từ  ngân hàng  cũng có  giới  hạn.  Những món nợ  vay  của 

các  ngân hàng  được dùng làm thế chấp để phát hành những  “Trái phiếu  bất  động 

Sau  nhiều  năm  phát  hành  thẻ  tín  dụng  với  hạn  mức  tín  dụng  cao,  điều  kiện 

thông  thoáng  tràn  ngập  thị  trường  Mỹ,  nhiều  tổ  chức  tín  dụng  đã  cắt  giảm  mạnh 

hoạt  động  này,  trong  điều  kiện  nền  kinh  tế  suy  thoái,  thất  nghiệp  tăng  cao,  ngày 

càng có nhiều người không trả được nợ, nợ xấu tăng cao, các ngân hàng phải đương

đầu với  làn sóng thua lỗ sau thời  kỳ hoàng kim hưởng lợi  từ việc cấp tín dụng dễ dàng. 

Đầu năm 2008, tổng số nợ trên thẻ tín dụng ở Mỹ đã lên đến 875 tỉ USD. Các khoản  nợ  xấu  của  thẻ  tín  dụng  đã  lên  tới  21  tỷ  USD  trong  nửa  đầu  năm  2008. Nguyên nhân do ngày càng nhiều người mất khả năng trả nợ, các công ty đang sa thải hàng chục nghìn công nhân. Dự báo, thua lỗ liên quan đến thẻ tín dụng sẽ tăng thêm khoảng 55 tỷ USD trong 1 năm rưỡi tới. Hiện nay, tổng thua lỗ đứng ở mức 5,5%  tổng số nợ  chưa  trả  của thẻ  tín dụng,  và  số  thua lỗ này  có  thể  lên  tới  7,9%, mức đỉnh cao sau cuộc khủng hoảng dot­com những năm 2000. 

Những  tổ  chức  cho  vay  lớn  như  American  Express,  Bank  of  America, Citigroup đã thắt chặt tiêu chuẩn làm thẻ và đưa ra hạn chế đối với đối tượng khách hàng  có độ  rủi  ro  cao.  Capital  One,  một  tổ  chức phát  hành  thẻ  tín  dụng  khác,  đã đóng  cửa  tất  cả  các  tài  khoản  không  hoạt  động  và  giảm  hạn  mức  tín  dụng  thêm 4,5% trong quý 2. American Express cho biết sẽ chuẩn bị tăng lãi suất lên thêm 2% đến 3% đối với một số đối tượng khách hàng, phạt các khách hàng không giữ được đúng cam kết trả nợ: bằng những mức phạt nặng, như tăng lãi suất, từ 9% đến 24%, 

có khi lên đến 39%. 

Các biện pháp trên được đưa ra nhằm đảm bảo cho tổ chức cho vay tiền nhưng lại gây khó khăn cho khách hàng. Kết quả tất yếu sẽ là người tiêu dùng phải trả lãi suất cao hơn và gặp ngày một nhiều khó khăn hơn trong việc vay tiền. Hạn mức tín dụng sụt giảm có thể khiến người tiêu dùng gặp khó trong việc quản lý chi tiêu. Khủng  hoảng  tài  chính  với  mức  độ  sâu  rộng  như  hiện  nay  khiến  người  dân những nước phụ thuộc vào thẻ tín dụng phải nghĩ lại về thói quen của họ. Nhiều gia đình quen với việc tiêu trước trả sau đã bắt đầu giảm sự phụ thuộc vào thẻ tín dụng. Các tổ chức phát hành thẻ tín dụng trên thế giới cần thiết xem xét lại tiêu chuẩn làm 

thẻ, chọn lọc khách hàng, xem xét lại kế hoạch mở rộng thị trường. 

1.3.2 Bài học kinh nghiệm 

Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ nói chung, tín dụng bán lẻ nói riêng được xem là một  xu hướng  tất  yếu  khi  mà nó  đóng  vai  trò  ngày  càng  quan  trọng  trong

Trang 9

­ Tăng cường công tác quảng bá thương hiệu, tăng cường hoạt động tiếp thị, chăm  sóc khách hàng  và  hậu  mãi  nhằm  tăng  cường chuyển  tải  thông  tin  tới  công chúng nhằm giúp khách hàng có thông tin cập nhật về năng lực và uy tín của ngân hàng, hiểu biết cơ bản về sản phẩm dịch vụ, nắm được cách thức sử dụng và lợi ích của các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, tạo mối gắn kết đa chiều giữa ngân hàng và khách hàng. 

­ Thực hiện chuyên môn hoá và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng bán lẻ, cả về trình  độ nghiệp vụ, tác phong giao dịch và nhận thức về tầm quan trọng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Sắp xếp lại mô 

hình tổ chức phù hợp với mô hình ngân hàng bán lẻ. 

1.3.2.2. Bài học về rủi ro tín dụng bán lẻ 

Kinh doanh bán lẻ với đối tượng khách hàng đa dạng, số lượng lớn, buộc các ngân hàng phải tuân theo những quy định hoạt động chặt chẽ và tỉ lệ an toàn trong điều kiện bị ràng buộc bởi những hạn chế về nguồn lực. Các ngân hàng phải có định hướng rõ ràng về hoạt động kinh doanh ngân hàng bán lẻ, có đầy đủ nguồn lực cần thiết để phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ. 

Từ bài học khủng hoảng thẻ tín dụng và khủng hoảng cho vay dưới  chuẩn ở 

Mỹ rút ra bài học về rủi ro cho hoạt động tín dụng bán lẻ nói chung, tín dụng tiêu dùng và mua nhà ở nói riêng, đây là hai phân khúc lớn trong tín dụng bán lẻ, đó là: không hạ thấp các điều kiện cấp tín dụng cho khách hàng; khi cấp tín dụng cần đánh giá  khách hàng  toàn diện,  không  chỉ  xem  xét  đến  khả năng  trả nợ hiện  tại  và  cần thiết  xem  xét  đến  khả năng  trả  nợ  trong  tương  lai  khi  có  những biến  động  về  lãi suất,  giá  cả  tài  sản,  nguồn  thu  nhập,  đồng  thời  quan  tâm  đến  lịch  sử  quan  hệ  tín dụng yếu, hệ số nợ trên thu nhập, điểm xếp hạng tín dụng khách hàng…; đa số các ngân hàng thương mại  Việt Nam chưa xây dựng được hệ thống chấm điểm khách hàng  cá nhân để đánh  giá uy  tín  tín  dụng  khách hàng  trước  khi  cấp  tín dụng;  cần

Trang 10

thiết  có  cơ  chế  giám sát  và hệ  thống  thông  tin  kiểm  soát  một khách  hàng  vay, sử 

tiền đề quan trọng để có thể đi  sâu phân tích thực trạng tín dụng bán lẻ và  đưa ra 

một số giải pháp phát triển tín dụng bán lẻ tại BIDV

Chương 2: 

THỰC TRẠNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI BIDV 

2.1. Giới thiệu chung về sự hình thành và phát triển của BIDV  2.1.1 Giới thiệu chung 

BIDV  thành  lập  ngày  26/04/1957  theo  Quyết  định  177/TTg  của  Thủ  tướng Chính  phủ;  là  một trong  những  Ngân  hàng  Thương  mại  Nhà nước  lớn  và  lâu  đời nhất Việt Nam, là Doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, tổ chức và hoạt động theo 

mô hình Tổng công ty Nhà nước. 

BIDV kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực về tài chính, tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng phù hợp với quy định của pháp luật, không ngừng nâng cao lợi nhuận của ngân hàng, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, phục 

vụ phát triển kinh tế đất nước. 

BIDV là một trong những ngân hàng có mạng lưới phân phối lớn nhất trong hệ thống các ngân hàng tại Việt Nam với trên 12.000 cán bộ nhân viên, chia thành hai khối: 

Khối  kinh  doanh  bao  gồm:  Hệ  thống  ngân  hàng  thương  mại  trên  108  chi nhánh  cấp  I,  trú  đóng  khắp  các  tỉnh  thành  trong  cả  nước,  trong  đó  bao  gồm:  Chi nhánh chỉ định thanh toán phục vụ thị trường chứng khoán và chi nhánh bán buôn phục vụ làm đại lý ủy thác giải ngân nguồn vốn ODA; Công ty chứng khoán BIDV; Công  ty  bảo  hiểm  BIDV,  Công  ty  cho  thuê  tài  chính  I,  II;  Công  ty  đầu  tư  tài chính,…,  các công  ty  liên  doanh:  Công  ty quản  lý đầu  tư BVIM,  Ngân  hàng  liên doanh  VID  Public,  Ngân  hàng  liên  doanh  Lào  Việt;  Ngân  hàng  liên  doanh  Việt Nga, Công ty liên doanh Tháp BIDV… 

Khối sự nghiệp: Trung tâm đào tạo, Trung tâm công nghệ thông tin. Hiện nay, BIDV có quan hệ hợp tác kinh doanh với hơn 800 ngân hàng trên thế  giới;  là  thành  viên  của  Hiệp  hội  Ngân  hàng  Châu  Á,  Hiệp  hội  ngân  hàng ASEAN,  Hiệp  hội  các  định  chế  tài  chính phát  triển  Châu  Á  –  Thái  Bình  Dương, 

Trang 11

Ngày  14/11/1990,  Ngân  hàng  Đầu  tư  và  Xây  dựng  Việt  Nam  được  đổi  tên 

thành  Ngân  hàng  Đầu  tư  và Phát  triển  Việt  Nam  theo  Quyết  định  số  401­CT  của 

Các chỉ tiêu tài chính của BIDV giai đoạn 5 năm gần đây, cho thấy hoạt động 

của BIDV hiệu quả, an toàn, bền vững, tăng trưởng đều trên các mặt hoạt động:  Bảng 2.1: Các chỉ tiêu tài chính của BIDV giai đoạn 2004 – 6/2009 

khoản phải trả  67.262  85.747  106.496  138.233  166.291  215.631 Lợi nhuận trước thuế  222  296  650  2.103  2.142  2.225 

Nguồn: các báo cáo thường niên của BIDV, số liệu 6/2009 dự ước. 

2.2. Tổng quan hoạt động tín dụng BIDV giai đoạn 5 năm 2004 – 2008  2.2.1. Tổng quan hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt  Nam giai đoạn 5 năm 2004 – 2008 

Hệ thống ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn này đã có sự phát triển vượt bậc 

về số lượng, quy mô và trình độ công nghệ, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế và là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ hiệu quả. 

Trong  điều  kiện  thị  trường  chứng  khoán  chưa  thực  sự  phát  triển  ổn định  và phát huy  vai  trò,  kênh  vốn  tín  dụng  ngân  hàng  vẫn  là  kênh  vốn  chủ  đạo  của  nền kinh tế. Cùng với sự phát triển vượt bậc về mặt kinh tế giai đoạn 2004 – 2008, với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội – GDP  bình quân gần 8%/năm, tốc độ 

Trang 12

2004 ­ 2008 tập trung vào việc tái cơ cấu và kiểm soát chất lượng tín dụng. 

Về  khách hàng,  tập  trung mở  rộng quan hệ  toàn diện  với  các tập đoàn,  tổng công ty lớn là các khách hàng truyền thống có tiềm lực tài chính thực sự mạnh, hoạt động  trong  các  lĩnh  vực  kinh  tế  đóng  vai  trò  mũi  nhọn,  có  hiệu  quả  như:  năng lượng, sản xuất vật liệu, công nghiệp tàu thuỷ,… Bên cạnh đó, trong giai đoạn này BIDV  ưu  tiên phát  triển  cho  vay  doanh nghiệp nhỏ  và  vừa  thuộc  khu  vực  kinh  tế ngoài quốc doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thuỷ sản, gỗ, các mặt hàng xuất khẩu khác,… 

Các  cơ  cấu  chuyển  dịch  theo hướng  giảm  dần  dư nợ  cho  vay  trung dài  hạn, tăng tỷ trọng cho vay có tài sản đảm bảo và tăng tỷ trọng cho vay khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. 

BIDV  luôn  kiểm  soát  chặt  chẽ  và  tuân  thủ  các  giới  hạn  an  toàn  trong  hoạt động  tín  dụng  theo  quy  định  của  Luật  các  Tổ  chức  Tín  dụng,  quyết  định 457/2005/QĐ­NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, kiểm soát tốt tỷ lệ cho vay đầu tư chứng khoán theo quyết định 03/2007/QĐ­NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. 

Hoạt động quản trị ngân hàng dần hướng theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Với  13  năm  liên  tiếp  kiểm  toán  theo  thông  lệ  quốc  tế, 4  năm  liên  tiếp  định  hạng doanh nghiệp bởi tổ chức định hạng quốc tế Moody’s và là ngân hàng thương mại đầu  tiên  thực  hiện phân  loại  nợ  theo  điều  7  quyết  định 493/2005/QĐ­NHNN  của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Trang 13

2.2.2.3. Chất lượng và quản lý rủi ro tín dụng 

Có thể nói thành công nhất trong hoạt động tín dụng của BIDV giai đoạn 2004 – 2008 là công tác xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng và quản lý rủi ro tín 

dụng. 

Bảng 2.4: Tỷ lệ nợ xấu của BIDV giai đoạn 5 năm 2004 – 2008 

ĐVT: tỷ đồng. 

Chỉ tiêu  2004  2005  2006  2007  2008  6/2009  Tổng dư nợ  67.831  82.013  93.908  118.058  149.418  186.347 

­ Dư nợ xấu  23.999  23.844  8.689  4.756  4.183  ­ 

Kiểm  toán  Quốc tế  ­ Tỷ lệ  38,3%  31,3%  9,6%  3,9%  2,75%  ­ 

­ Dư nợ xấu  10.138  10.392  8.639  3.865  3.066  4.640 

Theo  BIDV  ­ Tỷ lệ  14,56%  12,47%  9,1%  3,22%  2,01%  2,49%  Nguồn: các báo cáo tổng kết của BIDV, số liệu 6/2009 dự ước. 

Năm 2004 và năm 2005, chất lượng tín dụng của BIDV cực kỳ yếu kém, về số tuyệt đối nợ xấu/nợ quá hạn ở mức cao trên chục ngàn tỷ đồng, về số tương đối luôn 

ở mức trên 2 con số. Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế, các con số này cao hơn gần 2 đến 2,5 lần so với chuẩn mực Việt Nam, theo BIDV. 

Bước sang năm 2006, BIDV đã tạo ra bước ngoặt lịch sử, là ngân hàng thương mại  đầu  tiên  xây dựng  thành  công hệ  thống  xếp  hạng nội  bộ  và  được  Ngân  hàng Nhà  nước  chính  thức  cho  phép  áp  dụng  phân  loại  nợ  theo  điều  7  quyết  định 493/2005/QĐ­NHNN,  giúp  kiểm  soát  chất  lượng  tín  dụng  tiệm  cận  với  thông  lệ quốc  tế,  tiêu  chí  và  phương  thức  đánh  giá  của  BIDV  và  kiểm  toán  quốc  tế  đồng nhất, từ đây nợ xấu của BIDV không còn có 2 chuẩn mực như các năm trước

Trang 14

Ngay  sau  khi  hệ  thống  xếp  hạng  tín  dụng  nội  bộ  ra  đời,  các  chính  sách  tín 

thống,  theo  đó,  phân  hệ  tiền  vay  trên  hệ  thống  ngân  hàng  tích  hợp  của  nhà  thầu

Silverlake  –  SIBS,  cho  phép  ngân  hàng  quản  lý  tập  trung  các  số  liệu,  dữ  liệu  về thông tin khách hàng, lãi suất, tiền vay, tiền gửi, bảo lãnh… phục vụ cho công tác 

quản lý, chỉ đạo điều hành tín dụng. 

2.3. Thực trạng tín dụng bán lẻ tại BIDV  2.3.1.  Tổng quan  hoạt  động  tín  dụng  bán  lẻ  tại  một số  ngân  hàng  thương  mại  Việt Nam 

Đến cuối năm 2008, dư nợ  tín dụng bán lẻ  toàn ngành  Ngân hàng Việt  Nam hiện ở mức 16,5% tổng dư nợ tín dụng. 

Trong đó, dư nợ tín dụng tiêu dùng, theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tính tới cuối tháng 05/2009 đạt 85 ngàn tỷ đồng, chiếm 6,44% tổng dư nợ tín dụng. Tính  theo  đầu  người,  dư  nợ  cho  vay  tiêu  dùng  mới  chỉ  ở  mức  chưa  đến  1  triệu đồng/người, quá thấp so với tiềm năng thị trường của đất nước có trên 85 triệu dân 

và có mức tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm qua. 

Hầu  hết các  ngân hàng  thương mại Việt  Nam  đều  cho vay  bán  lẻ  nhưng  thị trường này chỉ thật sự sôi động trong khoảng 2 năm trở lại đây, khi các ngân hàng thương mại Việt Nam đều nhận thức được đây một thị trường đầy tiềm năng và có 

sự cạnh tranh mạnh mẽ của các ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính nước ngoài vào lĩnh vực tín dụng tiêu dùng. Trong thời gian tới, cạnh tranh trong phân khúc thị trường sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ nói chung và tín dụng bán lẻ nói riêng 

sẽ  ngày  càng  gay  gắt,  nhất  là  giữa  các  ngân hàng  thương mại  trong nước  với  các ngân hàng của nước ngoài với công nghệ ngân hàng hiện đại và bề dày kinh nghiệm trong hoạt động tín dụng bán lẻ. 

Trong nước, các ngân hàng thương mại cổ phần quan tâm và tập trung nhiều hơn cho phân khúc thị trường bán lẻ, trong đó  Sacombank, ACB, Techcombank là những ngân hàng tiêu biểu, đi đầu trong lĩnh vực này. ACB được Tạp chí The Asian Banker  trao tặng  danh hiệu Ngân hàng  bán  lẻ  xuất  sắc nhất  Việt  Nam năm 2006. Sacombank  được  Asia  Banking  and  Finance  bình  chọn  là  Ngân  hàng  bán  lẻ  của năm 2007 tại Việt Nam

Trang 15

Năm 2008, dư nợ  cho vay  bán  lẻ  của  Sacombank  đạt 18.356  tỷ đồng,  chiếm 

dư nợ  bán  lẻ/tổng 

dư nợ 

Dư nợ  bán lẻ  Tổng 

dư nợ 

Tỷ  trọng 

dư nợ  bán  lẻ/tổng 

dư nợ 

Dư nợ  bán lẻ  Tổng 

dư nợ 

Tỷ  trọng 

dư nợ  bán  lẻ/tổng 

dư nợ  BIDV  8.573  93.185  9,2%  16.567  118.090  13,1%  16.220  149.419  10,86% 

BIDV  là  một  trong những  ngân hàng  thương  mại  Nhà nước hàng đầu,  có  vị thế mạnh và bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực cho vay đầu tư, phát triển, cho vay đối với các doanh nghiệp lớn (tín dụng bán buôn); riêng hoạt động tín dụng bán lẻ của BIDV còn rất hạn chế và bắt đầu được quan tâm phát triển từ năm 2007. Trước năm 2007, hoạt động cho vay bán lẻ chủ yếu được phát triển tự phát tại các chi nhánh thuộc hệ thống BIDV, được thực hiện trên cơ sở những quy định/quy trình  và  cơ chế  chung  về  cho  vay  của  Ngân  hàng  Nhà nước  và  của  BIDV.  Trong giai  đoạn  này,  BIDV  gần  như  chưa  có  định  hướng,  cơ  chế,  chính  sách,  cũng  như phát triển hệ thống sản phẩm tín dụng bán lẻ  một cách rõ ràng. 

Đến năm 2008, với nhận thức rằng hoạt động ngân hàng bán lẻ là cơ sở để tạo lập một nền khách hàng vững chắc và mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng và phù hợp với xu hướng phát triển chung của các ngân hàng hiện đại trên thế giới, BIDV 

Trang 16

347  tỷ,  tương  đương  giảm 2,09%  so  với  31/12/2007,  tỷ trọng dư  nợ  tín dụng bán 

lẻ/tổng  dư  nợ  giảm  tương  ứng  3%,  còn  10,9%.  Sự  giảm  sút  này cho  thấy  BIDV 

các ngân hàng thương mại cổ phần. 

2.3.2.3. Chất lượng và quản lý rủi ro tín dụng 

Về  chất  lượng  tín  dụng bán  lẻ,  trong  giai  đoạn  2006  –  2008,  nhìn  chung  nợ quá hạn/nợ xấu tăng lên cùng với xu hướng tăng lên về quy mô tín dụng bán lẻ, tại thời điểm 31/12/2008 là 3% cao hơn so với thời điểm 31/12/2007 là 2.65%, cao hơn 

tỷ  lệ  nợ  xấu  chung  của  BIDV  là  2,75%  (theo  kiểm  toán  quốc  tế).  Tuy  nhiên,  xét trong  cả  giai  đoạn 2006  –  2008,  tỷ  lệ  nợ  xấu/nợ quá  hạn  tín  dụng  bán  lẻ  ổn định mức 2,6% đến 3%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ nợ xấu chung. 

Hệ thống BIDV chưa có hệ thống chấm điểm, xếp hạng tín dụng nội bộ cho khách hàng bán lẻ (khách hàng cá nhân và hộ gia đình), nên tiêu chí nợ xấu được căn cứ định lượng vào tuổi nợ quá hạn và nợ cơ cấu lại, được phân loại theo Điều 6 Quyết định 493/2005/QĐ­NHNN; đồng thời, do chưa có quy chuẩn đánh giá thống nhất uy tín tín dụng, năng lực tài chính của khách hàng nên cũng chưa đưa ra được 

phương thức quản lý rủi ro tín dụng bài bản, chính sách khách hàng phù hợp.  2.3.2.4. Hệ thống quy trình/chính sách/công nghệ trong hoạt động tín dụng bán 

lẻ 

Trước  khi  triển khai  mô hình tổ  chức mới  vào  tháng 10/2008,  hoạt động  tín dụng tại các chi nhánh trong hệ thống BIDV chưa có sự phân định giữa bán buôn và bán  lẻ,  việc  cấp  tín  dụng  chung  đối  với  tất  cả  các  đối  tượng  khách hàng  chủ  yếu được thực hiện theo các hướng dẫn tại các quy trình  tín dụng ngắn, trung, dài hạn, quy trình bảo lãnh của BIDV và quy định tại Quy chế cho vay theo Quyết định số 1627/2001/QĐ­NHNN  của  Ngân  hàng  Nhà  nước  Việt  Nam  và  Quyết  định  số 203/QĐ­HĐQT của BIDV cùng hệ thống các văn bản sửa đổi, bổ sung. Hoạt động tín dụng nói  chung được điều hành theo các cơ chế,  chính sách chung và chưa có các quy định riêng, sản phẩm đặc thù cho từng đối tượng khách hàng

Trang 17

Hiện  nay,  trình  tự,  thủ  tục  cấp  tín  dụng bán  lẻ  của  BIDV  chủ  yếu  thực hiện 

theo  Quyết  định  số  4321/QĐ­TD3  ngày  27/08/2008  và  Quyết  định  số  4072/QĐ­ 

PTSPBL1  ngày  15/07/2009  của  Tổng  Giám  đốc  Ngân  hàng  Đầu  tư  và  Phát  triển 

Việt Nam, trong đó bao gồm một số sản phẩm: (i) Cho vay cán bộ công nhân viên; 

(ii) Thấu chi tài khoản tiền gửi; (iii) Cho vay hỗ trợ nhu cầu về nhà ở; (iv) Cho vay 

ô tô phục vụ nhu cầu tiêu dùng;  (v) Cho vay  đi du học;  (vi) Cho vay cán bộ công 

nhân  viên  mua  cổ  phiếu phát  hành  lần  đầu  trong  các  Doanh  nghiệp  Nhà  nước  cổ 

Tại  BIDV  hiện  đang  sử  dụng  hệ  thống  ngân  hàng  tích  hợp  của  nhà  thầu 

Silverlake  –  SIBS,  cho  phép  ngân  hàng  quản  lý  tập  trung  các  số  liệu,  dữ  liệu  về 

có 7 sản phẩm, ACB có 12 sản phẩm, HSBC có 6 sản phẩm, danh mục sản phẩm của  BIDV  tương  đối  đa  dạng,  bên  cạnh một  số  sản  phẩm  tương  tự như  các  ngân hàng khác, còn có một số sản phẩm đặc thù: cho vay cán bộ công nhân viên mua cổ phiếu lần đầu của Doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá, cho vay người lao động đi 

Trang 18

­  Lãi  suất  cho  vay  thấp,  thông  thường dưới  150%  lãi  suất  cơ  bản,  so  với 

ACB,  Techcombank,  và  một  số  ngân  hàng  thương  mại  cổ  phần   thực 

hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trên 150% lãi suất cơ bản

Ÿ Điểm yếu: 

­  Quy trình thủ tục: yêu cầu xác nhận đơn vị công tác, mức thu nhập tương đối chặt chẽ, nhiều trường hợp gây khó khăn cho khách hàng; 

­  Phương thức vay:  khách hàng  phải  đến  trực tiếp Chi  nhánh  làm  thủ  tục vay  vốn,  chưa  triển  khai  phương  thức  vay  vốn  trực  tuyến  (đã  được  áp 

dụng ở các ngân hàng như ACB, Techcombank…). 

(ii) Sản phẩm cho vay hỗ trợ nhu cầu nhà ở 

Ÿ Điểm mạnh: 

­  Điều kiện cho vay: không quy định mức thu nhập tối thiểu được vay vốn (HSBC là 10 triệu, VCB là 3 triệu) 

­  Mức cho vay: tỷ lệ cho vay so với giá trị tài sản bảo đảm tương đối cao (BIDV là 85%; HSBC là 60%, VCB và ACB là 70%) 

­  Lãi  suất  cho  vay  thấp,  thông  thường  dưới  150%  lãi  suất  cơ  bản,  so  với ACB,  Techcombank,  và  một  số  ngân  hàng  thương  mại  cổ  phần   thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trên 150% lãi suất cơ bản. 

Ÿ Điểm yếu: 

­  Thời gian xử lý hồ sơ chậm (BIDV tối thiểu 7 ngày, EAB 24h – 48h kể từ khi  nhận  đủ  hồ  sơ);  thời  hạn  cho  vay  ngắn  (BIDV  tối  đa  10  năm, ABBANK tối đa 20 năm). 

­  Chưa có các sản phẩm cụ thể theo từng mục đích vay (mua nhà, sửa chữa nhà, mua sắm trang thiết bị nội thất, ACB có các sản phẩm:  cho vay trả góp  mua  nhà  ở/nền  nhà,  cho  vay  trả  góp  xây  dựng/sửa  chữa  nhà  hoặc ANZ có các sản phẩm:  cho vay mua nhà để ở, cho vay mua nhà để đầu 

tư, cho vay đầu tư bất động sản); 

­  Chưa có sản phẩm riêng về cho vay mua nhà theo dự án mặc dù BIDV đã 

ký  thỏa  thuận hợp  tác  với  nhiều  chủ đầu  tư  lớn  (ACB  có  sản phẩm  cho vay  mua  căn hộ Phú  Mỹ  Hưng,  cho  vay  mua biệt thự  Riveria;  VCB  có sản phẩm cho vay mua nhà theo dự án)

Ngày đăng: 03/08/2016, 16:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Các chỉ tiêu tài chính của BIDV giai đoạn 2004 – 6/2009 - Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển VN
Bảng 2.1  Các chỉ tiêu tài chính của BIDV giai đoạn 2004 – 6/2009 (Trang 11)
Bảng 2.4: Tỷ lệ nợ xấu của BIDV giai đoạn 5 năm 2004 – 2008 - Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển VN
Bảng 2.4  Tỷ lệ nợ xấu của BIDV giai đoạn 5 năm 2004 – 2008 (Trang 13)
Bảng 2.5: Dư nợ bán lẻ và tỷ trọng dư nợ bán lẻ của một số ngân hàng thương mại - Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển VN
Bảng 2.5  Dư nợ bán lẻ và tỷ trọng dư nợ bán lẻ của một số ngân hàng thương mại (Trang 15)
Bảng 2.6: Một số chỉ tiêu về quy mô, tốc độ tăng trưởng và cơ cấu tín dụng bán lẻ - Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển VN
Bảng 2.6  Một số chỉ tiêu về quy mô, tốc độ tăng trưởng và cơ cấu tín dụng bán lẻ (Trang 16)
Bảng 2.7: Các sản phẩm tín dụng bán lẻ của một số ngân hàng thương mại. - Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển VN
Bảng 2.7  Các sản phẩm tín dụng bán lẻ của một số ngân hàng thương mại (Trang 17)
Bảng 2.8: Dư nợ và tỷ trọng của một số sản phẩm tín dụng chủ yếu so với tổng dư - Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển VN
Bảng 2.8  Dư nợ và tỷ trọng của một số sản phẩm tín dụng chủ yếu so với tổng dư (Trang 20)
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu kế hoạch về dư nợ, tốc độ tăng trưởng và nợ xấu tín dụng - Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển VN
Bảng 3.1  Một số chỉ tiêu kế hoạch về dư nợ, tốc độ tăng trưởng và nợ xấu tín dụng (Trang 28)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm