Ý nghĩa khoa học của đề tài - Ý nghĩa lý luận: Góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về công nghiệp, làm rõ vai trò của công nghiệp trong quá trình phát triển công nghiệp ho
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN QUỐC TÍNH
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THAI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN QUỐC TÍNH
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN MINH TUẤN
THAI NGUYÊN - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin đảm bảo nội dung nghiên cứu do bản thân thực hiện, dưới sự hướng
dẫn khoa học của TS Trần Minh Tuấn, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong
luận văn là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ công trình khoa học khác
Tác giả xin chịu trách nhiệm về các kết quả nghiên cứu trong luận văn!
Thái Nguyên, tháng năm 2014
Tác giả
Nguyễn Quốc Tính
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS Trần Minh Tuấn,
người đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Quản lý Đào tạo sau đại học trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành khóa học
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư, phòng Tổng hợp - Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang đã tạo điều kiện cho tôi trong việc thu thập số liệu phục vụ cho đề tài
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ và cung cấp cho tôi những kinh nghiệm quý báu để tôi
có thể hoàn thành luận văn trong thời gian quy định
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng năm 2014
Học viên
Nguyễn Quốc Tính
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2
5 Kết cấu luận văn 3
Chương 1: VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 4
và phát triển công nghiệp 4
1.1.1 Khái niệm về công nghiệp 4
1.1.2 Vai trò của ngành công nghiệp 5
1.1.3 Phân loại công nghiệp 7
1.1.4 Quan điểm phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam 8
1.2 Phát triển công nghiệp của một địa phương cấp tỉnh 14
1.2.1.Nguyên tắc phát triển công nghiệp của một địa phương cấp tỉnh 14
1.2.2 Các yếu tố tác động tới phát triển công nghiệp của một địa phương cấp tỉnh 15
1.3 Cơ sở thực tiễn về phát triển công nghiệp 19
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp ở nước ngoài 19
1.3.2 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp trong nước 20
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Tỉnh Tuyên Quang 25
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 2.1 Câu hỏi nghiên cứu 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin/số liệu/tài liệu 26
2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 26
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 27
2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 27
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỈNH TUYÊN QUANG 29
3.1 Đánh giá các yếu tố tác động đến phát triển công nghiệp tỉnh Tuyên Quang 38
3.1.1 Đánh giá các yếu tố điều kiện phát triển công nghiệp tỉnh Tuyên Quang 38
3.1.2 Nhóm nhân tố về quản lý nhà nước của chính quyền địa phương 48
3.1.3 Nhóm nhân tố về doanh nghiệp công nghiệp 68
3.2 Thực trạng phát triển công nghiệp tỉnh Tuyên Quang 29
3.2.1 Giá trị sản xuất công nghiệp 29
3.2.2 Kết quả thực hiện giá trị sản xuất công nghiệp theo thành phần 32
3.2.3 Kết quả thực hiện các mục tiêu phát triển công nghiệp tỉnh 34
3.2.4 Hiện trạng các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh 36
3.3 Đánh giá về thực trạng phát triển công nghiệp của tỉnh Tuyên Quang 38
3.3.1 Những kết quả đạt được 79
3.3.2 Những tồn tại 80
3.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại 81
Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH TUYÊN QUANG 83
4.1 Phân tích mô hình SWOT về hiện trạng phát triển công nghiệp tỉnh Tuyên Quang 83
4.1.1 Điểm mạnh 83
4.1.2 Điểm yếu 83
4.1.3 Cơ hội 84
4.1.4 Thách thức 84
Trang 44.2 Định hướng phát triển công nghiệp tỉnh Tuyên Quang đến năm 2020 85
4.2.1 Ngành chế biến nông, lâm sản, thực phẩm 85
4.2.2 Ngành sản xuất vật liệu xây dựng 85
4.2.3 Ngành công nghiệp cơ khí, luyện kim 85
4.2.4 Ngành công nghiệp sản xuất điện, nước 85
4.2.5 Ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản 86
4.2.6 Ngành công nghiệp dệt may – da giày 86
4.2.7 Ngành công nghiệp thiết bị điện, điện tử 86
4.2.8 Ngành công nghiệp hóa chất 87
4.2.9 Quy hoạch khu, cụm công nghiệp 87
4.2.10 Nhu cầu vốn đầu tư đến năm 2015 88
4.3 Giải pháp phát triển công nghiệp tỉnh Tuyên Quang 88
4.3.1 Giải pháp về vốn và thu hút đầu tư 88
4.3.2 Giải pháp về hoàn thiện chính sách 90
4.3.3 Giải pháp về xây dựng kết cấu hạ tầng phát triển công nghiệp 91
4.3.4 Giải pháp về nguồn nhân lực 92
4.3.5 Giải pháp về phát triển kỹ thuật - công nghệ 93
4.3.6 Giải pháp về thị trường 94
4.3.7 Giải pháp hoàn thiện nội dung quản lý Nhà nước và tổ chức thực thi của các cơ quan quản lý nhà nước cấp Tỉnh 94
4.3.8 Giải pháp về môi trường 96
4.4 Kiến nghị 97
4.4.1 Kiến nghị đối với Nhà nước 97
4.4.2 Kiến nghị đối với Tỉnh 97
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2006- 2010 43
Bảng 3.2 Số lượng doanh nghiệp hiện có thuộc các loại hìnhphân theo ngành kinh tế 69
Bảng 3.3 Số lượng doanh nghiệp từ năm 2008 – 2012 70
Bảng 3.4 Nguồn vốn của các doanh nghiệp công nghiệp Tuyên Quang 72
Bảng 3.5 Số doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tinphân ra ngành kinh tế 73
Bảng 3.6 Trình độ chuyên môn của lao động các doanh nghiệpcông nghiệp phân theo ngành kinh tế 74
Bảng 3.7 Trình độ chuyên môn được đào tạo của người đứng đầucủa các doanh nghiệp công nghiệp phân theo ngành kinh tế 75
Bảng 3.8 Số lao động của DNCN Tuyên Quang 76
Bảng 3.9 Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế 77
Bảng 3.10 Trị giá xuất khẩu hàng hóa năm 2012 78
Bảng 3.11 Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế 33
Bảng 3.12 Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo địa bàn 34
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định, một trong những nhiệm vụ chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ nay đến năm
2020 là: “Phát triển mạnh khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển kinh tế tri thức” Để làm được việc đó đòi hỏi sự đóng góp không ngừng của các tỉnh, thành phố trong phát triển kinh tế, trước hết là công nghiệp Tuy nhiên, thực trạng ngành công nghiệp ở Việt Nam nói chung chưa tương xứng với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, cũng như yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mà giai đoạn đầu là thực hiện quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đã và đang đặt ra cho đất nước ta những thách thức nhất định, trong đó việc xây dựng doanh nghiệp công nghiệp có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đang đặt ra những đòi hỏi bức thiết
Tuyên Quang là một tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi phía Bắc với 7 đơn vị hành chính bao gồm: Thành phố Tuyên Quang và 6 huyện: Lâm Bình, Chiêm Hoá, Hàm Yên, Na Hang, Sơn Dương và Yên Sơn với 141 phường, xã và thị trấn Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển không ngừng trên khắp các lĩnh vực Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2006- 2010 đạt 13,53%; trong đó công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 16,19%/năm, dịch vụ tăng 17,57%/năm, nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 6,74%/năm Tỷ trọng nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản khoảng 26,7%, công nghiệp và xây dựng 27,4%, dịch vụ 45,9% GDP bình quân đầu người đạt 15,36 triệu đồng, tương đương 1.300USD (giá thực tế) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông lâm nghiệp trong GDP
Tuy nhiên, thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung và ngành công nghiệp nói riêng hiện nay còn rất nhiều khó khăn, thách thức, chưa tương xứng với tiềm năng Vì vậy, tập trung nghiên cứu, xây dựng các giải pháp giúp
Trang 6ngành công nghiệp tỉnh Tuyên Quang đạt tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững,
đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại
hóa là nội dung cần được quan tâm nghiên cứu
Từ thực tiễn nêu trên, tôi mạnh dạn lựa chọn chủ đề “Giải pháp phát triển
công nghiệp của tỉnh Tuyên Quang” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, với hy
vọng góp một tiếng nói chung, thúc đẩy sự phát triển công nghiệp của Tỉnh
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng phát triển công nghiệp tỉnh Tuyên Quang, chỉ ra những
điểm mạnh, điểm yếu và từ đó đưa ra những quan điểm và giải pháp nhằm phát
triển công nghiệp tỉnh Tuyên Quang trong thời gian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công nghiệp và phát triển công nghiệp
- Phân tích thực trạng phát triển của ngành công nghiệp tỉnh Tuyên Quang,
chỉ ra những thành công và hạn chế chủ yếu trong vấn đề này
- Xác định phương hướng và luận chứng hệ thống các giải pháp phát triển
ngành công nghiệp tỉnh Tuyên Quang đến năm 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: thực trạng và giải pháp phát triển ngành công
nghiệp tỉnh Tuyên Quang
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian: Nghiên cứu quá trình phát triển ngành công nghiệp, các nhân
tố trong tỉnh tác động đến phát triển công nghiệp tỉnh Tuyên Quang từ năm 2007
đến năm 2013 và biện pháp phát triển đến năm 2020
+ Về không gian nghiên cứu: Nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về
công nghiệp, làm rõ vai trò của công nghiệp trong quá trình phát triển công nghiệp
hoá - hiện đại hoá, để từ đó đưa ra các giải pháp phát triển ngành công nghiệp phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn góp phần đánh giá thực trạng hoạt động của
công nghiệp tỉnh Tuyên Quang; nghiên cứu tiềm năng, lợi thế, giải pháp phát triển công nghiệp của tỉnh trong thời kỳ tới
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương :
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công nghiệp và phát triển công nghiệp Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng ngành công nghiệp tỉnh Tuyên Quang giai đoạn
2008-2013
Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp tỉnh Tuyên
Quang đến năm 2020
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1
VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
và phát triển công nghiệp
1.1.1 Khái niệm về công nghiệp
Theo Từ điển tiếng Việt, Công nghiệp (hoặc kỹ nghệ) là toàn thể những hoạt
động kinh tế nhằm khai thác các tài nguyên và các nguồn năng lượng, và chuyển
biến các nguyên liệu - gốc động vật, thực vật hay khoáng vật thành sản phẩm
Theo quan niệm của Liên Hợp Quốc: "Công nghiệp là một tập hợp các hoạt
động sản xuất với những đặc điểm nhất định thông qua các qui trình công nghệ để
tạo ra sản phẩm Hoạt động công nghiệp gồm cả 3 loại hình: công nghiệp khai thác
tài nguyên, công nghiệp chế biến và các dịch vụ sản xuất theo nó (dịch vụ sửa chữa,
dịch vụ quảng cáo, dịch vụ thông tin)."
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: "Công nghiệp là một bộ phận của nền
kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được "chế tạo, chế
biến" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo Đây là
hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các
tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật."
Theo PGS - TS Nguyễn Đình Phan: "Công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực
sản xuất vật chất, một bộ phận cấu thành nền sản xuất vật chất của xã hội'' [10, Tr.5]
Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về công nghiệp, nhưng cách hiểu
phổ biến và thông dụng hơn cả là theo quan niệm của Liên Hợp Quốc Khái niệm
đó cho thấy, công nghiệp là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, bao
gồm 3 loại hình có quan hệ chặt chẽ với nhau: công nghiệp khai thác, công nghiệp
chế biến và các dịch vụ sản xuất đi cùng Trong đó: Công nghiệp khai thác: gồm
khai khoáng, khai thác nhiên liệu, khai thác tài nguyên nước, khai thác rừng, khai
thành dạng vật chất có tính năng đáp ứng nhu cầu sản xuất của đời sống con người,
biến vật chất thành của cải và tư liệu sản xuất cho các ngành khác; Dịch vụ sản xuất
đi cùng: gồm các dịch vụ cung ứng vật tư, nguyên vật liệu, thiết kế mẫu mã, tư vấn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.1.2 Vai trò của ngành công nghiệp
Từ thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới cho thấy: Công nghiệp là ngành kinh tế quan trọng và không thể thiếu được đối với bất
kỳ quốc gia nào Trình độ phát triển công nghiệp nói lên trình độ phát triển kinh tế của quốc gia đó Sản xuất công nghiệp phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của tất cả các ngành kinh tế và góp phần nâng cao trình độ văn minh của toàn xã hội Theo E.F.SCHUMACHER: "Một lần nữa, về công nghiệp và chắc chắn công nghiệp là nhân tố quyết định bước đi của cuộc sống hiện đại"
* Công nghiệp có vai trò chủ đạo đối với sự phát triển của nền kinh tế:
Công nghiệp có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế, sản xuất ra khối lượng sản phẩm rất lớn cho xã hội Công nghiệp sản xuất ra máy móc, thiết bị, tư liệu sản xuất cho các ngành kinh tế
mà không ngành nào có thể thay thế được, góp phần thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng chung của cả nền kinh tế Theo Mac - Ăng ghen: "Sự phân công lao động, việc sử dụng sức nước, nhất là sức của hơi nước, và việc ứng dụng máy móc, đó là
ba đòn bẩy lớn nhờ đó nền công nghiệp từ giữa thế kỷ 18 đã làm lay chuyển nền tảng của thế giới"
* Công nghiệp quyết định sự thành công của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá:
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, công nghiệp ngày
càng chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của nền kinh tế và có vai trò quyết định đối với quá trình tăng trưởng kinh tế Công nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong việc đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững, giúp giải quyết các mục tiêu kinh tế - xã hội, tạo tiền đề và môi trường đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá nền kinh tế theo hướng hiện đại
* Công nghiệp thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, dịch vụ phát triển theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá:
Công nghiệp có vai trò không thể thiếu đối với phát triển nông nghiệp bởi nó cung cấp cho sản xuất nông nghiệp những yếu tố đầu vào quan trọng như: phân bón, thuốc trừ sâu, máy móc để cơ giới hóa, nâng cao trình độ công nghệ trong sản xuất,
Trang 8nhờ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Công nghiệp còn có vai trò
quan trọng trong xây dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển nông nghiệp cũng như xây
dựng nông thôn mới, phát triển công nghiệp nông thôn, đưa nông nghiệp lên sản
xuất hàng hóa
* Công nghiệp cung cấp hàng tiêu dùng phục vụ cho đời sống nhân dân
Sản xuất nông nghiệp cung cấp cho con người những sản phẩm tiêu dùng
thiết yếu, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người, còn công nghiệp cung
cấp cho chúng ta hầu hết các sản phẩm tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa
dạng và phong phú, như cung cấp các sản phẩm dùng trong sinh hoạt phục vụ cho
ăn uống, đi lại, tiêu khiển và giải trí,
Ngoài ra, công nghiệp phát triển còn nảy sinh chức năng hướng dẫn
tiêu dùng cho con người Bởi vì, công nghiệp ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm mới,
nảy sinh nhu cầu tiêu dùng và xuất hiện những trào lưu mới trong tiêu dùng Đây là
hệ quả tích cực mà công nghiệp mang lại cho văn minh nhân loại
* Công nghiệp thu hút lao động nông nghiệp, góp phần giải quyết việc làm
cho xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân
Theo "mô hình hai khu vực" trong "Tăng trưởng kinh tế ở các nước Châu Á
gió mùa" của nhà kinh tế người Nhật Bản Harry T.Oshima, "nhờ sự đầu tư các máy
móc, thiết bị và áp dụng công nghệ sinh học mà nông nghiệp phát triển theo chiều
sâu Vì vậy, một bộ phận lao động nhàn rỗi đã chuyển sang hoạt động công nghiệp
nhưng vẫn không làm giảm sản lượng nông nghiệp" Như vậy, công nghiệp làm tiết
kiệm rất nhiều thời gian và sức lao động của người nông dân nhờ nâng cao năng
suất lao động Điều đó đã làm nông dân có nhiều thời gian nhàn rỗi hơn, có thể
tham gia vào các hoạt động kinh tế khác để nâng cao thu nhập
Theo Mác - Ăng ghen: "Công nghiệp, nhờ có những phát minh về sau mỗi
năm một hoàn thiện ấy, lao động bằng máy móc đã thắng lao động bằng chân tay
trong các ngành công nghiệp" Điều đó cho thấy, không chỉ thu hút lao động trong
nông nghiệp mà công nghiệp còn có vai trò quan trọng, giải quyết những vấn đề có
tính chiến lược của nền kinh tế, xã hội như: tăng thu nhập dân cư và ổn định xã hội,
giải quyết việc làm, xóa bỏ sự cách biệt giữa miền xuôi với miền núi
* Công nghiệp tạo ra hình mẫu ngày càng hoàn thiện về tổ chức sản xuất
Công nghiệp góp phần đắc lực vào việc thay đổi phương pháp tổ chức, quản lý sản xuất của xã hội, vì công nghiệp không chỉ sử dụng trang thiết bị hiện đại mà còn cần có phương pháp tổ chức, quản lý sản xuất tiên tiến nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ thông qua sản xuất dây chuyền Từ đó, bản thân người lao động sẽ được rèn luyện tác phong công nghiệp, tính tổ chức kỷ luật trong lao động Do đó, công nghiệp là thước đo trình độ phát triển, biểu thị sự vững mạnh của nền kinh tế quốc dân Trong qui trình hội nhập và cạnh tranh của nền kinh tế toàn cầu hiện nay công nghiệp hóa là con đường tất yếu mà tất cả các quốc gia đều phải trải qua nếu muốn hướng tới sự phát triển Đặc biệt, đối với quốc gia đang phát triển như Việt Nam, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường ngắn nhất để đẩy lùi đói nghèo, giảm sự chênh lệch so với các nước phát triển trên thế giới
* Góp phần phát triển lực lượng sản xuất:
Công nghiệp là ngành có lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ cao hơn các ngành khác; đội ngũ lao động có tính kỷ luật cao, trình độ tiên tiến và với phẩm chất sáng tạo không ngừng của mình lực lượng này luôn tiếp cận với những tiến bộ khoa học - công nghệ hiện đại, chế tạo ra các công cụ lao động mới làm cho quá trình sản xuất công nghiệp - sản xuất của cải vật chất xã hội không ngừng phát triển
* Đảm bảo tăng cường tiềm lực quốc phòng:
Với đặc điểm kỹ thuật của mình, công nghiệp trực tiếp sản xuất ra các khí tài, phương tiện phục vụ công tác đảm bảo an ninh quốc phòng Công nghiệp với
tư cách là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế sẽ tạo ra tăng trưởng và phát triển kinh tế, giúp mỗi quốc gia có thêm nguồn lực để tăng cường tiềm lực quốc phòng Công nghiệp cũng góp phần đẩy nhanh tiến trình hiện đại hoá lĩnh vực an ninh quốc phòng
1.1.3 Phân loại công nghiệp
Hiện nay, trong nền kinh tế quốc dân, người ta chia phát triển kinh tế thành 3 ngành khác nhau: ngành công nghiệp (bao gồm cả xây dựng); ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và ngành dịch vụ Đối với công nghiệp, dựa trên các tiêu chí khác
nhau mà có các cách phân chia khác nhau
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.1.3.1.Dựa vào công dụng kinh tế của sản phẩm: Người ta có thể chia công nghiệp
thành công nghiệp sản xuất tư liệu tiêu dùng và công nghiệp sản xuất tư liệu sản
xuất; và theo đó có 2 nhóm ngành tương ứng là công nghiệp nặng và công nghiệp
nhẹ Đối với các nước đang phát triển, việc phân chia này rất có ý nghĩa đối với việc
tính tỷ trọng nhập khẩu tư liệu sản xuất so với tư liệu tiêu dùng và tỷ trọng xuất
khẩu so với nhập khẩu, đặc biệt đối với các nền kinh tế theo đuổi chiến lược thay
thế hàng nhập khẩu hay sản xuất hàng xuất khẩu
1.1.3.2 Dựa vào tính biến đổi của đối tượng lao động: người ta chia công nghiệp
thành công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến Việc phân loại này có ý nghĩa
đối với việc phân bổ các ngành công nghiệp; trong điều kiện nguồn tài nguyên thiên
nhiên hạn chế thì việc giảm tỷ trọng công nghiệp khai thác, ưu tiên phát triển công
nghiệp chế biến là điều cần thiết, đảm bảo cho sự phát triển bền vững
1.1.3.3 Dựa vào các đặc điểm kỹ thuật - công nghệ sản xuất: người ta chia công
nghiệp thành những ngành có cùng đặc trưng kỹ thuật - công nghệ, hoặc cùng
phương pháp công nghệ, hoặc sản phẩm có cùng công dụng cụ thể tương tự nhau
Cách phân chia này có ý nghĩa đối với việc quy hoạch các ngành công nghiệp dựa
trên cân đối liên ngành
1.1.3.4 Dựa vào quan hệ sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất: người ta chia công
nghiệp thành công nghiệp quốc doanh, công nghiệp ngoài quốc doanh, công nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài Việc phân chia này có ý nghĩa đối với việc xây dựng
chính sách để phát triển các thành phần kinh tế phù hợp với chiến lược chung của
mỗi quốc gia
1.1.3.5 Dựa vào quy mô doanh nghiệp: người ta chia công nghiệp thành công
nghiệp lớn, công nghiệp vừa và công nghiệp nhỏ Việc phân chia này là cơ sở cho
việc hoạch định chính sách và có hình thức quản lý phù hợp nhằm hỗ trợ phát triển
công nghiệp vừa và nhỏ
1.1.4 Quan điểm phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở Việt Nam
1.1.4.1 Quan niệm về công nghiệp hoá
Mazlish: "CNH là một qui trình được đánh dấu bằng một sự chuyển động từ
nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp sang một nền kinh tế được gọi là công nghiệp"
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Ladriere cho rằng: "CNH là một quá trình mà các xã hội ngày nay chuyển từ một
kiểu kinh tế dựa trên nông nghiệp với đặc điểm năng suất thấp và tăng trưởng cực
kỳ thấp hay bằng không sang một kiểu kinh tế về cơ bản dựa trên công nghiệp với các đặc điểm năng suất cao và tăng trưởng tương đối cao"
Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO): "CNH là
một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại Đặc điểm cơ cấu kinh tế này có một
bộ phận luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ về kinh tế - xã hội"
Như vậy, khái niệm của UNIDO đưa ra mang tính sâu sắc hơn vì đã chú trọng tới nội dung cơ bản của quá trình CNH là quá trình phát triển kinh tế - xã hội Quan niệm đó cho thấy:
- Mục tiêu của quá trình công nghiệp hóa: đảm bảo nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, đạt được tiến bộ cả về mặt kinh tế và xã hội
- Nội dung của công nghiệp hóa: bao trùm toàn bộ quá trình phát triển kinh tế, xây dựng cơ cấu kinh tế đa ngành Vấn đề nâng cao trình độ kỹ thuật, áp dụng công nghệ hiện đại là nội dung cơ bản của quá trình công nghiệp hóa
Tại Việt Nam, công nghiệp hóa được xem là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội xuyên suốt các kỳ đại hội Đảng Từ Đại hội III đến Đại hội XI, Đảng ta luôn xác định CNH là nhiệm vụ trung tâm, then chốt, xuyên suốt thời kỳ quá độ Tuy nhiên, qua các thời kỳ phát triển kinh tế, quan điểm về CNH có những thay đổi cơ bản Trước Đại hội VII, quan niệm phổ biến về CNH ở nước ta là quá trình thực hiện cách mạng kỹ thuật, thực hiện sự phân công mới về lao động xã hội và là quá trình tích lũy XHCN để không ngừng thực hiện tái sản xuất mở rộng; đường lối cnh được xác định là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ
Tuy nhiên, từ Đại hội giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ta đã có quan niệm mới
về CNH, gắn với HĐH CNH thực chất là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của xã hội XHCN, là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới cơ bản về công
Trang 10nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả và lâu bền của toàn bộ nền
kinh tế quốc dân Nghị quyết IX của Đảng nêu rõ: “Đẩy mạnh CNH – HĐH, xây
dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu
tiến phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp
theo định hướng XHCN”
Từ những định hướng trên, có thể hiểu CNH hiện nay là một quá trình chuyển
nền sản xuất từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng lao động có kỹ
thuật cùng với công nghệ tiên tiến, hiện đại, tạo ra năng suất lao động xã hội ngày
càng cao; là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp và khai thác tài
nguyên là chủ yếu sang cơ cấu mới có công ngheiepj đóng vai trò chủ đạo, tỷ trọng
công nghiệp trong GDP ngày càng tăng, tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm, thu
hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa thành thị và nông thôn trên cơ sở khai
thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi thế các mặt của quốc gia cũng như
của từng vùng, miền của quốc gia
Ở đây, cần nhận thức rằng, CNH không đồng nhất với quá trình phát triển
công nghiệp CNH là quá trình rộng lớn và phức tạp, không chỉ là quá trình trang bị
và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân mà còn là
quá trình xây dựng xã hội văn minh công nghiệp và cải biến các ngành kinh tế, tác
động làm cho nhịp độ tăng trưởng kinh tế - xã hội đạt mức nhanh và ổn định, cải
thiện đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp dân cư, thu hẹp dần chênh lệch
trình độ kinh tế - xã hội của đất nước với các nước phát triển
1.1.4.2 Quan điểm phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Từ những kinh nghiệm thực tiễn của quá trình xây dựng và phát triển đất
nước và những bài học kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới,
đường lối, quan điểm, chủ trương phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp
hoá - hiện đại hoá, được Đảng ta quan tâm và ngày càng sáng tỏ hơn, phù hợp với
mục tiêu chiến lược kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn mới Đại hội IX
của Đảng đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu thế kỷ
XXI "Chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo định hướng
XHCN, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp"
Mục tiêu tổng quát của Chiến lược 10 năm là: "Đưa đất nước ta khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại" (Phạm Xuân Nam, 1994) Như vậy, đến năm 2020, được chia thành 2 chặng:
- Từ năm 2000-2010: đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, đưa đất nước vượt qua giai đoạn trung bình của quá trình công nghiệp hoá; là giai đoạn chuẩn bị cất cánh GDP bình quân đầu người đạt khoảng 1000 USD vào năm 2010 (theo giá 1990) Hoàn chỉnh đồng bộ một bước cơ bản các kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội
để đáp ứng yêu cầu phát triển trước mắt và chuẩn bị tiền đề cho bước sau - xây dựng nền tảng cho một nước công nghiệp Hình thành một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọn Cơ cấu kinh tế theo ngành và lĩnh vực tạo được hiệu quả cao và bền vững; cơ cấu kinh tế theo vùng tạo được sự hài hoà giữa vùng phát triển động lực và các vùng khác Tiếp tục thực hiện bước quan trọng trong việc hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
- Từ năm 2010 - 2020: đẩy nhanh hiện đại hoá, là giai đoạn đủ điều kiện mang tính tiền đề về kết cấu hạ tầng, khung thể chế, nguồn nhân lực, năng lực nội sinh, sức cạnh tranh và khả năng hội nhập quốc tế để đảy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá, xây dựng nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Việc phát triển công nghiệp cần quán triệt những quan điểm sau:
- Tăng tốc độ phát triển công nghiệp với tốc độ cao, nâng cao tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế Phát triển nhanh các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, phát triển mạnh các ngành công nghiệp công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử, tự động hóa, đồng thời phát triển rộng khắp các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa với ngành nghề đa dạng, vừa phát triển các ngành
sử dụng nhiều lao động, vừa đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao, chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế nội bộ công nghiệp theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp chế tạo, chủ yếu là các ngành chế biến, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu
- Về cơ cấu thành phần, các thành phần sở hữu trong công nghiệp được khuyến khích phát triển bình đẳng Các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh,
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp quốc doanh… đều có sân
chơi bình đẳng Tuy nhiên, ở một số ngành trọng điểm có vai trò quyết định đến cơ
cấu kinh tế, đòi hỏi vốn nhiều, thời gian thu hồi vốn lâu, hiệu quả kinh tế ngắn hạn
không cao, khó thu hồi vốn thì kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo
- Trong phát triển công nghiệp, cơ cấu ngành cần kết hợp với cơ cấu vùng và
cơ cấu thành phần để thực hiện các mục tiêu phát triển Kết hợp hướng ngoại với
hướng nội, trong đó hướng ngoại là chủ yếu Chú ý hiệu quả kinh tế - xã hội, định
hướng và tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn phát triển
Khi nghiên cứu CNH-HĐH ở Việt Nam, cần chú ý ba nội dung sau:
Một là, cần rút ngắn thời gian và đẩy mạnh CNH Các chuyên gia Ngân hàng
Phát triển Châu Á (ADB) tính rằng: nếu Việt Nam và các nước ASEAN giữ được
tốc độ tăng trưởng bình quân của giai đoạn 1991-1998 thì Việt Nam muốn đuổi kịp
Indonesia phải mất 19 năm, 22 năm đối với Philipinnes, 91 năm với Thái Lan và
108 năm với Malaysia Do vậy, muốn đuổi kịp các nước thì Việt Nam chỉ có con
đường là phải tăng trưởng và phát triển với tốc độ cao Muốn vậy, bên cạnh việc
phát triển tuần tự phải có bước đột phá, đi tắt đón đầu, đi ngay vào các ngành, lĩnh
vực khoa học – công nghệ hiện đại, tiên tiến, đầu tư vào những ngành công nghiệp
trọng điểm có sức thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh Để làm được việc đó, Việt
Nam phải thực hiện con đường CNH rút ngắn thời gian so với các nước đi trước
Đại hội IX của Đảng khẳng định: con đường CNH-HĐH của nước ta cần và có thể
rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước
nhảy vọt Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình
độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh
thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành
tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức Việc rút ngắn
thời gian CNH nhắm tới mục tiêu chung là sớm đạt tới trình độ cao trong phát triển
kinh tế, khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu bức xúc về phát triển kinh tế, nâng cao
đời sống nhân dân Đối với nước ta, điều quan trọng nhất là có chiến lược, chính sách
đúng đắn trong việc lựa chọn các ngành công nghiệp trọngđiểm, mũi nhọn để phát
triển, có khả năng lan tỏa và thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hai là, phát triển công nghiệp phải gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN Khác với các nước XHCN trước đây và nước ta ở những năm 60-70, quá trình CNH-HĐH ở nước ta hiện nay diễn ra trong điều kiện phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN, nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo Nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường là môi trường thuận lợi để giải phóng lực lượng sản xuất, phát huy mọi nguồn lực xã hội; nó thật
sự tạo ra động lực, phân bổ và sử dụng hợp lý các nguồn lực, phát huy được nội lực, thu hút ngoại lực cho công cuộc phát triển, tạo ra động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững Trong 10 năm tới, chúng ta cần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, phát triển đồng bộ các loại thị trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường vốn, thị trường sức lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học – công nghệ…
để hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển Bên cạnh việc phát huy mặt tích cực của kinh tế thị trường, cần chú ý hạn chế, khắc phục những mặt tiêu cực bằng sự quản lý của nhà nước
Ba là, quá trình CNH-HĐH ở nước ta phải là quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ gắn với hội nhập kinh tế quốc tế Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng gia tăng khiến cho các nước càng coi trọng hơn lợi ích quốc gia, dân tộc, bản sắc văn hóa và càng chú
ý hơn đến việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đảm bảo vị thế và lợi ích quốc giia, dân tộc trong cuộc cạnh tranh gay gắt, khẳng định địa vị chính trị trên trường quốc tế, không bị lệ thuộc vào quốc gia khác Độc lập tự chủ trong điều kiện hiện nay phải được hiểu là trong các quan hệ kinh tế, chính trị không bị lệ thuộc vào
sự áp đặt của người khác làm tổn hại đến chủ quyền quốc gia và lợi ích cơ bản của dân tộc; hoặc trước tác động của khủng hoảng, chấn động bên ngoài hay bao vây cấm vận thì vẫn giữ được sự ổn định, không bị sụp đỗ về kinh tế và chế
độ chính trị Do vậy, phát triển công nghiệp phải gắn với xây dựng và nâng cao tiềm lực quốc phòng an ninh Trong điều kiện ngày nay, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ phải gắn với mở cửa hội nhập thị trường khu vực và quốc tế vì chỉ có phát triển ngoại thương, hướng mạnh xuất khẩu thì mới đảm bảo cho nền kinh tế phát triển bền vững
Trang 121.2 Phát triển công nghiệp của một địa phương cấp tỉnh
1.2.1.Nguyên tắc phát triển công nghiệp của một địa phương cấp tỉnh
Phát triển công nghiệp của một địa phương là quá trình thực hiện phân công
lao động xã hội giữa các vùng lãnh thổ của một nước, tổ chức mối lien hệ sản xuất
giữa một địa phương, vùng lãnh thổ với lien vùng và việc lựa chọn địa điểm, phân
bố các doanh nghiệp công nghiệp đáp ứng các yêu cầu giảm tối đa chi phí đầu vào,
chi phí tiêu thụ sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm Phát triển công nghiệp của địa
phương được thực hiện gắn liền với quá trình phân bố lực lượng sản xuất, tăng
cường tích tụ, tập trung sản xuất theo lãnh thổ, hình thành các khu công nghiệp tập
trung của một lãnh thổ, làm cơ sở cho quá trình đô thị hóa
Phát triển công nghiệp hợp lý trên mỗi vùng lãnh thổ giúp cho việc khai thác
có hiệu quả các nguồn lực, lợi thế của mỗi vùng lãnh thổ, đảm bảo sự phát triển cân
bằng, hợp lý các vùng lãnh thổ trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của một
nước, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư
Phát triển công nghiệp của một địa phương phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, đảm bảo kết hợp giữa sử dụng tài nguyên với bảo vệ môi trường tự
nhiên Tài nguyên thiên nhiên và sản xuất công nghiệp có mối quan hệ hữu cơ với
nhau, sản xuất công nghiệp là một quá trình liên tục tác động vào tài nguyên thiên
nhiên để tạo ra của cải cho xã hội; tài nguyên phong phú, phân bổ không đều giữa
các địa phương có ảnh hưởng đến việc bố trí các cơ sở khai thác và chế biến Tiến
bộ khoa học – công nghệ hiện đại cho phép sử dụng đầy đủ, tiết kiệm và hợp lý nhất
nguồn tài nguyên của đất nước cũng như từng vùng, nhờ vậy các cơ sở sản xuất
công nghiệp sẽ giảm dần sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, từ đó việc bố trí các
cơ sở công nghiệp sẽ thuận lợi và hợp lý hơn
Thứ hai, tổ chức sản xuất các ngành công nghiệp phải theo hướng kết hợp phát
triển chuyên môn hóa với tổng hợp trên nền tảng hợp tác quy mô lãnh thổ Bên cạnh
mối liên hệ sản xuất chặt chẽ và tác động quan lại lẫn nhau giữa các ngành công
nghiệp chuyên môn hóa, công nghiệp còn có mối liên hệ với các ngành kinh tế
khác Do đó, việc tổ chức sản xuất công nghiệp trên lãnh thổ dẫn tới hình thành
những phức hợp gồm nhiều ngành công nghiệp tạo thành cơ cấu kinh tế ở từng
vùng lãnh thổ cụ thể
Thứ ba, sự phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật của mỗi địa phương, bao gồm hệ thống giao thông vận tải, cung ứng điện năng, cấp thoát nước, thông tin liên lạc… là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững, có hiệu quả của công nghiệp nói chung và tổ chức sản xuất công nghiệp trên vùng lãnh thổ nói riêng Sự hình thành và phát triển công nghiệp của mỗi vùng sẽ tác động thúc đẩy
sự phát triển và đồng bộ hóa hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật Trong mối quan hệ này, thường kết cấu hạ tầng phải đi trước một bước; việc nâng cấp và phát triển mới
hệ thống kết cấu hạ tầng được coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của công cuộc CNH-HĐH
1.2.2 Các yếu tố tác động tới phát triển công nghiệp của một địa phương cấp tỉnh
1.2.2.1 Nhóm yếu tố bên trong
* Nhóm yếu tố về điều kiện phát triển công nghiệp
- Điều kiện tự nhiên:
Địa ký kinh tế: điều kiện địa lý, vị trí địa lý của một địa phương hay quốc gia
ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên, vùng nguyên liệu cho công nghiệp, cũng như mối quan hệ của địa phương, quốc gia đó đối với trung tâm kinh tế khu vực và quốc tế
Khí hậu, thời tiết: là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển nguồn nguyên
liệu công nghiệp, đến các hoạt động khai thác, tổ chức sản xuất và phân phối
Tài nguyên thiên nhiên: là cơ sở của nguồn đầu vào có thể khai thác được để
phát triển công nghiệp trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của các ngành, địa phương hay quốc gia
- Điều kiện kinh tế - xã hội:
Tình hình phát triển kinh tế: bao gồm tốc độ phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế
và đóng góp của từng ngành vào tăng trưởng kinh tế, thu - chi ngân sách, độ mở của nền kinh tế Tình hình phát triển kinh tế vừa phản ánh sự đóng góp của công nghiệp vào nền kinh tế, vừa phản ánh môi trường để phát triển công nghiệp
Hiện trạng kết cấu hạ tầng cho phát triển công nghiệp: cơ sở hạ tầng là
yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển công nghiệp, nó bao gồm hệ thống giao thông (đường, cầu, bến bãi ), cấp điện, cấp nước, thông tin liên lạc Cơ
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
sở hạ tầng được đầu tư và phát triển đồng bộ sẽ là điều kiện thuận lợi thúc đẩy
công nghiệp phát triển
Nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp: gồm nhân lực quản lý, cán bộ kỹ
thuật và công nhân lao động với trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, kỹ năng lao
động phù hợp, tác phong lao động và ý thức tổ chức kỷ luật tốt Nếu địa phương hay
quốc gia nào có nguồn nhân lực dồi dào về số lượng, chất lượng cao sẽ là điều kiện
thuận lợi để phát triển công nghiệp
* Nhóm nhân tố về quản lý nhà nước của chính quyền địa phương
- Quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp: là nội dung rất quan trọng định
hướng cho toàn bộ quá trình phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế của một quốc
gia, một địa phương, cũng như quyết định quá trình quản lý nhà nước đối với công
nghiệp Việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp phải dựa trên
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia/địa phương, quy hoạch phát
triển ngành, trên cơ sở tiềm năng và các điều kiện khác của từng quốc gia/địa
phương nhằm đạt đến mục tiêu khai thác hợp lý tiềm năng phục vụ phát triển kinh
tế, nâng cao đời sống dân cư và đảm bảo an ninh quốc phòng
Vai trò định hướng của quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp được thực
hiện thông qua các chiến lược, quy hoạch, chính sách quốc gia, vùng, ngành hay
chương trình, dự án, đề án, kế hoạch của từng địa phương Các hình thức này được
chọn lựa để triển khai một cách hợp lý ở cấp độ quốc gia, ngành hay đia phương;
chúng có mối liên hệ với nhau, tác động lẫn nhau, trong đó chiến lược và chính sách
có vị trí quan trọng nhất, chiến lược có tính ổn định tương đối, chính sách là bộ
phận năng động hơn
- Thực thi pháp luật, xây dựng cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp: là
nội dung quan trọng nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho công nghiệp phát
triển Nhà nước hay chính quyền địa phương phải tổ chức thực hiện pháp luật có
liên quan và vận dụng pháp luật để ban hành những cơ chế, chính sách về phát triển
công nghiệp cho phù hợp với từng ngành, địa phương nhằm khuyến khích sự phát
triển công nghiệp trong ngành, địa phương đó Các chính sách có thể bao gồm
những ưu đãi về thuế, đất đai, nhân lực hay ccá ưu tiên trong giải quyết thủ tục hành
chính cũng như các khoản đóng góp khác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Xây dựng kết cấu hạ tầng cho phát triển công nghiệp: là điều kiện cần thiết
để phát triển công nghiệp, bao gồm việc quy hoạch và đầu tư xây dựng hệ thống giao thông, bến bãi, hệ thống cấp điện, nước, thông tin liên lạc, đầu tư xây dựng các khu, cụm công nghiệp
- Tổ chức thực thi của cơ quan quản lý nhà nước: là việc xác định bộ máy tổ
chức đủ sức thực thi pháp luật, cơ chế, chính sách, các quy hoạch, kế hoạch đã được ban hành nhằm biến chúng trở nên hiện thực, tạo sự phát triển của công nghiệp nói riêng và phát triển chung của nền kinh tế
* Nhóm nhân tố về doanh nghiệp công nghiệp:
- Vốn đầu tư của doanh nghiệp công nghiệp: bao gồm vốn cố định và vốn lưu
động đảm bảo cho các doanh nghiệp đầu tư thiết bị công nghệ phù hợp và đảm bảo các nguồn đầu vào hợp lý nhằm duy trì sản xuất theo kế hoạch và nhu cầu thị trường
- Trình độ kỹ thuật - công nghệ của doanh nghiệp: là sự đầu tư trang thiết bị,
công nghệ phù hợp với ngành nghề nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm Trình độ
kỹ thuật - công nghệ quy định năng suất lao động trong doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp đó
- Trình độ nhân lực của doanh nghiệp: phản ánh trình độ chuyên môn nghiệp
vụ, trình độ quản lý của cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân lao động Trình độ nhân lực là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp tiếp cận với các chuẩn quản lý tiên tiến, các thiết bị - công nghệ hiện đại
- Trình độ tổ chức, quản lý của doanh nghiệp công nghiệp: phản ánh hình thức
và mức độ khoa học, hiệu quả trong tổ chức quản lý doanh nghiệp; trình độ này cũng được thể hiện qua các hô hình tổ chức và các chuẩn quản lý tiên tiến được doanh nghiệp áp dụng
1.2.2.2 Các yêu tố bên ngoài
* Môi trường thể chế và sự điều tiết của Nhà nước: Bên cạnh sự ổn định về
chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, khuyến khích đầu
tư trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển công nghiệp, yếu tố môi trường thể chế (hệ thống các chủ trương, chính sách ) thuận lợi, ổn định sẽ có tác dụng khuyến khích, động viên và là nhân tố tác động mạnh mẽ đến thu hút đầu tư
Trang 14phát triển các ngành kinh tế nói chung, phát triển công nghiệp nói riêng Trong quá
trình quản lý, Nhà nước tiến hành quy hoạch các vùng kinh tế trọng điểm, các khu,
cụm công nghiệp và sử dụng những biện pháp, chính sách để can thiệp vào quá
trình sản xuất và trao đổi Các biện pháp chính sách công nghiệp thường được sử
dụng là thuế quan, hạn ngạch, trợ cấp xuất khẩu, tỷ giá hối đoái, các chương trình
đầu tư kết cấu hạ tầng, xúc tiến thị trường Việc thực hiện một cách đúng đắn và
hợp lý những biện pháp chính sách này sẽ góp phần đắc lực vào việc phát huy được
lợi thế so sánh, đẩy mạnh khả năng cạnh tranh của các công ty, xí nghiệp trên thị
trường thế giới, tác động đến phát triển công nghiệp của cả nước
* Nhu cầu thị trường: Sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu công nghiệp chịu
sự tác động trực tiếp của các loại thị trường Thị trường ở đây được hiểu không chỉ
gồm các thị trường hàng hoá (dịch vụ), mà còn bao hàm các loại thị trường yếu tố
sản xuất (thị trường lao động, thị trường đất đai, thị trường vốn ) Thị trường tác
động đến cả đầu vào và đầu ra của sản xuất Các ngành công nghiệp của một địa
phương cũng phải hướng ra thị trường, xuất phát từ quan hệ cung cầu hàng hoá và
dịch vụ của thị trường để hoạch định kế hoạch phát triển, chương trình kinh doanh của
mình Doanh nghiệp công nghiệp là hạt nhân cơ bản của nền công nghiệp Mỗi doanh
nghiệp công nghiệp phải hướng ra thị trường, xuất phát từ cái thị trường cần, từ yêu cầu
của thị trường để hoạch định chương trình, kế hoạch kinh doanh của mình
Nói cách khác, thị trường tác động đến cả đầu vào và đầu ra của doanh
nghiệp, làm biến đổi nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp, tổng hợp lại tạo thành
sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu công nghiệp của đất nước
* Tiến bộ khoa học - công nghệ: Phát triển công nghiệp vừa phải phản ánh
xu thế phát triển khoa học - công nghệ, vừa phải có khả năng ứng dụng những thành
tựu mới của khoa học và công nghệ Nói cách khác, tiến bộ khoa học - công nghệ
ảnh hướng đến việc hình thành, phát triển công nghiệp và ngược lại công nghiệp
phát triển là nhân tố thúc đẩy khoa học - công nghệ phát triển Trình độ tiến bộ khoa
học - công nghệ càng cao thì trình độ chuyên môn hoá càng sâu Cuối cùng, muốn
đạt được mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá phải phát triển công nghiệp,
nhưng nếu không đẩy mạnh phát triển khoa học - công nghệ thì không thể nói đến
phát triển công nghiệp và thực hiện thành công chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tiến bộ khoa học - công nghệ thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội phát sinh yêu cầu phải phát triển mạnh một ngành công nghiệp Nói cách khác, tập trung đầu tư để phát triển một số ngành công nghiệp trọng điểm
là điều kiện vật chất thiết yếu, là tiền đề quan trọng thực hiện có hiệu quả các nội dung của tiến bộ khoa học - công nghệ Tiến bộ khoa học không những tạo ra những khả năng sản xuất mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành, mà còn tạo ra những nhu cầu mới và chính những nhu cầu này đòi hỏi sự ra đời và phát triển mạnh một số ngành công nghiệp trọng điểm, những ngành được coi là đại diện của công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, có hàm lượng chất xám cao, tạo ra giá trị gia tăng cao, tuy là những ngành non trẻ nhưng là sự khởi đầu của kỷ nguyên công nghệ mới, nên có triển vọng phát triển mạnh mẽ trong tương lai
1.3 Cơ sở thực tiễn về phát triển công nghiệp
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp ở nước ngoài
1.3.1.1 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp của Nhật Bản
Lịch sử phát triển công nghiệp của Nhật Bản bắt đầu từ nền nông nghiệp truyền thống, tự cấp, tự túc, quy mô hộ nông nghiệp nhỏ, nhưng Nhật Bản nhanh chóng trờ thành quốc gia có nền nông nghiệp và công nghiệp phát triển ở trình độ cao Có được thành tựu đó là nhờ Nhật Bản tiến hành chủ trương cơ giới hoá nông nghiệp với hệ thống cơ khí nhỏ phù hợp với cây lúa nước và quy mô hộ nhỏ Theo
tác giả Nguyễn Điền trong Công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn các nước
Châu Á và Việt Nam cho biết: Thành công trong cơ giới hoá nông nghiệp làm cho
năng suất lao động nông nghiệp tăng, chi phí lao động giảm, đã chuyển hàng chục triệu lao động nông nghiệp sang các hoạt động công nghiệp và dịch vụ, tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng số lao động xã hội giảm đi nhanh chóng, nếu năm
1950 là 45,2%, năm 1960 là 28%, năm 1970 là 16,8%, năm 1990 là 6,3% và hiện nay là dưới 5% Song song đó, Nhật Bản đẩy mạnh thành lập các xí nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ và công nghiệp gia đình ở nông thôn làm vệ tinh, gia công cho các công ty, xí nghiệp lớn ở thành thị; duy trì các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống ở nông thôn nhằm tận dụng hết các loại lao động nhàn rỗi vào các hoạt
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
động kinh tế ngoài nông nghiệp để nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn; phát
triển mạnh mẽ hệ thống hợp tác xã ở nông thôn nhằm thúc đẩy sự phát triển các
ngành dịch vụ kinh tế kỹ thuật phục vụ nông nghiệp
1.3.1.2 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp của Thái Lan
Trong những năm 60, Thái Lan vẫn còn là nước lạc hậu, kém phát triển và
công nghiệp hoá là con đường đưa đất nước phát triển Lúc đầu, Thái Lan tập trung
vào công nghiệp hoá đô thị, lấy hoá dầu và một số ngành công nghiệp khác làm trụ
cột, dựa vào nguồn vốn vay và công nghiệp kỹ thuật của nước ngoài; nhưng sau
thời gian kinh tế vẫn không phát triển, mà còn lâm vào trì trệ, nông nghiệp vẫn lạc
hậu Trước tình hình đó, Thái Lan đã chuyển hướng công nghiệp hoá từ chỗ tập
trung vào đô thị sang đa dạng cả đô thị và nông thôn, cả nông nghiệp và công
nghiệp đều hướng xuất khẩu Kết quả là Thái Lan trở thành cường quốc về nông
nghiệp và ngành công nghiệp có bước phát triển vượt bậc Có được kết quả đó là
nhờ Thái Lan tiến hành phát triển công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp dựa theo
mô hình kết hợp chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất với mục tiêu tăng dần tỷ lệ
nội địa hoá; thực thi chính sách nhà nước - nhân dân, trung ương - địa phương cùng
thực hiện điện khí hoá nông thôn, chú trọng phát triển các ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp và công nghiệp nông thôn nhằm tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn theo hướng công nghiệp hoá
1.3.2 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp trong nước
1.3.2.1 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp của tỉnh Đồng Nai
Là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, kết nối với ba vùng
Đông Nam bộ, Nam Trung bộ và Tây Nguyên, gần Thành phố Hồ Chí Minh (cách
30km), Đồng Nai có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội
Thứ nhất, có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết
mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc 51; tuyến đường sắt Bắc
Nam; nhiều tuyến đường liên tỉnh và các cảng Long Bình Tân, Gò Dầu, Phú Mỹ,…
gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước và quốc tế
Thứ hai, có nền đất lý tưởng, kết cấu có độ chịu nén tốt, thuận tiện cho đầu
tư xây dựng các KCN Thứ ba, có nguồn nước phong phú không chỉ cung cấp cho
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Đồng Nai mà còn cho Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương Thứ tư, có nguồn điện năng dồi dào từ các Nhà máy Thủy điện Trị An, Nhà máy Nhiệt điện Phú Mỹ, đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế Bên cạnh lưới điện quốc gia, Đồng Nai còn có Công
ty liên doanh Amata Power cung cấp điện cho KCN Amata và các KCN lân cận Bên cạnh đó, Đồng Nai còn có nhiều nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng
và phong phú như vàng, thiếc, kẽm, nhiều mỏ đá, cao lanh, than bùn, đất sét, cát sông; rừng và nguồn nước,… rất thuận lợi cho phát triển các ngành nghề như: sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ, mỹ nghệ…
thuận cao, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Đồng Nai đã vượt qua những cản trở, khó khăn, nỗ lực phấn đấu xây dựng Đồng Nai phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, đồng thời đưa Đồng Nai trở thành một trong những mắt xích quan trọng của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Từ một tỉnh nghèo, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, sau giải phóng Nhà nước vẫn phải chi viện cho tỉnh về lương thực Sau hơn 30 năm xây dựng và phát triển, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, Đồng Nai đã vươn lên trở thành một trong những tỉnh có GDP bình quân đầu người cao nhất cả nước, và có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bình quân đạt khoảng 12,8%/năm Quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh diễn ra đúng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, trong đó công nghiệp giữ vai trò chủ đạo, tạo điều kiện thúc đẩy các nền kinh tế khác phát triển, nhất là dịch vụ
và nông nghiệp
Sản xuất công nghiệp của Đồng Nai đã có những bước chuyển mạnh về chất với sự hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực như: công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm, công nghiệp cơ khí và luyện kim, công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu dùng, công nghiệp điện tử và viễn thông,… công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn và ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất từng bước được đẩy mạnh
KCN Các KCN của Đồng Nai phát triển mạnh cả về số lượng, khả năng thu hút
Trang 16vốn đầu tư nước ngoài lẫn diện tích đất cho thuê Đồng Nai cũng là một trong số ít
địa phương thu hút được nhiều dự án có qui mô vốn trên 100 triệu USD (Formosa –
Đài Loan, Vedan – Singapore & Đài Loan, Hualon – Malaysia & Đài Loan, Fujitsu
– Nhật Bản …) Vốn đầu tư nước ngoài đã thật sự trở thành nguồn lực quan trọng
để đầu tư phát triển sản xuất, tạo nguồn thu ngân sách lớn, góp phần phát triển kinh
tế địa phương, nhất là đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa – hiện đại hóa
trong những năm gần đây, Đồng Nai luôn chú trọng và tích cực thực hiện “hai cải” –
đó là cải thiện môi trường đầu tư và cải cách thủ tục hành chính theo hướng toàn diện,
công khai, minh bạch, đơn giản, nhanh chóng, kip thời cùng với các phương châm
“chính quyền đồng hành cùng doanh nghiệp”, “chính quyền phục vụ doanh nghiệp”
lãnh đạo tỉnh Đồng Nai tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao, tạo tiền đề thu hút đầu
tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế Bên
cạnh đó, các loại hình dịch vụ bưu chính, viễn thông, vận tải, du lịch, tài chính – tín
dụng,… cũng được đầu tư kịp thời
Đồng Nai giải quyết có hiệu quả Trong đó, giải quyết việc làm cho người lao động
luôn được các cấp, các ngành ở địa phương đặc biệt quan tâm Đời sống vật chất,
tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện, an ninh xã hội được giữ vững và
niềm tin của nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới ngày càng được nâng cao
Đồng Nai tiếp tục tập trung thực hiện chuyển dịch kinh tế theo chiều sâu,
hình thành và phát triển các khu công nghệ cao, phát triển kinh tế tri thức, đầu tư
một số sản phẩm mũi nhọn của địa phương, tăng hàm lượng chất xám trong các sản
phẩm công nghiệp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh Mở rộng các loại hình dịch
vụ phục vụ cho sản xuất và đời sống, nhất là ở các khu công nghiệp và đô thị Riêng
khu vực kinh tế nông nghiệp, đẩy mạnh các chương trình công nghiệp hóa nông
nghiệp, nông thôn, đầu tư nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, tăng cường áp dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp,… Ngành công nghiệp tiếp tục giữ vai trò, vị trí
then chốt trong phát triển kinh tế, trong đó công nghiệp chế biến góp phần gia tăng giá trị cho sản phẩm nông nghiệp, thúc đẩy ngành thương mại – dịch vụ phát triển, tạo đà cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh và đúng hướng Phát huy mạnh mẽ tiềm năng của các thành phần kinh tế để phát triển ổn định, vững chắc, trong đó khuyến khích đầu tư nước ngoài và các ngành công nghiệp có trình độ công nghệ cao
phát huy tốt hơn nữa các lợi thế của mình, góp phần tạo ra cho Đồng Nai sức bật mới
động trong thời kỳ đổi mới cùng với khát vọng vươn lên đó chính là những yếu tố quyết định để giúp Đồng Nai vững bước xây dựng tương lai ngày càng văn minh giàu đẹp
1.3.2.2 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên
Thái nguyên là một tỉnh ở Đông Bắc Việt Nam, tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội
và là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội Thái Nguyên là một trung tâm kinh tế - xã hội lớn của khu vực Đông Bắc hay cả vùng trung du và miền núi phía Bắc Thái Nguyên hiện đang được nghiên cứu để trở thành vùng kinh tế trọng điểm bắc Thủ đô Hà Nội Thái Nguyên được coi là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 sau hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
Thái Nguyên là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế Trong quá trình phát triển, tỉnh đã xác định 6 nhóm ngành công nghiệp mũi nhọn là công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản; công nghiệp chế biến nông - lâm sản, thực phẩm,
đồ uống; công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng; công nghiệp dệt may, da dầy; công nghiệp luyện kim; công nghiệp cơ khí Trong đó, lợi thế so sánh nổi bật của tỉnh so với vùng và cả nước là gang thép Thái Nguyên
Trong quá trình phát triển công nghiệp, công nghiệp Thái Nguyên đã đạt được kết quả như sau:
- Với Khu công nghiệp gang thép đã hình thành từ trước đây, Công ty Gang thép Thái Nguyên là đơn vị sản xuất thép từ quặng sắt và đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu trong nước về thép xây dựng cũng như thép cơ khí Năm 2001, Công
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ty Gang thép Thái Nguyên đã được đầu tư chiều sâu cho phát triển và hiện nay đang
tiếp tục đầu tư mở rộng nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm thép
- Khu công nghiệp Sông Công đến nay đã lấp đầy 32 ha ở giai đoạn 1, đang tiếp
tục mở rộng thêm 37 ha sau hai năm vừa đầu tư vừa phát triển hạ tầng vừa thu hút đầu
tư (đã thu hút được 17 dự án với tổng vốn đầu tư 545 tỷ đồng và 4,8 triệu USD)
- Cụm công nghiệp La Hiên được quy hoạch cho phát triển sản xuất vật liệu
xây dựng Dự án xây dựng Nhà máy Xi măng với công xuất 1.4 triệu tấn/năm đã
được khởi công xây dựng tại Quang Sơn huyện Đồng Hỷ, giáp với La Hiên Với sự
ra đời của nhà máy này sẽ hình thành thị xã Quang Sơn, cùng với các dịch vụ và các
cơ sở công nghiệp phụ trợ cho nhà máy xi măng trong tưong lai sẽ hình thành khu
công nghiệp vật liệu xây dựng La Hiên - Quang Sơn
- Ngoài các khu công nghiệp lớn, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định quy hoạch các
cụm công nghiệp (25 khu công nghiệp nhỏ với hơn 450 ha) tại các huyện, thành, thị để
tạo mặt bằng cho các nhà máy mới với cơ chế đầu tư và quản lý năng động
Kinh nghiệm: Trước đây, Thái Nguyên là một vùng được coi là nghèo và
chậm phát triển nhất tại Việt Nam Đạt được kết quả cao trong phát triển kinh tế -
xã hội như ngày hôm nay là nhờ Tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện tốt chính sách phát
triển công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa Với phương châm
khuyến khích phát triển công nghiệp, tỉnh Thái Nguyên luôn luôn sẵn sàng đón
nhận những dự án công nghiệp mới đầu tư cả ở ngoài các khu công nghiệp hoặc
cụm công nghiệp đã hình thành Việc giải phóng mặt bằng đã được cố gắng thực
hiện một cách nhanh chóng như đối với dự án xây dựng nhà máy sữa, nhà máy gạch
Tuynen, nhà máy sản xuất dụng cụ y tế xuất khẩu tại huyện Phổ Yên Tỉnh Thái
Nguyên đã thực hiện tốt Chính sách thu hút đầu tư: Nhằm nâng cao điều kiện thuận
lợi nhất cho các nhà đầu tư tham gia đầu tư trên địa bàn, tỉnh Thái Nguyên đã và
đang tích cực thực hiện Đề án "Cải thiện môi trường đầu tư", tiếp tục cải cách các
thủ tục hành chỉnh theo cơ chế "1 cửa", "1 đầu mối" tại các cơ quan chức năng
Hiện nay đã chính thức thực hiện cơ chế "1 cửa" tại các cơ quan cấp phép đầu tư
theo chỉ đạo của Chính phủ
- Tỉnh Thái Nguyên đã ban hành cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư trong nước
và khuyến khích ưu đãi đầu tư ngoài nước vào tỉnh Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Với tiềm năng và cơ hội đầu tư còn rất lớn, điều kiện đầu tư càng ngày càng thuận lợi hơn Tỉnh Thái Nguyên sẽ có nhiều cơ hội được hợp tác với các nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần phát triển tỉnh Thái Nguyên thành một tỉnh giàu đẹp, tương xứng với vị trí là tỉnh cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Tỉnh Tuyên Quang
Trên cơ sở nghiên cứu chính sách phát triển công nghiệp và kinh nghiệm thưc
tế của Nhật Bản, Thái Lan và các địa phương ở Việt Nam, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm trong phát triển công nghiệp tại địa phương đối với tỉnh Tuyên Quang như sau:
1 Phát triển công nghiệp là con đường tất yếu để phát triển kinh tế của một địa phương; chính quyền địa phương phải thật sự quan tâm và thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về công nghiệp để đảm bảo quá trình phát triển đúng hướng và đạt hiệu quả cao
2 Phát triển công nghiệp dựa trên các lợi thế so sánh của địa phương, tập trung hướng mạnh vào xuất khẩu, lựa chọn và phát triển hợp lý các ngành công nghiệp chủ lực; phát triển công nghiệp gắn liền với công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Kinh nghiệm này sẽ giúp cho việc phát triển công nghiệp của tỉnh đảm bảo khai thác thế mạnh, tập trung trọng tâm và đúng định hướng
3 Thực hiện tốt “Chính sách thu hút đầu tư” Đặc biệt là ưu đãi đầu tư trong nước và khuyến khích ưu đãi đầu tư ngoài nước vào tỉ nh, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các dự án phát triển công nghiệp
4 Tiến hành chủ trương cơ giới hoá nông nghiệp với hệ thống cơ khí nhỏ phù hợp với cây lúa nước và quy mô hộ nhỏ Chú trọng phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nông thôn nhằm tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá
5 Chính quyền địa phương phải thực hiện đồng bộ chức năng quản lý nhà nước từ khâu hoạch định, tổ chức thực hiện đến xây dựng cơ chế chính sách, kiểm tra và điều chỉnh Trong đó, cần khơi dậy và phát huy sự tham gia của các ngành, các cấp và các thành phần kinh tế Để phát huy bài học kinh nghiệm này, tỉnh cần xây dựng bộ máy tổ chức đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ
Trang 18Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Câu hỏi nghiên cứu
+ Câu hỏi 1: Tại sao phải phát triển công nghiệp tỉnh Tuyên Quang?
+ Câu hỏi 2: Các nhân tố nào tác động tới sự phát triển của công nghiệp tỉnh
Tuyên Quang?
+ Câu hỏi 3: Để phát triển công nghiệp tỉnh Tuyên Quang trước yêu cầu
thực tiễn cần phải làm gì? Cần có những giải pháp nào?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin/số liệu/tài liệu
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thông tin từ các báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Công thương; của Sở
Kế hoạch và Đầu tư, Cục thống kê tỉnh Tuyên Quang, Sở Công thương Tuyên Quang
- Tài liệu cơ sở lý luận về phát triển công nghiệp; Tài liệu về tình hình kinh tế
- xã hội Tỉnh Tuyên Quang trong một số năm gần đây
- Tài liệu thực trạng công nghiệp qua kết quả điều tra từ năm 2008 đến năm
2013, Tổng cục Thống kê
- Các văn bản, quy định liên quan phát triển công nghiệp của Chính phủ và
của Tỉnh
Kết quả nghiên cứu của một số đề tài có liên quan (tài liệu tham khảo):
- Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Tỉnh Tuyên
Quang đến năm 2020 - UBND Tỉnh Tuyên Quang
- Báo cáo tổng thể quy hoạch công nghiệp tỉnh Tuyên Quang đến năm 2020,
Sở Công Thương tỉnh Tuyên Quang
2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin
Thông tin và các số liệu sau khi thu thập được sẽ được tác giả cập nhật và tính
toán tổng hợp thông qua hệ thống các bảng thống kê, đồ thị thống kê, phân tổ thống
kê Đề tài sử dụng công cụ Microsoft Excel 2003 và một số chương trình ứng
2.2.3.2 Phương pháp phân tích SWOT
Sử dụng mô hình phân tích SWOT để đánh thực trạng phát triển công nghiệp, phân tích điểm mạnh, điểm yếu, những cơ hội và thách thức, từ đó đề xuất một số giải pháp để phát triển công nghiệp Tuyên Quang
Lý thuyết về mô hình SWOT như sau:
Ma trận SWOT
Điểm mạnh (Strengths - S)
Điểm yếu (Weaknesses - W)
Cơ hội (Opportunities – O)
Thách thức (Threats - T)
* Điểm mạnh: Yếu tố lợi thế của công nghiệp Tuyên Quang có thể huy động
và phát huy;
* Điểm yếu: Những yếu kém có thể khắc phục được
* Cơ hội: Những thuận lợi do môi truờng bên ngoài mang lại
* Thách thức: Những trở ngại cho việc phát triển công nghiệp Tuyên Quang
2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu
- Tốc độ tăng trưởng GDP: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm,
trong đó tốc độ tăng trưởng các ngành như sau: Công nghiệp - xây dựng; Dịch vụ; Nông, lâm, thủy sản
- Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế;
+ Công nghiệp - xây dựng
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Dịch vụ
+ Nông, lâm, thủy sản
- Giá trị sản xuất công nghiệp: Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá cố định
1994) Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2008-2020
- Cơ cấu lao động ngành công nghiệp: Đến năm 2020, ngành công nghiệp thu
hút số lượng lao động, từng bước cải thiện đời sống công nhân về thu nhập cũng
như điều kiện sống và làm việc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỈNH TUYÊN QUANG 3.1 Thực trạng phát triển công nghiệp tỉnh Tuyên Quang
3.1.1 Giá trị sản xuất công nghiệp
Năm 2010 đạt 2.113,1 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn
2006-2010 đạt 19,9%/năm (theo quy hoạch 3.620 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân
là 27,42%/năm) Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2011 đạt 2.487,5 tỷ đồng, năm
2012 đạt là 2945,4 tỷ đồng Trong đó:
- Công nghiệp chế biến nông, lâm sản, thực phẩm:
Công nghiệp chế biến nông, lâm, thực phẩm tăng trưởng khá nhanh, năm 2006 đạt 247,5 tỷ đồng, đến năm 2010 là 473,5 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân giai đoạn
2006 - 2010 là 22,8%/năm Năm 2011 là 492,137 tỷ đồng, năm 2012 là 548,4 tỷ đồng Sản phẩm chủ yếu gồm:
+ Chè chế biến: Năm 2006 đạt 7.203 tấn; Năm 2010 đạt 11.235 tấn, sản lượng tăng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 là 11,58%/năm Năm 2011 đạt 12.586 tấn, năm 2012 đạt 11.263 tấn
+ Đường kính trắng: Năm 2006 đạt 17.679 tấn; năm 2010 đạt 19.117 tấn Sản lượng tăng bình quân là 5,57%/năm Năm 2011 đạt 25.344 tấn, năm 2012 đạt 38.963 tấn
+ Giấy đế xuất khẩu: Năm 2006 đạt 1.332 tấn; năm 2010 đạt 6.216 tấn Sản lượng tăng bình quân là 34,9%/năm Năm 2011 đạt 6.014 tấn, năm 2012 đạt 7.346 tấn
+ Chế biến lâm sản: Năm 2006 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 34,3 tỷ đồng Năm
2010 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 51,9 tỷ đồng, tăng 1,7 lần so với năm 2006 Năm
2011 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 65,9 tỷ đồng, năm 2012 đạt 60 tỷ đồng
+ Bột giấy: Năm 2011 sản lượng sản xuất đạt 4.927 tấn; Năm 2012 đạt 64.141 tấn, tăng 13 lần so với năm 2011
- Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng:
Giá trị sản xuất công nghiệp ngành vật liệu xây dựng năm 2006 đạt 309 tỷ đồng; năm 2010 đạt 626,29 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 là
Trang 2018,6 %/năm Năm 2011 đạt 1.033 tỷ đồng Năm 2012 đạt 923,3 tỷ đồng Sản phẩm
chủ yếu gồm:
+ Xi măng: Năm 2006 đạt 205.710 tấn, năm 2010 đạt 300.039 tấn, tăng 1,5 lần
so với năm 2006 Năm 2011 đạt 671.418 tấn, năm 2012 đạt 853.763 tấn
+ Gạch tuynel: Năm 2006 đạt 104,6 triệu viên, năm 2010 đạt 201,11 triệu
viên, tăng 1,9 lần so với năm 2006 Năm 2011 đạt 202,37 triệu viên, năm 2012 đạt
181 triệu viên
+ Đá xây dựng các loại: Có 57 dự án khai thác sản xuất đá xây dựng, năm
2006 đạt 1,008 triệu m3, năm 2010 đạt 2,281 triệu m3, tăng 2,3 lần so với năm 2006
Ngoài ra còn có các sản phẩm khác khá phát triển như: gạch nung, cát, sỏi, bê
tông đúc sẵn…
- Công nghiệp cơ khí luyện kim:
Giá trị sản xuất công nghiệp ngành cơ khí luyện kim toàn tỉnh năm 2006 là
122,23 tỷ đồng, đến năm 2010 đạt 339,4 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân toàn
ngành cơ khí luyện kim là 29,6% Năm 2011 giá trị sản xuất công nghiệp ngành cơ
khí luyện kim đạt 336,827 tỷ đồng, năm 2012 đạt 362,8 tỷ đồng
- Công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản:
Công nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh là một trong những lĩnh
vực thu hút được nhiều dự án đầu tư, một số loại khoáng sản đã được đầu tư chế
biến sâu Giá trị sản xuất công nghiệp khai thác khoáng sản chiếm tỷ trọng khá lớn
trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp, năm 2006 đạt 156 tỷ đồng, năm 2010 đạt
167 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2006-2010 là 5,62%/năm Năm 2011
đạt 187,148 tỷ đồng, năm 2012 đạt 218,2 tỷ đồng
Sản lượng sản phẩm chủ yếu:
+ Bột Fenspat: năm 2010 đạt 292.929 tấn; năm 2011 đạt 259.551 tấn; năm
2012 đạt 244.212 tấn + Bột Barít: năm 2010 đạt 133.173 tấn; năm 2011đạt 119.916 tấn; năm 2012 đạt 124.854 tấn
+ Bột kẽm năm 2010 đạt 327 tấn, năm 2011đạt 263 tấn
+ Bột đá trắng năm 2010 đạt 11.122 tấn; năm 2011 đạt 11.626 tấn; năm 2012 đạt 3.281 tấn
- Công nghiệp may
Ngành Dệt may xuất khẩu giai đoạn 2005-2010: Chủ yếu may gia công có quy
mô nhỏ lẻ, giá trị sản xuất công nghiệp ngành dệt may, năm 2006 đạt 34,803 tỷ đồng, năm 2010 đạt 65,53 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-
2010 là 14,56% năm Ngành dệt may năm 2011 đạt 68,863 tỷ đồng, năm 2012 đạt 221,8 tỷ đồng, tăng 3,2 lần so với năm 2011
- Công nghiệp hóa chất:
Giá trị sản xuất công nghiệp ngành hóa chất năm 2006 đạt 13,2 tỷ đồng, năm
2010 đạt 21,77 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2010 là 17,5% năm Sản phẩm chủ yếu: Phân vi sinh năm 2006 sản xuất 5.969 tấn, năm 2010 sản xuất 10.000 tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân 13,25% năm
Giá trị sản xuất công nghiệp ngành hóa chất năm 2011 đạt 31,84 tỷ đồng, năm
2012 đạt 26,8 tỷ đồng
- Công nghiệp sản xuất và phân phối điện:
+ Nhu cầu tiêu thụ điện của tỉnh Tuyên Quang:
Năm 2010 nhu cầu tiêu thụ điện là 84,51 (MW), tăng trưởng bình quân đạt 15,9%, điện năng tiêu thụ năm 2010 là 318,15 GWh, trong đó, công nghiệp xây dựng là 144,32 GWh, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 34,83%/năm Năm 2011 nhu cầu tiêu thụ điện là
326 triệu kWh, năm 2012 nhu cầu tiêu thụ điện là 514 triệu kWh
+ Phát triển nguồn điện:
Thủy điện Tuyên Quang công suất 342 MW đã hoàn thành và đưa vào hoạt động năm 2008 Thủy điện Chiêm Hóa công suất 48 MW hoàn thành và phát điện
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
năm 2012; Thuỷ điện Hùng Lợi 1 công suất 8 MW đã khởi công tháng 10/2010
Thủy điện Hùng Lợi 2 công suất 9 MW đang trong giai đoạn lập dự án Thuỷ điện
Yên Sơn công suất 70 MW dự kiến khởi công năm 2013
- Công nghiệp sản xuất và phân phối nước
Giá trị sản xuất và phân phối nước năm 2006 là 6,1 tỷ đồng, đến năm 2010 đạt
14,279 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân là 21,3%/năm Giá trị sản xuất năm
2011 đạt 7,522 tỷ đồng, năm 2012 đạt 8,92 tỷ đồng
- Quy hoạch các khu, cụm công nghiệp
Hoàn thành Quy hoạch Cụm các Khu công nghiệp – Dịch vụ - Đô thị Long
Bình An; Cụm công nghiệp Sơn Nam, huyện Sơn Dương; Cụm công nghiệp An
Thịnh, huyện Chiêm Hoá; Cụm công nghiệp Tân Thành, huyện Hàm Yên; Cụm
công nghiệp Na Hang, huyện Na Hang
Về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu, cụm công nghiệp:
Khu công nghiệp Long Bình An đã được UBND tỉnh phê duyệt với tổng mức
đầu tư là 230 tỷ đồng, gồm các hạng mục công trình: Đường giao thông nội bộ, hệ
thống thoát nước mặt, điện chiếu sáng, xây dựng khu tái định cư và đền bù giải
phóng mặt bằng
Các cụm công nghiệp gồm: An Thịnh, huyện Chiêm Hóa; Sơn Nam, huyện
Sơn Dương; Tân Thành, huyện Hàm Yên; Na Hang, huyện Na Hang chưa được đầu
tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh
3.1.2 Kết quả thực hiện giá trị sản xuất công nghiệp theo thành phần
- Công nghiệp Trung ương:
Năm 2010 đạt 574,8 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 27,9 % trong giá trị sản xuất
công nghiệp; tăng cao hơn so với năm 2005 là 364,4 tỷ đồng Năm 2011 đạt 857,8
tỷ đồng tăng cao hơn năm 2010 là 283 tỷ đồng, năm 2012 đạt 1.301,4 tỷ đồng tăng
hơn năm 2011 là 443,6
- Công nghiệp quốc doanh địa phương:
Năm 2010 đạt 348,6 tỷ đồng, chiếm 16,2% tỷ trọng đạt rất thấp trong cơ cấu
công nghiệp Năm 2011 đạt 314,8 tỷ đồng giảm so với năm 2010 là 33,8 tỷ đồng,
năm 2012 đạt 265 tỷ đồng giảm so với năm 2011 là 49,8 tỷ đồng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Khu vực ngoài quốc doanh:
Năm 2010 đạt 1.189,7 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 55,9% trong giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010, tăng hơn so với năm 2005 là 899 tỷ đồng Năm 2011 đạt 1.314,9 tỷ đồng tăng cao hơn năm 2010 là 125,2 tỷ đồng Năm 2012 đạt 1.379 tỷ đồng tăng hơn so với năm 2011 là 64,1 tỷ đồng
Bảng 3.11 Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế
GTSXCN 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Tổng số 866,4 1.005,0 1.217,3 1.602,5 1.847,0 2.113,1 2.487,5 2945,4
Khu vực KT trong nước 866,4 1.005,0 1.217,3 1.602,5 1.847,0 2.113,1 2.487,5 2945,4 + Nhà nước 575,8 638,4 741,9 1.023,2 1.077,0 923,4 1.172,6 1566,4
- DN TW quản lý 210,4 260,6 291,5 622,9 636,4 574,8 857,8 1301,4
- DN ĐP quản lý 365,4 377,8 450,4 400,3 440,6 348,6 314,8 265
+ Khu vực ngoài quốc doanh 290,7 366,6 475,4 579,3 770,0 1.189,7 1.314,9 1379
(Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang năm 2012)
* Kết quả thực hiện giá trị sản xuất công nghiệp theo địa bàn
- Địa bàn Thành phố Tuyên Quang: có giá trị sản xuất công nghiệp cao nhất trong tỉnh Năm 2010 đạt 907,3 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 42,9 % trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh; tăng dần trong các năm 2011 là 1.298 tỷ đồng chiếm
tỷ trọng 52,2%, năm 2012 là 1.458,8 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 49,5 %
- Địa bàn Huyện Sơn Dương: có giá trị sản xuất công nghiệp cao thứ hai trong tỉnh Năm 2010 đạt 354,6 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 16,8 % trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh; tăng dần trong các năm 2011 là 387,5 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 15,6%, năm 2012 là 530,4 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 18 %
- Địa bàn Huyện Na Hang: có giá trị sản xuất công nghiệp cao thứ ba trong tỉnh Năm 2010 đạt 379 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 17,9 % trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh; năm 2011 là 366,8 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 14,7%, năm 2012
là 507 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 17,2 %
- Các địa bàn còn lại có giá trị sản xuất công nghiệp thấp, tỷ trọng từ 0,12% đến 10% Thấp nhất là Huyện Lâm Bình mới được thành lập (0,12%)
Trang 22Như vậy, giá trị sản xuất công nghiệp phân theo địa bàn chưa được phân bố
đều, chênh lệch nhiều giữa các huyện trong tỉnh
Bảng 3.12 Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo địa bàn
Đơn vị tính: Tỷ đồng
2010
TH năm
2011
TH năm
(Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang năm 2012)
3.1.3 Kết quả thực hiện các mục tiêu phát triển công nghiệp tỉnh
Tuyên Quang về đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
giai đoạn 2011 – 2015, định hướng giai đoạn 2016 – 2020 Kết quả đạt được cụ thể
như sau:
Năm 2012 kinh tế của tỉnh Tuyên Quang tiếp tục phát triển ổn định, tốc độ
tăng trưởng đạt 12,54% GDP bình quân đầu người vượt 1.000 USD/người/năm,
19/21 chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế xã hội đạt và vượt kế hoạch đề ra Trong đó, giá trị
sản xuất công nghiệp đạt 2.945 tỷ đồng, tăng 18,4% so với năm 2011, sản lượng
lương thực đạt trên 33,4 vạn tấn, bằng 101,9% kế hoạch Tổng mức bán lẻ hàng hóa
xã hội đạt trên 8.420 tỷ đồng, tăng 17,7% so với năm 2011 Giá trị xuất khẩu hàng
hóa đạt trên 36,2 triệu USD, đạt 239,4% kế hoạch Thu ngân sách nhà nước trên địa
; đã thực hiện cải tạo, nâng cấp: 164 km đường tỉnh, đạt 56,9% kế hoạch; 227,4 km đường huyện, đạt 168% kế hoạch Đề án bê tông hóa đường giao thông nông thôn với phương châm
“nhà nước và nhân dân cùng làm” đã và đang phát huy được hiệu quả tích cực, toàn tỉnh bê tông hóa được trên 2.300 km, đạt 106,5% kế hoạch, tỷ lệ thôn, bản trên địa
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
bàn tỉnh có đường ô tô đến trung tâm đạt 99,6% Thu ngân sách trên địa bàn năm
2015 ước đạt trên 1.400 tỷ đồng, trong đó thu cân đối ngân sách địa phương đạt trên
1.000 tỷ đồng Hoạt động tín dụng tăng trưởng khá, vốn huy động bình quân giai
đoạn 2011 đến 2015 đạt 16,4%, tổng dư nợ hàng năm đạt 15,4% Đối với sản xuất
nông nghiệp, sản lượng lương thực đến năm 2015 dự kiến trên 33 vạn tấn, an ninh
lương thực được đảm bảo Toàn tỉnh phấn đấu đến năm 2015 có 7 xã hoàn thành
các tiêu chí trong bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới; có 15/129 xã đạt
từ 10 tiêu chí trở lên; 95/129 xã đạt từ 5 đến 9 tiêu chí
3.1.4 Hiện trạng các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh
(1) Khu Công nghiệp Long Bình An:
- Diện tích: 173 ha
- Địa điểm: Thuộc các xã: Hoàng Khai (huyện Yên Sơn); Đội Cấn, Lưỡng
Vượng, Thái Long, An Tường (thành phố Tuyên Quang) và xã Vĩnh Lợi (huyện
Sơn Dương) Cách thành phố Tuyên Quang 11 km về phía Nam, cạnh Quốc Lộ 2 về
phía Tây
- Công nghiệp chủ đạo: Công nghiệp giấy và bột giấy, công nghiệp chế biến
gỗ, công nghiệp luyện phôi thép, cơ khí chế tạo, chế biến khoáng sản
- Đầu tư hạ tầng: Vốn đầu tư đã được phê duyệt 25 tỷ đồng, trong đó: Đầu tư
xây dựng hạ tầng khu tái định cư khe Xoan: 5,75 tỷ đồng; Đầu tư đường giao thông
nội bộ 19,26 tỷ đồng, cụ thể: Giải phóng mặt bằng đường giao thông nội bộ là 3 tỷ
đồng, xây dựng đường là 16,25 tỷ đồng
- Hoạt động: Đã thu hút 16 dự án, đã đăng ký đầu tư với tổng số vốn đầu tư là
7.911 tỷ đồng, trong đó có 11 dự án hoàn thành
(2) Cụm công nghiệp Sơn Nam (huyện Sơn Dương)
- Diện tích: 44 ha Giai đoạn 2010 là 90 ha, đến 2020 là 250 ha
- Địa điểm: Xã Sơn Nam, huyện Sơn Dương Nằm trên trục đường Quốc Lộ
2C nối với tỉnh Vĩnh Phúc, cách Trung tâm thành phố Tuyên Quang 50 km, cách Hà
Nội 80 km, liền kề với huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Công nghiệp chủ đạo: Công nghiệp chế biến khoáng sản như: fenspat, vonfram; công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng như: Gạch ốp lát cao cấp, gạch không nung, bê tông đúc sẵn; công nghiệp may, công nghiệp nhựa,…
- Đầu tư hạ tầng: Vốn đầu tư 1 tỷ đồng, hiện đang trình Sở KH&ĐT thẩm định
dự án đầu tư xây dựng hạ tầng Cụm CN
- Hoạt động: Có 4 dự án đã đăng ký đầu tư, tổng số vốn 67 tỷ đồng, trong đó
có 3 dự án chế biến khoáng sản hoàn thành và hoạt động ổn định, 1 dự án đang san lấp mặt bằng
(3) Cụm công nghiệp An Thịnh (huyện Chiêm Hóa)
- Diện tích: 76 ha
- Địa điểm: Xã Phúc Thịnh, huyện Chiêm Hóa, cách thành phố Tuyên Quang
80 km về phía Tây, nằm cạnh Quốc lộ 279 nối với huyện Na Hang
- Công nghiệp chủ đạo: Các nhà máy chế biến thực phẩm, lâm sản quy mô vừa, chế biến khoáng sản như: Ăngtimon, Mangan; các cơ sở tiểu, thủ công nghiệp…
- Đầu tư hạ tầng: Tổng vốn đầu tư là 6 tỷ đồng, hiện đang thực hiện thi công trình đường giao thông vào cụm CN
- Hoạt động: Có 01 dự án đang hoạt động (NM chế biến gỗ Đông Dương, diện tích 3,2 ha, tổng vốn đầu tư 66,3 tỷ đồng)
(4) Cụm công nghiệp Na Hang:
- Địa điểm: xã Tân Thành
- Công nghiệp chủ đạo: Xây dựng các nhà máy chế biến nước cam; chế biến gỗ, chế
biến khoáng sản và các cơ sở tiểu, thủ công nghiệp…
Trang 243.2 Đánh giá các yếu tố tác động đến phát triển công nghiệp tỉnh Tuyên Quang
3.2.1 Đánh giá các yếu tố điều kiện phát triển công nghiệp tỉnh Tuyên Quang
a Đặc điểm tự nhiên
- Vị trí địa lý
đến 1050
40’ kinh độ đông - là tỉnh miền núi phía Bắc; phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh
Hà Giang; phía Đông giáp tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên; phía Đông Bắc giáp tỉnh Cao
Bằng; phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ
Tỉnh Tuyên Quang nằm trên trục Quốc lộ 2 Hà Nội - Vĩnh Phúc - Phú Thọ -
Tuyên Quang - Hà Giang và Quốc lộ 37 Thành phố Tuyên Quang cách Hà Nội 165
km Tuyên Quang là tỉnh có vị trí kinh tế và chính trị quan trọng trong chiến lược
phòng thủ của cả nước, có vai trò to lớn về môi sinh, rừng phòng hộ và phát triển
các công trình thủy điện
Tuyên Quang nằm sâu trong nội địa, cách xa các trung tâm kinh tế - thương
mại lớn của cả nước Tỉnh chưa có đường sắt và đường không vì vậy việc thông
thương sang các tỉnh khác và ra nước ngoài đều nhờ vào hệ thống đường bộ Quốc
lộ 2 và Quốc lộ 37
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5.867 km2, chiếm 1,8% diện tích cả nước, trong
đó có 73% diện tích đồi núi
- Khí hậu
Khí hậu của Tuyên Quang mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu
ảnh hưởng của khí hậu lục địa Bắc Á - Trung Hoa, có 4 mùa rõ rệt: mùa Xuận, Hạ,
Thu, Đông; trong đó mùa Đông khô lạnh, mùa Hạ nóng, ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ
trung bình năm toàn tỉnh 22o - 24oC Cao nhất trung bình từ 33o - 35oC, thấp nhất
trung bình từ 12 - 130C.; tháng lạnh nhất là tháng 11 và tháng 12 âm lịch, gây ra
hiện tượng sương muối
Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.500mm - 1.800mm, khá ổn định Độ ẩm
bình quân hàng năm là 85%, rất thích hợp với cây rừng nhiệt đới, xanh tốt quanh năm
- Địa hình
Tuyên Quang là tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi phía Bắc có địa hình khá phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều dãy núi cao và sông suối, nhất là ở khu vực phía Bắc của tỉnh Phía Nam tỉnh địa hình thấp dần, ít bị chia cắt, có nhiều đồi núi thấp và thung lũng chạy dọc theo các con sông Căn cứ vào độ cao, có thể chia Tuyên Quang thành 3 vùng địa hình:
- Vùng đồi núi cao với độ cao phổ biến từ 200 – 600 m, có hướng thấp dần từ
Hàm Yên và phía Bắc huyện Yên Sơn;
- Vùng đồi núi giữa với độ cao trung bình dưới 200 m có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, độ dốc trung bình dưới 25o, bao gồm phía Nam huyện Yên Sơn, thị xã Tuyên Quang và phía Bắc huyện Sơn Dương
- Vùng đồi núi mang đặc điểm địa hình trung du phân bố ở phía Nam huyện Sơn Dương
Tuyên Quang có hệ thống sông suối khá dày và phân bố tương đối đều giữa các vùng Các sông chính chảy qua Tuyên Quang gồm sông Lô khoảng 145 km, sông Gâm khoảng 170 km và sông Phó Đáy khoảng 80 km
Tỉnh Tuyên Quang nằm trên trục quốc lộ 2 Hà Nội - Vĩnh Phúc - Phú Thọ - Tuyên Quang - Hà Giang và Quốc lộ 37 Thành phố Tuyên Quang cách Hà Nội 160
km Do nằm sâu trong nội địa, việc thông thương ra nước ngoài và sang các tỉnh khác phải nhờ đến vào hệ thống đường bộ (Quốc lộ 2, Quốc lộ 2C, Quốc lộ 37) và sông Lô
- Tài nguyên thiên nhiên + Tài nguyên đất
Tuyên Quang có tổng diện tích tự nhiên khoảng 586.732,71 km2, chiếm 17,8% diện tích đất tự nhiên cả nước; Trong đó:
* Đất nông nghiệp: Theo kết quả thống kê đất đai đến ngày 01/01/2013 toàn tỉnh có 531.609211,09 ha, chiếm 90,54% diện tích tự nhiên Trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp: Diện tích 82.306,24 ha, chiếm 14,03% diện tích đất nông nghiệp Bao gồm: đất trồng cây hàng năm 48.512,90, trong đó đất lúa có 26.481,51 ha; đất cỏ dùng vào chăn nuôi 195,39 ha; đất trồng cây lâu năm 33.793,34 ha
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
* Đất phi nông nghiệp: Toàn tỉnh có 43.795,50 ha, chiếm 7,46% diện tích đất
tự nhiên Trong đó:
Đất ở: Diện tích 5.637,23 ha, chiếm 0,96% diện tích đất tự nhiên, trong đó đất
ở tại đô thị là 647,02 ha, chiếm 0,11% diện tích đất ở; đất ở tại nông thôn 4.990,21
ha, chiếm 0,85% diện tích đất ở
Đất chuyên dùng: Diện tích 24.000,96 ha, chiếm 56,17% diện tích đất phi
nông nghiệp và bằng 4,19% diện tích đất tự nhiên
Còn lại là các loại đất khác
* Đất chưa sử dụng: diện tích còn 11.726,12 ha, chiếm 2,0% diện tích tự
nhiên Trong đó: Đất bằng chưa sử dụng: Diện tích 1.385,03 ha, bằng 0,24% diện
tích đất tự nhiên; Đất đồi núi chưa sử dụng: Diện tích 5.063,51 ha, bằng 0,86% diện
tích đất tự nhiên, còn lại là núi đá không có rừng cây diện tích 5.277,58 ha, bằng
0,90% diện tích đất tự nhiên
+ Tài nguyên nước
Nguồn tài nguyên nước mặt dồi dào với tổng trữ lượng khoảng 5,5 tỷ m3/năm
được cung cấp từ 03 sông lớn chảy qua: sông Lô, sông Gâm, sông Phó Đáy và
nhiều khe suối, ao hồ lớn nhỏ Trung bình cứ một ha đất tự nhiên có 9 m sông suối
và 9.375 m3 nước
Nguồn nước ngầm dồi dào, có ở khắp lãnh thổ tỉnh và chất lượng tốt đủ tiêu
chuẩn dùng cho sinh hoạt Mực nước ngầm không sâu và tương đối ổn định, tuy vậy
nước ngầm phân bố không đồng đều theo cấu thành địa chất
+ Tài nguyên khoáng sản
Tỉnh Tuyên Quang có 163 điểm mỏ với 27 loại khoáng sản khác nhau được
phân bố rải rác trên khắp địa bàn tỉnh Do vậy, khai thác và chế biến khoáng sản là
một trong những khâu đột phá cho phát triển kinh tế trong những năm tới, trên cơ sở
thu hút đầu tư từ bên ngoài
Khoáng sản nhiên liệu: Đã phát hiện 2 điểm mỏ than đá và than nâu với tổng
trữ lượng trên 400.000 tấn
Khoáng sản vật liệu xây dựng: có 9 điểm mỏ đá vôi với tổng trữ lượng gần 1
tỷ m3 đạt chất lượng cao; đất sét và cao lanh cơ trữ lượng 26 triệu tấn và có nhiều
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
điểm mỏ cát sỏi phân bố dọc các sông Lô, sông Gâm thỏa mãn nhu cầu vật liệu xây dựng tương đối lâu dài cho tỉnh
Khoáng sản khoáng chất công nghiệp: đã phát hiện 24 điểm quặng Barit với tổng trữ lượng trên 2 triệu tấn và hầu hết là mỏ lộ thiên, điều kiện khai thác khá thuận lợi
Khoáng sản kim loại: có 17 điểm mỏ quặng sắt với tổng trữ lượng dự báo khoảng 7 triệu tấn; 12 điểm mỏ quặng thiếc với tổng trữ lượng xấp xỉ 28.239 tấn SnO2; 8 điểm mỏ mangan với tổng trữ lượng dự báo trên 2,42 triệu tấn, ngoài ra còn các loại khoáng sản kim loại khác như chì, kẽm, angtimon
+Tài nguyên rừng
Tuyên Quang có khoảng 350 nghìn ha rừng tự nhiên, trong đó: 75,5% rừng tự nhiên được giữ làm rừng phòng hộ, 14% là rừng đặc dụng, chỉ có 10,5% là rừng sản xuất kinh doanh Rừng Tuyên Quang có hệ động thực vật phong phú với nhiều nguồn gen quý hiếm, hiện trên địa bàn tỉnh có 2 khu bảo tồn thiên nhiên: Khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung thuộc huyện Na Hang và khu Cham Chu thuộc huyện Hàm Yên
+ Tài nguyên thuỷ sản
Tuyên Quang là tỉnh có tiềm năng để phát triển thuỷ sản, nhưng chưa được chú trọng đầu tư khai thác Tổng diện tích mặt nước toàn tỉnh có gần 18 ngàn ha, chiếm 48% đất phi nông nghiệp, bằng 3% tổng diện tích đất tự nhiên
Ngoài ra còn có một diện tích đất trũng, đất trong cây lương thực hiệu quả kinh tế chưa cao sẽ được chuyển đổi sang nuôi thuỷ sản
Hiện nay chủ yếu vẫn là khai thác tự nhiên, các cơ sở, diện tích nuôi thâm canh còn ít Chưa có nhiều ứng dụng mới, kỹ thuật cao trong ngành thuỷ sản
Trang 26hạng Quốc gia Tuyên Quang cũng là điểm dừng chân của khách bộ hành trên các
tuyến Hà Nội - Hà Giang và khách du lịch cùng tây nam Trung Quốc đi Hà Nội
Du lịch tự nhiên, sinh thái: Trên địa bàn tỉnh có 3 khu du lịch sinh thái là Na Hang,
Chiêm Hóa, Hàm Yên và các điểm du lịch suối khoáng Mỹ Lâm, động Cô Tiên ở Hàm
Yên, là những điểm du lịch sinh động và hấp dẫn khách du lịch thập phương
b Điều kiện kinh tế - xã hội của Tỉnh Tuyên Quang
- Tăng trưởng kinh tế GDP
Tăng trưởng kinh tế của tỉnh duy trì ở mức trung bình so với cả nước: Tốc độ
tăng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 2006 - 2010 đạt 13,53% Năm 2005 GDP
Năm 2005, GDP bình quân đầu người (giá thực tế) của Tuyên Quang đạt 4,87
triệu đồng đều thấp hơn so với GDP bình quân đầu người của cả nước đạt 10,1 triệu
đồng; của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ là 9,5 triệu đồng
Đến năm 2007, GDP bình quân đầu người của Tuyên Quang đạt 6,89 triệu đồng,
thấp hơn mức GDP bình quân đầu người cả nước là 15,3 triệu đồng Năm 2010 GDP
bình quân đầu người của Tuyên Quang đạt 15,36 triệu đồng, tương đương 689,5 USD,
gấp 2,56 lần so với năm 2005
Năm 2011 thu nhập bình quân đạt 18,56 triệu đồng Năm 2012 đạt 22,1 triệu
đồng, tăng 1,19 lần so với năm 2010
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong các năm
Cơ cấu ngành kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và từng bước khai thác được tiềm năng, thế mạnh của tỉnh
Tỷ trọng ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản trong GDP Tuyên Quang
giảm từ 39,36% năm 2005 xuống còn 37,13 % năm 2010 Trong cả giai đoạn 2006
– 2010 tỷ trọng ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản trong GDP của tỉnh
giảm 21,76%
Tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng không tăng từ 25,10% năm 2005 và 25,07% năm 2010 Trong đó công nghiệp năm 2005 tăng từ 11,04% tăng lên 14,23% năm 2010 Trong cả giai đoạn 2006 - 2010 tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng của tỉnh là 23,16%
Tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 35,54% năm 2005 tăng lên là 37,8% năm
2010 Ngành dịch vụ dịch chuyển tăng trong cơ cấu GDP của tỉnh, trong cả giai đoạn 2006 - 2010 là 24,72%
Cụ thể theo Bảng 3.1 dưới đây
Bảng 3.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2006- 2010
(Nguồn:Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang)
- Tình hình thu, chi ngân sách
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn có những bước tăng trưởng tiến bộ Hoạt động SXKD tăng trưởng nhanh tạo tiềm năng lớn cho nguồn thu vào ngân sách Thu ngân sách liên tục tăng qua các năm, năm 2010 theo số liệu thống kê của Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 3.876,483 tỷ đồng, tăng gấp 2,9 lần so với năm 2005 Điểm đáng chú ý là các nguồn thu có tính ổn định, thể hiện tiềm năng của nguồn thu có tốc độ tăng cao, ngày càng gia tăng tỷ trong trong tổng thu ngân sách
Chi ngân sách địa bàn luôn đảm bảo hoạt động của Đảng, bộ máy chính quyền, các đoàn thể, chi cho sự nghiệp kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
và đầu tư phát triển 5 năm qua, nhiệm vụ chi tiêu ngân sách địa bàn rất lớn Tổng
chi năm 2010 là 3.893,820 tỷ đồng Trong điều kiện thắt chặt chi tiêu, tuy nhiên tốc
độ tăng chi ngân sách bình quân đạt 23,06% Trong tổng chi ngân sách địa bàn, chi cho
đầu tư phát triển luôn dành được sự ưu tiên lớn Mặc dù vậy, nhiệm vụ chi cho bảo
đảm xã hội, chi cho sự nghiệp giáo dục, y tế, khoa học cộng nghệ vẫn được đảm bảo
- Kim ngạch xuất, nhập khẩu
Xuất khẩu đã có sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế; với nhiều sản
phẩm được xuất khẩu như khoáng sản đã qua chế biến, công nghiệp chế biến nông
lâm sản… Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân giai đoạn 2006-2010
14,96%/năm Năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 4,497 triệu USD Các nhóm
mặt hàng xuất khẩu mức tăng, giảm khác nhau do bị ảnh hưởng của thị trường
xuất khẩu: nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm 2,82%, nhóm
hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiếm 97,18% Các mặt hàng xuất
khẩu chủ yếu năm 2010 là chè đạt 2.889,1 tấn, giấy vàng mã đạt 556 tấn, bột ba
rít đạt 70.000 tấn Năm 2011 tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 8,402 triệu USD,
năm 2012 đạt 36,14 triệu USD
Nhập khẩu trên địa bàn tỉnh chủ yếu cho đầu tư, mở rộng, hiện đại hoá cũng như
cung cấp vật tư cho sản xuất, kinh doanh của các cơ sở kinh tế Tổng kim ngạch nhập
khẩu tăng bình quân giai đoạn 2006-2010 là 56,3%/năm Năm 2010, tổng kim ngạch
nhập khẩu đạt 48,159 triệu USD, tăng gấp 9,3 lần so với năm 2005 Năm 2011 tổng
kim ngạch nhập khẩu đạt 71,374 triệu USD, tăng so với năm 2010 Năm 2012 tổng
kim ngạch nhập khẩu đạt 5,8 triệu USD
- Vị trí kinh tế-xã hội của tỉnh trong tổng thể vùng
Tuyên Quang là một tỉnh nằm trong vùng Trung du miền núi phía Bắc Là tỉnh
tiếp giáp với Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hà Giang; phía Đông giáp tỉnh Bắc
Kạn; phía Đông Bắc giáp tỉnh Cao Bằng; phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và phía Nam
giáp tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ
Theo Nghị quyết 37/NQ-TW của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển
kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng an ninh vùng trung du và miền núi Bắc bộ,
trong đó xác định rõ vị trí và vai trò của các tỉnh trong vùng nói chung và Tuyên
Quang nói riêng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của cả nước, các tỉnh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thuộc miền núi – Trung du cần liên kết, biến lợi thể của mỗi tỉnh thành lợi thế chung của vùng Đối với vùng kinh tế trọng điểm miền núi phía Bắc Tuyên Quang
có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của vùng Có hệ thống giao thông thuận lợi nằm trên quốc lộ 2 Hà Nội – Vĩnh Phúc – Phú Thọ - Tuyên Quang – Hà Giang và Quốc lộ 37 cách Hà Nội 160 km Hệ thống đường thủy với nhiều sông lớn tạo điều kiện vận chuyển hàng hóa bằng đường sông như sông
Lô và sông Gâm Sông Lô có thể vận tải từ 50 -100 tấn từ Hà Giang qua Tuyên Quang về xuôi Sông Gâm có thể vận tải nhỏ về mùa khô và mùa mưa có thể vận tải hàng hóa lớn hơn Với lợi thế về tiềm năng phát triển công nghiệp trong đó sản phẩm nông sản, nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú như quặng thiếc, sắt, barit, ăngtimoan, vonfram Có tiềm năng phát triển công nghiệp chế biến nông sản, lâm sản như công nghiệp chế biến chè, sản xuất mía đường, công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng đá, cát, sỏi, gạch, công nghiệp xi măng và các loại vật liệu khác Ngoài ra còn nhiều điều kiện phát triển công nghiệp chế biến lâm sản và nguyên liệu giấy, chế biến gỗ và sản phẩm gỗ,
c Điều kiện về nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp gồm nhân lực quản lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân lao động với trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, kỹ năng lao động phù hợp, tác phong lao động và ý thức tổ chức kỷ luật tốt Nếu địa phương hay quốc gia nào có nguồn nhân lực dồi dào về số lượng, chất lượng cao sẽ là điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp
Theo số liệu điều tra đến 01/01/2013 dân số toàn tỉnh có 739.668 người Trong
đó nam giới là 370.418 người chiếm 50,07%, nữ giới là 369.520 người chiếm 49,93% Dân số thành thị tại các thành thị là 97.266 người chiếm 13,15%, nông thôn là 642.402 người chiếm 86,85% Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh hiện nay
là 126 người/km2
Theo số liệu thống kê đến 01/01/2013 số lao động đang làm việc tại các thành phần kinh tế là 466.570 người chiếm 63,07% so tổng lực lượng lao động Năm 2010 tỉnh đã giải quyết được 14.500 lao động có việc làm mới