Đây là các bài viết cho Hội nghị 100 năm văn hóa Sa Huỳnh được tổ chức ở Quảng Ngãi năm 2009 của các nhà nghiên cứu khảo cổ học, lịch sử học trong nước và quốc tế. Văn hóa Sa Huỳnh là một nền văn hóa lớn thuộc sơ kỳ thời đại sắt ở miền Trung Việt Nam, tồn tại song song với văn hóa Đông Sơn ở miền Bắc
Trang 1Nghiên cứu so sánh giữa Sa Huỳnh và đồ gốm liên quan đến
Sa Huỳnh ở Đông Nam Á
Yamagata Mariko 1
Hội thảo “100 năm – phát hiện và nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh” là cơ
hội đáng để chúng ta xem xét lại đồ gốm Sa Huỳnh là gì
Sau báo cáo của Parmenter xuất bản năm 1924 và những nghiên cứucủa Colani và Janse vào những năm 1930, đồ gốm Sa Huỳnh chỉ thu hút đượcrất ít sự chú ý của các nhà khảo cổ học cho đến khi một tác phẩm đặc biệt của
Tầm nhìn châu Á xuất hiện năm 1959 Ấn phẩm được biên tập bởi W.G.
Solheim với tựa đề “ Những mối liên hệ với đồ gốm Sa Huỳn ở Đông NamÁ” Trong ấn phẩm này, điều mà tác giả nhận thấy là đồ gốm liên hệ với SaHuỳnh đã được ghi chép lại ở Đông Dương, Philippin, Malaysia, Borneo vàIndonesia Một vài năm sau, Solheim đưa ra giả thuyết về sự tồn tại của “Truyền thống đồ gốm Sa Huỳnh – Kalanay” và tương quan ý kiến này vớinguồn gốc và sự phân bố của người nói tiếng Nam đảo Do đó, đồ gốm SaHuỳnh đóng góp một vai trò quan trọng trong những nghiên cứu đồ gốm thờitiền sử, và một trong số nghiên cứu rải rác về đạo lý và ngôn ngữ ở ĐôngNam Á
Trong suốt 2 thập kỷ trước, rất nhiều cuộc khai quật được tiến hành ởmiền Trung và miền Nam Việt Nam đã cho thấy nhiều loại đồ gốm phong phútrong đám tang chủ yếu liên quan đến việc chôn cất bằng bình Khi số lượng
và sự đa dạng của những chiếc bình này tăng lên, việc xác định rõ về đồ gốm
Sa Huỳnh trở nên phức tạp Tuy nhiên, nếu không xác định phạm vi của gốm
Sa Huỳnh, thì một nghiên cứu so sánh có ý nghĩa sẽ là điều không thể thựchiện được
Cuộc khai quật Hỏa Diệm, tỉnh Khánh Hòa năm 2007 khiến chúng tađương đầu với những vấn đề về mối liên hệ giữa văn hóa Sa Huỳnh và đồgốm vùng Kalanay Ở Hỏa Diệm, nơi gần với tầm ảnh hưởng của vùng văn
1 PGS thisng giảng, Khoa Khảo cổ học, trường Đại học Waseda
Trang 2hóa Sa Huỳnh, những chiếc bình chôn và nắp, cùng với những lọ gốm là rấtkhác so với những đồ thuộc văn hóa Sa Huỳnh Mặt khác chúng cho thấy sựtương đồng đáng chú ý với Khu liên hợp gốm Kalanay ở Philippin.
Bài tham luận này sẽ không nhằm mục đích xác định đồ gốm Sa Huỳnhngay tức khắc nhưng sẽ trình bày những quan điểm so sánh để phân biệt với
đồ gốm có liên hệ với Sa Huỳnh
Trang 3Nguồn gốc và sự di cư của những dân tộc nói tiếng Nam đảo cổ xưa
Peter Bellwood 1
Sự hình thành họ ngôn ngữ Nam đảo diễn ra giữa những cư dân nông nghiệp ở Đài Loan khoảng 5000 năm trước đây Sự di cư của những người nóitiếng hệ Nam đảo, cùng ngôn ngữ và văn hóa tinh vật chất của họ mặc dù có nhiều sự pha trộn cư dân đã dẫn đến sự định cư ở trên đảo Đông Nam Á và các đảo Thái Bình Dương dưới 5000 năm trước đây Sự chuyển đến Việt Nam của người Nam đảo (Chamic) thường gắn liền với sự phát triển của thời đại đồ sắt (Sa Huỳnh sau 2500 năm), tuy nhiên cũng có bằng chứng chứng tỏ
sự hiện diện của người Nam đảo từ sớm hơn, có thể là trong thời kỳ đồ đá mới Những cuộc khai quật mới ở khu vực Mạn Bắc (Ninh Bình) và An Sơn (Long An) ở Việt Nam có khả năng liên quan đế tranh cãi này
1 PGS Trường Khảo cổ học và Nhân học Đại học Quốc gia Úc.
Trang 4Đồ gốm Sa Huỳnh – Kalanay ở Philippin
Eusebio Z Dizon 1
Tình trạng của đồ gốm Sa Huỳnh – Kalanay ở Philippin sắp tới sẽ đượcđánh giá qua những bằng chứng khảo cổ học mới, tình trạng này thuộc cuốithời kim loại và có những khả năng ở thời đại đồ sắt Đây là thời kỳ huyhoàng nhất của truyền thống đồ gốm trang trí Sự phân bố những bình gốmđược trang trí đẹp như vậy trải rộng đặc biệt ở miền Nam và miền Trung
Philippin Mới đây, một luận văn thạc sĩ về cơ sở để xác định những đồ gốm
trang trí này từ bộ sưu tập Maitum được khai quật khảo cổ ở Pinol, Maitum, tỉnh Sarangani, Mindanao đã được bảo vệ thành công bởi bà Eliza R Valtos.
Những chiếc bình trang trí đẹp này lúc đầu được sử dụng làm vại hoặc cácbình đựng hài cốt và chúng có niên đại từ năm thứ 5 trước Công nguyên đếnnăm 370 sau Công nguyên Trong luận văn này, lần đầu tiên những yếu tốthiết kế đồ gốm Sa Huỳnh Kalanay được nghiên cứu theo phương pháp thống
kê và một khuôn mẫu đã được đưa ra cho việc so sánh chuẩn mực về loại hìnhsưu tập đồ gốm Sa Huỳnh Kalanay Ngoài ra, còn có nhiều di tích khảo cổmới được phát hiện gần đây ở Sorsogon ngụ ý sự hiện diện của những dạng đồgốm Kalanay
1 TS Nhà khoa học cấp III/ Nhà phụ trách bảo tàng I, phòng Khảo cổ học
Bảo tàng Quốc gia Philippin.
Trang 5Những giai đoạn phát triển của văn hóa Sa Huỳnh tại thung lũng Thu
Bồn – một vài câu hỏi và nhận định về bối cảnh xã hội
Bishbupriya Basak 1
Cuộc điều tra này là một phần của dự án lớn hơn nhằm tìm hiểu hiệntượng “Ấn Độ hóa” với sự tham khảo đặc biệt về miền Trung Việt Nam (1-10)nơi mà vị trí vị trí của văn hóa Champa chiếm một phần quan trọng trong thời
kỳ này Bất kỳ quá trình trao đổi, hòa nhập hoặc tiếp biến văn hóa nào cũngcần phải đặt trong bối cảnh rộng hơn và do đó cần thiết phải nghiên cứunhững truyền thống văn hóa bản địa chỉ tồn tại trong những ghi chép khảo cổhọc trước khi những đặc điểm mang tính “Ấn Độ hóa” chính thức xuất hiện.Những truyền thống này thể hiện rõ nhất trong những giai đoạn phát triển củavăn hóa Sa Huỳnh cũng như được miêu tả qua các di tích tại thung lũng ThuBồn Tham luận này sẽ đề cập đến những câu hỏi và nhận định nhất định bằng
sự soi sáng của những nghiên cứu gần đây Đã có những tranh luận cho rằngcác ghi chép khảo cổ đặc trưng cho những giai đoạn này đã miêu tả một xã hội
có thủ lĩnh Với nhiều nơi cư trú còn bị lãng quên trong các cuộc điều tra,quan điểm này chủ yếu dựa vào sự phân biệt các hình thức chôn cất và sự bấtbình đẳng được thấy qua các lễ vật ở phần mộ Đã có 3 cụm di tích được đánhdấu trong vùng mỗi cụm với một di tích trung tâm ngay càng trở nên quantrọng, và vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên mỗi cụm củanhững trung tâm này được coi là những điểm mút mới nổi về quản lý kinh tế
và chính trị, mang đặc điểm của thành thị sơ khai (Mỹ Dung 2006) Trong khinhững câu hỏi liên quan đến tính phương pháp luận khảo cổ học được nêu ra,mục đích chủ yếu của tham luận sẽ là (i) xác đinh một xã hội có thủ lĩnh là thếnào, và được tái sử dụng tốt nhất như thế nào từ những ghi chép khảo cổ và(ii) người ta có thể hiểu như thế nào về sự chuyển biến sang giai đoạn thànhthị sơ khai dựa trên cơ sở những tai liệu khảo cổ sẵn có Tham luận sẽ kết thúc
1 Khoa Khảo cổ học, trường Đại học Kolkât, Ấn Độ
Trang 6với một vài nhận định chắc chắn về sự quá độ giữa hậu kỳ Sa Huỳnh và tiềnChampa vì vấn đề này đang nổi lên rõ nét thông qua sự nghiên cứu gần đây.
Trang 7Sa Huỳnh – Một kiểu xã hội
Ian Glover
Trong bài nói của tôi thiên về những chi tiết khảo cổ học Sa Huỳnh vàxem xét về một kiểu xã hội được miêu ta qua những gì còn sót lại mà chúng tagọi là nền văn hóa Sa Huỳnh Để làm được điều này, tôi sẽ nhờ đến các lĩnhvực dân tộc học, lịch sử và xã hội học, điều mà được hiểu trong nghiên cứu
văn hóa Indoesia là tầng lớp thượng lưu pasisir Thuật ngữ này theo nghĩa đen
là bãi biển hoặc bờ biển phía Bắc duyên hải Java, được giới thiệu trong bàigiảng xã hội học bởi nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Pigeaud vào những năm
1930 và được hiệu chỉnh công phu trong bài viết của Hildred Geertz (1963) vàClifford Geertz (1963), những người đã chỉ ra ba loại hình văn hóa xã hội
riêng biệt ở Indonesia – 1 )Những thương nhân duyên hải pasisir hành nghề
đánh cá và không chuyên thâm canh; 2) Những người nông dân chuyên trồnglúa nước ở miền trung Java, miền nam Bali và một số miền của khu vựcSumatra ủng hộ các vương quốc có phân chia quyền lực mạnh mẽ, và 3)Những người ngoại đạo, những bộ lạc sâu trong rừng trước đây luôn sống tựcung tự cấp là chính, trừ những người cung cấp những mặt hàng lâm sản như
gỗ thơm, cây mây, các bộ phận thú rừng, chim lông, thảo mộc và gia vị do
buôn bán với các thương gia pasisir.
Indonesia thời tiền hiện đại, những đẳng cấp tầng lớp pasisir; người
Acechenese, người Mã Lai ở Sumatra và Borneo, người Bugis vàMakassarese ở Sulawesi nằm trong số những người phần lớn đã thay đổi tôngiáo sang đạo Hồi giữa thế kỷ 13 và 16, có chung định hướng buôn bán vànhiều kho hàng giao dịch lớn được thành lập như ở Palebang/Srivijiaya,Makasar phía nam Sulawesi, Brunei ở Borneo và Demak ở Java đã liên kếtcác vương quốc nội địa, các xã hội bộ lạc với thế giới bên ngoài Các tầng lớp
thượng lưu pasisir khác nhau về mặt dân tộc và ngôn ngữ, rất nhiều trong số
họ đã định cư và lập gia đình ở những nơi cách xa quê nhà, chẳng hạn nhưnhững cộng đồng buôn bán Bugis ở Singapore, Molukku và Irian Jaya, lập
Trang 8nên những lãnh thổ nhỏ và thường bắt làm nô lệ những người sống trong các
bộ lạc nợ nần từ vùng nội địa để đảm bảo nguồn cung cấp thường xuyên các
mặt hàng lâm sản có gí trị Những tầng lớp pasisir trông bề ngoài năng động,
nhanh nhẹn thường có ảnh hưởng mạnh tới những vương quốc nội địa ổnđịnh
Mặc dù những miêu tả và đặc điểm của tầng lớp thượng lưu pasisir như
một dạng xã hội riêng biệt xuất phát từ lịch sử và xã hội học gần đây củaIndonesia, tôi tin rằng những cộng đồng như vậy đã có nguồn gốc rất lâu đời
và có thể nhận ra họ ở những khu vực khác nhau thuộc Đông Nam Á và từnhững ghi chép khảo cổ Văn hóa Sa Huỳnh với sự phân bố ven biển chủ yếutrên phạm vi rộng cùng phạm vi giao thiệp với bên ngoài đã hình thành nênnhững dạng văn hóa xã hội như vậy và sau này qua những giao lưu thươngmại lớn với Trung Quốc về phí Bắc và Ấn Độ về phía Tây đã được hình vịhóa thành một vài xã hội Champa cổ và sau chuyển sang đạo Hồi
Tham luận sẽ khảo sát tỉ mỉ những vấn đề này và mang đến những dữliệu khảo cổ mang tính so sánh từ những khu vực tương đương của Indonesiangày nay
Trang 9Lai Nghi qua xem xét thủy tinh: Phân tích về những hạt thủy tinh từ thời
kỳ đồ sắt ở miền Trung Việt Nam
Karsten Brabader 1
Năm 2003 và 2004, những cuộc khai quật lớn đã tiến hành bởi mộtnhóm khảo cổ học Việt Nam – Đức Nhiều phát hiện trong số 63 mộ đã tiết lộmột bộ sưu tập lớn đồ gốm, đồng thiếc và những kim loại khác cuối thời SaHuỳnh Thật đáng ngạc nhiên là có khoảng 10000 hạt được thu thập, trong sốnày có khoảng 8500 hạt thủy tinh Những hạt này chủ yếu là những hạt đơnsắc màu đỏ, xanh lá cây, xanh dương hoặc vàng thường được gọi “kiểu Ấn Độ
- Thái Bình Dương” Một vài hạt là đa sắc (nhiều màu, đen/trắng)
Trong luận văn thạc sĩ của tôi, tôi may mắn nhận được một vài hạt thủytinh từ Lai Nghi Việc phân tích được tiến hành bởi SEM/EDS của phòng thínghiệm ở Bảo tàng mỏ của Đức Để chuẩn bị cho luận án tiến sĩ này, tôi đangthu thập những hạt có hàm lượng chì cao dường như thường xuất hiện ở toàn
bộ khu vực Đông Nam Á từ thời đồ sắt này Điều này đưa ra giả thiết rằngmột kỹ thuật làm thủy tinh độc đáo đã từng được áp dụng để tạo ra những hạtthủy tinh màu vàng và xanh lá cây Thủy tinh với lượng chì cao được biết đến
từ đời Hán ở Trung Quốc, nhưng chủ yếu trong sự tương quan với Bari, điềukhông thể được khám phá ra ở đây Nó cũng không phổ biến trong kỹ thuậtlàm thủy tinh ở Ấn Độ Do đó có thể cho là những hạt thủy tinh này được làm
từ Đông Nam Á
1 ThS Viện Khảo cổ học Đức
Trang 10Tìm hiểu quá trình Ấn Độ hóa từ mạng lưới kinh tế của các di tích
văn hóa Sa Huỳnh
Quan sát cho thấy quá trình tiếp biến văn hóa ở Đông Nam Á, vớinhững thuật ngữ khác nhau như Ấn Độ hóa, địa phương hóa và sự hội tụ rõràng được kết nối với những mạng lưới trải dài qua vị Bengal và thậm chí xahơn nữa Glover (1994,1996) và những người khác (Bellina 2003; Glover vàBellina 2001) đã tranh luận về sự buôn bán thường xuyên giữa Ấn Độ vàĐông Nam Á ít nhất là từ giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên ởbên kia vinh Bengal Thương mại và giao lưu đóng vai trò trung gian của sựthay đổ ở Đông Nam Á mang lại những biến đổ trên quy mô rộng trong những
xã hội đang tồn tại
Trong bài này, tôi muốn biện luận rằng trong khi điều này đúng cho lịch
sử cổ xưa của một vài quốc gia ở Đông Nam Á, nó có thể không đúng chotoàn bộ các vùng Quá trình thích nghi hoặc tiếp nhận có lẽ và có thể khônggiống nhau qua không gian địa lý Trong khi đối với Thái Lan, buôn bán với
Ấn Độ dường như là tác nhân chính của nền văn hóa chung, thì điều tương tựkhông thể áp dụng được cho hậu Sa Huỳnh hoặc tiền Champa Sự thật là trongthời kỳ từ thế kỷ thứ 2 BCE đến thế kỷ thứ 4, 5 CE, những bằng chứng khảo
cổ về sự giao thương giữa Ấn Độ và miền Trung Việt Nam Tuy nhiên khôngthể cho rằng không có bất cứ một tương tác nào giữa hai vùng, chỉ là chưahình thành tính tương tác thường xuyên Những vật được tìm thấy trongnhững cuộc khai quật ở các khu di tích văn hóa Sa Huỳnh lại cho thấy nhữngkhuôn mẫu giao lưu trong vùng và liên vùng Những vật chứng về mạng lướivùng là đồ gốm, đồ trang trí làm từ Nefrit, thủy tinh và những hạt đá quý Hệthống ven sông Thu Bồn hình thành huyết mạch giao thông chính Thông quamạng lưới giao thông này, đồ chế tác được vận chuyển đến những nơi xa
1 Trưởng khoa Văn hóa và Lịch sử Ấn Độ Cổ đại trường Đại học Calcutta
Trang 11Nghiên cứu những mạng lưới giao thông sẽ giúp hiểu được vấn đề về sự Ấn
Độ hóa trong trường hợp của những di tích văn hóa Sa Huỳnh muộn
Trang 12Sụ giao lưu văn hóa biển phía Nam Trung Quốc cuối thời tiền sử:
Bán đảo Thái Lan và các cộng đồng người Sa Huỳnh
Bérénice Bellina 1
Mục đich của dự án khảo cổ học giữa Thái Lan – Pháp là để làm sáng
tỏ vai trò của dân cư bán đảo trong việc tiếp thu và phân phối lại những nétđặc trưng văn hóa từ Ấn Độ Dương vào vùng phía Nam biển Trung Quốc cuốithời tiền sử Kể từ năm 2005, dự án khảo cổ học Thái Lan – Pháp đã tiến hànhđiều tra và khai quật ở khu vực Khao Sam Kaeo Những cuộc khai quật này đãphát hiện một sự định cư thành thị rất sớm và khu công nghiệp có cả sự giaolưu xuyên châu Á từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên Nghiêncứu trước đây về những bằng chứng giao lưu sớm cho phép tôi đưa ra giảthuyết rằng một số cộng đồng ven biển trải dài từ Thái Lan đến Việt Nam vàPhilippin là một phần của văn hóa phía Nam biển Trung Quốc cuối thời tiền
sử được hệ thống hóa bởi một tập hợp những tư liệu có uy tín (Bellina 2001,
2003, 2007, Bellina & Silapath 2006) Nhiều ví dụ lịch sử cho thấy có nhiềuđịnh hướng văn hóa giữa các cộng đồng ven biển, đặc biệt là trong lĩnh vựctính ngưỡng và tôn giáo; cũng như trong các hội buôn bán của các phường hội(McPherson 2007: 40) Fernand Braudel và phong trào nghiên cứu “lịch sử thếgiới” đã chứng minh biển có vai trò kết nối, tách rời, và tham gia vào sự hìnhthành lịch sử toàn cầu, điều này vượt qua phạm vi của “lãnh thổ” và “quốcgia” Có sự tranh luận cho rằng những khu vực tương tác ven biển, kết quả là
sự giao lưu, di cư hoặc xâm chiếm, có thể dẫn tới những hình thể văn hóa xãhội vùng duyên hải riêng biệt (Pearson) 2007: 29-30) Cách nhìn theo kiểu củaBraude có thể áp dụng cho những cộng đồng vùng Nam biển Trung Quốc thờitiền sử, bao gồm cả nhóm xã hội Sa Huỳnh, những người có thể đã định cư ởkhu vực Khao Sam Kaeo Sự định cư mang tính chất toàn cầu rất sớm này vàtrung tâm công nghiệp có thể đã từng là ngôn nhà cho những cộng đồng quốc
tế khác nhau từ Tây sang Đông, ở đó việc thực hiện các kỹ thuật thủ công
1 TS Trung tâm nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp
Trang 13ngoại sinh của các cộng đồng ven biển trải dài hơn 5000 km có thể đã thamgia vào việc cụ thể hóa (vật chất hóa) bản sắc văn hóa Tham gia sẽ đưa ranhững bằng chứng về thuật làm đồ gốm, luyện kim và chế tác đồ đá.
Trang 14Định dạng bản đồ di tích thời tiền sử kim loại: Nghiên cứu trong trường
hợp về Dự án nghiên cứu Con đường Hoàng gia
Heng Than và Im Sokrithy 1
Từ khóa Campuchia, những di tích thời tiền sử kim loại, định dạng bản đồ, con đường Hoàng gia
Di tích thời tiền sử đầu tiên được biết đến bởi những người châu Âu từnăm 1876 là Samrong Sen Sau chiến tranh thế giới thứ 2, một vài di tích nữa
được tìm thấy như La-ang Spean, Mlou Prei, Kbal Romeas, Trappeang Phon,
Memot, Krek Và gần đây, rất nhiều các di tích đã được phát hiện ở các tỉnh
Siem Reap, Battamang, Prei Veng, Banteay Meanchey và Udo Meanchey
Nghiên cứu về thời tiền sử thực sự còn quá non trẻ đối với Campuchia.Mặc dù rất nhiều di tích đã được tìm thấy, nhưng chỉ có vài nghiên cứu chovấn đề này Phần lớn những di tích đã biết đã và đang bị cướp phá nặng nề,
như Phun Shay và nhiều di tích ở các tỉnh Banteay Meanchey, Bet Meas và
Prahear ở tỉnh Udo Meanchey.
Kể từ 4 năm trước, dự án nghiên cứu hợp tác Khmer – Thái Lan với têngọi Dự án Con đường Livning Angkor (LARP) đã tiến hành cuộc khảo sát ởcác tỉnh Tây Bắc Campuchia Trong số những vật được tìm thấy, những ditích tiền sử được xác định dọc theo con đường cổ xưa này Chúng bộc lộ tầmquan trọng về con đường lịch sử cổ đại và dĩ nhiên là sự tiếp tục cư trú củacon người
Nghiên cứu sử dụng những tài liệu sẵn có của khả năng phán đoán từ xa
và công nghệ GIS bao gồm các bản đồ cổ ( những năm 1960; 1970), bản đồhiện nay (từ những năm 1980 đến 2003), những bức ảnh trên không cũ, mới
và những hình ảnh vệ tinh gồm Lansat TM, Lansat ETM & SAR Những dữliệu này được sử dụng cùng với những thông tin khảo cổ được thu thập quanhững nghiên cứu từ trước đến nay
1 Nghiên cứu viên, chuyên viên APSARA, Campuchia
Trang 15Tham luận sẽ chứng minh qua 2 phần Đầu tiên chúng ta sẽ nói về địnhdạng bản đồ những di tích thời tiền sử kim loại nằm dọc theo những conđường cổ xưa và một số khu vực ở phía Tây Bắc Phần hai sẽ miêu tả những
di tích và đồ chế tác thủ công và niên đại của chúng
Trang 16Sự truyền bá truyền thống làm gốm vùng ven biển ở Nhật Bản thời tiền sử: Một phương tiện tham khảo cho nghiên cứu về nguồn gốc của văn
hóa Sa Huỳnh
Keiji Imamura 1
W G Solheim đệ nhị đã đưa ra khái niệm về một khái niệm về mộttruyền thống làm gốm Sa Huỳn – Kalanay để tìm hiểu những yếu tố chungcho những khu liên hợp gốm đa dạng thời tiền sử ở Đông Nam Á Đồ gốmđược phát hiện ở Hoa Diêm, Việt Nam có kiểu dáng tương tự như cái đượctìm thấy ở Kalanay, Philippin và đồ gốm được tìm thấy ở Ko Din Co, bán đảoThái Lan đã nêu ra những câu hỏi mới liên quan đến nguồn gốc và sự truyền
bá phong cách làm gốm này Tôi muốn giới thiệu ở đây một vài nghiên cứu về
sự truyền bá nghề gốm vùng ven biển Nhật Bản nhằm đưa ra sự tham khảocho những hiện tượng tương tự ở Đông Nam Á
Thật đáng ngạc nhiên là hàng năm có 9000 cuộc khai quật khảo cổ họcđược tiến hành ở Nhật Bản, dẫn đến sự xuất bản 200 cuốn sách báo cáo mỗinăm Lượng thông tin khổng lồ này giúp người đọc tìm thấy chi tiết về sựtruyền bá truyền thông làm gốm thời tiền sử Khu vực ven biển Nhật Bản từ
3500 năm trước Công nguyên là đối tượng cho nghiên cứu trường hợp của tôi
Ở giai đoạn đầu, một truyền thống làm gốm được hình thành ơ vùngHokuriku đã được lan truyền 400km về phương Bắc vùng Akita, vượt quatruyền thống trung gian Daigi Ở Daigi, đồ gốm truyền thống vùng Akita chỉđược tìm thấy ở vùng ven biển hoặc các đảo xa bờ, điều này ngụ ý rằng nhữngngười nhập cư là những cư dân đi lại bằng thuyền
Ở giai đoạn thứ hai, sự tiếp xúc diễn ra giữa những người nhập cư vàtruyền thống làm gốm vùng Ento Lower, tiếp xúc này được phân bố tới miềnBắc vùng Akita Phong cách làm gốm đã nhanh chóng truyền bá trong vùngHokuriku này không chắc chắn mà đơn thuần giống phong cách Ento Lower,mặc dù sự thật là phong cách làm gốm đích thực của truyền thống Hokuriku
1 Khoa Khảo cổ học, trường Đại học Tokyo
Trang 17đã vươn tới vùng Akita Do đó, ta suy nghĩ rằng những người Hokuriku khi đithuyền đến vùng Akita đã mang theo những kiến thức thu lượm được củaphong cách Ento Lower diễn ra chỉ một lần, sự truyền bá phong cáchHokuriku tiếp tục diễn ra trong một vài chặng đường thời gian làm gốm, do đógiúp cho nghề gốm ở Akita phản ánh những thay đổi phong cách đang diễn ra
ở Hokuriku theo thời gian thật Điều này ngụ ý rằng những thủy thủ Hokurikutiếp tục có những chuyên đi biển tới Akita sau lần đặt chân của họ ở đây
Dân dần, những sắc thai địa phương xuất hiện trong phong cách làmgốm Hokuriku được truyền bá rộng rãi Hiện tượng này chỉ ra rằng khi sự dichuyển của người Hokuriku giảm đi, những nét đặc trưng trong phong cáchcủa từng vùng lại tăng lên
Để hiểu nguồn gốc của văn hóa Sa Huỳnh, cần phải làm sáng tỏ nơi vàcách thức truyền thống được hình thành trước khi nó lan truyền rộng rãi Mộtkhi mạng lưới duyên hải được tạo ra, không chỉ phong cách làm gốm ở giaiđoạn truyền bá đầu tiên mà cả những yếu tố và hạng mục của những văn hóakhác cũng có thể được truyền bá thông qua mạng lưới này
Trang 18Trống đồng trong vùng văn hóa Sa Huỳnh và bối cảnh văn hóa của nó
Những trống đồng Heger loại 1 được phát hiện nhiều nhất ở khu vựcĐông Nam Á Những nghiên cứu mới đây của tôi về trống đồng (Nishimura2008a,b) cho thấy phần lớn các trông đồng Heger loại 1 là giống với nhữngcái tìm thấy ở miền Bắc Việt Nam đặc biệt là ở Thanh Hóa, khu vực trung tâmcủa văn hóa Đông Sơn và một số lượng nhỏ còn lại là trống đồng được làm tạiđịa phương Một thực tế quan trọng khác là gần như không có một đồ tạo tácbằng đồng nào của nền văn hóa Đông Sơn tại đất liền và đảo Đông Nam trừ ở
miền Trung Việt Nam được tường thuật Và cũng thật thú vị là giai đoạn đúctrống đồng Heger loại 1 (từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên đến thế kỷ thứ 2sau Công nguyên là tương đối trùng với giai đoạn của văn hóa Sa Huỳnh đãchuyển các trống đồng từ miền Bắc Việt Nam tới các vùng khác Tuy nhiên,bản thân nền văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung và miền Nam Việt Nam cũng
đã tiếp nhận việc sử dụng trống và trong giai đoạn sau này, chúng đã sử dụngtrống đồng như một chiếc bình và nắp của nó thay cho bình gốm Sự mất dần
sự sử dụng trống đồng trong khu vực này cũng cần được bàn luận Nhiều bộsưu tập trống ở khu vực duyên hải Thái Lan và bán đảo Malay có thể có niênđại thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên hoặc muộn hơn một chút Những giaiđoạn kết thúc việc sử dụng trống đồng có thể cho thấy sự cách tân văn hóa ởphạm vi rộng mà không cần trống đồng nữa Tôi cho rằng giai đoạn kết thúcnày là giai đoạn bắt đầu của quá trình Ấn Độ hóa thực sự
1 TS Trường Đại học Kansai Nhật Bản
Trang 19Việc chuẩn bị nguyên liệu sợi thô thời lỳ lịch sử nguyên thủy ở miền Trung Việt Nam: Sự liên tục về mặt công nghệ tại các di tích Sa Huỳnh
Judith Cameron 1
Những khai quật khảo cổ gần đây tại các di tích thuộc văn hóa Sa Huỳnh ởmiền Trung Việt Nam đã giúp nâng cao đáng kể tri thức của chúng ta về nềnvăn hóa Sa Huỳnh Số lượng dồi dào các đồ tạo tác đẹp lạ kỳ trong các bình lọđịa táng tại các địa điểm này chứng thực rõ ràng cho sự giàu có của các nhómngười thời kỳ lịch sử nguyên thủy, tuy nhiên những con lăn cọc sợi con suốtlại xuất hiện với số lượng không đáng kể tại các di tích Sa Huỳnh, vì vậy, vaitrò của ngành dệt trong việc giao thương sớm bằng đường biển là không rõràng Tham luận này tập chung chủ yếu vào các di tích Sa Huỳnh ở miềnTrung Việt Nam và khám phá các vấn đề liên quan đến nguồn gốc, sự liên tục
về mặt công nghệ, nhấn mạnh tới vải sợ thôi ở thời đại đồ sắt
1 TS Đại học Quốc gia Úc
Trang 20Đồ kim hoàn ngọc bích trong phạm vi tương tác giữa hai nền
văn hóa Sa Huỳnh – Kalanay
Hsiao-Chun Hung
Phạm vi tương tác giữa Sa Huỳnh – Kalanay ở khu vực phía Nam biểnTrung Quốc là một trong những chìa khóa cho sự hiểu biết của chúng ta vềbản chất của nền văn hóa thời tiền sử ở Đông Nam Á Tham luận này sẽnghiên cứu sự phân bố, niên đại học, các mối quan hệ văn hóa và nguồnnguyên liệu vật chất của những đồ trang trí bằng ngọc bích được tìm thấy ởcác khu di tích văn hóa Sa Huỳnh, năm 500 trước Công nguyên đến năm 100sau Công nguyên (Bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Kim Dung sẽ tập trung vàoloại hình học của ngọc bích và kim hoàn khác từ các khu di tích Sa Huỳnh):
Từ những năm 1950, Wilhelm Solheim đệ nhị đã đề xuất khái niệm vềmột mạng lưới hàng hải ở Nam Trung Quốc và Đông Nam Á chủ yếu dựa vào
sự phân bố rộng rãi hai dạng kết hợp của hoa tai hoặc mặt dây truyền bằngngọc bích và dựa vào sự phân bố truyền thống làm gốm Sa Huỳnh – Kalanay(Solheim 2006:3) Trong 40 năm qua, nhiều tác giả đã nhận thấy rằng những
bộ sưu tập văn hóa tương đồng tại các di tích Sa Huỳnh ở Việt Nam, ởPhilippin, Borneo, Thái Lan và phía Nam Đài Loan có nhiều nét chung (ví dụFox 1970; Loofs – Wissowa 1982; Bellwood 1997; Glover 1996)
Mạng lưới phía Nam biển Trung Quốc gắn liền với sự dịch chuyển củacác đồ chế tác làm từ chất khoáng nefrit vùng Fengtian (Đài Loan) đã đượcxác định trong các nghiên cứu trước đây của chúng tôi Ở Việt Nam, khoángchất nefrit này chỉ được tìm thấy ở các di tích Sa Huỳnh Tôi dự định bàn vềvai trò của đồ kim hoàn ngọc bích trong phạm vi tương tác giữa hai nền vănhóa Sa Huỳnh – Kalanay và vai trò của những người Sa Huỳnh cổ đại trongmạng lưới giao lưu thời tiền sử chủ yếu dựa vào biển trải dài 3000km từ bánđảo Thái Lan, qua miền Nam Việt Nam, sang vùng phía Nam biển TrungQuốc đến tận Philippin và Đài Loan
Trang 21Hiểu về thủy tinh Sa Huỳnh: Đóng góp của phương pháp
phân tích hóa học định lượng
Việc nghiên cứu thủy tinh cổ ở Đông Nam Á có thể là một trong nhữngcách thuận tiện nhất đểu hiểu về tổ chức văn hóa và chính trị đang phát triển
cả trong khu vực lẫn vấn đề tương tác ngoài khu vực đó Số lượng lớn những
đồ chế tác bằng thủy tinh ở những di tích Sa Huỳnh như Giong Ca Vo và LaiNghị là bằng chứng về tầm quan trọng của những đồ trang sức bằng thủy tinhđối với người dân Sa Huỳnh, và tạo cho những nhà khảo cổ học ngày nay cơhội để hiểu nhiều hơn không chỉ về năng lực sản xuất của địa phương mà còn
về những mối quan hệ giao lưu ở xa, đó là chìa khóa cho sự phát triển củaĐông Nam Á xa xưa Trong khi việc phân loại hình học những đồ thủy tinhtrong các hạt, vòng tay, hoa tai có thể có ích trong việc chỉ ta những sự liênkết văn hóa khả thi thì sự mô tả hóa học định lượng của những đồ vật này lạirất cần thiết để hiểu một cách đầy đủ hơn Cho đến nay chúng tôi có thể đưa rahơn 100 bài phân tích hóa học định lượng về thủy tinh cổ được tìm thấy ởViệt Nam, 40 trong số đó là từ những di tích liên quan đến Sa Huỳnh ở miềnNam và Trung Việt Nam Trong số đó chỉ có 17 bản phân tích bao gồm nhữngphép đo về các nguyên tố vi lượng cần thiết để làm sáng tỏ một cách đầy đủ.Trong bài trình bày này, chúng tôi sẽ đưa ra những vấn đề về phương phápluận để nghiên cứu về thủy tinh một cách dễ dàng nhất, và xem xét lại bằngchứng sẵn có để đặt thủy tinh được tìm thấy ở Sa Huỳnh vào trong bối cảnhrộng hơn của thủy tinh cổ ở Đông Nam Á và xa hơn nữa Trong khi những sựliên quan chặt chẽ với các khu vực như Khao Sam Kaeo ở bán đảo Thái Lan là
rõ ràng, những phân tích sâu hơn là cần thiết nếu chúng ta mong muốn hiểuđược sự phức tạp của việc sản xuất, trao đổi và tiêu dùng thủy tinh ở ViệtNam
1 TS Viện Khảo cổ học, Đại học London Anh Quốc.
Trang 22Madeleine Colani Khu vực của những chiếc bình (ở Lào) và Sa Huỳnh
Lia Genovese 1
Sau tiểu sử ngắn gọn về Madeleine Colani, tham luận của tôi sẽ tập trung vàonhững chiếc bình bằng đá ở cao nguyên Tran Ninh và rất nhiều lý thuyết khácnhau cho những vật tròn dẹp hình đĩa bằng đá rải rác trên mặt đất cùng vớinhững chiếc bình đựng di cốt Rất ít hình ảnh về con người được tìm thấy tạicác khu vực này Nhưng tượng nhỏ hơn, bằng bất kỳ chất liệu nào cũng đềucực kỳ hiếm hoi nhưng Colani đã xác định được một chiếc tượng nhỏ bằngđồng cao đúng 8,8cm tại Thao Kham Công trình của bà tại Đông Bắc Lào đã
được làm tư liệu trong một chuyên khảo dài 3 tậm có tên là Mégalithes du
Haut – Láo (Hua Pan, Tran Ninh), được xuất bản bởi Escole Frangcaise
d’Extrême – Orient (EFEO) năm 1935 Chuyên khảo này đã có sẵn bằng tiếngPháp và hiện nay tôi đang dịch sang tiếng Anh Lý thuyết của Colani được mởrộng và triển khai nghiên cứu vào những năm 1920 chủ yếu bởi HenriParmentier, một học giả EFEO khác, có một lý thuyết đặt thượng Lào tại ngã
tư giữa các đồi Cachar ở Đông Bắc Ấn Độ (Assam) và miền Trung Việt Nam(Sa Huỳnh) Để kiểm chứng lý thuyết của mình, Colani cùng những ngườikhác đã phân tích những đồ tạo tác bằng đồng, gốm có hình mộ chum, nhữnghạt và đồ trang sức khác
1 7 Moscow Mansions 224 Cromwell Road London SW5 0SP – UK
Trang 23DI CỐT NGƯỜI THUỘC VĂN HÓA SA HUỲNH Ở VIỆT NAM
Tính đến nay, hơn 90 năm nghiên cứu và phát hiện văn hóa Sa Huỳnh,với khoảng 60 địa điểm (theo chúng tôi cũng có những địa điểm không phải là
Sa Huỳnh chính thống, nhưng chịu sự lan tỏa nhất định, ví dụ như Hòa Diêm),chúng ta mới chỉ tìm thấy có 10 địa điểm còn giữ được di cốt người cổ Trong
số đó, đặc biệt là các di cốt ở Xóm Ốc (Quảng Ngãi), Hòa Diêm (Khánh Hòa),Bình Yên (Quảng Nam) Chúng tôi đã nghiên cứu được tổng cộng 47 di cốtngười cổ (đã công bố kể cả những di cốt đang nghiên cứu), trong số đó có 19trẻ em (mà độ tuổi chiếm ưu thế là 4-6 tuổi), 11 nam (độ tuổi chiếm ưu thế là40-60 tuổi), 10 nữ (độ tuổi chiếm ưu thế là 20-30 tuổi) và 7 các thể là ngườitrưởng thành không phân biệt được nam hay nữ vì tư liệu không đầy đủ
Phương thức chôn cất của cư dân Sa Huỳnh là trong các chum (MỹTường, Bình Yên, Gò Quê, Gò Dừa, Gò Mả Vôi, Hòa Diêm) hay nồi, vò(Bình Hưng, Suối Chình, Bầu Hòe và mộ 97XOHIL6M5 của Xóm Ốc) Riêng
có một song táng ở Xóm Ốc (97XOHIM7a và 7b là chôn trực tiếp ngay trongcát Thông thường, các chum hay nồi, vò chỉ mai táng một cá thể Riêng ởHòa Diêm còn có một mộ chung chôn 1 người lớn và 1 trẻ em (07HDM6 và
mộ 7), 1 người lớn và 2 trẻ em (07HDM8), thậm chí có tới 4 di cốt của trẻ em
và 1 người lớn được trôn cất cùng 1 mộ chum (07HDM11) Có nhiều khảnăng, những người lớn, trước khi mai táng đều bị trói lại theo tư thế ngồi bógối rồi mới được đặt vào chum
Cư dân hòa Diêm cũng có tục nhổ răng cửa bên hàm trên như những cưdân của văn hóa Phùng Nguyên Nhưng chỉ gặp một trường hợp duy nhất ởXóm Ốc Hiện tượng nhuộn răng đen tuy có nhưng tỷ lệ thấp
Việc xác định loại hình chủng tộc mới chỉ là những ý kiến sơ bộ banđầu, vì tư liệu di cốt không đầy đủ Chúng tôi đã thử dùng 11 đặc điểm metric
đã được lựa chọn của sọ cổ Hòa Diêm để so sánh thống kê với 9 nhóm cư dân
1 PGS TS Phó tổng thư ký Hội Khảo cổ học Việt Nam
Trang 24cổ và hiện đại Sự gần gũi về tỷ lệ đặc điểm metric đã được đánh giá bằng hệ
số tương quan Q-mode dựa trên 10 đặc điểm đo đạc Kết quả chi thấy trongphân tích cụm của hình cây được ứng dụng bằng các ma trận, ta thấy kết quảcủa người cổ Hòa Diêm gần với Thượng, Đông Sơn (Nhóm lại hìnhIndonesien), cư dân Indonesia và rất cách biệt với Lào và Thái Lan
Qua kết quả phân tích này, chúng ta thử đưa ra nhận xét cùng thảo luận:
có khả năng người Cổ Hòa Diêm là một bộ phận của những người Indonesien bản địa sinh sống dọc Trường Sơn ngay từ hậu kỳ đá mới rải rác ở các tỉnh Kon Tun, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng mà các dấu vết còn để lại trong các địa điểm khảo cổ học của vùng này, đặc biệt là vùng Biển Hồ, đã tràn xuống vùng đồng bằng ven biển suốt từ Quảng Nam đến Bình Thuận Cũng lại có khả năng người cổ Hòa Diêm là nhóm cư dân cổ từ phía Nam theo đường biển đi lên ngay từ cuối văn hóa Bắc Sơn, để trụ lại vùng đồng bằng ven biển nước ta và hòa cùng dòng máu của cư dân bản địa
Mặc dù tư liệu còn khiếm khuyết, nhưng những tư liệu khảo cổ họcphát hiện được ở Bình Yên, Xóm Ốc, Bầu Hòe và Bình Ba theo ý kiến củachúng tôi hầu hết đều là cư dân Mongoloid có thể xen đôi nét của đại chủngAustraloid Chúng ta hy vọng trong những năm tới sẽ có thêm những tài liệu
cổ nhân học mới để vấn đề chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh được chứng minh đầy
đủ hơn
Trang 25VĂN HÓA SA HUỲNH Ở LƯU VỰC SÔNG THU BỒN VÀ VỊ TRÍ CỦA NÓ TRONG THỜI ĐẠI KIM KHÍ Ở MIỀN TRUNG VIỆT NAM
Nguyễn Chiều 1
Lưu vực sông Thu Bồn là một khu vực rộng lớn, mở ra cả tỉnh QuảngNam và Đà Nẵng Chỉ từ năm 1975 đến nay, ở khu vực này đã phát hiện đượcgần 100 di tích văn hóa Sa Huỳnh phân bố trên nhiều địa hình khác nhau – từđồng bằng ven biển đến núi cao Trong đó có cả di tích mộ táng và di chỉ cưtrú với nhiều niên đại từ sớm đến muộn
Những di tích mộ táng có cả mộ quan tài và mộ đất, Có nghĩa địa chôntập trung hàng trăm ngôi mộ Đồ tùy táng trong quan tài góm và mộ đất đềurất phong phú về số lượng, chất liệu và loại hình Chúng gồm có đồ sắt, đồđồng, đồ gốm và đồ trang sức Đặc biệt, trong số các đồ tùy táng có khá nhiềuhiện vật có nguồn gốc ngoại nhập và có niên đại rõ ràng như gương đồng, daosắt có chuôi hình vành khăn, tiền ngũ thù
Những di tích cư trú được phát hiện chưa nhiều Chúng mới xuất hiệnchủ yếu trên các cồn cát ven sông, ven biển và thường có tầng văn hóa không
rõ ràng hoặc bị xáo trộn nặng nề Hiện vật trong các di chỉ cư trú chủ yếu lànhững mảnh gốm vỡ có những đặc trưng tương tự những đồ gốm chôn theotrong các mộ táng
So sánh với các khu vực khác thì văn hóa Sa Huỳnh ở lưu vực sông ThuBồn có số lượng di tích đã được phát hiện nhiều nhất Chúng có nhiều đặctrưng văn hóa chung nhưng cũng có nhiều đặc trưng riêng mang tính chất địaphương Chúng cùng với nhưng di tích ở Quảng Ngãi và Bình Định giữ vị trítrung tâm của văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung và đóng vai trò quan trọngnhất trong quá trình hình thành quốc gia Lâm Ấp – Champa sau này
Bài tham luận này còn có 01 bản thống kê, nhiều ảnh và bản vẻ về các
di tích và di vật của văn hóa Sa Huỳnh đã được xác định rõ ràng ở lưu vựcsông Thu Bồn
1 Cử nhân, Giảng viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trang 26BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA SA HUỲNH
Ở QUẢNG NGÃI
1 Năm 1909, M Vinet phát hiện một kho chum chôn trong đất cát vàng
bên cạnh đầm An Khê của làng quê Sa Huỳnh được công bố trên tạp chí củatrường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (B.E.F.E.O) Nhìn chung các nhà Khảo cổhọc Phương Tây khai quật Sa Huỳnh khoảng 500 mộ gốm
Sau năm 1975, thời kỳ phúc tra, phát hiện mới và nghiên cứu lại vănhóa Sa Huỳnh của các nhà Khảo cổ học Việt Nam Đến nay, trên địa bàn tỉnhQuảng Ngãi phát hiện, tham dò và khai quật trên 26 địa điểm di tích Tiền SaHuỳnh, Sa Huỳnh
2 Hương bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Sa Huỳnh: TỉnhQuảng Ngãi là một trong những địa bản trung tâm của văn hóa Sa Huỳnh,hiện nay vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Sa Huỳnh vô cùngcấp thiết Di tích văn hóa Sa Huỳnh ở Gò Ma Vương, Phú Khương đã được
Bộ Văn hóa – Thông tin nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhậnxếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia tại quyết định số 3457 ngày05/11/1997 Đồng thời tại đây đang triển khai dự án bảo tồn di tích gốc và xâydựng nhà trưng bày chuyên đề văn hóa Sa Huỳnh
1 GĐ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi
Trang 27NHẬN THỨC THÊM VỀ VĂN HÓA SA HUỲNH TỪ NHỮNG PHÁT
HIỆN VÀ NGHIÊN CỨU MỚI
và di vật phản ánh cấu trúc xã hội, cách thức/con đường tiếp xúc cũng như tácđộng của giao lưu kinh tế văn hóa trong đối ngoại với chuyển biến quan hệ xãhội, mức độ gia tăng tính phức hợp xã hội của các cộng đồng cư dân dẫn đến
sự hình thành các dạng nhà nước sớm
Bài viết gồm những nội dung chính và có cấu trúc sau:
Phần I Khái lược về những phát hiện và nghiên cứu VHSH từ thập kỷ
90 của thế kỷ 20 đến những năm đầu thế kỷ 21
I Những phát hiện và nghiên cứu nổi bật của VHSH trong thời gian từthập kỷ 90 của thế kỷ 20 đến những năm đầu thế kỷ 21
II Văn hóa Sa Huỳnh – loại hình không gian và giai đoạn phát triển (từnhững phát hiện và nghiên cứu gần đây)
2.1 Phạm vi phân bố của văn hóa Sa Huỳnh và những vấn đề thảo luận.2.2 Giai đoạn phát triển của văn hóa Sa Huỳnh: tiêu chí và quan điểm.Phần II Nhận thức thêm và những vấn đề đặt ra
I Từ những dữ liệu khảo cổ đến diễn giải chuyển biến xã hội
II Nghiên cứu các vấn đề cấu trúc, quan hệ xã hội giai đoạn thế kỷ
5TCN đến TK5 SCN ở Trung và Nam Trung bộ Việt Nam
1 PGS TS Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trang 28ĐỒ TRANG SỨC VĂN HÓA SA HUỲNH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ GIAO LƯU THƯƠNG MẠI CỦA NGƯỜI SA HUỲNH THỜI TIỀN SỬ MUỘN
Văn hóa Sa Huỳnh (niên đại ca BP 500 – ca AD 1,2) được biết đến đầutiên và trước nhất là từ những phát hiện quan trọng tại các di chỉ khảo cổ học
Sa Huỳnh cùng một vài di chỉ khác thuộc địa bàn tỉnh Quảng Ngãi cách đâytròn một thế kỷ Rất nhiều di chỉ thuộc nền văn hóa này được phát hiện vàkhai quật sau đó đã đem lại khối lượng di vật rất lớn, minh chứng không chỉcho sự tồn tại của lâu dài và đầy bản sắc của một nền văn hóa khảo cổ trên đấtViệt Nam, mà còn tỏ rõ mối quan hệ sâu sắc và rộng lớn của nền văn hóa nàytrong và ngoài đất Việt Nam Loại di vật tiêu biểu chứng thực cho mối quan
hệ này là các loại hình đồ trang sức khai quật được trong hầu hết các mộ chumthuộc văn hóa Sa Huỳnh
Từ những nghiên cứu so sánh về đồ trang sức của văn hóa Sa Huỳnhqua các loại hình hạt chuỗi, khuyên tai bằng các loại chất liệu đá quý như mãnão, agate, đá ngọc, vàng với các di chỉ khảo cổ học cùng thời ở Philippines,Thái Lan, Đài Loan, bài viết này tổng kết các nghiên cứu của cá nhân và đồngnghiệp về đồ trang sức của văn hóa Sa Huỳnh, trong đó nhấn mạnh hai vấn đềqua những luận cứ nghiên cứu về kỹ thuật cổ:
1- Tên gọi khoa học, loại hình và chất liệu chứng minh ngồn gốc Ấn
Độ của nhiều sưu tập hạt chuỗi trong văn hóa Sa Huỳnh.
2- Nguồn gốc của đồ ngọc trong văn hóa Sa Huỳnh qua sự đa dạng về loại hình và kỹ thuật chế tạo khuyên tai hai đầu thú và khuyên tai
ba mấu bằng đá ngọc.
Theo đó, như một luận điểm tham góp và việc đẩy mảnh nghiên cứusâu hơn về nền văn hóa này, tác giả đề cập đến vấn đề giao lưu thương mạitrong văn hóa Sa Huỳnh, bản chất của nền thương mại đó qua một số kết quảphân tích khoa học tự nhiên
1 TS Viện Khảo cổ học.
Trang 29MỘT THẾ KỶ PHÁT HIỆN VÀ NGHIÊN CỨU VĂN HÓA SA HUỲNH
Năm 1909, M.Vinet công bố phát hiện đầu tiên về một kho mộ chumgốm lớn khoảng 200 chiếc ở một cồn cát ven biển Sa Huỳnh thuộc huyện ĐứcPhổ, tỉnh Quảng Ngãi
Năm 1923, cuộc khai quật đầu tiên ở Sa Huỳnh được thực hiện bởi mộtnhà khảo cổ học khác Labarre và được H Parmentier công bố
Năm 1934, nữ nhà khảo cổ học Pháp M.Colani đã tìm được tại địa điểmThạnh Đức 55 mộ chum, tại Phú Khương 187 mộ Tiếp đó là tại Tân Long 3mộ
Năm 1936, lần đầu tiên M.Colani đề xuất khái niệm văn hóa Sa Huỳnh
để chỉ các phát hiện và nghiên cứu về các mộ chum ở vùng này
Đây là những nghiên cứu tiêu biểu trước 1950 và hoàn toàn do các họcgiả nước ngoài thực hiện
Sau năm 1975, các nhà khảo cổ học Việt Nam là những người đóng vaitrò chính trong việc nghiên cứu và khẳng định giá trị văn hóa Sa Huỳnh.Quảng Ngãi không chỉ là nơi đầu tiên phát hiện được các di tích văn hóa SaHuỳnh mà đây còn là vùng đất cho các di tích đã được chứng minh là cuộinguồn phát triển lên văn hóa Sa Huỳnh Các địa điểm thuộc nền văn hóa nàycòn được phát hiện ở các tỉnh khác thuộc Trung và Nam Trung bộ Việt Namnhư Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Bình Định, PhúYên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận Văn hóa Sa Huỳnh được ghi nhận
là một trong ba trung tâm văn hóa quan trọng nhất trong thời đại kim khí ViệtNam
1 TS Phó Viện trưởng Viện Khảo cổ học.
Trang 30VĂN HÓA SA HUỲNH Ở PHÚ YÊN
Phú Yên là một tỉnh nằm giáp khu vực Nam Trung bộ, phía Bắc giápBình Định; phía Nam giáp Khánh Hòa; phía Tây giáp Gia Lai và Đắc Lắc vàphía Đông là biển cả bao la
Là một tỉnh nằm trong phạm vi phân bố của văn hóa Sa Huỳnh, nhưngtrong cả một thời gian dài Phú Yên là địa bàn trắng về loại hình di tích thuộcvăn hóa này Cho đến những năm cuối thế kỷ XX thì những di tích đầu tiêncủa văn hóa Sa Huỳnh mới được phát hiện vào năm 1990 đến nay đã có 6 ditích văn hóa Sa Huỳnh đã được tìm thấy ở đia phương này Đó là các di tích
Gò Ốc, Cồn Đfnh, Khe Ông Đậu, Suối Mây, Bàu Sấu và Gò Bộng Dầu, trong
đó có 3 di tích đã được khai quật là di tích Gò Ốc, di tích Cồn Đinh và di tíchKhe Ông Đậu
Kết quả khảo sát, đào thám sát và khai quật tại các di tích đã cho thấy
về niên đại các di tích thuộc văn hóa Sa Huỳnh ở Phú Yên có thể phân thànhhai nhóm: nhó cacs di tích có niên đại trên dưới ba ngàn năm gồm các di tích
Gò Ốc, Cồn Đình, Khe Ông Đậu, Suối Mây; nhóm di tích có niên đại khoảnghơn hai ngàn năm có các di tích Bàu Sấu và Gò Bộng Dầu Kết quả nghiêncứu cũng cho thấy rằng các di tích văn hóa Sa Huỳnh ở Phú Yên có nhiều đặcđiểm riêng về loại hình hiện vật, về trang trí hoa văn trên đồ gốm so với cácđịa phương lân cận như Bình Định, Khánh Hòa
Mặc dầu đạt được những thành tựu bước đầu nhưng so với các địaphương khác việc nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh ở Phú Yên còn quá khiêmtốn Điều đó cho thấy rằng việc nghiên cứu về văn hóa này ở Phú Yên trongtương lai cần được đẩy mảnh để góp phần xác đinh diện mạo của văn hóa SaHuỳnh ở Phú Yên nói riêng cũng như đóng góp tư liệu cho việc tìm hiểu vănhóa Sa Huỳnh nói chung
1 Cn Bảo tàng Phú Yên
Trang 31MỘ ĐẤT VĂN HÓA SA HUỲNH: NGHIÊN CỨU TRONG BỐI CẢNH
VIỆT NAM VÀ KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
Nguyễn Thị Hảo 1 , Hoàng Thúy Quỳnh **
Một thế kỷ đã trôi qua từ những phát hiện đầu tiên (1909), văn hóa SaHuỳnh đã tạo ấn tượng đặc biệt với phương thức mai táng trong các mộ chumbằng gốm (hay còn gọi là quai tài gốm) và luôn được coi là đặc điểm nhậnbiết đặc trưng của nền văn hóa rực rõ thuộc thời đại Sắt, nằm dọc vùng duyênhải miền Trung Việt Nam Tuy nhiên với những thành tựu phát hiện và nghiêncứu khảo cổ học gần đây, các nhà nghiên cứu đã công nhận sự tồn tại của mộttáng thức mới của cư dân cổ Sa Huỳnh: phương thức mai táng trong mộ đất.Mặc dù số lượng và tỉ lệ của mộ đất hiện chỉ chiếm một phần rất nhỏ so vớiloại hình mộ quan tài gốm Nhưng sụ tồn tại của chúng cho thấy mộ quan tàigốm không phải là loại hình duy nhất trong táng thực của người cổ văn hóa SaHuỳnh, và cũng thể hiện sự đa dạng trong táng thức của cư dân cổ nơi đây
Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi cố gắng thu thập các tài liệu liênquan đến táng thức mộ đất đã phát hiện trong văn hóa Sa Huỳnh, và tập chunglàm rõ các vấn đề sau:
1 Đưa ra một cách nhìn tổng quan về mộ đất trong văn hóa Sa Huỳnh
2 Đặt loại hình mộ đất văn hóa Sa Huỳnh trong bối cảnh Việt Nam vàkhu vực Đông Nam Á
3 Một vài ý kiến tham góp cho việc bảo tồn mộ đất văn hóa Sa Huỳnhtrong bối cảnh Việt Nam hiện nay
1 Cn Viện Khảo cổ
** Th.S Viện Khảo cổ
Trang 32VĂN HÓA SA HUỲNH NHÌN TỪ VĂN HÓA ĐỒNG NAI
Văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Đồng Nai đều là những nền văn hóakhảo cổ niên đại khoảng 3500 năm đến 2000 năm cách ngày nay Cùng vớivăn hóa Đông Sơn, ba nền văn hóa này đã trở thành ba trung tâm văn hóa thờiđại kim khí trên đất nước ta, vừa có những nét chung nhưng đồng thời cũng cónhững nét đặc trưng khác biệt, làm nên sự đa dạng của những khu vực củanhững khu vực văn hóa tộc người trên nền cảnh chung của Đông Nam Á thời
cổ Bài viết nhìn lại sự tương đồng và khác biệt cơ bản nhất giữa các di tích
mộ tiền – sơ sử vào các nền văn minh thời kỳ đầu công nguyên ở Việt Nam.Bài viết gồm hai phần:
- Khái quát về văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Đồng Nai
- Mộ chum trong văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Đồng Nai: những tươngđồng và khác biệt
Luận điểm cơ bản:
Bước vào thời đại kim khí, vùng châu thổ Đồng Nai là một trung tâmnông nghiệp sầm uất, nơi quy tụ lượng tài vật khá lớn của cả phần Nam bánđảo Đông Dương Những di tích khảo cổ phân bố dày đặc dọc đôi bờ ĐồngNai, trên cả những cù lao và kéo dài đến vùng ven biển Dấu tích cư trú lâudài ổn định, số lượng di vật lớn, nhiều loại hình đã phản ánh đặc trưng vănhóa, kỹ thuật của cộng đồng cư dân cổ nơi đây
Nhóm di tích mộ chum ở huyện Cần Giờ TPHCM có nhiều yếu tố của
văn hóa Sa Huỳnh như đồ trang sức từ các chất liệu vàng, đá quý, thủy tinh và
từ vỏ nhuyễn thể, tại Cần Giờ đã tìm thấy 32 khuyên tai hai đầu thú bằng đángọc và thủy tinh – chiếm hơn nửa số trang sức này trong các di chỉ khảo cổ ởĐông Nam Á Đây là loại trang sức độc đáo được coi là đặc trưng của văn hóa
Sa Huỳnh ven biên miền Trung Việt Nam Nhiều đồ tùy táng mang dấu ấn
nhiều nền văn hóa khác như đồ gốm mang phong cách Sa Huỳnh; bông tai
1 TS Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM
Trang 33gốm kiểu hoa thị, đồ trang sức vàng, các kiểu chậu gốm, tượng hình chimmang phong cách hiện vật của vùng đảo Philippin Có thể nhận thấy sự giaothoa giữa văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Đồng Nai thể hiện qua di tích mộchum Xuân Lộc – Đồng Nai và gần đây là di tích Hòa Diêm – Khánh Hòa.
Tuy nhiên, các di tích mộ chum ở Cần Giờ có đặc trưng riêng là táng
thức Hung táng trong chum giống hình cậu không có nắp, khu mộ chhum
là khu di chỉ cư trú với một hệ thống gốm riêng biệt về cả kỹ thuật sản xuất
và loại hình Do vậy, cần thiết phân lập nhóm mộ chum Cần Giờ thành một
văn hóa khảo cổ văn hóa Sa Huỳnh
Trang 34VĂN HÓA SA HUỲNH SUY NGHĨ TỪ BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM
Vũ Quốc Hiền 1 , Trương Đắc Chiến **
Trên cơ sở những tư liệu về văn hóa Sa Huỳnh hiện đang trưng bày vàlưu trữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, cộng với thực tiễn điền dã của mình,các tác giả bài viết đã đưa ra một vài suy nghĩ về văn hóa Sa Huỳnh nhân dịp
100 năm phát hiện và nghiên cứu nền văn hóa nổi tiếng này
Trước hết, các tác giả xin khẳng đinh sức lan tỏa mạnh mẽ của văn hóa
Sa Huỳnh ở những vùng không phải địa bàn gốc của nó Ở miền Nam, đạidiện cho văn hóa Sa Huỳnh là nhóm di tích Suối Chồn Các tác giả cho rằng,cùng với đỉnh cao Dốc Chùa, Suối Chồn cũng là một đỉnh cao trong thời đạiKim khí, và cùng với thời gian, những đỉnh cao này hòa chung vào một dòngchảy lớn, đó là văn hóa Óc Eo Bên cạnh đó, dựa trên phát hiện và nghiên cứumới nhất tại di tích Bãi Cọi (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) năm 2008, các tác giả đãchỉ ra những yếu tố Sa Huỳnh ngay trên địa bàn văn hóa Đông Sơn
Các tác giả cũng điểm lại những thành tựu nghiên cứu từ trước tới nàycủa các học giả trong và ngoài nước về văn hóa Sa Huỳnh, coi đó là điểm tựavững chắc cho việc thể hiện không gian trưng bày về văn hóa Sa Huỳnh tạiBảo tàng Lịch sử Việt Nam hiện nay Cùng với đó, các tác giả cũng rât hyvọng về một kết quả tốt đẹp của cuộc Hội thảo quốc tế nhân tròn thế kỷ pháthiện và nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh, và tin tưởng rằng đó chính là cơ sởkhoa học cho việc thể hiện thành công gian trưng bày về văn hóa Sa Huỳnh tạiBảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam trong một tương lai không xa
1 Tiến sĩ Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
** Cử nhân Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Trang 35VÀI NÉT VỀ VĂN HÓA SA HUỲNH
để mệnh danh cho khái niệm văn hóa Sa Huỳnh
Việc nghiên cứu các loại hình văn hóa Sa Huỳnh cốt để làm rõ tính đadạng trong sự thống nhất của văn hóa Bước sang thời đại Kim khí, khái niệmtiền Sa Huỳnh được sử dụng để khái quát các nền văn hóa khảo cổ thuộc thờiđại đồ đồng được hình thành từ trước nền văn hóa Sa Huỳnh, thuộc sơ kỳ thờiđại sắt
Tính đa chiều và đa dạng cảu văn hóa Sa Huỳnh cùng đã làm nảy sinhnhững giả thiết nghiên cứu về vấn đề hậu Sa Huỳnh, tứ là vấn đề hiểu biết vềnhững nền văn hóa khảo cổ kế tiếp hay kế thừa văn hóa Sa Huỳnh Những vấn
đề về nền văn hóa sau Sa Huỳnh còn tiếp tục được nghiên cứu thêm
1 PGS TS Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Trang 36MỘT THẾ KỶ NGHIÊN CỨU VĂN HÓA SA HUỲNH Ở BÌNH ĐINH
Đinh Bá Hòa 1
Tìm hiểu về nền văn hóa Sa Huỳnh trên đất Bình Định cho đến nay đãgần một thế kỷ và có thể nói rằng, công đầu ấy thuộc về các học giả ngườiPháp Tuy nhiên, thành tựu nghiên cứu của nền văn hóa này trên đất BìnhĐịnh có tính hệ thống và đạt được nhiều thành quả nhất phải kể đến từ saungày đất nước hoàn toàn thống nhất năm 1975
Hiện nay, với những tư liệu tích lũy được đã cho thấy những cư dânViệt cổ định cư ở đất Bình Định đã có một sự phát triển liên tục từ giai đoạnBình Châu, qua giai đoạn Long Thạnh đến giai đoạn Bàu Trám Việc hìnhthành các nền văn hóa khảo cổ của văn hóa Sa Huỳnh có thể giúp chúng tahiểu rõ thêm về việc hình thành các nhà nước sơ khai ở trong vùng
Rõ ràng, văn hóa Sa Huỳnh là một nền văn hóa khảo cổ mang tính chấtvùng miền khá rõ ràng, nhưng di tích để lại dọc ven biển miền Trung là khálớn Nhưng, nhiều năm nay, chúng ta chỉ khai quật nghiên cứu, nhưng ít đềnghị xếp hạng cho di tích, mặc dù trong Luật Di sản văn hóa đã quy định rõràng các loại hình di tích này song ít được quan tâm, cho nên việc bảo vệ cho
di tích là cực kỳ khó khăn Việc xếp hạng di tích chỉ có tính chất bảo vệ màthôi Và, tôi nghĩ các địa phương có loại hình di tích Sa Huỳnh như Bình Địnhcũng đang trong tình trạng như thế Kỷ niệm 100 năm Sa Huỳnh, bài viết sẽbàn về việc giới khoa học chúng ta cần phải hành động gì để tác động với cácnhà quản lý thấy được tầm quan trong của loại hình di tích văn hóa này để cónhững quyết định đúng đắn trong việc khai thác tài nguyên dọc ven biển miềnTrung
Quy Nhơn, Hè 2009
1 Tiến sĩ Khảo cổ học Giám đốc Bảo tàng Bình Định
Trang 37DI TÍCH VĂN HÓA SA HUỲNH
Cả 3 vùng đất được đề cập trong phần này là Sa Huỳnh (nơi phát hiệnđầu tiên các mộ chum Sa Huỳnh, năm 1909), Bình Châu (nơi có các di tíchBình Châu I và Bình Châu II) và Lý Sơn (huyện đảo, nơi đã có các cuộc khaiquật khảo cổ học về văn hóa Sa Huỳnh ở Suối Chình và Xóm Ốc) Theo tácgiả tham luận này, đây là 3 vùng thiên nhiên kỳ thú, chứa đựng nhiều giá trịvăn hóa – lịch sử độc đáo, vì vậy, nếu được khai thác du lịch hợp lý sẽ gópphần mang lại những nguồn lợi đáng kể
Phần tiếp theo là khái quát về thực trạng khai thác du lịch đối với các ditích văn hóa Sa Huỳnh tại Quảng Ngãi Và theo tác giả, ngành du lịch tỉnhQuảng Ngãi chưa đề cập đến, hoặc chưa chú ý đúng mức về giá trị cùa các ditích văn hóa Sa Huỳnh trên địa bàn tỉnh Phòng trưng bày về văn hóa SaHuỳnh tại Bảo tàng tỉnh Quảng Ngãi và bộ sưu tập các hiện vật văn hóa SaHuỳnh của nhà sưu tầm Lâm Zũ Xên cũng được giới thiệu, đồng thời chỉ ra
1 Trung tâm Văn hóa tỉnh Quảng Ngãi.
Trang 38những hạn chế, bất cập cần được khắc phục nghiên cứu cũng như khách thamquan du lịch.
Phần cuối là một số ý tưởng, kiến nghị nhằm góp phần khai thác các ditích văn hóa Sa Huỳnh vào các hoạt động kinh doanh du lịch Theo đó, cầntiệp cận các di tích này như một bộ phận cấu thành hệ thống các di tích lịch sửvăn hóa trên địa bàn tỉnh đồng thời có những đặc thù mà người hoạt động trênlĩnh vực du lịch cần nhận biết Đơn cử, đối với di tích văn hóa Sa Huỳnh trênđảo Lý Sơn, người làm du lịch phải giới thiệu cho du khác giá trị, ý nghĩa củacác di tích văn hóa Sa Huỳnh và tiền Sa Huỳnh ở đây trong tổng thể các ditích lịch sử vô cùng phong phú của vùng đất đảo, tạo điều kiện để du khách cóthể tham quan, thưởng lãm những phong cảnh thiên nhiên độc đáo của khuvực Suối Chình, Xóm Ốc Từ thực tế chiêm ngưỡng, trí tưởng tượng của dukhách có thể bay bổng hình dung sinh cảnh của người Sa Huỳnh trên đảo LýSơn trong một không gian sống cách chúng ta nhiều nghìn năm Quy hoạchkhoa học, khai thác hợp lý và thực hiện xã hội hóa trong việc bảo tồn, khaithác các di tích cũng là những kiến nghị mà tác giả nêu ra trong phần này