Thương mại điện tử hay còn gọi là Thị trường ảo, thị trường điện tử E-Commerce hay Ebusiness là quy trình mua bán ảo thông qua việc truyền dữ liệu giữa các máy tính trong chính sách ph
Trang 1Mục Lục
Mục lục 1
Lời mở đầu 2
CHƯƠNG 1: THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 3
1.1Thương mại điện tử 3
1.1.1Thương mại điện tử là gì? 3
1.1.2 Thương mại điện tử và tầm quan trọng của nó 4
1.2 Thực tế thương mại điện tử của Việt Nam 6
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ INTERNET VÀ CÔNG NGHỆ WEB 9 2.1 Internet và lịch sử hình thành 9
2.1.1 Nguồn gốc và sự phát triển của Internet 9
2.1.2 World Wide Web 12
2.2 Ngôn ngữ HTML 13
2.2.1 Khái niệm 13
2.2.2 Cấu trúc của trang tài liệu HTML 13
2.2.3 HTML FORMS và các thành phần điều khiển 15
2.3.4 Công cụ chuyên để thiết kế trang Web 16
2.3 Ngôn ngữ lập trình ASP 17
2.3.1 ASP là gì ? 17
2.3.2 ASP có thể làm gì 18
2.3.3 Các khái niệm cơ bản về ASP 18
2.3.4 Các đối tượng cơ bản trong ASP 19
2.3.5 ASP làm việc như thế nào 22
2.3.6 Giới thiệu về IIS – Internet Information Server 23
2.4 Các bước để thiết kế một trang Web 24
2.4.1 Phân tích người dùng và tự đánh giá chính mình 24
Trang 22.4.2 Thiết kế các chức năng và đánh số trang 24
2.4.3 Tìm cách trình bầy hiệu quả và ấn tượng 25
2.4.4 Xây dựng nội dung 25
2.4.5 Thiết kế và kiểm tra khung trang Web 26
2.4.6 Đưa nội dung vào Web Site 26
2.4.7 Kiểm tra và đánh giá 27
CHƯƠNG 3: LÝ THUYẾT VÀ PHÂN TÍCH THIẾT KẾ 28
3.1 Một số khái niệm 28
3.2 Các bộ phận hợp thành của một hệ thống 28
3.3 Các giai đoạn phân tích thiết kế 29
3.4 Các loại biểu đồ 30
CHƯƠNG 4: THIẾT KẾ WEBSITE 31
4.1 Khảo sát hệ thống 31
4.2 Phân tích và thiết kế hệ thống 33
4.2.1 Phân tích 33
4.2.2 Thiết kế hệ thống 36
4.2.2.1 Biểu đồ phân cấp chức năng(BFD) 36
4.2.2.2 Sơ đồ luồng dữ liệu mức khung cảnh 37
4.2.2.2.1 Sơ đồ luồng dữ liệu mức đỉnh 38
4.2.2.2.2 Sơ đồ thực thể liên kết ERD 41
4.2.2.2.3 Thiết kế cơ sở dữ liệu 42
CHƯƠNG 5: CÀI ĐẶT WEBSITE 50
5.1 Một số giao diện chính 51
5.2 Kết luận 67
Tài liệu tham khảo 68
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trên thế giới hiện nay tin học là một ngành phát triển không ngừng, thời
kỳ công nghiệp hoá đòi hỏi thông tin nhanh chóng, chính xác Có thể nói tin học
đã chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống hàng ngày, trong các ngành khoa học kỹ thuật, dịch vụ và xã hội Người ta nói rằng thế kỷ 21 là thế kỷ của nền văn minh tin học
Ở Việt Nam từ những mô hình thí nghiệm, ngày nay tin học không còn là những mẫu thử như những thời kỳ đầu nữa, tin học ở Việt Nam hiện giờ mới đang trên đường phát triển, nhưng đã khẳng định được một vi trí quan trọng trong quá trình cải tiến, nâng cao hiệu quả và đổi mới nhiều nền kinh tế Đặc biệt trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ
Ngày nay các doanh nghiệp đã chú trọng nhiều đến việc quảng bá thương hiệu của chính mình và Internet là một môi trường mà các doanh nghiệp rất quan tâm Chính vì vậy mà các doanh nghiệp đã đưa ra cho mình những website riêng
để khẳng định tên tuổi của mình Do đó, em chọn đề tài “Xây dựng hệ thống bán hàng qua mạng cho công ty máy tính Hải Nam”
Dựa trên cơ sở những kiến thức đã được đào tạo trong nhà trường và được
sự giúp đỡ tận tình của cô giáo Nguyễn Thị Thanh Nhàn cùng toàn thể các thầy
cô trong khoa đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành đồ án tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo
Nguyễn Thị Thanh Nhàn đã giúp đỡ em hoàn thành đồ án tốt nghiệp này
Trang 4CHƯƠNG 1 THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1.1 Thương Mại Điện Tử
1.1.1 Thương mại điện tử là gì ?
Thương mại điện tử (hay còn gọi là Thị trường ảo, thị trường điện tử
E-Commerce hay Ebusiness) là quy trình mua bán ảo thông qua việc truyền dữ
liệu giữa các máy tính trong chính sách phân phối và tiếp thị Tại đây một mối thương mại hay dịch vụ trực tiếp giữa người cung cấp và khách hàng được tiến hành thông qua Internet Hiểu theo nghĩa rộng, thương mại điện tử bao gồm tất
cả các loại giao dịch thương mại mà trong đó các đối tác giao dịch sử dụng kỹ thuật thông tin trong khuôn khổ chào mời, thảo luận hay cung cấp dịch vụ Thông qua chiến dịch quảng cáo của IBM trong thập niên 1990, khái niệm Electronic business, thường được dùng trong các tài liệu, bắt đầu thông dụng Đúng vậy, hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về Thương mại điện tử Nhiều người hiểu Thương mại điện tử là bán hàng trên mạng, trên Internet Một số ý kiến khác lại cho rằng Thương mại điện tử là làm thương mại bằng điện tử Những cách hiểu này đều đúng theo một góc độ nào đó nhưng chưa nói lên được phạm vi rộng lớn của Thương mại điện tử
Theo các khái niệm này thì thương mại điện tử không chỉ là bán hàng
trên mạng hay bán hàng trên Internet mà là hình thái hoạt động kinh doanh bằng các phương pháp điện tử Hoạt động kinh doanh bao gồm tất cả các hoạt động
trong kinh doanh như giao dịch, mua bán, thanh toán, đặt hàng, quảng cáo và kể
cả giao hàng Các phương pháp điện tử ở đây không chỉ có Internet mà bao gồm việc sử dụng các phương tiện công nghệ điện tử như điện thoại, máy FAX,
Trang 5bao hàm cả việc trao đổi thông tin kinh doanh thông qua các phương tiện công
nghệ điện tử Thông tin ở đây không chỉ là những số liệu hay văn bản, tin tức mà
nó gồm cả hình ảnh, âm thanh và phim video
Các phương tiện điện tử trong Thương mại điện tử
Mạng toàn cầu Internet / World Wide Web
Các hình thức hoạt động Thương mại điện tử
+ Thư tín điện tử (E-mail)
+ Thanh toán điện tử
+ Trao đổi dữ liệu điện tử
+ Trao đổi số hoá các dữ liệu
+ Mua bán hàng hoá hữu hình
1.1.2 Thương mại điện tử và tầm quan trọng của nó
Ngày nay Thương mại điện tử đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trên thế giới và đã xuất hiện nhiều trung tâm thương mại và thị trường chứng khoán lớn trên thế giới
Hiện nay nhờ vào sự phát triển của các phương tiện truyền thông, đặc biệt
là sự phát triển của tin học đã tạo điều kiện cho mọi người có thể giao tiếp với nhau một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn thông qua các dịch vụ Internet Vì là một môi trường truyền thông rộng khắp thế giới nên thông tin có thể giới thiệu
Trang 6tới từng thành viên một cách nhanh chóng và thuận lợi Chính vì vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho Thương mại điện tử thông qua Internet Và Thương mại điện
tử nhanh chóng trở nên phổ biến trên thế giới trở thành một công cụ rất mạnh mẽ
để bán hàng và quảng cáo hàng hoá của các nhà cung cấp Đối với khách hàng,
có thể lựa chọn, so sánh hàng hoá phù hợp cả về loại hàng hoá, dịch vụ giá cả, chất lượng và phương thức giao hàng cho khách hàng
Có rất nhiều ý kiến cho rằng: Thương mại điện tử là sự thay đổi lớn nhất trong kinh doanh kể từ sau cuộc cách mạng công nghiệp Thương mại điện tử không chỉ mở ra những cơ hội kinh doanh mới, những sản phẩm và dịch vụ mới, những ngành nghề kinh doanh mới mà bản thân nó thực sự là một phương thức kinh doanh mới: Phương thức kinh doanh điện tử Thương mại điện tử chuyển hoá các chức năng kinh doanh, từ nghiên cứu thị trường và sản xuất sản phẩm đến bán hàng, dịch vụ sau bán hàng từ phương thức kinh doanh truyền thống đến phương thức kinh doanh điện tử
Theo Andrew Grove - Intel thì trong vòng năm năm, tất cả các công ty sẽ trở thành công ty Internet, hoặc sẽ không là gì cả Tuy câu nói này có phần phóng đại nhưng nó phản ánh về cơ bản tầm quan trọng và sự ảnh hưởng của Thương mại điện tử đến kinh doanh trong thời đại hiện nay
Điểm đặc biệt của thương mại điện tử so với các kênh phân phối truyền thống là tính linh hoạt cao về mặt cung ứng và giảm thiểu lớn phí tổn vận tải với các đối tác kinh doanh Các phí tổn khác thí dụ như phí tổn điện thoại và đi lại để thu thập khách hàng hay phí tổn trình bày giới thiệu cũng được giảm xuống Mặc dầu vậy, tại các dịch vụ vật chất cụ thể, khoảng cách không gian vẫn còn phải
được khắc phục và vì thế đòi hỏi một khả năng tiếp cận phù hợp nhất định Cửa
hàng trực tuyến đưa hàng vào trong Internet để bán Đây là một chương trình
Trang 7phần mềm có tính năng giỏ hàng, người mua lựa chọn các sản phẩm ưng ý cho vào giỏ hàng và đặt hàng với công ty Đằng sau một cửa hàng trực tuyến như thế
là một việc kinh doanh thật sự, tiến hành các đơn đặt hàng Có nhiều chương trình phần mềm cho kênh bán hàng ngày
Một cửa hàng trực tuyến hiện tại không chỉ tạo khả năng cho người sử dụng xem món hàng hai chiều và đọc một ít thông số kỹ thuật của món hàng đó Trong lĩnh vực hàng tiêu dùng cao cấp người ta cũng đã tạo ảnh ba chiều của sản phẩm
để cảm giác của khách hàng càng gần hiện thực càng tốt Ngoài ra còn có các chương trình cấu hình mà qua đó màu sắc, trang bị và thiết kế của sản phẩm có thể thay đổi để phù hợp với tưởng tượng cá nhân của từng khách hàng Bằng cách này người sản xuất hay người bán còn có thể thêm thông tin rất có giá trị
về ý thích của khách hàng Các hình thức được biết nhiều về thương mại điện tử
là mua hàng bán sách và nhạc cũng như mua bán đấu giá trong Internet Thông qua việc Internet bùng nổ vào cuối thập niên 1990, cửa hàng trực tuyến ngày càng có tầm quan trọng nhiều hơn Những người bán hàng trong Internet có lợi thế là họ không cần đến một diện tích bán hàng thật sự mà thông qua các trang Web sử dụng một không gian bán hàng ảo Các cửa hàng trực tuyến cũng thường hay không cần đến nhà kho hay chỉ cần đến rất ít, vì thường có thể cung cấp cho khách hàng trực tiếp từ người sản xuất hay có thể đặt hàng theo nhu cầu Lợi thế
do tiết kiệm được những phí tổn cố định này có thể được tiếp cho khách hàng Ngay cả những người bán sách trong Internet tại Đức, bắt buộc phải bán sách theo giá cố định, cũng vấn có lợi thế là- thông qua việc không thu tiền cước phí gửi- tiết kiệm được cho khách hàng một chuyến đi đến nhà sách mà vẫn bán cùng một giá
Trang 8Các ngành hưởng lợi của xu hướng này, bên cạnh các cửa hàng trực tuyến, đặc biệt là do doanh nghiệp tiếp cận và các dịch vụ phân phối, trong khi các doanh nghiệp bán hàng nhỏ lẻ thường là những người thua cuộc trong biến đổi này Ngành công nghệ thông tin cũng hưởng lợi gián tiếp từ tăng trưởng của thương mại Internet thông qua các đơn đặt hàng nhiều hơn cho việc cung ứng kỹ thuật cũng như bảo trì các cửa hàng trực tuyến
1.2 Thực tế Thương mại điện tử ở Việt Nam
Doanh thu từ các hoạt động Thương mại điện tử tại khu vực Châu á hiện tại
là khá thấp so với các khu vực khác
Khi đặt vấn đề phát triển Thương mại điện tử của một nước, việc đầu tiên cần đề cập đến là mức độ phát triển nền CNTT của nước này Việt Nam là một nước có nền CNTT kém phát triển so với thế giới nói chung và khu vực nói riêng Xoay quanh vấn đề phát triển CNTT ở Việt Nam hiện còn tồn tại nhiều vấn đề nổi cộm Có thể lấy ví dụ: Vấn đề bản quyền phần mềm, vấn đề đội ngũ những người làm tin học còn quá ít ỏi và thiếu đào tạo cơ bản, vấn đề phương hướng phát triển, đầu tư cơ bản, đầu tư mạo hiểm v.v
Theo định hướng của Chính phủ (phát biểu của Giáo sư Chu Hảo, Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường với báo chí) thì “ Trong tương lai, công nghệ phần mềm sẽ trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam ” Nhưng tương lai đó có vẻ như còn rất xa nếu xét tình hình hiện tại Tuy nhiên, nhìn từ góc độ của những nhà tin học chuyên nghiệp nước ngoài thì lại có
vẻ khá lạc quan, như lời ông Peter Knook (Phó chủ tịch tập đoàn Microsoft) nói nhân dịp ông sang thăm và làm việc tại Việt Nam năm 1999: “ Việt Nam có tiềm năng to lớn trong việc phát triển ngành CNTT của mình, vì Việt Nam là nước với 80 triệu dân với hệ thống giáo dục tốt, và đặc biệt là Chính phủ có chủ
Trang 9trương xây dựng xã hội phát triển dựa trên nền tảng tri thức ”
Ngày 19/11/1997 (ngày Internet Việt Nam) Chính phủ Việt Nam chính thức chỉ định 4 nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) đầu tiên ở Việt Nam là : Công ty điện toán và truyền số liệu (VDC), Công ty Phát triển Đầu tư Công nghệ (FPT), Viện Công nghệ Thông tin và Công ty Cổ phần Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (Saigonpostel) Theo con số dự kiến của Ban điều phối mạng Internet quốc gia, sau 6 tháng kết nối Internet, số thuê bao Internet tại Việt Nam sẽ đạt từ 20.000 đến 25.000 Thực tế cho thấy đây là một dự đoán khá lạc quan, vì theo số lượng đưa ra vào cuối năm 1998, sau một năm hoạt động, số thuê bao Internet mới chỉ đạt con số 11.000 Trong năm 1999, tốc độ thuê bao có nhiều lạc quan hơn, theo
số liệu của Công ty FPT, một trong số 4 ISP đưa ra, số thuê bao Internet đã đạt khoảng 31.000, tức là cứ 10.000 dân Việt Nam thì có 4 thuê bao Internet Số thuê bao chủ yếu tập trung tại TPHCM và Hà Nội Tỷ lệ thuê bao cá nhân đạt khoảng 60% tổng số thuê bao, còn lại là các công ty, cơ quan Nhà nước và người nước ngoài
Theo dự đoán của một số tổ chức quốc tế, doanh thu từ các hoạt động thương mại trên Internet năm 2005 khoảng 500 tỷ USD, chia sẻ doanh thu đó là mong muốn của nhiều quốc gia Tại Việt Nam, xu hướng ứng dụng Thương mại điện tử đã bắt đầu Theo đánh giá của các chuyên gia thuộc Bộ Thương mại, con đường tiếp cận Thương mại điện tử qua 3 giai đoạn: Chuẩn bị, chấp nhận và ứng dụng, và Việt Nam đang ở bước đầu tiên của giai đoạn thứ nhất
Cho đến thời điểm này, Bộ Thương Mại và Tổng cục Bưu Điện đã xúc tiến những nghiên cứu cơ bản về Thương mại điện tử và trình Chính phủ dự án thành lập một hội đồng quốc gia về Thương mại điện tử cũng như chương trình hành động Quốc gia về vấn đề này Bên cạnh đó, các hoạt động chuẩn bị và thử nghiệm cũng đã được bắt đầu Nhiều công ty đã lên Web để giới thiệu về mình
Trang 10và tìm kiếm bạn hàng, một số siêu thị ảo đã được khai thác
Theo các kết quả nghiên cứu, báo cáo của Hiệp hội Thương mại điện tử Châu á-Châu Đại Dương, những trở ngại khi tiến hành Thương mại điện tử bao gồm:
Các trở ngại có tính Công nghệ như: Thiếu một cơ sở hạ tầng và một môi trường công nghệ thích hợp như; giá sử dụng; khả năng bảo mật; nền CNTT kém phát triển và thiếu cán bộ kỹ thuật
Các trở ngại có tính Xã hội: Thiếu một môi trường xã hội thích hợp, thiếu hiểu biết từ lãnh đạo đến nhân viên; thiếu hiểu biết từ khách hàng đến bạn hàng
Việt Nam là đất nước tham gia sau và bắt đầu từ đầu nên ngoài vấp phải những khó khăn chung kể trên thì còn rất nhiều khó khăn riêng theo đánh giá của Tổng cục Bưu Điện thì có khó khăn chính là:
Cơ sở hạ tầng thông tin cần cải thiện ngay, cần có thời gian hàng năm
và đầu tư theo đơn vị tỷ USD
Hệ thống dịch vụ tài chính chưa áp dụng hệ thống thanh toán thẻ - đây
là trở ngại và là khó khăn lớn nhất
Cần nâng cao nhận thức của người Việt Nam về Thương mại điện tử thì mới có thể triển khai được
Còn các chuyên gia của Bộ Thương Mại đặt vấn đề thận trọng hơn:
Tác động của Thương mại điện tử đến xã hội và từng cá nhân là hết sức sâu rộng nên cần hết sức thận trọng
Trên quy mô toàn cầu, các nước ít phát triển liệu có thể duy trì khả năng cạnh tranh hợp lý để cùng phát triển ?
Thương mại điện tử có phá vỡ đặc trưng văn hoá của từng nước ?
Trang 11CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ INTERNET VÀ CÔNG NGHỆ WEB
2.1 Internet và lịch sử hình thành
2.1.1 Nguồn gốc và sự phát triển của Internet
Internet - cũng được biết đến với tên gọi là Net- là mạng máy tính lớn nhất thế giới, hoặc chính xác hơn là mạng của các mạng, tức bao gồm nhiều mạng máy tính được nối với nhau Một số mạng máy tính bao gồm một máy tính trung tâm (còn gọi là máy chủ hay máy phục vụ) và nhiều máy khác (còn gọi là máy khách hàng hay trạm làm việc) nối vào nó Các mạng khác, kể cả Internet, có quy mô lớn hơn, bao gồm nhiều máy chủ và cho phép bất kỳ một máy tính bao gồm nhiều máy chủ và cho phép bất kỳ một máy tính nào trong mạng có thể kết nối với bất kỳ máy nào khác để trao đổi thông tin thoải mái với nhau Một khi đã được kết nối vào Internet, máy tính của bạn sẽ là một trong số hàng chục triệu thành viên của mạng khổng lồ này
Tiền thân của Internet là ARPANET, mạng máy tính được xây dựng bởi
bộ Quốc phòng Mỹ (DOD) vào năm 1969 vừa để thử nghiệm độ tin cậy của mạng và vừa nhằm kết nối những cơ sở nghiên cứu với mục đích Quân sự, bao gồm một số lượng lớn các trường Đại học, viện nghiên cứu ARPANET khởi đầu với quy mô nhỏ, nhưng đã nhanh chóng bành trướng ra khắp nước Mỹ
Một phần của độ tin cậy mạng thuộc về vấn đề định hướng động (dynamic routing ) Nếu một trong số nhiều liên kết mạng bị gián đoạn do tấn công từ bên ngoài, lưu thông trên đoạn đó phải được tự động chuyển sang liên kết khác Thật may mắn, chưa có sự tấn công nào xảy ra cả …
Thành công của ARPANET được nhân lên gấp bội, tất cả các trường đại học đều đăng ký ra nhập Tuy nhiên quy mô lớn của mạng đã gây khó khăn trong
Trang 12vấn đề quản lý Từ đó, ARPANET được chia làm 2 phần : MILNET là hệ thống mạng dành cho quân sự và ARPANET mới nhỏ hơn, không thuộc DOD Tuy nhiên hai mạng vẫn liên kết với nhau nhờ giải pháp kỹ thuật gọi là IP (Internet Protocol), cho phép thông tin truyền từ mạng này sang mạng khác khi cần thiết Tất cả các mạng được nối vào INTERNET đều sử dụng IP
Tuy chỉ có hai mạng lúc bấy giờ nhưng IP được thiết kế cho hàng chục nghìn mạng Một điều khác thường trong thiết kế của IP là bất kỳ một máy nào trong IP đều có thể liên lạc đưọc với một máy khác bất kỳ Điều này có vẻ như
là hiển nhiên nhưng vào thời điểm đó, trong phần lớn mạng máy tính máy đầu cuối (Teminal) chỉ có thể kết nối với máy trung tâm mà không thể với máy đầu cuối khác
World Wide Web xuất hiện bởi nhu cầu của các viện và trường Đại học và mặc dù các cơ sở khoa học này vẫn đóng vai trò chủ đạo nhưng Web đã biến thành nơi chứa thông tin multimedia, giải trí và liên lạc Tốc độ phát triển của Web nhanh hơn bất kỳ phương tiện nào có từ trước tới nay
Năm 1962 : Paul Baran, RAN: "Mạng truyền thông phân tán"- Mạng chuyển mạch gói - TX - 2 của MIT Lincoln Lab và Q-32 của hãng System Development Corporation (Santa Monica, California) được nối trực tiếp với nhau (không dùng chuyển mạch gói)
Năm 1968: Mạng PS được giới thiệu cho ARPA
Năm 1969: DOD uỷ nhiệm ARPANET nghiên cứu lĩnh vực mạng
- Nút đầu tiên tại UCLA (Network Measurements Center - SDS SIGMA 7: SEX) và không lâu sau đó tại (legend= function - system:os)
Viện nghiên cứu Standford Research institute (SRI)[NIC SDS940/Genie] UCSB [Culler - Fied Interactive Mathematics- IBM 360/75:OS/MTV] Ucủa Utah[Graphics - DEC PDP - 10:Tenex]
Trang 13- Dùng bộ xử lý thông điệp thông tin (information Message Processors- IMP) (minicomputer Honeywell 516 với bộ nhớ 12 K) do công ty Bolt Beranet
-Mạng BITNET (Because It's Time Network)
- Được khởi đầu như một mạng cộng tác tại đại học City University ở New york, kết nối đầu tiên với đại học Yeal (: feg:)
- Cung cấp dịch vụ thư điện tử và máy chủ cho phép phân phối thông tin cũng như truyền file
Năm 1985: Bắt đầu kết nối Whole earth'Lectronic Link (WELL)
Năm 1986:
-Thiết lập mạng NSFNET (tốc độ của backbone là 56Kbps)
- Bùng nổ kết nối, đặc biệt là ở trường đại học
- Xây dựng mạng BARRNET (Bay area Regional Research Network) với những kết nối tốc độ cao
Năm 1987:
- Số lượng máy chủ vượt quá 10.000
- Số lượng máy chủ BITNET vượt quá 1.000
Trang 14Archie được đưa ra
- Hytelnet ra đời
-World nhà cung cấp dịch vụ truy cập Internet qua điện thoại đầu tiên
- CA * net do 10 mạng khu vực khác nhau hình thành, có vai trò như một backbone quốc gia của Canada, nối trực tiếp vào NSFNET
- Argentina, áo, Bỉ, Brazil, Chilê, ấn độ, ireland, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Thuỵ Sỹ nối vào NSFNET
Năm 1993:
- NSF cho ra đời InterNIC, cung cấp các dịch vụ Internet như:
+ Dịch vụ về cơ sở dữ liệu và thư mục (AT&T)
+ Dịch vụ đăng ký (Network Solution Inc.)
+ Dịch vụ thông tin (General Atomics/CERFnet)
Năm 1994:
- Kỷ niệm sinh nhật lần thứ 25 ARPANET/Internet
- WWW trở thành dịch vụ phổ biến thứ nhì sau dịch vụ FPT, căn cứ trên phần trăm số gói dữ liệu và byte truyền trên mạng NSFNET
Năm 1996:
- Triển lãm Internet 1996 World exposition là triển lãm thế giới đầu tiên trên Internet
2.1.2 WORLD WIDE WEB
Có thể nói WORLD WIDE WEB là linh hồn của Internet Internet chỉ thực sự trở nên hấp dẫn khi WORLD WIDE WEB xuất hiện
WORLD WIDE WEB - viết tắt là WWW, hay gọi ngắn gọn là Web - là công cụ, phương tiện hay đúng hơn là một dịch vụ của Internet Hiểu thế nào là dịch vụ Internet? Đó là những phương tiện, cách thức được sử dụng trên Internet nhằm giúp cho việc trao đổi thông tin trở nên thuận tiện và dễ dàng
Trang 15Không giống với những dịch vụ khác của Internet, Web cung cấp thông tin rất đa dạng, bao gồm văn bản, hình ảnh, âm thanh, video, nghĩa là những gì chúng ta có thể cảm nhận được Thông tin được biểu diễn bằng trang Web theo đúng nghĩa của một trang mà chúng ta có thể nhìn trên màn hình máy tính Mọi thông tin đều có thể biểu thị trên trang Web đó kể cả âm thanh, hình ảnh động
Trang Web ta nhìn thấy trên màn hình máy tính có khả năng liên kết với những trang Web khác, dẫn ta đến những nguồn thông tin khác
Khả năng này của Web có được nhờ thông qua các siêu liên kết (hyperlink) Siêu liên kết dẫn ta từ trang Web này đến trang Web khác
Như vậy, siêu liên kết về bản chất là địa chỉ trỏ tới nguồn thông tin (trang Web) nằm đâu đó trên Internet Bằng những siêu liên kết này, các trang Web có thể liên kết với nhau thành một mạng chằng chịt (bản thân Web - tiếng Anh là mạng nhện), trang này chỉ tới trang khác, cho phép ta chu du trên biển cả thông tin
Để có thể xem được trang Web, người ta phải sử dụng những chương trình đặc biệt gọi là Web Browser Hiện tại có hai Web Browser thông dụng nhất là Navigator và Internet Explorer của Microsoft
Có thể nói việc thiết kế một Website có thể sử dụng nhiều ngôn ngữ lập trình khác nhau và tiến hành theo nhiều cách thức
Trang 16Có nhiều cách hiểu khác nhau về HTML:
- HTML (hay Hypertext Markup Language - Ngôn ngữ liên kết siêu văn bản) - Theo giáo trình nhập môn ASP xây dựng ứng dụng WEB của tác giả Nguyễn Thiên Bằng (Chủ biên) và Phương Lan (hiệu đính) - NXB Lao động xã hội - trang 11:
"HTML là ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản cho phép bạn định nghĩa cách hiển thị nội dung của trang WEB trên trình duyệt Tất cả các trình duyệt (Internet Explorer, OperaFirefox,…) đều hiểu được HTML"
- Theo tài liệu được trích lược từ tài liệu huấn luyện gốc của Microsoft (Microsoft Frontpage 2002 Tutorial) trang 229:
" HTML là ngôn ngữ đánh dấu chuẩn dùng lập trình các tài liệu World Wide Web, tài liệu là các tập tin văn bản đơn giản Ngôn ngữ HTML dùng các tag hoặc các đoạn mã lệnh để chỉ cho các trình duyệt ( Web Browsers) cách hiển thị các thành phần của trang như Text và Graphics và đáp lại những thao tác của người dùng bởi các thao tác ấn phím và nhắp chuột"…
Như vậy : HTML là một ngôn ngữ lập trình, ngôn ngữ đánh dấu chuẩn trong đó chứa các thẻ (tag) để định nghĩa một loại dữ liệu nào đó:
+ Kiểu Text, hình ảnh, âm thanh có thể liên kết với một siêu văn bản khác
2.2.2 Cấu trúc của trang tài liệu HTML
Một tài liệu HTML bao gồm nhiều từ trùng nhau trong câu thành phần chuẩn
Có rất nhiều dạng tài liệu, trong một số trường hợp những thành phần này
có thể là tuỳ chọn nhưng tất cả chúng đều có sẵn nếu người sử dụng muốn dùng
Cấu trúc của một tài liệu HTML chuẩn có dạng như sau:
< HTML>
< HEAD>
<TITLE> Tên trang </TITLE>
Trang 17<META http - equiv = "Refresh" Content = 30 >
<META http - equiv = "Content - Type" Content = "text/html; charset=UTF - 8">
<TITLE> Phường Phú Xá </TITLE>
< /HEAD>
Trang 18<i> </i> định chữ nghiêng
<u> </u > định chữ gạch dưới
<font></font.> định font chữ <có thuộc tính>màu
sắc, <color>, độ cao <size>,….>
<h1></h1>… ,<h6>
</h6>
định tiêu đề cho đoạn văn (Có 6 kiểu)
<img> Chèn hình ảnh vào văn bản<không
<br></br> Thẻ xuống dòng một đoạn văn bản
<a></a> Tạo một liên kết để đến một trang
khác hoặc đoạn văn khác Giữa cặp thẻ này
có thể là đoạn văn bản hoặc hình ảnh được gọi là phần hiển thị Đường dẫn chỉ ra nơi chuyển đến khi liên kết (phần hiển thị) được nhấn gọi là phần ẩn
2.2.3 HTML FORMS và các thành phần điều khiển:
Để cho phép giao tiếp giữa client (trình duyệt) và Web server (như IIS) tốt hơn, HTML chuẩn được thêm vào các Form và các thành phần điều khiển Một Form là phần trang Web mà ở đó người dùng có thể nhập thông tin (nhập văn bản, chọn lựa tuỳ chọn từ danh sách thả xuống, chọn hộp kiểm hoặc nút
Trang 19radio,…) hoặc thực hiện đặt hàng trên mạng hay cho phép người dùng chỉ ra các điều kiện lựa chọn cho các thông tin nhận được từ CSDL,… Những thành phần điều khiển này dùng thể hiện hoặc chấp nhận thông tin từ Form Giá trị của các thành phần điều khiển này được gửi đến Server thông qua trình duyệt, chúng được xử lý bởi ứng dụng hoặc script (ngôn ngữ kịch bản) trên Web Server HTML cung cấp các thành phần điều khiển sau:
+ Text: là một hộp văn bản chấp nhận một dòng văn bản duy nhất
+ Text area: là một hộp văn bản chấp nhận dòng văn bản
+ Radio: Là nút hình tròn có thể chọn hoặc không để chỉ ra sự lựa chọn một trong số nhiều tuỳ chọn
+ Check Box: Là hộp kiểm tra có thể chọn hoặc không để chỉ ra một sự lựa chọn
+ Password: Là hộp văn bản như text, nhưng không hiển thị ký tự như bạn nhập (chỉ hiển thị dấu *)
+ Select: Là một danh sách chọn lựa cho phép bạn chọn một hoặc nhiều giá trị
+ Button: Là nút nhấn thông thường
+ Submit: Là nút nhấn dùng để gửi thông tin từ Form tới Web Server + Reset: Là nút nhấn để xoá hết thông tin bạn đã nhập trong các thành phần điều khiển nhận dữ liệu
Trước khi đặt bất kỳ thành phần điều khiển nào lên trang WEB, bạn phải tạo một Form bằng cặp thẻ <FORM></FORM>
Tất cả thành phần điều khiển phải nằm trong cặp thẻ này:
<FORM NAME = "myForm">
(Thành phần điều khiển đặt ở đây)
</FORM>
Trang 20- Name: Là thuộc tính tên của Form, dùng để nhận ra Form Thuộc tính này là tuỳ chọn
Ngoài ra, thẻ <FORM> còn chấp nhận thuộc tính METHOD và ACTION
để quyết định cách dữ liệu được chuyển về Web Server và cách dữ liệu sẽ được
xử lý
+ Thuộc tính METHOD có hai giá trị là POST và GET
+ Thuộc tính ACTION chỉ ra trang đích chứa mã xử lý dữ liệu trên Web Server (Ngôn ngữ kịch bản phía trình chủ - ASP)
2.2.4 Công cụ chuyên để thiết kế trang Web
sổ Window explore vào thẳng site của mình
Trong thuật ngữ Frontpage, một Web là một tổ hợp các trang mà bạn có thể tạo nên trong máy tính của mình
Trong Frontpage ta sử dụng giao diện đồ hoạ của Frontpage explore để tạo, xem và quản trị Frontpage của mình và chuyển chúng xen máy tính hoặc mạng, người ta sử dụng Frontpage để xây dựng Web và chủ yếu là đi sâu vào thiết kế giao diện
Trang 212.3 Ngôn ngữ lập trình ASP
2.3.1 ASP là gì?
a Khái niệm ASP:
"Asp được viết tắt từ Active Server Page ASP là một chương trình chạy trên IIS IIS được viết tắt từ Internet information Services, đây là một Web Server do Microsoft phát triển" - Theo Nguyễn Thiên Bằng (chủ biên)- Phương Lan (hiệu đính) Giáo trình nhập môn ASP trang 97
Một trang ASP chứa ngôn ngữ kịch bản phía trình chủ và có thể chứa HTML Các trang ASP cũng có thể xuất kịch bản phía trình khách về cho trình duyệt, cũng có thể trộn mã ngôn ngữ kịch bản phía trình khách và trình chủ với HTML
b Tập tin ASP chứa gì?
Tập tin ASP Giống như một tập tin HTML, hơn nữa nó có thể chứa văn bản, HTML, XML, và mã kịch bản Mã kịch bản được thực thi trên Web Server
và kết quả thuần HTML được trả về cho trình duyệt trên máy khách Tập tin ASP có phần mở rộng là: asp
2.3.2 ASP có thể làm gì ?
- Có thể soạn thảo, thay đổi hoặc thêm nội dung vào trang Web rất linh động
- Đáp ứng truy vấn của người dùng hoặc dữ liệu được gửi từ HTML form
- Có thể truy cập bất kỳ dữ liệu, hoặc CSDL nào và trả kết quả về cho trình duyệt
- Tuỳ chỉnh trang Web cho phù hợp với từng đối tượng người dùng
- ASP cung cấp khả năng bảo mật vì mã ASP không thể xem được từ trình duyệt
- Vì tập tin ASP được trả về như một tập tin HTML nên người dùng có thể xem trong bất cứ trình duyệt nào (Internet Explorer, Firefox, Opera, )
Trang 22Nếu lập trình ASP tốt có thể giảm thiểu lưu thông mạng
2.3.3 Các khái niệm cơ bản về ASP
a Thành phần cơ bản của một trang ASP
Một trang ASP thông thường có 4 phần:
- Dữ liệu văn bản
- Các tag HTML
- Các đoạn mã chạy phía Client nằm trong đoạn tag <Script></Script>
- Các đoạn mã ASP được chạy phía Server nằm trong tag <% và %> Như vậy, một trang ASP là trang HTML được nhúng thêm phần xử lý viết bằng mã HTML
Ta có thể sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau để viết trang ASP vì thế ta phải chỉ định Script nào được dùng trong trang bằng khai báo
<% LANGUAGE = Script language %> ở đầu trang
Ví dụ: Trang ASP sau là sự kết hợp giữa các đoạn ASP; HTML, JavaScript
Đoạn chương trình sau xuất ra màn hình câu thông báo "Goodmorning" khi thời gian hệ thống ở thời điểm buổi sáng, còn thời gian buổi chiều thì in ra câu "Hello"
Trang 23Ví dụ: - Xuất chuỗi: Response.write "Learn ASP"
- Xuất kiểu số: Response.write 5
- Xuất giá trị của biến a: Response.write a
Để nhập dữ liệu ta dùng phương thức Request
2.3.4 Các đối tượng cơ bản trong ASP
Đối tượng là khái niệm trừu tượng nói về một "vật thể" (hay một structure)
có khả năng lưu trữ dữ liệu và thao tác trên các dữ liệu để phục vụ cho một công việc nào đó Trong đối tượng người ta gọi các dữ liệu là các thuộc tính còn các thao tác là các phương thức Các đối tượng trong ASP cho phép người lập trình giao tiếp, tương tác với cả Server lẫn Client Trong ASP có 2 loại đối tượng:
Trang 24- Đối tượng cơ bản: Application, Session, Server, Request, Response, Objectcontext
- Các thành phần (Component) xây dựng sẵn: Dictionnary, FileSystemObject, Adrotator,…
a Đối tượng Request
Khi người dùng yêu cầu một trang hoặc một biểu mẫu (Form) đối tượng Request sẽ lưu trữ và cung cấp tất cả các thông tin từ trình duyệt Web (browser)
và gửi đến Server, đối tượng này được xem là đối tượng nhận dữ liệu
Các tập hợp, các thuộc tính, các phương thức (Method) của đối tượng này được mô tả như sau:
a.1 Các tập hợp (collection) của đối tượng Request:
Đối tượng Request cung cấp 5 collection cho phép chúng ta xuất tất cả các loại thông tin về yêu cầu của browser đối với server Các collection của đối tượng Request bao gồm:
Client Cirtificate, Cookies, Form, Query string, Server Variable
Các thành phần của các tệp đều là giá trị chỉ đọc ( Read - Only)
a.2 Thuộc tính (Property) của đối tượng Request
Đối tượng Request chỉ có một thuộc tính duy nhất đó là TotalBytes Thuộc tính TatalBytes là thuộc tính chỉ đọc, nó trả về số byte dữ liệu mà người dùng chuyển lên Server
a.3 Phương thức (Method) của tag Request
Đối tượng Request cũng chỉ có một phương thức đó là Binary read phương thức Binary read được dùng để lấy dữ liệu đã được client post lên server
b Đối tượng Response:
Trang 25Khi Client có yêu cầu một trang từ Server thì server có nhiệm vụ thực thi các đoạn VBScript trong trang ASP để tạo ra tập tin HTML rồi sau đó gửi cho Client Đối tượng Response sẽ đảm nhiệm việc chuyển kết quả từ server về cho client
b.1 Các tập hợp (Collection) của đối tượng Response
Tập hợp của đối tượng Response chỉ có cookies Đối tượng Response có thể xác lập giá trị của bất kỳ cookies nào mà ta muốn đặt trên hệ thống của client
b.2 Thuộc tính (Property) của Đối tượng Response
* Charset:
Đây là thuộc tính kiểu chuỗi, thuộc tính này ghép tên của tập ký tự vào vùng context - type của đối tượng Response Thuộc tính này chấp nhận bất cứ chuỗi ký tự nào, bất chấp chuỗi đi đúng hay sai Giá trị mặc định là: ISO - LATIN - 1
Cú pháp: Response Charset (Charset name )
Ví dụ: <% Response Charset = "ISO - 8859 - 1"%>
* Content Type:
Đây là thuộc tính kiểu chuỗi, thuộc tính này đặt kiểu hiển thị của nội dung HTTP cho đối tượng Response Nếu một trang ASP không chủ định thuộc tính
Content Type thì Content Type mặc định là: Content Type:text/html
Cú pháp: Response Content Type [=Content Type]
Một vài giá trị Content Type thông dụng:
<% Response Content Type = " text/html "%>
<% Response Content Type = " image/GIF "%>
<% Response Content Type = " image/JPEG "%>
<% Response Content Type = " text/plain "%>
Trang 26Tương tự như thuộc tính expires, thuộc tính expires Absolute đặt một ngày
và giờ xác định mà một trang được cất giữ trên browser sẽ hết hạn
Nếu ta chỉ định thời gian mà không chỉ định ngày cụ thể thì trang sẽ hết hạn tại giờ chỉ định vào ngày mà seript được thực thi Còn nếu ta chỉ định ngày
mà không chỉ định thời giờ thì trang được browser cất giữ sẽ bị hết hạn vào lúc nửa đêm của ngày chỉ định
Cú pháp: Response ExpiresAbsolute[=[ date][time]]
Ví dụ: Đoạn mã sau đây chỉ định rằng trang sẽ hết hạn vào lúc 14h00 chiều ngày 11tháng 10 năm 2006
<%
Response ExpiresAbsolute = #october11, 2006 16:00:00#
%>
Trang 272.3.5 ASP làm việc như thế nào?
* Trang HTML tĩnh:
* Trang Web động (Dynamic):
2.3.6 Giới thiệu về IIS - Internet Information Server
Trang 28- Tạo các giao dịch thương mại điện tử trên Internet (quá trình giao dịch, đặt hàng,…)
- Cho phép người dùng từ xa có thể truy xuất CSDL (Data Base Remote Access - DBRA)
c IIS hoạt động như thế nào?
Web về cơ bản thực sự là một hệ thống các yêu cầu ( Request) và đáp ứng (Response) IIS phản hồi lại các yêu cầu đòi thông tin của Web Browser IIS lắng nghe các yêu cầu từ phía user trên một mạng sử dụng WWW
Việc thiết kế một trang Web đòi hỏi phải có nhiều khả năng về mỹ thuật cũng như hiểu biết sâu sắc về ngôn ngữ lập trình tạo Web Tuy nhiên cũng có thể đưa ra một quá trình thiết kế để có thể giúp người tạo Web tăng khả năng tạo ra các trang Web ấn tượng và hiệu quả Việc phân tích thiết kế sẽ giúp cho những người không được đào tạo bài bản, thực hành nhiều phần nào hiểu được cách thiết kế trang web
2.4 Các bước để thiết kế một trang web
2.4.1 Phân tích người dùng và tự đánh giá chính mình
Một số thao tác cơ bản khi tiến hành bước này đó là:
- Mô tả mục tiêu: Nghĩa là người lập web cần xác định được mục đích, mục tiêu cần đưa ra Mục tiêu phải rõ ràng, ngắn gọn tránh chi tiết, rườm rà
Đây là một công việc quan trọng đối với người lập web
Trang 29- Xác định vấn đề giải quyết: Trên cơ sở mục tiêu đưa ra, người lập web đưa ra các vấn đề cần giải quyết để đạt được mục tiêu, tóm tắt phương pháp giải quyết,
- Xác định người dùng: Quá trình xác định người dùng giúp cho người lập web có được một số thông tin giúp cho việc phân tích và xử lý sau này
- Liệt kê nguồn tài nguyên: Người lập web xác định được mình đã có những gì để hoàn thành công việc về mặt trang thiết bị, công cụ phần mềm, và
cả về trình độ chuyên môn? Bạn có thể làm được những gì và nhờ giúp đỡ những
gì
- Xây dựng bảng tiến độ thực hiện: Xác định thời gian để hoàn thành sản phẩm với các tài nguyên sắn có, thời gian cần để thực hiện từng bước của quá trình,…
2.4.2 Thiết kế các chức năng và cấu trúc trang
Có thể thực hiện một số thao tác sau:
- Chọn cách làm việc sao cho có thể phác thảo thiết kế một cách thoải mái: Bạn có thể dùng bút vẽ sơ đồ trên giấy hay có thể dùng các chương trình của máy tính để phác thảo Tuy nhiên việc sử dụng các chương trình máy tính có thể làm hạn chế năng suất làm việc vì các công cụ có sẵn thường bị giới hạn
- Việc thiết kế nên đi từ trừu tượng đến cụ thể: Việc đưa ra các chi tiết ngay từ đầu có thể sẽ làm mất đi tổng quan của vấn đề Phải xác định khung của chức năng trước rồi sau mới lựa chọn nội dung để điền vào
2.4.3 Tìm cách trình bày hiệu quả và ấn tượng
Để đạt được hiệu quả cao người lập web cần phải tìm cách trình bày sao cho trang web có ấn tượng và hiệu quả Nó không chỉ được đánh giá là xem như thế nào mà nó còn có đóng góp như thế nào vào quá trình đạt mục tiêu ban đầu
Để tìm ra cách trình bày tốt nhất bạn có thể tham khảo một số vấn đề sau:
Trang 30- Đưa ra nhiều cách trình bày khác nhau Luôn quan sát và sưu tập cách trình bày tốt, đã được nhiều người công nhận hay cách trình bày mà ta thích
- Luôn cập nhật các thay đổi về công nghệ Web Ta nên luôn có các tài liệu mới nhất về HTML cũng như các thông tin về dạng tập tin và các thiết bị mới được hỗ trợ bởi các nhà sản xuất
- Luôn ghi nhớ: Đối tượng đánh giá cách trình bày là người dùng chứ không phải là bạn
- Thử càng nhiều giải pháp càng tốt và hay ghi nhận các nhận xét của các nhà cộng tác để hoàn chỉnh thiết kế
2.4.4 Xây dựng nội dung
Là một người thiết kế trang web, bạn có thể không chịu trách nhiệm tạo nội dung (như văn bản, hình ảnh, âm thanh,…) Vì việc tạo nội dung thường không thể đợi đến lúc thiết kế hình thành, bạn có thể tiến hành các bước sau để đảm bảo rằng nội dung và thiết kế của bạn là tương thích với nhau:
- Sửa đổi hiệu chỉnh các nội dung đã có hoặc các nội dung mà ta có quyền sửa
- Xin cố vấn và hỗ trợ của các chuyên gia đối với các chủ đề ngoài lĩnh vực chuyên môn
- Thiết lập đường dây liên lạc giữa người thiết kế và những người lập nội dung Đưa ra các quy ước, đặc tả cho nội dung như: Môi trường hỗ trợ, định dạng tập tin, cách nén âm thanh trong nội dung
- Đảm bảo càng nhiều thông tin càng tốt Cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa văn bản và đồ hoạ, hình ảnh âm thanh trong nội dung
- Tạo một cấu trúc cây thư mục hợp lý cho nội dung và thường xuyên giao lưu để đảm bảo an toàn
Trang 312.4.5 Thiết kế và kiểm tra khung trang Web
Quá trình tiến hành xây dựng nội dung, đây là lúc kiểm tra các chức năng
và cấu trúc được xây dựng trong bước 2 xem nó hoạt động như thế nào Đây là bước ta chuyển các mô tả về chức năng, về thiết kế ban đầu sang một thể hiện các trang Web cụ thể Sau đây là một số hướng dẫn để thực hiện các bước này:
- Liên lạc với người quản trị SERVER để xem việc tổ chức các tệp tin như thế nào và đặc tả nào có sẵn Cho người quản trị biết các loại tập tin nào mà ta đang sử dụng chưa được hỗ trợ
- Sử dụng các liên kết trong các trang tới các cấu trúc thư mục tương tự như cấu trúc thư mục trên SERVER
- Ghi nhận các ảnh hưởng được dùng trong việc truy xuất các trang thông thường để đưa vào CACHE Bằng cách này ta có thể tăng tốc độ truy xuất các trang
Thử nghiệm trên SERVER để xem nó hoạt động đúng thiết kế không
2.4.6 Đưa nội dung vào Web Site
- Trong trường hợp tốt nhất các khung dành cho văn bản và đồ hoạ sẽ được điền vào bằng nội dung thực sự của nó một cách dễ dàng và ăn khớp
Tuy nhiên điều này hiếm khi xảy ra vì một lẽ hình ảnh và văn bản đưa vào không vừa với khung thiết kế dành cho nó như dự định ban đầu, cần phải có những thao tác nữa mới có thể thực hiện xong chuyện này
Để đưa nội dung vào thực sự đơn giản và ăn khớp cần phải giữ mối liên lạc tốt giữa các thành viên liên quan như: Người thiết kế, người minh hoạ, người viết nội dung, người biên tập, người quản trị SERVER… Một số bước thực hiện thao tác này đó là:
Trang 32- Trước tiên cho các trang hoạt động cục bộ và riêng lẻ, kiểm tra hiệu chỉnh, đánh giá …
- Làm việc theo Module - nghĩa là cho nhóm các trang liên quan nhau hoạt động trôi chảy trước khi mở rộng ra
Đừng ngại thay đổi một quyết định trước đó Có thể ta đã giả định sai hoặc là công nghệ đã thay đổi vào lúc đưa nội dung vào
2.4.7 Kiểm tra và đánh giá
Các trang hiệu quả nhất là kết quả việc thiết kế và đánh giá cẩn thận Một Website giá trị nửa triệu USD có thể đến 70% tổng chi phí cho việc thiết kế và đánh giá Các bước để thực hiện việc này là đó là:
- Kiểm tra hoạt động của các liên kết ngoại Không có gì tệ hơn là các liên kết với các trang bên ngoài không còn tồn tại nữa, hoặc là được chuyển đến nơi khác, hoặc không phù hợp nữa
- Thử các trang với nhiều trình duyệt khác nhau Thực hiện điều này để kiểm tra tính tương thích của trang với các trình duyệt, xem thử thiết kế trang đã tận dụng hết các hỗ trợ của trình duyệt chưa,
- Thử các trang với nhiều cách kết nối khác nhau Thử xem việc hiển thị các trang có ảnh hởng như thế nào nếu có kết nối bằng mạng cục bộ, đường kết nối tốc độ cao, đường điện thoại,
- Thử các trang với tình trạng tốc độ truy cập cao Nếu SERVER chạy tốt trong các giờ cao điểm thì những giờ khác có thể chấp nhận được
- Thử nhiều trang với nhiều dạng người dùng khác nhau Nếu trang của bạn đề cập về các mối quan tâm chung thì hãy tranh thủ thử trang web với đồng
sự, bạn bè, Hãy chú ý và quan sát Có thể bạn không cần thay đổi phiên bản của trang web nhưng bạn sẽ cần các thông tin và trang web liên tục được cập nhật hoá
Trang 33* Hệ quản trị sơ sở dữ liệu
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS - Data Base Management System) là 1
hệ thống làm việc trên các CSDL nhằm mục đích cung cấp cho người sử dụng và người quản trị một số kỹ năng khi làm việc với các CSDL
Hay nói một cách khác nó là một phần mềm đặc biệt cho phép khai thác một cách hợp lý về cơ sở dữ liệu hay là một phần mềm cho phép mô tả lưu trữ, thao tác xử lý các tập hợp dữ liệu tạo nên cơ sở dữ liệu, đồng thời bảo đảm an toàn bí mật của dữ liệu trong môi trường nhiều người sử dụng
Trang 343.2 Các bộ phận hợp thành của một hệ thống:
+ Bao gồm: Người, phương pháp, phương tiện tham gia và trao đổi, thu thập, xử
lý thông tin, không kể con người thì hệ thống thông tin chỉ còn 2 thành phần
3.3 Các giai đoạn phân tích thiết kế
Phân tích thiết kế là một quá trình nhận thức và mô tả hệ thống Nó được chia thành 6 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Nghiên cứu sự khả thi và khai trương đề án, tiến hành phê
phán hệ thống cũ, làm xuất hiện mục tiêu của đề án, giới hạn phạm vị của đề án, lập kế hoạch triển khai đề án
- Giai đoạn 2: Phân tích hệ thống
Phân tích một cách sâu sắc hơn các chức năng, các dữ liệu của hệ thống cũ
để có thể đưa ra mô tả hệ thống mới
- Giai đoạn 3: Giai đoạn thiết kế đại thể
Đi từ mô tả khái niệm đến mô tả vật lý Các công việc cụ thể là xác định vai trò của máy tính, xác định được các hệ thống con của máy tính
- Giai đoạn 4: Thiết kế chi tiết
Trang 35Các công việc trong giai đoạn này bao gồm:
+ Thiết kế các thủ tục
+ Thiết kế giao diện người máy
+ Thiết kế các kiểm soát
+ Thiết kế cơ sở dữ liệu
+Thiết kế chương trình
- Giai đoạn 5: Cài đặt và lập trình
- Giai đoạn 6: Khai thác và bảo trì
+ Biểu diễn thông tin: Dùng cặp đoạn thẳng song song
+ Kho dữ liệu chỉ lưu trữ thông tin chứ không làm thay đổi thông tin Giữa các kho không có trao đổi thông tin
- Khái niệm tác nhân ngoài:
Là một người, một nhóm người hay một tổ chức ở bên ngoài hệ thống nhưng có trao đổi thông tin với hệ thống
+ Tên của tác nhân ngoài là một danh từ
+ Biểu diễn: Có thể dùng một hình chữ nhật để biểu diễn
Giữa hai tác nhân ngoài không được trao đổi thông tin với nhau
Chức năng: Trong một sơ đồ:
Hình tròn được dùng để chỉ ra một chức năng hoặc một tiến trình Một đặc tính của chức năng là biến đổi thông tin Tức là nó làm thay đổi thông tin từ đầu vào theo một cách nào đó, như tổ chức lại thông tin, bổ xung thông tin hoặc tạo
ra thông tin mới
- Dòng dữ liệu: Là việc chuyển thông tin vào hoặc ra khỏi một tiến trình Nó được chỉ ra trên sơ đồ bằng một đường kẻ có mũi tên ít nhất ở một đầu Mũi tên chỉ ra hướng của dòng thông tin
Trang 36CHƯƠNG 4 THIẾT KẾ WEBSITE
4.1 KHẢO SÁT HỆ THỐNG
- Yêu cầu của bài toán là: Xây dựng một cửa hàng bán máy tính trên mạng
internet, là quá trình xử lý bán hàng giữa cửa hàng với khách hàng mà ở đây khách hàng là những người sử dụng internet, chúng ta có thể hiểu bán hàng ở đây cũng gần giống như bán hàng ở cửa hàng, công ty máy tính nhưng có khác là
ở đây khác hàng là gián tiếp mua hàng với công ty Vậy nhiệm vụ của chúng ta
đề ra ở đây là phải xây dựng một hệ thống cửa hàng sao cho đáp ứng đầy đủ các nhu cầu do khách hàng dặt ra
- Quá trình hoạt động của cửa hàng trên Internet bao gồm ba hoạt động chính:
+ Hoạt động của khách hàng
+ Hoạt động của nhà quản lý
+ Hoạt động của nhà cung cấp
Tuy nhiên trong phần bán hàng ta chỉ quan tâm đến hoạt động chính: Hoạt động của khách hàng, hoạt động của nhà quản lý đối với khách hàng và thiết bị
+ Hoạt động của khác hàng:
Một khách hàng khi thăm quan cửa hàng họ sẽ đặt vấn đề cửa hàng bán những loại mặt hàng gì, thông tin đầy đủ về những thiết bị được bán, giá cả và hình thức thanh toán
Do đó để đáp ứng những yêu cầu tối thiểu trên thì cửa hàng phải đảm bảo cung cấp những thông tin cần thiết, có giá trị hơn thế nữa là dễ thao tác Thiết bị khi bán phải có hình ảnh, giá cả, thông tin liên quan đến thiết bị Một số