CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ ÁP DỤNG LUẬT CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU DỊCH VỤ LÀM SẠCH 4 1.1 Cơ sở lý luận về áp dụng luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch: 4 1.1.1 Khái niệm, mục đích, đặc điểm của hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch: 4 1.1.2 Khái niệm, mục tiêu của áp dụng Luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch: 8 1.2 Cơ sở pháp lý của áp dụng luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch: 14 1.2.1 Sơ lược các hình thức lựa chọn nhà thầu hiện nay: 14 1.2.1 Các quy định của Luật cạnh tranh để đảm bảo cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động đấu thầu: 17 1.2.2 Các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh: 18 1.2.2.1 Các hành vi hạn chế cạnh tranh: . 18 CHƯƠNG 2 25 THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU DỊCH VỤ LÀM SẠCH 25 2.1 Tổng quan hoạt động tham gia đấu thầu các gói thầu dịch vụ làm sạch tại Công ty CP Thương Mại & Dịch Vụ Công Nghiệp Hoàng Gia: 25 2.1.1 Khái quát sơ bộ về hoạt động tham gia đấu thầu các gói thầu dịch vụ làm sạch: 25 2.1.2 Quy trình tổ chức tham gia các gói thầu về dịch vụ làm sạch: 27 2.1.3 Thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch: 31 CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO ÁP DỤNG LUẬT LUẬT CẠNH TRANH, TẠO MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU DỊCH VỤ LÀM SẠCH 42 3.1 Đánh giá các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch: 42 3.1.1 Các hành vi hạn chế cạnh tranh: 42 3.1.2 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh: 42 3.2 Nguyên nhân dẫn đến các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch: 44 3.3 Các giải pháp nhằm đảm bảo áp dụng luật cạnh tranh, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch: 46
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật kinh doanh – Mã số 52380101
Người hướng dẫn khoa học: GVC - ThS Nguyễn
Triều Hoa
Trang 3TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành khoá luận này, tôi chân thành gửi lời cám ơn đến Thạc Sỹ,Giảng Viên Chính Nguyễn Triều Hoa và Cô Nguyễn Khánh Phương đã tận tâmhướng dẫn, chỉ bảo qua email và các buổi gặp trực tiếp Nếu không có những lờihướng dẫn, giảng dạy của các Cô thì tôi nghĩ bài luận văn này rất khó có thểhoàn thiện được Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn Và qua đây, tôi xinchân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Công ty Cổ Phần Thương Mại &Dịch Vụ Công Nghiệp Hoàng Gia, đặc biệt là các Anh, Chị Phòng Kinh Doanh
đã cung cấp các thông tin về các gói thầu dịch vụ làm sạch
Với lượng kiến thức còn hạn chế, do vậy không tránh khỏi những thiếu sót,tôi rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của các Cô và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
“Tôi xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từngđược ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõnguồn gốc”
Tác giả khóa luận
(ký và ghi rõ họ tên người cam đoan)
PHAN THỊ TRANG
Trang 6TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
-PHIẾU ĐIỂM CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP Sinh viên thực tập: PHAN THỊ TRANG MSSV: 33131023196 Lớp: Luật kinh doanh Khóa: 16 Hệ: VB2CQ Đơn vị thực tập: Công ty Cổ Phần Thương Mại & Dịch Vụ Công Nghiệp Hoàng Gia Thời gian thực tập: Từ 03/08/2015 đến 18/10/2015 Nhận xétchung: ………
………
………
………
Đánh giá cụ thể (1) Có tinh thần, thái độ, chấp hành tốt kỷ luật đơn vị; đảm bảo thời gian và nội dung thực tập của sinh viên trong thời gian thực tập (tối đa được 5 điểm)……….……… ….………
(2) Viết báo cáo giới thiệu về đơn vị thực tập (đầy đủ và chính xác) (tối đa được 2 điểm) ……… ……
(3) Ghi chép nhật ký thực tập (đầy đủ, cụ thể, rõ ràng, và chính xác) (tối đa được 3 điểm)……… … …
Điểm số tổng cộng (1) + (2) + (3)……….
Điểm chữ:……… ………
Tp.HCM, ngày …… tháng 10 năm 2015
Người nhận xét đánh giá
Viết rõ HỌ TÊN và CHỨC DANH của người nhận xét
Trang 7TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
PHIẾU ĐIỂM CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Sinh viên thực tập: PHAN THỊ TRANG MSSV: 33131023196
Lớp: Luật kinh doanh Khóa: 16 Hệ: VB2CQ
Đơn vị thực tập: Công ty Cổ Phần Thương Mại & Dịch Vụ Công Nghiệp Hoàng Gia
Đề tài nghiên cứu: Thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch
Nhận xét chung:
………
………
………
Đánh giá và chấm điểm quá trình thực tập
(1) Có tinh thần thái độ phù hợp, chấp hành kỷ luật tốt (tối đa 3 điểm) …… (2) Thực hiện tốt yêu cầu của GVHD, nộp KL đúng hạn (tối đa 7 điểm)……
Tổng cộng điểm thực tập cộng (1) + (2)……….
Điểm chữ:……… Kết luận của người hướng dẫn thực tập & viết khóa luận
(Giảng viên hướng dẫn cần ghi rõ việc cho phép hay không cho phép
đưa khóa luận ra khoa chấm điểm)
Trang 8TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
PHIẾU ĐIỂM CỦA NGƯỜI CHẤM THỨ NHẤT Sinh viên thực tập: PHAN THỊ TRANG MSSV: 33131023196 Lớp: Luật kinh doanh Khóa: 16 Hệ: VB2CQ Đơn vị thực tập: Công ty Cổ Phần Thương Mại & Dịch Vụ Công Nghiệp Hoàng Gia Đề tài nghiên cứu: Thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch Nhận xétchung: ………
………
………
Đánh giá cụ thể (1) Điểm quá trình (tối đa 1 điểm)……….
(2) Hình thức khóa luận (tối đa 1 điểm)……….
(3) Nội dung khóa luận - Tính phù hợp, thực tiễn và mới của đề tài (tối đa 1 điểm)…… …
- Phần mở đầu (tối đa 0,5 điểm)………
- Phần 1(tối đa 1,5 điểm)……… ………
- Phần 2 (tối đa 3 điểm)……….…….
- Phần 3 (tối đa 1 điểm)……….………… …….
- Phần kết luận (tối đa 1 điểm)……… ……
Điểm số tổng cộng (1) + (2) + (3)……….
Điểm chữ:……….
Tp.HCM, ngày …… tháng 10 năm 2015
Người chấm thứ nhất
Trang 9TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
PHIẾU ĐIỂM CỦA NGƯỜI CHẤM THỨ NHẤT Sinh viên thực tập: PHAN THỊ TRANG MSSV: 33131023196 Lớp: Luật kinh doanh Khóa: 16 Hệ: VB2CQ Đơn vị thực tập: Công ty Cổ Phần Thương Mại & Dịch Vụ Công Nghiệp Hoàng Gia Đề tài nghiên cứu: Thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch Nhận xétchung: ………
………
………
Đánh giá cụ thể (1) Điểm quá trình (tối đa 1 điểm)……….
(2) Hình thức khóa luận (tối đa 1 điểm)……….
(3) Nội dung khóa luận - Tính phù hợp, thực tiễn và mới của đề tài (tối đa 1 điểm)…… …
- Phần mở đầu (tối đa 0,5 điểm)………
- Phần 1(tối đa 1,5 điểm)……… ………
- Phần 2 (tối đa 3 điểm)……….…….
- Phần 3 (tối đa 1 điểm)……….………… …….
- Phần kết luận (tối đa 1 điểm)……… ……
Điểm số tổng cộng (1) + (2) + (3)……… ….
Điểm chữ:……… ……….
Tp.HCM, ngày …… tháng 10 năm 2015
Người chấm thứ hai
Trang 10MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
3 Phương pháp và phạm vi nghiên cứu 2
4 Kết cấu đề tài 3
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ ÁP DỤNG LUẬT CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU DỊCH VỤ LÀM SẠCH 4
1.1 Cơ sở lý luận về áp dụng luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch: 4
1.1.1 Khái niệm, mục đích, đặc điểm của hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch: 4
1.1.2 Khái niệm, mục tiêu của áp dụng Luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch: 8
1.2 Cơ sở pháp lý của áp dụng luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch: 14
1.2.1 Sơ lược các hình thức lựa chọn nhà thầu hiện nay: 14
1.2.1 Các quy định của Luật cạnh tranh để đảm bảo cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động đấu thầu: 17
1.2.2 Các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh: 18
1.2.2.1 Các hành vi hạn chế cạnh tranh: 18
CHƯƠNG 2 25
THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU DỊCH VỤ LÀM SẠCH 25
2.1 Tổng quan hoạt động tham gia đấu thầu các gói thầu dịch vụ làm sạch tại Công ty CP Thương Mại & Dịch Vụ Công Nghiệp Hoàng Gia:.25 2.1.1 Khái quát sơ bộ về hoạt động tham gia đấu thầu các gói thầu dịch vụ làm sạch: 25
2.1.2 Quy trình tổ chức tham gia các gói thầu về dịch vụ làm sạch: . .27
2.1.3 Thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch: 31
Trang 11CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO ÁP DỤNG LUẬT LUẬT CẠNH TRANH, TẠO MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU DỊCH VỤ LÀM SẠCH 42 3.1 Đánh giá các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch: 42 3.1.1 Các hành vi hạn chế cạnh tranh: 42 3.1.2 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh: 42 3.2 Nguyên nhân dẫn đến các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch: 44 3.3 Các giải pháp nhằm đảm bảo áp dụng luật cạnh tranh, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch: 46 KẾT LUẬN 49
Trang 12LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Đất nước ta đã và đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá
Do đó, hoạt động mua sắm, đầu tư diễn ra mạnh mẽ trên mọi miền đất nước
Để thực hiện nhu cầu đó cần phải có các đơn vị, cá nhân phối hợp thực hiện.Tuy nhiên với số lượng doanh nghiệp kinh doanh doanh đa ngành nghề vàlĩnh vực như hiện nay (Ước tính năm 2013, tổng số doanh nghiệp đăng kýthành lập mới là 76955 doanh nghiệp, tăng 10,1% so với năm 2012 với tổngvốn đăng ký là 398,7 nghìn tỷ đồng) thì làm cách nào để lựa chọn đơn vị cungcấp là câu hỏi đặt ra đối với nhiều người Đấu thầu là một hình thực lựa chọn.Đấu thầu là một quá trình chủ đầu tư lựa chọn tối thiểu một nhà thầu đáp ứngcác yêu cầu của mình theo quy định của luật pháp Trong nền kinh tế thịtrường, người mua tổ chức đấu thầu để người bán (các nhà thầu) cạnh tranhvới nhau Mục tiêu của người mua là có được hàng hóa và dịch vụ thỏa mãncác yêu cầu của mình về kỹ thuật, chất lượng và chi phí thấp nhất Mục đíchcủa nhà thầu là giành được quyền cung cấp hàng hóa dịch vụ đó với giá đủ bùđắp các chi phí đầu vào và đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể Tuy nhiênvới số lượng doanh nghiệp như đã nói ở trên thì việc cạnh tranh trên thịtrường sẽ hết sức khốc liệt Bằng mọi giá họ phải giành giật chiếm lĩnh thịtrường của nhau, đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến quyền cạnhtranh của các doanh nghiệp bị bóp méo “Cuộc chiến ngầm” trên thươngtrường đấu thầu khắc nghiệt và mánh khóe hơn những gì hiện hữu Trong đó,
có lúc nhà thầu được sắm vai là những “kép đào” chờ đợi “chủ sới” là chủđầu tư “ban phát” cho các “màn diễn” tùy theo “sức” Trớ trêu thay, nhiềulúc, “vở diễn” còn thêm phần kịch tính khi tất cả đều vượt ra khỏi “khán đàisân khấu” là những quy định pháp luật với muôn trò “lách” Hậu họa là tiềncủa Nhà nước đang dần “trôi” trong các phiên đấu thầu, trong khi chiếc
“barie” pháp lý ngăn ngừa vẫn chưa phát huy được tác dụng
Tiêu chí và mục đích đặt ra cho hoạt động đấu thầu là công khai, minhbạch, cạnh tranh và hiệu quả kinh tế Theo đó, các cơ quan quản lý của nhànước đã ban hành hệ thống quy phạm pháp luật để điều chỉnh: Luật cạnh
Trang 13tranh, Luật đấu thầu, các nghị định, thông tư hướng dẫn để đảm bảo cạnhtranh trong hoạt động đấu thầu Thế nhưng, từ lý thuyết đến thực hiện là cảmột quãng đường dài Đặc biệt trong dịch vụ làm sạch, với đối tượng kháchhàng chủ yếu là các cơ quan nhà nước và các Công ty có quy mô lớn nên việclựa chọn đơn vị cung cấp chủ yếu dựa vào kết quả đấu thầu Vì thực tế đã
trình bày ở trên nên tôi chọn đề tài “Thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh
trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch” để nghiên cứu Qua thực tiễn áp
dụng luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu về dịch vụ vệ sinh công nghiệpphần nào chúng ta sẽ hiểu rõ cuộc chiến “giành giật” thị phần cung cấp dịch
vụ làm sạch giữa các nhà cung cấp hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Dựa trên những quy định hiện hành về đấu thầu, Luật cạnh tranh vàthực tiễn áp dụng Luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch,bài luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu các hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnhtranh không lành mạnh của doanh nghiệp khi tham gia dự thầu các gói thầudịch vụ làm sạch Liệu rằng với những quy định, đạo luật hiện hành có hạnchế được những hành vi đó hay không? Để đảm quyền cạnh tranh của cácdoanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế Từ đóđưa ra những đề xuất để việc thực hiện pháp luật về cạnh tranh trong hoạtđộng đấu thầu nghiêm chỉnh hơn và đặc biệt là góp phần nâng cao năng lựccạnh tranh cho Việt Nam trên đấu trường quốc tế
3 Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
Để viết bài luận văn này, tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính
đi từ tổng quan về các quy định hiện hành đến thực tế việc áp dụng các quyđịnh pháp luật đó Sau đó sử dụng kỹ năng phân tích, bình luận, so sánh, tổnghợp để hoàn thiện nội dung đã đặt ra
Để việc nghiên cứu đề tài sâu sắc hơn, tôi chỉ tìm hiểu các quy địnhpháp luật liên quan đến việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong hoạtđộng đấu thầu dịch vụ làm sạch hiện nay
Trang 144 Kết cấu đề tài
Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài, mục tiêu, phạm vi, ý nghĩa thực tiễn,
kết cấu đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về áp dụng luật cạnh tranh
trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch
Chương 2: Thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu
dịch vụ làm sạch
Chương 3: Các giải pháp để đảm bảo áp dụng luật luật cạnh tranh, tạo
môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch
Phần kết luận:
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ ÁP DỤNG LUẬT CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU DỊCH VỤ
LÀM SẠCH 1.1 Cơ sở lý luận về áp dụng luật cạnh tranh trong hoạt động
đấu thầu dịch vụ làm sạch:
1.1.1 Khái niệm, mục đích, đặc điểm của hoạt động đấu thầu dịch vụ làm
sạch:
1.1.1 Khái niệm hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch:
Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợpđồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp;lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hìnhthức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnhtranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế (khoản 12 Đ.4 Luật đấu thầu2013) Dưới góc độ của lý luận về cạnh tranh, đấu thầu được nhìn nhận làhình thức lựa chọn người cung cấp hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ, theo đóngười tổ chức mời thầu sử dụng cơ chế cạnh tranh bằng cách đưa ra gói thầu
để các bên dự thầu cạnh tranh nhau về giá, về chất lượng…
Với mong muốn có thể lựa chọn được người cung cấp hàng hóa, cungcấp dịch vụ có chất lượng tốt nhất và mức giá rẻ nhất
Gói thầu là một phần hoặc toàn bộ dự án, dự toán mua sắm; gói thầu cóthể gồm những nội dung mua sắm giống nhau thuộc nhiều dự án hoặc là khốilượng mua sắm một lần, khối lượng mua sắm cho một thời kỳ đối với muasắm thường xuyên, mua sắm tập trung (khoản 22 Điều 4 Luật đấu thầu 2013)
Hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch là quá trình lựa chọn nhà thầu đápứng được các yêu cầu của bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhàthầu trong lĩnh vực làm sạch
Trang 16Bên mời thầu là chủ dự án, chủ đầu tư hoặc pháp nhân đại diện hợppháp của chủ dự án (bên tư vấn đấu thầu) được giao trách nhiệm thực hiệncông việc đấu thầu.
Nhà thầu là tổ chức kinh tế có đủ tư cách pháp nhân tham gia đấu thầu.Trong trường hợp đấu thầu tuyển chọn tư vấn, nhà thầu có thể là cá nhân Nhàthầu là nhà cung cấp dịch vụ làm sạch trong đấu thầu gói thầu dịch vụ làmsạch Nhà thầu trong nước là nhà thầu có tư cách pháp nhân Việt Nam và hoạtđộng hợp pháp tại Việt Nam
1.1.2 Đặc trưng hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch:
Có thể thấy hoạt động đấu thầu trong dịch vụ làm sạch nói riêng vàtrong thương mại nói chung có những đặc trưng nổi bật sau:
Thứ nhất, hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch là một hoạt động
thương mại nên nó có những đặc điểm chung với các hoạt động thương mạikhác như: hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch nhằm mục đích sinh lời chocác đơn vị trúng thầu; quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ đấuthầu được xác định theo những hình thức pháp lý nhất định do pháp luật quyđịnh
Thứ hai, đấu thầu dịch vụ làm sạch chỉ được tổ chức khi một bên chủ
thể có nhu cầu sử dụng dịch vụ đó với mục đích lựa chọn đơn vị cung cấphàng hóa dịch vụ tốt nhất theo yêu cầu Kết quả đấu thầu là cơ sở để các bênthương thảo và ký hợp đồng cung ứng dịch vụ làm sạch, trong đó nội dunghợp đồng bao gồm cả những chi tiết trong hồ sơ dự thầu Vì thế, thực chấthoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch chỉ là giai đoạn tiền hợp đồng thươngmại chứ không hẳn là một hoạt động thương mại độc lập
Thứ ba, các bên trong quan hệ đấu thầu dịch vụ làm sạch cũng chính là
bên mua và bên bán hàng hóa, dịch vụ Bên mời thầu có nhu cầu mua sắmhàng hóa, sử dụng dịch vụ, còn bên tham gia dự thầu là tổ chức, cá nhân cóchức năng và năng lực cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho gói thầu Nếu đấu thầuthành công, các bên ký kết được hợp đồng, thì bên dự thầu sẽ trở thành bênbán và bên mời thầu trở thành bên mua dịch vụ
Trang 17Thứ tư, đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là một quá trình mua bán hàng hóa,
dịch vụ luôn có sự tham gia của một bên mời thầu và nhiều nhà thầu (trừtrường hợp chỉ định thầu) Sở dĩ có đặc điểm này là vì xuất phát từ bản chấtcủa đấu thầu là phương thức để giúp người mua lựa chọn người bán nên trongmỗi gói thầu phải tạo ra sự cạnh tranh càng lớn càng tốt giữa những người cónăng lực cung cấp hàng hóa, dịch vụ, thông qua đó, người mua có thể lựachọn người bán tốt nhất
Thứ năm, đấu thầu hàng hóa, dịch vụ được thực hiện dưới hình thức
pháp lý là hồ sơ mời thầu và hồ sơ dự thầu (trừ trường hợp chỉ định thầu) Hồ
sơ mời thầu là văn bản do bên mời thầu đặt ra, trong đó thể hiện đầy đủ nhữngyêu cầu về mặt kỹ thuật, tài chính thương mại của dịch vụ làm sạch nóiriêng và hàng hóa dịch vụ cần mua sắm nói chung Nói cách khác, hồ sơ mờithầu được ví như “đề thi”, nếu ai muốn tham gia thì phải chuẩn bị hồ sơ chobài thi đó Căn cứ vào hồ sơ dự thầu, bên mời thầu xem xét, đánh giá, lựachọn người thắng cuộc để thương thảo và ký kết hợp đồng Hồ sơ này là căn
cứ pháp lý làm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bêntrong quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ
Thứ sáu, đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là một quá trình gồm nhiều giai
đoạn Muốn tiến hành hoạt động đấu thầu các bên phải thực hiện qua nhiềugiai đoạn như đăng báo đấu thầu, mời thầu, dự thầu, mở thầu, xét thầu, xếphạng và lựa chọn nhà thầu, công bố kết quả đấu thầu, thương thảo và ký kếthợp đồng Mỗi giai đoạn của quá trình đấu thầu đều hướng tới mục tiêu khácnhau nhưng giữa chúng luôn luôn có mối hiên hệ mật thiết, gắn bó
1.1.3 Mục đích của hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch:
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế nước nhà,đặc biệt trình độ chuyên môn hóa ngày càng cao, các tòa nhà, bệnh viện,trường học, trung tâm thương mại mọc ra ngày càng nhiều Điều này tạothuận lợi kinh doanh trong lĩnh vực làm sạch Và với công tác làm sạch chủyếu dựa vào lao động phổ thông, yêu cầu về kỹ thuật tương đối thấp nên córất nhiều doanh nghiệp và cá nhân tham gia hoạt động kinh doanh lĩnh vựcnày Điều này đồng nghĩa với việc “chiếc bánh ngọt” phải chia sẻ cho rất
Trang 18nhiều nhà cung cấp thì cuộc chiến cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kinhdoanh dịch vụ làm sạch diễn ra ngày càng gay gắt Vì vậy, câu hỏi đặt ra vớicác chủ đầu tư (bên mời thầu) là làm thế nào để lựa chọn các tổ chức và cánhân có khả năng thực hiện tốt nhất những công việc trong các gói thầu nóichung và gói thầu dịch vụ làm sạch nói riêng Lịch sử phát triển và quản lý dự
án trong nước và quốc tế đã khẳng định, đấu thầu là phương pháp mang lạihiệu quả cao nhất, đảm bảo cho sự thành công của chủ đầu tư Đấu thầu đượcxem như một phương pháp quản lý dự án có hiệu quả nhất hiện nay trên cơ sởchống độc quyền, tăng cường khả năng cạnh tranh giữa các nhà thầu
Ngoài ra đối với nhà thầu thắng thầu đồng nghĩa với việc mang lại công
ăn việc làm cho cán bộ công nhân viên, nâng cao uy tín của nhà thầu trênthương trường, thu được lợi nhuận, tích luỹ thêm nhiều kinh nghiệm tronglĩnh vực dịch vụ làm sạch và quản lý, đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân lànhnghề, máy móc thiết bị phục vụ công tác kinh doanh được tăng cường Vậymục tiêu của hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch đối với chủ đầu tư và nhànước thì như thế nào? Thông qua đấu thầu, chủ đầu tư sẽ lựa chọn được cácnhà thầu có khả năng đáp ứng được tốt nhất các yêu cầu kinh tế, kỹ thuật, tiến
độ đặt ra Trên cơ sở đó giúp cho chủ đầu tư vừa sử dụng hiệu quả, tiết kiệmvốn đầu tư, đồng thời vẫn đảm bảo được chất lượng cũng như đảm bảo chứcnăng hoạt động của các chủ đầu tư Thông qua đấu thầu, chủ đầu tư cũng sẽnắm bắt được quyền chủ động, quản lý có hiệu quả và giảm thiểu được các rủi
ro phát sinh trong quá trình thực hiện công việc do toàn bộ quá trình tổ chứcđấu thầu và thực hiện kết quả đấu thầu đã được pháp luật quy định để đánhgiá đúng các hồ sơ dự thầu đòi hỏi đội ngũ cán bộ thực hiện công tác đấu thầucủa chủ đầu tư phải tự nâng cao trình độ của mình về các mặt nên việc ápdụng phương thức đấu thầu còn giúp cho chủ đầu tư nâng cao trình độ vànăng lực của cán bộ công nhân viên
Như tôi đã đề cập ở trên, dịch vụ làm sạch có mặt ở mọi nơi tại các đơn
vị công lập và ngoài công lập Do đó, công tác đấu thầu dịch vụ làm sạchmang lại ý nghĩa to lớn đối với nhà nước Đấu thầu góp phần nâng cao hiệuquả của công tác quản lý nhà nước về đầu tư, sử dụng ngân sách nhà nước
Trang 19hợp lý, quản lý sử dụng vốn một cách hiệu quả, hạn chế và loại trừ các tìnhtrạng như: thất thoát nguồn ngân sách, các hiện tượng tiêu cực phát sinh trongquá trình đấu thầu Hoạt động đấu thầu tạo nên sự lành mạnh trong lĩnh vựclàm sạch, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa trong ngành dịch vụlàm sạch cũng như trong nền kinh tế quốc dân.
1.1.2 Khái niệm, mục tiêu của áp dụng Luật cạnh tranh trong hoạt động
đấu thầu dịch vụ làm sạch:
1.1.1 Khái niệm áp dụng luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu dịch
vụ làm sạch:
Ở trên tôi đã giới thiệu sơ lược về hoạt động đấu thầu là gì, đặc trưng
và mục tiêu của hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch, vậy để hiểu rõ hơn vềkhái niệm áp dụng Luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làmsạch, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu một số khái niệm như: cạnh tranh, Luậtcạnh tranh, áp dụng Luật cạnh tranh
Khái niệm cạnh tranh với tư cách là một hiện tượng kinh tế, xuất hiện
và tồn tại với tính cách là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thịtrường, là năng lực phát triển của kinh tế thị trường
Với cách tiếp cận này, từ điển kinh doanh của Anh năm 1992 đãđịnh nghĩa: cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch của các nhà kinh doanhtrên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùngmột loại khách hàng về phía mình Từ điển Tiếng việt Bách khoa tri thức phổthông cũng giải thích cạnh tranh là sự ganh đua giữa những nhà sản xuất hànghóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế nhằm giànhcác điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.1
Hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực làm sạch đó là sự giành giật thịphần dịch vụ làm sạch giữa các nhà cung cấp dịch vụ làm sạch Có thể bằngnhiều phương thức cạnh tranh để họ giành phần thắng trong cuộc chiến khốcliệt thuộc về mình
1 Nguyễn Thị Vân Anh (2012), Giáo Trình Luật Cạnh Tranh, NXB Công An Nhân Dân, Hà Nội, tr.6
Trang 20Với tính cách là một trong những bộ phận pháp luật nền tảng của nềnkinh tế thị trường hiện đại, Luật cạnh tranh đang trong quá trình tạo lập chỗđứng thích hợp cho mình trong hệ thống pháp luật Việt Nam Luật cạnh tranh
là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh giữa cácchủ thể kinh doanh trên thương trường đồng thời bao gồm các quy định đảmbảo thực thi luật cạnh tranh trong thực tế 2 Xét về nội dung điều chỉnh, luậtcạnh tranh điều chỉnh những quan hệ sau: Quan hệ cạnh tranh giữa các doanhnghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh trên thị trường; quan hệ giữa các
cơ quan thi hành luật cạnh tranh với các chủ thể kinh doanh khi họ thực hiệncác hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh
Áp dụng luật cạnh tranh là việc vận dụng, đưa các quy tắc ứng xử vềhành vi cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh ứng dụng trong thực tế Đểbảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, nhà nước đã tạo ra hành lang pháp
lý để các chủ thể kinh doanh hoạt động trong phạm vi mà luật cạnh tranh chophép Dù hoạt động trong lĩnh vực hay ngành nghề gì đi chăng nữa chúng taphải tôn trọng pháp luật, đưa các quy định về cạnh tranh áp dụng trong thực
tế, là kim chỉ nam cho các hoạt động kinh doanh
1.1.2 Mục tiêu áp dụng luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ
có thể làm lành mạnh hóa môi trường cạnh tranh, ngăn chặn các hành vi cảntrở cạnh tranh Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nước ta không
có nền sản xuất hàng hóa, không có tự do kinh doanh và do đó không có nhucầu điều chỉnh của Luật cạnh tranh nên pháp luật cạnh tranh không tồn tại
2 Nguyễn Thị Vân Anh (2012), Giáo Trình Luật Cạnh Tranh, NXB Công An Nhân Dân, Hà Nội, tr.33
Trang 21Nhưng từ khi đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự định hướng Xã hộichủ nghĩa, theo đúng quy luật tự nhiên, cạnh tranh trong kinh doanh đã xuấthiện và diễn ra ngày càng gay gắt
Trên thương trường các chủ thể kinh doanh đã sử dụng nhiều biện pháp
và thủ đoạn cạnh tranh, thậm chí nguy hiểm làm thiệt hại không nhỏ đến lợiích công cộng, lợi ích của các nhà kinh doanh chân chính và của người tiêudùng Nguyên nhân cơ bản của thực trạng trên là do chúng ta còn thiếu mộtkhuôn khổ pháp lý thích hợp cho cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh có thể là con đường đi đếnthành công và đem lại lợi nhuận cho những nhà kinh doanh này, nó cũng làcon đường dẫn đến sự thua lỗ, phá sản của một vài doanh nghiệp kinh doanhyếu kém Điều này thể hiện tính hai mặt của cạnh tranh và là quy luật của nềnkinh tế thị trường mà các nhà kinh doanh cũng như Nhà nước phải chấp nhậnchứ không thể phá bỏ Thế nhưng nếu xét một cách toàn diện, trong nền kinh
tế thị trường sự thua lỗ và phá sản chỉ là rất nhỏ so với những lợi ích to lớn
mà xã hội và số rất đông những người khác có được nhờ có cạnh tranh, và đó
là con đường của sự phát triển
Cạnh tranh trong kinh doanh đã như một sức mạnh vô hình đòi hỏi cácnhà kinh doanh luôn luôn phải vận động, tìm tòi, không ngừng tìm kiếm cáckhả năng, con đường để tìm kiếm lợi nhuận trong kinh doanh Vì thế, Nhànước của nền kinh tế thị trường phải sử dụng quyền lực để điều tiết nền kinh
tế và bảo vệ cạnh tranh, khuyến khích cạnh tranh Khuyến khích và bảo vệcạnh tranh lành mạnh vừa là mục đích vừa là cách thức để thực hiện sự điềutiết của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế Muốn khuyến khích cạnh tranhthì Nhà nước phải tạo ra khuôn khổ pháp lý Các quy phạm pháp luật về cạnhtranh được xây dựng trên nền tảng những nguyên tắc cơ bản của nền kinh tếthị trường, cho các hoạt động kinh doanh và cạnh tranh của các chủ thể kinhdoanh
Muốn bảo vệ và khuyến khích cạnh tranh, để cạnh tranh thực sự manglại lợi ích cho xã hội, đảm bảo lợi ích chính đáng cho các chủ thể kinh doanh
Trang 22cũng chính là những chủ thể tham gia cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi của ngườitiêu dùng thì pháp luật cạnh tranh phải có bổn phận ngăn chặn và loại bỏ mọihình thức, thủ đoạn phá vỡ môi trường cạnh tranh
Theo xu hướng tự nhiên, tự do cạnh tranh nếu không có sự điều tiếtbằng các công cụ thích hợp của Nhà nước với tư cách là chủ thể của quyềnlực công cộng thì nó sẽ phát triển theo xu thế từ cạnh tranh lành mạnh sangcạnh tranh không lành mạnh, từ cạnh tranh không lành mạnh sẽ dẫn đến độcquyền, nếu đã có độc quyền thì không có cạnh tranh Khi có độc quyền cácdoanh nghiệp độc quyền sẽ sử dụng sức mạnh của mình ngăn cản các chủ thểkinh doanh khác tham gia thị trường và sẽ lạm dụng vị thế độc quyền để khaithác thị trường, trong hoàn cảnh đó những người tiêu dùng sẽ không có sự lựachọn nào khác ngoài việc phải mua hàng hóa, dịch vụ của nhà kinh doanh độcquyền với các điều kiện thương mại bị áp đặt với giá cao Độc quyền sẽ gâythiệt hại ở mức độ nhất định đến lợi ích công cộng, lợi ích của người tiêudùng và làm hạn chế quyền được lựa chọn của người tiêu dùng mà lẽ ra họđược hưởng Vì thế trong nền kinh tế thị trường văn minh, lĩnh vực pháp luật
về chống độc quyền là không thể thiếu vắng, Nhà nước cần phải sử dụng phápluật để ngăn chặn khả năng đạt tới độc quyền bằng nhiều biện pháp
Người tiêu dùng được coi là nhân vật trung tâm của thị trường, họ làmục tiêu mà tất cả các nhà kinh doanh đều hướng tới Ngày nay các nhà kinh
tế và hoạch định chính sách đều cho rằng một trong những động lực của sựphát triển là nằm ở mức cầu của xã hội, do đó nhiều quốc gia trên thế giới đều
có những biện pháp để kích cầu xã hội Người tiêu dùng cũng có thể được cácnhà kinh doanh coi là thượng đế, song họ cũng rất dễ bị dụ dỗ, lừa gạt và bịbóc lột bởi các thủ đoạn cạnh tranh bất chính của các chủ thể kinh doanh Do
đó bên cạnh mục tiêu bảo vệ các lợi ích khác, luật cạnh tranh phải hướng tớimục tiêu bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
Tóm lại, hoạt động lập pháp là một chức năng cơ bản của Nhà nước.Cho dù là nền kinh tế thị trường thuần túy của chủ nghĩa tư bản hay là nềnkinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì ở mức độ khái quát,mục tiêu cơ bản của Luật cạnh tranh cũng khá tương đồng Luật cạnh tranh
Trang 23trong nền kinh tế thị trường ở nước ta cần phải đảm bảo các mục tiêu cụ thểsau: Bảo vệ và khuyến khích cạnh tranh; Chống các hành vi cạnh tranh khônglành mạnh, Chống các hành vi hạn chế cạnh tranh, Chống độc quyền và lạmdụng vị trí thống lĩnh.
Nhìn chung pháp luật cạnh tranh của các nước có nền kinh tế thị trườngphát triển thường gồm hai lĩnh vực chủ yếu là lĩnh vực pháp luật chống cạnhtranh không lành mạnh (unfair competition) và lĩnh vực pháp luật chống cáchành vi hạn chế cạnh tranh (restrictive competition), chống độc quyền Khithực hiện được hai mục tiêu là chống cạnh tranh không lành mạnh và chốngcác hạn chế cạnh tranh thì sẽ bảo vệ môi trường kinh doanh cạnh tranh lànhmạnh, bình đẳng, không phân biệt đối xử khuyến khích cạnh tranh và bảo vệcác lợi ích công cộng, lợi ích chính đáng của các nhà kinh doanh và của ngườitiêu dùng trong lĩnh vực dịch vụ làm sạch nói riêng và hoạt động kinh doanhthương mại nói chung
1.1.3 Đặc điểm các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không
lành mạnh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch:
1.1.3.1 Đặc điểm của hành vi hạn chế cạnh tranh:
Hành vi hạn chế cạnh tranh được hiểu là hành vi làm giảm, sai lệch,cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnhtranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền, tậptrung kinh tế.3
Trong hoạt động làm sạch, hành vi hạn chế cạnh tranh được hiểu nhưsau:
Chủ thể tham gia hành vi là các cá nhân, tổ chức hoạt động kinh doanhtrong lĩnh vực làm sạch Ngoài ra, hành vi hạn chế cạnh tranh còn được thựchiện bởi các cá nhân làm việc trong các cơ quan quản lý của nhà nước, các tổchức khác với cương vị là chủ đầu tư (bên mời thầu)
Các hành vi mà các chủ thể trên xác lập trái với các quy định của phápluật Chẳng hạn, pháp luật có quy định về vấn đề thông thầu và gói thầu làm
3 Lê Hoàng Oanh (2005), Bình Luận Khoa Học Luật Cạnh Tranh, NXB Chính Trị Quốc Gia, tr.14
Trang 24sạch chỉ lựa chọn một nhà thầu tham gia được thắng thầu duy nhất Do đó,các nhà cung cấp có thể tự thỏa thuận với nhau để cử một đơn vị được trúngthầu Sau đó, có thể chia nhau lợi nhuận từ việc cung cấp dịch vụ làm sạch đó,hoặc cũng có thể nâng giá để hưởng lợi Chính các hành vi này gây thiệt hạikhông nhỏ cho bên mời thầu.
1.1.3.2 Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh:
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh được xác định là các hành vi củadoanh nghiệp nhằm mục đích cạnh tranh trong quá trình kinh doanh trái cácchuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gâythiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệpkhác hoặc người tiêu dùng, bao gồm các hành vi chủ yếu như: giả mạo chỉdẫn thương mại, xâm phạm bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh doanh,dèm pha doanh nghiệp khác, gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpkhác, quảng cáo, khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, phân biệtđối xử của hiệp hội, bán hàng đa cấp 4
Trái ngược với hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnhtranh lành mạnh, đó là hình thức cạnh tranh công khai, công bằng và ngaythẳng giữa các đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh Từ định nghĩa trên, chúng
ta hiểu rằng cạnh tranh không lành mạnh có thể là hành vi của tổ chức, cánhân kinh doanh vi phạm điều cấm của pháp luật (luật cạnh tranh, luật thươngmại, luật sở hữu trí tuệ hoặc các hành vi vi phạm các tiêu chuẩn lành mạnhkhác)
1.2 Cơ sở pháp lý của áp dụng luật cạnh tranh trong hoạt
động đấu thầu dịch vụ làm sạch:
1.2.1 Sơ lược các hình thức lựa chọn nhà thầu hiện nay:
Theo Chương II Luật đấu thầu 2013 quy định một số hình thức như sau:
Đấu thầu rộng rãi:
4 Lê Hoàng Oanh (2005), Bình Luận Khoa Học Luật Cạnh Tranh, NXB Chính Trị Quốc Gia, tr.14
Trang 25Là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia Bênmời thầu phải thông báo công khai về các điều kiện, thời gian dự thầu trên cácphương tiện thông tin đại chúng trước khi phát hành hồ sơ mời thầu
Đặc điểm mang tính công khai và tính cạnh tranh cao
Chủ đầu tư phải thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đạichúng tối thiểu 03 ngày trước khi phát hành hồ sơ mời thầu và ghi rõ điềukiện, thời gian dự thầu để các nhà thầu được biết và có thể tham ra Quá trìnhxét thầu được thực hiện công khai bình đẳng Nhà thầu nào có giá thầu hợp lýthuộc phạm vi giá của chủ đầu tư dự kiến (giá trần) và thoả mãn được cácđiều kiện mà chủ đầu tư đề ra thì nhà thầu đó trúng thầu
Hình thức này được gọi là không thành công khi không có người dựthầu hoặc không có Nhà thầu nào đưa ra các điều kiện chấp nhận được, khi đó
sẽ tổ chức mở thầu lại Đối với các gói thầu lớn, phức tạp về công nghệ và kỹthuật, Chủ đầu tư phải tiến hành sơ tuyển để lựa chọn Nhà thầu có đủ tư cách,năng lực tham gia dự thầu
Đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu được áp dụng trong đấu thầu
Đấu thầu hạn chế:
Theo quy định tại Điều 21 Luật đấu thầu 2013: Đấu thầu hạn chế được ápdụng trong trường hợp gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc có tính đặcthù cao về kỹ thuật mà chỉ có một số nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu.Theo đó, chủ đầu tư phải xác định, phê duyệt danh sách ngắn gồm tối thiểu 3nhà thầu có năng lực, kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu của gói thầu và có nhucầu tham dự thầu; các nhà thầu có tên trong danh sách ngắn không được liêndanh với nhau để tham dự thầu (Khoản 2, 3 Đ.22 Nghị định 63/2014/NĐ-CPngày Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu vềlựa chọn nhà thầu)
Việc xét thầu và công nhận trúng thầu giống như hình thức đấu thầu rộngrãi
Chỉ định thầu:
Trang 26Được quy định chi tiết tại Điều 22 Chương II Luật Đấu thầu 2013.Chỉ định thầu là hình thức chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng yêu cầu củagói thầu để thương thảo hợp đồng.
Đây là hình thức đặc biệt được áp dụng theo quy định của Điều lệ quản
lý đầu tư và xây dựng đối với các gói thầu sử dụng vốn Nhà nước được phépchỉ định thầu Hình thức này có thể tiến hành mời thầu giống đấu thầu rộngrãi hay hạn chế Tuy nhiên, bên mời thầu chỉ thương thảo hợp đồng với mộtnhà thầu do người có thẩm quyền quyết định đầu tư chỉ định, nếu không đạtđược yêu cầu mới thương thảo với nhà thầu khác Về nội dung và hình thức tổchức cũng như hình thức đấu thầu hạn chế nhưng khác ở chỗ không yêu cầuNhà thầu phải nộp tiền bảo lãnh dự thầu và khi mở thầu không nhất thiết sự
có mặt của đơn vị dự chọn thầu
Hạn mức chỉ định thầu (Đ.54 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP): khôngquá 500 triệu đồng đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tưvấn, dịch vụ công; không quá 01 tỷ đồng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa,xây lắp, hỗn hợp, mua thuốc, vật tư y tế, sản phẩm công; và không quá 100triệu đồng đối với gói thầu thuộc dự toán mua sắm thường xuyên
Chào hàng cạnh tranh:
Theo Đ.23 Luật đấu thầu 2013 và Đ.57 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP.Hình thức này được áp dụng cho những gói thầu mua sắm hàng hóathông thường có giá trị dưới 05 tỷ đồng Mỗi gói thầu phải có ít nhất 3 chàohàng của 03 nhà thầu khác nhau trên cơ sở yêu cầu chào hàng của Bên mờithầu
Nhìn chung, hình thức lựa chọn nhà thầu này chỉ được áp dụng vớinhững gói thầu có giá trị nhỏ và khó tránh khỏi việc xé nhỏ gói thầu và thôngđồng giữa 03 nhà thầu gửi hồ sơ đề xuất
Mua sắm trực tiếp:
Theo Đ.24 Luật Đấu Thầu 2013:
Trang 27Được áp dụng trong trường hợp bổ sung hợp đồng cũ đã thực hiện xong(dưới một năm) hoặc hợp đồng đang thực hiện với điều kiện chủ đầu tư cónhu cầu tăng thêm số lượng hàng hóa hoặc khối lượng công việc mà trước đó
đã được tiến hành đấu thầu, nhưng phải đảm bảo không được vượt mức giáhoặc đơn giá trong hợp đồng đã ký trước đó
Tự thực hiện:
Theo Đ.25 Luật đấu thầu 2013; Đ.61,62 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP
Tự thực hiện được áp dụng đối với gói thầu thuộc dự án, dự toán muasắm trong trường hợp tổ chức trực tiếp quản lý, sử dụng gói thầu có năng lực
kỹ thuật, tài chính và kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu của gói thầu
Hình thức tự thực hiện được áp dụng trong trường hợp chủ đầu tư
là nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm để thực hiện gói thầu thuộc dự án
do mình quản lý và sử dụng
Khi áp dụng hình thức tự thực hiện, dự toán cho gói thầu phải được phêduyệt theo quy định Đơn vị giám sát việc thực hiện gói thầu phải độc lập vớichủ đầu tư về tổ chức và tài chính
Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt:
Đ.26 Luật đấu thầu 2013:
“Trường hợp gói thầu, dự án xuất hiện các điều kiện đặc thù, riêng biệt
mà không thể áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư quy địnhtại các Đ.20, 21, 22, 23, 24 và 25 của Luật đấu thầu 2013 thì người có thẩmquyền trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định phương án lựa chọnnhà thầu, nhà đầu tư.”
Sở dĩ có quy định trên là vì thực tiễn thời gian qua có những trường hợp nếuchỉ áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư sẽ không có lợi choquốc gia như đối với các dự án dầu khí, dự án nhà máy điện hạt nhân… Do
đó, Ủy ban thường vụ quốc hội đã bổ sung điều luật trên
Tham gia thực hiện của cộng đồng:
Đ.27 Luật Đấu thầu 2013:
Trang 28Áp dụng đối với các gói thầu ở địa bàn khó khăn và khu dân cư đó cóthể đảm nhiệm hoàn thành gói thầu đó Quy định này tạo điều kiện cho ngườidân có thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập, góp phần ổn định kinh tế, chínhtrị tại một số vùng miền.
1.2.1 Các quy định của Luật cạnh tranh để đảm bảo cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động đấu thầu:
Cạnh tranh là một bộ phận của hoạt động kinh doanh và là một quyền
cơ bản của doanh nghiệp Theo Đ.1 Luật cạnh tranh 2004, phạm vi điều chỉnhcủa Luật cạnh tranh gồm các quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnhtranh không lành mạnh, , biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh
Có thể nói phạm vi điều chỉnh của Luật cạnh tranh xuyên suốt trong quá trìnhkinh doanh của doanh nghiệp Quyền cạnh tranh trong kinh doanh được cụthể hóa tại Đ.4 Luật cạnh tranh 2004 Điều này phù hợp với Hiến pháp năm
1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013) cũng như phù hợp với Luật thươngmại năm 2005
Thừa nhận cho cá nhân, tổ chức có quyền kinh doanh cũng có nghĩa lànhà nước phải thừa nhận việc các chủ thể được quyền làm những gì mà phápluật không cấm Do dó, nhà nước ta đã ban hành hành lang pháp lý về luậtcạnh tranh tạo cơ sở cho việc thực hiện quyền này của các chủ thể kinh doanhthông qua việc kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lànhmạnh Việc đảm bảo cạnh tranh tranh lành mạnh không chỉ được gói gọntrong một điều luật mà còn ở những điều luật khác Xuyên suốt từ việc thểhiện quyền cạnh tranh trong kinh doanh đến kiểm soát các hành vi hạn chếcạnh tranh (Chương II gồm 38 điều) và hành vi cạnh tranh không lành mạnh(Chương III gồm 10 điều) cho tới việc xử lý, thụ lý các vụ việc cạnh tranh đónhư thế nào Tất cả đều nhằm mục đích tạo hành lang pháp lý, đảm bảo môitrường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động đấu thầu
1.2.2 Các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh:
1.2.2.1 Các hành vi hạn chế cạnh tranh:
Trang 29Được quy định chi tiết tại chương II Luật cạnh tranh 2004.
Hành vi hạn chế cạnh tranh là những xử sự của doanh nghiệp hoặcnhóm doanh nghiệp làm thay đổi một cách tiêu cực tình trạng cạnh tranh hoặclàm giảm tác dụng của cạnh tranh đối với thị trường Hành vi hạn chế cạnhtranh có thể gây thiệt hại cho một, một số đối tượng cụ thể, song nghiêmtrọng hơn là làm cản trở, làm suy giảm hoặc sai lệch cạnh tranh
Mặc dù hành vi hạn chế cạnh tranh được thực hiện từ các doanh nghiệpđều mang bản chất bất chính và có khả năng gây thiệt hại cho thị trường hoặccho chủ thể khác, nhưng giữa hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnhtranh không lành mạnh có những khác biệt cơ bản Theo đó, hành vi hạn chếcạnh tranh luôn hướng đến việc hình thành một sức mạnh thị trường hoặc tậndụng sức mạnh thị trường để làm cho tình trạng cạnh tranh trên thị trường bịbiến dạng Có hai nội dung cần phải xác định đối với hành vi hạn chế cạnhtranh là:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi có thể là một doanh nghiệp hoặc
một nhóm doanh nghiệp, các doanh nghiệp này hoặc đã có sức mạnh thịtrường, hoặc hướng đến việc hình thành nên sức mạnh thị trường bằng cáchthỏa thuận hoặc tập trung kinh tế;
Thứ hai, các hành vi được thực hiện nhằm mục tiêu làm biến dạng cạnh
tranh, sự biến dạng của cạnh tranh có thể là làm thay đổi cấu trúc thị trường,thay đổi tương quan cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, loại bỏ đối thủ, ngăncản đối thủ tiềm năng để làm giảm đi sức ép cạnh tranh hiện có hoặc sẽ có,bóc lột khách hàng… Thông thường, hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm badạng hành vi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặcđộc quyền để hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế
Như vậy, so với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, thì hành vi hạnchế cạnh tranh có khả năng gây thiệt hại cao hơn Đồng thời do sự xuất hiệncủa quyền lực thị trường nên các biện pháp trừng phạt mang tính dân sự nhưbồi thường thiệt hại hay cải chính công khai sẽ không thể phát huy hiệu quả
Trang 30một cách tối ưu Vì lẽ đó, công quyền thường không thể sử dụng cùng mộtloại biện pháp trừng phạt giống nhau để áp dụng cho cả hai loại hành vi trên
Các hành vi hạn chế cạnh tranh (quy định chi tiết từ Đ.8 đến Đ.24Luật cạnh tranh 2004) bao gồm cụ thể bốn hành vi sau: thỏa thuận hạn chếcạnh tranh, lạm dụng vị trí độc quyền, lạm dụng vị trí thống lĩnh và tập trungkinh tế Đây là các hành vi làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thịtrường, gây tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh, làm sai lệch cấu trúcthị trường, bóp méo cạnh tranh.5
Như ở trên tôi đã đề cập, vì công việc làm sạch chủ yếu sử dụng lượnglao động phổ thông nên hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh tronglĩnh vực này Do đó, việc độc quyền và thống lĩnh thị trường ít xảy ra tronghoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch, nên tôi chỉ đề cập đến các thỏa thuậnhạn chế cạnh tranh
Theo Đ.8 Luật cạnh tranh 2004, các thoả thuận hạn chế cạnhtranh gồm (1) thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếphoặc gián tiếp, (2) thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấphàng hoá, cung ứng dịch vụ, (3) thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng,khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ, (4) thoả thuận hạn chế pháttriển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư, (5) thoả thuận áp đặt cho doanhnghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộcdoanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đốitượng của hợp đồng, (6) thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanhnghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh, (7) thoả thuậnloại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoảthuận, (8) thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trongviệc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ Và đặc biệt các thỏa thuận hạn chếcạnh tranh được cụ thể hóa từ Đ.14 đến Đ.21 của Nghị định số 116/2005/NĐ-
CP ngày 15 tháng 9 năm 2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luậtcạnh tranh, được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 119/2011/NĐ-CP ngày 16tháng 12 năm 2011 Sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính tại Nghị định số
5 Nguyễn Thị Vân Anh (2012), Giáo Trình Luật Cạnh Tranh, NXB Công An Nhân Dân, tr.59
Trang 31116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiếtthi hành một số điều của Luật Cạnh tranh.
Như vậy, những yếu tố cạnh tranh trên thị trường như giá cả, chấtlượng, sản lượng hay các yếu tố kinh doanh khác cũng chính là những yếu tố
mà các bên tham gia thỏa thuận hướng tới nhằm làm tăng áp lực cạnh tranhlẫn nhau Dưới góc độ pháp luật cạnh tranh, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranhmang bản chất hạn chế cạnh tranh nên cần phải được kiểm soát Các thỏathuận hạn chế cạnh tranh có những đặc trưng pháp lý sau:
Thứ nhất, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là thỏa thuận giữa các doanh
nghiệp Doanh nghiệp là chủ thể trong quan hệ thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Doanh nghiệp, theo quy định tại Khoản 1 Đ.2 Luật cạnh tranh 2004,được hiểu là các tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm cả doanh nghiệp sảnxuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong cácngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạtđộng ở Việt Nam Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể là giữa các doanhnghiệp là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của nhau hoặc có thể là giữa nhữngdoanh nghiệp có mối liên hệ với nhau trong cùng một chuỗi sản xuất haycung ứng sản phẩm, dịch vụ
Thứ hai, giữa các doanh nghiệp có hành vi thoả thuận hạn chế cạnh
tranh Thoả thuận là đặc trưng pháp lý cơ bản và là yếu tố cấu thành hành viquan trọng, được hiểu là sự thống nhất ý chí giữa các bên tham gia
Trong thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đòi hỏi phải có sự thể hiện vàthống nhất ý chí giữa các bên tham gia thỏa thuận thông qua sự thể hiện vàthống nhất ý chí của những người có thẩm quyền và hướng tới mục đích hạnchế cạnh tranh Ngoài ra, thoả thuận hạn chế cạnh tranh còn có thể biểu hiệndưới dạng các cam kết tuân thủ hay đáp ứng những yêu cầu do một hoặc một
số bên đặt ra
Thứ ba, mục đích của thoả thuận là nhằm hạn chế cạnh tranh Thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh có thể theo chiều ngang hoặc chiều dọc Nội dungcủa thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là các yếu tố của cạnh tranh như giá cả hay
Trang 32thị trường Mục đích của các bên tham gia thỏa thuận là làm giảm sức ép cạnhtranh hay chính là hạn chế cạnh tranh và thông qua đó gây thiệt hại cho cácdoanh nghiệp không tham gia thỏa thuận, các doanh nghiệp tiềm năng, xâmphạm quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng và toàn xã hội Đối vớikhách hàng, lợi ích trực tiếp bị thiệt hại là không được hưởng các sản phẩmvới chất lượng tốt hơn và mức giá cả phù hợp hơn Đối với doanh nghiệpkhông tham gia thoả thuận có nguy cơ mất cơ hội kinh doanh, bị loại ra khỏithị trường Với sự liên kết giữa các doanh nghiệp thông qua một thỏa thuậnhạn chế cạnh tranh tạo nên sức mạnh khống chế và buộc khách hàng phảituân theo những luật chơi do các doanh nghiệp này tự đưa ra không dựa trên
cơ sở quy luật của thị trường Ngoài ra, bằng việc thỏa thuận hạn chế cạnhtranh, các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận cũng có thể áp đặt những điềukiện bất lợi trong các giao dịch với những doanh nghiệp ngoài thỏa thuận
Thứ tư, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được biểu hiện dưới một hình
thức nhất định Hình thức biểu hiện của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh khôngđược coi là tiêu chí bắt buộc, có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản, chínhthức hay không chính thức
Thứ năm, hậu quả của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là làm giảm, làm
sai lệch hay cản trở hoặc thậm chí triệt tiêu các hoạt động cạnh tranh bìnhthường trên thị trường Tuy nhiên, hậu quả này có thể đã xảy ra hoặc chưaxảy ra
1.2.2.1 Các hành vi hạn chế cạnh tranh:
Luật cạnh tranh 2004 đưa ra định nghĩa về cạnh tranh không lành mạnh tại
Khoản 4 Điều 3 như sau: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi
cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.”
Bên cạnh các nguyên tắc định tính về cạnh tranh không lành mạnh,Luật cạnh tranh 2004 cũng đưa ra danh sách các hành vi cạnh tranh không
Trang 33lành mạnh bị cấm tại Đ.39 Luật Cạnh tranh 2004, bao gồm một số hành visau: chỉ dẫn gây nhầm lẫn; xâm phạm bí mật kinh doanh; ép buộc trong kinhdoanh; gièm pha doanh nghiệp khác… Dựa vào những quy định của phápluật về hành vi này, có thể thấy hành vi cạnh tranh không lành mạnh có một
số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh do
các chủ thể kinh doanh trên thị trường thực hiện nhằm mục đích lợi nhuận.Chủ thể thực hiện hành vi này là các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinhdoanh trên thị trường, bao gồm cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động tìm kiếmlợi nhuận một cách thường xuyên
Thứ hai, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi đi ngược lại
những nguyên tắc đạo đức kinh doanh, đi ngược lại những quy tắc xử sựchung đã được chấp nhận rộng rãi và lâu dài trong hoạt động kinh doanh trênthị trường
Thứ ba, hành vi cạnh tranh bị kết luận là không lành mạnh và cần phải
ngăn chặn khi nó gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho đối tượngkhác Đối tượng chịu thiệt hại ở đây chủ yếu là các doanh nghiệp khác vàngười tiêu dùng (khách hàng) Vì vậy nó cần phải được ngăn chăn kịp thời,tránh gây nên những hậu quả nghiêm trọng
Có thể thấy, những hành vi cạnh tranh không lành mạnh có cùng bảnchất là việc tạo ra những lợi thể không chính đáng trong tương quan cạnhtranh trên thị trường và được chia thành 3 nhóm: Các hành vi mang tính chấtlợi dụng; các hành vi mang tính chất công kích hay cản trở; các hành vi lừadối, lôi kéo khách hàng
Thật vây, do đặc thù bài luận văn này nói về việc áp dụng luật cạnhtranh trong hoạt động đấu thầu, nên để làm rõ các hành vi cạnh tranh khônglành mạnh trong hoạt động đấu thầu, tôi tập trung nghiên cứu quy định cáchành vi gièm pha doanh nghiệp khác, gây rối hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp khác Bởi thực tế những hành vi này thường xuyên xuất hiệntrong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch
Trang 34Theo đó, hành vi gièm pha doanh nghiệp được quy định cụ thể tại Đ.43Luật cạnh tranh 2004: “Cấm doanh nghiệp gièm pha doanh nghiệp khác bằnghành vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra thông tin không trung thực, gây ảnhhưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp đó”
Qua quy định tại Đ.43 Luật cạnh tranh 2004, hành vi gièm pha doanhnghiệp có một số đặc điểm về chủ thể, phương thức thực hiện, mục đích nhưsau:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi là tổ chức, cá nhân kinh doanh,
không phân biệt cá nhân kinh doanh có đăng ký kinh doanh và không có đăng
ký kinh doanh
Thứ hai, mục đích của quy định này nhằm ngăn chặn hành vi cạnh
tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp cạnh tranh trên cùng thị trườnghàng hóa, dịch vụ hay thị trường liên quan, qua đó bảo vệ quyền tự do kinhdoanh của các chủ thể kinh doanh cũng như quyền và lợi ích hợp pháp củangười tiêu dùng
Thứ ba, “hành vi gièm pha doanh nghiệp khác phải xuất phát từ đối thủ
cạnh tranh, vì mục đích cạnh tranh”.6 Hậu quả của hành vi gièm pha doanhnghiệp rất rõ ràng: doanh nghiệp thiệt hại tài chính, thị phần suy giảm, bi đáthơn nữa là có thể đi đến tình trạng phá sản hoặc bị thâu tóm, mua lại Cònngười tiêu dùng sau những phản ứng “tẩy chay” rầm rộ tưởng chừng là thựchiện quyền của mình, thì chẳng được gì ngoài lòng tin vào sản phẩm, vàodoanh nghiệp ngày càng bị tổn thương và nghi ngại với tất cả các loại sảnphẩm trên thị trường, không phân biệt được đâu là thật, đâu là giả
Gây hậu quả nặng nề cũng không kém đó là hành vi gây rối hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp khác Hậu quả của hành vi gây rối hoạt độngkinh doanh là làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường của doanhnghiệp chân chính bị đình trệ, hủy hoại Hành vi gây rối hoạt động kinh doanhđược quy định cụ thể tại Đ.44 Luật cạnh tranh 2004: “ Cấm doanh nghiệp gây
6 Lê Anh Tuấn (2009), Pháp Luật Về Chống Cạnh Tranh Không Lành Mạnh Ở Việt Nam, NXB Chính Trị Quốc Gia, tr.123
Trang 35rối hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp khác bằng hành vi trựctiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp đó” Qua quy định tại Đ 44 Luật cạnh tranh 2004, hành vi gây rối cónhững đặc điểm pháp lý như sau:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi là tổ chức, cá nhân kinh doanh bao
gồm cả cá nhân có đăng ký kinh doanh và cá nhân không đăng ký kinh doanh
Thứ hai, đây là hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhằm vào đối thủ
cạnh tranh và xâm phạm trực tiếp đến đối thủ cạnh tranh
Thứ ba, phương thức thực hiện hành vi được thực hiện dưới dạng gây
rối, quấy phá hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh Hành vi này cóthể do doanh nghiệp trực tiếp thực hiện hoặc nhờ qua một chủ thể khác thựchiện tác động đến hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh, và chính cáchành vi này trực tiếp gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của đối thủcạnh tranh
Thứ tư, mục đích của hành vi gây rối hoạt động kinh doanh giống như
tên của hành vi, đó là gây rối nhằm cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinhdoanh bình thường của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến hoạt động, hiệu quảcũng như tính cạnh tranh của đối thủ cạnh tranh trên thương trường.7
Có thể nói, hiện nay cạnh tranh không lành mạnh đang ngày càng xuấthiện nhiều và càng khó kiểm soát hơn, không chỉ bởi những hành vi biến dạng
và “ném đá giấu tay” của những thủ phạm ẩn danh, mà bên cạnh đó là sự hỗtrợ “vô tình” hay “cố ý” của những cá nhân làm việc tại các cơ quan quản lýcủa nhà nước
7 Lê Anh Tuấn (2009), Pháp Luật Về Chống Cạnh Tranh Không Lành Mạnh Tại Việt Nam, NXB Chính Trị
Quốc Gia, tr.135