1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo thực tập tốt nghiệp: Quản lý hộ tịch tại uỷ ban nhân dân xã Hùng Hỹ Chiêm Hóa – Tuyên Quang

62 16,8K 191

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 354 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN 1 A. PHẦN MỞ ĐẦU 2 1. Lý do chọn đề tài 2 2. Mục đích lựa chọn đề tài báo cáo thực tập 3 3. Tình hình tìm hiểu đề tài 4 4. Đối tượng, phạm vi tìm hiểu của báo cáo thực tập 4 5. Mục tiêu, nhiệm vụ tìm hiểu của báo cáo thực tập 5 6. Cơ sở lý luận và phương pháp tiếp cận 5 7. Kết cấu nội dung đề tài 6 B.PHẦN NỘI DUNG 7 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH 7 I. Khái niệm về hộ tịch: 7 1. Quản lý nhà nước về hộ tịch: 7 1.1. Khái niệm quản lý nhà nước: 7 1.2. Đặc điểm quản lý nhà nước về hộ tịch: 8 2. Sự hình thành và phát triển của pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch: 8 2.1. Giai đoạn trước năm 1945 (thời kỳ phong kiến và thời Pháp thuộc) 8 2.2.Giai đoạn từ nãm 1945 đến năm 1975 10 2.2.1. Quy định về hộ tịch của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 10 2.2.2. Quy định về hộ tịch của chế độ cũ ở miền Nam 11 2.3. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay 12 3. Vị trí, vai trò quản lý nhà nước về hộ tịch 14 4. Pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch: 16 4.1. Khái niệm pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch: 16 4.2. Nội dung pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch 16 4.2.1. Đăng ký khai sinh: 16 4.2.2. Đăng ký kết hôn 19 4.2.3. Đăng ký khai tử 20 4.2.4. Đăng ký nuôi con nuôi 22 3.3. Ghi chép sổ hộ tịch và biểu mẫu hộ tịch 23 3.2.1. Nguyên tắc ghi chép sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch 24 3.2.2. Sửa chữa sai sót do ghi chép 25 3.2.3. Lưu trữ sổ hộ tịch, giấy tờ hộ tịch và báo cáo số liệu thống kê hộ tịch 25 3.3. Hình thức pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch 27 3.3.1. Các văn bản hướng dẫn thi hành 27 3.3.2. Vai trò của pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch: 28 4. Cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký và quản lý hộ tịch được đẩy mạnh, ngày càng tạo thuận lợi cho người dân trong đăng ký hộ tịch. 29 4.1. Cải cách việc in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch 29 4.2. Đơn giản hóa và công khai thủ tục đăng ký hộ tịch 29 5. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật hộ tịch đã được quan tâm, nhận thức của người dân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch đã được nâng lên, tỷ lệ đăng ký hộ tịch tăng cao. 29 6. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đăng ký, lưu trữ dữ liệu về hộ tịch bước đầu được triển khai ở địa phương. 30 7. Khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác hộ tịch đối với công tác quản lý nhà nước và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. 31 7.1. Vị trí, vai trò và tầm quan trọng đối của công tác hộ tịch đối với công tác quản lý nhà nước 31 7.2. Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân 31 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN 33 XÃ HÙNG MỸ HIỆN NAY 33 I. Ưu điểm 35 II. NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH 38 1. Hạn chế 38 2. Nguyên nhân của những hạn chế 39 CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NẦNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN XÃ HÙNG MỸ HIỆN NAY 42 I. Những yêu cầu đối với hoạt động quản lý hộ tịch trong giai đoạn mới 42 1. Yêu cầu về tính kịp thời. 42 2. Yêu cầu về tính đầy đủ. 42 3. Yêu cầu về tính chính xác, khách quan 43 4. Yêu cầu về tính chủ động của co quan quản lý và đăng ký hộ tịch 43 5. Yêu cầu về tính pháp chế 43 6. Yêu cầu về cải cách thủ tục hành chính 44 II. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hộ tịch trên địa bàn xã Hùng Mỹ hiện nay 45 1. Kiện toàn, nâng cao tính chuyên nghiệp, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ Tư pháp hộ tịch xã 45 2. Đấy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch trong nhân dân 45 3. Cải tiến phương thức quản lý hộ tịch 46 4. Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý hộ tịch và xây dựng hệ cơ sở dữ liệu thông tin hộ tịch 47 5. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch 47 6. Đổi mới công tác thống kê, báo cáo về hộ tịch 48 C. PHẦN KẾT LUẬN 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

A PHẦN MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Mục đích lựa chọn đề tài báo cáo thực tập 3

3 Tình hình tìm hiểu đề tài 4

4 Đối tượng, phạm vi tìm hiểu của báo cáo thực tập 4

5 Mục tiêu, nhiệm vụ tìm hiểu của báo cáo thực tập 5

6 Cơ sở lý luận và phương pháp tiếp cận 5

7 Kết cấu nội dung đề tài 6

B.PHẦN NỘI DUNG 7

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH 7

I Khái niệm về hộ tịch: 7

1 Quản lý nhà nước về hộ tịch: 7

1.1 Khái niệm quản lý nhà nước: 7

1.2 Đặc điểm quản lý nhà nước về hộ tịch: 8

2 Sự hình thành và phát triển của pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch: 8

2.1 Giai đoạn trước năm 1945 (thời kỳ phong kiến và thời Pháp thuộc) 8

2.2.Giai đoạn từ nãm 1945 đến năm 1975 10

2.2.1 Quy định về hộ tịch của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 10

2.2.2 Quy định về hộ tịch của chế độ cũ ở miền Nam 11

2.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay 12

3 Vị trí, vai trò quản lý nhà nước về hộ tịch 14

4 Pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch: 16

4.1 Khái niệm pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch: 16

4.2 Nội dung pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch 16

4.2.1 Đăng ký khai sinh: 16

4.2.2 Đăng ký kết hôn 19

Trang 2

4.2.3 Đăng ký khai tử 20

4.2.4 Đăng ký nuôi con nuôi 22

3.3 Ghi chép sổ hộ tịch và biểu mẫu hộ tịch 23

3.2.1 Nguyên tắc ghi chép sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch 24

3.2.2 Sửa chữa sai sót do ghi chép 25

3.2.3 Lưu trữ sổ hộ tịch, giấy tờ hộ tịch và báo cáo số liệu thống kê hộ tịch 25 3.3 Hình thức pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch 27

3.3.1 Các văn bản hướng dẫn thi hành 27

3.3.2 Vai trò của pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch: 28

4 Cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký và quản lý hộ tịch được đẩy mạnh, ngày càng tạo thuận lợi cho người dân trong đăng ký hộ tịch 29

4.1 Cải cách việc in, phát hành sổ, biểu mẫu hộ tịch 29

4.2 Đơn giản hóa và công khai thủ tục đăng ký hộ tịch 29

5 Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật hộ tịch đã được quan tâm, nhận thức của người dân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch đã được nâng lên, tỷ lệ đăng ký hộ tịch tăng cao 29

6 Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đăng ký, lưu trữ dữ liệu về hộ tịch bước đầu được triển khai ở địa phương 30

7 Khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác hộ tịch đối với công tác quản lý nhà nước và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân 31

7.1 Vị trí, vai trò và tầm quan trọng đối của công tác hộ tịch đối với công tác quản lý nhà nước 31

7.2 Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân 31

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN 33

XÃ HÙNG MỸ HIỆN NAY 33

I Ưu điểm 35

II NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH 38

Trang 3

1 Hạn chế 38

2 Nguyên nhân của những hạn chế 39

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NẦNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN XÃ HÙNG MỸ HIỆN NAY 42

I Những yêu cầu đối với hoạt động quản lý hộ tịch trong giai đoạn mới 42

1 Yêu cầu về tính kịp thời 42

2 Yêu cầu về tính đầy đủ 42

3 Yêu cầu về tính chính xác, khách quan 43

4 Yêu cầu về tính chủ động của co quan quản lý và đăng ký hộ tịch 43

5 Yêu cầu về tính pháp chế 43

6 Yêu cầu về cải cách thủ tục hành chính 44

II Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hộ tịch trên địa bàn xã Hùng Mỹ hiện nay 45

1 Kiện toàn, nâng cao tính chuyên nghiệp, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ Tư pháp hộ tịch xã 45

2 Đấy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch trong nhân dân 45

3 Cải tiến phương thức quản lý hộ tịch 46

4 Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý hộ tịch và xây dựng hệ cơ sở dữ liệu thông tin hộ tịch 47

5 Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch 47

6 Đổi mới công tác thống kê, báo cáo về hộ tịch 48

C PHẦN KẾT LUẬN 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Là sinh viên ngành Dịch vụ pháp lý để có thể áp dụng được những kiếnthức đã học trên ghế nhà trường vào thực tiễn đời sống, phục vụ cho quá trìnhlàm việc sau này khi ra trường thì mỗi sinh viên phải trải qua nhiều lần thực tế,thực tập của riêng mình Cá nhân em đã được trải nghiệm và tích lũy được nhiềukinh nghiệm trong đợt thực tập vừa qua Bản báo cáo này là kết quả của quátrình học tập thực tập trong suốt thời gian 8 tuần tại UBND xã Hùng Mỹ, huyệnChiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang và cũng là sự đánh giá một quá trình học tập vàrèn luyện của bản thân em trong bốn năm học vừa qua

Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu trường Đại học Nội

Vụ Hà Nội trong suốt 3 năm đã liên tục tổ chức những đợt thực tế, thực tập cuốikhóa, tạo điều kiện giúp em có những cơ hội đi vào thực tế để thực hành nhữngkiến thức đã học Em xin cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn ngành Dịch vụ pháp

lý thuộc Khoa Nhà nước và Pháp luật đã trang bị cho em những kiến thức, kĩnăng của ngành Dịch vụ pháp lý từ ghế nhà trường để áp dụng vào thực tiễn

Qua thời gian thực tập tại UBND xã Hùng Mỹ em xin gửi lời cảm ơn sâusắc toàn thể ban lãnh đạo và tập thể cán bộ công nhân viên của UBND xã đãgiúp đỡ, tạo điều kiện cho em hoàn thành đợt thực tập này, cảm ơn sự trợ giúpcủa cán bộ cơ sở thực tập đã cung cấp cho em những thông tin bổ ích để hoànthành bài báo cáo của mình

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quản lý hộ tịch được coi là khâu trung tâm của toàn bộ hoạt động quản lýdân cư Hiện nay, vấn đề đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý về hộ tịch đã vàđang đặt ra những yêu cầu bức thiết đối với sự phát triển của nền hành chínhquốc gia Bởi chế độ quản lý hộ tịch không chỉ phản ánh trình độ phát triển kinh

tế - chính trị - xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử mà còn phảnánh mức độ nhất định truyền thống, tập quán trong tổ chức đời sống xã hội vềquản lý dân cư ở mỗi quốc gia

Thực tiễn quản lý hộ tịch ở nước ta trong suốt những năm qua cho thấynhững yếu tố trí tuệ, bất cập của hệ thống pháp luật về quản lý hộ tịch Mặc dùhoạt động quản lý hộ tịch có nhiều phát triển trong hơn nửa thế kỷ, và đã cónhiều chuyển biến tích cực trong những năm gần đây nhưng việc quản lý đầy

đủ, chính xác, kịp thời các thông tin hộ tịch vẫn là vấn đề khó khăn đối với các

cơ quan quản lý

Do đó, để giải quyết những khó khăn trong công tác quản lý hộ tịch thìvấn đề quan trọng hàng đầu là phải xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo

cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác quản lý hộ tịch trong giai đoạn trước mắt

và lâu dài

Là một xã miền núi thuộc huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang, Hùng Mỹđang ngày càng phát triển và khẳng định được vị trí của mình Với dân số5.694.000 người ( theo tư liệu báo cáo tổng hợp của các thôn năm 2015), gồm

10 dân tộc anh em: Kinh, Tày, Dao, Mông, Nùng, Hoa, Cao Lan, Mường, Thái,

Pà thẻn; với các đơn vị hành chính bao gồm 14 thôn bản: Dỗm, Nặm Kép,Đóng, Mũ, Thắm, Đình, Bảu, Ngầu I, Ngầu II, Rõm, Nghe, Nà Mý, KhunThắng, Cao Bình Hùng Mỹ gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý hộ tịch.Khắc phục những khó khăn, phát huy thế mạnh của vùng, trong những năm gầnđây, công tác quản lý hộ tịch ở xã về cơ bản đã đạt được những thành quả đángkhích lệ Tuy nhiên, trong quá trình triển khai nhiệm vụ còn bộc lộ không ít

Trang 6

những yếu kém, hạn chế cần khắc phục.

Đăng ký hộ tịch hay nói gọn là hộ tịch là hoạt động của các cơ quan nhànước có thẩm quyền (thường là các cơ quan hành pháp, cơ quan quản lý hànhchính nhà nước) ghi và lưu lại lại các sự kiện hộ tịch quan trọng của công dân

Hộ tịch được hiểu là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân củamột người từ khi sinh ra đến khi chết

Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận, ghivào sổ các sự kiện hộ tịch của cá nhân nhằm xác định tình trạng nhân thân của

cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cánhân và thực hiện quản lý về dân cư, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước Các sự kiện hộ tịch cơ bản của mỗi cá nhân được đăng ký và quản lýtrong sổ hộ tịch bao gồm: khai sinh, kết hôn, ly hôn, khai tử, nuôi con nuôi,giám hộ, thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tínhv.v Đăng ký và quản lý hộ tịch có ý nghĩa quan trọng để Nhà nước thực hiệnquản lý dân cư và quản lý các mặt kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh đồngthời tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước công nhận và bảo hộ các quyền nhân thânphi tài sản và quyền quyền nhân thân gắn liền với tài sản của cá nhân

Nhìn vào thực trạng quản lý hộ tịch ở Việt Nam và đặt trong sự so sánhvới các quốc gia trong khu vực, chúng ta không thể không lo ngại trước nhữngbất cập của thực tiễn quản lý hộ tịch cả về nhận thức và hành động, cả về hànhlang pháp lý và năng lực, trình độ quản lý Mặc dù hoạt động quản lý hộ khẩu, hộtịch đã có quá trình phát triển hơn nữa thế kỷ và đă có sự vận động tích cực trong

những năm gần đây nhưng việc quản lý “đầy đủ, chính xác, kịp thời” các thông tin

hộ tịch vẫn là mục tiêu đầy khó khăn đặt ra đối với các cơ quan quản lý Nhà nước

Với thực trạng đó và những đòi hỏi của tình hình mới, để luận giải những

vấn đề lý luận và thực tiễn về hộ tịch, bản thân em xin lựa chọn đề tài “Quản lý

hộ tịch tại Uỷ ban nhân dân xã Hùng Mỹ - Chiêm Hóa – Tuyên Quang” làm

báo cáo tốt nghiệp

2 Mục đích lựa chọn đề tài báo cáo thực tập

Trang 7

Mục đích chính của đăng ký hộ tịch là để tạo ra hệ thống pháp luật (vănbản pháp luật thậm chí là văn bản quy phạm pháp luật) được sử dụng để thiết lập

và bảo vệ các quyền dân sự của cá nhân Mục đích thứ hai là tạo ra một nguồn

dữ liệu cho việc biên soạn các số liệu thống kê quan trọng, phục vụ cho hoạtđộng thống kê dân cư của nhà nước

Mục đích quản lý hộ tịch là công việc thường xuyên của các cơ quan nhànước có thẩm quyền thực hiện để theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch,nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, để từ đó góp phầntạo cơ sở xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và chính sáchdân số, kế hoạch hoá gia đình

Do vậy, để làm sáng tỏ được các nội dung liên quan đến hoạt động quản

lý hộ tịch tại UBND xã trong giai đoạn hiện nay, những mặt tích cực và hạn chếtrong hoạt động của công tác quản lý hộ tịch của UBND xã và những nguyênnhân dẫn tới tình trạng đó, đồng thời khẳng định được vị trí, vai trò hết sức củacông tác quản lý hộ tịch trong hệ thống chính trị và dân cư

Từ đó, đưa ra được những giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quảhoạt động của công tác quản lý hộ tích nói riêng là UBND xã Hùng Mỹ nóichung Và cũng là nhằm hoàn thiện được lượng kiến thức chuyên môn để hoànthành báo cáo thực tập của nhà trường giao cho

3 Tình hình tìm hiểu đề tài

Có thể khẳng định rằng quản lý hộ tịch là hoạt động khó khăn và phức tạpđòi hỏi nhà quản lý phải có tầm hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực chuyên môn vàcần thiết hơn đó là sự thông thạo về đặc điểm dân cư, tập quán, truyền thông,văn hóa, trình độ phát triển của địa phương Có như vậy nhà quản lý mới có thể

áp dụng một cách linh hoạt pháp luật của nhà nước, từ đó đưa ra các quyết địnhquản lý phù hợp, mang lại hiệu quả cao

4 Đối tượng, phạm vi tìm hiểu của báo cáo thực tập

Công tác quản lý hộ tịch trên địa bàn xã Hùng Mỹ huyện Chiêm Hóa tỉnhTuyên Quang

Trang 8

Hoạt động của công tác quản lý hộ tịch của UBND xã Hùng Mỹ tác độngtrực tiếp đến đời sống của nhân dân Từ đó, tìm hiểu được thực trạng cũng nhưđưa ra được giải pháp và đề xuất để nâng cao hiệu quả hoạt động của ban Tưphap – Hộ tịch xã.

5 Mục tiêu, nhiệm vụ tìm hiểu của báo cáo thực tập

Đề tài tập trung đánh giá thực trạng công tác quản lý hộ tịch tại UBND xãtrong thời gian qua, phân tích nguyên nhân của những ưu điểm cũng như nhữnghạn chế của công tác đó, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệuquả hoạt động quản lý hộ tịch ở xã Hùng Mỹ nói riêng và trên địa bàn các tỉnh,thành phố của cả nước nói chung

Để làm rõ nội dung của đề tài, thực hiện được mục tiêu đã đặt ra, nhiệm

vụ mà đề tài phải làm được đó là:

- Tìm hiểu và phân tích lịch sử dân cư qua các thời kỳ ở Việt Nam, tìmkiếm thông tin về xã Hùng Mỹ và những quan điểm chỉ đạo của Đảng, chủtrương chính sách của Nhà nước, của tỉnh về công tác quản lý hộ tịch ở cơ sở

- Thu thập, xử lý và phân tích thông tin, dữ liệu về thực trạng quản lý hộtịch ở xã hiện nay, đánh giá ưu, khuyết điểm của công tác này

- Phân tích các nguyên nhân thực trạng trên, đồng thời đề xuất một số giảipháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác quản lý hộ tịch ở xã nóiriêng cũng như trên cả nước nói chung

6 Cơ sở lý luận và phương pháp tiếp cận

Đề tài dựa trên cơ sở lý luận là các quan điểm, chủ trương của Đảng ,chính sách pháp luật của Nhà nước về quản lý hộ tịch, cụ thể là công tác quản lý

hộ tịch trên địa bàn xã – đơn vị hành chính nhỏ nhất của nước ta hiện nay, kếthợp với các tư liệu lịch sử trong quá trình luận giải các vấn đề đặt ra

Phương pháp tiếp cận:

- Phương pháp thu thập thông tin trực tiếp: quan sát, phỏng vấn, điều tramẫu

Trang 9

- Phương pháp thu thập thông tin gián tiếp: phân tích và tổng hợp số liệu;Các thông tin từ sách, báo; Nguồn tin từ mạng Internet; Thông tin từ báo cáođịnh kỳ của Uỷ ban nhân dân xã…

Trang 10

7 Kết cấu nội dung đề tài

A Phần mở đầu.

B Phần nội dung:

Chương I: Cơ sở lý luận của quản lý Nhà nước về hộ tịch.

Chương II: Thực trạng quản lý hộ tịch trên địa bàn xã Hùng Mỹ hiện nay Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hộ tịch trên địa bàn xã Hùng Mỹ hiện nay.

Trang 11

B.PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ HỘ TỊCH I.Khái niệm về hộ tịch:

Từ trước đến nay, vẫn tồn tại khá nhiều quan niệm khác nhau về kháiniệm “Hộ tịch” Có quan niệm cho rằng: Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệđến các người trong nhà Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khaisinh, khai tử Quan niệm thứ hai lại cho rằng, việc ghi chép vào sổ sách khôngphải là hộ tịch mà bản thân các sự kiện liên quan đến tình trạng nhân thân củacon người mới là hộ tịch Có thể xem cách hiểu thứ hai là cách hiểu khá thấuđáo và toàn diện, được khoa học công nhận và được quy định khá rõ ràng trongvăn bản quy phạm pháp luật Theo quy định tại Điều 1 Nghị định số83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch thì: Hộ tịch

là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh

ra đến khi chết

Có thể xem những sự kiện về hộ tịch rất đa dạng Nếu theo quan niệm cũtrước đây, hộ tịch chủ yếu bao gồm các sự kiện về sinh, tử, kết hôn thì theo quyđịnh hiện nay của pháp luật, hộ tịch bao gồm 9 sự kiện cơ bản như: sinh; tử; kếthôn; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi họ, tên, chữ đệm; cảichính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; xác định lại dân tộc Các sự kiện

hộ tịch được xem là các sự kiện cơ bản, bởi các sự kiện này có thể làm phátsinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý của cá nhân

Theo điều 1, Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 (Nghị định

này thay thế cho NĐ số 83 ngày 10/10/1998) quy định:“Hộ tịch là những sự

kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khichết”

1 Quản lý nhà nước về hộ tịch:

1.1 Khái niệm quản lý nhà nước:

Khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng : Là hoạt động tổ chức, điều

Trang 12

hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức củaquyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp hành pháp và tư pháp Theocách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhànước quản lý, nhân dân lao động làm chủ Theo nghĩa hẹp, Quản lý nhà nướcchủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhànước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo phápluật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồngthời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chấtchấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộmáy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình Chẳng hạn ra quyết định thànhlập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khenthưởng, kỷ luật cán bộ,công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ Quản lýnhà nước theo nghĩa hẹp này còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chínhnhà nước.

1.2 Đặc điểm quản lý nhà nước về hộ tịch:

Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của mộtngười từ khi sinh ra đến khi chết; việc đăng ký hộ tịch là việc của cơ quan nhànước có thẩm quyền nhằm xác định các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi;giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ khẩu, hộtịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính, xác định nơi cư trú Đồng thời,căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi vào sổ hộ tịchcác việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; huỷ việc kết hôn tráipháp luật; chấm dứt việc nuôi con nuôi, thay đổi nơi ở Giấy tờ hộ tịch do cơquan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân theo quy định của pháp luật về

hộ tịch là căn cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ khẩu hộ tịch của cá nhân đó

2 Sự hình thành và phát triển của pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch:

2.1 Giai đoạn trước năm 1945 (thời kỳ phong kiến và thời Pháp thuộc)

Trang 13

Việc lập sổ đinh hay sổ gia phả dưới thời phong kiến ở nước ta chưa thểgọi là sổ hộ tịch, chỉ có thể xem đây là những dấu hiệu xuất hiện ban đầu có liênquan đến hộ tịch Bới các chứng thư này bị hạn chế nhiều mặt về nội dung vàđối tượng điều chỉnh; các việc dân sự (sinh, tử, kết hôn) chưa được chính thức

đề cập đến Sổ đinh với yêu cầu và mục đích phục vụ cho hoạt động binh dịch

và thuế khóa của triều đình; Sổ gia phả chỉ giới hạn trong các gia đình quyềnquý và các dòng tộc, chưa điều chỉnh các quan hệ xã hội rộng rãi trong xã hội

Dưới thời Pháp thuộc, với bản chất thống trị và nô dịch, thực dân Phápxây dựng hộ tịch nhằm phục vụ cho việc cai trị thuộc địa, chủ yếu đảm bảo thựchiện việc binh dịch, thuế khóa vả đặc biệt qua hộ tịch tiến hành các biện phápkiểm soát chặt chẽ dân tình để trấn áp lực lượng yêu nước đấu tranh giành độclập Do đó, ngay từ rất sớm hộ tịch đã được xây dựng thành Luật khắp cả 3miền: Bắc, Trung và Nam Quá trình thực hiện các văn bản này không ngừngđược củng cố, phát triển phù hợp với mục đích đăng ký và quản lý hộ tịch củachế độ Biểu hiện bằng việc quy định các chương mục rất cụ thể bởi các bộ Dânluật Bắc kỳ, Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật và Dân Luật giản yếu Nam kỳ Saumỗi giai đoạn thực hiện lại ban hành tiếp các văn bản dưới luật hoặc luật mới đểđiều chỉnh, bổ sung kịp thời theo yêu cầu của chính quyền thực dân Ngay cả BộHoàng Việt Trung kỳ hộ luật, các nội dung hộ tịch tuy được nhà vua ban hành,nhưng cũng phải phụ thuộc hoàn toàn vào ý chỉ cai tri của thực dân Pháp, cho dù

đó chỉ là những vẩn đề mang tính thủ tục hành chính Điều này thể hiện qua việcban hành 05 quyển của Bộ luật đều có Nghị định của toàn quyền Đông dươngduyệt y hoặc như tại Điều 18 chương I thiên thứ hai quy định "Các quan tỉnh,sau khi ý hiệp với quan công sứ, Có thể cho phép những xóm ở xa bản xã đượclập nhân thế bộ riêng"

Công tác đăng ký và quản lý hộ tịch về cơ bản được phân thành 2 chế độtrách nhiệm rõ ràng: cơ quan hành chính ở cơ sở (ủy ban hành chính cấp xã)chịu trách nhiệm đăng ký và quản lý bước đầu; các cơ quan tư pháp (tòa án, biệnlý) chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát và giải quyết các hậu quả phát sinh Điều

Trang 14

này thể hiện nguyên tắc chế ước được khai thác tối đa Nhân sự hộ tịch được bốtrí ổn định mang tính chuyên trách như hộ lại hay ủy viên hộ tịch Việc quản lý,

sử dụng sổ hộ tịch được quy định rất nghiêm ngặt gắn liền với trách nhiệm pháp

lý của người có thẩm quyền đăng ký và quản lý hộ tịch Quan hệ trách nhiệmtrong việc thông tin, điều chỉnh, bô sung nội dung hộ tịch cũng được quy định rõràng Hình thức về biểu mẫu, sổ hộ tịch được quy định rất chi tiết

Đặc biệt về chế tài hộ tịch quy định vô cùng khắt khe đối với những hành

vi vi phạm của cả người có trách nhiệm thực hiện đăng ký, quản lý lẫn người cónghĩa vụ phải khai báo đặng ký, nhất là người thực hiện đăng ký, quản lý, bấtchấp trình độ dân trí, điều kiện kinh tế, giao thông đi lại của người dân tronggiai đoạn đó Do xuất phát từ bản chất của chế độ, ngoài việc xử lý hành chínhvới mức phạt tiền rất cao so với thu nhập, chế tài hình sự được đưa trực tiếp luônvào các văn bản quy định hộ tịch (dù luật hình đã được quy định) Hầu hết.cáchành vi vi phạm về đăng ký và quản lý hộ tịch đều bị coi là trọng tội Chế tàihình sự chủ yếu quy định hình thức phạt tù và mức phạt có thể đến chung thân

Các quy định về hộ tịch của chế độ thuộc địa và tay sai tuy khá hoànthiện, nhưng trong thực tiễn việc áp dụng không được như mong muốn của họ

Do nhiều nguyên nhân trước hết là do bản chất của chế độ, việc đăng ký vàquản lý hộ tịch không.nhằm mục đích phục vụ nhân dân mà để thống tri; Đa sốngười dân chưa thấy được quyền lợi từ việc thực hiện hộ tịch, đã phải gánh chịunhiều nghĩa vụ từ những quy định hà khắc, không phù hợp với hoàn cảnh điềukiện sông của mình trong giai đoạn đó Chủ trương của những người khángchiến yêu nước, của cách mạng giải phóng dân tộc là bằng mọi cách phải lũngđoạn sự quản lý thống trị của thực dân xâm lược và của bộ máy tay sai vốn sẵnquan liêu, thi hành một cách máy móc Vấn đề khác mang tính đặc thù, xuyênsuốt không thể không đề cập đến, đó là chiến tranh ác liệt đã làm hạn chế không

ít việc đăng ký và quản lý hộ tịch của các chế độ trước đây

2.2 Giai đoạn từ nãm 1945 đến năm 1975

2.2.1 Quy định về hộ tịch của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Trang 15

Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã nhận thức đúng đắn về tầmquan trọng của công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, nhưng suốt một thời giandài từ 1945 đến 1975 đất nước ngập chìm trong chiến tranh bởi hai cuộc khángchiến giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước nên việc xây dựng và hoànthiện pháp luật về hộ tịch gần như không có sự chuyển biến đáng kể Việc quản

lý nhân thân con người trong giai đoạn này vừa phải đáp ứng được yêu cầu củađời sống xã hội; vừa phải đảm bảo phục vụ nhu cầu chiến tranh giải phóng, đảmbảo an ninh trật tự và an toàn xã hội Do đó trong thời kỳ này, ngoài việc quản lýcon người bằng hộ tịch, còn quản lý con người thông qua giải pháp hộ khẩu vàcác giải pháp khác

Tổ chức thực hiện.hộ khẩu chủ yếu tập trung cho ngành công an, chỉ phùhợp những yêu cầu nhất thời trong chiến tranh, không phù hợp trong thời bình

Có thể nói trong giai đoạn này, các quy định của Nhà nước Việt Nam dân chủcộng hòa thể hiện việc đăng ký và quản lý hộ tịch bằng biện pháp hành chínhđơn thuần tập trung ở đầu vào; tức là chỉ tập trung vào các cơ quan hành chính

có thẩm quyền !hực hiện việc đăng ký và quản lý hộ tịch, cơ quan tư pháp (tòa

án, kiểm sát) chỉ tham gia khi hậu quả phát sinh và có thể làm chuyển biến,chấm dứt hoặc tái lập một sự kiên hộ tịch phát sinh mới Về tổ chức nhân sự,Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa không quy định cơ chế chuyên trách hộtịch (như hộ lại hoặc ủy viên hộ tịch), chỉ quy định chung về người được phâncông phụ trách và cán bộ thực hiện Việc quản lý sổ bộ, kiêm tra, giám sát côngtác đăng ký và quản lý hộ tịch chủ yếu vẫn do hệ thống hành pháp thực hiện, trừtrường hợp Viện kiểm sát nhân dân thực hiện kiểm sát việc tuân thủ pháp luật

Do hoàn cảnh lịch sử, các quy định về thủ tục đăng ký và quản lý hộ tịchthời kỳ này còn quá đơn giản Quản lý, sử dụng sổ hộ tịch chưa thật rõ ràng.Trong đó, không quy định việc cấp lại bản chính các giấy tờ hộ tịch

Chế tài hộ tịch hầu như không có, bởi các quy định về chế tài chỉ mangtính nguyên tắc chung, thiếu quy định cụ thể để xác lập các hành vi vi phạm dẫnđến hệ quả người có thẩm quyền đăng ký và quản lý hộ tịch, thiếu tinh thần

Trang 16

trách nhiệm hoặc cố ý làm trái quy định, không được xử lý nghiêm túc; người cótrách nhiệm đi đăng ký mà không đăng ký hoặc khai gian dối nhưng không cócác biện pháp cần thiết để xử lý, ngoại trừ biện pháp giáo dục thuyết phục.

2.2.2 Quy định về hộ tịch của chế độ cũ ở miền Nam

Do xác định được vai trò và tầm quan trọng của hộ tịch cũng như yêu cầucai trị của mình, chế độ cũ không chỉ tiếp tục kế thừa hầu như toàn bộ các quyđịnh về đăng ký hộ tịch giai đoạn từ thời thuộc địa của thực dân Pháp để lại, màcòn quy định bổ sung một cách chặt chẽ hơn trong đó có những quy định vậndụng linh hoạt để đáp ứng trực tiếp yêu cầu của.chiến tranh, như các quy định vềkhai tử, khai sinh Việc quản lý, sử dụng sổ hộ tịch được quy định một cách chặtchẽ, gắn liền với trách nhiệm của người có thẩm quyền Thủ tục quy định cụ thể,

rõ ràng có bổ sung qua từng giai đoạn, dù đang trong tình trạng chiến tranh

Hệ thống tổ chức đăng ký và quản lý hộ tịch được xây dựng ổn định;trong đó có cơ quan hành chính thực hiện đầu vào, cơ quan tư pháp thực hiện tất

cả mọi hậu quả phát sinh, đồng thời thực hiện nguyên tắc chế ước giữa các cơquan này

Về nhân sự, hộ lại (ủy viên hộ tịch) được bố trí ổn định, mang tính chuyênnghiệp lâu bền

Chế tài hộ tịch được dự liệu rất cụ thể, áp dụng cho mọi đối tượng viphạm, cả bên đi đăng ký cũng như bên thực hiện đăng ký và quản lý hộ tịch

Các biện pháp chế tài như kỷ luật, hành chính, hình sự, dân sự được quyđịnh đầy đủ, nghiêm khắc, nhất là biện pháp xử phạt tiền và truy cứu tráchnhiệm hình sự

2.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay

Sau khi giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước mặc dù Nhà nước

có quan tâm đến hộ tịch nhưng những văn bản quy định về hộ tịch chủ yểu nhằm

để xây dựng, củng cố hệ thống tổ chức và thực hiện hộ tịch ở miền Nam Bản

Điều lệ hộ tịch năm 1961 vẫn tiếp tục được thi hành suốt một thời gian dài gần

40 năm, mãi cho đến 1998 mới ban hành Nghị định số 83/1998/NĐ-CP thay thế

Trang 17

Có thể nói giai đoạn từ sau giải phóng đến 1998, công tác hộ tịch chưa đượcquan tâm đúng mức Biểu hiện qua các vấn đề sau đây:

- Chưa ban hành văn bản quy phạm pháp luật thống nhất để kịp thời thaythế Bản điều lệ hộ tịch năm 1961 Các quy định trước đây về quản lý, sử dụng

hồ sơ, sổ hộ tịch chưa được chặt chẽ; các loại biểu mẫu hộ tịch chưa hợp lý Vấn

đề hộ tịch ở miền Nam có thể coi là đặc thù, bởi phần do chiến tranh hủy hoại,phần do chế độ cũ trước khi tan rã cố ý đốt phá, phần do trong chiến tranh cáchmạng chủ trương chống phá sự quản lý của chế độ cũ và phần khác do thiên tai,

lũ lụt tàn phá, hoặc do không được bảo quản tốt Những văn bản quy định vềđăng ký hộ tịch không bổ sung kịp thời, đầy đủ để chấn chỉnh lại Bản chínhgiấy tờ hộ tịch không được cấp lại nhưng trong thực tế các quan hệ thủ tục đềuđòi hỏi bản chính để đối chiếu

- Quan hệ hộ tịch có yếu tố nước ngoài gặp rất nhiều trở ngại, do thiếu cácvăn bản điều chỉnh, nhất là trong giai đoạn bước đầu của cải cách đổi mới, tiếnhành hội nhập; hầu như mỗi sự kiện hộ tịch phát sinh có yếu tố nước ngoài, đềuphải thỉnh thị ý kiến của cấp trên

- Nhận thức về hộ tịch của cán bộ thực hiện, của cơ quan quản lý chưađầy đủ xem công tác hộ tịch đơn giản như mọi "nghiệp vụ" hành chính khác,chưa thấy hết tính chất đặc thù của công tác hộ tịch Đối với người dân, do trình

độ hạn chế, hoàn cảnh sinh sống chưa ý thức được việc đăng ký hộ tịch khôngchỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền lợi thiết thực của mình

- Về nhân sự cho công tác hộ tịch vẫn chưa có cán bộ chuyên trách; cán

bộ thực hiện do nhiều nguyên nhân được điều động một cách tùy nghị theo cảmtính Việc phân công, phân cấp đăng ký và quản lý hộ tịch thiếu nhất quán, khithì ngành này khi thì ngành khác, hoặc khi thì cấp này khi thì cấp khác

Nghị định số 83/1998/NĐ-CP mở ra một bước ngoặc mới cho việc chấnchỉnh công tác hộ tịch; bổ sung và xóa bỏ một bước các thiếu sót và bất hợp lýtrên đây Tuy nhiên, Nghị định số 83/1998/NĐ-CP vẫn còn những hạn chế nhấtđịnh, trong đó chưa giải quyết thông thoáng được về thủ tục, phân cấp đăng ký

Trang 18

và quản lý, biểu mẫu hộ tịch chưa hợp lý Nghị định số 83/1998/NĐ-CP vẫncòn quy định rườm rà vả bất hợp lý, trái với Hiến pháp (quyền cơ bản của côngdân), trái với một số đạo luật khác (quyền nhân thân: con sinh ra là phải đăng kýkhai sinh); Ví dụ tại Điều 19 khoản 1 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP quy định

"Nếu có đủ các giấy tờ hợp lệ thì Chủ tịch UBND cấp xã ký và cấp ngay mộtbản chính giấy khai sinh " Lật ngược lại vấn đề nếu không có đủ các giấy tờhợp lệ, đương nhiên sẽ không được ký và cấp giấy khai sinh, trái với quy địnhcủa Bộ luật dân sự năm 1995 về quyền được khai sinh Nhân sự thực hiện hộtịch thiếu ổn định, không có chức danh chuyên trách như hộ lại hay uỷ viên hộtịch

Nghị định số 158/2005NĐ- CP đã giải quyết cơ bản các vấn đề vướngmắc trên đây Tuy vậy, cho đến nay chế tài hộ tịch vẫn chưa được quy định cụthể trừ Nghị định số 87/2001/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực hôn nhân gia đình Về nhận thức, với chủ trương nền hành chínhphục vụ nhân dân nói chung và hộ tịch nói riêng, tuy vậy trong nhiều trườnghợp, không ít các biểu hiện nhận thức thiếu đúng đắn, xem hộ tịch là một bộphận nghiệp vụ hành chính đơn thuần Tình trạng quan liêu, cửa quyền, tuỳ tiện,thiếu trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ hộ tịch còn khá phổ biến Đối vớinhân dân nhất là ở vùng sâu, vùng xa, người dân tộc thiểu số, trình độ dân trí và

ý thức pháp luật về hộ tịch còn hạn chế nhưng việc tuyên truyền, giáo dục, vậnđộng đăng ký hộ tịch không được tiến hành thường xuyên

3 Vị trí, vai trò quản lý nhà nước về hộ tịch

Trong xã hội hiện đại, khi quyền con người được nhận thức như một giátrị chung của nhân loại thì cùng với nó, hầu như tất cả các quốc gia đều nhậnthức đúng đắn về tầm quan trọng của việc quản lý hộ tịch Nếu như hoạt độngquản lý dân cư được coi là nội dung quan trọng hàng đầu trong quản lý xã hộithì quản lý hộ tịch được coi là một khâu nằm ở vị trí trung tâm của hoạt độngquản lý dân cư

Hoạt động quản lý hộ tịch là lĩnh vực thể hiện rõ nét chức năng xã hội của

Trang 19

Nhà nước Thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, quản lý hộ tịch là cơ sở để Nhà nước hoạch định chính sách

phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng,…và tổ chức thực hiện

có hiệu quả các chính sách đó Các dữ liệu hộ tịch được thống kê đầy đủ, chínhxác, được cập nhật kịp thời, thường xuyên và có hệ thống sẽ là nguồn “tài sản”hết sức quý giá hỗ trợ đắc lực cho việc hoạch định các chính sách phát triển kinh

tế - xã hội một cách chính xác, tiết kiệm chi phí xã hội

Thứ hai, hoạt động quản lý hộ tịch và đăng ký hộ tịch thể hiện tập trung

nhất, sinh động nhất sự tôn trọng của Nhà nước đối với việc thực hiện một sốquyền nhân thân cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong hiến pháp và Bộluật Dân sự hiện hành

Thứ ba, quản lý hộ tịch có vai trò to lớn đối với việc bảo đảm trật tự xã

hội Hệ thống Sổ hộ tịch có thể giúp việc truy nguyên nguồn gốc của cá nhânmột cách dễ dàng Sổ đăng ký hộ tịch do người có thẩm quyền lập và lưu trữtheo thủ tục chặt chẽ là sự khẳng định chính thức về mặt Nhà nước vị trí của một

cá nhân với tư cách là thành viên của gia đình và với tư cách là chủ thể xã hội

Quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyềncác cấp nhằm theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo

vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình Đồng thời, góp phần xâydựng chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng, dân số và kế hoạchhoá gia đình Mọi sự kiện hộ tịch phải được đăng ký kịp thời chính xác, mỗi một

sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký ở một nơi theo đúng thẩm quyền quy định Cơquan quản lý hộ tịch cấp trên phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn,chỉ đạo đối với cơ quan quản lý hộ tịch cấp dưới, trường hợp phát hiện thấy saiphạm phải chấn chỉnh và xử lý kịp thời

Khi tham gia vào các quan hệ xã hội như quyền được kết hôn khi côngdân đủ tuổi theo quy định, quyền được giám hộ, quyền được thừa kế đồng thờigóp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân

số, kế hoạch hóa gia đình

Trang 20

Cũng trên cơ sở theo dõi biến động về hộ tịch mà các cơ quan quản lý nhànước xây dựng chính sách phù hợp dựa trên dân số theo độ tuổi, giới tính nguồnnhân lực từ đó có phân tích đánh giá cụ thể làm cơ sở để hoạch định các chínhsách về phát triển kinh tế, văn hoá-xã hội, thể dục thể thao, xây dựng cơ sở y tế,trường học, bố trí giáo viên chăm sóc sức khoẻ trong nhân dân, đảm bảo cânbằng giới tính phục vụ an ninh quốc phòng, chăm sóc sức khoẻ trong nhândân

Trang 21

4 Pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch:

4.1 Khái niệm pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch:

Quản lý hộ tịch là một trong những hoạt động của quản lý Nhà nước,thông qua việc quản lý hộ khẩu, hộ tịch Nhà nước nắm được tình hình biếnđộng dân cư và sự biến động của xã hội, giúp Nhà nước có cơ sở khoa học đểxây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và trật tự antoàn xã hội và là cơ sở để hoạch định chính sách dân số và kế hoạch hoá giađình

4.2 Nội dung pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch

4.2.1 Đăng ký khai sinh:

Đăng ký khai sinh là biện pháp đầu tiên của quản lý hành chính nhà nướctrong lĩnh vực đăng ký hộ tịch Thông qua quản lý hành chính trong lĩnh vựcđăng ký khai sinh đã giúp cho Nhà nước theo dõi được sự biến động tự nhiêncủa dân số, từ đó, đề ra các chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi cảnước cũng như trong từng địa phương; mặt khác đăng ký khai sinh một cách đầy

đủ, chính xác là bảo vệ quyền của trẻ em được đăng ký khai sinh ngay từ khisinh ra theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế

a Thẩm quyền đăng ký khai sinh:

Uỷ ban nhân dân xă, phường, thị trấn (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấpxã), nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em; nếukhông xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi

cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh

Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ và ngườicha, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thựchiện việc đăng ký khai sinh

Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi được thực hiện tại Uỷ bannhân dân cấp xã, nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi có trụ

sở của tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó

b Thời hạn đi khai sinh và trách nhiệm khai sinh

Trang 22

Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đikhai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc nhữngngười thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em.

c.Thủ tục đăng ký khai sinh

Người đi đăng ký khai sinh phải nộp Giấy chứng sinh (theo mẫu quyđịnh) và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹcủa trẻ em có đăng kư kết hôn)

Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh rangoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận củangười làm chứng Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đikhai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực

Trong trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân củacha mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn

Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổđăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã

ký và cấp cho người đi khai sinh một bản chính Giấy khai sinh Bản sao Giấykhai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh

Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác địnhđược người cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấykhai sinh để trống Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con,thì Uỷ ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khaisinh

d Thẩm quyền, thủ tục đăng ký khai sinh quá hạn

Những trường hợp sinh chưa được đăng ký trong thời hạn theo đúng quyđịnh của pháp luật (60 ngày) thì phải đăng kýtheo thủ tục quá hạn Người cótrách nhiệm đi đăng ký khai sinh mà không theo đúng thời hạn đã quy định màkhông có lý do chính đáng sẽ bị xử phạt hành chính chính theo quy định củapháp luật

e Thẩm quyền đăng ký khai sinh quá hạn

Trang 23

Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có thẩm quyền đăng ký khai sinh ban đầuthực hiện việc đăng ký khai sinh quá hạn.

Trong trường hợp người đã thành niên đăng ký khai sinh quá hạn chomình, thì có thể đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có thẩm quyền đăng kýkhai sinh ban đầu hoặc tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi người đó cư trú

f Thủ tục đăng ký khai sinh quá hạn

Người đi đăng ký khai sinh quá hạn phải nộp các giấy tờ theo quy địnhnhư trường hợp đăng kư khai sinh lần đầu tiên

Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng kýkhai sinh và bản chính Giấy khai sinh Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký vàcấp cho người đi đăng kư một bản chính Giấy khai sinh Trong cột ghi chú của

Sổ đăng kư khai sinh phải ghi rõ “Đăng ký quá hạn” Trường hợp cần phải xácminh, thì thời hạn xác minh không quá 5 ngày

Khi đăng ký khai sinh quá hạn cho người đă có hồ sơ, giấy tờ cá nhânnhư: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịchcán bộ, lý lịch đảng viên, mà trong các hồ sơ, giấy tờ đó đă có sự thống nhất về

họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán, thì đăng

ký đúng theo nội dung đó Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh;dân tộc; quốc tịch; quê quán trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đókhông thống nhất thì đăng ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên Trongtrường hợp địa danh đă có thay đổi, thì phần khai về quê quán được ghi theo địadanh hiện tại

g Thẩm quyền, thủ tục đăng ký lại khai sinh

Những trường hợp sinh trước đây đă được đăng ký nhưng sổ hộ tịch vàbản chính giấy tờ hộ tịch đă bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được, thì đượcđăng ký lại để tạo điều kiện cho đương sự khi có nhu cầu sử dụng Giấy khai sinh

và đáp ứng yêu cầu quản lý của nhà nước

Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đương sự cư trú hoặc nơi đă đăng ký việcsinh trước đây thực hiện việc đăng ký lại

Trang 24

Khi đăng ký lại việc sinh nếu người đi đăng ký lại xuất trình bản sao giấy

tờ đã cấp hợp lệ trước đây, thì nội dung khai sinh được ghi theo nội dung củabản sao giấy tờ hộ tịch đó

Trường hợp đăng ký lại việc sinh cho người không có bản sao Giấy khaisinh đã cấp trước đây, nhưng đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộ khẩu, Giấychứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên,

mà trong các hồ sơ giấy tờ đó đă có sự thống nhất về họ, tên, chữ đệm; ngày,tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán, thì đăng ký đúng theo nội dung

đó Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quêquán trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đó không thống nhất thì đăng

ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên Trong trường hợp địa danh đă có thayđổi, th́ phần khai về quê quán được ghi theo địa danh hiện tại

4.2.2 Đăng ký kết hôn

Quyền kết hôn là một trong những quyền đầu tiên trong lĩnh vực hôn nhân

và gia đình của mỗi con người Từ đó phát sinh ra những quan hệ pháp lý giữa

vợ, chồng, cha, mẹ, con, giữa ông bà nội, ngoại và cháu

Từ xưa đến nay, quan hệ hôn nhân thường chỉ phát sinh trong phạm vilàng xã hoặc quận, huyện liền kề hoặc trong phạm vi của một quốc gia Ngàynay, do nhu cầu giao lưu kinh tế, xã hội nên các quan hệ hôn nhân đã vượt rangoài phạm vi địa hạt của một xã, huyện, tỉnh, thậm chí là quốc gia Do vậy, nếunghiên cứu đầy đủ về chế độ hôn nhân, phải nghiên cứu các mối quan hệ hônnhân không những phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà còn phảinghiên cứu cả những quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

a Thẩm quyền đăng ký kết hôn

Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiệnviệc đăng kư kết hôn

Trong trường hợp cả hai bên nam, nữ là công dân Việt Nam đang trongthời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, đăcắt hộ khẩu thường trú ở trong nước, thì việc đăng ký kết hôn được thực hiện

Trang 25

tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú trước khi xuất cảnh của một trong hai bênnam, nữ.

Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nướcngoài về nước đăng ký kết hôn, th́ phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao,Lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người đó

Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì thủtrưởng đơn vị của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân

Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào

Tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quyđịnh tại chương V của Nghị định 158/2005/NĐ-CP

Việc xác nhận t́nh trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xác nhận.Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy haibên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và giađình, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ Trongtrường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm khôngquá 5 ngày

Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải có mặt Đại diện Uỷ ban nhândân cấp xã yêu cầu hai bên cho biết muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng

ý kết hôn, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứngnhận kết hôn Hai bên nam, nữ ký vào Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ đăng kýkết hôn, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên vợ, chồng mộtbản chính Giấy chứng nhận kết hôn, giải thích cho hai bên về quyền và nghĩa vụcủa vợ, chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình Bản sao Giấy chứng

Trang 26

nhận kết hôn được cấp theo yêu cầu của vợ, chồng.

4.2.3 Đăng ký khai tử

Đăng ký khai tử là một trong những lĩnh vực quản lý của nhà nước ta vềđăng ký hộ tịch nhằm theo dõi sự biến động tự nhiên dân số Đăng ký khai tử làviệc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện chết của một người và ghivào Sổ đăng ký khai tử Trên cơ sở đó, chấm dứt quan hệ của người đó đối với giađình, xã hội đồng thời phát sinh quyền và nghĩa vụ của thân nhân người chết

Mục đích của việc đăng ký khai tử là nhằm giúp nhà nước theo dõi sựbiến động tự nhiên về dân số, tạo cơ sở xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, xãhội, an ninh, quốc phòng và các chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình

a Thẩm quyền đăng ký khai tử

Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiệnviệc đăng ký khai tử

Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của ngườichết, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi người đó chết thực hiện việc đăng kýkhaitử

b Thời hạn đi khai tử và trách nhiệm khai tử

Thời hạn đi khai tử là 15 ngày, kể từ ngày chết

Thân nhân của người chết có trách nhiệm đi khai tử; nếu người chết không

có thân nhân, thì chủ nhà hoặc người có trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức,nơi người đó cư trú hoặc công tác trước khi chết đi khai tử

d Thẩm quyền, thủ tục đăng ký khai tử quá hạn:

Trang 27

Thẩm quyền đăng ký khai tử quá hạn

Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có thẩm quyền đăng ký khai tử theo quy địnhcủa Nghị định 158 thực hiện việc đăng ký khai tử quá hạn

Thủ tục đăng ký khai tử quá hạn

Người đi đăng ký khai tử quá hạn phải nộp các giấy tờ theo quy định.Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng kýkhai tử và bản chính Giấy chứng tử Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấpcho người đi đăng ký một bản chính Giấy chứng tử Trong cột ghi chú của Sổđăng ký khai tử phải ghi rõ “Đăng ký quá hạn” Trường hợp cần phải xác minh,th́ thời hạn xác minh không quá 5 ngày

e Thẩm quyền, thủ tục đăng ký lại việc tử:

Thẩm quyền đăng ký lại việc tử:

Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đương sự cư trú hoặc nơi đă đăng ký việcsinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi trước đây thực hiện việc đăng ký lại

Thủ tục đăng ký lại việc tử:

Người có yêu cầu đăng ký lại việc tử phải nộp Tờ khai (theo mẫu quyđịnh)

Trong trường hợp đăng ký lại tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, không phải nơiđương sự đã đăng ký hộ tịch trước đây, thì Tờ khai phải có xác nhận của Uỷ bannhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký hộ tịch về việc đã đăng ký; trừ trường hợpđương sự xuất trình được bản sao giấy tờ hộ khẩu, hộ tịch đã cấp hợp lệ trướcđây

Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp

hộ tịch ghi vào sổ hộ tịch theo từng loại việc và bản chính Giấy khai sinh, Giấychứng tử, Giấy chứng nhận kết hôn hoặc Quyết định công nhận việc nuôi connuôi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho người đi đăng ký một bảnchính giấy tờ hộ tịch theo từng loại việc Các giấy tờ hộ tịch cũ liên quan đến sựkiện hộ tịch đăng ký lại (nếu có) được thu hồi và lưu hồ sơ Trong cột ghi chúcủa sổ hộ tịch và dưới tiêu đề của bản chính giấy tờ hộ tịch phải ghi rõ “Đăng ký

Trang 28

lại” Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêmkhông quá 5 ngày.

4.2.4 Đăng ký nuôi con nuôi

Nuôi con nuôi là một việc làm nhân đạo mang tính xă hội cao, mục đíchcủa việc đăng ký nhận nuôi con nuôi là nhằm đem lại lợi ích tốt nhất, tìm mái

ấm gia đình cho trẻ em khi trẻ em đó không nhận được sự chăm sóc, nuôi dưỡng

từ cha mẹ, họ hàng hay người thân thích Việc nuôi con nuôi nhằm gắn bó t́nhcảm giữa người nuôi và con nuôi trong quan hệ cha mẹ và con cái, bảo đảmquyền được chăm sóc, nuôi dạy cho người con nuôi chưa thành niên Việc nuôicon nuôi chỉ có giá trị pháp lý khi đă được đăng ký lại tại cơ quan nhà nước cóthẩm quyền, mọi h́nh thức nuôi con nuôi trên thực tế không được pháp luật côngnhận

a Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi

Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người nhận con nuôi thực hiệnđăng ký việc nuôi con nuôi

Trong trường hợp trẻ bị bỏ rơi được nhận làm con nuôi, th́ Uỷ ban nhândân cấp xă, nơi lập biên bản xác nhận t́nh trạng trẻ bị bỏ rơi đăng ký việc nuôicon nuôi; nếu trẻ em đó đă được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng, thì Uỷ ban nhân dâncấp xã, nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng đăng ký việc nuôi con nuôi

b Hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi

Hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi gồm có:

Giấy thoả thuận về việc cho và nhận con nuôi (theo mẫu quy định)

Bản sao Giấy khai sinh của người được nhận làm con nuôi

3.3 Ghi chép sổ hộ tịch và biểu mẫu hộ tịch

Sổ đăng ký hộ tịch là tài sản của nhà nước, là tài liệu gốc và cũng là căn

cứ pháp lý để phục vụ cho công tác tra cứu, sao lục, cấp giấy tờ chứng nhận vềtình trạng nhân thân của cá nhân khi cần thiết, do đó phải được lưu trữ, bảo quảnlâu dài Thực hiện quy định tại Nghị định số 83/1998/NĐ-CP, việc lưu sổ hộ tịch

ở địa phương trong thời kỳ này đã cải tiến một bước đáng kể Cùng với việc

Trang 29

triển khai thi hành Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, việc ghi sổ kép và lưu sổcũng được triển khai và thực hiện nghiêm túc hơn, nội dung trong sổ được viết

rõ ràng, sạch sẽ, ít sai sót hơn; việc sửa chữa sai sót cũng đã được thực hiện theođúng hướng dẫn Địa phương đã đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho việc lưu sổ

3.2.1 Nguyên tắc ghi chép sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch

Trong thực tế, không ít trường hợp cán bộ Tư pháp - Hộ tịch đã để ngườidân (người đi đăng ký hộ tịch) tự ghi vào biểu mẫu hộ tịch, đặc biệt là bản saoGiấy khai sinh (vì khi đi đăng ký khai sinh người dân thường yêu cầu cấp nhiềubản sao) Việc để người dân tự ghi vào biểu mẫu hộ tịch đã dẫn đến việc viết tắt,viết thiếu nét, tẩy xóa, thậm chí sai lệch nội dung so với bản chính và sổ gốc Mặt khác, có những trường hợp cán bộ Tư pháp - Hộ tịch để trống trang trong sổ

hộ tịch, hoặc để trống phần ghi về số, quyển sô trong biểu mẫu hộ tịch Đểkhắc phục tình trạng nêu trên, Điều 68 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP đã quyđịnh:

- Khi đăng ký hộ tịch, cán bộ Tư pháp - Hộ tịch phải tự mình ghi vào sổ

hộ tịch và biểu mẫu hộ tịch; nội dung ghi phải chính xác; chữ viết phải rõ ràng,

đủ nét, không viết tắt, không tẩy xóa;

- Sổ hộ tịch phải viết liên tiếp theo thứ tự từng trang, không được bỏtrống, phải đóng dấu giáp lai từ trang đầu đến trang cuối sổ;

- Số đăng ký trong sổ hộ tịch được ghi liên tục từ số 01 cho đến hết năm.Đối với sổ hộ tịch được sử dụng tiếp cho năm sau, thì số thứ tự của năm sau sẽbắt đầu từ số 01, không lấy số thứ tự tiếp theo của năm trước Với những trườnghợp sử dụng sổ thứ hai, thứ ba trong cùng một năm, thì số thứ tự của sổ tiếp

Trang 30

theo sẽ là số thứ tự tiếp theo của sổ trước đó;

- Số ghi trong biểu mẫu, hộ tịch là số tương ứng với số thứ tự ghi trong sổ

hộ tịch

Khi đăng ký hộ tịch, cán bộ Tư pháp - Hộ tịch tự viết vào bản chính giấy

tờ hộ tịch; không đánh máy hoặc in qua máy theo phần mềm hộ tịch đã được càiđặt

Đối với trường hợp cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch, thì đượcđánh máy hoặc in qua máy theo phần mềm hộ tịch đã được cài đặt

Trang 31

3.2.2 Sửa chữa sai sót do ghi chép

Nghị định số 83/1998/NĐ-CP không quy định về cách thức sửa chữa saisót khi đăng ký (vấn đề này chỉ được hướng dẫn trong cách sử dụng sổ đăng ký

hộ tịch); do đó, trong thực tế, còn không ít trường hợp cán bộ Tư pháp - Hộ tịchdùng bút phủ để sửa chữa sai sót hoặc chữa đè lên chữ cũ, không thực hiện việcđóng dấu vào chỗ đã sửa chữa Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định vấn đềnày như sau:

- Trong khi đăng ký, nếu có sai sót do ghi chép trong sổ hộ tịch, thì cán bộ

Tư pháp - Hộ tịch phải trực tiếp gạch bỏ phần sai sót, viết lại xuống dòng phíadưới, không được chữa đè lên chữ cũ, không được tẩy xóa để viết lại Cột ghichú của sổ hộ tịch phải ghi rõ nội dung sửa; họ, tên, chữ ký của người đã sửa vàngày, tháng, năm sửa chữa Cán bộ Tư pháp - Hộ tịch đóng dấu vào phần đã sửa.Nếu có sai sót trong các giấy tờ hộ tịch, thì hủy giấy tờ hộ tịch đó và viết lại giấy

ký vào sổ hộ tịch và lưu sổ hộ tịch được quy định như sau:

- Mỗi loại việc hộ tịch phải được đăng ký vào 2 quyển sổ (đăng ký kép), 1quyển lưu tại UBND xã, nơi đăng ký hộ tịch; 1 quyển chuyển lưu tại UBNDhuyện;

Ngày đăng: 03/08/2016, 16:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu trên cho thấy: nếu như số trường hợp đăng ký khai sinh quá  hạn của xã Hùng Mỹ năm 2012 là 12 trường hợp thì đến năm 2013 giảm xuống - Báo cáo thực tập tốt nghiệp: Quản lý hộ tịch tại uỷ ban nhân dân xã Hùng Hỹ  Chiêm Hóa – Tuyên Quang
Bảng s ố liệu trên cho thấy: nếu như số trường hợp đăng ký khai sinh quá hạn của xã Hùng Mỹ năm 2012 là 12 trường hợp thì đến năm 2013 giảm xuống (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w