Nội dung nghiên cứu - Tên luận văn: “Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” - Bố cục luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
********************
PH
PHẠM THM THM THỊ THU H THU H THU HƯƠNG
ĐỀ TÀI ĐỀ TÀI
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH
TỐN QUỐC TẾ TẠI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH TỐN QUỐC TẾ TẠI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính- Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS.BÙI KIM YẾN
TP HCM
TP HCM –––– 2009 2009 2009
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên : Phạm Thị Thu Hương, là tác giả luận văn thạc sỹ có tựa đề “ Giải
pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại hệ thống Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Tôi xin cam đoan rằng luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi
-dựa trên kiến thức được học, sưu tầm, tổng hợp từ thực tế và tài liệu tham
khảo.Không sao chép công trình nghiên cứu của người khác
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về pháp luật đối với luận văn của mình
CÁC TỪ VIẾT TẮT ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Trang
Hình 1.1(a,b)-Quy trình thanh toán tín dụng chứng từ 16,17
Hình 2.1- Mạng lưới hoạt động của BIDV từ năm 2004-2008 31
Hình 2.2- Mô hình tổ chức toàn hệ thống BIDV 32
Bảng 2.1- So sánh tình hình tài chính 2007-2008 33
Hình 2.3- Tổng tài sản BIDV qua các năm 34
Hình 2.4- Tăng trưởng thu dịch vụ ròng 35
Bảng 2.2- So sánh kết quả hoạt động kinh doanh dịch vụ 2007-2008 36
Hình 2.5- Tăng trưởng tín dụng qua các năm 36
Hình 2.6-Cơ cấu tín dụng theo ngành nghề 37
Hình 2.7- Cơ cấu danh mục đầu tư 37
Hình 2.8- Vốn chủ sở hữu qua các năm 39
Hình 2.9- Lợi nhuận trước thuế qua các năm 41
Hình 2.10- Các mặt hàng xuất khẩu với giá trị lớn 44
Hình 2.11- Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu 46
Hình 2.12-Doanh số thanh toán quốc tế qua các năm 48
Bảng 2.3-Tốc độ tăng doanh số thanh toán quốc tế qua các năm 48
Hình 2.13- Doanh số chuyển tiền quốc tế đi và đến 49
Bảng 2.4- Doanh số chuyển tiền quốc tế đi và đến 2007-2008 49
Hình 2.14- Tỷ trọng doanh số thanh toán XNK năm 2007-2008 50
Bảng 2.5- Thu phí dịch vụ thanh toán quốc tế năm 2007-2008 51
Hình 2.15- cơ cấu thu phí dịch vụ thanh toán quốc tế năm 2008 52
Bảng 3.1- Bảng phân công trách nhiệm của từng bộ phận trong mô hình quản lý rủi ro 74
MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Mục tiêu nghiên cứu 2
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6.Những điểm nổi bật của luận văn 3
7.Nội dung nghiên cứu 4
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ (TTQT) TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 Tổng quan về thanh toán quốc tế 5
1.1.1 Khái niệm thanh toán quốc tế 5
1.1.2 Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế đối với ngân hàng thương mại 6
1.2.Các phương thức thanh toán quốc tế 6
1.2.1 Phương thức chuyển tiền- remittance 6
1.2.1.1.Khái niệm 7
1.2.1.2.Quy trình tiến hành nghiệp vụ 7
1.2.2.Phương thức ghi sổ- open account 9
1.2.3.Phương thức nhờ thu- payment collection 9
1.2.3.1.Nhờ thu trơn-clean collection 9
1.2.3.2.Nhờ thu kèm chứng từ- documentary collection 11
1.2.4.Phương thức tín dụng chứng từ-documentary credit 13
1.2.4.1.Khái niệm 13
1.2.4.2.Quy trình tiến hành nghiệp vụ 13
Trang 41.2.4.3.Quyền lợi và nghĩa vụ chủ yếu của các bên tham gia 17
1.2.4.4.Ưu nhược điểm của phương thức tín dụng chứng từ 20
1.2.5.Phương thức thanh toán CAD( Cash Against Documents) 24
1.2.5.1.Khái niệm 24
1.2 5.2.Quy trình tiến hành nghiệp vụ 24
1.3.Hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế26 1.3.1.Luật và công ước quốc tế 26
1.3.2.Các nguồn luật quốc gia 27
1.3.3.Thông lệ và tập quán quốc tế 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 29
2.1.Giới thiệu về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam(BIDV) 29
2.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển 29
2.1.1.1.Thời kỳ 1957-1980 29
2.1.1.2.Thời kỳ 1981-1989 29
2.1.1.3.Thời kỳ 1990-1994 29
2.1.1.4 Thời kỳ từ 01/01/1995 30
2.1.1.5 Thời kỳ 1996- nay 30
2.1.2.Tình hình hoạt động kinh doanh của BIDV đến năm 2008 33
2.2.Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam 43
2.2.1.Đánh giá chung 43
2.2.2.Xuất khẩu 43
2.2.3.Nhập khẩu 45
2.3.Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế tại BIDV 47
2.3.1.Tình hình hoạt động thanh toán quốc tế tại BIDV đến năm 2008 47
2.3.3 Những rủi ro được gặp phải trong hoạt động thanh toán quốc tế tại các chi nhánh trong hệ thống BIDV 52
2.3.2.1.Trong phương thức tín dụng nhập khẩu 52
2.3.2.2.Trong phương thức tín dụng xuất khẩu 56
2.3.2.3.Trong phương thức nhờ thu 58
2.3.2.4.Trong phương thức chuyển tiền 60
2.4.Một số hạn chế trong hoạt động thanh toán quốc tế của BIDV và nguyên nhân tồn tại 61
2.4.1.Một số hạn chế trong hoạt động thanh toán quốc tế 61
2.4.2.Nguyên nhân tồn tại của các hạn chế trong hoạt động thanh toán quốc tế 63
2.4.2.1.Nguyên nhân chủ quan 63
2.4.2.2.Nguyên nhân khách quan 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA HỆ THỐNG BIDV 67
3.1.Định hướng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của BIDV 67
3.1.1.Chiến lược phát triển hoạt động kinh doanh của hệ thống BIDV 67
3.1.2.Định hướng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của BIDV 68
3.2.Những giải pháp nhằm phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại BIDV 69
3.2.1 Nâng cấp, áp dụng công nghệ thông tin tiên tiến nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu của thời đại 69
3.2.2.Xây dựng chiến lược marketing và tăng cường chính sách khách hàng 69
Trang 53.2.3.Tập trung đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hoạt động TTQT71
3.2.4 Xây dựng mô hình quản lý rủi ro trong thanh toán quốc tế 72
3.2.5.Giải pháp cơ cấu lại mô hình tổ chức và tăng cường quản trị
Trước yêu cầu đó, ngành Tài chính ngân hàng cũng vào cuộc, mà biểu hiện đầu tiên là sự gia tăng không ngừng về mạng lưới hoạt động Nhất là kể
từ sau 01-04-2007, ngân hàng nước ngoài có thể thành lập ngân hàng con với 100% vốn đầu tư nước ngoài theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam Điều
đó có nghĩa là thị phần trên thị trường Việt Nam đã phân chia xong, muốn giữ tốc độ tăng trưởng 22-25% (trung bình ngành), các ngân hàng phải liên kết cạnh tranh với nhau để phát triển, đồng thời đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của mình
Ngày nay các ngân hàng hiện đại hoạt động đa năng nhằm tăng thu nhập không những từ các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống, mà ngày càng
mở rộng các nghiệp vụ ngoại bảng như kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc
tế, bảo lãnh… Các hoạt động ngoại bảng mang lại thu nhập cho ngân hàng dưới dạng phí ngày một tăng không những về mặt số lượng mà cả tỷ trọng Trong số các nghiệp vụ ngoại bảng, thì thanh toán quốc tế đối với các NHTM
Trang 6Việt Nam là nghiệp vụ quan trọng nhất, có tốc độ tăng trưởng mạnh, mang lại
cho ngân hàng khoản thu phí đáng kể Thông qua nghiệp vụ thanh toán quốc
tế để chấp nối phát triển các nghiệp vụ khác như mua bán ngoại tệ, bảo lãnh,
tài trợ xuất nhập khẩu(XNK), mở rộng quan hệ tàikhoản, tín dụng…Do đó,
nghiệp vụ thanh toán quốc tế có thể được xem là nghiệp vụ ngoại bảng đặc
trưng cho các NHTM Việt Nam ngày nay
Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống các nội dung và từ đó
đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả và phát triển hoạt động thanh toán
quốc tế là một nhu cầu khách quan và hợp với quy luật đối với tất cả các
NHTM nói chung và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói riêng
trong tiến trình phát triển đi lên và hội nhập quốc tế Đề tài với tiêu đề “Giải
pháp phát triển hoạt động Thanh toán quốc tế tại hệ thống Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Việt Nam ” hy vọng sẽ giải quyết các yêu cầu của vấn đề đặt
ra
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản sau:
- Trình bày tổng quan về vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế trong hoạt
động kinh tế hiện nay, giới thiệu về các phương thức thanh toán quốc tế và
các văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu quốc tế
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế tại hệ thống
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, từ đó đúc kết ra những thành quả
đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại
này
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị để khắc phục những tồn tại và hạn chế
từ đó phát triển hoạt động thanh toán tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động thanh toán quốc tế trong toàn hệ thống BIDV
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam giai đoạn 2005-2008
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Luận văn dựa trên việc phân tích hoạt động thanh toán quốc tế tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam từ đó đúc kết ra những thành quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại này Kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đây cùng với những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế của bản thân
và đồng nghiệp, tác giả hy vọng những đề xuất, kiến nghị của mình là những giải pháp hiệu quả được Ban lãnh đạo Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam quan tâm và ứng dụng trong việc phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp : thống kê, tổng hợp, phân tích tình hình thực tế để đưa ra được những hạn chế và nguyên nhân tồn tại những hạn chế đó
6 Những điểm nổi bật của luận văn
- Hệ thống hóa đầy đủ lý luận, thực tiễn và phân tích, đánh giá các rủi ro liên quan đến những phương thức thanh toán quốc tế trong bối cảnh nền kinh
tế hội nhập
- Đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động thanh toán quốc tế phù hợp với đường lối phát triển kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta
Trang 7- Ngoài ra, nhờ việc tìm hiểu những hạn chế và nguyên nhân tồn tại
những hạn chế trong các phương thức thanh toán quốc tế mà ta sẽ phát triển
thêm nghiệp vụ tàitrợ xuất nhập khẩu, cũng được xem là một trong những
nghiệp vụ tiềm năng cần chú trọng và mở rộng phát triển trong điều kiện nền
kinh tế hội nhập hiện nay
7 Nội dung nghiên cứu
- Tên luận văn: “Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại hệ
thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”
- Bố cục luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày
gói gọn trong 3 chương sau:
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC THANH
TOÁN QUỐC TẾ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ
TẠI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN
QUỐC TẾ TẠI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ (TTQT) TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 1.1.Tổng quan về thanh toán quốc tế:
1.1.1.Khái niệm thanh toán quốc tế
Quan hệ quốc tế giữa các nước bao gồm nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa, khoa học kỹ thuật…Trong đó quan hệ kinh tế (mà chủ yếu là ngoại thương) chiếm vị trí chủ đạo, là cơ sở cho các quan hệ quốc tế khác tồn tại và phát triển Quá trình tiến hành các hoạt động quốc tế dẫn đến những nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau, từ đó hình thành và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế, trong đó, ngân hàng là cầu nối trung gian giữa các bên
Từ phân tích trên ta đi đến kết luận: Thanh toán quốc tế là việc thực
hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với
tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan
Từ khái niệm trên cho thấy, thanh toán quốc tế phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế Tuy nhiên, trong thực tế giữa hai lĩnh vực hoạt động này thường giao thoa với nhau, không có một ranh giới rõ rệt Hơn nữa, do hoạt động thanh toán quốc tế được hình thành trên cơ sở hoạt động ngoại thương và phục vụ chủ yếu cho hoạt động ngoại thương Chính vì vậy, trong các quy chế về thanh toán và thực tế tại các ngân hàng thương mại( NHTM), người ta thường phân hoạt động thanh toán quốc tế thành hai lĩnh vực rõ ràng: Thanh toán trong ngoại thương( hay gọi theo cách cũ là thanh toán mậu dịch) và thanh toán phi ngoại thương (tức thanh toán phi mậu dịch)
Trang 8Theo như khái niệm trên thì ta thấy, phạm vi thanh toán quốc tế rất
rộng Vì vậy, đề tài chỉ đề cập đến TTQT trong ngoại thương, hay nói cách
khác là TTQT trong hoạt động kinh tế
TTQT trong hoat động kinh tế là việc thực hiện thanh toán trên cơ sở
hàng hóa xuất nhập khẩu và cung ứng các dịch vụ thương mại cho nước ngoài
theo giá cả thị trường quốc tế Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh
toán cho nhau là hợp đồng ngoại thương
1.1.2.Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế đối với ngân hàng thương
mại
Trong xu thế hội nhập và phát triển không ngừng của Việt Nam, hoạt
động thanh toán quốc tế là hoạt động đóng vài trò vô cùng quan trọng, mang
tính chất quyết định đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương
mại.Thật vậy, trong xu thế hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập WTo, giao
thương rộng rãi với thế giới, thì nhu cầu thanh toán quốc tế là điều tất yếu Nó
đem lại nguồn thu đáng kể không những về số lượng tuyệt đối mà cả về tỷ
trọng Thanh toán quốc tế còn đóng vai trò mắc xích quan trọng trong việc
chắp nối và thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng
như kinh doanh ngoại tệ, tài trợ xuất nhập khẩu, tín dụng, bảo lãnh thanh toán,
tăng cường nguồn vốn huy động, đặc biệt là vốn bằng ngoại tệ Do đó, hoàn
thiện và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế là việc hết sức quan trọng đối
với các ngân hàng thương mại Đó không phải là một loại hình dịch vụ thanh
toán thuần túy mà còn là khâu trung tâm không thể thiếu trong dây chuyền
hoạt động kinh doanh,bổ sung và hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh khác
của ngân hàng
1.2.Các phương thức thanh toán quốc tế
1.2.1.Phương thức chuyển tiền-remittance
1.2.1.1.Khái niệm Phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán đơn giản nhất, trong đó một khách hàng (người trả tiền, người mua, người nhập khẩu) yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi (người bán, người xuất khẩu, người nhận tiền) ở một địa điểm xác định và trong một thời gian nhất định
Trong phương thức này gồm có các bên liên quan sau đây:
- Người phát hành lệnh chuyển tiền :Là người mua, tổ chức nhập khẩu, hay người mắc nợ
- Ngân hàng nhận thực hiện việc chuyển tiền (Ngân hàng nơi đơn vị chuyển tiền mở tài khoản tiền gởi ngoại tệ)
- Ngân hàng chi trả chuyển tiền là Ngân hàng đại lý của Ngân hàng chuyển tiền phục vụ cho người thụ hưởng
- Người nhận chuyển tiền : Là người bán, tổ chức xuất khẩu, hay người chủ
nợ
1.2.1.2.Quy trình tiến hành nghiệp vụ Bước 1: sau khi thoả thuận đi đến hợp đồng mua bán ngoại thương thanh toán theo phương thức chuyển tiền, nhà xuất khẩu thực hiện cung ứng hàng hóa, dịch vụ căn cứ vào sự thỏa thuận trong hợp đồng cho nhà nhập khẩu đồng thời chuyển giao toàn bộ chứng từ (vận đơn, hóa đơn, chứng từ hàng hóa và chứng từ có liên quan) cho nhà nhập khẩu
Bước 2: Nhà nhập khẩu sau khi kiểm tra chứng từ ,hóa đơn nếu chấp nhận thì viết lệnh chuyển tiền gửi đến Ngân hàng phục vụ mình, trong đó phải ghi rõ ràng và đầy đủ những nội dung theo quy định
Trang 9Bước 3: Sau khi kiểm tra nếu hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, Ngân
hàng sẽ trích tài khoản của đơn vị để chuyển tiền và gởi giấy báo nợ, giấy báo
đã thanh toán cho đơn vị nhập khẩu
Bước 4: Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh bằng M/T (mail transfer) hay
T/T (telegraphic transfer) hay SWIFT cho Ngân hàng đại lý ở nước ngoài
chuyển trả cho người nhận tiền
Bước 5: Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người được hưởng (trực tiếp
hoặc gián tiếp qua Ngân hàng khác) và gởi giấy báo có cho đơn vị thụ hưởng
+ Đặc điểm
- Trong phương thức thanh toán chuyển tiền, Ngân hàng chỉ đóng vai trò
trung gian thực hiện việc chuyển tiền nhận hoa hồng chứ không bị ràng buộc
gì cả
Có hai loại hình thức thỏa thuận chuyển tiền
- Chuyển tiền trả trước: Nhà nhập khẩu phải chuyển tiền trả tiền cho nhà xuất
khẩu trước khi nhà xuất khẩu giao hàng Ở hình thức này, rủi ro thuộc về nhà
nhập khẩu.Sau khi chuyển tiền xong, việc giao hàng có đúng thời hạn hay
không, chất lượng và số lượng hàng hóa có đúng như thỏa thuận hay không
phụ thuộc vào thiện chí của nhà xuất khẩu
- Chuyển tiền trả sau: Là nhà xuất khẩu phải giao hàng trước khi nhà nhập
khẩu chuyển tiền Ở hình thức này, việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí và
khả năng của nhà nhập khẩu Do đó, quyền lợi của nhà xuất khẩu không đảm
bảo
Vì vậy những lý do được nói ở trên nên phương thức này ít được sử dụng
Người ta chỉ áp dụng phương thức này trong thanh toán các khoản tương đối
nhỏ như thanh toán các khoản chi phí liên quan đến xuất nhập khẩu, chi phí
vận chuyển, bảo hiểm, bồi thường thiệt hại hoặc dùng trong thanh toán phi mậu dịch, chuyển vốn, chuyển lợi nhuận đầu tư về nước….hoặc hai bên xuất nhập khẩu có quan hệ mua bán lâu đời, tín nhiệm lẫn nhau
-Ở phương thức này thủ tục đơn giản, thời gian thanh toán nhanh, chi phí thấp
1.2.2.Phương thức ghi sổ-open account
Phương thức ghi sổ là phương thức thanh toán mà trong đó tổ chức xuất khẩu khi xuất khẩu hàng hóa, cung ứng dịch vụ thì ghi nợ cho bên nhập khẩu vào một cuốn sổ riêng của mình Và việc thanh toán các khoản nợ này được thực hiện trong thời kỳ nhất định (hàng tháng, quý)
+ Đặc điểm Phương thức thanh toán đơn giản, chỉ có hai bên: người bán và người mua tham gia thanh toán, ngân hàng không tham gia với chức năng mở tài khoản để thực thi thanh toán, chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên Nếu người mua mở tài khoản để ghi thì tài khoản ấy chỉ là tài khoản theo dõi, không có giá trị thanh quyết toán giữa hai bên
Phương thức này chỉ có lợi cho người mua
Khi thực hiện phương thức này, tức là tổ chức xuất khẩu đã lợi dụng một tín dụng thương mại.Thông thường phương thức này chỉ áp dụng trong thanh toán giữa hai đơn vị quan hệ thường xuyên và tin cậy lẫn nhau
1.2.3.Phương thức nhờ thu- payment collection
1.2.3.1 nhờ thu trơn (clean collection) Nhờ thu trơn là phương thức nhờ thu trong đó nhà xuất khẩu sau khi giao hàng cho nhà nhập khẩu, chỉ ký phát tờ hối phiếu (hoặc nhờ thu tờ sec)
Trang 10đòi tiền nhànhập khẩu và yêu cầu Ngân hàng thu số tiền ghi trên tờ hối phiếu
đó mà không kèm theo một điều kiện nào của việc trả tiền
Bước 1: căn cứ vào hợp đồng mua bán ngoại thương, nhà xuất khẩu
giao hàng cho nhà nhập khẩu đồng thời gởi thẳng BCT cho nhà nhập khẩu để
nhận hàng
Bước 2: Trên cơ sở giao hàng và chứng từ hàng hóa gởi bên nhập khẩu,
tổ chức xuất khẩu ký phát hối phiếu, gởi đến ngân hàng phục vụ mình để nhờ
thu hộ tiền
Bước 3: Ngân hàng ủy thác gởi thư ủy nhiệm kèm theo hối phiếu của
nhà xuất khẩu sang ngân hàng đại lý tại nước nhập khẩu để nhờ thu hộ
Bước 4: Ngân hàng đại lý gởi hối phiếu cho nhà nhập khẩu theo đúng
địa chỉ ghi trên hối phiếu để yêu cầu thanh toán
Bước 5: Sau khi kiểm tra, đối chiếu hối phiếu với bộ chứng từ và hợp
đồng, nếu thấy hợp lý nhà nhập khẩu sẽ ra lệnh.cho ngân hàng phục vụ mình
thanh toán (trường hợp hợp đồng trả tiền ngay) hoặc ký chấp nhận lên hối
phiếu (hối phiếu có kỳ hạn) Trường hợp không hợp lý nhà nhập khẩu sẽ
không thanh toán
Bước 6: Ngân hàng đại lý thực hiện bút toán chuyển tiền và gởi báo có
hoặc hối phiếu đã chấp nhận về ngân hàng ủy thác bên xuất khẩu hoặc thông
báo về sự từ chối thanh toán của bên nhập khẩu
Bước 7: Ngân hàng uỷ thác thu ghi có và báo có cho nhà xuất khẩu
hoặc thông báo cho nhà xuất khẩu biết việc nhà nhập khẩu từ chối thanh toán
+Đặc điểm:
Ở phương thức này, không đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu vì
việc thanh toán hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn của người nhập khẩu Ngân
hàng chỉ đóng vai trò trung gian đơn thuần, thu được hay không ngân hàng cũng thu thủ tục phí, ngân hàng không chịu trách nhiệm nếu bên nhập khẩu không thanh toán Vì vậy, chỉ áp dụng phương thức này trong trường hợp hai bên mua bán tin cậy lẫn nhau hoàn toàn hoặc dùng để thanh toán giá trị xuất khẩu nhỏ, cước phí vận tải, bảo hiểm, hoa hồng, lợi tức
1.2.3.2 Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary - collection) Nhờ thu kèm chứng từ là phương thức nhờ thu mà trong đó nhà xuất khẩu sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hay cung ứng dịch vụ nhờ ngân hàng thu hộ tiền từ tổ chức nhập khẩu không chỉ căn cứ vào hối phiếu
mà còn căn cứ vào bộ chứng từ (BCT) hàng hóa gởi kèm theo hối phiếu với điều kiện nếu tổ chức nhập khẩu đồng ý trả tiền hoặc chấp nhận lên hối phiếu thì Ngân hàng mới giao BCT hàng hoá cho tổ chức nhập khẩu để nhận hàng Bước 1 : Căn cứ vào hợp đồng mua bán ngoại thương được ký kết giữa hai đơn vị, tổ chức xuất khẩu thực hiện nghiệp vụ giao hàng sang nước nhập khẩu
Bước 2: Trên cơ sở giao hàng, tổ chức xuất khẩu ký phát hối phiếu đòi tiền tổ chức nhập khẩu kèm theo bộ chứng từ hàng hóa gửi đến ngân hàng phục vụ mình để nhờ thu hồi (Remitting bank)
Bước 3: Ngân hàng nhờ thu gởi hối phiếu, bộ chứng từ hàng hóa kèm theo chỉ thị nhờ thu gởi ngân hàng đại lý nước nhập khẩu để nhờ thu hộ tiền Nếu không đồng ý thu hộ thì phải thông báo ngay bằng FAX, TELEX, hay SWIFT
Bước 4: Ngân hàng nhờ thu giữ lại bộ chứng từ, gởi hối phiếu và bản sao chứng từ cho tổ chức nhập khẩu
Trang 11Bước 5 : Đơn vị nhập khẩu kiểm tra hối phiếu và bản sao chứng từ ,đối
chiếu với hợp đồng mà quyết định đồng ý hay từ chối thanh toán Nếu đồng ý
thì có hai trường hợp sau :
- Nếu nhờ thu trả tiền ngay (D/P - Documents against payment) thì tổ chức
nhập khẩu phải trả tiền thanh toán ngay, ngân hàng mới giao bộ chứng từ gốc
để nhận hàng
- Nếu là nhờ thu chấp nhận trả tiền theo chứng từ (D/A - Documents against
acceptance) thì tổ chức nhập khẩu chỉ cần ký chấp nhận lên hối phiếu, ngân
hàng sẽ giao bộ chứng từ
Bước 6 : Ngân hàng đại lý chuyển giao chứng từ hàng hoá cho tổ chức
nhập khẩu để nhận hàng ( ngân hàng đã nhận được sự đồng ý thanh toán)
Bước 7 : Ngân hàng đại lý thực hiện các bút toán chuyển tiền và gởi
báo có hoặc hối phiếu đã chấp nhận về ngân hàng nhờ thu bên xuất khẩu hoặc
thông báo về sự từ chối thanh toán của tổ chức nhập khẩu
Bước 8 : Ngân hàng tiến hành thanh toán cho tổ chức xuất khẩu hoặc chuyển
hối phiếu đã chấp nhận hoặc thông báo về sự từ chối thanh toán của bên nhập
khẩu
+ Đặc điểm:
So với phương thức nhờ thu trơn thì nhờ thu kèm chứng từ quyền lợi
của tổ chức xuất khẩu được đảm bảo hơn, vì ngân hàng đã thay mặt người bán
khống chế chứng từ Tuy vậy phương thức này còn những bất lợi cho nhà
xuất khẩu như :
- Thời gian thanh toán vẫn chậm nên vốn của nhà xuất khẩu vẫn ứ đọng Vì
vậy, rủi ro cho nhà xuất khẩu vẫn lớn hơn
- Nhà nhập khẩu có thể từ chối không nhận chứng từ vì lý do nào đó như giá hàng đã hạ xuống chẳng hạn Tuy quyền sở hữu về hàng hóa vẫn thuộc về người bán, song hàng đã gởi đi rồi, giải quyết tiêu thụ là cả một vấn đề nan giải
1.2.4 Phương thức tín dụng chứng từ-documentary credit
1.2.4.1.Khái niệm
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận mà trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) đáp ứng những yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết hay cho phép ngân hàng khác chi trả hoặc chấp nhận những yêu cầu của người hưởng lợi khi những điều kiện quy định trong thư tín dụng được thực hiện đúng và đầy đủ 1.2.4.2.Quy trình tiến hành nghiệp vụ
Các đối tượng có liên quan đến phương thức thanh toán tín dụng chứng từ:
- Người mở thư tín dụng(Applicant) : Là người mua, nhà nhập khẩu
- Ngân hàng mở thư tín dụng( Issuing bank ) : là ngân hàng đại diện của nhà nhập khẩu, sẵn sàng cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu
- Người hưởng lợi(Beneficiary) : Người bán, nhà xuất khẩu hay một người bất kỳ do người hưởng lợi chỉ định
- Ngân hàng thông báo thư tín dụng (Advising bank) : Là ngân hàng có nhiệm vụ thông báo L/C cho nhà xuất khẩu, thường là ngân hàng đại lý cho ngân hàng mở L/C ở nước người hưởng lợi
Ngoài ra còn có các ngân hàng sau tham gia :
- Ngân hàng xác nhận(confirming bank): Là một ngân hàng khác xác nhận L/C có trách nhiệm thanh toán cho người hưởng lợi trong trường hợp
Trang 12ngân hàng mở L/C không đủ khả năng thanh toán Ngân hàng xác nhận có thể
là ngân hàng thông báo L/C hay một ngân hàng bất kỳ do người hưởng lợi
yêu cầu, thường là ngân hàng lớn, có uy tín trên thị trường quốc tế
- Ngân hàng thanh toán(Paying bank): Là ngân hàng được ngân hàng
mở L/C chỉ định thanh toán, chấp nhận thanh toán cho người hưởng lợi hay
chiết khấu hối phiếu
- Ngân hàng chiết khấu (Negotiating bank): Là ngân hàng được uỷ
quyền chiết khấu, trả tiền hoặc thanh toán cả chừng từ
Bước 1 : Căn cứ vào hợp đồng mua bán đã ký kết, nhà nhập khẩu làm
đơn xin mở L/C gởi đến ngân hàng phục vụ mình yêu cầu mở L/C cho nhà
xuất khẩu hưởng
Bước 2 : Căn cứ vào yêu cầu nội dung mở L/C, ngân hàng mở L/C xem
xét nếu thấy hợp lý sẽ phát hành L/C thông qua ngân hàng đại lý của mình ở
nước nhà xuất khẩu thông báo việc mở L/C và chuyển bản gốc L/C đến nhà
xuất khẩu Thông thường ngân hàng phát hành ba bản gốc (1 bản gởi cho nhà
nhập khẩu , 1 bản gởi cho ngân hàng thông báo để chuyển đến tay nhà xuất
khẩu, còn 1 bản lưu giữ ở ngân hàng mở L/C) Ngân hàng có thể phát hành
L/C bằng thư, Telex, thông qua hệ thống SWIFT
Bước 3 : Ngân hàng thông báo kiểm tra tính chân thật bề ngoài của L/C
và thông báo cho nhà xuất khẩu toàn bộ nội dung về việc mở L/C đó, chuyển
bản gốc L/C cho nhà xuất khẩu Ngân hàng thông báo không chịu trách nhiệm
nội dung L/C Trong trường hợp ngân hàng thông báo không kiểm tra được
tính chân thật của L/C thì phải thông báo cho nhà xuất khẩu là chưa kiểm tra
tính chân thật bề ngoài của L/C và lưu ý với nhà xuất khẩu những điều khoản
mơ hồ không rõ ràng cần phải bổ sung điều chỉnh L/C cho phù hợp
Bước 4 : Nhà xuất khẩu kiểm tra nội dung của L/C , nếu đồng ý thì tiến hành giao hàng, nếu không đồng ý thì đề nghị ngân hàng mở L/C điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với hợp đồng
Bước 5 : Sau khi giao hàng , nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ thanh toán theo yêu cầu của thư tín dụng xuất trình cho Ngân hàng thông báo Nhà xuất khẩu lập bản kê chứng từ và yêu cầu thanh toán kèm bộ chứng từ nộp vào Ngân hàng thông báo
Bước 6 : Ngân hàng thông báo sẽ kiểm tra trên bề mặt chứng từ một cách cẩn thận và hợp lý Sau khi kiểm tra, nếu bộ chứng từ không phù hợp với những điều khoản, điều kiện đã ghi trong L/C thì yêu cầu nhà xuất khẩu sửa đổi bổ sung cho phù hợp Nếu bộ chứng từ phù hợp với L/C thì chuyển tiếp
bộ chứng từ cho Ngân hàng mở L/C Thời gian kiểm tra chứng từ và chuyển
bộ chứng từ cho Ngân hàng thông báo là hai ngày làm việc
Bước 7 : Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với những điều kiện và điều khoản đã ghi trong L/C thì tiến hành trả tiền cho nhà xuất khẩu ( nếu L/C trả ngay ) hoặc chấp nhận hối phiếu do nhà xuất khẩu ký thác (L/C trả chậm) Nếu thấy không phù hợp thì Ngân hàng từ chối thanh toán và gởi trả lại toàn bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu Thời gian kiểm tra tại ngân hàng mở L/C là 7 ngày làm việc Nếu quá 7 ngày mà không có thông báo gì về phía Ngân hàng mở thì đương nhiên coi như Ngân hàng đồng ý thanh toán Trong trường hợp bộ chứng từ không phù hợp thì Ngân hàng mở
có quyền từ chối thanh toán nhưng phải có nhiệm vụ thông báo cho nhà xuất khẩu bằng phương tiện nhanh nhất và nêu lý do từ chối thanh toán về những bất hợp lý của bộ chứng từ
Bước 8 : Ngân hàng mở L/C đòi tiền nhà nhập khẩu và chuyển bộ chứng
từ cho nhà nhập khẩu
Trang 13Bước 9 : Nhà nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ nếu thấy phù hợp với
những điều khoản, điều kiện đã ghi trong L/C thì hoàn trả lại tiền cho ngân
hàng mở L/C, nếu thấy không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền Trong
trường hợp này thì tuỳ từng tình huống mà ngân hàng mở L/C sẽ giải quyết
Cơ sở pháp lý để giải quyết sự tranh chấp này là đơn xin mở L/C
Hình1.1 Quy trình thanh toán tín dụng chứng từ
+ Đặc điểm:
Trong phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng không chỉ là người
trung gian thu hộ, chi hộ mà còn là người đại diện bên nhập khẩu thanh toán
tiền hàng cho bên xuất khẩu Ngân hàng đảm bảo cho tổ chức xuất khẩu nhận
được khoản tiền tương ứng với hàng hóa mà họ đã cung ứng, đồng thời đảm
bảo cho tổ chức nhập khẩu nhận được số lượng, chất lượng hàng hóa tương
ứng với số tiền mà mình phải thanh toán
Cụ thể
- Khi mở thư tín dụng thì tổ chức nhập khẩu phải ký quỹ tại ngân hàng
để đảm bảo thanh toán, tránh trường hợp người mua nhận hàng mà không
thanh toán tiền cho người bán
- Người bán sau khi giao hàng đầy đủ lập bộ chứng từ hoàn chỉnh nộp
về cho ngân hàng mới được thanh toán, tránh trường hợp nhận tiền mà không
giao hàng
Hình (b)
Với những ưu điểm trên, phương thức tín dụng chứng từ khắc phục được những hạn chế của phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu Không giới hạn phạm vi sử dụng trong mối quan hệ thân quen, uy tín giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu, trị giá lô hàng nhỏ, và đã trở thành phương thức thanh toán hữu hiệu và an toàn nhất trong các phương thức thanh toán quốc tế
1.2.4.3.Quyền lợi và nghĩa vụ chủ yếu của các bên tham gia + Đơn vị xin mở thư tín dụng :
Là đơn vị nhập khẩu Khi viết đơn xin mở thư tín dụng, đơn vị cần chú ý:
- Viết đúng nội dung theo mẫu đơn xin mở thư tín dụng do ngân hàng mở L/C ấn hành, ràng buộc đơn vị xuất khẩu cụ thể trong thư tín dụng, làm thế nào để vừa đảm bảo quyền lợi vừa để bên xuất khẩu có thể chấp nhận được
Trang 14- Viết đơn mở L/C, đơn vị phải tôn trọng những điều khoản trên hợp đồng
tránh tình trạng mâu thuẫn, trái ngược nhau Tuy nhiên khi cần thiết cũng có
thể điều chỉnh, thay đổi một số nội dung đã ký trên hợp đồng
+ Ngân hàng mở L/C
- Phải trả tiền hoặc làm cho việc trả tiền được tiến hành nếu là L/C trả
ngay
- Phải trả tiền vào ngày xác định theo quy định của L/C nếu là L/C trả sau
- Nếu thư tín dụng được thực hiện bằng chiết khấu phải trả tiền các hối
phiếu trả tiền ngay hoặc hối phiếu kỳ hạn do người hưởng lợi ký phát cho
người mở thư tín dụng, hoặc cho bất kỳ người bị ký phát nào khác ghi trong
thư tín dụng không phải là bản thân Ngân hàng mở mà không được truy đòi
hoặc bảo đảm một ngân hàng khác tiến hành chiết khấu không được thực hiện
thì phải tiến hành như trên
Như vậy Ngân hàng mở thư tín dụng trong mọi trường hợp phải hoàn
thành trách nhiệm của mình trong việc thanh toán Ngoài ra Ngân hàng mở
thư tín dụng sẽ bị ràng buộc không thể huỷ ngang bởi các tu chỉnh được phát
hành bởi chính họ từ lúc phát hành các tu chỉnh như vậy
+ Người hưởng lợi L/C :
Khi nhận được L/C, người hưởng lợi L/C phải đọc kỹ nội dung để đảm
bảo chắc chắn rằng các điều khoản, điều kiện ghi trong đó đúng theo yêu cầu
của mình, nếu người thụ hưởng không tiến hành đúng một điều khoản nào của
thư tín dụng, phải liên hệ ngay lập tức với người mua để thu xếp việc tu chỉnh
với ngân hàng mở L/C Nếu cần thông báo đề nghị tu chỉnh phải gởi bằng
điện tín cho người nhập khẩu trước khi gởi hàng đi Nếu việc này không được
tiến hành nhanh chóng sẽ xảy ra chậm trễ và phụ phí của việc tiến hành thanh
toán có thể bị khước từ toàn bộ khi các chứng từ được xuất trình cho ngân hàng giao dịch
+ Ngân hàng thông báo Khi nhận được điện báo của ngân hàng mở L/C, Ngân hàng thông báo sẽ chuyển toàn bộ nội dung của L/C đã nhận cho đơn vị xuất khẩu dưới hình thức văn bản Ngân hàng thông báo chỉ chịu trách nhiệm chuyển nguyên văn bức điện đó chứ không chịu trách nhiệm phiên dịch, diễn giải các từ chuyên môn ra tiếng địa phương Nếu ngân hàng thông báo sai nội dung ngân hàng đã nhận thì ngân hàng phải chịu trách nhiệm Trong cước thư xác nhận điện báo
mở L/C bao giờ cũng có câu : "please note we assume no responsibility far any error and/ or omission in the transmissionn and/or translation of the cable" Khi nhận được chứng từ thanh toán của đơn vị xuất khẩu chuyển tới, Ngân hàng sau khi kiểm tra chứng từ và yêu cầu nhà xuất khẩu sửa đổi nếu có sai sót, phải chuyển ngay và chuyển nguyên vẹn bộ chứng từ đó tới ngân hàng
mở L/C, ngân hàng không chịu trách nhiệm về những hậu quả phát sinh do chậm trễ, mất mát chứng từ mở L/C Miễn là chứng minh mình đã gởi nguyên vẹn và đúng bộ chứng từ đó qua Bưu điện
+ Ngân hàng xác nhận Ngân hàng xác nhận thường là một ngân hàng lớn có uy tín trên thị trường tín dụng và tài chính quốc tế
Việc Ngân hàng mở L/C nhờ một ngân hàng khác làm xác nhận cho mình
sẽ làm giảm uy tín của ngân hàng mở L/C Muốn xác nhận, Ngân hàng mở L/C phải trả một khoảng thủ tục phí rất cao và đôi khi cần phải đặt trước (Cash over), đôi khi đặt trước lên đến 100% trị giá của L/C (full cash over) Ngân hàng xác nhận có thể xác nhận cho một tu chỉnh và sẽ bị ràng buộc không thể huỷ ngang từ lúc thông báo tu chỉnh đến Tuy nhiên Ngân hàng xác
Trang 15nhận có thể lựa chọn để thông báo cho người thụ hưởng mà không cần thêm
sự xác nhận nào và nếu như vậy phải thông báo cho Ngân hàng phát hành và
người thụ hưởng ngay
+ Ngân hàng trả tiền
Ngân hàng trả tiền là ngân hàng khác do ngân hàng mở L/C uỷ nhiệm
Nếu địa điểm trả tiền tại nước xuất khẩu thì Ngân hàng trả tiền thường là ngân
hàng thông báo
Trách nhiệm ngân hàng trả tiền giống như ngân hàng mở L/C khi nhận
được bộ chứng từ thanh toán
1.2.4.4 Ưu-nhược điểm của phương thức tín dụng chứng từ
Ưu điểm:
• Đối với người xuất khẩu
- Tín dụng chứng từ tạo nên một căn cứ xác định của Ngân hàng phát
hành về việc thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu bất chấp tình trạng tài
chính của người nhập, nếu bộ chứng từ phù hợp với điều kiện, điều khoản đã
ghi trong thư tín dụng
- Trong trường hợp thư tín dụng không thể huỷ ngang, Cả nhà nhập
khẩu lẫn ngân hàng phát hành đều không thể xem xét lại, sửa đổi hay huỷ bỏ
trừ khi được sự chấp thuận của người xuất khẩu
- Trong trường hợp thư tín dụng trả ngay, người xuất khẩu sẽ thu được
tiền thanh toán ngay sau khi xuất trình bộ chứng từ phù hợp với điều kiện
điều khoản của thư tín dụng
- Trong trường hợp thư tín dụng có xác nhận, người xuất khẩu không
phải lo lắng về tình hình tài chính của người nhập khẩu hay sự ổn định kinh tế
chính trị của quốc gia nước nhập khẩu vì người xuất khẩu có thể đảm bảo được thanh toán từ ngân hàng xác nhận
- Trong phương thức tín dụng chứng từ việc thanh toán hàng hóa không
lệ thuộc vào người nhập khẩu ngay cả khi người nhập khẩu muốn trì hoãn hoặc ngăn cản việc thanh toán thì người xuất khẩu vẫn có thể được thanh toán nếu bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện điều khoản của thư tín dụng
- Trong trường hợp thư tín dụng trả chậm hoặc có thời hạn, người xuất khẩu vẫn có thể nhận được tiền thanh toán trước bằng cách chiết khấu bộ chứng từ với ngân hàng của mình.Đây là một ưu điểm mà các phương thức thanh toán quốc tế khác không có
- Đặc biệt, với sự linh động của phương thức tín dụng chứng từ, người xuất khẩu có thể yêu cầu Ngân hàng phát hành mở một loại thư tín dụng phù hợp với điều kiện hiện tại của mình như :
+ Người xuất khẩu yêu cầu người nhập khẩu phát hành loại thư tín dụng điều khoản đỏ để được ứng trước tiền để sản xuất, mua hàng xuất khẩu + Nếu nhà xuất khẩu là trung gian thì có thể yêu cầu nhà nhập khẩu mở thư tín dụng có thể chuyển nhượng được hay thư tín dụng giáp lưng tạo thuận lợi cho người cung ứng thật sự của mình
Điều này làm cho phương thức tin dụng chứng từ có ưu điểm nổi bật hơn hẳn so với các phương thức thanh toán khác như phương thức nhờ thu, phương thức chuyển tiền v v
• Đối với người nhập khẩu
- Phương thức tín dụng chứng từ đã tạo cho người nhập khẩu cảm giác yên tâm rằng người xuất khẩu sẽ tuân thủ theo những điều khoản, điều kiện
Trang 16của thư tín dụng bởi vì nếu người xuất khẩu không thực hiện đúng theo thư
tín dụng thì người nhập khẩu có thể từ chối thanh toán
- Sự linh động của phương thức tín dụng chứng từ cũng tạo nhiều thuận
lợi cho người xuất khẩu như :
+ Nếu tình hình tài chính không cho phép người nhập khẩu thanh toán
ngay khi nhận hàng hóa thì họ có thể thương lượng với người xuất khẩu để
mở thư tín dụng dưới dạng trả chậm hoặc thanh toán theo thời hạn
+ Nếu người nhập khẩu nhập các mặt hàng cố định, thường xuyên, theo
định kỳ thì người nhập khẩu có thể thương lượng với người xuất khẩu để mở
thư tín dụng tuần hoàn nhằm giảm bớt chi phí mở thư tín dụng
+ Để đảm bảo quyền lợi cho mình, người nhập khẩu có thể yêu cầu
người xuất khẩu mở một thư tín dụng dự phòng trong đó quy định nếu người
xuất khẩu không thực hiện hợp đồng thì ngân hàng mở thư tín dụng dự phòng
phải thanh toán tiền đền bù thiệt hại cho người nhập khẩu
• Đối với ngân hàng
- Phương thức tín dụng chứng từ là một nghiệp vụ quan trọng trong hoạt
động của một ngân hàng Nghiệp vụ này đem lại khả năng sinh lãi và thu
nhập tích luỹ cho các ngân hàng như :
+ Lợi nhuận ngoại hối khi người nhập khẩu thanh toán bằng ngoại tệ
mạnh (USD) và người xuất khẩu nhận bản tệ (VND)
+ Tiền lãi thu được do việc tài trợ thương mại Ví dụ như các khoản cho
vay nhập khẩu hoặc cho người xuất khẩu vay để sản xuất thu mua hàng xuất
khẩu
+ Các phí dịch vụ nhận được như phí mở thư tín dụng, phí thông báo,
phí xác nhận , phí sửa đổi thư tín dụng
+ Mở rộng và hoàn thiện nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng như nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, tài trợ cho vay xuất nhập khẩu, bảo lãnh… Nhược điểm
Phương thức tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán quốc tế phổ biến nhất hiện nay Tuy vậy, nó cũng có những bất lợi như sau :
• Đối với người xuất khẩu
- Người xuất khẩu phải có sự hiểu biết tốt về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Vì nếu có sự không nhất quán hoặc không đáp ứng một số điều khoản, điều kiện của thư tín dụng thì người xuất khẩu có thể không đảm bảo được thanh toán, hoặc có thể bị trì hoãn thanh toán
- Trong thư tín dụng có thể huỷ ngang, người xuất khẩu phải đối phó với những rủi ro nghiêm trọng vì thư tín dụng có thể được xem xét lại, sửa đổi hay hủy bỏ bất cứ lúc nào mà không cần thông báo trước
- Trong thư tín dụng không thể hủy ngang, chỉ có ngân hàng phát hành bảo lãnh thanh toán Nếu ngân hàng này mất khả năng thanh toán hoặc quốc gia của người nhập khẩu áp đặt những hạn chế đối với mặt hàng nhập khẩu thì người xuất khẩu có thể gặp rủi ro không được thanh toán hoặc thanh toán chậm
• Đối với người nhập khẩu
- Trong thư tín dụng không thể hủy ngang, người nhập khẩu không thể xem xét, sửa đổi lại hay hủy bỏ nó trừ khi có sự chấp thuận của người xuất khẩu
- Nếu người xuất khẩu cố tình lừa đảo, anh ta có thể gởi hàng khuyết điểm, kém chất lượng, hàng bỏ đi và xuất trình những chứng từ hoàn toàn tuân thủ theo những điều khoản, điều kiện của thư tín dụng để được thanh
Trang 17toán Khi người nhập khẩu khám phá ra sự thật thì thanh toán đã được tiến
hành vì trong phương thức tín dụng chứng từ quy định là tất cả các bên đều
giao dịch trên chứng từ
• Đối với ngân hàng
- Ngân hàng phát hành có thể bị rủi ro vì cam kết trả tiền cho nhà xuất
khẩu nếu họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với các điều khoản, điều kiện của
thư tín dụng ngay cả khi người nhập khẩu không có khả năng trả tiền cho
ngân hàng
- Đối với ngân hàng chiết khấu bộ chứng từ có thể xảy ra rủi ro về bộ
chứng từ giả mạo tức là người xuất khẩu thực chất không giao hàng nhưng
vẫn lập bộ chứng từ giả nhằm đánh lừa ngân hàng để vay vốn
- Ngoài ra, ngân hàng thông báo có thể gặp rủi ro kỹ thuật do những sai
sót không phát hiện được qua kiểm tra chứng từ, dẫn đến hậu quả là chứng từ
bị trả lại bởi ngân hàng phát hành Rủi ro này đối với tất cả các ngân hàng dù
có xác nhận hay không xác nhận đều như nhau
1.2.5.Phương thức thanh toán CAD (Cash against documents)
1.2.5.1 Khái niệm
CAD(cash against documents) là phương thức thanh toán trong đó nhà
nhập khẩu yêu cầu ngân hàng mở tài khoản ký thác (Trust account) để thanh
toán tiền cho nhà xuất khẩu, khi nhà xuất khẩu trình đầy đủ những chứng từ
theo yêu cầu Nhà nhập khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sẽ xuất
trình bộ chứng từ cho ngân hàng để nhận tiền thanh toán
1.2.5.2.Quy trình tiến hành nghiệp vụ
Bước 1 : Sau khi ký hợp đồng mua bán ngoại thương với nhà xuất khẩu
(trong đó điều khoản phương thức thanh toán được quy định sử dụng là
CAD), nhà nhập khẩu đến ngân hàng phục vụ mình yêu cầu thực hiện dịch vụ CAD Để làm được điều đó, nhà nhập khẩu và ngân hàng sẽ thoả thuận và ký một bản ghi nhớ (Memorandum) gồm những nội dung sau:
- Phương thức thanh toán (means of payment) :CAD
- Số tiền ký quỹ (Pledged Amount) trị giá 100% thương vụ
- Những chứng từ yêu cầu (required documents)
- Phí dịch vụ (commission) Sau khi nhà nhập khẩu chuyển đầy đủ số tiền ký quỹ, một tài khoản ký thác (Trust account) sẽ được mở để ghi số tiền ký quỹ, đồng thời ngân hàng cũng thông báo cho người xuất khẩu về việc tài khoản ký thác đã hoạt động Bước 2: Nhà xuất khẩu giao hàng cho người vận tải để chuyển tới nơi nhà nhập khẩu yêu cầu
Bước 3: Nhà xuất khẩu sau khi tiến hành giao hàng thì xuất trình những chứng từ mà memorandum yêu cầu tại ngân hàng
Bước 4: Ngân hàng tiến hành kiểm tra chứng từ theo yêu cầu của memorandum, nếu thấy phù hợp thì ghi có cho nhà xuất khẩu và ghi nợ tài khoản ký quỹ của nhà nhập khẩu sau khi đã thu phí nghiệp vụ ngân hàng theo chỉ thị trong memorandum
Bước 5: Ngân hàng giao chứng từ lại cho nhà nhập khẩu + Đặc điểm:
Trong phương thức này, phần lợi nghiêng về nhà xuất khẩu hơn vì sau khi giao hàng xong là lấy được tiền ngay, vì chỉ khi nhà nhập khẩu chuyển đủ tiền ký quỹ, thì ngân hàng mới thông báo cho nhà xuất khẩu giao hàng Hơn nữa, BCT xuất trình đơn giản hơn vì ngân hàng thanh toán cho nhà xuất khẩu
Trang 18chủ yếu căn cứ vào loại chứng từ xuất trình chứ không kiểm tra nội dung của
từng chứng từ như phương thức tín dụng chứng từ
Vì vậy, rủi ro nhiều nghiêng về nhà nhập khẩu Do đó, phương thức
này chỉ áp dụng trong trường hợp nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu có quan hệ
mua bán tốt, tin tưởng lẫn nhau Đặc biệt, nhà nhập khẩu phải tin tưởng nhà
xuất khẩu và mua bán những hàng hóa khan hiếm, bán chạy trên thị trường
nhà xuất khẩu
1.3.Hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế
Để điều chỉnh các quan hệ trong nước, mỗi nước phải xây dựng cho
mình một hệ thống pháp luật riêng phù hợp với thể chế chính trị, xã hội, tập
quán và trình độ phát triển.Chính vì vậy, luật pháp giữa các nước thường là
khác nhau.Tuy nhiên, khi tham gia các hoạt động quốc tế, các nước đều bình
đẳng với nhau nên không thể dùng luật pháp của một nước nào đó áp đặt buộc
các nước khác phải theo.Để giải quyết vấn đề mâu thuẫn luật pháp giữa các
nước trong quan hệ quốc tế, người ta đã xây dựng một hệ thống luật pháp
thống nhất mang tính quốc tế để điều chỉnh các hoạt động quốc tế, trong đó có
hoạt động thanh toán quốc tế Sau đây là những văn bản chủ yếu điều chỉnh
hoạt động thanh toán quốc tế theo tính chất pháp lý giảm dần:
1.3.1.Luật và công ước quốc tế
- Công ước Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán quốc tế(United
nations convention on contracts for the international sale of goods-Wien
convention 1980)
- Công ước Geneve 1930 về luật thống nhất về hối phiếu (Uniform Law
for Bill of Exchange-ULB 1930)
- Công ước Liên hợp quốc về hối phiếu và lệnh phiếu quốc tế (International Bill of Exchange and International Promissory Note-UN convention 1980)
- Công ước Geneve 1931 về séc quốc tế(Geneve conventions for cheque 1931)
- Các nguồn luật và Công ước quốc tế về vận tải và bảo hiểm
- Các hiệp định song phương và đa phương…
1.3.2.Các nguồn luật quốc gia
- Bộ luật dân sự
- Luật thương mại
- luật ngoại hối
- Luật các công cụ chuyển nhượng
- Luật Thanh toán quốc tế…
1.3.3.Thông lệ và tập quán quốc tế
- Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ ( Uniform Customs and Pratice for Documentary Credit-gọi tắt là UCP)
- Quy tắc thống nhất về nhờ thu (Uniform Rules for Collection-gọi tắc
là URC)
- Quy tắc thống nhất về hoàn trả liên hàng “The Uniform Rules for Bank-to-Bank Reimbursement under Documentary credit-gọi tắt URR” -Điều kiện thương mại quốc tế (International Commercial Terms-INCORTERMS)
Trang 19Trình tự ưu tiên về tính pháp lý theo thứ tự giảm dần là:Công ước và
Luật quốc tế, Luật quốc gia, Thông lệ và tập quán quốc tế Nếu có mâu thuẫn
giữa các nguồn luật thì:Luật quốc gia sẽ được ưu tiên vượt lên trên về tính
chất pháp lý đối với thông lệ và tập quán quốc tế; Công ước và luật quốc tế sẽ
được ưu tiên vượt lên trên về tính chất pháp lý đối với luật quốc gia
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Trong chương I, luận văn đã đi vào nghiên cứu những lý luận cơ bản về
vai trò của thanh toán quốc tế đối với ngân hàng thương mại Đồng thời, giới
thiệu tổng quan về các phương thức thanh toán quốc tế hiện nay đang được sử
dụng và hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh phương thức thanh toán quốc tế
Để hiểu rõ hơn về hoạt động thanh toán quốc tế trên thực tế tại các
ngân hàng thương mại, chúng ta sẽ tìm hiểu thông qua thực trạng hoạt động
thanh toán quốc tế tai hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
(BIDV) trong chương 2
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
TRIỂN VIỆT NAM 2.1 Giới thiệu về Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển Việt Nam ( BIDV) 2.1.1 Lược sử hình thành và phát triển
2.1.1.1 Thời kỳ từ 1957- 1980 Ngày 26/4/1957, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam - tiền thân của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - được thành lập theo quyết định 177/TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính Phủ - trực thuộc Bộ Tài Chính với qui mô ban đầu nhỏ bé gồm 8 chi nhánh, 200 cán bộ
Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Kiến thiết là thực hiện cấp phát, quản lý vốn kiến thiết cơ bản từ nguồn vốn ngân sách cho tất các các lĩnh vực kinh tế, xã hội
2.1.1.2 Thời kỳ 1981- 1989 Ngày 24/6/1981, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng là cấp phát, cho vay và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế thuộc kế hoạch nhà nước
2.1.1.3 Thời kỳ 1990- 1994:
Ngày 14/11/1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Đây là thời kỳ thực hiện
Trang 20đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước, chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao
cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
Do vậy, nhiệm vụ của BIDV được thay đổi cơ bản: Tiếp tục nhận vốn
ngân sách để cho vay các dự án thuộc chỉ tiêu kế hoạch nhà nước; Huy động
các nguồnvốn trung dài hạn để cho vay đầu tư phát triển; kinh doanh tiền tệ
tín dụng và dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong lĩnh vực xây lắp phục vụ đầu tư
phát triển
2.1.1.4 Từ 01/01/1995
Đây là mốc đánh dấu sự chuyển đổi cơ bản của BIDV: Được phép kinh
doanh đa năng tổng hợp như một ngân hàng thương mại, phục vụ chủ yếu cho
đầu tư phát triển của đất nước
2.1.1.5 Thời kỳ 1996 – nay
Được ghi nhận là thời kỳ "chuyển mình, đổi mới, lớn lên cùng đất
nước"; chuẩn bị nền móng vững chắc và tạo đà cho sự "cất cánh" của BIDV
sau năm 2005 Khẳng định vị trí, vai trò trong sự nghiệp đổi mới, thực hiện
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước; được Nhà nước trao tặng danh hiệu
"Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới"
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một trong bốn ngân hàng
thương mại nhà nước lớn nhất ở Việt Nam được hình thành sớm nhất và lâu
đời nhất, là doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt, được tổ chức hoạt động
theo mô hình Tổng công ty nhà nước
Cùng với hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước, Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam (BIDV) luôn đóng vai trò là một kênh quan trọng và
quyết định trong việc cung ứng vốn phục vụ cho phát triển nền kinh tế, là lực
lượng chủ lực trong thực thi chính sách tiền tệ quốc gia
Từ ngày đầu thành lập, bộ máy tổ chức của ngân hàng mới chỉ có 8 chi nhánh với trên 200 CBCNV Đến nay, tổng số cán bộ công nhân viên của toàn
hệ thống đạt trên 13,100 người, mô hình Tổng công ty đã được hình thành, theo 4 khối :
- Ngân hàng thương mại nhà nước với 108 chi nhánh cấp 1, sở giao dịch tại tất cả các tỉnh, thành phố trên cả nước
- Khối công ty gồm 5 công ty độc lập:Công ty Chứng khoán đầu tư (BSC), Công ty Cho thuê tài chính (1,2), Công ty Bảo hiểm BIDV(BIC), Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản(BAMC))
- Khối liên doanh: Ngân hàng liên doanh VID-Public, Ngân hàng liên doanh Lào - Việt, Ngân hàng liên doanh Việt Nga, Công ty liên doanh Quản lý đầu
tư BIDV-VP, Công ty liên doanh Tháp BIDV
- Khối đơn vị sự nghiệp (gồm Trung tâm Công nghệ thông tin và Trung tâm đào tạo);
Hình 2.1.Mạng lưới hoạt động của BIDV từ năm 2004-2008
Nguồn: Báo cáo thường niên BIDV năm 2008 [1]
Trang 21Hình 2.2: Mô hình tổ chức toàn hệ thống BIDV
Nguồn: Báo cáo thường niên BIDV 2008[2]
NH LIÊN DOANH LÀO –VIỆT (LAO-VỊET BANK )
NH LIÊN DOANH VIỆT NGA-VRB
CTY LIÊN DOANH THÁP BIDV
CTY LIÊN DOANH QUẢN LÝ ĐẦU TƯ BIDV- VP(BVIM) (VID-PUBLIC BANK)
108 CHI NHÁNH-SGD
TRUNG TÂM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO
CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH(I, II)
CTY BẢO HIỂM BIDV (BIC)
CTY CHỨNG KHOÁN ĐẦU TƯ (BSC)
CTY QUẢN LÝ NỢ VÀ KHAI THÁC TÀI SẢN (BAMC)
NH LIÊN DOANH VID-PUBLIC (VID-PUBLIC BANK )
KHỐI LIÊN DOANH
KHỐI NGÂN HÀNG
KHỐI SỰ NGHIỆP
KHỐI CÔNG TY (BIDV NẮM 100% VỐN)
BIDV
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của BIDV đến năm 2008
Sau năm mươi hai năm hoạt động, BIDV đã trở thành một ngân hàng thương mại hiện đại, hoạt động đa năng, đa lĩnh vực, có nền tảng công nghệ tiên tiến, hệ thống mạng lưới phủ rộng trong tòan quốc BIDV vươn lên trở thành NHTM Nhà nước có quy mô đứng thứ 2 về mạng lưới kênh phân phối truyền thống và phi truyền thống trong hệ thống ngân hàng Việt Nam Đến năm 2008, tổng tài sản đạt 242,316 tỷ đồng(tương đương 14.3 tỷ USD) tăng 20.3% so với năm 2007, huy động vốn cuối kỳ 184,542 tỷ đồng, tăng 27.3%
so với đầu năm.Dư nợ tín dụng cuối kỳ 154,176 tỷ, tăng 21.8% so với năm 2007.Thu dịch vụ đạt 1,794 tỷ (bao gồm cả lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại hối),gấp hơn hai lần so với mức thu năm 2007,vốn chủ sở hữu đạt 9,969 tỷ đồng Các chỉ số khác như ROA đạt 0.8%, ROE đạt 19.38%, đặc biệt hệsố
an toàn vốn CAR đạt 8.94%, đạt chuẩn mực quốc tế Đây thưc sự là những con số có ý nghĩa, đặc biệt là trong bối cảnh BIDV thực hiện bài toán vừa phải cơ cấu lại nợ, kiểm soát chặt chẽ các khoản vay, vừa đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân trên 20%/năm
Bảng 2.1 So sánh tình hình tài chính 2007-2008
Đơn vị: tỷ VNĐ
Tổng tài sản 201,426 242,316 20.3% Huy động vốn cuối kỳ 144,966 184,542 27.3%
Dư nợ tín dụng cuối kỳ 126,581 154,176 22% Thu dịch vụ 598 1,794 200% Vốn chủ sở hữu 8,405 9,969 18.6%
Trang 22Hình 2.3 Tổng tài sản BIDV qua các năm
Đơn vị: Tỷ VNĐ
Nguồn: Báo cáo thường niên BIDV năm 2008 [4]
Dưới đây là kết quả kinh doanh những hoạt động chính của BIDV:
Về hoạt động dịch vụ, tính đến 31.12.2008, thu dịch vụ ròng của toàn hệ
thống đạt 1,794 tỷ đồng (gồm cả lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại hối), tăng
trưởng gấp hơn 2 lần so với năm 2007 và đứng đầu trong hệ thống ngân hàng
Việt nam
Hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ có sự tăng trưởng rõ rệt, thu
dịch vụ ròng bình quân đầu người đạt 148 triệu, tăng 80% so với năm 2007
Cụ thể: thu lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ đạt 791 tỷ đồng, tăng trưởng
gấp 5.6 lần so với năm 2007 Lãi thuần từ hoạt động phái sinh năm 2008 đạt
237.930 tỷ đồng, tăng trưởng gấp 26 lần so với năm 2007 Thu từ dịch vụ bảo
lãnh đạt 471.7 tỷ đồng,chiếm tỷ trọng 26% trong tổng thu từ hoạt động dịch
vụ, tăng 66% so với cùng kỳ năm 2007 Thu phí ròng từ hoạt động thanh toán
( bao gồm hoạt động thanh toán trong nước và quốc tế) đạt 426 tỷ đồng,
chiếm tỷ trọng 24% trong tồng thu từ hoạt động dịch vụ, tăng 42% so với năm
2007 Thu từ hoạt động ngân quỹ đạt 16.5 tỷ đồng.Thu nhập thuần từ hoạt động đại lý đạt 25.4 tỷ đồng Thu từ hoạt động bảo hiểm năm 2008 đạt đạt 134.6 tỷ đồng, tăng 28% so với năm 2007 Thu nhập ròng từ hoạt động dịch
vụ khác đạt 130.4 tỷ, tăng 185% so với năm 2007
Hình 2.4 Tăng trưởng thu dịch vụ ròng
Đơn vị: Tỷ VNĐ
764
1,794
501 0
500 1000 1500 2000
Về hoạt động tín dụng, tồng dư nợ cho vay toàn hệ thống tính đến 31.12.2008 đạt 154.176 tỷ đồng, tăng 21.8% so với năm 2007 Thị phần tín dụng là 12.9 %,tăng 0.9% so với năm 2007(12%)
Cơ cấu tín dụng tiếp tục được cải thiện theo chiều hướng tích cực, tổng
dư nợ trên tổng tài sản đạt 64% tăng 6.4% so với năm 2007 Tỷ trọng cho vay trung dài hạn đạt 40.5% Tỷ trọng dư nợ cho vay ngoại tệ đạt 20.1%, nếu tính
cả dư nợ cho vay VND được hoán đổi sang USD, thì tỷ trọng dư nợ cho vay ngoại tệ đạt 21.7% Đây là một thành công của BIDV trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đồng thời gia tăng thu phí dịch vụ Về hiệu quả tín dụng, tổng thu lãi vay năm 2008 là 22.124 tỷ đồng tăng trưởng 43% so với năm 2007
Trang 23Bảng 2.2.So sánh kết quả hoạt động kinh doanh dịch vụ 2007-2008
Đơn vị: Tỷ VNĐ
Thu DV ròng BQ đầu người 0.082 0.148 80.0%
Lãi từ HĐ kinh doanh ngoại tệ
Thu từ hoạt động ngân quỹ 12 16.5 37.5%
Thu nhập thuần từ hoạt động đại
Nguồn: Báo cáo thường niên BIDV 2007-2008[5]
Hình 2.5 Tăng trưởng tín dụng qua các năm
Hình 2.6.6.6.CCCơ cấu tín dụng theo ngành nghề
Nguồn: Báo cáo thường niên BIDV năm 2008 [6]
Về hoạt động đầu tư, tổng giá trị danh mục đầu tư tại thời điểm 31.12.2008 đạt 3,145 tỷ đồng, tăng 61.5% so với cùng kỳ năm 2007 và nằm trong giới hạn cho phép của ngân hàng Nhà nước(NHNN) Xét cơ cấu, các khoản đầu tư thuộc lĩnh vực kinh doanh chính của BIDV (tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoán) và các dự án trọng điểm theo chỉ đạo của chính phủ chiếm 62.8% giá trị tổng danh mục, các khoản đầu tư còn lại 37.2% chủ yếu thuộc những lĩnh vực thiết yếu của nền kinh tế như cơ sở hạ tầng, khai thác tài nguyên khoáng sản, năng lượng, hóa chất…
Hình 2.7.Cơ cấu danh mục đầu tư
Nguồn: Báo cáo thường niên BIDV năm 2008 [7]