1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập nghiệp vụ sư phạm vận dụng phương pháp hoạt động và hoạt động thành phần vào việc dạy học bài làm quen với Microsoft Word tin học 10 trung học phổ thông

37 786 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 798,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở những gì mà học sinh được học tập về soạn thảo văn bản, học sinh có thể sử dụng một cách thành thạo để hoàn thành tốt hơn những ứng dụng trong thực tế. Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ với những hoạt động nhất định mà giáo viên có thể khai thác để tổ chức quá trình dạy học sao cho đạt được mục tiêu dạy học một cách hiệu quả, những hoạt động như vậy được gọi là tương thích với nội dung dạy học cho trước. Chính vì vậy, việc hoạt động và hoạt động thành phần cho học sinh trong việc dạy học “ làm quen với Microsoft word là một công việc quan trọng, đòi hỏi mỗi giáo viên cần phải nỗ lực tìm tòi, sáng tạo giúp cho học sinh nhìn nhận vấn đề một cách tích cực hơn, sáng tạo hơn và nhất là giúp cho các em có thể yêu thích nhiều hơn nữa bộ môn Tin học này.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN Trang 2PHẦN I: MỞ ĐẦU Trang 3

I Lý do chọn đề tài nghiên cứu Trang 3

II Định hướng nghiên cứu Trang 5

1 Mục đích nghiên cứu Trang 5

2 Nhiệm vụ nghiên cứu Trang 5III Phương pháp nghiên cứu Trang 5

1 Nghiên cứu lý luận dạy học Trang 5

2 Quan sát - điều tra Trang 6

3 Tổng kết kinh nghiệm Trang 7

4 Thực nghiệm giáo dục Trang 9PHẦN II : NỘI DUNG ĐỀ TÀI Trang 10

Chương I: Cơ sở lý luận về việc hoạt động và hoạt động thành phần

1 Phát hiện những hoạt động tương thích với nội dung Trang 10

2 Phân tích hoạt động thành những thành phần Trang 12

3 Lựa chọn hoạt động dựa vào mục tiêu Trang 13

4 Tập trung vào những hoạt động tin học Trang 14

* Kết luận chương I .Trang 15

Chương II: Nghiên cứu, ứng dụng tư tưởng Hoạt động và hoạt

động thành phần trong dạy học bài “Làm quen với Microsoft word” ở Tin học 10 THPT

Giảng dạy “ Làm quen với Microsoft word” Trang 16

* Kết luận chương II Trang 21

Chương III: Kết quả ứng dụng của đề tài Trang 22

1 Ứng dụng của đề tài Trang 22

2 Thuận lợi Trang 22

3 Khó khăn Trang 23

4 Kết quả đạt được của đề tài Trang 23

5 Đề xuất cho đề tài Trang 23

Kết luận .Trang 24 Phụ lục Trang 25 Tài liệu tham khảo Trang 34

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đổi mới phương pháp dạy học đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu ởcác nhà trường hiện nay Lấy người học làm trung tâm, phát huy tối đa tínhchủ động sáng tạo của người học trong học tập là vấn đề mà tất cả mọi giáoviên đều băn khoăn, trăn trở

Cùng với quá trình hội nhập của đất nước, giáo dục cũng đòi hỏi phải cónhững bước tiến, bước phát triển vượt bậc Áp dụng những hình thức dạy họcnhư hoạt động và hoạt động thành phần vào tất cả các ngành nghề đang đượcphát triển một cách mạnh mẽ Giáo dục cũng không nằm ngoài trào lưu đó của

xã hội

Nhận thức được những đặc điểm ưu việt mà hoạt động và hoạt độngthành phần mang lại em đã chọn đề tài: Nghiên cứu, ứng dụng tư tưởng

“Hoạt động và hoạt động thành phần” vào dạy học Vì đây là phần mang

tính phong phú, trực quan cho giáo án dạy học

Em xin chân thành cảm ơn khoa Công nghệ thông tin – Trường Đại học

Sư phạm Hà Nội, đặc biệt là thầy TS Trần Doãn Vinh và cô ThS KiềuPhương Thùy - Giảng viên khoa Công nghệ thông tin đã nhiệt tình giúp đỡ,đóng góp ý kiến, cũng như động viên để em hoàn thiện hơn bài tiểu luận củamình

Mặc dù chúng em đã cố gắng hoàn thành bài tiểu luận trong phạm vi vàkhả năng cho phép, nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót,kính mong sự cảm thông và tận tình chỉ bảo của quý Thầy - Cô và các bạn

Sinh viên thực hiện

Trần Thị Thu Thảo

Trang 3

Trong những năm gần đây, lĩnh vực công nghệ thông tin đã có vaitrò thật quan trọng trong nền giáo dục, môn tin học đã chính thức được đưavào dạy học trong nhà trường.

Trong bối cảnh Công nghệ thông tin ngày càng pháttriển, việc sử dụng rộng rãi máy tính không còn chỉ bó hẹptrong viện nghiên cứu, các trường đại học, các trung tâm máytính mà còn mở rộng ra mọi cơ quan, xí nghiệp và nhà máy.Song song với quá trình trên, việc giảng dạy Tin học trong cáctrường đại học, trung học và phổ thông cũng được đẩy mạnh

đi đôi với việc tăng cường trang bị máy vi tính Chính vì vậy,đối với mỗi giáo viên giảng dạy môn Tin học ở các trường phổthông, việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề về Tin học, cùngvới việc tìm các biện pháp giảng dạy Tin học trong nhà trườngphổ thông là một công việc cần phải làm thường xuyên, nhằmđáp ứng với sự đòi hỏi ngày càng cao của xã hội

2 Trong nghiệp vụ của người thầy giáo có hai vấn đềquan trọng: thứ nhất là thực tiễn về tiềm năng - những kiếnthức lý thuyết mà họ được học rất cơ bản Thứ hai là thực tiễn

về nghiệp vụ - thầy giáo phải biết cách truyền thụ kiến thứcphù hợp với trình độ của học sinh Trong đó, thực tiễn thứ hai

là điều quyết định trong nghiệp vụ của thầy giáo, nó đánh giáchất lượng giảng dạy của thầy giáo

Hai thực tiễn trên vừa mâu thuẫn với nhau, lại vừa thống nhấtvới nhau Thầy

giáo không thể mang hết các kiến thức lý thuyết cao xa vàtrừu tượng dạy cho

học sinh, nhưng cũng không thể dạy tốt cho học sinh nếu thầygiáo hiểu biết quá ít

2.1 Trong bối cảnh toàn ngành Giáo dục và Đào tạođang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng pháthuy tính tích cực chủ động của học sinh trong hoạt động học

tập Điều 24.2 của Luật giáo dục đã nêu rõ : “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện

kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình

Trang 4

cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Như

vậy, chúng ta có thể thấy định hướng đổi mới phương phápdạy học đã được khẳng định, không còn là vấn đề tranh luận.Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổthông là giúp học sinh hướng tới việc học tập chủ động, chốnglại thói quen học tập thụ động

2.2 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cựchóa hoạt động của học sinh là một quá trình lâu dài; khôngthể ngày một ngày hai mà đông đảo giáo viên từ bỏ được kiểudạy học truyền thụ kiến thức, tiếp thu thụ động đã quen thuộc

từ lâu Việc phát triển các phương pháp tích cực đòi hỏi một

số điều kiện, trong đó quan trọng nhất là bản thân mỗi giáoviên cần có một sự nỗ lực để tìm tòi, sáng tạo trong công tácgiảng dạy của mình

2.3 Đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề hết sứcquan trọng, nhất là với bộ môn Tin học hiện đang được đưavào giảng dạy ở các trường phổ thông Là một giáo viên giảngdạy bộ môn này, theo em không phải cứ tìm được nhiều bàitập khó, bài tập hay để giảng dạy cho học sinh Mà vấn đề đặt

ra là chúng ta cần phải tích cực tìm tòi, sáng tạo trong việcđưa ra những bài toán đó để giúp cho học sinh có sự hứngthú, tìm tòi sáng tạo trong quá trình giài quyết học tập, từ đóbiết vận dụng linh hoạt trong các tình huống cụ thể ngoàithực tế

3 Trong việc giảng dạy cho học sinh, ngoài việc giúp họcsinh lĩnh hội những kiến thức cơ bản Thầy giáo còn phải biếtkích thích tính tích cực, sự sáng tạo say mê học hỏi của họcsinh trong việc học tập của các em Bởi vì, việc học tập tựgiác, tích cực, chủ động và sáng tạo đòi hỏi học sinh phải có ýthức về những mục tiêu đặt ra và tạo được động lực bên trongthúc đẩy bản thân họ hoạt động để đạt các mục tiêu đó Điềunày được thực hiện trong dạy học không chỉ đơn giản bằng việc nêu rõ mụctiêu mà quan trọng là hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt độngnhận thức của người học, tức là tập kết vào phát huy tính tích cực của ngườihọc chứ không phải là tập kết vào phát huy tính tích cực của người dạy.

4 Microsoft word là một trong những chương trình giúp học sinh cóthể nắm được cách khởi động và kết thúc Word, biết cách tạo văn bản mới,

mở văn bản đã có, lưu văn bản, biết được ý nghĩa của một số đối tượng chínhtrên màn hình làm việc của Word… Có tác dụng giúp các em định hướng vàbiết cách sử dụng word một cách thành thạo hơn ngay cả hiện tại và trongtương lai sau này

4.1 Trong các vấn đề về Tin học được đưa vào giảng dạy

ở chương trình bậc học phổ thông hiện nay Khi nói đến vấn

Trang 5

đề dạy học soạn thảo văn bản cho học sinh, vấn đề dạy họccho học sinh về làm quen với microsoft word là một trongnhững vấn đề chiếm vai trò quan trọng Bởi vì, thay vì viết taythì chúng ta có thể sử dụng Microsoft Word để soạn thảo, tiếtkiệm được thời gian, công sức hơn Đồng thời, Microsoft word

có thể giúp cho người soạn thảo dễ sửa chữa, dễ kiểm tra.Vấn đề đặt ra là: hoạt động và hoạt động thành phần cho họcsinh khi giảng dạy về “ làm quen với Microsoft word như thếnào? Đó chính là vấn đề mà bản thân em hết sức quan tâm

4.2 Để thực hiện được điều đó, theo em chúng ta cầnphải tìm tòi, nghiên cứu tìm ra những bài tập phù hợp, kíchthích được sự độc lập, tích cực của học sinh trong học tập.Trên cơ sở đó, học sinh có thể tự mình tìm ra được những ýtưởng sáng tạo vận dụng thiết thực vào cuộc sống thực tế khinhu cầu nảy sinh, khi đó các em có thể tự mình hoàn thànhđược ý tưởng đó

4.3 Trên cơ sở những gì mà học sinh được học tập vềsoạn thảo văn bản, học sinh có thể sử dụng một cách thànhthạo để hoàn thành tốt hơn những ứng dụng trong thực tế

Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ với những hoạt động nhất định mà giáo

viên có thể khai thác để tổ chức quá trình dạy học sao cho đạt được mục tiêu

dạy học một cách hiệu quả, những hoạt động như vậy được gọi là tương thích với nội dung dạy học cho trước. Chính vì vậy, việc hoạt động vàhoạt động thành phần cho học sinh trong việc dạy học “ làmquen với Microsoft word là một công việc quan trọng, đòi hỏimỗi giáo viên cần phải nỗ lực tìm tòi, sáng tạo giúp cho họcsinh nhìn nhận vấn đề một cách tích cực hơn, sáng tạo hơn vànhất là giúp cho các em có thể yêu thích nhiều hơn nữa bộ môn Tin họcnày

Với tất cả những lý do nêu trên, em quyết định chọn đềtài này

II Định hướng nghiên cứu

1 Mục đích nghiên cứu:

- Mục đích nghiên cứu là góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học

về soạn thảo văn bản ở chương trình phổ thông

- Giúp người học hướng những quyết định và hoạt động vào mục đích đặt

ra đồng thời giúp học sinh có ý thức về ý nghĩa của những hoạt động vànhững đối tượng hoạt động của bài học từ đó học sinh có thể liên hệ chặtchẽ giữa kiến thức thực tế xung quanh, nhà trường, gia đình, xã hội

- Giúp học sinh hoạt động và hoạt động thành phần khi sử dụng phần mềmsoạn thảo Word nhanh chóng và hiệu quả Từ đó học sinh có thể liên hệ, vậndụng sáng tạo để giải quyết những bài tập về soạn thảo văn bản

Trang 6

2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Xây dựng hệ thống bài tập về làm quen với Microsoft word trong quátrình học tập hoạt động và hoạt động thành phần

- Qua việc nghiên cứu các vấn đề về soạn thảo văn bản, các tài liệu vềphương pháp giảng dạy Từ đó, đưa ra các biện pháp có thể hoạt động vàhoạt động thành phần cho học sinh thông qua bài làm quen với Microsoftword của tin học lớp 10

III Phương pháp nghiên cứu:

1 Nghiên cứu lý luận

Trong nghiên cứu lý luận người ta dựa vào những tài liệu

sẵn có, những lý thuyết đã được khẳng định, những thành tựucủa nhân loại trên những lĩnh vực khác nhau như : Tâm lý học,Giáo dục học, Tin học, để xem xét vấn đề, tìm ra giải pháphợp lý có sức thuyết phục vận dụng vào PPDH Tin học

Người ta cũng nghiên cứu cả những kết quả của bảnthân chuyên ngành PPDH Tin học để kế thừa những cái hay,phê phán và gạt bỏ những cái dở, bổ xung và hoàn chỉnhnhững nhận thức đã đạt được

Những hình thức thường dùng trong nghiên cứu lý luậnlà:

- Phân tích tài liệu lý luận : Giúp chúng ta chọn đề tài, đề

ra mục đích nghiên cứu, hình thành giả thuyết khoa học, xácđịnh tư tưởng chủ đạo và đánh giá sự kiện Khi nghiên cứu lýluận, ta cần phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát để tìm ra

ý mới Cái mới ở đây có thể là một lý thuyết hoàn toàn mới,nhưng cũng có thể là một cái mới đan kết với những cái cũ, cóthể là một sự tổng hợp những nét riêng lẻ đã chứa trong cái

cũ, nêu bật cái bản chất từ những cái cũ, bổ xung, cụ thể hóa

lý thuyết cũ

- So sánh quốc tế : Giúp chúng ta lựa chọn, xây dựng

phương án tác động giáo dục trên cơ sở đánh giá, so sánh tàiliệu, cách làm của những nước khác nhau

- Phân tích tiên nhiệm : Thường dựa vào những yếu tố

lịch sử, những cách tiếp cận khác nhau của một lý thuyết,những cách định nghĩa khác nhau của một khái niệm, để dựkiến những quan niệm có thể có của học sinh về một kiếnthức Tin học Nó cũng được dùng để kiểm nghiệm một hiệntượng, một quá trình có thỏa mãn những tiêu chuẩn, yêu cầu,điều kiện đặt ra hay không

2 Quan sát - điều tra

Quan sát điều tra được sử dụng rộng rãi trong nghiêncứu giáo dục Đó là phương pháp tri giác có mục đích mộthiện tượng giáo dục nào đó để thu lượm những số liệu, tài

Trang 7

liệu, sự kiện cụ thể đặc trưng cho quá trình diễn biến của hiệntượng mà ta dự định khảo sát Chúng ta quan tâm đến chấtlượng của các mối quan hệ, của các hoạt động, của tìnhhuống Điều tra giống quan sát ở chỗ cùng dựa vào và khaithác những hiện tượng có sẵn, không chủ động gây nênnhững tác động sư phạm, nhưng quan sát thiên về xuất phát

từ những dấu hiệu bên ngoài, còn điều tra có thể khai thácnhững thông tin sâu kín từ bên trong, chẳng hạn cho làmnhững bài kiểm tra rồi đánh giá

Quan sát - điều tra giúp chúng ta theo dõi hiện tượnggiáo dục theo trình tự thời gian, phát hiện những biến đổi sốlượng, chất lượng gây ra do tác động giáo dục Nó giúp tathấy được những vấn đề thời sự cấp bách đòi hỏi phải nghiêncứu hoặc góp phần giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu Môitrường tự nhiên là nguồn cung cấp dữ liệu trực tiếp cho ta.Người nghiên cứu đến trực tiếp một nơi nào đó mà họ quantâm để quan sát và thu thập dữ liệu, bởi vì các hoạt động chỉ

có thể hiểu tốt nhất là trong môi trường tự nhiên, trong ngữcảnh mà chúng xuất hiện

Quan sát - điều tra thực tiễn sư phạm, chẳng hạn thămlớp dự giờ sẽ giúp chúng ta nhận thức được thực trạng dạy Tinhọc, phát hiện được những vấn đề thời sự cấp bách cầnnghiên cứu, giúp ta thu được những tài liệu sinh động và bổích cho nhiệm vụ nghiên cứu

Theo mối quan hệ giữa đối tượng quan sát - điều tra vớingười nghiên cứu thì có các dạng quan sát - điều tra trực tiếp,gián tiếp, công khai, kín đáo Theo dấu hiệu về thời gian thì cóquan sát - điều tra liên tục, gián đoạn

Quan sát - điều tra cần có mục đích cụ thể (chẳng hạn

để thấy được hoạt động tích cực của học sinh trong giờ học),

có nội dung cụ thể (chẳng hạn sự gây động cơ và hướng đíchcủa giáo viên, số lượng học sinh giơ tay xin phát biểu, sốlượng câu hỏi, chất lượng câu trả lời của học sinh thể hiện sựsuy nghĩ sâu sắc hay hời hợt, sự tập trung chú ý thể hiện quahướng nhìn, cử chỉ, ) và có tiêu chuẩn đánh giá, đo lườngcác kết quả quan sát cụ thể (chẳng hạn một giờ như thế nàođược đánh giá là học sinh hoạt động rất tích cực, khá tích cực,kém tích cực) Các loại dữ liệu thu thập được trong nghiên cứubao gồm văn bản ghi chép các cuộc phỏng vấn, các sổ ghichép, ảnh, băng hình, ghi âm, phiếu điều tra, nhật ký, giúp

ta dựng lại một cách đầy đủ những gì mà ta đã quan sát được,giúp ta lý giải được vì sao họ lại nghĩ như thế, tại sao họ lạilàm như vậy?, Trong khi quan sát - điều tra diễn biến thực

Trang 8

của những hiện tượng sư phạm, có khi người ta tình cờ pháthiện ra những sự kiện, hiện tượng sư phạm mới ngoài dự kiếnban đầu.

3 Tổng kết kinh nghiệm

Tổng kết kinh nghiệm thực chất là đánh giá và khái quáthóa những kinh nghiệm đã thu thập được trong hoạt độngthực tiễn, từ đó phát hiện ra những vấn đề cần khẳng định đểđưa ra áp dụng rộng rãi hoặc cần tiếp tục nghiên cứu hay loại

bỏ Nó có nguồn gốc từ kinh nghiệm, mang tính khoa học,được lĩnh hội, kiểm chứng từ quá trình hoạt động thực tiễnsinh động Bài học kinh nghiệm là sự cụ thể hóa một cáchsáng tạo tư tưởng, luận điểm, lý luận giáo dục đã đi vào cuộcsống Trong quá trình nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm, có khingười ta khám phá ra những mối liên hệ có tính quy luật củanhững hiện tượng giáo dục

Những kinh nghiệm cần được đặc biệt chú ý là kinhnghiệm tiên tiến, kinh nghiệm thành công và kinh nghiệm lặplại nhiều lần Kinh nghiệm giáo dục ở những đơn vị tiên tiến

có thể được coi là dạng lý luận giáo dục đã được kiểm chứngtrong thực tiễn, trong những tình huống, điều kiện cụ thể củamôi trường giáo dục Những bài học của sự thành công cầnđược đề cập với tư cách là cứ liệu đối chiếu, so sánh làm rõkinh nghiệm thành công Chúng cần được xem xét một cáchkhách quan, khoa học, biện chứng theo tính lịch sử của vấn

đề rút ra những kết luận có tính thuyết phục, có độ tin cậycao Qua tổng kết kinh nghiệm, chúng ta có được những bàihọc kinh nghiệm hàm chứa những tri thức, thông tin, kỹ năng,những giải pháp, biện pháp về hướng đi và cách làm mới cógiá trị, đem lại hiệu quả, chất lượng cao hơn trong điều kiệnđổi mới giáo dục của đất nước hiện nay

Tổng kết kinh nghiệm phải có lý luận soi sáng, giải thíchtính chất hợp lý, phù hợp với những quy luật đã được khẳngđịnh thì mới có thể thoát khỏi những sự kiện lộn xộn, nhữngkinh nghiệm vụn vặt, hời hợt không có tính phổ biến, mới loại

bỏ được những yếu tố ngẫu nhiên, đi sâu vào bản chất của sựvật, hiện tượng, đạt tới những kinh nghiệm có giá trị khoa họcđích thực Chỉ khi đó tổng kết kinh nghiệm mới thật sự là mộtphương pháp nghiên cứu khoa học hữu hiệu Những bài họckinh nghiệm, những kết luận về lý luận giáo dục góp phần bổsung, làm cho lý luận giáo dục được hoàn thiện hơn, mangtính thực tiễn cao hơn, tránh được tình trạng lý luận suông.Bài học kinh nghiệm giáo dục phải bảo đảm có được một sự

Trang 9

khái quát nhất định, mang tính khoa học với tính lý luận cụthể và đặc biệt phải mang tính thực tiễn cao.

Bài học kinh nghiệm cần trình bày theo trình tự sau:

- Tên bài học kinh nghiệm

- Nêu bối cảnh xuất hiện vấn đề mà khi giải quyết dẫnđến bài học kinh

nghiệm

- Những kết quả đạt được gắn với nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống biện pháp đã vận dụng đạt kết quả cao

- Đánh giá tác dụng, hiệu quả của bài học kinh nghiệm,đưa ra nhận định có tính khái quát về bài học mang tính lýluận

Tổng kết kinh nghiệm không chỉ đơn giản là trình bày lạinhững công việc đã

làm và những kết quả đã đạt được Là một phương thứcnghiên cứu khoa học, nó phải được tiến hành theo một quytrình nghiêm túc, thường là như sau:

Phát hiện cần đảm bảo cả về mặt định tính và phần nào vềmặt định lượng, tức

là phải thu thập đủ về dữ liệu, tư liệu về sự kiện, việc làm, cáchoạt động đã tiến hành đạt kết quả cao nhất Trong đó cầnchú trọng đến những dữ liệu, tư liệu, thông tin mà nội dungcủa chúng phản ánh mối quan hệ giữa kết quả với nguyênnhân và biện pháp Những bước của quá trình phát hiện cóthể là:

- Nêu mục đích yêu cầu phát hiện

- Triển khai những hình thức phát hiện

- Thẩm định, bổ sung thông tin

- Tiến hành xử lý thông tin

LiÖt kª sù kiÖn M« t¶ qu¸ tr×nh

Dïng thùc nghiÖm kiÓm chøng Dïng lÝ luËn soi s¸ng

T íc bá nh÷ng yÕu tè ngÉu nhiªn lµm béc lé c¸i b¶n chÊt

Ph¸t hiÖn mèi liªn hÖ nh©n qu¶

Trang 10

Khi tiến hành xử lý thông tin phải căn cứ vào cái có thựcthu được qua quá trình khảo sát, phát hiện thu thập được.Dùng lý luận để phân tích các tư liệu, số liệu rút ra được từthực tiễn Rút ra bài học kinh nghiệm dưới dạng khái quátmang tính lý luận hay khẳng định về mặt lý luận và thực tiễn.Trong quá trình xử lý, cần áp dụng những thao tác tư duykhoa học, trừu tượng hóa các yếu tố ngẫu nhiên, tìm ra tínhđặc thù, tất yếu mà chúng đã thể hiện trong bối cảnh, hoàncảnh cụ thể.

Phần cuối của sơ đồ cho thấy rõ mối liên hệ giữa tổngkết kinh nghiệm với nghiên cứu lý luận và thực nghiệm giáodục

4 Thực nghiệm giáo dục

Thực nghiệm giáo dục cho phép ta tạo nên những tácđộng sư phạm vào quá trình dạy học và giáo dục Những tácđộng này xảy ra trong những điều kiện có thể khống chế, điềuchỉnh, thay đổi được, ít chịu ảnh hưởng của những yếu tốngẫu nhiên khác, từ đó xác định và đánh giá kết quả củanhững tác động đó Đặc trưng của thực nghiệm giáo dục là nókhông diễn ra một cách tự phát mà là dưới sự điều khiển củanhà nghiên cứu Nhà nghiên cứu tổ chức quá trình giáo dụcmột cách có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, tự giác thiếtlập và thay đổi những điều kiện thực nghiệm cho phù hợp với

ý đồ nghiên cứu của mình

Trong những điều kiện nhất định, thực nghiệm giáo dụccho phép ta khẳng định hoặc bác bỏ một giả thuyết khoa học

đã đề ra

Trong thực nghiệm giáo dục ta cần giải thích rõ kết quả,làm rõ nguyên nhân bằng lý luận hoặc bằng sự phân tích quátrình thực nghiệm

Thực nghiệm giáo dục là một phương pháp nghiên cứurất có hiệu lực, song thực hiện nó rất công phu, rất khó khăn.Khó khăn là do chúng ta thực hiện một tác động lên nhữngcon người cụ thể, kết quả thu được phụ thuộc vào nhiều yếu

tố tâm lý Những kết quả thực nghiệm thường chỉ có ý nghĩaxác suất, phải xử lý bằng phương pháp thống kê Để thống kêcho kết quả tin cậy, cần phải đo lường, định lượng được các

Trang 11

dấu hiệu, đó là việc làm không dễ Vì thế ta không nên lạmdụng phương pháp thực nghiệm giáo dục Khi nghiên cứu mộthiện tượng giáo dục, trước hết có thể dùng những phươngpháp không đòi hỏi quá nhiều công sức, ví dụ như nghiên cứu

lý luận, quan sát, tổng kết kinh nghiệm Chỉ ở những chỗ cácphương pháp này chưa đủ sức thuyết phục, chỉ ở một số khâumấu chốt, ta mới dùng thực nghiệm giáo dục

Thông thường những phương pháp được sử dụng kết hợpvới nhau, làm cho kết quả thu được vừa có tính lý luận, vừa cótính thực tiễn Chẳng hạn, qua nghiên cứu lý luận, quan sát,tổng kết kinh nghiệm, người ta đề xuất một giả thuyết khoahọc rồi đem thực nghiệm giáo dục để kiểm nghiệm Sau đó,lại dùng lý luận để phân tích kết quả, xác định nguyên nhân

và khái quát hóa lên một trình độ cao hơn, tổng quát hơnnhững điều đã đạt được

Trang 12

PHẦN II: NỘI DUNG ĐỀ TÀI

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG VÀ HOẠT ĐỘNG THÀNH

PHẦN

1 Phát hiện những hoạt động tương thích với nội dung

Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ với những hoạt động nhất định Đó trước hết là những hoạt động đã được tiến hành trong quá trình lịch sử hình thành và ứng dụng những tri thức được bao hàm trong nội dung này, cũng chính là những hoạt động để người học có thể kiến tạo và ứng dụng những tri

thức trong nội dung đó Trong quá trình dạy học, ta còn phải kể tới cả những

hoạt động có tác dụng củng cố tri thức, rèn luyện kĩ năng và hình thành thái

độ

Từ đó, một hoạt động của người học được gọi là tương thích với một nội

dung dạy học nếu nó có tác động góp phần kiến tạo hoặc củng cố, ứng dụngnhững tri thức được bao hàm trong nội dung đó hoặc rèn luyện những kĩnăng, hình thành những thái độ có liên quan (Mặc dù “ứng dụng” một trithức cũng có thể diễn ra như một hình thức của “củng cố”, nhưng nó còn cótác động tới toàn bộ việc học tri thức đó, cho nên trong câu trên “ứng dụng”được phát biểu tách ra để nhấn mạnh)

Với mỗi nội dung dạy học, ta cần phát hiện những hoạt động tương thíchvới nội dung này

Ví dụ 1: Khái niệm hàm tự khai báo.

Đối với một khái niệm cần hình thành theo con đường quy nạp như kháiniệm hàm thì những hoạt động phân tích, so sánh những đối tượng riêng lẻthích hợp, trừu tượng hoá tách ra các đặc điểm đặc trưng của chúng là tươngthích với khái niệm đó vì chúng đem lại kết quả là dẫn chủ thể tới sự hiểu biếtkhái niệm này Tương thích với khái niệm này còn có những hoạt động khácnữa như nhận dạng, thể hiện, xét mối liên hệ giữa nó với những khái niệmkhác như thủ tục, chương trình chính, các chương trình con khai báo sau nó, bởi vì những hoạt động đó góp phần giúp người học lĩnh hội và vận dụng kháiniệm hàm

Ví dụ 2 Khi dạy câu lệnh gán, lệnh rẽ hai nhánh dạng khuyết và câu lệnh

phức hợp ta có thể ra bài tập như sau:

Cho máy nhận vào 3 số nguyên từ bàn phím Sắp xếp 3 số đó theo thứ

tự tăng dần, in 3 số đã sắp lên màn hình

Mặc dù bản thân việc sắp xếp 3 số không phải là mục tiêu truyền thụ,nhưng hoạt động sắp xếp 3 số này bằng thuật giải đổi chỗ vẫn là tương thíchvới câu lệnh gán và câu lệnh phức hợp bởi vì sự hiểu biết hai kiến thức này làđiều kiện để tiến hành hoạt động sắp xếp nói trên Ta có thuật giải và chươngtrình như sau (xnếu xin đọc là xong nếu)

Thuật giải vd;

Trang 13

biến nguyên a, b, c ;

bắt đầu

Nhập vào a,b,c;

nếu b < a thì tráo đổi gía trị giữa hai biến a và b xnếu;

nêú c < b thì tráo đổi gía trị giữa hai biến c và b xnếu;

nếu b < a thì tráo đổi gía trị giữa hai biến a và b xnếu;

write( ' vao 3 so a, b, c '); readln(a, b, c );

if b < a then begin tg := a ; a := b ; b := tg end;

if c < b then begin tg := b ; b := c ; c := tg end;

if b < a then begin tg := a ; a := b ; b := tg end;

writeln(a:9,b:9,c:9); readln

End

Nhìn vào chương trình ta thấy rằng ở đoạn so sánh tráo đổi giá trị haibiến ở dòng đầu và dòng thứ ba hoàn toàn giống nhau về hình thức ( đó là cáctên biến biểu thị địa chỉ của biến ) nhưng nội dung ô nhớ a, b, c ( giá trị củacác biến a, b, c ) thì khác nhau vì đã thông qua những câu lệnh gán làm thayđổi giá trị cũ của nó Cũng do đặc điểm của câu lệnh gán nên ta phải dùngbiến trung gian tg để giữ lại giá trị của biến trước khi nó bị mất Sau THENpascal chỉ cho phép viết một câu lệnh do đó ta phải để ba câu lệnh gán củamỗi lần tráo đổi vào một câu lệnh phức hợp vì vậy mà chúng phải được đặttrong cặp từ khoá begin end;

Việc phát hiện những hoạt động tương thích với nội dung căn cứ mộtphần quan trọng vào sự hiểu biết về những hoạt động nhằm lĩnh hội nhữngdạng nội dung khác nhau: khái niệm, câu lệnh hay phương pháp, về nhữngcon đường khác nhau để lĩnh hội từng dạng nội dung, chẳng hạn con đườngquy nạp hay suy diễn để xây dựng khái niệm, con đường thuần tuý suy diễnhay có pha suy đoán để học tập câu lệnh

Trong việc phát hiện những hoạt động tương thích với nội dung, ta cần chú

ý xem xét những dạng hoạt động khác nhau trên những bình diện khác nhau.Những dạng hoạt động sau đây cần được dặc biệt chú ý:

- Nhận dạng và thể hiện,

Trang 14

- Những hoạt động Tin học phức hợp,

- Những hoạt động trí tuệ phổ biến trong Tin học,

- Những hoạt động trí tuệ chung;

- Những hoạt động ngôn ngữ

2 Phân tách hoạt động thành những thành phần

Trong quá trình hoạt động, nhiều khi một hoạt động này có thể xuất hiện nhưmột thành phần của một hoạt động khác Phân tách được một hoạt động thànhnhững hoạt động thành phần là biết được cách tiến hành hoạt động toàn bộ,nhờ đó có thể vừa quan tâm rèn luyện cho học sinh hoạt động toàn bộ vừa chú

ý cho họ tập luyện tách riêng những hoạt động thành phần khó hoặc quantrọng khi cần thiết Khi dạy một câu lệnh cũng cần cho học sinh tiến hànhtách hoạt động toàn bộ của câu lệnh thành những hoạt động thành phần

Ví dụ Dạy câu lệnh lặp với số lần định trước

For biến := biểu thức 1 To biểu thức 2 Do câu lệnh;

Giáo viên yêu cầu học sinh phân tách hoạt động của câu lệnh này thànhnhững hoạt động thành phần diễn ra theo trình tự như sau:

Đầu tiên máy kiểm tra điều kiện biểu thức 1 không lớn hơn biểu thức 2.Nếu điều kiện này đúng thì máy ghi nhớ giá trị của biểu thức 2 Tiếp đến máythực hiện liên tiếp ba hoạt động sau đây:

- Gán giá trị biểu thức 1 cho biến điều khiển chu trình

- Thực hiện câu lệnh sau Do

- Kiểm tra điều kiện ra khỏi vòng lặp, đó là giá trị của biến điều kiểnchu trình bằng giá trị của biểu thức 2 đã ghi nhớ Nếu điều kiện ra khỏi vònglặp sai thì máy lại thực hiện liên tiếp ba hoạt động sau đây:

- Biến điều khiển chu trình nhận giá trị tiếp theo giá trị hiện tại (tức làgiá trị của nó sau khi thực hiện câu lệnh sau Do)

- Thực hiện câu lệnh sau Do

- Quay lại kiểm tra điều kiện ra khỏi vòng lặp

Vòng lặp chỉ kết thúc khi máy quay lại kiểm tra điều kiện ra khỏi vònglặp mà điều kiện này đúng Giáo viên có thể cho học sinh thực hiện hoạt độngnhận dạng để đoán trước chương trình sau đây in lên màn hình những số nhưthế nào? và giải thích tại sao nó không dừng Nếu muốn cho chương trìnhdừng thì giá trị ban đầu gán cho k phải là số như thế nào? hoặc k phải xuấtphát từ số như thế nào ?

Program Forkhongdung ;

Trang 15

Nếu học sinh gặp khó khăn khi xây dựng thuật giải để giải một bài toánnào đó Giáo viên có thể tách riêng một hoạt động nào đó để rồi hướng dẫnhọc sinh thực hiện hoạt động nhận dạng và tương tự xét xem tình huống nàotrước đây đã gặp trong một chương trình nào đó gần giống hoặc tương thíchvới hoạt động này? và cho học sinh tập luyện những hoạt động ăn khớp vớihoạt động đó

3 Lựa chọn hoạt động dựa vào mục tiêu

Mỗi nội dung thường tiềm tàng nhiều hoạt động Tuy nhiên nếu khuyếnkhích tất cả các hoạt động như thế thì có thể sa vào tình trạng dàn trải, làmcho học sinh thêm rối ren Để khắc phục tình trạng này, cần sàng lọc nhữnghoạt động đã phát hiện được để tập trung vào một số mục tiêu nhất định Việctập trung vào những mục tiêu nào đó căn cứ vào tầm quan trọng của các mụctiêu này đối với việc thực hiện những mục tiêu còn lại, đối với khoa học, kĩthuật và đời sống, căn cứ vào tiềm năng và vai trò của nội dung tương ứng đốivới việc thực hiện những mục tiêu đó (có thể cân nhắc đối chiếu với nội dungkhác)

Ví dụ khái niệm chương trình con, những hoạt động tiềm tàng ở nội dungnày cần được khám phá, đồng thời cũng cần được cân nhắc, sàng lọc, tậptrung vào những mục tiêu sau đây ở những tiết đầu tiên học về thủ tục vàhàm:

Hiểu khái niệm tham chiếu và đối tượng thực Có kĩ năng truyền đốitượng thực sự cho tham chiếu khi gọi chương trình con Ở những tiết đầu tiênlàm việc với chương trình con, tập trung vào hai mục tiêu này là dựa vàonhững căn cứ sau đây: khái niệm tham chiếu, đối tượng thực sự và qui tắctruyền đối tượng thực sự cho tham chiếu khi gọi chương trình con là điều kiệncần thiết để học tập khái niệm chương trình con, một khái niệm rất quan trọng

để xây dựng chương trình có cấu trúc Kĩ năng truyền đối tượng thực sự chotham chiếu đòi hỏi sự hiểu biết cặn kẽ khái niệm tham biến, tham trị Ở đâytuy cũng đã có thể truyền thụ những kiến thức như chương trình con này gọichương trình con khác đã khai báo trước nó trong tầm hoạt động của chúng

Trang 16

Tầm hoạt động của biến, của chương trình con nhưng chúng tôi cho rằngcòn nhiều cơ hội sau này để rèn luyện những kĩ năng đó.

Sự thực hiện mục tiêu toàn diện cũng đòi hỏi chú ý cả những mục tiêu

về mặt giáo dục Chẳng hạn khi mã hoá chương trình giải phương trình bậchai ở biểu thức tính nghiệm, học sinh thường có thói quen viết mẫu số 2*a màquên không đặt chúng vào trong ngoặc bởi vì trong toán học họ viết là

- b +  và - b - 

Sang tin học họ có xu hướng viết là

(b + sqrt(d))/2*a và (-b - sqrt(d))/2*a

Nếu cho chạy thử với a = 1 ; b = -3 ; c = 2 để nhẩm nghiệm theo định

lí Viet thì họ sẽ thấy hai nghiệm đúng là 1 và 2 Nếu ai đó không có tính cẩnthận và thói quen tự kiểm tra thì họ sẽ mắc sai lầm khi dùng chương trình đó

để giải những phương trình bậc hai có a khác 1 Ví dụ này cũng góp phầngiáo dục cho học sinh tính cẩn thận khi mã hoá từ thuật giải sang chươngtrình Khi dạy cho học sinh giải phương trình bậc hai, tận dụng cơ hội nhắc lạibản chất của câu lệnh gán, ta giáo dục cho học sinh tính tiết kiệm biến để tiếtkiệm bộ nhớ, tiết kiệm công gõ trên bàn phím, tiết kiệm thời gian chạy máyqua chương trình như sau:

if c < 0 then write('phuong trinh vo nghiem')

else if c = 0 then write('nghiem kep',-b/(2*a):7:1)

Trang 17

Trong khi lựa chọn hoạt động, để đảm bảo sự tương thích của hoạt độngđối với mục tiêu dạy học, ta cần nắm được chức năng phương tiện và chứcnăng mục tiêu của hoạt động và mối liên hệ giữa hai chức năng này Trong

môn Tin, nhiều hoạt động xuất hiện trước hết như phương tiện để đạt những

yêu cầu tin học: kiến tạo tri thức, rèn luyện kĩ năng tin học Một số trongnhững hoạt động như thế nổi bật lên do tầm quan trọng của chúng trong Tinhọc, trong các môn học khác cũng như trong thực tế và việc thực hiện thành

thạo những hoạt động đó trở thành một trong những mục tiêu dạy học Đối

với những hoạt động này ta cần phối hợp chức năng mục tiêu và chức năngphương tiện theo công thức: "Thực hiện chức năng mục tiêu của hoạt độngtrong quá trình thực hiện chức năng phương tiện" (Faust 1978, tr 7 và tr 16).Chẳng hạn, ta cần tập luyện cho học sinh các hoạt động trừu tượng hoá, kháiquát hoá không phải chỉ để trừu tượng hoá và khái quát hoá như những mụctiêu tự thân, mà là nhằm để cho họ lĩnh hội một khái niệm, vận dụng một câulệnh, phát triển một kĩ năng tin học nào đó Hiệu quả của việc tập luyện cáchoạt động nêu ở trên phải thể hiện ở chỗ nâng cao chất lượng thực hiện cácyêu cầu tin học này

Theo quan điểm này thì năm dạng hoạt động đã nêu ở mục trên có vai tròkhông ngang nhau Ta cần hướng tập trung vào những hoạt động tin học, tức

là những hoạt động nhận dạng và thể hiện những khái niệm, câu lệnh và phương pháp, những hoạt động tin học phức hợp như xây dựng thuật giải,

Các dạng hoạt động còn lại không hề bị xem nhẹ, nhưng được tập luyện trongkhi và nhằm vào việc thực hiện các hoạt động tin học nói trên

KẾT LUẬN CHƯƠNG I:

Nghiên cứu, ứng dựng tư tưởng Hoạt động và hoạt động thành phầnkhông chỉ được vận dụng trong giảng dạy môn Tin học mà còn được vậndụng rộng rãi và phổ biến cho tất cả các ngành nghề Trong suốt quá trình từviệc phát hiện những hoạt động tương thích với nội dung, phân tích hoạt độngthành những thành phần, lựa chọn hoạt động dựa vào mục tiêu đến tập trung

vào những hoạt động tin học giúp người truyền đạt và người nghe đều cảm

thấy thoải mái trong hoạt động:

Thầy: Người tổ chức hướng dẫn quá trình dạy học (xác định mục đích,lựa chọn nội dung, kích thích hứng thú), động cơ của người học, tổ chức việchọc, sử dụng phương pháp, phương tiện một cách thích hợp

Trò: Xác định mục tiêu, chủ động tích cực lĩnh hội bài giảng, lựa chọncách học thích hợp để tìm kiếm kiến thức, cấu trúc lại vốn kiến thức củamình, vận dụng, kiểm tra đánh giá điều chỉnh việc học

Phương pháp dạy học hoạt động và hoạt động thành phần có thể giúp cácgiáo viên dạy học tốt hơn ở tất cả môi trường học, đồng thời giúp người giáoviên rèn luyện và nâng cao chuyên môn nghiệp vụ Bên cạnh đó, phương

Trang 18

pháp này đòi hỏi người giáo viên cần chủ động khi giảng dạy lí thuyết cũngnhư thực hành cho học sinh.

Ngày đăng: 03/08/2016, 13:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồ sỹ Đàm - (Chủ biên) - Tin học lớp 10 NXB Giáo dục, 2008 2. Trần Doãn Vinh - (Chủ biên) - Thiết kế bài giảng Tin học 10, 11, 12 - NXB ĐHSP Hà Nội 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sỹ Đàm - (Chủ biên) -" Tin học lớp 10" NXB Giáo dục, 2008 "2. "Trần Doãn Vinh - (Chủ biên) -" Thiết kế bài giảng Tin học 10, 11, 12
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Nguyễn Đình Tê - Hoàng Đức Hải - Giáo trình lý thuyết và bài tập tập 1, tập 2 – NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Tê - Hoàng Đức Hải - "Giáo trình lý thuyết và bài tập tập 1, tập 2
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Nguyễn Bá Lam - (Chủ biên) - Phương pháp giảng dạy môn tin học - NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bá Lam - (Chủ biên) - "Phương pháp giảng dạy môn tin học
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Lê Khắc Thành - (Chủ biên) - Phương pháp giảng dạy Tin học -NXB ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Khắc Thành - (Chủ biên) - "Phương pháp giảng dạy Tin học -
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
6. Trần Đức Huyên - (Chủ biên) - Phương pháp giả các bài toán trong Tin học - NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Đức Huyên - (Chủ biên) - "Phương pháp giả các bài toán trong Tin học -
Nhà XB: NXB Giáo dục
7. Nguyễn Bá Kiêm ( chủ biên) – Lê Khắc Thành, Lí luận và phương pháp dạy học đại cương môn tin học, NXB ĐHSP Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w