CHƯƠNG 1 Cơ sở lý luận – pháp lý về thi hành án dân sự đối với Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn 4 1.1 Nhận thức chung về hoạt động thi hành án dân sự 4 1.1.1 Khái niệm và bản chất của hoạt động thi hành án dân sự 4 1.1.2 Cơ sở của việc thi hành án dân sự 7 1.2 Thi hành án dân sự đối với Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn 9 1.2.1 Một số đặc điểm pháp lý của Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn 9 1.2.2 Đặc thù của thi hành án dân sự đối với Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn 10 1.3 Cơ sở pháp lý của hoạt động thi hành án dân sự 14 1.3.1 Tổng quan về pháp luật thi hành án dân sự 14 1.3.2 Một số nội dung quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp 16 CHƯƠNG 2 Thực trạng hoạt động thi hành án dân sự đối với Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn tại Cơ quan Thi hành án Dân sự Quận 10 19 2.1 Tổng quan về hoạt động thi hành án dân sự tại Quận 10 19 2.1.1 Đặc điểm về kinh tế xã hội 19 2.1.2 Tổ chức bộ máy và kết quả thực hiện nhiệm vụ của Cơ quan thi hành án dân sự Quận 10 21 2.2 Thực tiễn hoạt động thi hành án dân sự đối với Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn tại Quận 10 23 2.2.1 Đặc trưng của Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần 24 2.2.2 Một số vấn đề pháp lý đặt ra khi thi hành án dân sự đối với Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn 25 2.3 Hạn chế trong việc thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp 33 2.3.1 Hành lang pháp lý giữa pháp luật thi hành án dân sự, pháp luật doanh nghiệp và các quy định pháp luật khác có liên quan chưa được hoàn thiện 33 2.3.2 Việc thi hành pháp luật trong thi hành án dân sự chưa nghiêm 34 2.3.3 Tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án dân sự chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ 35 CHƯƠNG 3 Một số nhận xét và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp 37 3.1 Các yêu cầu đặt ra trong việc thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp 37 3.1.1 Đảm bảo hiệu lực thi hành Bản án, Quyết định của Tòa án 37 3.1.2 Giải quyết án tồn, nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự 37 3.1.3 Bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh 37 3.2 Một số nhận xét về hạn chế trong việc thi hành án dân sự đối với Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn 38 3.3 Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp 39 3.3.1 Hoàn thiện pháp luật 39 3.3.2 Nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể pháp luật thi hành án dân sự 41 3.3.3 Nâng cao việc xử lý vi phạm pháp luật thi hành án dân sự 43 3.3.4 Hoàn thiện cơ chế thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp 44
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật kinh doanh – Mã số 52380101
Người hướng dẫn khoa học: GVC - ThS Nguyễn
Triều Hoa
Trang 3TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành khoá luận này, tôi chân thành gửi lời cám ơn đến:
Th.S Nguyễn Triều Hoa và ThS Nguyễn Khánh Phương đã hướng dẫn vàchỉ bảo tận tình để giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Chấp hành viên Nguyễn Thị Thủy đã giúp tôi trong quá trình tìm hiểu quytrình nghiệp vụ và hoạt động thực thi pháp luật thi hành án dân sự tại đơn vị.Ban lãnh đạo đơn vị đã tạo điều kiện cũng như các anh chị em đồng nghiệp
đã hết lòng hỗ trợ giúp tôi về mặt thông tin, tư liệu cho hoạt động nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
“Tôi xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từngđược ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõnguồn gốc”
Tác giả khóa luận
(ký và ghi rõ họ tên người cam đoan)
LÝ XUÂN THIỆN
Trang 6TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
-PHIẾU ĐIỂM CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP Sinh viên thực tập: LÝ XUÂN THIỆN MSSV: 33131020265 Lớp: Luật kinh doanh Khóa: 16 Hệ: VB2CQ Đơn vị thực tập: Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 10 Thời gian thực tập: Từ 03/08/2015 đến 18/10/2015 Nhận xét chung: ………
………
………
………
Đánh giá cụ thể (1) Có tinh thần, thái độ, chấp hành tốt kỷ luật đơn vị; đảm bảo thời gian và nội dung thực tập của sinh viên trong thời gian thực tập (tối đa được 5 điểm)……….……… ….………
(2) Viết báo cáo giới thiệu về đơn vị thực tập (đầy đủ và chính xác) (tối đa được 2 điểm) ……… ……
(3) Ghi chép nhật ký thực tập (đầy đủ, cụ thể, rõ ràng, và chính xác) (tối đa được 3 điểm)……… … …
Điểm số tổng cộng (1) + (2) + (3)……….
Điểm chữ:……… ………
Tp.HCM, ngày …… tháng 10 năm 2015
Người nhận xét đánh giá
Chi cục trưởng NGUYỄN VĂN HÒA
Trang 7TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
PHIẾU ĐIỂM CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Sinh viên thực tập: LÝ XUÂN THIỆN MSSV: 33131020265
Lớp: Luật kinh doanh Khóa: 16 Hệ: VB2CQ
Đơn vị thực tập: Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 10
Đề tài nghiên cứu:
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP – PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ QUẬN 10
Nhận xét chung:
………
………
………
Đánh giá và chấm điểm quá trình thực tập
(1) Có tinh thần thái độ phù hợp, chấp hành kỷ luật tốt (tối đa 3 điểm) …… (2) Thực hiện tốt yêu cầu của GVHD, nộp KL đúng hạn (tối đa 7 điểm)……
Tổng cộng điểm thực tập cộng (1) + (2)……….
Điểm chữ:……… Kết luận của người hướng dẫn thực tập & viết khóa luận
(Giảng viên hướng dẫn cần ghi rõ việc cho phép hay không cho phép
đưa khóa luận ra khoa chấm điểm)
Trang 8TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
PHIẾU ĐIỂM CỦA NGƯỜI CHẤM THỨ NHẤT Sinh viên thực tập: LÝ XUÂN THIỆN MSSV: 33131020265 Lớp: Luật kinh doanh Khóa: 16 Hệ: VB2CQ Đơn vị thực tập: Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 10 Đề tài nghiên cứu: THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP – PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ QUẬN 10 Nhận xét chung: ………
………
………
Đánh giá cụ thể (1) Điểm quá trình (tối đa 1 điểm)……….
(2) Hình thức khóa luận (tối đa 1 điểm)……….
(3) Nội dung khóa luận - Tính phù hợp, thực tiễn và mới của đề tài (tối đa 1 điểm)…… …
- Phần mở đầu (tối đa 0,5 điểm)………
- Phần 1(tối đa 1,5 điểm)……… ………
- Phần 2 (tối đa 3 điểm)……….…….
- Phần 3 (tối đa 1 điểm)……….………… …….
- Phần kết luận (tối đa 1 điểm)……… ……
Điểm số tổng cộng (1) + (2) + (3)……….
Điểm chữ:……….
Tp.HCM, ngày …… tháng 10 năm 2015
Người chấm thứ nhất
Trang 9TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
PHIẾU ĐIỂM CỦA NGƯỜI CHẤM THỨ NHẤT Sinh viên thực tập: LÝ XUÂN THIỆN MSSV: 331110… Lớp: Luật kinh doanh Khóa: 16 Hệ: VB2CQ Đơn vị thực tập: Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 10 Đề tài nghiên cứu: THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP – PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ QUẬN 10 Nhận xét chung: ………
………
………
Đánh giá cụ thể (1) Điểm quá trình (tối đa 1 điểm)……….
(2) Hình thức khóa luận (tối đa 1 điểm)……….
(3) Nội dung khóa luận - Tính phù hợp, thực tiễn và mới của đề tài (tối đa 1 điểm)…… …
- Phần mở đầu (tối đa 0,5 điểm)………
- Phần 1(tối đa 1,5 điểm)……… ………
- Phần 2 (tối đa 3 điểm)……….…….
- Phần 3 (tối đa 1 điểm)……….………… …….
- Phần kết luận (tối đa 1 điểm)……… ……
Điểm số tổng cộng (1) + (2) + (3)……… ….
Điểm chữ:……… ……….
Tp.HCM, ngày …… tháng 10 năm 2015
Người chấm thứ hai
Trang 10MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Phương pháp và phạm vi nghiên cứu 2
5 Kết cấu đề tài 3
CHƯƠNG 1 Cơ sở lý luận – pháp lý về thi hành án dân sự đối với Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn 4
1.1 Nhận thức chung về hoạt động thi hành án dân sự 4
1.1.1 Khái niệm và bản chất của hoạt động thi hành án dân sự 4
1.1.2 Cơ sở của việc thi hành án dân sự 7
1.2 Thi hành án dân sự đối với Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn 9
1.2.1 Một số đặc điểm pháp lý của Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn 9
1.2.2 Đặc thù của thi hành án dân sự đối với Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn 10
1.3 Cơ sở pháp lý của hoạt động thi hành án dân sự 14
1.3.1 Tổng quan về pháp luật thi hành án dân sự 14
1.3.2 Một số nội dung quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp 16
CHƯƠNG 2 Thực trạng hoạt động thi hành án dân sự đối với Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn tại Cơ quan Thi hành án Dân sự Quận 10 19
2.1 Tổng quan về hoạt động thi hành án dân sự tại Quận 10 19
2.1.1 Đặc điểm về kinh tế xã hội 19
2.1.2 Tổ chức bộ máy và kết quả thực hiện nhiệm vụ của Cơ quan thi hành án dân sự Quận 10 21
2.2 Thực tiễn hoạt động thi hành án dân sự đối với Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn tại Quận 10 23
2.2.1 Đặc trưng của Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần 24
Trang 112.2.2 Một số vấn đề pháp lý đặt ra khi thi hành án dân sự đối với Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn 25 2.3 Hạn chế trong việc thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp 33 2.3.1 Hành lang pháp lý giữa pháp luật thi hành án dân sự, pháp luật doanh nghiệp và các quy định pháp luật khác có liên quan chưa được hoàn thiện 33 2.3.2 Việc thi hành pháp luật trong thi hành án dân sự chưa
nghiêm 34 2.3.3 Tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án dân sự chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ 35 CHƯƠNG 3 Một số nhận xét và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp 37 3.1 Các yêu cầu đặt ra trong việc thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp 37 3.1.1 Đảm bảo hiệu lực thi hành Bản án, Quyết định của Tòa án
37
3.1.2 Giải quyết án tồn, nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự 37 3.1.3 Bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh 37 3.2 Một số nhận xét về hạn chế trong việc thi hành án dân sự đối với Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn 38 3.3 Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp 39 3.3.1 Hoàn thiện pháp luật 39 3.3.2 Nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể pháp luật thi hành
án dân sự 41 3.3.3 Nâng cao việc xử lý vi phạm pháp luật thi hành án dân sự
Trang 12BA: Bản án
CHV: Chấp hành viên
KDTM: Kinh doanh thương mại NĐTHA: Người được thi hành án NPTHA: Người phải thi hành án
QĐ: Quyết định
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn THADS: Thi hành án dân sự
Trang 13LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thi hành án dân sự (THADS) là một hoạt động quan trọng nhằm hiệnthực hóa kết quả của quá trình tố tụng và giải quyết tranh chấp trong thựctiễn Việc bảo đảm thi hành các bản án, quyết định (BA, QĐ) của Tòa án một
cách có hiệu quả đã được ghi nhận tại Điều 106 Hiến pháp năm 2013: Bản
án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan,
tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.
Năm 2008, Luật thi hành án dân sự được ban hành là mốc quan trọngđánh dấu sự hoàn thiện một bước của hệ thống pháp luật về thi hành án dân
sự Quá trình sáu năm thi hành Luật thi hành án dân sự đã đạt được những kếtquả nhất định, góp phần quan trọng vào bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa,duy trì ổn định, trật tự kỷ cương xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân, tổ chức và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế đấtnước Bên cạnh những mặt tích cực, Luật thi hành án dân sự cũng bộc lộnhững thiếu sót, bất cập như một số quy định chưa cụ thể, chưa phù hợp vớithực tiễn, còn có những quy định chưa thống nhất giữa Luật thi hành án dân
sự với các đạo luật khác, những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn nhưng chưađược pháp luật thi hành án dân sự điều chỉnh Ngoài ra, có rất nhiều thủ tục vềTHADS có những đặc thù riêng như thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp;
kê biên, bán đấu giá tài sản tài sản là cổ phiếu, vốn góp, quyền sở hữu trí tuệ nhưng pháp luật thi hành án dân sự hiện hành chỉ quy định chung cho mộtloại thủ tục thi hành án Điều đó đã gây khó khăn cho các cơ quan thi hành ándân sự
Thực tiễn THADS trong cả nước cho thấy, mặc dù các cơ quan thi hành
án dân sự đã tích cực tổ chức thi hành Bản án, Quyết định thuộc thẩm quyềnthi hành, song kết quả THADS chưa đáp ứng được kỳ vọng của xã hội Sốviệc và giá trị phải thi hành còn tồn đọng chiếm tỷ lệ cao Trong đó, số vụviệc THADS đối với doanh nghiệp ngày càng tăng và số tiền phải thi hành
Trang 14lớn, nhưng rất khó thi hành Đây là vấn đề bức xúc đang được xã hội quantâm Tình trạng này đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tínhnghiêm minh của pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức
và nhà nước chưa được bảo đảm Do vậy, việc nghiên cứu để tìm ra nguyênnhân của những khó khăn, vướng mắc để tìm ra giải pháp nhằm tăng cườnghiệu quả công tác THADS và không ngừng hoàn thiện pháp luật THADS nóichung và THADS đối với doanh nghiệp nói riêng là việc làm cần thiết và có ýnghĩa thực tiễn Trong quá trình thực tập tại đơn vị, tác giả nhận thấy các hồ
sơ thi hành án mà đương sự là doanh nghiệp là các hồ sơ khó thi hành và cónhững vấn đề pháp lý cần được nghiên cứu Tác giả luôn suy nghĩ làm thế nào
để vận dụng các quy định của pháp luật để giải quyết những vấn đề trên Đó
là lý do tác giả lựa chọn đề tài: “Thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp –
Pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Cơ quan thi hành án dân sự Quận 10”
để nghiên cứu trong phạm vi khóa luận cử nhân luật chuyên ngành Luật kinhdoanh của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích những vấn đề pháp lý và thực tiễn trong việc thihành án dân sự đối với loại hình Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữuhạn (TNHH), tác giả muốn tìm hiểu đặc thù của hoạt động thi hành án dân sựđối với hai loại hình doanh nghiệp trên Qua đó, tác giả muốn tìm ra nguyênnhân hạn chế trong hoạt động thi hành án dân sự và đề xuất phương hướng để
có thể nâng cao được hiệu quả thi hành án dân sự đối với hai loại hình doanhnghiệp Công ty cổ phần và Công ty TNHH
3 Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp duyvật biện chứng kết hợp với các phương pháp logic, phân tích, tổng hợp, thống
kế, so sánh để giải quyết những vấn đề đặt ra của đề tài
Tuy tên đề tài là “Thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp - Pháp
luật và thực tiễn áp dụng tại Cơ quan thi hành án dân sự Quận 10”
nhưng doanh nghiệp nói chung thì có rất nhiều loại hình doanh nghiệp được
Trang 15quy định trong Luật doanh nghiệp Trong khuôn khổ khóa luận cử nhân luậtkinh doanh, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về THADS đối với Công tyTNHH và Công ty cổ phần dựa trên cơ sở văn bản quy phạm pháp luật hiệnhành và hoạt động THADS tại Quận 10, trọng tâm từ khi Luật THADS 2008được ban hành và Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014 có hiệu lực.
Đối với số liệu thống kê, khóa luận giới hạn số liệu thống kê từ giaiđoạn từ năm 2013 đến 30/6/2015, là thời điểm Luật THADS đã đi vào thựctiễn và trước thời điểm Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014 có hiệu lực
4 Kết cấu đề tài
Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài; mục tiêu, phạm vi, kết cấu đề tài Chương 1: Cơ sở lý luận - pháp lý về thi hành án dân sự đối với Công ty
cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn
Chương 2: Thực trạng hoạt động thi hành án dân sự đối với Công ty cổ
phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn tại Cơ quan Thi hành án Dân sự Quận10
Chương 3:Một số nhận xét và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả thi hành
án dân sự đối với doanh nghiệp
Phần kết luận:
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN - PHÁP LÝ VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CÔNG TY TRÁCH
NHIỆM HỮU HẠN 1.1 Nhận thức chung về hoạt động thi hành án dân sự:
1.1.1 Khái niệm và bản chất của hoạt động thi hành án dân sự:
1.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự:
Thi hành án dân sự là hoạt động làm cho các Bản án, Quyết định vềdân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lựcnhưng được thi hành ngay trên thực tế
Xét trong mối quan hệ với quyền lập pháp và quyền hành phápthì quyền tư pháp thực hiện xoay quanh trục của hoạt động xét xử.Toàn bộ hoạt động điều tra, truy tố và các hoạt động hỗ trợ tư phápđều nhằm phục vụ công tác xét xử để bảo vệ các quyền và lợi íchhợp pháp của tổ chức, công dân, trật tự công cộng của nhà nước.Song các quá trình trên mới chỉ là những giai đoạn đầu của quá trìnhbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Kết thúc giai đoạnxét xử, Tòa án đưa ra những phán quyết về nội dung vụ án Bản áncủa Tòa án thể hiện tập trung quyền lực nhà nước trong việc quản lý
xã hội nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhànước và các chủ thể khác, bảo đảm trật tự, kỷ cương Khi nhữngphán quyết đó của Tòa án được thực thi trên thực tế thì quyền tưpháp của nhà nước mới được thực hiện trọn vẹn, công lý mới trởthành hiện thực, trật tự pháp luật mới được khôi phục 1
Như thế, có thể thấy rằng vấn đề bảo đảm hiệu lực bản án, quyếtđịnh của Tòa án là yêu cầu tất yếu khách quan trong hoạt động nhànước Từ năm 1945 đến nay, ở nước ta hoạt động THADS luôn
1 Nguyễn Thanh Thủy (2008), Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ
Luật học, Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, tr.10.
Trang 17được coi là hoạt động của nhà nước Trong thực tế, hoạt độngTHADS ở nước ta có nhiều biến động qua các thời kì lịch sử, nhất là
từ khi hoạt động THADS được chuyển giao từ Tòa án nhân dân cáccấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ Về phương diện lý luận đã
và đang có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề kháiniệm THADS, tựu hình chung thành ba luồng ý kiến chính
Ý kiến thứ nhất cho rằng THADS là một dạng của hoạt độnghành chính, bởi THADS là hoạt động mang tính điều hành, chấphành Đây là đặc trưng của hoạt động hành chính Hơn nữa, hiện tạiTHADS nước ta không do Tòa án – cơ quan tư pháp thực hiện 2
Ý kiến thứ hai cho rằng THADS là một dạng của hoạt động hànhchính – tư pháp vì THADS là một dạng hoạt động chấp hành, điềuhành quyết định của cơ quan tư pháp – Tòa án 2
Ý kiến thứ ba lại cho rằng THADS là một dạng của hoạt động tưpháp vì thi hành án dân sự gắn liền với hoạt động xét xử, mang tínhtài sản, độc lập và do cơ quan tư pháp có thẩm quyền tổ chức thựchiện 2
Mỗi ý kiến trên đều dựa trên những cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý vàthực tiễn nhất định Tuy nhiên, tác giả chưa đồng ý với quan điểmcho rằng THADS chỉ là một dạng của hoạt động tư pháp, bởi vì:
- Hoạt động THADS khác với hoạt động điều tra, công tố ở chỗhoạt động này không trực tiếp giúp cơ quan xét xử đưa ra cácphán quyết công bằng mà chỉ là thực thi những phán quyết đã có
- Chưa có thể khẳng định cơ quan THADS và Chấp hành viên(CHV) là cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng,nhất là trong hoạt động THADS
- Cơ quan THADS không phải là cơ quan duy nhất hiện nay có thể
tổ chức thi hành án dân sự mà còn có các Văn phòng Thừa phátlại (xã hội hóa ngành thi hành án) có thể tổ chức thi hành các
2 Chủ biên Chu Thị Trinh (2011), Giáo trình thi hành án dân sự, Đại học Vinh, tr.6.
Trang 18BA, QĐ của Tòa án mà Thừa phát lại thì không phải là một cơquan tư pháp.
Vì thế, tác giả cho rằng không nên xem hoạt động THADS là mộtdạng hoạt động tố tụng, hành chính hay tư pháp đơn thuần Tác giảcùng quan điểm cho rằng hoạt động THADS là một dạng hoạt độnghành chính – tư pháp mang tính quyền lực nhà nước, vừa mang tínhchất hoạt động hành chính, vừa có yếu tố của hoạt động tư phápnhằm đưa BA, QĐ về dân sự của Tòa án ra thi hành trên thực tế dựatrên những phân tích sau
1.1.2 Thi hành án dân sự với những đặc điểm của hoạt động hành chính:
Thi hành án là một hoạt động diễn ra sau quá trình xét xử củaToà án Các BA, QĐ của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở đểtiến hành các hoạt động thi hành án Do đó, không có kết quả củahoạt động xét xử thì không có hoạt động thi hành án Là một dạnghoạt động hành chính nhà nước, thi hành án thể hiện tính chấp hành,quản lý rất rõ bởi toàn bộ quá trình thi hành án với những hoạt động,biện pháp, cách thức khác nhau nhằm thực hiện những nội dung đãđược thể hiện trong các BA, QĐ của Tòa án và theo các quy định cụthể của pháp luật 3
Quá trình thi hành án, cơ quan THADS tác động tới NPTHA để họ
tự giác thi hành hoặc cơ quan THADS áp dụng các biện pháp buộc
họ phải thực hiện nghĩa vụ được xác định trong BA, QĐ của Tòa ánhoặc các Quyết định khác theo quy định pháp luật Qua đó, giáo dụcmọi người dân về ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích cánhân và cộng đồng, kỉ cương của nhà nước Do đó, yêu cầu của hoạtđộng thi hành án là phải có tính kế hoạch, tổ chức, đôn đốc, kiểmtra… Đó là tính chất của hoạt động quản lý Đối với THADS,phương pháp giáo dục, thuyết phục là cần thiết nhưng phương phápmệnh lệnh, bắt buộc phải thực hiện lại mang tính đặc thù
1.1.3 Thi hành án dân sự với những đặc điểm của hoạt động tư pháp:
3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình luật THADS, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.10.
Trang 19Thi hành án chủ yếu do cơ quan tư pháp tiến hành mà cụ thể ở đây
là Cục THADS, Chi cục THADS Có nhiều cơ quan, tổ chức thamgia vào quá trình thi hành án, nhất là trong việc tổ chức thi hành áncác BA, QĐ phức tạp Tuy nhiên, các cơ quan tư pháp lại đóng vaitrò chính trong hoạt động THADS
Cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án là các quy định củapháp luật, các BA, QĐ của Tòa án và các quyết định khác theo quyđịnh của pháp luật
Trong quá trình tố tụng, giai đoạn thi hành án có thể bắt đầu ngaykhi việc xét xử một vụ án chưa kết thúc như việc thi hành các Quyếtđịnh khẩn cấp tạm thời của Tòa án Ngay cả khi việc xét xử chấmdứt thì mối quan hệ giữa cơ quan xét xử và cơ quan THADS vẫn tồntại, như việc cơ quan THADS yêu cầu Tòa án giải thích những điểmchưa rõ hoặc kiến nghị xem xét lại khi phát hiện có sai sót trong
BA, QĐ hoặc án tuyên không khả thi, khó có thể thi hành được.Ngoài ra, trong quá trình đang thi hành một BA, QĐ đang có hiệulực pháp luật, Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao, Viện trưởng Việnkiểm sát nhân dân Tối cao có thể yêu cầu cơ quan THADS hoãnviệc thi hành án, tạm đình chỉ việc thi hành án để xem xét lại BA,
QĐ theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Hoạt động THADScũng được kiểm sát bởi Viện kiểm sát nhân dân các cấp, Viện kiểmsát có thể kháng nghị đối với các quyết định THADS
1.1.2 Cơ sở của việc thi hành án dân sự:
Căn cứ phát sinh quan hệ hoạt động THADS là nội dung BA, QĐ củaTòa án và của các cơ quan có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật Đâychính là cơ sở pháp lý trực tiếp để làm phát sinh, thay đổi và chấm dứtquyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan
Theo Luật Tố tụng Dân sự sửa đổi, bổ sung 2011 thì điều 375 Bộ luật
Tố tụng Dân sự quy định về những bản án, quyết định của Tòa án đượcthi hành bao gồm các BA, QĐ đã có hiệu lực pháp luật hoặc những BA,
Trang 20QĐ của Tòa án cấp sơ thẩm nhưng được thi hành ngay dù có thể bịkháng cáo, kháng nghị như BA, QĐ về cấp dưỡng, nhận người laođộng trở lại làm việc, trả lương, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xãhội… hay các QĐ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Tuy nhiên, đây chỉ là căn cứ pháp lý chung làm phát sinh quan hệ hoạtđộng THADS
Đối với các trường hợp các bên tự thỏa thuận thực hiện thì căn cứ pháp
lý chính là nội dung BA, QĐ dân sự Trong trường hợp này, quan hệhoạt động THADS giữa NĐTHA, NPTHA và những người có quyềnlợi và nghĩa vụ liên quan đã phát sinh ngay từ thời điểm BA, QĐ dân
sự có hiệu lực pháp luật và hoạt động THADS được xem là chấm dứtkhi các bên đã thực hiện xong quyền và nghĩa vụ theo nội dung BA,
QĐ dân sự mà không cần có sự can thiệp của Nhà nước
Đối với các trường hợp cần phải có sự tổ chức thi hành của cơ quanTHADS thì có các căn cứ sau làm phát sinh quan hệ hoạt độngTHADS:
- Đơn yêu cầu thi hành án là căn cứ pháp lý phát sinh việc thi hành
án Một BA, QĐ có thể có nhiều NĐTHA và mỗi người lại cóquan điểm riêng và có thời điểm riêng để yêu cầu thi hành án, cótrường hợp NĐTHA không yêu cầu thi hành án thì không nhấtthiết cơ quan THADS phải tổ chức thi hành Đơn yêu cầu thihành án chính là căn cứ ngoài BA, QĐ của Tòa án để Cơ quanTHADS ra quyết định thi hành án
- Quyết định thi hành án là căn pháp lý phát sinh quan hệ giữaNĐTHA, NPTHA và người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan,gọi chung ở đây là đương sự với cơ quan THADS Mỗi quyếtđịnh thi hành án chính là căn cứ để xác định trách nhiệm pháp lýcủa Cơ quan THADS với các đương sự
Trong các tranh chấp về kinh doanh thương mại thì đương sự chủ yếu
là doanh nghiệp, nghĩa là doanh nghiệp có thể là người được thi hành
Trang 21án, người phải thi hành án hoặc có thể là người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan Các quyết định THADS bao gồm các quyết định về hoạtđộng THADS như quyết định kê biên xử lý tài sản, quyết định phongtỏa tài khoản…là căn cứ pháp lý xác định trách nhiệm pháp lý của Cơquan THADS, của cá nhân mỗi CHV đối với các đương sự này
1.2 Thi hành án dân sự đối với Công ty cổ phần và Công ty
trách nhiệm hữu hạn:
1.2.1 Một số đặc điểm pháp lý của Công ty cổ phần và Công ty trách
nhiệm hữu hạn:
1.2.1.1 Công ty cổ phần:
Công ty cổ phần là doanh nghiệp có một số đặc điểm sau:
- Về mặt tư cách pháp nhân, Công ty cổ phần là một loại hìnhcông ty có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm về các khoản nợcủa công ty Thông qua đại diện trước pháp luật của mình, Công
ty cổ phần có thể là nguyên đơn hay bị đơn dân sự trong cácquan hệ pháp luật
- Về quyền sở hữu tài sản, Công ty cổ phần có quyền sở hữu tàisản riêng, các cổ đông chỉ sở hữu cổ phần của công ty và không
có bất kì quyền sở hữu nào đối với tài sản công ty
- Về chế độ chịu trách nhiệm, chế độ chịu trách nhiệm của Công ty
cổ phần là trách nhiệm hữu hạn Công ty cổ phần chịu tráchnhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty Các
cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác củacông ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty
1.2.1.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn:
Công ty TNHH là doanh nghiệp có một số đặc điểm sau:
Trang 22- Công ty TNHH là loại hình công ty có tư cách pháp nhân, trong
đó chủ sở hữu công ty và công ty là hai thực thể pháp lý riêng
- Thành viên công ty có thể là cá nhân hoặc tổ chức Thành viênchịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của doanhnghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp
- Công ty TNHH có quyền sở hữu tài sản riêng, công ty chịu tráchnhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác bằng tài sảncủa công ty
1.2.2 Đặc thù của thi hành án dân sự đối với Công ty cổ phần và Công ty
trách nhiệm hữu hạn:
Khác với hoạt động THADS đối với các đối tượng khác, thi hành ánđối với Công ty cổ phần và Công ty TNHH có những đặc thù sau:
1.2.2.1 Tư cách chủ thể của đương sự:
Theo điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 thì những vụ việc như sauđược coi là vụ án kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giảiquyết của Tòa án, bao gồm các tranh chấp phát sinh trong hoạt độngkinh doanh thương mại giữa các cá nhân, tổ chức như mua bán hànghóa, cung ứng dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ… hoặc tranh chấp giữachính công ty với các thành viên của công ty trong việc thành lập,giải thể, sát nhập, hợp nhất, chuyển đổi hình thức tổ chức của côngty
Căn cứ theo quy định trên, có thể thấy chủ thể đương sự trong ánkinh doanh thương mại (KDTM) có thể là doanh nghiệp, nhưngcũng có thể không phải doanh nghiệp Tuy nhiên, trong thực tiễn thìchủ thể trong những tranh chấp về KDTM được giải quyết tại Tòa
án thì chủ yếu là doanh nghiệp, đồng nghĩa với việc khi thi hành ánKDTM thì CHV cũng phải làm việc với chủ thể chủ yếu là doanhnghiệp 4, mà cụ thể ở đây là Công ty cổ phần và Công ty TNHH
4 Lê Thu Hà (2012), Giáo trình kỹ năng thi hành án dân sự - Phần riêng, NXB Tư pháp, tr.616
Trang 23Như vậy, so với chủ thể là cá nhân, khi thực hiện hoạt động thi hành
án đối với chủ thể là doanh nghiệp đã có khác biệt, CHV cần phảixác định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc ngườiđại diện được ủy quyền hợp pháp để có thể tiến hành các thủ tục thihành án So với chủ thể là các loại hình doanh nghiệp khác thì Công
ty cổ phần và Công ty TNHH cũng không có nhiều khác biệt về tưcách đương sự ngoại trừ khác biệt với loại hình Công ty hợp danh,
là loại hình Công ty có nhiều cá nhân đại diện về mặt pháp luật
1.2.2.2 Tính trách nhiệm hữu hạn và quyền sở hữu tài sản:
Ngoại trừ Doanh nghiệp tư nhân và Công ty hợp danh thì hầu hếtcác loại hình doanh nghiệp đều có tính chịu TNHH Nếu doanhnghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của chủ
sở hữu thì Công ty cổ phần và Công ty TNHH chỉ chịu trách nhiệmbằng tài sản của chính công ty đối với các khoản nợ của doanhnghiệp Theo luật Doanh nghiệp 2005, các thành viên góp vốn vàoCông ty TNHH và cổ đông của Công ty cổ phần phải chịu tráchnhiệm đối với các khoản nợ của công ty tương ứng với tỷ lệ vốngóp.Như vậy, trong trường hợp các thành viên của doanh nghiệp đãgóp đủ số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp thì đương nhiên chỉchịu trách nhiệm rủi ro của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đãgóp Trong nhiều trường hợp khi xác minh tài sản của doanh nghiệp,doanh nghiệp không có bất kì tài sản hoặc nguồn thu nhập nào đểđảm bảo việc thi hành án thì bắt buộc CHV phải tiến hành xử lýphần vốn góp của các thành viên, cổ đông trong doanh nghiệp tươngứng với tỉ lệ vốn góp
Công ty cổ phần và Công ty TNHH là pháp nhân có quyền sở hữutài sản, tuy nhiên có sự khác biệt cần phân biệt giữa tài sản thuộc sởhữu doanh nghiệp và tài sản thuộc sở hữu của các thành viên gópvốn Trong thực tế, có những thành viên trong công ty đem tài sản
sở hữu riêng của mình ra phục vụ cho hoạt động doanh nghiệp nhưtrụ sở, nhà đất hoặc thiết bị vận chuyển như xe ô tô CHV cần phải
Trang 24xác minh cụ thể đó có phải là tài sản góp vốn hay không Ngoài ra,hai loại hình doanh nghiệp này còn sở hữu các loại tài sản tương đốiđặc biệt như dây chuyền công nghệ, thương hiệu kinh doanh, nhãnhiệu hàng hóa mà CHV cần phải lưu ý các quy định của pháp luậtkhi xử lý những loại tài sản đó
1.2.2.3 Giá trị tài sản phải thi hành lớn:
Các Bản án về KDTM thường có giá trị tài sản thi hành lớn, nhiềutrường hợp giá trị vụ việc thi hành có ý nghĩa quyết định đến sựsống còn, tồn tại hoặc phá sản của một doanh nghiệp, do đó để lạihậu quả xã hội rất lớn
Bước 1: Sau khi BA có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án
(NĐTHA) phải tự thực hiện (hoặc thông qua Thừa phát lại) xácminh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án (NPTHA),khi chứng minh được NPTHA có tài sản để thi hành án thì nộp đơnyêu cầu cơ quan THADS có thẩm quyền tổ chức thi hành án
Nếu sau khi đã thực hiện việc xác minh mà không có kết quả thì cóthể làm đơn yêu cầu cơ quan THADS thực hiện xác minh NếuNPTHA tự nguyện yêu cầu cơ quan THADS tổ chức thi hành án thì
có trách nhiệm chứng minh điều kiện thi hành án của mình
Bước 2: Cơ quan THADS thụ lý, ra quyết định thi hành án và phân
công CHV tổ chức thi hành Quyết định thi hành án ghi rõ ngườiphải thi hành án tự nguyện thi hành trong thời hạn 15 ngày, kể từngày nhận được QĐ hoặc được thông báo hợp lệ về QĐ thi hành án
Trang 25Trong thời hạn 03 ngày ngay khi được phân công, CHV phải thựchiện thủ tục tống đạt QĐ thi hành án cho NĐTHA và NPTHA.
Bước 3: Dựa trên các chứng cứ chứng minh điều kiện thi hành án
do các đương sự cung cấp, CHV phải tiến hành kiểm tra hoặc xácminh điều kiện thi hành án của NPTHA Việc xác minh điều kiện thihành án của doanh nghiệp được thực hiện tại các nơi sau:
- Nơi cấp phép cho doanh nghiệp hoạt động, cụ thể với Công ty cổphần và Công ty TNHH ở đây là Sở Kế hoạch và Đầu tư để xácđịnh ngành nghề hoạt động, người chịu trách nhiệm trước phápluật của doanh nghiệp, các thay đổi về đăng ký kinh doanh,nguồn vốn và số lượng vốn điều lệ của doanh nghiệp
- Cơ quan thuế mà doanh nghiệp nộp thuế để xác định được doanhthu của doanh nghiệp, tình hình hoàn thuế giá trị gia tăng, tàikhoản kinh doanh của doanh nghiệp
- Xác minh tại ngân hàng để xác định khoản tiền có trong ngânhàng của doanh nghiệp
- Xác minh tại chính quyền địa phương nơi đặt trụ sở doanhnghiệp để làm rõ doanh nghiệp còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng
ký hay không
- Xác minh tài sản doanh nghiệp như trụ sở hoạt động có phải tàisản doanh nghiệp hay không, tài sản cố định, tài sản lưu động,hàng hóa…, tại chính trụ sở doanh nghiệp hoặc tại chính cơ quan
có thẩm quyền…
Trước ngày 01/7/2015, nếu doanh nghiệp không có tài sản để thihành án thì CHV sẽ thông báo cho NĐTHA biết và tiến hành thủ tụctrả đơn yêu cầu thi hành án Tuy nhiên, sau khi Luật THADS sửađổi, bổ sung 2014 có hiệu lực thì Cơ quan THADS không được trảđơn yêu cầu thi hành án mà phải đưa vào việc chưa có điều kiện thihành án Khi NPTHA có điều kiện thi hành thì cơ quan THADSphải tổ chức thi hành
Trang 26Bước 4: CHV xử lý các tài sản bảo đảm thi hành án được ghi nhận
trong BA hoặc các tài sản tìm được trong quá trình thi hành theocung cấp của các đương sự hoặc do CHV xác minh, CHV đượcquyền áp dụng các biện pháp bảo đảm và cưỡng chế để thi hành BAnhư:
- Phong tỏa, khấu trừ tiền trong tài khoản
- Kê biên, xử lý tài sản kể cả tài sản do người thứ ba giữ
- Khai thác tài sản
- Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ
- Buộc thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định
Bước 5: Thanh toán tiền bán tài sản và các thủ tục kết thúc hồ sơ thi
hành án
1.3 Cơ sở pháp lý của hoạt động thi hành án dân sự:
1.3.1 Tổng quan về pháp luật thi hành án dân sự:
Hoạt động thi hành án dân sự là một hoạt động tư pháp quan trọng, làhoạt động đưa pháp luật đi vào thực tiễn nên có rất nhiều quy địnhtrong các bộ luật, luật và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quantạo tiền đề cho nó như trong Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân,Luật tố tụng dân sự
Hiến pháp năm 1980 và Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1981 rađời tạo cơ sở pháp lý cho việc Bộ Tư pháp (mới được thành lập sau hơn
20 năm giải thể) đảm nhiệm công tác quản lý Toà án nhân dân về mặt
tổ chức, trong đó có việc quản lý về mặt tổ chức đối với nhân sự làmcông tác THADS Ngày 28/8/1989, Pháp lệnh THADS đầu tiên ở nước
ta được ban hành đặt cơ sở pháp lý cho việc tăng cường và hoàn thiện
tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự Từ đó, chỉ có Chấp hành viên làngười được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định
Trang 27của Toà án Sau một thời gian thực hiện, công tác THADS có nhữngbước phát triển hơn cả về mặt tổ chức và hoạt động, tuy nhiên do Toà
án vừa là cơ quan xét xử, vừa là cơ quan làm nhiệm vụ thi hành án, nênchưa thực sự đảm bảo khách quan, công bằng trong hoạt động THADS.Tại kỳ họp thứ nhất ngày 06/12/1992, Quốc hội khoá IX thông quaNghị quyết về việc bàn giao công tác thi hành án từ Toà án nhân dâncác cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ Ngày 02/6/1993, Thủ tướngChính phủ ra Chỉ thị số 266/TTg về triển khai việc bàn giao và tăngcường công tác THADS Trên thực tế, đến hết tháng 6/1993 thì việcthành lập các cơ quan thi hành án và bàn giao công tác THADS từ Toà
án nhân dân các cấp sang các cơ quan của Chính phủ đã được thực hiệnxong Về mặt thể chế, nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành THADSđược ban hành với những quy định chặt chẽ, rõ ràng và phù hợp hơnvới thực tiễn thi hành án, trong đó phải kể đến Pháp lệnh THADS ngày21/4/1993, Nghị định số 30/CP ngày 02/6/1993 “về tổ chức, nhiệm vụ,quyền hạn của các cơ quan quản lý công tác thi hành án dân sự, cơquan thi hành án dân sự và chấp hành viên”, Nghị định số 69/CP ngày18/10/1993 “quy định thủ tục thi hành án dân sự”, Thông tư liên ngành
số 981/TTLN ngày 21/9/1993 của Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tốicao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao “hướng dẫn thực hiện một số quyđịnh của Pháp lệnh Thi hành án dân sự”… là cơ sở pháp lý quan trọng
để giải quyết việc thi hành án dân sự Đứng trước yêu cầu đổi với vàcải cách tư pháp, Bộ Tư pháp đã đẩy nhanh tiến độ soạn thảo để trìnhcác cơ quan có thẩm quyền xem xét, ban hành Pháp lệnh Thi hành ándân sự thay thế Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 Ngày14/1/2004, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh Thi hành
án dân sự, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004
Pháp lệnh THADS năm 2004 sau gần năm năm thực hiện đã thu đượcnhững kết quả nhất định tuy nhiên cũng bộc lộ nhiều tồn tại hạn chế,nhất là các quy định về trình tự, thủ tục, trách nhiệm, cơ chế phối hợpcủa các cơ quan trong công tác THADS…Để khắc phục những hạn chếnày, tiếp tục hoàn thiện các quy định về THADS, ngày 14/11/2008,
Trang 28Quốc hội khóa XII đã thông qua luật THADS, gồm 9 chương, 183 điềuvới nhiều nội dung đổi mới và Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày01/7/2009 Các nghị định quy định chi tiết cũng được ban hành nhưNghị định số 74/2009/NĐ-CP, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP và Nghịđịnh số 125/2013/NĐ-CP đã đưa hoạt động THADS vào một trật tựmới Luật THADS ra đời đã có nhiều tác động đối với hoạt độngTHADS Hệ thống tổ chức THADS được tổ chức và quản lý tập trungtheo hệ thống ngành THADS đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản
lý, chỉ đạo chuyên ngành thống nhất từ trung ương đến địa phương,Trình tự, thủ tục THADS được quy định cụ thể với nhiều quy định mới
đã tạo điều kiện cho hoạt động THADS có những chuyển biến mạnhmẽ
Nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập sau 5 năm triển khai LuậtTHADS, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật THADS đã đượcQuốc hội khoá XIII thông qua ngày 25/11/2014, có hiệu lực thi hành kể
từ ngày 1/7/2015
1.3.2 Một số nội dung quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đối
với doanh nghiệp:
Hoạt động thi hành án dân sự chú trọng về mặt chủ thể thi hành và tàisản phải xử lý Các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động thi hành
án dân sự đối với doanh nghiệp chủ yếu là đối với việc xử lý tài sản củachủ thể doanh nghiệp nên thường liên quan đến các luật chuyên ngànhnhư Bộ luật Dân sự, Luật đất đai, Luật các tổ chức tín dụng, Luậtchứng khoán, Luật phá sản Đối với chủ thể là doanh nghiệp, ngoàiviệc áp dụng Luật thi hành án dân sự thì còn có hành lang pháp lý làLuật doanh nghiệp vì doanh nghiệp là đối tượng thuộc phạm vi điềuchỉnh của luật này Trong Luật THADS 2008 cũng như Nghị định58/2009/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành ándân sự về thủ tục thi hành án dân sự, chỉ có một số quy định về thi hành
án đối với doanh nghiệp như chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành
Trang 29án tại điều 54 Luật THADS 2008, một số loại tài sản không được kêbiên của doanh nghiệp tại điều 87, một số quy định về thi hành quyếtđịnh phá sản Các luật chuyên ngành khác chủ yếu quy định về đốitượng tài sản mà hoạt động thi hành án dân sự phải xử lý như bất độngsản, tài khoản ngân hàng, cổ phần, cổ phiếu hoặc các tài sản cố địnhkhác Các hoạt động xác minh, cưỡng chế trong thi hành án dân sựcũng được quy định đối với từng đối tượng tài sản ấy tại Luật THADS
2008 Ngoài ra, Luật THADS 2008 đã có một sự chuyển biến mạnh mẽ
so với Pháp lệnh THADS 2004 trong việc ban hành quy định về ápdụng Biện pháp bản đảm thi hành án nhằm ngăn chặn tình trạngNPTHA tẩu tán, hủy hoại tài sản và trốn tránh nghĩa vụ thi hành án,việc xây dựng kế hoạch cưỡng chế thi hành án và các biện pháp cưỡngchế thi hành án đã được mở rộng hơn so với trước, nhờ đó mà hoạtđộng thi hành án dân sự nói chung và đối với doanh nghiệp nói riêng cóphần hiệu quả hơn trước Năm 2015 đánh dấu việc các luật mới bắt đầu
có hiệu lực pháp luật như Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014, Luậtdoanh nghiệp 2014, Luật phá sản 2014 đã đưa hoạt động thi hành ándân sự đối với doanh nghiệp có một sự kết nối giữa các luật chuyênngành với nhau Ví dụ: Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014 có quyđịnh trong trường hợp doanh nghiệp giải thể do bị thu hồi giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp thìnghĩa vụ thi hành án được chuyển giao theo quy định của Luật doanhnghiệp
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN TẠI CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ QUẬN 10 2.1 Tổng quan về hoạt động thi hành án dân sự tại Quận 10:2.1.1 Đặc điểm về kinh tế xã hội:
Quận 10 có diện tích khoảng 6 km2 , với dân số khoảng 372.450 người(2013) được chia thành 15 phường, là một trong những quận trung tâmcủa Thành phố Hồ Chí Minh và là một trọng điểm giao dịch thươngmại của thành phố, có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc giao lưukinh tế, văn hóa xã hội với các quận trung tâm và ngoại thành, là cơ hội
để thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội Ngành thương mại – dịch vụ
có tốc độ phát triển nhanh, với nhiều loại hình thương mại – dịch vụcao cấp và đa dạng tạo được sự thu hút đầu tư của các doanh nghiệptham gia đầu tư phát triển
Tổng số vốn đầu tư của các công ty, doanh nghiệp tư nhân và các cơ sở
cá thể đạt gần 700 tỷ đồng; giá trị thương mại chiếm tỷ lệ khá cao, sảnlượng kinh tế thương mại quốc doanh chiếm từ 60 – 80%
Tốc độ tăng trưởng trên lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệpbình quân hằng năm luôn vượt chỉ tiêu kế hoạch 14,58%, trong đó khuvực kinh tế quốc doanh tăng bình quân 16,94%, khu vực ngoài quốcdoanh tăng bình quân 13,67%
Tốc độ tăng trưởng thương mại – dịch vụ hàng năm tăng bình quân16,98% - trong đó, các Công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân vàthương nghiệp – dịch vụ tư nhân, cá thể có tỷ lệ tăng khá cao, chiếm tỷtrọng lớn trên tổng doanh thu hằng năm
Giá trị sản xuất năm 2014 (giá so sánh năm 2010) là 24.803 tỷ đồng, socùng kỳ năm trước tăng 8,06% Trong đó, khu vực công nghiệp và xây
Trang 31dựng là 8.620 tỷ đồng (tăng 7,25% so cùng kỳ); khu vực dịch vụ là16.183 tỷ đồng (tăng 8,50% so cùng kỳ) 5.
Giá trị sản xuất năm 2014 (giá hiện hành) là 33.047 tỷ đồng, so cùng kỳnăm trước tăng 14,27% Trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng là10.726 tỷ đồng (tăng 10,36% so cùng kỳ); khu vực dịch vụ là 22.321 tỷđồng (tăng 16,24% so cùng kỳ) 5
Kim ngạch xuất khẩu ước thực hiện năm 2014 là 250 triệu USD, socùng kỳ năm trước bằng 70,58% Kim ngạch nhập khẩu ước thực hiệnnăm 2014 là 423 triệu USD, so cùng kỳ năm trước tăng 9,36%
Xuất khẩu chủ yếu là các mặt hàng điện tử, hoá mỹ phẩm, may mặc,nông hải sản, chế biến cao su Nhập khẩu chủ yếu là các ngành hàngnguyên liệu phục vụ sản xuất tuy vậy hạn chế nhập khẩu hàng tiêudùng
Theo báo cáo só 13561/BC-UBND ngày 31/12/2014 của Ủy ban nhândân Quận 10 tóm tắt tình hình kinh tế - văn hóa – xã hội, ngân sáchQuận 10 năm 2014 thì tình hình kinh tế Quận 10 phát triển tốt, đa phầncác doanh nghiệp thực hiện tốt các quy định về hoạt động kinh doanh.Tuy nhiên, do tình hình kinh tế khó khăn, nhiều doanh nghiệp giải thểảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế của quận
Nhiều doanh nghiệp hoạt động không đúng nội dung kinh doanh đãđăng ký, không hiện diện hoặc không hoạt động tại địa chỉ đăng kýkinh doanh, không góp vốn theo cam kết, nợ thuế, nợ lương người laođộng, bảo hiểm xã hội Có nhiều trường hợp một công ty kinh doanhdịch vụ văn phòng cho nhiều doanh nghiệp khác cùng đăng ký trụ sởchính tại một địa chỉ Tại đây, mỗi doanh nghiệp thuê một hộp thư haymột cái bàn làm việc, thực tế không có bất kỳ hoạt động của bộ máylàm việc của doanh nghiệp tại trụ sở, liên lạc với doanh nghiệp cũngphải thông qua dịch vụ văn phòng của công ty cho thuê
5 Ủy ban nhân dân Quận 10 (2014), Báo cáo số 13561/BCUBND ngày 31/12/2014 tóm tắt tình hình kinh tế văn hóa – xã hội, ngân sách Quận 10 năm 2014, tr.1.
Trang 32-Trên địa bàn quận, bên cạnh những công ty làm ăn hiệu quả tạo ra công
ăn việc làm cho người lao động, đóng góp sự phát triển kinh tế cho địaphương thì cũng một bộ phận không nhỏ những công ty làm ăn thua lỗ,kém hiệu quả, trốn thuế, nợ nần nhiều đối tác và có dấu hiệu lừa đảo
Từ đó nảy sinh các tranh chấp trong hoạt động kinh doanh thương mại,lao động Và những năm trở lại đây, số vụ việc tranh chấp mà Tòa ánnhân dân Quận 10 phải giải quyết tăng theo từng năm Một số tranhchấp phổ biến ở quận 10 như tranh chấp hợp đồng tín dụng của doanhnghiệp với ngân hàng, tranh chấp hợp đồng bảo hiểm giữa doanhnghiệp với Bảo hiểm xã hội, tranh chấp các hợp đồng thi công giữa cácdoanh nghiệp với nhau Ngoài ra, do các tranh chấp về kinh doanhthương mại thường có giá trị khá lớn nên hầu hết các đương sự đều tìmmọi biện pháp để bảo vệ được quyền lợi dẫn đến không thể thỏa thuận.Tâm lý chung của các doanh nghiệp khi phải thi hành án là đều cố gắnggiữ tất cả lợi ích của mình, không tự nguyện và luôn cố tình kéo dàithời gian thi hành án Do đó, số vụ việc mà cơ quan THADS Quận 10phải tổ chức thi hành không những ngày càng tăng về mặt số lượng màcòn đa dạng phức tạp hơn trước đây rất nhiều
2.1.2 Tổ chức bộ máy và kết quả thực hiện nhiệm vụ của Cơ quan thi
hành án dân sự Quận 10:
2.1.1 Tổ chức bộ máy:
Cơ quan THADS Quận 10 là cơ quan trực thuộc Cục THADSThành phố Hồ Chí Minh có nhiệm vụ chính là tổ chức thi hành các
BA, QĐ theo thẩm quyền và quy định của pháp luật
Cơ quan THADS Quận 10 có ba bộ phận chuyên môn gồm Vănphòng, Phòng kế toán và quản lý kho, Các bộ phận nghiệp vụ Độingũ lãnh đạo gồm 01 Chi cục trưởng, 02 Phó Chi cục trưởng Bộphận nghiệp vụ gồm 08 Chấp hành viên, 01 Thẩm tra viên và cácThư ký
2.1.2 Cơ sở vật chất:
Trang 33Cơ quan THADS Quận 10 đã có trụ sở mới từ năm 2005 và đưa vào
sử dụng kho tang vật cũng tọa lạc tại Cơ quan THADS Quận 10,hoạt động lưu trữ hồ sơ và chuyển giao tang vật từ đó cũng tốt hơntrước
2.1.3 Kết quả thi hành án:
So với 23 quận, huyện khác và Cục THADS Thành phố Hồ ChíMinh thì công tác THADS tại Quận 10 có tổng thụ lý phải thi hànhthấp hơn Trong năm 2014, Cơ quan THADS Quận 10 đã hoànthành chỉ tiêu trên cơ sở chỉ tiêu ngành thi hành án dân sự do QuốcHội và Bộ Tư Pháp giao, giải quyết xong về việc, về tiền trong tổng
số việc, tiền có điều kiện giải quyết và chỉ tiêu giảm tỷ lệ việcchuyển kỳ sau, trong đó:
- Giải quyết xong trên 88% số việc có điều kiện giải quyết và trên77% số tiền (tiền và giá trị tài sản được quy ra tiền) có điều kiện giảiquyết
- Giảm tỷ lệ 11% số việc chuyển sang năm 2015 so với số việc củanăm 2013 chuyển sang năm 2014
Hoạt động THADS Quận 10 có nhiều thuận lợi do tình hình quản lýđất đai của chính quyền địa phương đã ổn định Ngành THADSngày càng được sự quan tâm của các cấp chính quyền, sự phối hợpgiữa các cơ quan với nhau trong hoạt động THADS tại Quận 10ngày càng đi vào chiều sâu Trong năm vừa qua, “Quy chế phối hợpcông tác trong công tác thi hành án dân sự tại quận 10” đã được kýkết giữa các ngành liên quan đã tác dụng thiết thực trong quan hệphối hợp liên ngành về công tác thi hành án dân sự tại địa bàn quận
10 ngày càng đạt hiệu quả cao hơn
Tuy nhiên, những năm gần đây, do tình hình kinh tế khó khăn, cáctranh chấp trong quan hệ giao dịch dân sự và thương mại tại địa bànQuận 10 tăng lên nhiều với giá trị bồi thường, hoàn trả ngày cànglớn Từ năm 2013 đến nay, trung bình mỗi năm Cơ quan THADS