1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

54 399 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 4,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số lao động còn lại chưa tham gia BHXH tập trung chủ yếu ở khu vực ngoài nhà nước như: Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tổ hợp tác, người buôn bán nhỏ… trốn tránh không tham gia BHXH c

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

MA TỪ THỊ MAI LY

GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG

NỢ ĐỌNG VÀ TRỐN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI

Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN, NĂM 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

MA TỪ THỊ MAI LY

GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG

NỢ ĐỌNG VÀ TRỐN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI

Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn kinh tế này do chính tôi nghiên cứu và thực

hiện Các thông tin, số liệu được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn chính

người đã tận tình hướng dẫn và cho tôi những ý kiến định hướng quý báu giúp tôi thực hiện Luận văn

Tôi gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong phòng Quản lý Đào tạo sau đại học, các thầy, cô giáo và toàn thể cán bộ Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã dìu dắt, truyền đạt những kiến thức quý báu để tôi áp dụng trong thực tiễn và quá trình hoàn thiện Luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám đốc BHXH tỉnh Thái Nguyên, BHXH huyện Đồng Hỷ đã tạo điều kiện cho tôi được đi học để nâng cao trình

độ, động viên khích lệ và cung cấp số liệu quý báu

Tôi xin gửi lời biết ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ và ủng hộ trong suốt quá trình học tập vừa qua

Học viên

Ma Từ Thị Mai Ly

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ viii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Những đóng góp mới của luận văn 4

5 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NỢ ĐỌNG VÀ TRỐN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI 5

1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về BHXH 5

5

9

1.2 Cơ sở lý luận về nợ đọng và trốn đóng BHXH 11

1.2.1 Thu BHXH 11

1.2.2 Vấn đề nợ đọng và trốn đóng BHXH 17

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ đọng và trốn đóng BHXH 19

1.4 Kinh nghiệm hạn chế tình trạng nợ đọng, trốn đóng BHXH của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 20

1.4.1 Kinh nghiệm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH của một số nước trên thế giới 20

1.4.2 Kinh nghiệm nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở Việt Nam 22

đóng BHXH 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài 27

2.2 27

2.2.1 Chọn địa điểm nghiên cứu 27

2.2.2 Thu thập số liệu 28

2.2.3 Phương pháp phân tích 31

2.2.4 Các chỉ tiêu phân tích 32

Chương 3 THỰC TRẠNG NỢ ĐỌNG VÀ TRỐN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ 33

3.1 Khái quát về tình hình tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đồng Hỷ 33

3.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Đồng Hỷ 33

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Đồng Hỷ 33

3.1.3 Đánh giá thuận lợi và khó khăn trong hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 34

3.2 Thực trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH 34

3.2.1 Tổ chức hệ thống BHXH huyện Đồng Hỷ 34

3.2.2 Thu BHXH ở BHXH huyện Đồng Hỷ 41

3.2.3 Thực trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 53

3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 66

3.3.1 Nhận thức, ý thức, tâm lý, thói quen của NLĐ và NSDLĐ 66

3.3.2 Tốc độ tăng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người 67

3.3.3 Qui mô DN 68

3.3.4 Công tác thanh tra, kiểm tra của các cấp chính quyền 69

3.4 Đánh giá chung về tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 72

3.4.1 Những mặt đạt đươc 72

3.4.2 Những mặt còn hạn chế 72

3.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế: 72

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 4 GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG TRỐN

ĐÓNG VÀ NỢ ĐỌNG BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ 73

4.1 Những quan điểm, định hướng, mục tiêu hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 73

4.1.1 Những quan điểm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 73

4.1.2 Những định hướng hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 73

4.1.3 Những mục tiêu hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 73

4.2 Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 74

4.2.1 Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền huyện Đồng Hỷ 74

75

82

, khen 83

4.3 Kiến nghị 83

83

4.3.2 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 84

84

84

4.3.5 Kiến nghị với cấp ủy, chính quyền địa phương 85

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 91

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp BHXH : Bảo hiểm xã hội BHYT : Bảo hiểm y tế

DN : Doanh nghiệp DNNN : Doanh nghiệp nhà nước HCSN : Hành chính sự nghiệp HTX : Hợp tác xã

KDCT : Kinh doanh cá thể NCL : Ngoài công lập NSNN : Ngân sách nhà nước SDLĐ : Sử dụng lao động

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng người và các địa điểm điều tra 30

Bảng 3.1: Số lao động và số đơn vị tham gia BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2011-2013 47

Bảng 3.2: Số đơn vị tham gia BHXH theo khối quản lý 2011-2013 48

Bảng 3.3: Số lao động tham gia BHXH theo loại hình DN, tổ chức 49

Bảng 3.4: Số tiền phải thu BHXH phân theo khối loại hình DN, tổ chức 49

Bảng 3.5: Số tiền thu BHXH của huyện Đồng Hỷ 2011-2013 50

Bảng 3.6: Kết quả thu BHXH theo loại hình DN, tổ chức 51

Bảng 3.7: Kết quả số nợ phải thu và nợ đọng BHXH năm 2011-2013 53

Bảng 3.8: Số tiền nợ đọng Bảo hiểm xã hội theo khối quản lý 54

Bảng 3.9: Các đơn vị nợ Bảo hiểm xã hội kéo dài ở huyện Đồng Hỷ 55

Bảng 3.10: Kết quả rà soát tình hình tham gia Bảo hiểm xã hội 56

Bảng 3.11: Số DN, tổ chức trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 57

Bảng 3.12: Lao động trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 58

Bảng 3.13: Số tiền trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 58

Bảng 3.14: Kết quả kiểm tra các DN 2011-2013 59

Bảng 3.15: Kết quả kiểm tra liên ngành tại các DN 2011-2013 59

Bảng 3.16: Kết quả kiểm tra chấp hành luật BHXH ở một số DN 59

Bảng 3.17: Bảng tổng hợp mức độ hiểu biết của CSDLĐ về pháp luật Bảo hiểm xã hội đối với 50 DN điều tra 67

Bảng 3.18: Bảng tổng hợp thu nhập bình quân của NLĐ tại 50 DN điều tra 67

Bảng 3.19: Tổng hợp điều tra số lao động tại 50 DN 68

Bảng 3.20: Bảng tổng hợp tình hình thanh tra, kiểm tra công tác thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại các DN 69

Bảng 3.21: Ma trận SWOT 70

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 3.1: Hệ thống BHXH Việt Nam 36

Sơ đồ 3.2: Hệ thống tổ chức bộ máy hoạt động của BHXH huyện Đồng Hỷ 39

Sơ đồ 3.3: Quy trình quản lý tiền thu BHXH 47

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1: Số thu BHXH của huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2011-2013 51

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến chính sách

bảo hiểm xã hội (BHXH) và xác định đây là một trong những chính sách xã hội cơ

bản và là trụ cột của an sinh xã hội (ASXH) nhằm đảm bảo thu nhập, đời sống cho

hàng triệu người lao động cùng các đối tượng hưởng các chế độ BHXH, Đảng ta đã

xác định: “Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước góp phần

bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã

hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc” (Bộ Chính trị, 1997,

Chỉ thị số 15 CT/TW) Nền kinh tế nước ta đang chuyển mạnh sang cơ chế thị

trường, các thành phần kinh tế đan xen lẫn nhau, các quan hệ lao động cũng trở nên

đa dạng và phức tạp hơn Do vậy, chính sách BHXH không ngừng được sửa đổi, bổ

sung cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Thực hiện Bộ Luật lao động trong đó có Chương XII về BHXH nhất là từ khi

Chính phủ ban hành Nghị định số 12/NĐ - CP ngày 23/01/1995 thì các đối tượng

tham gia đóng, hưởng BHXH đã được mở rộng đến tất của các thành phần kinh tế Vì

vậy, số lao động tham gia BHXH tăng hàng năm khoảng 7,5%; Số thu BHXH tăng

bình quân hàng năm 10%, quỹ BHXH độc lập với ngân sách Nhà nước Đây là bước

chuyển đổi căn bản về sự nghiệp BHXH từ cơ chế bao cấp chủ yếu dựa vào ngân

sách nhà nước sang cơ chế quỹ BHXH chủ yếu dựa trên nguồn thu do người lao

động, người chủ sử dụng lao động đóng góp… để chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội

Tính đến hết năm 2013, cả nước có hơn 11,5 triệu người tham gia BHXH bắt

buộc đạt trên 86% số đối tượng phải tham gia Số lao động còn lại chưa tham gia

BHXH tập trung chủ yếu ở khu vực ngoài nhà nước như: Các doanh nghiệp ngoài

quốc doanh, tổ hợp tác, người buôn bán nhỏ… trốn tránh không tham gia BHXH

cho người lao động hoặc còn cố tình tìm mọi cách trốn đóng BHXH mặt khác nợ

đọng BHXH thời gian dài, thậm chí có những đơn vị sử dụng lao động lạm dụng

quỹ BHXH, lạm dụng tiền đóng BHXH của người lao động để làm vốn sản xuất

kinh doanh… Do đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện chế độ, chính sách

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

BHXH cho người lao động nói chung và việc thực hiện công tác quản lý thu BHXH nói riêng, làm ảnh hưởng đến việc thu, nộp BHXH

Đồng Hỷ là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của Tỉnh Thái Nguyên Toàn huyện có 125.000 người, trong đó dân số trong độ tuổi lao động chiếm 50,8% Bảo hiểm xã hội huyện Đồng Hỷ là cơ quan chuyên môn do BHXH tỉnh Thái Nguyên trực tiếp quản lý về ngành dọc đóng trên địa bàn huyện Đồng Hỷ

và chịu sự quản lý hành chính của Đảng bộ, UBND huyện Đồng Hỷ Trên huyện

có 36 cơ quan hành chính sự nghiệp; 18 UBND xã thị trấn; 46 trường THPT, THCS và tiểu học; 77 doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hợp tác xã; 98 hộ cá thể với tổng số 5.096 người lao động tham gia BHXH, so với tỷ lệ người trong

độ tuổi lao động thì mới chỉ đạt 12,3%

Trong những năm gần đây, việc thu nộp BHXH đã và đang phát triển Tuy nhiên vẫn còn có một số chủ doanh nghiệp trên huyện còn chưa hiểu đúng, đủ về chế độ BHXH nên vẫn còn xảy ra tình trạng trốn đóng, chậm đóng, đóng chưa đủ dẫn đến việc người lao động không được tham gia BHXH hoặc được tham gia nhưng đơn vị sử dụng lao động không nộp tiền cho cơ quan BHXH huyện Đồng hỷ như: Công ty CP quản lý đầu tư và vệ sinh môi trường Đồng hỷ có 18 lao động nhưng tính đến tháng 12/2013 còn nợ tổng số 680.375.898đ tỷ lệ nợ 39 tháng (tức là mới đóng BHXH cho 18 lao động đến hết tháng 9/2010) do vậy các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản của người lao động không được giải quyết, dẫn đến việc công nhân đình công không đi làm vì không được hưởng chế độ

Huyện Đồng Hỷ là một huyện đang có sự chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việc hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các làng nghề đã và đang thu hút lực lượng lao động lớn Trong những năm qua, chính sách BHXH nói chung, công tác thu BHXH tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên nói riêng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ như: số đơn vị, số người, số tiền tham gia BHXH ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước, làm nguồn thu tăng lên rõ rệt, quyền lợi BHXH của người lao động (NLĐ) được đảm bảo Tuy nhiên, quá trình tổ chức thu BHXH ở huyện Đồng Hỷ vẫn còn một số hạn chế đang đặt ra vấn đề quan tâm cần giải quyết đó là: Tình trạng nợ đọng BHXH đang diễn ra hết sức nhức nhối ở tất cả các nhóm đối tượng tham gia BHXH Tình trạng trốn đóng BHXH ngày càng phổ biến, gia tăng trong toàn huyện

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Những vấn đề trên nếu không được quan tâm khắc phục sẽ tác động xấu đến toàn bộ

hoạt động của BHXH ở huyện Đồng Hỷ

Xuất phát từ đó em lựa chọn đề tài: “Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ

đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài nguyên

cứu để nhằm gióp phần giải quyết những vấn đề còn hạn chế nêu trên

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu thực trạng tình hình nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng

Hỷ; đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH

trong thời gian tới

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về nợ đọng và trốn đóng BHXH

- , đánh giá thực trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ

- Đề xuất giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở

huyện Đồng Hỷ trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

nợ đọng và trốn

đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên

, doanh nghiệp (trong đó tập trung ở các đơn vị thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh): Công ty

- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

- Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu các tài liệu, số liệu từ năm 2011 - 2013

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- : Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH tại các đơn vị, DN ở huyện Đồng Hỷ

4 Những đóng góp mới của luận văn

- Góp phần hệ thống hoá và phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về BHXH, thu BHXH, nhất là vấn đề nợ đọng, trốn đóng BHXH

- Kết quả nghiên cứu chỉ ra những mặt tích cực, những hạn chế cần phải hoàn thiện trong việc tổ chức quản lý thu BHXH và giải quyết nợ đọng, trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm

- Đề xuất những giải pháp có thể được vận dụng vào thực tế để thực hiện tốt công tác thu BHXH, hạn chế nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ Đồng thời giúp các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành chức năng làm căn cứ trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đồng Hỷ

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận luận văn gồm 4 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nợ đọng và trốn đóng BHXH

- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Thực trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ

- Chương 4: Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH

ở huyện Đồng Hỷ

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NỢ ĐỌNG

VÀ TRỐN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về BHXH

Theo khái niệm của BHXH Việt Nam: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với

người lao động thông qua việc huy động các nguồn đóng góp để trợ cấp cho họ,

nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu

nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, mất khả năng lao

động, tuổi già và chết Đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế cho các thân nhân trong gia

đình người lao động, để góp phần ổn định cuộc sống của bản thân người lao động và

gia đình, góp phần an toàn xã hội”

Như vậy có thể khái quát về BHXH như sau: BHXH là sự đảm bảo thay thế

hoặc bù đắp một phần cho người lao động, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm

suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết; gắn liền với quá trình

tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia BHXH đóng

góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm đảm bảo mức sống cơ bản cho

bản thân người lao động và những người ruột thịt (bố, mẹ, vợ/chồng, con) của người

lao động trực tiếp phải nuôi dưỡng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội

1.1.1.2 Bản chất của BHXH

Bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:

- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là

trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ

thuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó Kinh tế càng phát triển thì

BHXH càng đa dạng và hoàn thiện Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH

hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước

- Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động

và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH Bên tham

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

gia BHXH có thể chỉ là NLĐ hoặc cả NLĐ và NSDLĐ Bên BHXH (Bên nhận nhiệm

vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ Bên được BHXH là NLĐ và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết

- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: Tuổi già, thai sản v.v… Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động

- Phần thu nhập của NLĐ bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được

sự hỗ trợ từ phía Nhà nước

- Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của NLĐ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm Mục tiêu này đã được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá như sau:

+ Đền bù cho NLĐ những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ

Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt về cả vật chất và tinh thần của Nhà nước, của

xã hội nhằm đền đáp công lao đối với những người hay một bộ phận xã hội có nhiều cống hiến cho xã hội Chẳng hạn những người có công với nước, liệt sỹ và thân nhân liệt

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

sỹ, thương binh, bệnh binh v.v đều là những đối tượng được hưởng sự đãi ngộ của Nhà

nước, của xã hội, ưu đãi xã hội tuyệt nhiên không phải là sự bố thí, ban ơn, mà nó là một

chính sách xã hội có mục tiêu chính trị - kinh tế - xã hội, góp phần củng cố thể chế chính

trị của Nhà nước trước mắt và lâu dài, đảm bảo sự công bằng xã hội

Mặc dù có nhiều điểm khác nhau về đối tượng và phạm vi, song BHXH, cứu

trợ xã hội và ưu đãi xã hội đều là những chính sách xã hội không thể thiếu được

trong một quốc gia Những chính sách này luôn bổ sung cho nhau, hỗ trợ nhau và

tất cả đề góp phần đảm bảo an toàn xã hội

1.1.1.3 Vai trò của BHXH

* Vai trò của BHXH đối với NLĐ và gia đình của họ

Ở bất kỳ hoàn cảnh, thời điểm nào, rủi ro luôn luôn rình rập, đe doạ cuộc

sống của mỗi người gây gánh nặng cho cộng đồng và xã hội Rủi ro phát sinh hoàn

toàn ngẫu nhiên bất ngờ không lường trước được nhưng xét trên bình diện xã hội,

rủi ro là một tất yếu không thể tránh được Để phòng ngừa và hạn chế những tác

động tiêu cực của rủi ro đối với con người và xã hội là nhiệm vụ, mục tiêu hoạt

động của BHXH Chúng ta có thể liệt kê một số vai trò của BHXH đối với cá nhân

- Thứ nhất: BHXH có vai trò ổn định thu nhập cho NLĐ và gia đình họ Khi

tham gia BHXH, NLĐ phải trích một khoản phí nộp vào quỹ BHXH, khi gặp rủi ro,

bất hạnh như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình tăng lên

hoặc phải ngừng làm việc tạm thời Do vậy thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống

kinh tế lâm vào tình cảnh khó khăn, túng quẫn Nhờ có chính sách BHXH mà họ

được nhận một khoản tiền trợ cấp đã bù đắp lại phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm

để đảm bảo ổn định thu nhập, ổn định đời sống

- Thứ hai: Ngoài việc đảm bảo đời sống kinh tế, BHXH tạo được tâm lý an

tâm, tin tưởng Khi đã tham gia BHXH góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho

NLĐ đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân lao động

* Vai trò của BHXH đối với xã hội:

- Thứ nhất: Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, NSDLĐ và NLĐ, mối

quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẽ trách nhiệm, chia sẽ rủi ro chỉ có được trong

quan hệ của BHXH Tuy nhiên mối quan hệ mối quan hệ này thể hiện trên giác độ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

khác nhau NLĐ tham gia BHXH với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội NSDLĐ tham gia BHXH là

để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho NLĐ nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH

- Thứ hai: BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, BHXH tạo cho

những người bất hạnh có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của

xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của

chân-thiện-mỹ nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng” BHXH là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, cuộc sống công bằng, bình yên

- Thứ ba: BHXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tương

thân tương ái của cộng đồng: Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng tạo điều kiện cho một xã hội phát triển lành mạnh và bền vững

- Thứ tư: BHXH góp phần thực hiện bình đẳng xã hội: trên giác độ xã hội, BHXH là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho NLĐ Trên giác độ kinh tế, BHXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng, không phân biệt các tầng lớp trong xã hội

* Vai trò BHXH đối với nền kinh tế thị trường:

- Thứ nhất: Khi chuyển sang cơ chế thị trường, thì sự phân tầng giữa các lớp

trong xã hội trở nên rõ rệt Đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các ngành nghề khác nhau trong xã hội Nhưng rủi ro xảy ra trong cuộc sống không loại trừ một ai, nếu rơi vào những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì cuộc sống của họ trở nên bần cùng, túng quẫn BHXH đã góp phần ổn định đời sống cho họ và gia đình họ

- Thứ hai: Đối với các DN, khi những NLĐ không may gặp rủi ro thì đã

được chuyển giao cho cơ quan BHXH chi trả Nhờ vậy tình hình tài chính của các

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DN được ổn định hơn Hệ thống BHXH đã bảo đảm ổn định xã hội tạo tiền đề để

phát triển kinh tế thị trường

- Thứ ba: Khi tham gia BHXH cho NLĐ sẽ phát huy tinh thần trách nhiệm,

gắn bó tận tình của NLĐ với các DN làm cho mối quan hệ thị trường lao động được

trở nên lành mạnh hơn

- Thứ tư: Quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp được tích tụ tập trung

rất lớn, phần quỹ nhàn rỗi được đem đầu tư cho nền kinh tế tạo ra sự tăng trưởng,

phát triển kinh tế và tạo công ăn việc làm cho NLĐ

- Thứ năm: BHXH vừa tạo động lực cho các thành phần kinh tế phát triển

nhưng mặt khác tạo ra sự bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư thông qua hệ thống

phân phối lại thu nhập góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động

1.1.2.1 Chức năng BHXH

BHXH thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động tham gia

BHXH khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc

làm Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ tính chất và

cơ chế tổ chức của BHXH

BHXH tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người

tham gia BHXH Các bên tham gia BHXH đều phải tham gia đóng góp vào quỹ

BHXH Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số người tham gia BHXH khi bị giảm

hoặc bị mất thu nhập Theo quy luật “Số đông bù số ít” BHXH thực hiện phân phối

lại thu nhập theo chiều dọc và chiều ngang Thực hiện chức năng này BHXH góp

phần thực hiện công bằng xã hội

BHXH góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất, góp

phần nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội Người lao

động khi bị đau, thai sản, tai nạn lao động, về già đã có BHXH trợ cấp thay thế

nguồn thu nhập bị mất Do đó cuộc sống của họ và gia đình họ luôn được bảo đảm,

tạo cho người lao động luôn yên tâm làm việc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

BHXH gắn bó lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động, giữa người lao động với xã hội, giải quyết được mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ, đồng thời làm cho họ gắn bó và hiểu nhau hơn Đối với Nhà nước và xã hội, chi cho BHXH là cách thức chi ít nhất và có hiệu quả nhất, giải quyết được khó khăn về đời sống cho người lao động

1.1.2.2 Tính chất của BHXH

- Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội

Như ở phần trên đã trình bày, trong quá trình lao động sản xuất NLĐ có thể gặp nhiều biến cố, rủi ro khi đó NSDLĐ cũng rơi vào tình cảnh khó khăn không cảm như: sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, vấn đề tuyển dụng lao động và hợp đồng lao động luôn phải được đặt ra để thay thế v.v Sản xuất càng phát triển, những rủi ro đối với NLĐ và những khó khăn đối với NSDLĐ càng nhiều và trở nên phức tạp, dẫn đến mối quan hệ chủ - thợ ngày càng căng thẳng Để giải quyết vấn đề này, Nhà nước phải đứng ra can thiệp thông qua BHXH Và như vậy, BHXH

ra đời hoàn toàn mang tính khách quan trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi nước

- BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và không gian Tính chất này thể hiện rất rõ ở những nội dung cơ bản của BHXH Từ thời điểm hình thành và triển khai, đến mức đóng góp của các bên tham gia để hình thành quỹ BHXH Từ những rủi ro phát sinh ngẫu nhiên theo thời gian và không gian đến mức trợ cấp BHXH theo từng chế độ cho NLĐ v.v

- BHXH có tính kinh tế, tính xã hội, đồng thời còn có tính dịch vụ

Tính kinh tế thể hiện rõ nhất là ở chỗ, quỹ BHXH muốn được hình thành, bảo toàn và tăng trưởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phải được quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích Mức đóng góp của các bên phải được tính toán rất

cụ thể dựa trên xác suất phát sinh thiệt hại của tập hợp NLĐ tham gia BHXH Quỹ BHXH chủ yếu dùng để trợ cấp cho NLĐ theo các điều kiện của BHXH Thực chất, phần đóng góp của mỗi NLĐ là không đáng kể, nhưng quyền lợi nhận được là rất lớn khi gặp rủi ro Đối với NSDLĐ việc tham gia đóng góp vào quỹ BHXH là để bảo hiểm cho NLĐ mà mình sử dụng Xét dưới góc độ kinh tế, họ cũng có lợi vì không

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

phải bỏ ra một khoản tiền lớn để trang trải cho những NLĐ bị mất hoặc giảm khả

năng lao động Với Nhà nước BHXH góp phầm làm giảm gánh nặng cho ngân sách

đồng thời quỹ BHXH còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh tế quốc dân

BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội, vì vậy tính xã hội

của nó thể hiện rất rõ nét Xét về lâu dài, mọi NLĐ trong xã hội đều có quyền tham

gia BHXH Và ngược lại, BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho mọi NLĐ và

gia đình họ, kể cả khi họ còn đang trong độ tuổi lao động Tính xã hội của BHXH

luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó Khi nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển

thì tính dịch vụ và tính chất xã hội hoá của BHXH cũng ngày càng cao

1.2 Cơ sở lý luận về nợ đọng và trốn đóng BHXH

1.2.1 Thu BHXH

* Khái niệm và vai trò của thu BHXH

- Thu BHXH:

Là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối tượng tham gia

phải đóng BHXH theo mức phí quy định hoặc cho phép những đối tượng tự nguyện

tham gia được lựa chọn mức đóng phù hợp với thu nhập của mình Trên cơ sở đó

hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằm mục đích đảm bảo cho việc chi trả các chế

độ BHXH và hoạt động của tổ chức sự nghiệp BHXH

Thu BHXH thực chất là quá trình phân phối lại một phần thu nhập của các

đối tượng tham gia BHXH Phân phối và phân phối lại một phần của cải xã hội dưới

dạng giá trị nhằm giả quyết hài hoà các mặt lợi ích xã hội góp phần bảo đảm công

bằng xã hội

- Vai trò của thu BHXH:

Quỹ BHXH hiện đang được thực hiện nhằm đạt mục tiêu là một công quỹ

độc lập với ngân sách nhà nước, nhằm đảm bảo về tài chính để chi trả các chế độ

BHXH cho NLĐ Vì thế công tác thu BHXH ngày càng trở thành khâu quan trọng

và quyết định đến sự tồn tại và phát triển của việc thực hiện chính sách BHXH

+ Công tác thu BHXH là hoạt động thường xuyên và đa dạng của ngành

BHXH nhằm đảm bảo nguồn quỹ tài chính BHXH đạt được tập trung thống

nhất: Thu đóng góp BHXH là hoạt động của các cơ quan BHXH từ Trung ương đến

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

địa phương cùng với sự phối hợp của các ban ngành chức năng trên cơ sở quy định của pháp luật về thực hiện chính sách BHXH nhằm tạo ra nguồn tài chính tập trung

từ việc đóng góp của các bên tham gia BHXH Đồng thời tránh được tình trạng nợ đọng BHXH từ các cơ quan đơn vị, từ người tham gia BHXH Qua đó, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện và triển khai chính sách BHXH nói chung và giữa những người tham gia BHXH nói riêng

+ Để chính sách BHXH được diễn ra thuận lợi thì công tác thu BHXH có vai trò như một điều kiện cần và đủ trong quá trình tạo lập cùng thực hiện chính sách BHXH: Bởi đây là đầu vào, là nguồn hình thành cơ bản nhất trong quá trình tạo lập quỹ BHXH Đồng thời đây cũng là một khâu bắt buộc đối với người tham gia BHXH thực hiện nghĩa vụ của mình Do vậy công tác thu BHXH là một công việc đòi hỏi độ chính xác cao, thực hiện thường xuyên, liên tục, kéo dài trong nhiều năm

và có sự biến động về mức đóng và số lượng người tham gia

+ Công tác thu BHXH vừa đảm bảo cho quỹ BHXH được tập trung về một mối, vừa đóng vai trò như một công cụ thanh kiểm tra số lượng người tham gia BHXH biến đổi ở từng khối lao động, cơ quan, đơn vị ở từng địa phương hoặc trên phạm vi toàn quốc Bởi công tác thu BHXH cũng đòi hỏi phải được tổ chức tập trung thống nhất có sự ràng buộc chặt chẽ từ trên xuống dưới, đảm bảo an toàn tuyệt đối về tài chính, đảm bảo độ chính xác trong ghi chép kết quả đóng BHXH của từng cơ quan đơn vị cũng như của từng NLĐ Hơn nữa, hoạt động thu BHXH là hoạt động liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của cả một đời người và có tính kế thừa, số thu BHXH một phần dựa trên số lượng người tham BHXH để tạo lập lên quỹ BHXH, cho nên nghiệp vụ của công tác thu BHXH có một vai trò hết sức quan trọng và rất cần thiết trong thực hiện chính sách BHXH Bởi đây là khâu đầu tiên giúp cho chính sách BHXH thực hiện được các chức năng cũng như bản chất của mình + Hoạt động của công tác thu BHXH ở hiện tại ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chi và quá trình thực hiện chính sách BHXH trong tương lai Do BHXH cũng như các loại hình bảo hiểm khác đều dựa trên cơ sở nguyên tắc có đóng có hưởng BHXH đã đặt ra yêu cầu quy định đối với công tác thu nộp BHXH Nếu không thu được BHXH thì quỹ BHXH không có nguồn để chi trả cho các chế độ BHXH cho

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

NLĐ Vậy hoạt động thu BHXH ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chi và quá trình

thực hiện chính sách BHXH Do đó, thực hiện công tác thu BHXH đóng một vai trò

quyết định, then chốt trong quá trình đảm bảo ổn định cho cuộc sống của NLĐ cũng

như các đơn vị DN được hoạt động bình thường

- Đặc điểm của công tác thu BHXH:

Số đối tượng phải thu là rất lớn và gia tăng theo thời gian, nên công tác quản

lý thu BHXH là rất khó khăn và phức tạp; Công tác thu mang tính chất định kỳ, lặp

đi lặp lại, do đó khối lượng công việc là rất lớn đòi hỏi nguồn nhân lực và cơ sở vật

chất phục vụ cho công tác thu cũng phải tương ứng; Đối tượng thu là tiền nên dễ

xảy ra sai phạm, vi phạm đạo đức và lạm dụng quỹ vốn, tiền thu BHXH

Việc tham gia BHXH của NLĐ, NSDLĐ đảm bảo công khai, thực hiện công

bằng ở các thành phần kinh tế Các đơn vị tham gia BHXH đều phải công khai minh

bạch số lao động phải đóng BHXH và số tiền đóng theo đúng quy định, có sự kiểm

tra, thanh tra, kiểm soát của Nhà nước và giám sát của các cơ quan chức năng và

các tổ chức chính trị-xã hội Tính công bằng được thể hiện trong việc thu nộp

BHXH, không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, tức là đều có tỷ lệ phần

trăm thu BHXH như nhau

Thực hiện quản lý chặt chẽ tiền thu BHXH theo chế độ quản lý tài chính của

Nhà nước và sử dụng nguồn thu đúng mục đích Nguồn thu BHXH do được tồn tích

cộng đồng, nên thường có khối lượng tiền nhàn rỗi tương đối lớn chưa sử dụng cần

được đầu tư tăng trưởng, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng, vừa an toàn tiền thu BHXH

về mặt giá trị do các yếu tố trượt giá Vì vậy, thông qua cơ chế quản lý nghiêm ngặt

về thu BHXH để tránh lạm dụng, thất thoát; Đồng thời nghiên cứu các lĩnh vực đầu

tư để đảm bảo thu hồi được vốn và có lãi, tức là hiệu quả sử dụng nguồn thu

* Cơ sở thu BHXH

- Cơ sở pháp lý

Theo quy định của pháp luật hiện hành việc điều chỉnh các quan hệ về thu

nộp BHXH và công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH được ràng buộc thông

qua mối quan hệ 3 bên: NLĐ, đơn vị SDLĐ và cơ quan BHXH bao gồm:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Luật BHXH số 71/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006;

Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc; Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2007 hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện; Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm

2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về bảo hiểm thất nghiệp; Nghị định số 68/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2007 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân;

Nghị quyết số 49/NQ-CP ngày 09/12/2010 của Chính phủ về việc đơn giản hóa thủ tục thuộc thẩm quyền giải quyết của BHXH Việt Nam;

Quyết định 1111/QĐ BHXH ngày 25 tháng 10 năm 2011 về việc ban hành quy định quản lý thu BHXH, BHYT, quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT

- Đối tượng thu BHXH:

Tùy vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà thu BHXH có thể là tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động hoặc toàn bộ thu nhập của NLĐ Tuy nhiên, đối tượng thu BHXH phải mang tính ổn định để thuận tiện cho công tác quản lý BHXH Ở những nước có nền kinh tế phát triển, việc ứng dụng công nghệ thông tin phổ biến trong quản lý thì đối tượng thu BHXH là mức thu

nhập của NLĐ Theo luật ở Việt Nam đối tượng thu bao gồm:

+ Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên; Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; Công nhân quốc phòng, công nhân công an; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp

vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác

cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân; Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH bắt buộc Người tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

động không thuộc các đối tượng trên

NSDLĐ tham gia BHXH bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự

nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ

chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội

khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt

Nam; DN, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có

thuê mướn, sử dụng và trả công cho NLĐ

- Mục đích thu

+

tắc hạch toán cân đối thu-chi và được Nhà nước bảo hộ Quỹ BHXH được quản lý

và sử dụng theo chế độ tài chính của Nhà nước, bảo đảm chi ổn định, lâu dài các

chế độ BHXH, giảm dần sự cấp phát từ ngân sách Nhà nước

+ Tạo lập mối quan hệ giữa các bên tham gia BHXH

+ Thực hiện nguyên tắc “có đóng, có hưởng”, đảm bảo sự công bằng giữa

cống hiến và hưởng thụ Góp phần khắc phục các tiêu cực trong giải quyết chế độ

chính sách BHXH

- Phương thức thu

Có thể phân loại ra 3 phương thức:

+ Thu trực tiếp từ NLĐ: Được áp dụng ở những nước sử dụng hệ thống tài

khoản cá nhân Thông qua phương thức này NLĐ đăng ký với cơ quan BHXH,

hàng tháng nộp tiền vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH bằng hình thức

đăng ký chuyển khoản tự động, tài khoản sẽ tự động in ra một bảng thông báo tới

NLĐ về số tiền đã đóng, số tiền nợ Nếu có vướng mắc trong quá trình chuyển

khoản, tài khoản sẽ tự động gửi thông báo tới cơ quan BHXH, ngay lập tức sẽ có bộ

phận kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện phát hiện những sai lệch hệ thống

+ Thu gián tiếp thông qua hệ thống thuế: Được áp dụng ở những nước có đánh

thuế thu nhập và có chương trình BHXH phổ cập Việc thu BHXH qua cơ quan thuế sẽ

đảm bảo hiệu quả của công tác thu, góp phần làm giảm tình trạng trốn đóng BHXH

Đây là phương thức thu tiết kiệm chi phí, song nhận thức của người đóng BHXH sẽ bị

sai lệch, coi đóng góp BHXH là một loại thuế

+ Thu gián tiếp qua đại lý (qua người SDLĐ):

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Người SDLĐ sẽ thu BHXH từ NLĐ sau đó chuyển toàn bộ đóng góp BHXH của cả NLĐ và người SDLĐ cho cơ quan BHXH Đây là phương thức phổ biến nhất, được áp dụng với các trường hợp có đối tượng tham gia BHXH là người làm công ăn lương cụ thể là

Hàng tháng, chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng, người SDLĐ đóng BHXH trên quỹ tiền lương, tiền công của những NLĐ tham gia BHXH, đồng thời trích từ tiền lương, tiền công tháng của từng NLĐ theo mức quy định để đóng cùng vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước Hàng tháng, người SDLĐ được giữ lại một tỷ lệ % (hiện nay 2%) số phải nộp

để chi trả kịp thời 2 chế độ ốm đau, thai sản cho NLĐ Hàng quý thực hiện quyết toán, trường hợp tổng số tiền quyết toán nhỏ hơn số tiền giữ lại thì người SDLĐ phải nộp số chênh lệch này vào tháng đầu quý sau (Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, 2007, Quyết định 902)

-Các chủ thể liên quan đến thu BHXH

+ NLĐ khi tham gia BHXH có quyền và trách nhiệm: Được cấp sổ BHXH, nhận sổ khi không còn làm việc, nhận lương hưu và trợ cấp BHXH, hưởng thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) khi ốm đau, nằm viện, phẫu thuật; ủy quyền cho người khác nhận lương hưu, trợ cấp, khiếu nại tố cáo về BHXH và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật Có trách nhiệm kê khai trung thực, đúng sự thật thông tin theo mẫu của cơ quan BHXH và chịu hoàn toàn trách nhiệm về sự kê khai này + Người SDLĐ có quyền và trách nhiệm: Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng quy định của pháp luật về BHXH; khiếu nại, tố cáo về BHXH Có trách nhiệm: Đóng BHXH cho NLĐ hàng tháng; lập hồ sơ để NLĐ được cấp sổ, thẻ BHYT, đóng và hưởng BHXH; bảo quản sổ BHXH, cấp thẻ BHYT cho NLĐ trong thời gian NLĐ làm việc và trả sổ, thu hồi thẻ BHYT của NLĐ khi NLĐ không làm việc; hàng tháng đối chiếu quỹ lương với cơ quan BHXH để làm căn cứ trích nộp BHXH + Cơ quan BHXH có quyền tổ chức quản lý nhân sự, tài chính và tài sản như mọi cơ quan Nhà nước Khiếu nại và kiến nghị với Nhà nước các vấn đề về BHXH; kiểm tra việc đóng BHXH và chi trả các chế độ BHXH; kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về BHXH cũng như về chế độ, chính sách BHXH Có trách nhiệm: Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách pháp luật

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

của Nhà nước về BHXH; hướng dẫn thủ tục thực hiện chế độ BHXH đối với NLĐ,

người SDLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH; thực hiện thu BHXH, quản lý và sử

dụng quỹ BHXH; tiếp nhận hồ sơ và giải quyết chế độ BHXH; trả lương hưu và trợ

cấp BHXH cho các đối tượng được hưởng…

+ Cơ quan quản lý khác: Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về

BHXH; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ

thực hiện quản lý Nhà nước về BHXH; Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi

nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về BHXH; Uỷ ban

nhân dân các cấp thực hiện quản lý Nhà nước về BHXH trong phạm vi địa phương

(Quốc hội 2006, Luật BHXH)

1.2.2 Vấn đề nợ đọng và trốn đóng BHXH

* Khái niệm nợ đọng và trốn đóng BHXH

- Nợ đọng BHXH là việc các đơn vị SDLĐ, NLĐ chậm đóng BHXH cho

NLĐ so với thời gian quy định của pháp luật BHXH

- Trốn đóng BHXH là việc các đơn vị SDLĐ, NLĐ không tham gia BHXH

theo các quy định của pháp luật về BHXH bắt buộc (không đóng, đóng không đúng

mức quy định, đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc)

* Các hình thức nợ đọng BHXH

- Phân loại theo thời gian: Nợ đọng BHXH ngắn hạn (nợ gối đầu) và nợ đọng

BHXH dài hạn Nợ đọng BHXH ngắn hạn là chậm đóng BHXH dưới 3 tháng so với

thời gian quy định; Nợ đọng BHXH dài hạn là chậm đóng BHXH từ 3 tháng trở lên

so với thời gian quy định

Việc phân loại này giúp cho cơ quan BHXH xác định rõ những đơn vị SDLĐ

nợ dài hạn cần phải tập trung đôn đốc thu, những đơn vị SDLĐ thuộc diện khó thu

hồi để có thông tin phản hồi với cơ quan quản lý Nhà nước về BHXH và có biện

pháp xử lý để hạn chế số lượng đơn vị nợ đọng dây dưa, khó thu hồi

- Phân loại theo quy mô: đơn vị nợ BHXH với số tiền ít (dưới 100 triệu

đồng) và nợ BHXH với số tiền lớn (trên 100 triệu đồng)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Việc phân loại này giúp cho cơ quan BHXH xác định được quy mô nợ của từng đơn vị, từ đó đưa ra các biện pháp xử lý khác nhau Trước hết xử lý các đơn vị nợ BHXH với số tiền lớn, bởi tại những đơn vị đó quyền lợi của NLĐ bị ảnh hưởng lớn và thu hồi được nợ của những đơn vị này sẽ góp phần tăng thu nhiều hơn cho quỹ BHXH

ít người và không truy đóng cho thời gian trước đó

- Đóng không đúng mức quy định: Báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch thông tin, số liệu tiền đóng và quỹ BHXH Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện BHXH, cố tình không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH Kê khai giảm

số lao động, mức lương thấp hơn trong hợp đồng lao động để giảm chi phí BHXH phải nộp dù tiền công phải trả cao hơn rất nhiều Xây dựng phương án trả lương không rõ ràng, thang bảng lương không phù hợp

+ Cố tình kéo dài thời gian thử việc, hợp đồng lao động dưới ba tháng để không đóng BHXH, thỏa thuận hợp đồng lao động không thành văn

+ Chấm dứt hợp đồng với NLĐ đã làm việc lâu năm, có mức tiền lương cao, thay thế bằng lực lượng lao động mới để giảm chi phí tiền lương, trốn đóng BHXH

- Sử dụng tiền đóng và quỹ BHXH trái quy định của pháp luật: Hiện nay, khi Nhà nước giao quyền cho người SDLĐ chủ động trích tỷ lệ % tiền lương tháng của NLĐ để đóng BHXH, mặc dù NSDLĐ đã chiết trừ hết phần đóng góp BHXH của NLĐ nhưng người SDLĐ vẫn chưa chịu chuyển tiền đóng góp này cùng với phần đóng góp thuộc trách nhiệm của họ cho tổ chức BHXH Như vậy có nghĩa là NSDLĐ lừa gạt, chiếm dụng số tiền đóng BHXH của NLĐ Và mặc dù NLĐ đã tuân thủ thực hiện nghĩa vụ của mình song quyền hưởng BHXH của họ có thể bị

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tước đoạt do hành vi vi phạm của NSDLĐ Đây được coi là các hình thức phổ biến

trên thị trường hiện nay, việc trốn đóng BHXH xuất phát từ lợi ích của chủ SDLĐ,

sự hiểu biết của NLĐ, công tác quản lý của cơ quan BHXH Vấn đề này đã làm thất

thoát vốn không nhỏ của Nhà nước, tính công bằng của hệ thống ASXH ở mỗi quốc

gia không được đảm bảo

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ đọng và trốn đóng BHXH

- Nhận thức của NLĐ và NSDLĐ

Người lao động trong các Doanh nghiệp nhận thức về quyền lợi khi tham gia

BHXH chưa đầy đủ, thậm chí nhiều người lao động còn chưa được phổ biến về chế

độ BHXH, nhiều người không hiểu tham gia BHXH là để làm gì, được cái gì, nhiều

người còn nhầm lẫn tưởng BHXH với các loại hình doanh nghiệp kinh doanh bảo

hiểm khác Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác thu nộp BHXH ở

huyện Nhiều lao động có hiểu biết về BHXH nhưng vì thu nhập thấp và không phải

đóng BHXH (cá nhân hiện phải đóng 8%) nên không có y thức tham gia và không

đòi hỏi chủ SDLĐ về quyền lợi của mình mà ngược lại thông đồng với chủ sử dụng

lao động để trốn đóng BHXH

- Tốc độ tăng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người

Thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh đã giúp đời sống của NLĐ dần

được cải thiện; Việc sản xuất, kinh doanh của các DN được thuận lợi, vì thế các chủ

DN có ý thức hơn với trách nhiệm tham gia BHXH cho NLĐ

- Qui mô DN

Qui mô của DN càng lớn thì việc thực hiện các quy định của pháp luật về

BHXH càng được chặt chẽ

- Công tác thanh tra, kiểm tra của các cấp chính quyền

Công tác thanh tra, kiểm tra cũng là một biện pháp rất quan trọng trong việc

ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp lật BHXH

Cùng với việc phát hiện và xử lý các vi phạm, thanh tra, kiểm tra còn đóng vai

trò như là một biện pháp phòng ngừa hữu hiệu các vi phạm pháp luật

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Tuy nhiên, Do lực lượng thanh tra của các cơ quan chức năng còn mỏng, vì vậy số vụ vi phạm do cơ quan BHXH báo cáo thì nhiều nhưng được xử lý thì rất ít Mặt khác, sự phối hợp cũng như cơ chế xử lý các vi phạm còn nhiều bất cập về thủ tục cũng như mức độ xử phạt

Có thể nói công tác thanh kiểm tra, xử lý vi phạm rất quan trọng, có liên quan đến toàn bộ quyền lợi của người tham gia BHXH Đồng thời, còn có ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Đảng bộ, chính quyền địa phương

* Nguyên nhân của nợ đọng và trốn đóng BHXH

Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng nợ và chậm đóng BHXH

- Khách quan là do tình hình kinh tế - xã hội gặp khó khăn, khiến nhiều DN không có khả năng tài chính để đóng đủ, đúng hạn tiền BHXH

- Chủ quan là do nhận thức chưa đầy đủ về trách nhiệm đóng BHXH của các

DN Không ít DN cố tình không đóng BHXH hoặc chỉ đóng BHXH cho một số người trong bộ khung quản lý của đơn vị để giảm chi phí, thu lợi nhuận nhiều hơn Cán bộ chuyên trách thu khi thực hiện nhiệm vụ của mình đi kiểm tra đôn đốc việc thu nộp vẫn chưa được kiên quyết trong các trường hợp NSDLĐ khất nộp, chậm nộp Nhiều cán bộ còn e dè, nể nang , né tránh sự va chạm, đốc thúc thu nộp BHXH Và trên hết là do cơ chế, chính sách pháp luật, đặc biệt là khâu tổ chức thực thi chưa đủ chặt chẽ và nghiêm khắc để xử lý các trường hợp vi phạm Chính vì yếu

tố này mà không ít DN đã cố tình chây ỳ, chậm đóng BHXH nhằm chiếm dụng tiền, phục vụ đầu tư, kinh doanh khác…

Pháp luật và thực thi pháp luật chưa đủ nghiêm khắc góp một phần khá lớn trong thực trạng chây ỳ, nợ đọng BHXH hiện nay nhưng bên cạnh đó có một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là chế tài xử lý DN vi phạm chưa đủ sức răn đe để tình trạng người làm - người chịu

1.4 Kinh nghiệm hạn chế tình trạng nợ đọng, trốn đóng BHXH của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam

nước trên thế giới

- Kinh nghiệm của CHLB Đức

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Cộng hòa Liên bang Đức là nước đầu tiên thiết lập BHXH bắt buộc Các chế

độ BHXH bao gồm: ốm đau, thai sản; tuổi già và tàn tật; tai nạn lao động; thất

nghiệp; bảo hiểm phụ thuộc Hiện tại NLĐ và người SDLĐ có tỷ lệ đóng BHXH

bắt buộc là 19,9%; ngoài ra còn khoản trợ cấp của Liên bang Các khoản đóng

BHXH là 180,5 tỷ EUR, hỗ trợ từ ngân hàng liên bang là 61,3 tỷ EUR Để công tác

quản lý thu BHXH được hiệu quả, CHLB Đức đã xây dựng hệ thống giám sát chủ

SDLĐ Hằng năm kiểm tra tính tuân thủ khoảng 800 nghìn vụ việc trong đó: 50%

do các chuyên gia được đào tạo chuyên biệt của cơ quan Bảo hiểm hưu trí Liên

bang Đức (DRV Bund) tiến hành, 50% do 14 cơ quan khu vực của DRV Bund tiến

hành Đức đã xây dựng 20 khu vực giám sát ở tất cả Liên bang với số lượng nhân

viên rất lớn 1.732 người, công tác quản trị hành chính được đặt tại 20 khu vực, số

giám sát viên là 309 người Ngoài nhiệm vụ giám sát chủ SDLĐ, công tác quản trị

hành chính bao gồm: quan hệ cộng đồng, đưa ra các con số thống kê, các báo cáo

kiểm soát… Với các trường hợp nợ quá hạn chia làm 2 loại là: Trường hợp không

cố ý sẽ yêu cầu nộp các khoản nợ quá hạn, trường hợp cố ý sẽ bao gồm nộp các

khoản nợ quá hạn + 1% lãi suất mỗi tháng Các trường hợp gian lận, giả mạo hồ sơ,

lao động bất hợp pháp và những trường hợp chủ ý phạm tội sẽ chuyển hồ sơ lên cơ

quan công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự

Việc khai, nộp thuế và trích nộp BHXH rất chặt chẽ, hầu như không thể có vấn

đề về trốn nộp BHXH Thực tế nếu NLĐ có kê khai sai, kiểm tra từ hệ thống Ngân

hàng, Chính phủ cũng buộc phải nộp và có thể còn bị phạt, mức phạt rất cao Do đó,

hầu như cả NLĐ và chủ các DN không ai nghĩ đến việc trốn tránh trích nộp BHXH

Việc tổ chức quản lý BHXH ở Đức phụ thuộc vào từng loại hình chế độ

BHXH và có rất nhiều cơ quan tham gia trong lĩnh vực này Họ đều hoạt động và

được điều chỉnh theo Luật hành chính công Do có sự tham gia của nhiều cơ quan

khác nhau nên tính chất cạnh tranh trong lĩnh vực BHXH ở Đức diễn ra mạnh mẽ

- Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Tại Hàn Quốc, cơ quan quản lý về BHXH là tổ chức xã hội thuộc Bộ Lao

động cung cấp các dịch vụ quản lý liên quan tới lao động và việc làm thuộc diện

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

BHXH và phúc lợi xã hội Về nguồn nhân lực có tồng số là 5051 nhân viên/01 trụ

sở chính, 06 trụ sở khu vực, 49 văn phòng chi nhánh 06 ủy ban và 09 bệnh viện đền

bù cho NLĐ Khách hàng của họ là NLĐ, người SDLĐ, người thất nghiệp… chiếm 62,3% dân số tham gia hoạt động kinh tế

Về quản lý nợ BHXH cơ quan BHXH Hàn Quốc thực hiện như sau:

Về phía cơ quan BHXH: Khuyến khích đóng các khoản nợ đọng BHXH trong năm hiện tại thông qua các hình thức gọi điện, gặp trực tiếp sau đó gửi thư thúc giục các đơn vị nợ BHXH Thời gian được tính từ ngày công văn nhắc nhở tới các đơn vị SDLĐ đến hạn cuối cùng đóng BHXH đã được ghi trong công văn Việc thu các khoản nợ này trước tiên tập trung vào các doanh nghiệp có số tiền nợ nhiều

và thời gian kéo dài Trong các trường hợp quá thời hạn quy định, trụ sở chính của

cơ quan BHXH sẽ lên danh sách các đơn vị này, tiến hành truy vấn tài sản trên toàn quốc như bất động sản, phương tiện đi lại, nhà xưởng máy móc…với sự trợ giúp của các cơ quan liên quan như Bộ Đất đai, Giao thông

Bên cạnh đó, cơ quan BHXH tại trụ sở chính và văn phòng chi nhánh cũng khuyến khích các đơn vị SDLĐ, NLĐ đóng BHXH, trao đổi thông tin giữa các cán

bộ chuyên trách thông qua các bài thuyết trình thực tiễn, đồng thời cung cấp các biện pháp tốt hơn phục vụ cho đơn vị SDLĐ chuyển tiền tự động, thuận tiện

Mở các khóa đào tạo nhằm nâng cao nghiệp vụ của cán bộ phụ trách nợ BHXH từ đó cho phép các học viên xử lý vụ việc hiệu quả Với các phương pháp như trên số nợ của Hàn Quốc đã giảm liên tiếp trong 4 năm từ 686 triệu USD (năm 2006) xuống 498 triệu USD (năm 2009)

1.4.2 Kinh nghiệm nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở Việt Nam

- Kinh nghiệm của thành phố Hải Phòng

Hải Phòng là một TP cảng biến lớn, là đầu mối giao thông trong nước và quốc tế với nhiều DN kinh doanh trong các ngành công nghiệp và dịch vụ có mối quan hệ đối tác không chỉ trong nước mà còn mở rộng trên phạm vi quốc tế Việc quản lý công tác thu BHXH trên địa bàn vì thế gặp nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn bởi các DN tuy lớn nhưng lại có mối quan hệ kinh tế quốc tế rất

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

chặt chẽ, do đó quá trình sản xuất kinh doanh phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển

của đối tác nước ngoài Trong những năm qua, nhất là trong những năm gần đây

tình trạng các DN nợ BHXH, BHYT ngày một tăng cao Theo ông Trương văn Quý

- Giám đốc BHXH TP, nguyên nhân chủ yếu nợ đọng là do ảnh hưởng của việc suy

thoái kinh tế toàn cầu, tình hình lạm phát, lãi xuất tăng cao dẫn đến nhiều đơn vị

đình đốn, thậm chí ngừng hoạt động khi không tiêu thụ được sản phẩm, không vay

được tiền vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh; bên cạnh đó, vẫn còn những đơn

vị có điều kiện thuận lợi trong sản xuất, kinh doanh nhưng lại cố tình trốn đóng, đóng

không đầy đủ, nợ đọng lâu dài làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của NLĐ về chế

độ BHXH, trong thời gian vừa qua Vì vậy, để hoàn thành công tác thu BHXH mà

BHXH Việt Nam giao, cán bộ phòng thu nói riêng và tập thể cán bộ viên chức BHXH

TP Hải Phòng nói chung phải rất nỗ lực, cố gắng

Kết quả năm 2011, số DN nợ đọng BHXH kéo dài trên địa bàn TP Hải

Phòng đã giảm từ 70 DN xuống còn 46 DN (giảm 34,3%) và số tiền nợ đọng giảm

từ từ 81 tỷ đồng xuống còn 41,6 tỷ đồng (giảm 48,7%)

Bí quyết thành công của TP Hải Phòng là sự thấu hiểu và thông cảm giữa

“chủ nợ” và “con nợ” Hải Phòng luôn lắng nghe DN, tìm hiểu những khó khăn,

vướng mắc của họ với thái độ tôn trọng, chia sẻ Lãnh đạo ngành BHXH TP đã

trực tiếp đến nhiều DN để tiếp xúc với đơn vị, vừa tìm hiểu nguyên nhân, vừa tìm

cách tháo gỡ với DN với mục tiêu trước hết là đảm bảo quyền lợi cho NLĐ

Để giải quyết vấn đề này, BHXH TP Hải Phòng đã chủ động đề nghị với chủ DN

việc đóng tiền nợ BHXH chia làm nhiều đợt, tùy vào tình hình ngân sách của DN cùng

với bản cam kết sẽ đóng nốt các khoản còn lại trong thời gian nhất định Việc đóng một

phần tiền nợ đọng này được phía cơ quan BHXH ghi nhận và làm thủ tục giải quyết các

chế độ tồn đọng của NLĐ do DN thiếu nợ trước đây Việc làm này đã được hầu hết các

DN tích cực hưởng ứng Nhiều DN ngay lập tức đã trích một phần ngân sách để đóng

BHXH, thậm chí còn nhiều DN sẵn sàng đi vay ngân hàng để nộp nợ BHXH Bên cạnh

đó đưa việc thu nộp vào đánh giá thi đua, khen thưởng dịp cuối năm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Ngoài việc phối hợp với các ngành trên địa bàn TP đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động thì công tác kiểm tra, thanh tra, xử phạt, đưa việc thu nộp vào tiêu chí đánh giá thi đua, khen thưởng dịp cuối năm và công khai các đơn vị sử dụng lao động vi phạm pháp luật BHXH trên các phương tiện thông tin đại chúng được triệt để thực hiện Thì BHXH TP trong thời gian tới sẽ khởi kiện, đưa các đơn vị nợ đọng BHXH ra TAND các cấp Những biện pháp đối với các DN cố tình chây ì sẽ được lập danh sách để gửi lên UBND TP Đồng thời đưa những đơn vị nợ đọng chây ì lên truyền hình để mọi người dân được biết thông tin

Thoát khỏi tâm lý ngại ngần khi tiếp xúc với các đơn vị nợ đọng, thấu hiểu nỗi khó khăn của DN và quan trọng hơn là để giải quyết chế độ hợp pháp cho NLĐ, cùng với thái độ kiên quyết của lãnh đạo BHXH TP Hải Phòng đã giúp cho việc thu nợ đọng BHXH ở Hải Phòng đạt những kết quả đáng khích lệ (http://www.bhxhhaiphong.vn)

- Kinh nghiệm của tỉnh thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, diện tích 2.095 km2 với dân số hơn 7 triệu người Nguồn nhân lực hiện tại khoảng 4,8 triệu; lao động đang có việc làm khoảng 3,5 triệu người Các thành phần kinh tế phát triển mạnh mẽ, đa dạng về loại hình sản xuất và hình thức sở hữu Do

đó, đã thu hút lực lượng lao động khác rất đông Theo số liệu thống kê, hiện có khoảng hơn 40.000 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp trong nước chiếm 90%; trên 35.000 cơ sở kinh doanh cá thể Điều đó đã tạo ra tiềm năng và những điều kiện thuận lợi để mở rộng quy mô thực hiện chính sách BHXH, BHYT trên địa bàn Tuy nhiên, vấn đề vi phạm BHXH đã và đang trở thành mối quan tâm, bức xúc của

dư luận xã hội nếu không có biện pháp kiên quyết, vi phạm này sẽ cản trở lớn cho việc thực hiện chính sách BHXH Tính đến cuối năm 2010, thành phố Hồ Chí Minh

có 19.139 DN, đơn vị nợ đọng BHXH của trên 687.100 NLĐ Chỉ tính riêng số nợ trên 12 tháng đã có tới 205 DN nợ tổng cộng 75 tỷ đồng, trong đó có DN nợ trên 10

tỷ đồng Tổng nợ BHXH bắt buộc đến cuối năm 2010 tại thành phố Hồ Chí Minh

là gần 374 tỷ đồng Hiịen nay cơ quan BHXH thành phố Hồ Chí Minh không xác định được chính xác số lượng đơn vị, DN có SDLĐ cũng như số lượng NLĐ thuộc

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

diện phải tham gia BHXH bắt buộc

Để góp phần giải quyết thực trạng này, bên cạnh việc tập trung nâng cao chất

lượng công tác kiểm tra chấn chỉnh, BHXH Thành phố Hồ Chí Minh đã tập trung

thực hiện một số biện pháp chủ yếu như sau:

- BHXH Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng quy chế phối hợp:

+ Phối hợp với Sở LĐ - TB&XH xây dựng chương trình hành động liên tịch,

thường xuyên trao đổi các thông tin về tình hình thực hiện BHXH của các doanh

nghiệp Sau khi cơ quan BHXH Thành phố kiểm tra, nếu các đơn vị vẫn không tích

cực khắc phục vi phạm thì sẽ lập danh sách chuyển Sở LĐ - TB&XH để xem xét xử

phạt theo quy định Căn cứ vào danh sách này, Đoàn kiểm tra liên ngành sẽ tiến

hành kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật Thông qua các quan hệ phối hợp,

đã kịp thời xử lý các vi phạm pháp luật lao động phát sinh, chủ yếu là vi phạm về

BHXH, để giảm thiểu các vi phạm ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ

+ Xây dựng mối quan hệ với Tòa án nhân dân các cấp để xử lý các vụ kiện

của cơ quan BHXH đòi nợ các đơn vị SDLĐ Nhờ đó, đã kịp thời tháo gỡ vướng

mắc phát sinh trong quá trình tố tụng, đảm bảo thụ lý đúng trình tự và thời gian, xét

xử theo quy định của Pháp luật

+ Phối hợp với Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo

quá trình thi hành án được kịp thời Tập huấn kiến thức về Luật thi hành án cho

BHXH quận, huyện nhằm trang bị và hướng dẫn những kiến thức cần thiết, những

công việc phải làm sau khi có quyết định, bản án của tòa án Các mối quan hệ này

góp phần tạo ra bước chuyển biến lớn trong công tác xử lý vi phạm nói chung

- Hợp tác tốt với báo chí: Tại Thành phố Hồ Chí Minh, sự phê phán của công

luận thông qua báo chí có tác dụng tích cực Đa số người dân có thói quen đọc báo

và có thái độ phê phán mạnh mẽ các hành vi xâm phạm lợi ích chính đáng của cộng

đồng Hợp tác tốt với báo chí là một biện pháp có hiệu quả để các DN thực hiện

trách nhiệm nộp BHXH BHXH Thành phố đã thường xuyên công bố thông tin về

vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng Các báo cũng có nhiều bài điều

tra, phản ánh các doanh nghiệp né tránh nhiệm vụ nộp BHXH

- Khởi kiện tại tòa án: Với biện pháp xử lý nêu trên, vẫn còn đơn vị chiếm

dụng hoặc nợ đọng BHXH xấu, kéo dài Do vậy, năm 2011, BHXH Thành phố đã

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tiến hành khởi kiện ra tòa 60 doanh nghiệp cố tình vi phạm nghiêm trọng (nợ BHXH nhiều, kéo dài trên 6 tháng) Từ kinh nghiệm của việc khởi kiện các đơn vị

sử dụng lao động vi phạm pháp luật BHXH năm 2011 và trước tình hình vi phạm chế độ thu nộp BHXH của một số DN ngày một diễn biến phức tạp nhưng chưa có biện pháp khắc phục Tác động tích cực của biện pháp này là ngăn chặn có hiệu quả

ý định không nộp BHXH của các DN còn lại Có thể kết luận biện pháp khởi kiện góp phần quan trọng đến việc hạn chế việc chiếm dụng quỹ BHXH, giữ vững sự ổn định chính trị trên địa bàn Thành phố, làm cơ sở cho việc hoàn thành vượt mức kế hoạch thu năm 2009, đồng thời kéo giảm tỷ lệ nợ đọng xuống dưới 1 tháng Mặt khác, thông qua khởi kiện đã góp phần vào việc xây dựng và hình thành các chủ trương chỉ đạo về việc xử lý vi phạm của các đơn vị SDLĐ của BHXH Việt Nam, tham mưu với UBND Thành phố đề xuất các biện pháp giải quyết, góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự trên địa bàn Thành phố và đề xuất với Nhà nước những nội dung cần xem xét điều chỉnh, sửa đổi cụ thể các văn bản pháp luật về chính sách ASXH nhằm bảo vệ tốt hơn về quyền lợi của NLĐ Tuy vậy, việc khởi kiện các DN trốn, nợ đóng BHXH kéo dài chỉ là biện pháp giải quyết cuối cùng, tốn nhiều thời gian, công sức và tuân thủ một quy trình phức tạp BHXH thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị, các hành vi vi phạm phải được xử lý nghiêm khắc ngay từ đầu, tăng nặng mức xử phạt theo tỷ lệ % luỹ tiến số tiền phạt theo số nợ quỹ BHXH mà không xử phạt theo các mức cố định như hiện nay

số nước trên thế giới như CHLB Đức, Hàn Quốc; của một số

: Một là: Tranh thủ sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương trong công tác BHXH;

Hai là: Thường xuyên tổ chức tuyên truyền các chế độ chích sách pháp luật

về BHXH, BHYT trên địa bàn dưới nhiều hình thức;

Ba là: Thực hiện việc thanh tra, kiểm tra việc thực hiện Luật BHXH tại các đơn vị có sử dụng lao động;

Bốn là: Việc cải cách thủ tục hành chính, đổi mới tác phong phục vụ

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Năm là: Đặc biệt quan tâm Phát huy nhân tố con người, nhất là cán bộ làm

công tác thu Những cán bộ này phải được đào tạo một cách bài bản, chuyên nghiệp,

bám sát đối tượng, đơn vị thu đặc biệt là các đơn vị nợ đọng, bằng các biện pháp cụ

thể gây áp lực mạnh đối với đơn vị nợ đọng, từ đó nâng cao được chất lượng, hiệu quả

công việc, xử lý công việc một cách linh hoạt

Sáu là: Thực hiện thu-chi minh bạch các khoản đóng góp BHXH thông qua

hệ thống ngân hàng và kho bạc nhà nước

Bẩy là: Áp dụng các chế tài mạnh và xử lý kiên quyết đối với các đơn vị, DN cố

tình nợ đọng, trốn đóng BHXH, như truy vấn tài sản của DN trên toàn quốc, phạt tiền rất

nặng hoặc chuyển hồ sơ sang truy tố theo luật hình sự đối với đơn vị cố tình vi phạm luật

Chương 2

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài

- Quy trình quản lý thu, nợ đọng và trốn đóng BHXH như thế nào để mang

lại hiệu quả trong công tác thu BHXH?

2.2.1 Chọn địa điểm nghiên cứu

Đồng Hỷ là huyện miền núi nằm phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên, huyện có

nhiều khu công nghiệp với hơn 200 doanh nghiệp ngoài quốc doanh Lực lượng lao

động tập trung trong các doanh nghiệp này rất lớn; độ rủi ro trong công việc cũng

như các bệnh nghề nghiệp mắc phải là rất phổ biến Tuy nhiên mới có khoảng 55 %

doanh nghiệp trên huyện đăng ký tham gia BHXH

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và những đặc điểm khác của từng xã trên huyện để nghiên cứu đại diện cho công tác thu bảo hiểm xã hội ở huyện Đồng Hỷ chọn 3 xã, thị trấn trong huyện làm điểm nghiên cứu:

- Xã Tân Long ở vùng Bắc

- Xã Quang Sơn ở vùng Giữa

- Thị trấn Chùa Hang ở vùng Nam

Những xã, thị trấn này có thể đại diện cho từng vùng và cho cả huyện, có tính chất điển hình cho tổng thể nghiên cứu, đại diện và suy rộng được cho cả huyện Đồng Hỷ

BHXH của BHXH huyện Đồng Hỷ trong các năm 2011 - 2013 (Báo cáo quyết toán

các năm 2011 - 2013)

2.2.2.2 Thu thập số sơ cấp

Số liệu sơ cấp thu thập thông qua phiếu điều tra trực tiếp đến các nhóm đối tượng tham gia khác nhau: Người tham gia BHXH làm trong các đơn vị doanh nghiệp nhà nước, người tham gia BHXH làm trong các đơn vị doanh nghiệp ngoài quốc doanh, người tham gia BHXH làm trong các đơn vị hành chính, chủ sử dụng

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lao động, cán bộ làm công tác BHXH tại các đơn vị, cán bộ quản lý trong huyện

Đồng Hỷ, cán bộ BHXH huyện Đồng Hỷ

* Phương pháp điều tra

Điều tra chủ yếu bằng phương pháp phỏng vấn, chọn mẫu điển hình

Chọn mẫu nghiên cứu Để đảm bảo lượng mẫu điều tra đủ lớn, có một kết

quả cao trong quá trình nghiên cứu tránh những sai sót đáng tiếc trong chọn mẫu

- Nhóm cán bộ quản lý trong huyện Đồng Hỷ

- Nhóm cán bộ BHXH công tác tại BHXH huyện Đồng Hỷ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

* Tổng hợp điều tra

Bảng 2.1 Số lượng người và các địa điểm điều tra

Đơn vị tính: Người

Địa điểm Đối tượng Tổng

Thị trấn Chùa Hang

Xã Quang Sơn

Xã Tân Long

1 Người lao động và người sử dụng lao động tham gia BHXH làm trong các Công ty TNHH

2 Người lao động và người sử dụng lao động tham gia BHXH làm trong các Công ty cổ phần

3 Người lao động và người sử dụng lao động tham gia BHXH làm trong Doanh nghiệp tư nhân

Tổng 120 42 41 37

* Thông tin thu thập từ điều tra

- Những bất cập trong công tác giải quyết chế độ BHXH?

- Những bất cập trong các thủ tục hành chính?

- Thời gian giải quyết các chế độ đã phù hợp chưa?

- Tình hình tham gia bảo hiểm xã hội và những hiểu biết của người lao động

về bảo hiểm xã hội như thế nào?

- Vấn đề tuyên truyền bảo hiểm xã hội đến với người lao động, người sử dụng lao động như thế nào?

- Việc thu bảo hiểm xã hội tại tỉnh có những thuận lợi và khó khăn gì?

- Tham khảo ý kiến của chủ sử dụng lao động, cán bộ bảo hiểm xã hội huyện

Đồng Hỷ, ý kiến của lãnh đạo quản lý trong huyện Đồng Hỷ

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2.2.3 Phương pháp phân tích

- Phương pháp phân tổ thống kê

Sử dụng phương pháp phân tổ thống kê để hệ thống hóa và phân tích các số

liệu thu thập được từ điều tra theo các tiêu thức phù hợp với mục tiêu nghiên cứu

Từ đó nhận biết được thực trạng của vấn đề nghiên cứu Từ phương pháp này có thể

tìm ra sự liên quan giữa các nhân tố tác động đến vấn đề nghiên cứu

nợ đọng BHXH của các đơn vị, mức độ trốn đóng BHXH

với vấn đề nợ đọng BHXH và trốn đóng BHXH ở BHXH huyện Đồng Hỷ

- Phương pháp so sánh

Sử dụng phương pháp này để nghiên cứu về sự biến động của số người tham

gia và số tiền qua các năm nghiên cứu Cho thấy được sự biến động về số người và

số tiền qua các năm tăng hay giảm Mức độ thay đổi như thế nào?

Cách tính: Sự biến động về số người tham gia BHXH

- Phương pháp dự báo thống kê

Sử dụng phương pháp dự báo thống kê để có thể dự báo về tương lai của công

tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại huyện Đồng Hỷ sẽ đến năm 2015 và dự báo đến

năm 2020 Hay nói cách khác là đưa ra những kế hoạch cho công tác thu bảo hiểm xã

hội từ năm 2015 và đến năm 2020

- Phương pháp chuyên gia

2.2.4.1 Chỉ tiêu đánh giá hiện trạng của địa phương

- Chỉ tiêu đánh giá hiện trạng dân số và lao động

- Chỉ tiêu đánh giá hiện trạng cơ sở hạ tầng: Giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc

- Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu kinh tế của huyện qua các năm

- Thu nhập bình quân đầu người; thu nhập lương thực bình quân đầu người;

2.2.4.2

-

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 3

THỰC TRẠNG NỢ ĐỌNG VÀ TRỐN ĐÓNG BẢO HIỂM

XÃ HỘI Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ

3.1 Khái quát về tình hình tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đồng Hỷ

3.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Đồng Hỷ

Đồng Hỷ là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của Tỉnh Thái Nguyên,

phía Bắc giáp huyện Võ Nhai, phía Tây giáp huyện Phú Lương, phía Đông giáp tỉnh

Bắc Giang, phía Nam giáp thành phố Thái Nguyên và huyện Phú Bình Toàn huyện

có 15 xã và 3 thị trấn

Tài nguyên thiên nhiên: Toàn huyện có 26.448 ha rừng, trong đó rừng tự

nhiên 14.432,2 ha, rừng trồng 7.146,6 ha Ngoài ra huyện còn 4.869,2 ha rừng chưa

trồng, chủ yếu là đất trống đồi núi trọc

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Đồng Hỷ

- Dân số của huyện Đồng Hỷ

Tổng số dân toàn huyện là 125.000 người, trong đó dân số trong độ tuổi lao

động chiếm 50,8%

- Thực trạng kinh tế của huyện Đồng Hỷ

Huyện Đồng Hỷ là 1 huyện trung du miền núi, có 2 xã là vùng cao, 16 xóm

vùng sâu và đặc biệt khó khăn, nhận thức của người dân còn hạn chế, đồng thời tiếp

tục chịu ảnh hưởng suy thoái của nền kinh tế đã làm cho hoạt động sản xuất kinh

doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn gặp nhiều khó khăn, các đơn vị đã sa thải

hoặc hạn chế sử dụng lao động mới, mức lương tối thiểu vùng ngày càng tăng cao,

các đơn vị nợ tiền BHXH vì vậy không thực hiện chính sách cho NLĐ đã ảnh

hưởng trực tiếp đến số thu BHXH và công tác mở rộng diện Doanh nghiệp ngoài

nhà nước tham gia BHXH trên địa bàn huyện

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

bậc, hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị được đầu tư tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ theo cấu trúc của một đô thị hiện đại, đời sống nhân dân, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao Đây là những điều kiện hết sức thuận lợi để mở rộng đối tượng tham gia BHXH

3.1.3 Đánh giá thuận lợi và khó khăn trong hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ

3.1.3.1 Những thuận lợi

Tình hình kinh tế của địa phương trong các năm vừa qua có sự tăng trưởng cao, cụm công nghiệp tập trung, làng nghề truyền thống ngày cảng được mở rộng và phát triển nhanh Một số DN lớn, sử dụng nhiều lao động tiếp tục được mở rộng và đầu tư vào địa bàn TP, tạo việc làm cho hàng nghìn NLĐ như Xí nghiệp may Bình Minh, Xí nghiệp kẽm chì Làng Hích Người dân huyện Đồng Hỷ không chỉ biết làm nghề nông lâu đời mà còn khá thạo buôn bán, giao tiếp, làm nhiều ngành dịch vụ tạo nhiều việc làm mới và số lao động có việc làm ngày càng gia tăng, có đội ngũ dân số trẻ là lực lượng lao động hùng hậu trong công cuộc đổi mới, chất lượng lao động ngày càng được nâng cao, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đây là điều kiện rất thuận lợi để mở rộng đối tượng tham gia BHXH

3.2 Thực trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH

3.2.1 Tổ chức hệ thống BHXH huyện Đồng Hỷ

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Thực hiện Nghị định số 12/CP ngày 16/01/1995 của Chính phủ về việc ban

hành điều lệ Bảo hiểm xã hội

Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 của Thủ tướng chính phủ thành lập

Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Quyết định số 606/TTg ngày 26/9/1995 của Thủ tướng Chính phủ ban hành

quy chế tổ chức và hoạt động BHXH Việt Nam

Thông tư số 58 TC/HCSN ngày 24/7/1995 của Bộ Tài chính hướng dẫn

phương thức thu nộp bảo hiểm xã hội

Nhằm thống nhất quản lý, tổ chức thu BHXH trong toàn hệ thống BHXH Việt

Nam, từ đó BHXH được thành lập từ Trung Ương đến địa phương

Bảo hiểm xã hội huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên được thành lập dựa trên

cơ sở được hợp nhất công tác BHXH của Sở Lao động Thương binh xã hội và Liên

đoàn lao động tỉnh Thái Nguyên, cũng từ đó BHXH các huyện, thị xã trực thuộc

được thành lập

Bảo hiểm xã hội huyện Đồng Hỷ là một trong những đơn vị BHXH trực

thuộc BHXH tỉnh Thái Nguyên, nằm trong hệ thống Bảo hiểm Việt Nam và chịu sự

quản lý theo ngành dọc của BHXH tỉnh Thái Nguyên theo quy định của pháp luật

BHXH huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên nằm trong Bảo hiểm xã hội Việt Nam:

Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Bảo hiểm xã hội Tỉnh Thái Nguyên Trực thuộc BHXH Việt Nam (có 9 phòng chức năng và 9 huyện, thị)

Hỷ

Huyện Định

Huyện Phú Lương

Huyện

Võ Nhai

Huyện Đại Từ

TX Sông

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Sơ đồ 3.1: Hệ thống BHXH Việt Nam

BHXH huyện Đồng Hỷ cũng như BHXH các huyện khác đều là những đơn

vị cấp III trực thuộc nhỏ nhất của BHXH Việt Nam, hoạt động dưới sự chỉ đạo trực

tiếp từ BHXH Việt Nam

BHXH huyện Đồng Hỷ được thành lập từ ngày 1/8/1995, sau đó do quá trình chuyển đổi địa giới tách tỉnh Bắc Thái thành 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn, BHXH huyện Đồng Hỷ được tái thành lập theo quyết định số 1621 ngày 18/9/1997 của BHXH tỉnh Thái Nguyên BHXH huyện Đồng Hỷ có tư cách pháp nhân, là đơn

vị hạch toán cấp 3, có con dấu và có tài khoản riêng BHXH huyện Đồng Hỷ có trụ

sở đặt tại số nhà 37A, thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên Trải qua hơn 18 năm thành lập, từ những khó khăn về cơ sở hạ tầng, điều kiện trang thiết bị làm việc còn thô sơ và nhiều thiếu thốn, công tác quản lý các đối tượng BHXH còn nhiều yếu kém, cùng với nguồn nhân lực còn hạn hẹp (chỉ có 5 cán bộ công chức viên chức với trình độ chuyên môn còn kém) Cho đến nay dưới sự nỗ lực

cố gắng quyết tâm của cán bộ công nhân viên chức, BHXH huyện Đồng Hỷ đã có nguồn nhân lực tương đối vững mạnh với trình độ chuyên môn tốt (gồm 16 cán bộ công chức, viên chức), cơ sở hạ tầng, điều kiện trang thiết bị làm việc được trang bị đầy đủ, công tác quản lý các đối tượng tham gia và hưởng BHXH luôn được thực hiện một cách chính xác và kịp thời BHXH huyện Đồng Hỷ đang từng bước phát triển vững mạnh đảm bảo hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ mà BHXH tỉnh Thái Nguyên giao cho Thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước về chế độ BHXH cho người tham gia theo cơ chế mới của Đảng và Nhà nước trong nền cơ chế thị

trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa chịu sự quản lý của Nhà nước

3.2.1.1 Chức năng nhiệm vụ

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Theo quy định số 4857/QĐ-BHXH quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền

hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH địa phương quy định:

* Chức năng

Bảo hiểm xã hội huyện là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh đặt tại

huyện, có chức năng giúp giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh tổ chức thực hiện chế

độ chính sách BHXH, BHYT, quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

trên địa bàn huyện theo phân cấp quản lý của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và quy

định của pháp luật

Bảo hiểm xã hội huyện chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của giám đốc Bảo

hiểm xã hội tỉnh và chịu sự quản lý hành chính nhà nước của Uỷ ban nhân dân huyện

* Nhiệm vụ

- Xây dựng, trình giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh kế hoạch phát triển Bảo

hiểm xã hội huyện dài hạn, ngắn hạn và chương trình công tác hàng năm; tổ chức

thực hiện kế hoạch, chương trình sau khi được phê duyệt

- Tổ chức thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến các chế độ,

chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tổ chức khai thác, đăng ký,

quản lý các đối tượng tham gia và hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

theo phân cấp

- Tổ chức cấp sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế cho những người tham

gia bảo hiểm theo phân cấp

- Tổ chức thu các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với các tổ

chức và cá nhân theo phân cấp

- Hướng dẫn và tổ chức tiếp nhận hồ sơ, giải quyết các chế độ bảo hiểm xã

hội, bảo hiểm y tế theo phân cấp

- Tổ chức chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo phân cấp; từ

chối việc đóng hoặc chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế không đúng

quy định

- Quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí và tài sản theo phân cấp

- Tổ chức ký hợp đồng với các cơ sở khám, chữa bệnh có đủ điều kiện, tiêu

chuẩn chuyên môn, kỹ thuật theo phân cấp; giám sát thực, hiện hợp đồng và giám

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

sát việc cung cấp dịch vụ khám, chữa bệnh, bảo vệ quyền lợi người có thẻ bảo hiểm

y tế và chống lam dụng quỹ bảo hiểm y tế

- Tổ chức ký hợp đồng với tổ chức, cá nhân làm đại lý do ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn giới thiệu và bảo lãnh để thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế ở xã, phường, thị trấn theo chỉ đạo, hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội tỉnh

- Kiểm tra, giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo về việc thực hiện chế

độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật

- Tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch cải cách hành chính theo chỉ đạo, hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội tỉnh; tổ chức bộ phận tiếp nhận, trả kết quả giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo cơ chế ''một cửa'' tại cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện

- Tổ chức quản lý, lưu trữ hồ sơ các đối tượng tham gia và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định

- Tổ chức hướng dẫn nghiệp vụ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho các tổ chức và cá nhân tham gia bảo hiểm

- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội ở huyện, với các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật

- Đề xuất, kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra

các tổ chức và cá nhân trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

- Cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về việc đóng, quyền được hưởng các chế độ bảo hiểm, thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế khi tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu

- Quản lý và sử dụng công chức, viên chức, tài chính, tài sản của BHXH huyện

- Thực hiện chế độ thông tin, thống kê, báo cáo theo quy định

3.2.1.2 Cơ cấu tổ chức của BHXH huyện Đồng hỷ

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Sau hơn 18 năm hoạt động và trưởng thành BHXH huyện Đồng Hỷ đã

không ngừng từng bước nỗ lực, phát triển, Hiện nay, đội ngũ cán bộ công chức,

viên chức của BHXH huyện Đồng Hỷ gồm 16 người, Trong đó có 5 cán bộ có

trình độ trên đại học (3 người đang học), 7 cán bộ công chức, viên chức có

trình độ đại học, 2 cao đẳng và 2 trung cấp Ngoài 1 giám đốc và 2 phó giám

đốc, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức của BHXH huyện Đồng Hỷ gồm 13

người được chia thành 5 bộ phận chịu trách nhiệm từng nhiệm vụ công việc

khác nhau

Nguồn: BHXH huyện Đồng H ỷ

Sơ đồ 3.2: Hệ thống tổ chức bộ máy hoạt động của BHXH huyện Đồng Hỷ

BHXH huyện Đồng Hỷ có 01 giám đốc và 02 phó giám đốc phụ trách, 13

cán bộ công chức viên chức được chia thành 5 bộ phận, cụ thể:

- Bộ phận thu và cấp sổ thẻ: gồm 5 cán bộ

- Bộ phận chế độ, chính sách: gồm 2 cán bộ

- Bộ phận kế hoạch tài chính: gồm 2 cán bộ

- Bộ phận giám định BHYT: gồm 2 cán bộ

- Bộ phận tiếp nhận và quản lý hồ sơ: gồm 2 cán bộ

Ngoài ra cơ quan còn có 1 bảo vệ theo hợp đồng lao động 68, làm nhiệm vụ

trông giữ cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài sản và đảm bảo vệ sinh cho cơ quan

* Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận

Bộ phận thu

và cấp sổ thẻ

Bộ phận tiếp nhận và

quản lý hồ sơ

Bộ phận giám định BHYT

Bộ phận chế độ chính sách

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Là người đứng đầu cơ quan BHXH huyện, phụ trách và chịu trách nhiệm về toàn bộ các mặt hoạt động công tác BHXH trên địa bàn huyện quản lý

sổ BHXH, thẻ BHYT theo quy định của pháp luật

Tổ chức thực hiện thu BHXH, BHYT; kiểm tra, đối chiếu danh sách các đối tượng tham gia BHXH, BHYT; hướng dẫn nghiệp vụ kiểm tra thực hiện kế hoạch thu BHXH, BHYT…

Tổ chức xét duyệt hồ sơ, cấp và quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT; đối chiếu tờ khai, danh sách đề nghị cấp sổ, thẻ; thực hiện kiểm tra, đối chiếu xác nhận sổ, thẻ…

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Bộ phận tiếp nhận và quản lý hồ sơ (bộ phận 1 cửa):

Giúp giám đốc BHXH huyện tổ chức, tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải

quyết, tư vấn chế độ chính sách BHXH, BHYT

Kiểm tra và tiếp nhận các loại hồ sơ liên quan tới việc tham gia BHXH,

BHYT, chuyển hồ sơ tiếp nhận và nhận lại kết quả giải quyết từ các phòng nghiệp

vụ có liên quan…, trả hồ sơ cho đối tượng một cách nhanh chóng nhất, giải đáp các

thắc mắc của người dân về các vấn đề liên quan đến BHXH, BHYT

Ngoài ra, BHXH huyện còn có hệ thống đại diện chi trả lương hưu và trợ cấp

BHXH các Xã, Thị trấn để đảm bảo cho việc chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH

hàng tháng được thuận lợi, kịp thời

3.2.2 Thu BHXH ở BHXH huyện Đồng Hỷ

3.2.2.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động thu BHXH

Hiện nay, văn bản hiện hành về thu BHXH làm căn cứ thu BHXH được quy

-26/6/2007 đến năm 2011 để đơn giản hoá thủ tục Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam

đã ban hành Quyết định số 1111/QĐ-BHXH ngày 25/10/2011 thay thế các quyết định

trên thống nhất quy định quản lý thu, BHXH, quản lý sổ BHXH,

1111)

3.2.2.2 Thực trạng thu BHXH ở huyện Đồng Hỷ

* Xác định số thu BHXH

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Xác định cụ thể số thu BHXH bao gồm: Đối tượng phải thu BHXH, mức tiền lương, tiền công làm căn cứ thu BHXH, tỷ lệ đóng BHXH được quy định cụ thể tại Luật BHXH bao gồm:

* Đối tượng thu (tham gia) BHXH

- NLĐ tham gia BHXH bắt buộc gồm:

+ CB, CC, VC theo quy định của pháp luật về CB, CC, VC ; + NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động, bao gồm cả xã viên, cán bộ quản lý làm việc và hưởng tiền công theo hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên trong các hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật hợp tác xã; người quản lý DN thuộc các chức danh quy định tại khoản 13, Điều 4, Luật DN hưởng tiền lương, tiền công từ đủ 3 tháng trở lên

- Người SDLĐ tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm:

+ DN thành lập, hoạt động theo Luật DN; các Công ty nhà nước thành lập theo Luật DN nhà nước đang trong thời gian chuyển đổi thành Công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc Công ty cổ phần theo Luật DN; các DN thuộc lực lượng vũ trang + Cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp; đơn vị vũ trang nhân dân

+ Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác;

+ Tổ chức, đơn vị hoạt động theo quy định của pháp luật;

+ Cơ sở ngoài công lập hoạt động trong các lĩnh vực: Giáo dục - đào tạo; Y tế; Văn hoá; Thể dục thể thao; Khoa học và công nghệ; Môi trường; Xã hội; Dân số, gia đình, bảo vệ chăm sóc trẻ em và các ngành sự nghiệp khác;

+ Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật hợp tác xã; + Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn,

sử dụng, trả tiền lương, tiền công cho NLĐ;

+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

định khác (Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, 2006, Luật BHXH số

71/QH11 ngày 29/6)

* Mức tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH

Mức tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH được quy định cụ thể

từng thời kỳ theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, và do đơn vị sử dụng

lao động quy định Hiện nay mức tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định là

1.150.000 đồng, đơn vị sử dụng lao động quy định là 2.100.000 đồng (tối thiểu

vùng áp dụng tại tỉnh Thái Nguyên)

Mức tiền lương theo chế độ tiền lương Nhà nước quy định là: tiền lương theo

ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt

khung, phụ cấp tham niên nghề, phụ cấp khu vực Mức tiền lương này được tính theo

mức lương tối thiểu tại thời điểm đóng, mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy

định theo từng thời kỳ

Mức tiền lương theo chế độ tiền lương do đơn vị sử dụng lao động quy định là

mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động nhưng không được thấp hơn

mức lương tối thiểu chung tại thời điểm đóng Đơn vị sử dụng lao động phải đăng ký

thang bảng lương do mình xây dựng với cơ quan quản lý nhà nước về tiền lương sở

lao động thương binh và xã hội

NLĐ có tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động bằng ngoại tệ thì

tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH được tính bằng đồng Việt Nam trên cơ sở

tiền lương, tiền công bằng ngoại tệ được chuyển đổi sang đồng Việt Nam theo tỷ giá

giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng được Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam công bố tại thời điểm ngày 02 tháng 01 cho 6 tháng đầu năm và ngày

01 tháng 07 cho 6 tháng cuối năm Trường hợp trùng vào ngày nghỉ mà Ngân hàng

Nhà nước Việt Nam chưa công bố thì được lấy tỷ giá của ngày tiếp theo liền kề

* Tỷ lệ Thu (đóng) BHXH

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Từ thời điểm 31/12/2009 trở về trước: NLĐ đóng BHXH bằng 5% và BHYT bằng 1% mức tiền lương, tiền công tháng làm căn cứ đóng BHXH ; NSDLĐ đóng BHXH bằng 15% và BHYT bằng 2% trên tổng quỹ lương tháng đóng BHXH của NLĐ

Từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 12 năm 2011: NLĐ đóng BHXH bằng 6%

và BHYT bằng 1,5% mức tiền lương, tiền công tháng làm căn cứ đóng BHXH ; NSDLĐ đóng BHXH bằng 16% và BHYT bằng 3% trên tổng quỹ lương tháng đóng BHXH của NLĐ

Từ tháng 01 năm 2012 đến tháng 12 năm 2013: NLĐ đóng BHXH bằng 7%

và BHYT bằng 1,5% mức tiền lương, tiền công tháng làm căn cứ đóng BHXH ; NSDLĐ đóng BHXH bằng 17% và BHYT bằng 3% trên tổng quỹ lương tháng đóng BHXH của NLĐ

Từ tháng 01 năm 2014 trở đi: NLĐ đóng BHXH bằng 8% và BHYT bằng 1,5% mức tiền lương, tiền công tháng làm căn cứ đóng BHXH ; NSDLĐ đóng BHXH bằng 18% và BHYT bằng 3% trên tổng quỹ lương tháng đóng BHXH của NLĐ

- Thu BHXH

* Quy trình thu BHXH

Căn cứ vào lao động và quỹ tiền lương sau khi BHXH huyện Đồng Hỷ xây dựng kế hoạch thu cụ thể của từng năm từ đầu quý IV của năm trước và được BHXH cấp tỉnh Thái Nguyên duyệt phân bổ và chính thức giao cho kế hoạch thu từ đầu năm thì hiện nay, BHXH huyện Đồng Hỷ, cũng như các BHXH huyện trong hệ thống trên

cả nuớc đang thực hiện quy trình thu BHXH theo quy định của BHXH Việt Nam:

1 Đơn vị mới đăng ký tham gia BHXH và đơn vị đang tham gia BHXH có biến động về lao động, quỹ lương, lập danh sách lao động, quỹ lương để đăng ký với cơ quan BHXH

2 Căn cứ số liệu ở danh sách lao động, quỹ lương, cơ quan BHXH cấp mã số đơn vị và cá nhân cấp sổ, lập sổ chi tiết số phải thu BHXH từng đơn vị (theo phân cấp)

3 Đơn vị chuyển tiền đóng BHXH vào tài khoản chuyên thu của BHXH, và thanh toán cho các đối tượng hưởng ốm đau, thai sản Sau khi nhận được giấy báo

Ngày đăng: 03/08/2016, 10:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 3.1: Hệ thống BHXH Việt Nam - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Sơ đồ 3.1 Hệ thống BHXH Việt Nam (Trang 23)
Sơ đồ 3.2: Hệ thống tổ chức bộ máy hoạt động của BHXH huyện Đồng Hỷ - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Sơ đồ 3.2 Hệ thống tổ chức bộ máy hoạt động của BHXH huyện Đồng Hỷ (Trang 25)
Bảng 3.4: Số tiền phải thu BHXH phân theo khối loại hình DN, tổ chức - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.4 Số tiền phải thu BHXH phân theo khối loại hình DN, tổ chức (Trang 30)
Bảng 3.5: Số tiền thu BHXH của huyện Đồng Hỷ 2011-2013 - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.5 Số tiền thu BHXH của huyện Đồng Hỷ 2011-2013 (Trang 30)
Bảng 3.6: Kết quả thu BHXH theo loại hình DN, tổ chức - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.6 Kết quả thu BHXH theo loại hình DN, tổ chức (Trang 31)
Bảng 3.8: Số tiền nợ đọng Bảo hiểm xã hội theo khối quản lý - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.8 Số tiền nợ đọng Bảo hiểm xã hội theo khối quản lý (Trang 32)
Bảng 3.10: Kết quả rà soát tình hình tham gia Bảo hiểm xã hội - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.10 Kết quả rà soát tình hình tham gia Bảo hiểm xã hội (Trang 33)
Bảng 3.9: Các đơn vị nợ Bảo hiểm xã hội  kéo dài ở huyện Đồng Hỷ - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.9 Các đơn vị nợ Bảo hiểm xã hội kéo dài ở huyện Đồng Hỷ (Trang 33)
Bảng 3.13: Số tiền trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.13 Số tiền trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ (Trang 34)
Bảng 3.11: Số DN, tổ chức trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.11 Số DN, tổ chức trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ (Trang 34)
Bảng 3.12: Lao động trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.12 Lao động trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ (Trang 34)
Bảng 3.14: Kết quả kiểm tra các DN 2011-2013 - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.14 Kết quả kiểm tra các DN 2011-2013 (Trang 35)
Bảng 3.15: Kết quả kiểm tra liên ngành tại các DN 2011-2013 - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.15 Kết quả kiểm tra liên ngành tại các DN 2011-2013 (Trang 35)
Bảng 3.17: Bảng tổng hợp mức độ hiểu biết của CSDLĐ về pháp luật - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.17 Bảng tổng hợp mức độ hiểu biết của CSDLĐ về pháp luật (Trang 39)
Bảng 3.20: Bảng tổng hợp tình hình thanh tra, kiểm tra công tác thực hiện - Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.20 Bảng tổng hợp tình hình thanh tra, kiểm tra công tác thực hiện (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w