1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang

67 383 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt là đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp Thu nhập bình quân toàn vùng đạt 4,7 triệu đồng/người/năm, tỉ lệ hộ nghèo cao Tỷ lệ hộ nghèo bình quân trong 5

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

TRẦN THANH LỊCH

GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO

HỘ NÔNG DÂN NGHÈO KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN

CHAM CHU TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

THÁI NGUYÊN - 2014

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

TRẦN THANH LỊCH

GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO

HỘ NÔNG DÂN NGHÈO KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN

CHAM CHU TỈNH TUYÊN QUANG

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 60.34.01.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ YẾN

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn

toàn trung thực, và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ một

công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã

được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng 6 năm 2014

Tác giả luận văn

Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn đối với Ban giám hiệu trường Đại học Kinh

tế và Quản trị kinh doanh, lãnh đạo Khoa Đào tạo Sau đại học trường Đại học Kinh

tế và Quản trị kinh doanh

Để có được kết quả này, tôi xin chân thành cảm ơn người đã nhiệt tình hướng dẫn tôi làm luận văn là Tiến sỹ Nguyễn Thị Yến – Giảng viên trường đại học kinh

tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên Luận văn này được hoàn thành không thể không nhắc tới sự giúp đỡ của các cán bộ lãnh đạo các Phòng Lao động, TB&XH, Phòng Nông nghiệp, Phòng Giáo dục - Đào tạo, Phòng Tài nguyên và môi trường, Chi cục Thống kê của hai huyện Hàm Yên và Chiêm Hóa đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho tôi trong việc thu thập số liệu, nghiên cứu địa bàn …

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của mọi người!

Thái Nguyên, ngày tháng 6 năm 2014

Tác giả luận văn

Trần Thanh Lịch

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH x

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng, nội dung và phạm vi nghiên cứu 2

4 Kết cấu của luận văn 3

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU NHẬP VÀ NGHÈO ĐÓI 4

1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.1 Lý luận về hộ nông dân 4

1.1.2 Lý luận về thu nhập 6

1.1.2.1 Các khái niệm cơ bản 6

1.1.2.2 Đặc điểm thu nhập của hộ gia đình 7

1.1.2.3 Nâng cao thu nhập 8

1.1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ nông dân 10

1.1.2.5 Những chỉ tiêu đánh giá thu nhập hộ nông dân 11

1.1.3 Một số vấn đề lý luận về nghèo đói 13

1.1.3.1 Khái niệm về nghèo đói 14

1.1.3.2 Các lý thuyết liên quan đến nghèo đói 14

1.1.3.3 Phương pháp xác định đối tượng nghèo: 18

1.1.3.4 Nguyên nhân của nghèo đói 18

1.2 Kinh nghiệm về nâng cao thu nhập cho hộ nghèo trên thế giới và ở Việt Nam 27

1.2.1 Nâng cao thu nhập cho hộ nghèo ở một số nước trên thế giới 27

1.2.2 Thu nhập của người dân vùng núi phía bắc Việt Nam 30

1.2.2.1 Thuận lợi 30

1.2.2.2 Khó khăn 32

1.3 Các công trình nghiên cứu mới đây về thu nhập và nâng cao thu nhập cho người dân miền núi ở Việt Nam 34

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 36

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 36

2.2 Phương pháp nghiên cứu 36

2.2.1 Phương pháp tiếp cận 36

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 37

2.2.2.1 Phương pháp điều tra chọn mẫu 37

2.2.2.2 Xác định chuẩn nghèo 37

2.2.2.3 Mô hình kinh tế lượng 37

Chương 3: THỰC TRẠNG THU NHẬP CỦA HỘ NÔNG DÂN NGHÈO Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN CHAM CHU, TỈNH TUYÊN QUANG 40

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu- khu bảo tồn thiên nhiên cham chu tỉnh Tuyên Quang 40

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 40

3.1.1.1 Vị trí địa lý 40

3.1.1.2 Địa hình 41

3.1.1.3 Điều kiện thời tiết, khí hậu, thuỷ văn 42

3.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên 42

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 43

3.1.2.1.Tình hình dân sinh-xã hội 43

3.1.2.2 Thực trạng các ngành kinh tế chủ yếu 49

3.1.3 Đánh giá chung 52

3.1.3.1 Thuận lợi 52

3.1.3.2 Khó khăn 53

3.2 Thực trạng về thu nhập của hộ nông dân nghèo thuộc khu bảo tồn thiên nhiên cham chu, tỉnh Tuyên Quang 53

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3.2.1 Một số đặc điểm cơ bản về hộ nông dân đã điều tra tại khu bảo tồn thiên

nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang 53

3.2.1.1 Đặc điểm của chủ hộ 53

3.2.1.2 Điều kiện sản xuất của các hộ điều tra 54

3.2.1.3 Thực trạng sản xuất của các hộ điều tra 55

3.2.2 Thực trạng về thu nhập của hộ nông dân nghèo thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang 61

3.2.2.1 Thu và cơ cấu các khoản thu 61

3.2.2.2 Chi và cơ cấu các khoản chi của hộ Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang năm 2013 73

3.2.2.3 Chi tiêu và cơ cấu chi tiêu cho đời sống của các nhóm hộ Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang năm 2013 79

3.2.2.4 Tiết kiệm của nhóm hộ thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang năm 2013 82

3.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân nghèo thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang 84

3.2.3.1 Mô tả dữ liệu điều tra ở khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang 84

3.2.3.2 Kết quả phân tích hồi quy 92

Chương 4: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN NGHÈO KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN CHAM CHU TỈNH TUYÊN QUANG 97

4.1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển 97

4.1.1 Quan điểm nâng cao thu nhập cho hộ dân 97

4.1.2 Mục tiêu phát triển kinh tế khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu 97

4.2 Giải pháp nhằm nâng cao thu nhập hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang 100

4.2.1 Diện tích đất hộ gia đình 101

4.2.2 Vấn đề đi làm xa 102

4.2.3 Vấn đề giáo dục và học vấn 103

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 4.2.4 Vấn đề làm nông của hộ gia đình 104

4.2.5 Số tiền vay 105

4.2.6 Hệ thống nông hộ và phát triển bền vững 106

4.2.7 Những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 107

KẾT LUẬN 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

PHỤ LỤC 112

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên

LĐTBXH : Lao động thương binh xã hội

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Tỷ lệ nghèo và khoảng cách nghèo (BCPTVN, 2013) 20

Bảng 1.2: Trình độ học vấn của người nghèo ở Việt Nam 22

Bảng 1.3: Nhân khẩu trong gia đình nhiều và số lao động có việc làm thấp 23

Bảng 1.4: Diện tích đất sử dụng theo dân tộc 25

Bảng 1.5: Chi tiêu công ở nông thôn và giảm nghèo 26

Bảng 3.1: Thành phần dân tộc sinh sống trong khu vực khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang 44

Bảng 3.2: Mật độ và dân số các xã thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu 45

Bảng 3.3: Lao động và phân bố lao động của các xã thuộc khu bảo tồnthiên nhiên Cham Chu 46

Bảng 3.4: Các loại đất đai trong khu vực khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu 49

Bảng 3.5: Thồng tin cơ bản về chủ hộ điều tra 53

Bảng 3.6: Đặc điểm về điều kiện sản xuất của các hộ điều tra năm 2012 54

Bảng 3.7: Tình hình sản xuất theo cơ cấu hộ thuộc các dân tộctrên địa bàn nghiên cứu 56

Bảng 3.8: Thực trạng chăn nuôi tại các hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang 57

Bảng 3.8a: Số liệu theo xã điều tra 57

Bảng 3.8b: Theo điều kiện kinh tế hộ 58

Bảng 3.8c: Theo ngành nghề sản xuất 58

Bảng 3.8d: Theo dân tộc 59

Bảng 3.9: Thực trạng tổng thu của hộ điều tra năm 2013 (tính bình quân 1 hộ) 63

Bảng 3.10: Thu và cơ cấu khoản thu từ nông nghiệp của các nhóm hộ 65

Bảng 3.11: Tầm quan trọng của các cây trồng đối với người dân nông thôn khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu - Tuyên Quang 2013 66

Bảng 3.12: Tầm quan trọng của các loại vật nuôi đối với hộ nông thôn nghèo ở khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu năm 2013 67

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Bảng 3.13: Thu và cơ cấu các khoản thu từ sản xuất lâm nghiệp các nhóm hộ

điều tra năm 2013 (tính bình quân 1 hộ) 67

Bảng 3.14: Tầm quan trọng của các loại cây trồng trong sản xuất lâm nghiệp 69

Bảng 3.15: Tầm quan trọng của các hoạt động phi nông nghiệp ở khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu - Tuyên Quang 2013 71

Bảng 3.16: Tầm quan trọng của các nguồn thu nhập đối với hộ nông dân khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu - Tuyên Quang 72

Bảng 3.17: Chi phí sản xuất nông nghiệp bình quân 1 hộ Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu 2013 75

Bảng 3.18: Thực trạng chi tiêu của hộ điều tra năm 2013 81

Bảng 3.19: Thực trạng tiết kiệm của hộ nông dân nghèo Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu năm 2013 (tính bình quân 1 hộ) 82

Bảng 3.20: Mô hình Logit về nghèo ở khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chutỉnh Tuyên Quang 93

Bảng 3.21: Ước lượng xác suất nghèo theo tác động biên từng yếu tố 94

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1 Tỷ lệ hộ nghèo theo thành phần dân tộc 85

Hình 3.2 Làm nông và thành phần dân tộc của chủ hộ 86

Hình 3.3 Trình độ học vấn và giới tính của chủ hộ 86

Hình 3.4 Tỷ lệ hộ nghèo phân theo giới tính chủ hộ 87

Hình 3.5 Tỷ lệ học vấn của chủ hộ trong mẫu điều tra 87

Hình 3.6 Số con và trình độ học vấn của chủ hộ 88

Hình 3.7 Số người phụ thuộc và tình trạng của hộ gia đình 88

Hình 3.8 Số con và tình trạng của hộ gia đình 89

Hình 3.9 Làm nông và tình trạng của hộ gia đình 89

Hình 3.10 Số con và việc làm của chủ hộ 90

Hình 3.11 Đi làm xa và tình trạng của hộ gia đình 90

Hình 3.12 Tình trạng hộ gia đình và sở hữu đất 91

Hình 3.13 Tình trạng hộ gia đình và có đường ô tô 91

Hình 3.14 Vốn vay và tình trạng của hộ g ia đình 92

Hình 4.1 Các nhân tố Môi trường và hệ thống Nông hộ 107

Trang 7

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Theo số liệu thống kê của 4 cuộc điều tra hộ VLSS (điều tra mức sống dân

cư) 1993, VLSS 1998, VLSS 2002 và VLSS 2012 đã cho thấy rằng Việt Nam đã đạt

được thành tích xuất sắc trong việc nâng cao thu nhập cho hộ trong thời kỳ 1993- 2012

Nếu như năm 1993, tỷ lệ nghèo tính theo chi tiêu là 58,1% đến năm 2012 chỉ còn

khoảng 10%, một sự cắt giảm 48,1 điểm phần trăm trong vòng 19 năm Tỷ lệ nghèo

năm 2012 chỉ bằng 1/5 của năm 1993 là thành tựu nổi bật nếu đem so sánh với mục

tiêu thiên niên kỷ đầu tiên của Liên hiệp quốc là giảm một nửa tỷ lệ người cực nghèo,

trong một khoảng thời gian dài hơn từ năm 1990 đến năm 2015

Mặc dù thu nhập được cải thiện đáng kể, nhưng người dân nông thôn vẫn

chiếm đa số trong cộng đồng người nghèo tại Việt Nam Sự chênh lệch về tỷ lệ

nghèo giữa thành thị và nông thôn là lớn và kéo dài trong suốt 4 cuộc khảo sát mặc

dù tỷ lệ nghèo nông thôn đã giảm nhanh chóng kể từ năm 1998 Đến năm 2012, tỷ

lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a bình quân khoảng 45%, trong

khi tỷ lệ hộ nghèo nông thôn còn 16 % (giảm từ mức tỷ lệ cao 66% năm 1993),

tương đương với 14,2 triệu người dân trong tổng số 60 triệu dân nông thôn vẫn sống

trong cảnh nghèo khó với mức sống thấp Điều này tương phản với tỷ lệ dân nghèo

thành thị giảm từ mức 25% năm 1993 xuống chỉ còn khoảng 3 % năm 2012, do vậy

nâng cao thu nhập cho hộ nghèo chủ yếu chỉ còn là vấn đề lớn ở khu vực nông thôn

Khu bảo tồn thiên nhiên cham chu có Vị trí địa lý: 22o

04' - 22o21' vĩ độ Bắc,104o53' - 105o14' kinh độ Đông, nằm trong địa giới hành chính của 5 xã: Trung

Hà, Hà Lang, Hòa phú (huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang), Phù Lưu, Yên

Thuận (Huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang)

Tổng diện tích tự nhiên khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu là 40.274,1 ha,

trong đó diện tích rừng đặc dụng là 15.262,3 ha, diện tích rừng đặc dụng nằm trên

địa bàn huyện Hàm Yên là 6.168,4, và diện tích rừng đặc dụng nằm trên địa bàn

huyện Chiêm Hóa là 9.093,9 ha, với hàng nghìn loài thực vật, động vật quý hiếm

Cũng chính vì sự phong phú của đa dạng sinh học dẫn đến yêu cầu bảo tồn rất cao,

điều này làm cho thu nhập của các hộ nông dân sống trong khu bảo tồn vốn chỉ

quen sống dựa vào các nguồn thu từ rừng bị giảm đi rất nhiều Trong những năm

qua, bằng sự nỗ lực của bản thân các hộ gia đình kết hợp với các chương trình hỗ

trợ nhằm nâng cao thu nhập của Nhà nước, thu nhập của hộ nông dân khu bảo tồn

thiên nhiên Cham chu đã có những cải thiện đáng kể Tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các phương thức tổ chức sản xuất mới, các mô hình sản xuất mới ra đời và phát triển với tốc độ khá cao trên thực tế đã mang lại những hiệu quả tích cực Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của vùng Đặc biệt là đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp (Thu nhập bình quân toàn vùng đạt 4,7 triệu đồng/người/năm), tỉ lệ hộ nghèo cao (Tỷ lệ hộ nghèo bình quân trong 5 xã thuộc khu bảo tồn là 60%), nhất là vùng đồng bào dân tộc, khu vực sống có điều kiện khó khăn, điều này đã phát sinh nhiều vấn

đề xã hội và môi trường bức xúc Trước những cơ hội và thách thức trong quá trình phát triển, để có thể thực hiện thành công mục tiêu thiên niên kỷ về vấn đề tăng thu nhập, giảm tỷ lệ nghèo đói, đặc biệt là tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho hộ nông dân ở khu bảo tồn thiên nhiên Cham chu cần phải có những giải pháp mang tính toàn diện và đột phá Chính vì lý do trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng thu nhập của hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang Qua đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang

3 Đối tượng, nội dung và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Thu nhập, các nguồn lực và cách thức sử dụng nguồn lực của hộ nông dân

nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang

3.2 Nội dung nghiên cứu

Đánh giá thực trạng thu nhập hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên

Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang Đưa ra một số giả pháp nhằm nâng cao thu nhập hộ

nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang

3.3 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Phân tích, đánh giá thu nhập hộ nông dân nghèo khu bảo tồn

thiên nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2010-2012

- Về Không gian: Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu - tỉnh Tuyên Quang

- Về thời gian: Thời gian nghiên cứu là giai đoạn 2010 - 2012

4 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Kết cấu luận văn

gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hộ nông dân và nâng cao thu nhập

hộ nông dân

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Chương 3: Thực trạng thu nhập hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên

Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang

Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập hộ nông dân nghèo

khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỘ NÔNG DÂN

VÀ NÂNG CAO THU NHẬP HỘ NÔNG DÂN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Lý luận về hộ nông dân

a Khái niệm hộ nông dân

Hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ bản trong nông nghiệp, ra đời rất sớm

trong lịch sử và tồn tại qua nhiều phương thức sản xuất, nhiều chế độ xã hội Sự bền vững, đặc điểm và vai trò của kinh tế hộ nông dân đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu

Hộ nông dân (nông hộ) là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế; các nguồn lực (đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động…) được góp thành vốn chung, cùng chung một ngân sách; cùng chung sống dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong hộ gia đình

Như vậy kinh tế hộ nông dân là một loại hình kinh tế đặc biệt, nó có thể thích ứng và tồn tại trong mọi phương thức sản xuất xã hội, sự khác biệt với các hình thức tổ chức sản xuất khác đó là sử dụng sức lao động gia đình là chính, chính đặc điểm này khiến cho kinh tế hộ nông dân tồn tại ngay khi khủng hoảng kinh

tế, các nhà tư sản và các doanh nghiệp có thể bị phá sản trong khi đó kinh tế hộ nông dân vẫn tồn tại

Từ những nghiên cứu trên chúng tôi thống nhất kinh tế hộ nông dân được khái quát trên các nội dung sau: Hộ gia đình nông dân là đơn vị xã hội có chung một cơ sở kinh tế Các nguồn lực đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động được góp thành vốn chung, có chung một ngân quỹ Cùng sống chung dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của thành viên trong gia đình và quyết định thuộc quyền của chủ hộ

b Những đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ nông dân Việt Nam

* Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế phổ biến của nông thôn vùng núi Việt Nam với hướng sản xuất chủ yếu là nông lâm nghiệp Hình thức tổ chức kinh tế này có những đặc trưng sau:

Trang 9

- Kinh tế hộ nông dân có lịch sử ra đời và phát triển lâu dài, có nhiều biến

đổi trong tổ chức và quản lý, có nhiều hình thức đa dạng, nhưng chủ yếu được tổ

chức ở quy mô gia đình, các hình thức của kinh tế hộ bao gồm:

- Trang trại gia đình nông, lâm nghiệp: lao động chủ yếu là lao động gia

đình, một phần sử dụng lao động của họ hàng, ít sử dụng lao động làm thuê, ngành

nghề sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, lâm nghiệp, được quản lý bởi chủ hộ

- Liên doanh: các hộ nông dân liên kết với trang trại hoặc đơn vị kinh doanh

khác thành một đơn vị thống nhất với tư cách pháp nhân thuộc hộ gia đình Hộ nông

dân gần nhà máy sẽ cung cấp nguồn nguyên liệu cho công ty, ví dụ công ty cổ phần

mía đường Sơn Dương (Tuyên Quang), Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp

Tân Thành (Hàm Yên, Tuyên Quang), công ty cổ phần chè Mỹ Lâm (Tuyên Quang)

theo mô hình này, hộ nông dân trong vùng là những vệ tinh cung cấp nguyên liệu

cho các công ty Đây là những hình thức liên kết tốt trong sản xuất, tận dụng

nguồn đất đai, nhân lực của hộ nông dân trong vùng

- Công ty cổ phần: Hình thức tổ chức sản xuất này nhằm tiến hành sản xuất,

chế biến, tiêu thụ với quy mô lớn

- Hình thức uỷ thác: chủ hộ có ruộng, có rừng, họ uỷ thác cho anh em, bà

con tiếp tục duy trì thay họ để sản xuất Có nhiều mô hình kiểu này hiện nay đang

xuất hiện ở vùng trung du và miền núi như trang trại cây ăn quả, trang trại nuôi cá,

trang trại vườn rừng ở vùng núi

- Các hộ nông, lâm nghiệp tự nguyện hợp tác với nhau trong sản xuất dịch vụ để

sản xuất kinh doanh: Các công ty Nông, Lâm nghiệp trực tiếp lo phần dịch vụ lâu dài

(Giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, kỹ thuật canh tác) và bao tiêu sản phẩm

- Hộ nông dân nông, lâm nghiệp sản xuất độc lập tự chủ: Các hộ này sử

dụng sức lao động gia đình tiến hành sản xuất và từ tích luỹ nhằm duy trì cuộc sống

của hộ ở vùng núi nước ta loại này hiện nay là phổ biến

* Kinh tế hộ nông dân miền núi phát triển theo hướng tổng hợp nhiều ngành,

mức độ chuyên môn hoá cao, nông lâm kết hợp tạo thành hệ thống bền vững

Do sản xuất nông lâm nghiệp chịu rủi ro nhiều, để chống lại rủi ro đó,

phòng những thời gian mất mùa, thiên tai hộ nông, lâm nghiệp phải phát triển theo

hướng tổng hợp nhiều ngành như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp Trong

từng ngành, hộ tiến hành trồng nhiều loại cây trồng, nuôi nhiều con gia súc khác

nhau với mục đích tự sản tự tiêu, song một mặt phòng khi giáp hạt, rải thời vụ, thời

tiết khó khăn gây mất mùa loại này thì còn có loại khác thay thế Trong hệ thống nông nghiệp của hộ ngoài ngành trồng trọt và chăn nuôi gia súc ở miền núi hộ còn

có tiềm năng đất rừng được gắn bó với nhau tạo thành mô hình kinh tế bền vững

* Hộ nông dân là một đơn vị độc lập tự chủ nhưng đồng thời là một đơn vị

xã hội với những đặc trưng riêng của nó

- Về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất: Ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt quý giá của hộ nông lâm nghiệp Hộ nông dân được sử dụng lâu dài ruộng, đất và chỉ như vậy hộ mới phát huy được quyền tự chủ trong sản xuất nông, lâm nghiệp, cùng với các quyền cho thuê sử dụng Do có nhiều tư liệu vừa phục vụ sản xuất vừa phục vụ đời sống nên hộ không thể tiến hành tính khấu hao một cách rõ ràng như các doanh nghiệp sản xuất khác

- Quan hệ quản lý: do làm chủ về tư liệu sản xuất nên hộ hoàn toàn có khả năng làm chủ về quản lý, quyền này thuộc về thế hệ bố mẹ trong gia đình

- Quan hệ phân phối: hộ nông dân sẽ tự mình định đoạt những sản phẩm do gia đình làm ra sau khi hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước Hộ dùng một phần thu nhập của mình để trang trải chi phí sản xuất, còn một phần hộ dùng để tiêu dùng đảm bảo đời sống cho gia đình, và phần còn lại đề tích luỹ

* Hộ nông dân không những là một đơn vị kinh tế mà còn là một đơn vị xã hội: Tính chất này là đặc trưng trong kinh tế hộ, bố mẹ có trách nhiệm với con cái đến lúc con cái trưởng thành, con cái có trách nhiệm với bố mẹ đến lúc tuổi già, đau

ốm, quá cố Quan hệ hàng xóm láng giềng, làng bản thông qua các thể chế, già làng, trưởng bản Có thể nói hộ nông, lâm nghiệp bị chi phối rất lớn bởi quan hệ này

* Phát triển kinh tế hộ nông dân miền núi theo hình thái nông, lâm nghiệp phù hợp với yêu cầu phòng hộ, bảo vệ môi trường từng vùng sinh thái Bởi vậy việc phát triển kinh tế hộ theo hình thái nông lâm nghiệp là yêu cầu khách quan và tất yếu trong việc bảo vệ môi trường sinh thái của vùng và của cả nước

1.1.2 Lý luận về thu nhập

1.1.2.1 Các khái niệm cơ bản

Khi nghiên cứu thu nhập của hộ nông dân chúng ta thường đề cập đến các khái niệm sau:

- Tổng thu của hộ là toàn bộ giá trị nhận được từ các nguồn thu bằng tiền

của hộ dân chủ yếu là từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, rừng, làm thuê, ngành nghề

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thủ công, dịch vụ, nguồn thu từ ngân sách và các nguồn thu khác trong một khoảng

thời gian thường tính là 1 năm

+ Các khoảng thu đó có thể bao gồm có thu hiện vật và thu bằng tiền, thu từ

sản xuất kinh doanh và thu ngoài sản xuất kinh doanh Thu trong sản xuất kinh

doanh là thu từ sản xuất, làm thuê, lương, Thu từ ngoài sản xuất kinh doanh là các

nguồn từ nước ngoài gửi về, từ anh em họ hàng, từ các hợp đồng kinh tế

- Tổng chi của hộ là toàn bộ chi phí bằng tiền mà hộ bỏ ra bao gồm chi cho

sản xuất và chi cho tiêu dùng

+ Chi sản xuất bao gồm chi phí vật chất và chi phí khác bằng tiền để sản

xuất ra sản phẩm (chi phí khả biến mua ở bên ngoài)

+ Chi tiêu dùng là các khoản chi ngoài sản xuất phục vụ cho đời sống hàng

ngày của hộ

- Thu nhập thực tế hay con gọi là thực thu của hộ: bằng tổng thu trừ đi các

chi phí cho sản xuất của hộ

- Tiết kiệm của hộ bằng tổng thu trừ đi toàn bộ chi phí bao gồm cả chi sản

xuất và chi tiêu dùng của hộ

Thu nhập thực tế mới phản ánh đúng và có liên quan đến đời sống của

người dân Nếu hộ dân thực hiện được hạch toán kinh tế hộ thì cần thiết tính được

thực thu hay thu nhập thực tế từ sản xuắt kinh doanh bằng cách:

Tổng thu - chi phí khả biến = Tổng thu nhập ròng

Tổng thu nhập ròng - tổng chi phí bất biến = Thu nhập thực tế

Thu nhập thực tế - trả lãi tiền vay = Thực kiếm

Thực kiếm + Thu từ các hoạt động khác = Thực thu của hộ

(Theo Đỗ Kim Chung (1997) [1]) 1.1.2.2 Đặc điểm thu nhập của hộ gia đình

Thu nhập của hộ nông dân miền núi luôn có một đặc trưng cơ bản là gắn

liền với đất và rừng Cùng với sự phát triển của xã hội, sự thay đổi về quyền sử

dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là tài nguyên đất, Thu nhập của các

hộ nông dân miền núi đã có những biến đổi và ngày càng có chiều hướng đa dạng

hơn Qua thực tế cho thấy, ngoài thu nhập từ đất canh tác nông nghiệp, đất lâm

nghiệp, đất rừng và sản phẩm rừng (săn bán, hái lượm), các hộ dân tộc còn có các

nguồn thu từ chăn nuôi, nghề phụ, làm thuê, bán hàng, hoạt động du lịch sinh thái,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

và mới nhất là thu từ dịch vụ môi trường rừng và thu từ chuyển nhượng chứng chỉ các bon

Đặc điểm thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số bao gồm các khoản thu nhập sau:

* Thu nhập từ nông nghiệp: Bao gồm thu từ trồng trọt (thu từ cây lương

thực, thực phẩm như lúa, ngô, khoai, sắn thu trồng cây ăn quả như vải nhẵn, hồng xiêm, bưởi, mít; thu từ trồng cây công nghiệp như chè, cà phê, sắn); thu từ chăn nuôi (trâu bò, lợn, gà, dê, )

* Thu nhập từ lâm nghiệp: bao gồm thu từ khai thác lâm sản và lâm sản

ngoài gỗ (gỗ, củi, tre nứa, song, mây, thu hái cây thuốc, ong rừng ), thu từ chặt gỗ lậu, thu từ săn bắt động vật và chim thú rừng; thu từ các hoạt động trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng, thu từ dịch vụ môi trường rừng và chuyển nhượng chứng chỉ các bon

* Thu nhập từ thuỷ sản bao gồm nuôi cá, ếch, ba ba, rắn

* Thu nhập phi nông nghiệp bao gồm:

Thu nhập từ ngành nghề thủ công truyền thống bao gồm sản phẩm mây tre đan, chế biến dược liệu, dệt vải

Thu nhập từ dịch vụ du lịch sinh thái bao gồm thu từ bàn hàng, phục vụ

ăn ở, phục vụ tham quan văn hoá truyến thống bản làng, hướng dẫn du lịch Thu nhập phi nông nghiệp còn lại bao gồm cắt tóc, làm thuê, thợ nề, thợ mộc, chạy xe ôm

Thu nhập khác bao gồm lương hưu, trợ cấp

1.1.2.3 Nâng cao thu nhập

a Nâng cao thu nhập bền vững

Nâng cao thu nhập là tăng tổng thu và thu nhập thực tế của hộ nông dân năm sau cao hơn năm trước

Theo tư tưởng của hội nghị Brundthand, thu nhập bền vững được xem là lượng thu nhập lớn nhất trong một khoảng thời gian nhất định mà nó không làm giảm khả năng thu nhập có thể có trong tương lai Khái niệm này không những thể hiện lượng thu nhập hiện hành mà còn có cả sự biến đổi tài nguyên Nếu tài nguyên gia tăng tức là thu nhập tăng, tài nguyên mất đi tức là thu nhập giảm Bản chất của khái niệm này đã được John Hicks phát biểu từ nửa thế kỷ trước: thu nhập bền vững

là giá trị lớn nhất của một người có thể tiêu thụ trong một khoảng thời gian mà

Trang 11

không bị suy giảm vào cuối thời gian đó Quản lý kinh tế hiệu quả đòi hỏi chính phủ

của mỗi nước cần biết lượng tài nguyên lớn nhất mà quốc gia đó có thể sử dụng

mà không làm cho đất nước nghèo đi

Thu nhập bền vững, theo chúng tôi đó là lượng thu nhập đảm bảo đủ mức

sống trung bình trở lên trong một thời gian tương đối dài của hộ gia đình và cộng

đồng dân cư mà không làm ảnh hưởng (suy giảm) đến việc bảo tồn và phát triển tài

nguyên đa dạng sinh học

b Các hướng nâng cao thu nhập

Tăng thu nhập có thể được chia thành các hợp phần sau:

- Tăng thu nhập từ trồng trọt:

+ Mở rộng dện tích: Có thể bằng khai hoang phục hoá hay giảm thời gian để

hoang của đất

+ Tăng hệ số sử dụng ruộng đất: tăng số vụ trong năm bằng cách áp dụng các

giống cây có thời gian sinh trưởng ngắn hơn, hay bằng cách tăng số vụ trong năm

+ Tăng năng suất: năng suất cao hơn thường được tính bằng sản lượng trên

một đơn vị diện tích gieo trồng, nâng cao năng suất đi liền với việc sử dụng nhiều

hơn hoặc hiệu quả hơn đầu vào hiện đại, kiểm soát nước tưới tốt hơn và/hoặc

phương pháp canh tác tốt hơn

+ Giá nông sản cao hơn: Điều này có thể có được nhờ sự tự do hoá thương mại,

hạ tầng nông thôn tốt hơn hoặc sự phối hợp tốt hơn giữa nông dân với người mua

- Đa dạng hoá cây trồng: ngay cả khi giá cả, năng suất cây trồng, hệ số sử

dụng ruộng đất và diện tích không thay đổi, người nông dân vẫn có thể tăng thu

nhập bằng cách chuyển đổi từ cây có giá trị kinh tế thấp (đặc trưng là cây lương

thực) sang cây cây trồng có giá trị cao hơn (đặc trưng là cây hàng hoá)

- Tăng thu nhập từ lâm nghiệp: đây là một nguồn thu quan trọng của người

dân vùng núi, thu từ lâm nghiệp là các giá trị thu được từ sản phẩm của rừng hoặc

thu được từ việc cho thuê môi trường rừng và chuyển nhượng chứng chỉ các bon

Điều quan trọng là thu nhập từ lâm nghiệp phải là thu nhập bền vững

- Tăng thu nhập từ dịch vụ: mô hình du lịch sinh thái rất có tương lai khi đời

sống người dân các khu vực thành thị ngày càng nâng cao

- Tăng thu nhập từ công nghiệp: một số ngành công nghiệp có thể phát triển ở

những vùng miền núi như: Công nghiệp chế biến nông, lâm sản, công nghiệp khai

khoáng (Tuy nhiên công nghiệp khai khoáng thường gây tác động xấu tới môi trường)

* Hướng nâng cao thu nhập có thể khái quát lại thành:

1 Nâng cao thu nhập theo hướng chuyển sang các hoạt động có giá trị cao hơn: là quá trình người nông dân chuyển từ cây trồng và hoạt động có giá trị thấp sang cây trồng và hoạt động có giá trị cao hơn Ba chỉ số đo lường là tỷ lệ hộ tham gia vào hoạt động phi trồng trọt, tỷ lệ hộ trồng cây phi lương thực và tỷ lệ diện tích dành cho cây phi lương thực

2 Tác động đến các yếu tố đầu vào nhằm tăng năng suất, sản lượng, chất lượng, tăng vụ, tiếp cận thị trường tăng giá cả nông sản hàng hóa

3 Đa dạng nguồn thu nhập: có nghĩa là số lượng nguồn thu nhập tăng lên làm cho tổng thu nhập tăng lên

Nâng cao thu nhập với ý nghĩa thương mại hóa: những năm gần đây hướng nâng cao thu nhập này càng được quan tâm và áp dụng rộng rãi Nâng cao thu nhập được xem như là quá trình chuyển từ sản xuất theo kiểu tự cung tự cấp các cây lương thực chủ yếu sang sản xuất nhiều loại hàng hóa nông sản hơn và hoạt động phi nông nghiệp Chúng ta có thể xác định được mức đo lường nâng cao thu nhập với ý nghĩa thương mại hóa

+ Thứ nhất: “Thương mại hóa cây trồng” được xác định bằng tỷ trọng giá trị cây trồng đem bán và trao đổi so với tổng giá trị cây trồng sản xuất được

+ Thứ hai: “Thương mại hóa nông nghiệp” được xác định bằng tỷ lệ sản phẩm nông nghiệp (gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp) đem bán

và trao đổi so với tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp sản xuất được

+ Thứ ba là “Thương mại hóa thu nhập” được xác định dưới dạng tổng thu nhập bằng tiền mặt so với tổng thu nhập của hộ

1.1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ nông dân

* Các yếu tố nguồn lực sản xuất của hộ

Hộ nông dân muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh nông lâm nghiệp thì vấn đề có tính quyết định trước tiên là các yếu tố sản xuất bao gồm đất đai, lao động, cơ sở vật chất như tư liệu sản xuất và tiền vốn, các yếu tố này quyết định kết quả sản xuất kinh doanh của từng hộ

- Đất đai là yếu tố sản xuất không thể thay thế trong hoạt động sản xuất nông

lâm nghiệp Nếu quỹ đất nhiều, chất đất tốt, cơ cấu đất đai phong phú thì càng có điều kiện sản xuất thuận lợi cho hộ nông dân lựa chọn phương thức canh tác phù hợp Nếu quỹ đất nhỏ, chất đất không màu mỡ sẽ gây trở ngại đến quá trình sản

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

xuất của hộ Đối với các hộ nông dân ở miền núi, đặc biệt là ở các khu bảo tồn thiên

nhiên, đất rừng có một vai trò cực kỳ quan trọng đối với thu nhập hợp pháp của

nông hộ, các hộ có diện tích rừng lớn có thể có thu nhập cao từ lâm sản ngoài gỗ, du

lịch sinh thái, cho thuê môi trường rừng, chuyển nhượng chứng chỉ các bon

- Lao động là yếu tố sản xuất không thể thiếu được của bất kỳ quá trình sản

xuất xã hội nào Khi nghiên cứu yếu tố lao động phải kể đến số lượng và chất lượng

của lao động Chất lượng lao động thể hiện ở trình độ học vấn để có khả năng tiếp

thu khoa học kỹ thuật, đó là kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm tập quán sản xuất được

tích luỹ từ lâu đời Số lượng lao động là yếu tố mặt lượng bao gồm số thành viên

trong gia đình hộ nông dân có khả năng lao động Nó chi phối đến kết quả sản

xuất của nông hộ, đặc biệt là những vùng chậm phát triển thì nhân tố lao động là

nhân tố cơ bản để tạo ra của cải vật chất cho gia đình ở vùng núi cao, vốn không

nhiều, đất đai rộng lao động sẽ là nguồn lực chính góp phần duy trì và phát triển

kinh tế nông hộ

- Vốn là điều kiện rất quan trọng trong sản xuất Vốn có thể mua những tư

liệu sản xuất khác cần thiết Đối với hộ nông dân miền núi, khái niệm sử dụng đồng

vốn sao cho có hiệu quả là khá xa lạ

- Tư liệu lao động là một yếu tố quan trọng, nếu có tư liệu lao động tốt, có

khả năng cơ giới hoá cao, người nông dân sẽ đỡ vất vả năng xuất lao động tăng, góp

phần tăng thu nhập đáng kể cho hộ Những năm gần đây các hộ có điều kiện cơ khí

hoá trang bị thêm như máy bơm, máy tuốt lúa … nhằm giảm nhẹ công việc nặng

nhọc cho mọi thành viên trong gia đình Một đặc điểm của tư liệu lao động trong

kinh tế hộ nông dân là tư liệu lao động phục vụ sản xuất nhiều khi dùng cho sinh

hoạt và ngược lại đặc biệt ở những vùng núi

* Yếu tố về trình độ sản xuất, trình độ văn hóa, tay nghề lao động, tập quán

canh tác, văn hóa của từng vùng cũng ảnh hưởng lớn đến thu nhập của hộ, tuy

không có tính chất quyết định và để thay đổi các yếu tố này nhằm nâng cao thu

nhập là rất khó song đây cũng là một hướng tác động nhằm giải quyết những khó

khăn mà hộ miền núi gặp phải

1.1.2.5 Những chỉ tiêu đánh giá thu nhập hộ nông dân

Kinh tế hộ nông dân mới được các nhà khoa học ở Việt Nam nghiên cứu

nhiều vào những năm 1980 trở lại đây Qua kết quả các công trình nghiên cứu của

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nhiều tác giả trong và ngoài nước, chúng tôi thấy có 2 cách tính chỉ tiêu đánh giá thu nhập hộ nông dân

* Cách tính thứ nhất: Do kinh tế hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, vì

vậy những chỉ tiêu dùng để đánh giá thu nhập của hộ có thể sử dụng trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) Với cách tính này các chỉ tiêu dùng để đánh giá kinh tế

hộ là:

Giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị sản phẩm của hộ nông dân sản xuất

ra tương ứng với giá thị trường ở thời điểm điều tra

Chi phí trung gian (IC): là toàn bộ những khoản chi phí vật chất mà hộ nông dân đã phải bỏ ra trong quá trình sản xuất

Giá trị gia tăng (VA): Là phần giá trị tăng thêm sau khi đã trừ đi chi phí trung gian

Thu nhập hỗn hợp (MI): Là một phần của giá trị tăng thêm sau khi trừ đi thuế và khấu hao tài sản cố định

Trên cơ sở đó sẽ xác định các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, đánh giá kinh tế hộ nông dân

* Cách tính thứ hai: Cơ sở khoa học của quan điểm này dựa trên lý thuyết

kinh tế hộ nông dân của Trayanốp (1925), của Đỗ Kim Chung [1], Kim Thị Dung [12], Các chỉ tiêu đó là:

Tổng thu: Là toàn bộ sản phẩm thu được của hộ tính theo giá thị trường ở thời điểm điều tra (kể cả bán và tiêu dùng)

Chi phí: Do không phải bất cứ yếu tố đầu vào của hộ đều được trao đổi trên thị trường nên chi phí là bao gồm chi phí vật chất và chi phí khác bằng tiền để sản xuất ra sản phẩm (chi phí khả biến mua ở bên ngoài)

Thu nhập thực bằng tổng thu trừ đi chi phí sản xuất, do kinh tế hộ nông dân

sử dụng yếu tố nguồn lực của hộ, nên không thể tính tất cả mọi khoản chi phí theo giá thị trường, hộ nông dân sản xuất chủ yếu bằng sức lao động của gia đình, không

đi thuê hoặc ít sử dụng lao động làm thuê, vì thế thu nhập của hộ là chỉ tiêu cơ bản dùng để tiến hành phân tích kinh tế hộ nông dân

Với đặc thù kinh tế hộ vùng nghiên cứu là vùng cao, lại là ở một khu bảo tồn thiên nhiên, sản xuất mang nặng tính tự cung tự cấp là chính Vì thế để phù hợp với điều kiện cụ thể của vùng nghiên cứu chúng tôi thống nhất sử dụng cách tính thứ hai để đánh giá thu nhập hộ nông dân

Trang 13

Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế hộ nông dân: Nhiều tác giả đã cho rằng

hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được với chi phi bỏ ra

(đã được lượng hoá) Kết quả đó là tổng thu, thu nhập và thu nhập ròng của hộ và

của từng ngành Chi phí bỏ ra của hộ đó là giá trị các nguồn lực được sử dụng như

đất đai, lao động, tiền vốn đầu tư Các chỉ tiêu đánh giá có thể tính bằng số tương

đối, số tuyệt đối hoặc so sánh phần tăng thêm giữa chi phí bỏ ra với phần tăng thêm

của kết quả thu được của hộ Trên cơ sở đó chúng tôi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá

thu nhập hộ nông dân được cụ thể hoá trong phần phương pháp nghiên cứu

Tính thu nhập từ bảng số liệu điều tra là tổng của các doanh thu ròng từ các

hoạt động khác nhau: trồng trọt, sản phẩm phụ của ngành nông nghiệp, chăn nuôi,

tiền lương, trợ cấp và thu nhập khác Doanh thu từ các cây trồng được tính trực tiếp

từ bảng câu hỏi Giá trị tiêu dùng của sản phẩm do gia đình tự sản xuất được tính

bằng cách nhân lượng tiêu thụ báo cáo với giá bán trung bình theo vùng của hàng

hóa trong câu hỏi điều tra Chi phí sản xuất trồng trọt, bao gồm gống, phân bón,

thuốc trừ sâu, chi phí thuê đất, thuê lao động, lưu kho và tiếp thị

Trong trồng trọt do không tách được một số chi phí (thuê lao động, thuê thiết

bị, lưu kho) nên chúng tôi phân bổ cho nhóm loại cây trồng chứ không thể phân bổ

cho từng loại cây

Doanh thu từ chăn nuôi bao gồm doanh thu từ việc bán gia súc và lượng tiêu

dùng thịt gia súc trong gia đình trừ đi chi phí mua giống, cộng với tiền bán và lượng

tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi của gia đình như sữa, trứng Lượng tiêu thụ sản

phẩm chăn nuôi được tính từ phần chi tiêu của bảng câu hỏi

Doanh thu ròng từ các hoạt động phi nông nghiệp của hộ có thể tính theo 2

cách Doanh thu từ hoạt động phi nông nghiệp trừ đi chi phí được tính riêng cho

từng hoạt động phi nông nghiệp như thuê lao động, thuê máy móc thiết bị, thuê nhà

xưởng, kho, bến bãi… tất cả đều có trong bảng câu hỏi điều tra

Thu nhập từ tiền lương là tổng thu nhập tiền lương cả năm và tiền thưởng

Tiền trợ cấp bao gồm trợ cấp tư nhân (quà tặng, tiền của thân nhân gửi về) và

trợ cấp công cộng (từ các chương trình của chính phủ) trong 12 tháng qua Các thu

nhập khác là tiền lương hưu, trúng xổ số và tiền cho thuê đất đai nhà cửa, tài sản

Doanh thu từ bán nhà cửa, phương tiện, đồ trang sức không được tính vào thu nhập

trong báo cáo này

1.1.3 Một số vấn đề lý luận về nghèo đói

1.1.3.1 Khái niệm về nghèo đói

Việt Nam sử dụng khái niệm về nghèo đói theo chủ trương của Ủy ban Kinh

tế xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương (tổ chức ở Thái Lan năm 1993) và

được các quốc gia trong khu vực thống nhất Khái niệm nầy cho rằng: “ Nghèo đói

là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy đã được thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương”

Một khái niệm khác nhưng cụ thể hơn về nghèo đói được đưa ra tại hội nghị

thượng đỉnh thế giới tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đô la Mỹ (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”

Theo Ngân hàng Thế giới, nghèo là tình trạng không có khả năng để có mức sống tối thiểu, chúng bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng

Tóm lại: Tất cả những quan niệm trên về nghèo đói đều phản ảnh ba khía

cạnh chủ yếu sau đây: Những người được xem là nghèo đói khi:

* Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình

* Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người

* Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng

1.1.3.2 Các lý thuyết liên quan đến nghèo đói

a Lý thuyết về phát triển kinh tế:

Theo Nguyễn Trọng Hoài (2007), phát triển kinh tế, hiểu một cách đầy đủ, thường bao hàm những thay đổi toàn diện, liên quan đến những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội và thể chế Một khái niệm khác thường được đề cập đến trong giai đoạn hiện nay đó là phát triển bền vững Trong hội nghị Rio de Janerio, 1992, khái niệm này được nhấn mạnh như sau: Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng những nhu cầu của hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế

hệ mai sau

Muốn cho dân giàu, nước mạnh và xã hội phồn vinh thì Chính phủ phải duy trì được mức tăng trưởng kinh tế ổn định trong dài hạn Đây là điều kiện tiền đề để thực hiện các mục tiêu khác của quá trình phát triển Nền kinh tế có tăng trưởng thì ngân sách nhà nước ngày càng mở rộng, thu nhập của người dân cũng nâng lên và

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

như vậy mới có điều kiện nâng cao mức hưởng thụ về vật chất cũng như tinh thần

cho người dân (thông qua tăng cường ngân sách cho đầu tư cơ sở hạ tầng, giáo dục,

chăm sóc y tế, xóa đói giảm nghèo …)

Mặt trái của phát triển kinh tế có thể gặp phải đó là, mặc dù nền kinh tế tăng

trưởng nhanh, nhưng chỉ một bộ phận nhỏ dân cư được hưởng lợi từ sự tăng trưởng

này, trong khi phần lớn bộ phận dân cư khác vẫn trong tình trạng thu nhập thấp và

nghèo đói, sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng lớn Tuy

nhiên, tình trạng bất bình đẳng về thu nhập trong phân phối không những là hệ quả

cần thiết của tăng trưởng kinh tế mà còn là nguyên nhân ảnh hưởng đến tăng trưởng

kinh tế Do đó, bất kỳ một sự “hấp tấp, vội vã” nào trong chính sách nhằm nhanh

chóng xóa bỏ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập của giai đoạn đầu phát triển

kinh tế sẽ ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế của quốc gia

b Lý thuyết tăng trưởng nông nghiệp và sự nghèo đói ở nông thôn:

Rao CHH và Chopra K (1991) tranh luận về mối quan hệ này như sau: Trong

quá trình tăng trưởng nông nghiệp, hai phương thức chủ yếu được thực hiện là

quảng canh (tăng sản lượng do mở rộng diện tích) và thâm canh (tăng năng suất trên

đơn vị diện tích bằng cách tăng cường sử dụng các yếu tố đầu vào do ngành công

nghiệp hóa chất sản xuất)

Phương thức quảng canh, do bóc lột chất dinh dưỡng tự nhiên trong đất, mở

rộng diện tích do phá rừng thì tăng trưởng nông nghiệp có thể đạt trong ngắn hạn,

nhưng khi môi trường tự nhiên bị suy thoái, sản lượng và thu nhập sẽ sụt giảm trong

khi dân số tăng và hệ quả là thất nghiệp và sự nghèo đói xuất hiện

Phương thức thâm canh, để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng nhanh trong nông

nghiệp, tình trạng lạm dụng các hóa chất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp ngày

càng tăng làm suy thoái tài nguyên đất và nước Khi sự suy thoái này xuất hiện thì

năng suất và thu nhập giảm dần, trong khi dân số tăng, nông thôn không thu hút

được việc làm và hệ quả là thất nghiệp và sự nghèo đói xuất hiện

Shepherd A (1998) cho rằng ngay cả việc đảm bảo không suy thoái tài

nguyên môi trường bằng kỹ thuật tốt cũng xuất hiện sự nghèo đói, do đặc điểm tự

nhiên khác nhau theo vùng và hiệu quả áp dụng tiến bộ kỹ thuật cũng đem lại kết

quả khác nhau Giai đoạn đầu áp dụng kỹ thuật mới, do đòi hỏi tăng nhanh đầu tư

về giống, phân bón, thuốc sâu, làm đất, thủy nông nội đồng … nên cũng gắn với rủi

ro cao, và như vậy chỉ các hộ giàu ở vùng nông thôn mới có khả năng thực hiện và

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

hưởng lợi ích lớn từ việc đi tiên phong đầu tư các kỹ thuật mới Sau đó, với sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua tài trợ giá đối với các yếu tố sản xuất đầu vào và ưu đãi

về tín dụng thì nông dân nghèo mới có điều kiện áp dụng rộng rãi những kỹ thuật

đó Tuy nhiên, khi đại bộ phận nông dân có thể áp dụng được mô hình này, sản lượng sẽ tăng nhanh và giá sẽ rớt xuống làm giảm hiệu quả đầu tư của nông dân Nếu quá trình này tiếp tục, họ sẽ bị rơi vào gánh nặng nợ nần, từ bỏ việc đầu tư, trong khi dân số tăng, làm tăng thất nghiệp và tình trạng nghèo đói sẽ trầm trọng Trong bối cảnh như vậy, những người nông dân sẽ sẵn sàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa tự nhiên của bộ phận dân cư có thu nhập cao bằng cách khai thác nguồn lực tự nhiên (hàng hóa công) như săn bắn, phá rừng để tăng thu nhập Hệ quả

là môi trường tự nhiên tiếp tục bị suy thoái, thu nhập người dân giảm, và lại rơi vào vòng lẩn quẩn của nghèo đói

Như vậy, một hệ thống nông nghiệp mà không đảm bảo sinh kế bền vững trên mức nghèo đói cho người dân nông thôn thì không thể nào là hệ thống nông nghiệp bền vững được Hay nói cách khác, mô hình nông nghiệp bền vững là

mô hình sử dụng các phương thức sản xuất tiến bộ nhưng không làm suy thoái môi trường, mất cân bằng tự nhiên và vẫn đảm bảo được sinh kế bền vững trên

mức nghèo đói cho nông dân Biểu hiện của nông nghiệp bền vững trên khía cạnh này có thể đo lường bằng các chỉ tiêu: tỷ lệ hộ nghèo đói, tỷ lệ lao động thất nghiệp ở nông thôn

c Lý thuyết về nông nghiệp với phát triển kinh tế

Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân Hoạt động này không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội

mà còn gắn liền với các yếu tố tự nhiên Nông nghiệp nếu xét theo đối tượng sản xuất của nó sẽ bao gồm các ngành: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản

Vẫn còn một bộ phận lớn dân cư sống ở vùng nông thôn với thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp vẫn ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế và công nghiệp chưa

đủ sức để lôi kéo hết lao động thặng dư trong nông nghiệp thì nông nghiệp vẫn giữ

vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của nhiều nước đang phát triển Nông nghiệp chỉ có thể phát huy được vai trò tích cực đối với quá trình phát triển kinh tế khi được quan tâm đầu tư đúng mức và thoát khỏi sự trì trệ lạc hậu Do đó, phát triển nông nghiệp cũng đặt trong mối quan hệ với phát triển kinh tế

Trang 15

Những năm qua, nông nghiệp là “lá chắn” vững chắc bảo vệ nền kinh tế

nước ta trước các tác động bất lợi từ bên ngoài Ngay cả trong những thời điểm đất

nước gặp khó khăn nhất, nông nghiệp và kinh tế nông thôn vẫn có mức tăng trưởng

đều và là nhân tố tạo sự bình ổn cho kinh tế - xã hội của nước nhà Michael Porter,

chuyên gia về lợi thế cạnh tranh quốc gia của Đại học Harvard, Hoa Kỳ, khi được

hỏi điều gì đáng nói nhất về Việt Nam, Ông đã trả lời: Lao động và nông nghiệp

Ruộng đất sử dụng trong nông nghiệp được coi là tư liệu sản xuất đặc biệt,

nên việc bảo tồn quỹ đất và nâng cao chất lượng đất là vấn đề tồn tại của nông

nghiệp Nông nghiệp có địa bàn sản xuất rộng lớn, nhưng lại mang tính khu vực nên

các chính sách kinh tế xã hội cho phát triển nông nghiệp phải thích hợp cho từng

khu vực

Lý giải cho tình trạng tụt hậu của nhiều nước đang phát triển, các nhà kinh tế

mô tả “Vòng lẩn quẩn của nghèo đói”

Tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập cho dân cư là cơ

sở để thoát khỏi vòng lẩn quẩn này Trong chiến lược phát triển kinh tế của các

nước đang phát triển, nông nghiệp cũng được chọn là một lĩnh vực sản xuất quan

trọng để tác động đến tăng trưởng Điều này càng quan trọng hơn đối với những

nước có ưu thế về tiềm năng tự nhiên gắn với nông nghiệp Nông nghiệp tham gia

giải quyết những khó khăn của tình trạng kém phát triển ở các nước đang phát triển

thông qua vai trò kích thích tăng trưởng và đóng góp của nông nghiệp vào mức tăng trưởng GDP của nền kinh tế

d Lý thuyết về thay đổi và chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp:

Theo Nicolas Kaldor (1957), nguồn gốc tăng trưởng kinh tế không chỉ duy nhất phụ thuộc vào gia tăng vốn sản xuất mà còn tùy thuộc vào sự phát triển tiến bộ

kỹ thuật tức trình độ công nghệ

Khác với Kaldor, năm 1976, trong nghiên cứu thực nghiệm, Sung Sang Park cho rằng nguồn gốc của sự tăng trưởng phụ thuộc vào kỹ năng của lực lượng lao động Kỹ năng này được tích lũy qua quá trình phát triển của con người Vì vậy, theo Park, vốn đầu tư của quốc gia cần được phân bổ cho đầu tư phát triển con người (văn hóa kiến thức, kỹ năng, đời sống vật chất - tinh thần)

Ngoài yếu tố kỹ thuật và con người, Hayami và Ruttan (1971) phát biểu rằng, nông nghiệp do sự phát triển theo thời gian, một vài nguồn lực trở nên khan hiếm và chi phí của chúng nâng cao tương đối so với một số nguồn lực khác Đối với những nước có nguồn lao động dồi dào nhưng khan hiếm về đất nông nghiệp, con đường phát triển nông nghiệp là tìm kiếm những công nghệ nhằm tăng năng suất trên một đơn vị diện tích (sử dụng công nghệ sinh học, phân bón, giống, nước) Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp sẽ mang lại sự gia tăng năng suất cho cây trồng và các cán bộ khuyến nông là những người giúp bà con nông dân có được những kiến thức đó

1.1.3.3 Phương pháp xác định đối tượng nghèo:

Có nhiều cách phân loại giàu nghèo như: phân loại theo chi tiêu, phân loại theo thu nhập, vẽ bản đồ nghèo, phân loại giàu nghèo theo tiêu chí của địa phương

và xếp hạng giàu nghèo Mỗi phương pháp đều có những ưu, khuyết điểm riêng và

có thể được áp dụng tùy lúc, tùy nơi, tùy mục đích

Nhìn chung, hầu hết các nước phát triển đã thống kê về tình trạng nghèo thông qua mức thu nhập Vì ở các nước này, thuế thu nhập được theo dõi rất chặt chẽ, thu nhập của người dân được khai báo đầy đủ, thể hiện cụ thể qua các tài khoản ngân hàng

1.1.3.4 Nguyên nhân của nghèo đói

Hiện rất khó để có thể chỉ ra được tất cả những nguyên nhân của nghèo và cũng khó để phân biệt trong những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến nghèo, đâu là nguyên nhân còn đâu là kết quả Tuy nhiên nhìn chung, nghèo ở Việt Nam cũng có

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

những nét riêng biệt được tạo nên từ nhiều nguyên nhân tổng hợp có nguồn gốc từ

những khác biệt về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế-xã hội và điều kiện lịch sử

Theo báo cáo của diễn đàn miền núi Ford (2004), các yếu tố có thể tác động

mạnh đến tình trạng đói nghèo tại các địa phương miền núi, vùng biên giới bao

gồm: sống ở khu vực nông thôn, người dân tộc, quy mô hộ gia đình, tỉ lệ phụ thuộc,

tình trạng giáo dục, khả năng tiếp cận đường ô tô, giao thông chở khách, tiếp cận

được chương trình khuyến nông và hộ sinh sống gần trung tâm chợ xã hoặc liên xã

Theo chương trình Phân tích hiện trạng nghèo đói vùng KHU VỰC MIỀN

NÚI PHÍA BẮC (2003) do AusAID tài trợ, tình trạng nghèo đói có thể từ những

nguyên nhân sau: mất đất đai hay không có đất để canh tác, tình trạng thiếu việc

làm, những yếu tố có liên quan tới thành phần dân tộc, chất lượng nguồn nhân lực,

cơ hội tiếp cận thị trường, hạ tầng ở nông thôn

Theo PPA (2008) ở tỉnh Tuyên Quang thì nguyên nhân gây ra nghèo đói có

thể là do: không có đất; không có vốn, không có nhà, không có việc làm ổn định,

bệnh nhiều, đông con, con không được đi học

Riêng tại khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu, theo tài liệu điều tra của chúng

tôi ngoài nguyên nhân chung của tỉnh Tuyên Quang như đã nêu trên, còn có một

nguyên nhân khác cực kỳ quan trọng đó là do yêu cầu bảo vệ nghiêm ngặt đa dạng

sinh học của khu bảo tồn, dẫn tới người dân gần như không thể cải thiện thu nhập từ

rừng qua các hoạt động thông thường như săn bắn, khai thác lâm sản

Theo Đinh Phi Hổ - Chiv Vann Dy (2008) các yếu tố có thể ảnh hưởng đến

nghèo đói bao gồm: Nghề nghiệp, tình trạng việc làm, trình độ học vấn, giới tính

của chủ hộ, quy mô hộ và số người sống phụ thuộc, quy mô diện tích đất của hộ gia

đình, những hạn chế của người dân tộc thiểu số và khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng

Theo Nguyễn Trọng Hoài (2005) trong nghiên cứu về tình trạng đói nghèo ở

các tỉnh Đông Nam Bộ cho thấy các nhóm yếu tố tác động chính đến tình trạng đói

nghèo bao gồm: tình trạng việc làm, tình trạng sở hữu đất đai, khả năng tiếp cận các

nguồn vốn chính thức, vấn đề dân tộc thiểu số, quy mô hộ và giới tính của chủ hộ

Theo Lilongwe và Zomba (2001), Tình trạng đói nghèo ở Malawi là do: tuổi

người đứng đầu gia đình, tỉ lệ người phụ thuộc, quy mô hộ gia đình, tình trạng giáo

dục của chủ hộ, việc làm nông nghiệp của chủ hộ, khả năng tiếp cận với các nguồn

lực và điều kiện địa lý mà hộ đang sinh sống

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Theo Võ Tất Thắng (2004), tình trạng đói nghèo ở Ninh Thuận chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ 6 yếu tố, đó là: tình trạng việc làm, tình trạng sở hữu đất đai, khả năng tiếp cận nguồn vốn chính thức, vấn đề dân tộc thiểu số, quy mô hộ và giới tính của chủ hộ

Theo Trương Quang Vũ (2007), thì những yếu tố tác động đến nghèo đói tại khu vực ven biển đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2003 – 2004 bao gồm: Giới tính của chủ hộ, lao động không có hoạt động tạo thu nhập, số năm đi học của những người trưởng thành, loại việc làm của chủ hộ, có đường ô tô đến thôn và đất canh tác

Theo Trần Kỳ Việt (2009), tình trạng nghèo đói ở huyện An Phú, tỉnh An Giang là do các nguyên nhân: Giới tính của chủ hộ, thành phần dân tộc, trình độ học vấn, quy mô hộ gia đình, việc làm của chủ hộ, thiếu đất, hạn chế tiếp cận với các nguồn lực chính thức và khả năng phát triển kinh tế biên giới

1.1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói

a Những hạn chế của người dân tộc Tày, Dao, Hoa, H’Mông, Cao Lan :

Số liệu của phòng LĐTBXH huyện Hàm Yên và huyện Chiêm Hóa cho biết, người Tày, Dao, H’Mông, Cao Lan chiếm 38,31 % dân số nhưng hộ nghèo người Tày, Dao, H’Mông, Cao Lan lại chiếm 47,29% số hộ nghèo trong toàn huyện

Theo Chương trình phân tích hiện trạng đói nghèo tại 7 tỉnh miền núi phía bắc thì nguyên nhân tỷ lệ nghèo người Tày, Dao, H’Mông, Cao Lan cao hơn người Kinh và Hoa là do: Đa số người Tày, Dao, H’Mông, Cao Lan cư trú tại vùng sâu, vùng xa, nơi mà đất trồng trọt có chất lượng thấp và thường xuyên bị hạn hán, mặt khác do cơ sở hạ tầng và kênh mương thủy lợi yếu kém nên họ ít có điều kiện phát triển kinh tế gia đình và trao đổi hàng hóa với những địa phương khác Trong canh tác, họ ngại ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật sản xuất mới

Người Tày, Dao, H’Mông, Cao Lan thường quần cư theo dòng họ, do vậy người Tày, Dao, H’Mông, Cao Lan ít khi rời xa quê cũ

Bảng 1.1: Tỷ lệ nghèo và khoảng cách nghèo (BCPTVN, 2013)

Tỷ lệ nghèo

Thành thị Nông thôn Kinh & Hoa Dân tộc ít người

58,1 25,1 66,4 53,9 86,4

37,4 9,2 45,5 31,1 75,5

28,9 6,6 35,6 23,1 69,3

19,5 3,6 25,0 13,5 60,7

16,0 3,9 20,4 10,3 52,3

Trang 17

2,5 18,6 10,6 41,8

1,9 13,6 6,5 41,5

0,8 9,7 3,5 34,2

1,2 8,7 3,2 29,2

9,5 1,7 11,8 7,1 24,2

6,9 1,3 8,7 4,7 22,8

4,7 0,7 6,1 2,6 19,2

3,8 0,7 4,9 2,0 15,4

b Giới tính của chủ hộ:

Ở các nước đang phát triển, nơi mà những thành kiến về vai trò của người

phụ nữ còn tương đối khắt khe thì giới tính của chủ hộ cũng có khả năng ảnh hưởng

đến sự nghèo đói của hộ Những hộ có chủ hộ là nữ giới có nhiều khả năng rơi vào

cảnh nghèo hơn so với chủ hộ là nam giới Phụ nữ ở đây đóng một vai trò quan

trọng trong việc lao động và cả trong việc quản lý tài chánh của gia đình nhưng họ

thường phải đối mặt với việc bị phân biệt đối xử Người phụ nữ ở nông thôn phải

gánh vác công việc đồng áng, ngoài ra họ còn phải tham gia làm thuê hay buôn bán

trong những lúc nông nhàn, chuyện cái ăn, cái mặc cho gia đình đã chiếm hết thời

gian, họ ít có điều kiện giao lưu ra bên ngoài xã hội hay mở mang tri thức Mặc dù

đã có nhiều thay đổi để thực hiện khẩu hiệu “nam nữ bình đẳng” nhưng ở nông

thôn, trong gia đình, thường là người đàn ông sẽ quyết định mọi việc

c Trình độ học vấn của chủ hộ:

Theo các nghiên cứu trước đây, trình độ học vấn có tương quan nghịch với tỷ

lệ đói nghèo Người nghèo không có đủ tiền để trang trải chi phí học tập cho nên

thường bỏ học rất sớm hay thậm chí là không đi học Trình độ học vấn thấp sẽ là

rào cản để người nghèo tìm kiếm một việc làm có thu nhập ổn định hoặc ứng dụng

khoa học và kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, trình độ học vấn của chủ

hộ còn có ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến việc chăm sóc, nuôi

dưỡng hay cho con cái đi học

BCPTVN (2013) đã xem xét chi phí cơ hội của việc đưa trẻ đến trường Đối

với các hộ nghèo, sức lao động của trẻ có giá trị hơn nhiều so với việc để chúng tới

trường Lợi ích dài hạn của giáo dục không thể bù đắp được những tổn thất về thu

nhập trong ngắn hạn Cũng theo báo cáo này, nhóm nghèo nhất chi bình quân

khoảng 130.000 đồng cho giáo dục tiểu học (chiếm 1,9% trong chi tiêu của hộ) và

khoảng 225.000 đồng cho giáo dục trung học cơ sở (chiếm 2,9% trong chi tiêu của hộ) cho con cái của họ trong một năm

Một trong những hạn chế của phương pháp dựa vào thu nhập để đo nghèo đói là nó đòi hỏi rất nhiều số liệu Theo BCPTVN (2013), ở những nước đang phát triển như nước ta, phương pháp đo nghèo đói bằng chi tiêu tỏ ra là một phép đo tốt Theo Ngân hàng Thế giới (2010) và BCPTVN (2013), để xác định ngưỡng nghèo, có 2 tiêu chí:

- Ngưỡng nghèo đói lương thực thực phẩm: đo lường mức chi tiêu cần thiết

để đảm bảo một hộ gia đình mua được một lượng lương thực thực phẩm đủ cung cấp cho mỗi thành viên trong gia đình là 2100 calo/ngày

- Ngưỡng nghèo chung: Đo lường mức chi phí đủ để mua một lượng lương thực thực phẩm cung cấp 2100 calo/ngày và một số mặt hàng phi lương thực thực phẩm

Đối với Việt Nam, sử dụng ngưỡng nghèo căn cứ quyết định số TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ Theo đó chuẩn nghèo của Việt Nam là thu nhập 400.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 500.000 đồng/người/ tháng ở khu vực thành thị

09/2011/QĐ-Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng chuẩn nghèo theo đề xuất của Bộ LĐTBXH, chi tiêu bình quân của mỗi người trong mẫu điều tra nhỏ hơn hay bằng 400.000 đồng/tháng sẽ xem như diện nghèo

Bảng 1.2: Trình độ học vấn của người nghèo ở Việt Nam Trình độ học vấn cao

nhất

Tỷ lệ nghèo (%)

Tỷ lệ tính trong tổng số người nghèo (%)

Tỷ lệ tính trong tổng dân số ( %)

Không được đi học Tiểu học Phổ thông cơ sở Phổ thông trung học Dạy nghề Đại học

(Nguồn: Trương Thanh Vũ (2012) Các nhân tố tác động đến nghèo đói ở vùng ven

biển đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2010-2012)

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Theo Lê Thanh Sơn (2009), tỷ lệ nghèo đói có liên quan tới trình độ học vấn

Tỷ lệ đói nghèo của những người chưa hoàn thành tiểu học ở vùng cao phía bắc là

30% (thấp hơn so với tỉ lệ 40% của cả nước) trong khi hầu như không có tình trạng

đói nghèo trong số những người có trình độ học vấn cao hơn hoặc học nghề Nếu

không có trình độ học vấn nhất định, công nhân sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc

học hỏi những kỹ năng và kỹ thuật mới để nâng cao năng suất Các bậc cha mẹ có

trình độ học vấn thấp thường không nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích của

giáo dục, từ đó, không cố gắng tạo điều kiện cho con em đến trường

d Quy mô của hộ gia đình:

Trẻ con nhiều và số người sống phụ thuộc cao, vừa là nguyên nhân, vừa là

hệ quả của nghèo đói Theo Võ Tất Thắng (2004) tỷ lệ sinh trong các hộ nghèo còn

cao, số con bình quân trên một phụ nữ của nhóm 20% nghèo nhất là 3,5 con so với

mức 2,1 con của nhóm giàu nhất Hơn nữa, công việc của các hộ nghèo là lao động

phổ thông hay chăn thả súc vật, cho nên nhiều con có nghĩa là có nhiều sức lao

động Theo kết quả điều tra mức sống hộ gia đình (2002) cho thấy 13,5% trẻ em ở

độ tuổi từ 13 đến 16 làm việc trên đồng ruộng của gia đình nhưng tỷ lệ nầy ở trẻ em

người dân tộc là 33,5%

Tỷ lệ phụ thuộc cao nghĩa là có nhiều người ăn theo nhưng có ít người lao

động để tạo thu nhập Điều nầy khiến các thành viên tham gia lao động phải chịu

gánh nặng về tiền bạc chi tiêu trong nhà Trong trường hợp thu nhập không bù được

mức chi tiêu, các hộ gia đình dễ rơi vào vòng nghèo túng Do đó người ta cho rằng

tỷ lệ phụ thuộc trong một hộ tỷ lệ thuận với khả năng và mức độ nghèo

Bảng 1.3: Nhân khẩu trong gia đình nhiều và số lao động có việc làm thấp

Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên ổn định ở

(Nguồn: Hiện trạng đói nghèo 7 tỉnh miền núi phía bắc (2012) do AusAID tài trợ)

Bảng trên cho thấy nhân khẩu trung bình của hộ nghèo là khá cao 5,2

người/hộ Trong điều kiện phần lớn là làm thuê mướn, tỷ lệ lao động có việc làm

thường xuyên chỉ 22,75% nên các hộ nghèo rất khó khăn trong việc mưu sinh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

e Vấn đề làm nông nghiệp của hộ gia đình:

Theo Niên giám Thống kê của tỉnh Tuyên Quang (2012) hiện có 28,41 % số dân sống tại khu vực thành thị và 71,59% dân số trong tỉnh sống tại vùng nông thôn

và vùng núi

Một đặc điểm của nghề nông là nông dân phải thường xuyên chịu áp lực về thiên tai, dịch bệnh, sản phẩm hàng hóa nhiều nhưng chất lượng kém Sức cạnh tranh của hàng hóa nông nghiệp yếu, trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất còn thấp Giá cả đầu vào và đầu ra không ổn định, cụ thể: nông dân mua nguyên liệu, vật tư, phân bón, cây, con giống … để sản xuất nhưng khi bán thì người mua lại quyết định giá cả mà nông dân phải chấp nhận

Theo Lê Thanh Sơn (2009) có hơn 77% số hộ nghèo làm việc trong các ngành như nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp, 9% làm việc trong ngành công nghiệp và 13% làm việc trong ngành dịch vụ Trong các hộ nông dân, những hộ nghèo thường là những hộ thiếu hoặc không có đất, do vậy, cuộc sống của họ phụ thuộc rất nhiều vào thu nhập từ làm thuê Trình độ học vấn thấp khiến họ ít có cơ hội tìm kiếm việc làm ngoài công việc trong nông nghiệp vốn không ổn định và thu nhập thấp Vấn đề chuyển đổi cơ cấu kinh tế để nhằm giải quyết việc làm cho khu vực nông thôn còn nhiều hạn chế, các ngành chế biến nông sản và ngành nghề tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển

f Số năm định cư tại địa phương của hộ gia đình:

Tìm hiểu số năm định cư của hộ gia đình để phần nào phản ảnh được tình hình di dân của các hộ gia đình Theo BCPTVN (2012), người di cư thường chiếm

số đáng kể trong những hộ nghèo ở huyện lỵ, tỉnh lỵ Giống như tình trạng nghèo ở nông thôn ngày càng tập trung ở nhóm dân tộc thiểu số thì hộ nghèo ở đô thị càng

có xu hướng tập trung ở những người di cư

g Hộ có người đi làm xa: (trong tỉnh, ngoài tỉnh, nước ngoài):

Theo BCPTVN (2012) tìm kiếm công ăn việc làm ở ngoài tỉnh là cách giúp cho hộ gia đình tạo thêm thu nhập Các hình thức tìm kiếm việc làm đó có thể bao gồm: làm theo mùa vụ, đi làm thuê trong nông nghiệp ở vùng núi, làm theo mùa vụ trong nông nghiệp ở vùng xa Theo Chương trình phân tích hiện trạng đói

Trang 19

nghèo tại KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC (2003) do AusAID tài trợ, tỷ lệ lao

động thất nghiệp của tỉnh Tuyên Quanglà 9,2% trên tổng số lực lượng lao động Do

vậy, tìm việc làm ở nơi xa cũng là một giải pháp mà người dân lựa chọn để sang sẻ

gánh nặng kinh tế gia đình cùng người thân

h.Nhóm các yếu tố có liên quan đến nguồn lực sản xuất và cơ sở hạ tầng:

 Vấn đề đất sản xuất:

Các nguồn lực cơ bản và cần thiết cho sản xuất nông nghiệp là đất đai và

vốn Người nghèo thiếu các nguồn lực đó nên nghèo lại hoàn nghèo Diện tích và

chất lượng đất đóng vai trò quyết định đến mức sống của những hộ sống bằng nông

nghiệp Không có đất hoặc thiếu đất canh tác sẽ khiến cho hộ nông dân rơi vào hoàn

cảnh sản xuất không đủ lương thực và thu nhập thấp Thêm vào đó, người nghèo

chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch vụ sản xuất như khuyến nông, khuyến

ngư nên khó có thể nâng được giá trị của sản phẩm cây trồng, vật nuôi

Bảng 1.4: Diện tích đất sử dụng theo dân tộc

98 4.995

75 5.436

99 11.855

48 7.745

90 11.399 Đất trồng cây

lâu năm

Có đất (%)

Diện tích (m2)

33 2.471

25 3.617

30 3.561

20 3.582

66 12.193

38 10.782 Đất rừng Có đất (%)

Diện tích (m2)

17 13.487

50 17.645

-

-

22 22.199

2

-

4

-

(Nguồn: BCPTVN (2012) Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, diện tích được tính

cho các hộ có ít nhất một thửa đất, “-“ có nghĩa là số mẫu quá nhỏ không cho được

ước tính tin cậy.)

 Vay ngân hàng:

Không có vốn thì không thể hoạt động sản xuất kinh doanh gì cả Thiếu vốn

đầu tư dẫn đến năng xuất thấp, kéo theo thu nhập thấp, tiết kiệm thấp, đầu tư thấp,

thu nhập lại tiếp tục thấp … Như vậy hộ gia đình sẽ rơi vào vòng lẩn quẩn của sự

nghèo đói Các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy người nghèo hay gặp khó khăn

trong việc tiếp cận các nguồn tín dụng chính thức của Chính phủ, trong khi đó

những nguồn tín dụng phi chính thức chỉ mang giải pháp tình thế chứ ít có khả năng

giúp hộ gia đình thoát nghèo Có nhiều nguyên nhân, nhưng nếu loại trừ nguyên nhân do sự nhũng nhiễu của những người có trách nhiệm thì nguyên nhân còn lại là

do người nghèo thiếu hiểu biết, không có tài sản thế chấp, không biết cách làm ăn dẫn đến không có khả năng trả được nợ

 Khoảng cách đến chợ và khả năng tiếp cận với cơ sở hạ tầng:

Theo BCPTVN (2012), đầu tư vào giao thông được coi là một công cụ quan trọng để giảm chênh lệch về mức sống giữa những vùng thành thị và nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, nhất là vùng núi nơi mà phần lớn việc chuyên chở và đi lại của người dân đều bằng đường bộ Nên đường giao thông nông thôn được xem

là một đóng góp đáng kể vào hoạt động kinh tế ở địa phương, đồng thời giúp xóa đói giảm nghèo

Theo Trương Thanh Vũ (2007), có đường ô tô tới xã là một trong những yếu

tố quan trọng quyết định mức chi tiêu bình quân của hộ gia đình và tác giả cũng cho thấy ở những nơi không có họp chợ thường xuyên thì thu nhập theo giờ lao động của hộ thấp đáng kể Đường giao thông thuận lợi từ nhà đến chợ để bà con có thể trực tiếp trao đổi hàng hóa, không phải qua thương lái trung gian, cũng góp phần tăng thu nhập cho bà con vùng huyện biên giới nầy

Mặc dù theo số liệu thống kê thì hầu hết các xã đều có đường ô tô Nhưng, thực tế chất lượng đường giao thông ở nông thôn và vùng xa, vùng sâu rất kém, nhất là vào mùa mưa lũ

Bảng 1.5: Chi tiêu công ở nông thôn và giảm nghèo

Số người thoát nghèo trên mỗi tỷ đồng đầu tư

Nghiên cứu nông nghiệp Tưới tiêu Đường xá Giáo dục

Miền núi phía Bắc Đồng bằng sông Hồng Bắc Trung Bộ Duyên hải miền Trung Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long

11,8 7,0 13,4 11,7 17,7 8,5 10,1

311,6 278,8 686,7 302,2 362,1 73,1 248,6

54,6 34,8 69,5 54,4 66,3 16,5 54,1

(Nguồn: BCPTVN 2012)

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Như vậy, theo ước tính của báo cáo trên, khi chi đầu tư một tỷ đồng vào

đường nông thôn sẽ có tác động giảm nghèo nhiều nhất là 270,6 người, sau đó nếu

đầu tư một tỷ đồng vào giáo dục thì sẽ có 46,8 người thoát nghèo và cuối cùng là

đầu tư một tỷ đồng vào thủy lợi sẽ có 10,6 người thoát nghèo

1.2 Kinh nghiệm về nâng cao thu nhập cho hộ nghèo trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Nâng cao thu nhập cho hộ nghèo ở một số nước trên thế giới

Theo tài liệu của FAO, trong 1.476 triệu ha đất nông nghiệp trên thế giới thì

chúng ta có tới 973 triệu ha chiếm 65,9% diện tích là vùng miền núi, trong đó 377

triệu ha có độ dốc 100 trở lên Vùng Châu Á, Thái Bình Dương trong tổng diện tích

453 triệu ha đất nông nghiệp thì có tới 351 triệu ha ở vùng miền núi chiếm 77,48%

Chính do diện tích miền núi lớn, quyết định đến môi trường và nguồn nước cho

cuộc sống con người, trong khi đó đời sống các hộ vùng này lại nghèo nhất nên các

nước và các nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm đến việc phát triển kinh tế,

nâng cao thu nhập của người dân vùng này

 Ở Nhật Bản, Rừng núi chiếm 71% diện tích đất tự nhiên, năm 1995 có

25 triệu ha rừng và 5 triệu ha đất ruộng, trong 10 vùng sản xuất nông nghiệp, hầu

như tỉnh nào cũng có đồi núi và thung lũng nhỏ hẹp xen kẽ nhau Bức tranh phổ

biến ở đây là các trang trại gia đình tập trung thành các tụ điểm dân cư ở sườn đồi,

thung lũng Trên đỉnh đồi các cây rừng, phần sườn dốc các cây ăn quả, chân đồi

trồng cây hoa màu hằng năm, ở lòng chảo là các cánh đồng lúa nước

 Thái Lan, là một nước láng giềng trong khu vực Đông Nam á, Chính phủ

Thái Lan đã thực hiện nhiều chính sách để đưa từ một nước lạc hậu trở thành một

nước có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến Một số chính sách liên quan đến việc phát

triển kinh tế miền núi ban hành từ những năm 1980 mà hiện nay vẫn phát huy tác dụng:

Thứ nhất: xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn đặc biệt khu vực miền núi

Mạng lưới đường bộ bổ sung cho mạng lưới đường sắt, phá thế cô lập ở các vùng ở xa,

đầu tư xây dựng nhiều đập nước ở các vùng sâu, xa

Thứ hai: chính sách mở rộng diện tích canh tác và đa dạng hóa sản phẩm như

cao su ở vùng đồi phía nam, ngô, mía, bông, sắn, cây lấy sợi ở vùng đông bắc

Thứ ba: đẩy mạnh công nghiệp chế biến nông sản, Thái Lan đã xuất khẩu

ngô sang Nhật Bản, sắn sang cộng đồng châu âu, và đặc biệt xuất khẩu gạo sang các

nước trên thế giới

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Thứ tư: thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài và thay thế nhập khẩu trong

lĩnh vực công nghiệp nhẹ Các điều khoản đầu tư thuận lợi đối với người nước ngoài, nhằm thu hút vốn đầu tư của các công ty nước ngoài vào Thái Lan Nhà nước cũng thực hiện chính sách trợ giúp tài chính cho nông dân vay tiền với lãi suất thấp, ứng tiền trước cho nông dân cam kết mua hoặc bán sản phẩm với giá ấn định trước cùng với nhiều chính sách khác đã thúc đẩy kinh tế vùng núi Thái Lan phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá Song trong quá trình thực hiện có bộc

lộ một số vấn đề tồn tại đó là: việc mất cân bằng sinh thái, đó là hậu quả của một nền nông nghiệp làm nghèo kiệt quệ hoá đất đai Kinh tế vẫn mất cân đối giữa các vùng, xu hướng nông dân rời bỏ nông thôn ra thành thị lâu dài hoặc rời bỏ theo mùa

vụ [6,13]

 Đài Loan là một hòn đảo có diện tích bằng 1/10 diện tích của nước ta

Địa hình chủ yếu là thung lũng và đồi núi giống địa hình phía bắc nước ta Vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ 20, thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 50USD/ đầu người, số người mù chữ chiếm 50%, 92% số dân trên đảo là nông dân [6,14]

Chính sách an dân được gọi là quốc sách Tại Đài Loan hiện nay có 30 vạn người dân tộc thiểu số sinh sổng ở vùng cao song đã có đường đi lên núi là đường nhựa, nhà có đủ điện nước, có ô tô riêng đầy đủ tiện nghi Từ năm 1974 họ là nông dân từ do thành lập nông trường, nông hội, trồng những sản phẩm quý hiếm như cao su, sơn, trà, bán các mặt hàng đặc sản của rừng như thịt hươu, nai khô, cùng các kỷ vật nông dân sản xuất được ở miền núi 15 năm trở lại đây nhờ đun nấu bằng điện, và hơi đốt nên không còn hiện tượng phá rừng ở Đài Loan nữa Do đất rừng cằn cỗi nên người dân không khai thác bằng nguồn lợi kinh tế mà chủ yếu phủ xanh đất bằng cách trồng rừng, cải tạo môi trường, chống xói mòn [6,45]

Chính sách thuế và ruộng đất của chính quyền thì phân biệt giữa hai đối tượng “nông mại nông” (nông dân bán đất cho nông dân khác để tiếp tục canh tác) thì miễn thuế “Nông mại bất nông” (bán đất cho các đối tượng phi nông nghiệp) thì đóng thuế gấp 3 lần Vì vậy nguồn lao động trẻ ở nông thôn rất dồi dào, nhưng không giảm mà chuyển sang hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tại chỗ theo hình thức

ly nông bất ly hương Chính quyền khuyến khích nông dân giảm trồng lúa tăng cường trồng cây ăn quả, cây công nghiệp và cây cảnh có giá trị kinh tế cao Các cơ

Trang 21

quan khoa học ở Đài Loan rất mạnh dạn nghiên cứu cải tạo giống mới phù hợp với

điều kiện sản xuất của người dân, nông dân áp dụng không phải trả tiền [6,46-47]

 Philipin là nước có điển hình về các mô hình sử dụng đất dốc bền vững Từ

năm 1970 – 1982, trung tâm đời sống nông thôn Philipin đã tổng kết thực tế xây

dựng và hoàn thiện 4 loại hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác đất nông nghiệp trên

đất dốc bền vững gọi tắt là SALT

 Inđônêxia thực hiện kế hoạch 5 năm 1969 – 1974, mỗi hộ di cư đều được trợ

cấp của Chính phủ như tiền cước vận chuyển đi quê mới, một căn nhà 2 buồng, 0,5

ha đất thổ cư và 2 ha đất canh tác (1ha cây lâu năm và 1 ha cây hàng năm), một năm

lương thực khi đến khu định cư mới Được chăm sóc y tế, giáo dục, được vay vốn

với lãi suất ưu đã, vay đầu tư cho cây nông nghiệp, đến kỳ thu hoạch mới trả nợ Có

trường hợp Nhà nước đầu tư trồng sẵn cây dài ngày, nông dân đến nhận vườn cây,

chăm sóc, thu hoạch xong mới phải thanh toán cho nhà nước Hiện nay, Inđônêxia

có trên 80.000 – 100.000 hộ đến các vùng kinh tế mới chi phí bình quân trên mỗi hộ

từ 5000 – 7000USD [13,22]

 Malaysia đã có kinh nghiệm tổ chức thực hiện các chương trình di dân gắn

với phát triển nông thôn Chương trình do cục quy hoạch gọi tắt là FELDA thực

hiện và thu được thành công đáng kể, trong 18 năm FELDA đã mở ra 210 chương

trình khai hoang với diện tích 40.000 ha, định cư cho 41.000 hộ, góp phần tạo ra

nông sản có giá trị xuất khẩu cao cho đất nước Thành công này là do sự chỉ đạo

đồng bộ một số vùng trọng điểm – ổn định kế hoạch di dân gắn với chương trình

xuất khẩu, đặt dưới sự chỉ đạo của một số chuyên trách gọn mà hiệu quả [19,27,28]

 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ các nước khác:

Hệ thống khuyến nông, khuyến lâm huấn luyện và thăm cơ sở ở nhiều

nước, tập trung chủ yếu vào 2 khâu trọng yếu là huấn luyện nông dân và thăm cơ sở

tập trung ở vùng núi cao, vùng sâu, xa

Ngày đồng ruộng được tổ chức ở Australia ở một điểm cố định tại trung tâm

miền Nam New Wales, trong thời gian 3 ngày vào tháng 11 hàng năm đã thu hút

các nhà sản xuất, chế biến trình diễn trong và ngoài nước Từng năm ngày này tập

trung vào những chuyên đề trọng điểm được nhiều nhà nông nghiệp nhiều nước

quan tâm, thông qua đó tạo cho các ngành, các nhà sản xuất, dịch vụ thực tiễn

quảng bá sản phẩm của mình và giúp nông dân phát triển sản xuất [8]

Tóm lại: Qua nghiên cứu kinh nghiệm một số nước và phát triển kinh tế hộ nông dân chúng tôi rút ra những bài học sau:

* Sự hỗ trợ của Nhà nước là đặc biệt quan trọng đối với vùng núi chậm phát triển đó là việc đầu tư để thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng, xây dựng cơ sở hạ tầng trọng yếu cho miền núi như điện, đường, trường học, trạm xá, chú ý tới phát triển toàn diện cả về kinh tế, kỹ thuật, xã hội để phấn đấu đưa nông nghiệp nông thôn miền núi phát triển bền vững, toàn diện Việc đầu tư quy hoạch lãnh thổ gắn liền với quy hoạch vùng sản xuất Cần phải coi đây là nhiệm vụ trọng tâm khuyến khích kinh tế hộ phát triển, bởi vì công tác quy hoạch của chúng ta trước đây chưa gắn giữa việc quy hoạch vùng sản xuất chuyên canh gắn với thị trường tiêu thụ, gắn với nơi sản xuất chế biến phục vụ xuất khẩu

* Đối với vùng núi việc phát triển kinh tế hộ nông dân phải gắn liền với việc nâng cao trình độ nguồn nhân lực, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm

* Phát triển hệ thống canh tác đất dốc, đặc biệt đối với vùng núi đã bị khai thác kiệt quệ tài nguyên rừng,cần có những chính sách phù hợp tạo đà cho kinh tế

hộ và kinh tế trang trại sản xuất nông sản hàng hoá cùng song song phát triển trong nền kinh tế bền vững miền núi nhằm giảm bớt khoảng cách giữa vùng núi và vùng xuôi, giữa nông thôn và thành thị

1.2.2 Thu nhập của người dân vùng núi phía bắc Việt Nam

Mục tiêu phát triển kinh tế cả nước ta từ nay đến năm 2020 là phấn đấu cơ bản đưa nước ta thành một nước công nghiệp Quá trình này chắc chắn sẽ được diễn

ra khẩn trương và mạnh mẽ ở miền núi, bởi vì đây là khu vực chiếm phần lớn lãnh thổ cả nước ta Tuy nhiên việc phát triển kinh tế ở vùng núi không diễn ra một cách dễ dàng như ở các vùng khác trong nước Có thể nói miền núi phía Bắc đang đứng trước những thuận lợi và thách thức to lớn

1.2.2.1 Thuận lợi

* Trước hết đó là tài nguyên đất và rừng: Tính đến nay, miền núi có khoảng 19,8 triệu ha đất có thể trồng rừng trong đó có 46,78% ha là rừng tự nhiên và 4,2% diện tích rừng trồng lại còn 48,98% đất chưa chưa có rừng Nếu chúng ta có điều kiện giúp đỡ hộ nông lâm nghiệp đầu tư khoanh nuôi diện tích đất này theo phương thức nông lâm kết hợp thì sẽ có một vốn rừng vô cùng quý giá Với vốn rừng như vậy sẽ cung cấp cho nền kinh tế quốc dân hàng chục triệu mét khối gỗ, hàng tấn lâm sản thô để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Đồng thời cũng cho phép giải quyết việc làm, thu hút sức lao động, tạo điều kiện

tăng thu nhập cho hộ nông dân miền núi [14,34-48]

Đất đai, thời tiết khí hậu vùng núi phía bắc rất thích hợp cho việc phát triển

các cây trồng, vật nuôi với quy mô lớn như quế, hồi, cây ăn quả, cây dược liệu và

chăn nuôi đại gia súc

* Miền núi là nơi đầu nguồn của các con sông lớn ở nước ta, với khí hậu

nóng, ẩm, mưa nhiều, độ dốc cao đã tạo cho miền núi một khả năng to lớn về thuỷ

năng Chính vì thế, miền núi giữ một vai trò đặc biệt quan trọng đối với ngành công

nghiệp năng lượng của đất nước

* Miền núi có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ như hang Pắc Bó, suối Lê Nin ở

Cao Bằng, hồ Ba Bể ở Bắc Cạn… và nhiều khu di tích lích sử nổi tiếng Có nền văn

hoá phong phú mang đặc trưng của nhiều dân tộckhác nhau như văn hoá Thái,

Mường, ở Tây Bắc, văn hoá Tày, Nùng ở Việt Bắc… Thiên nhiên và con người

nơi đây đã tạo nên những sản phẩm đặc thù được sản xuất ở vùng núi, những sản

phẩm này đã và đang vươn lên thâm nhập thị trường khu vực và thế giới như sản

xuất đồ tre, trúc mỹ nghệ ở Bắc Cạn, quế, hồi và thảo quả ở vùng Đông Bắc hộ

nông dân trong tỉnh có điều kiện thuận lợi phát triển nông nghiệp du lịch sinh thái,

cải thiện đời

* Miền núi phía Bắc chứa đựng phần lớn tài nguyên khoáng sản và năng

lượng có giá trị nhất Việt Nam, bao gồm 98% trữ lượng than, 45% trữ lượng thiếc,

100% trữ lượng đồng, 35% trữ lượng sắt, 58% trữ lượng đá vôi… cung cấp 20%

nước ngọt và 54% thuỷ điện Với những thuận lợi trên hộ nông dân vùng núi nếu

biết phát huy những thuận lợi nêu trên thì những khó khăn trong đời sống của họ sẽ

được khắc phục

* Chính sách của Đảng và Nhà nước đầu tư cho vùng núi phía Bắc

Từ những năm 1990 Đảng và Nhà nước ta đã chú ý đầu tư cho vùng núi phía

bắc nên đã có những thay đổi đáng kể, một số tuyến dường quan trọng được xây

dựng như: 6, 70, 3, 2, 4A, 4C, 4B, 4D, 18 Phong trào xây dựng nông thôn miền núi

đã huy động được 694,3 tỷ đồng trong đó ngân sách trung ương và tỉnh là 16,5%,

Bộ Giao thông hỗ trợ 2,7%, nguồn vốn định canh định cư 5,1%, ngân sách giao

thông 12% Với những nỗ lực ấy đã nâng cấp trên 2000 km, làm mới 600 km đường

giao thông nông thôn, thêm 120 xã có đường ô tô đi tới xã

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Nhiều công trình thuỷ lợi được đầu tư xây dựng và đã đưa vào hoạt động như: Hồng Đại (Cao Bằng), suối Clanh (Bắc Thái), Như Xuyên (Tuyên Quang) Xây dựng mới và kiên cố hoá công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ như hồ, đập tràn, trạm bơm, kênh dẫn để phục vụ sản xuất

Tóm lại: Hộ nông dân miền núi có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển

kinh tế, trên thực tế trong những năm qua cả miền núi và miền xuôi đã khai thác gần như kiệt quệ sự thuận lợi trên, chúng ta đã có những công trình thuỷ điện, hàng ngàn m3 gỗ, rất nhiều động thực vật quý hiếm bị khai thác mà không có sự bù đắp,

bổ xung vì vậy có thể nói kinh tế vùng núi vẫn là vùng khó khăn nhất nước ta Trong tương lai, kinh tế hộ nông dân miền núi có thể phát triển nếu có thể giải quyết một loạt những khó khăn nảy sinh trong quá trình phát triển

1.2.2.2 Khó khăn

Có 7 nhân tố khó khăn ở vùng cao phía Bắc Việt Nam bao gồm: cơ sở vật chất kỹ thuật quá nghèo nàn, môi trường bị phá huỷ nghiêm trọng, nền kinh tế kém phát triển, trình độ văn hoá thấp, sự tăng nhanh dân số, sự thất nghiệp, giáo dục và đào tạo cán bộ chuyên môn tại địa phương còn yếu

Một số yếu tố gây cản trở đến quá trình phát triển kinh tế miền núi:

Địa hình chia cắt phức tạp, hiểm trở Vùng núi và vùng cao phía Bắc có 14% diện tích có độ cao trên 1000m, còn lại bằng hoặc trên 200m, địa hình bị chia cắt có trên 50% là các sườn dốc trên 20% , việc xây dựng đường xá khó khăn, có ít đất bằng phẳng để làm ruộng lúa, buộc nông hộ phải làm nương rẫy trên các vùng núi dốc Phần lớn lượng mưa tập trung và thời gian ngắn, nên thường gây lũ quét, gây thiệt hại đến tài sản và các công trình hạ tầng Các ruộng không phải bậc thang bị xói mòn Đất phần lớn là nghèo dinh dưỡng do bị phong hoá mạnh nên rất dễ bị suy thoái do xói mòn nếu lớp phổ thực vật bị dọn sạch, Chất vi lượng trong đất khan hiếm

Năm 1973 trong một cuộc thảo luận về tiềm năng phát triển của các dân tộc thiểu số vùng núi đã cho rằng: "Các dân tộc thiểu số sống trong một vùng núi rộng lớn bao la Trong số 16 triệu ha ở miền bắc thì có tới 11 triệu ha là rừng Nhưng rừng là "vàng xanh", một tài nguyên không thể cạn kiệt với vô số cây gỗ nhiệt đới" Chỉ trong vòng 20 năm sau, các tài nguyên tưởng không thể cạn kiệt đó đã bị khai thác kiệt quệ để lại vùng đất nghèo nàn về mặt kinh tế Như vậy thách thức lớn nhất đối với miền núi phía Bắc hiện nay không phải là bảo vệ nguồn tài nguyên mà

Trang 23

cần đầu tư rộng lớn để khôi phục các hệ sinh thái đã bị suy thoái nghiêm trọng

Mặc dù trong những năm trở lại đây màu xanh của rừng đã có những thay đổi đáng

kể, nhiều khu rừng đã được bảo vệ và trồng mới, song nguồn tài nguyên này cũng

tăng ở mức chậm

Về khai thác khoáng sản được tập trung chủ yếu ở vùng núi, hầu hết các

huyện vùng cao phía đông bắc do cơ sở hạ tầng phát triển Những công trình tầm cỡ

quốc gia được thi công ở miền núi như thuỷ điện Hoà Bình, thuỷ điện Tạ Pú ở Sơn

La, thủy điện Tuyên Quang đã và sẽ sản xuất được nguồn năng lượng để phục vụ

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tuy vậy hiện nay, những vấn đề

này đang trở thành mối lo ngại đối với miền núi vì đã để lại một bộ phận dân cư

nghèo với một môi trường suy thoái nghiêm trọng

Khó khăn về cơ sở hạ tầng: một số tuyến đường liên huyện ô tô không thể đi

lại Số còn lại đại bộ phận là rất hẹp, bẩn, khó đi ngay trong cả mùa khô Số xã có

đường ở Lào Cai chỉ chiếm có 56%, trị số trung bình của miền núi phía Bắc là

82,6% [11,326] Việc phát triển cơ sở hạ tầng sẽ rơi vào mâu thuẫn cổ điển: Nếu

thiếu cơ sở hạ tầng sẽ kìm hãm trình độ hoạt động thương mại ở miền núi, kìm hãm

việc tiếp cận thị trường của hộ nông dân, do đó làm cho vùng luôn trong tình trạng

nghèo nàn về kinh tế Nhưng phát triển cơ sở hạ tầng miền núi hộ nông dân ở quá

hẻo lánh, trình độ thương mại quá thấp thì không đủ sinh lời để có thể bảo quản

được Bởi vậy, ít nhất trong tương lai gần vì một nền quốc phòng, vì an toàn xã hội,

vì sự công bằng của cả nước, nhằm tăng cường giao lưu kinh tế giữa các vùng thì

nhất thiết phải đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vùng núi một cách hiệu quả nhất

Trong những năm gần đây Nhà nước đầu từ nhiều đường dây tải điện tới các

vùng núi cao, trạm tiếp sóng về thông tin liên lạc, vô tuyến truyền hình ở các vùng

miền núi là thực sự có ý nghĩa đối với đời sống hộ nông dân vùng cao Song số hộ

nông dân này hiện nay được hưởng lợi từ các nguồn công cộng này còn ít, tỷ lệ

xã có truyền thanh, truyền hình năm 2005 mới chiếm 76%, số hộ dùng điện là 82%

Miền núi là nơi cung cấp năng lượng chủ yếu của cả nước nhưng chỉ nhận được

nguồn điện thương phẩm bình quân đầu người khoảng từ 10-15% bình quân chung

của cả nước., tập trung chủ yếu ở thị xã, thị tứ nên hạn chế nhiều đến việc phát triển

công nghiệp chế biến quy mô vừa và nhỏ, tất cả những vấn đề trên cho thấy vùng

dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam vẫn là bộ phận lạc hậu trong sự phát triển

chung của cả nước

Kinh tế, chậm phát triển: thu nhập bình quân đầu người thấp hơn nhiều so với bình quân chung của cả nước, hộ nông dân chưa quen với sản xuất hàng hoá do sản xuất thuần nông là chủ yếu, mang nặng tính chất tự cung tự cấp, sản phẩm hàng hoá chưa phát triển Trong khi đó hộ nông dân hầu hết là phải mua hàng hoá từ miền xuôi như muối, dụng cụ bằng sắt, dầu hoả, quàn áo, nhưng khối lượng mua lại nhỏ, điều đó phản ánh sức mua thấp trong khi chi phí vận chuyển hàng hoá lên miền núi rất cao

Hoạt động mua bán trao đổi chủ yếu diễn ra ở chợ, trong khi đó chỉ có 81%

xã trong vùng có chợ Sản phẩm trao đổi chủ yếu là lương thực và hàng tiêu dùng thiết yếu, rất đơn điệu Đây là một vòng luẩn quẩn khi mọi sự cố gắng để tăng sản xuất đều gặp khó khăn vì thiếu hoạt động thương mại, nhưng việc phát triển chợ lại gặp khó khăn vì không có gì để bán

1.3 Các công trình nghiên cứu mới đây về thu nhập và nâng cao thu nhập cho người dân miền núi ở Việt Nam

Ở nước ta từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, kinh tế hộ nông dân được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn Đã có một số công trình khoa học về kinh tế hộ nông dân được công bố Thời gian gần đây có những công trình nghiên cứu về kinh tế hộ nông dân:

* Tác phẩm của Vũ Ngọc Kỳ, Trần Đức, Vũ Sửu về “ Kinh tế trang trại gia đình ở miền núi tỉnh Yên Bái”, đã đi sâu nghiên cứu mô hinh kinh tế trang trại của tỉnh Yên Bái

* Tác phẩm của Trần Đức về “ Trang trại gia đình ở Việt Nam và trên thế giới” đã đi sâu nghiên cứu về lịch sử trang trại trê thế giới và Việt Nam

* Tác phẩm của Đào Thế Tuấn “Kinh tế hộ nông dân” đi sâu nghiên cứu cơ

sở lý luận và thực tiễn về kinh tế hộ nông dân

* Tác phẩm của tập thể tác giả nhà Khoa học xã hội “Kinh tế hộ trong nông thôn Việt Nam” đã làm rõ cơ sở lý luận, hiện trạng về phát triển kinh tế hộ giữa các vùng trong nước

* Một số luận án Tiến sỹ Khoa học Kinh tế đã bảo vệ thành công như Nguyễn Thị Nghệ, Mai Văn Xuân gần đây nhất là Đỗ Thanh Phương đã đi sâu giải quyết từng khía cạnh của kinh tế hộ như: Phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá, vai trò của kinh tế hộ trong xã hội nông thôn, kinh tế hộ với vấn đề sản xuất hàng hoá, kinh tế hộ trong cơ chế thị trường Nhìn chung trong mỗi công

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trình nghiên cứu về kinh tế hộ, từng tác giả đã đi sâu khai thác làm sáng tỏ và phong

phú thêm kiến thức về kinh tế hộ nông dân

Kết luận chương 1

Qua kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây, chúng ta đã xác định

được một số nguyên nhân chủ yếu có thể ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia

đình ở cấp địa phương và ở phạm vi tỉnh Tuyên Quang Để cho công tác giảm

nghèo của các cấp Chính quyền đạt được kết quả tốt thì việc xác định nguyên nhân

gây ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình là vô cùng quan trọng

Chống đói nghèo là một cuộc chiến đấu lâu dài và quyết liệt Mặc dù trong

điều kiện còn nhiều khó khăn nhưng Nhà nước vẫn ưu tiên giành những nguồn lực

để phục vụ cho công tác xóa đói, giảm nghèo, nhất là ở những vùng tập trung nhiều

đồng bào dân tộc nhưng lại có yêu cầu nghiêm ngặt về bảo vệ tài nguyên thiên

nhiên như khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang

Phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái, gắn chặt với

mục tiêu giảm nghèo và nâng cao mức hưởng thụ của người dân, nhất là nông dân,

những người chịu nhiều tác động tiêu cực nhất nhưng lại hưởng lợi ít nhất từ quá

trình tích lũy cho công nghiệp hóa của đất nước trong thời gian qua

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

2.1 Câu hỏi nghiên cứu

Thực trạng thu nhập của hộ nông dân khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu? Những nhân tố nào ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang?

Để nâng cao thu nhập, cần phải có những giải pháp nào?

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp tiếp cận

Để nghiên cứu, đề tài này sử dụng 3 tiếp cận, đó là tiếp cận từ dưới lên, tiếp cận hệ thống và tiếp cận vùng miền cụ thể như sau:

Tiếp cận từ dưới lên: Cách tiếp cận từ dưới lên với sự tham gia của hộ nông

dân, cán bộ chủ chốt và các cấp chính quyền tại địa bàn nghiên cứu

Tiếp cận hệ thống: Cách tiếp cận này dựa trên những phân tích, đánh giá các

chỉ tiêu về thu nhập, cũng như mối quan hệ biện chứng giữa thu nhập với các yếu tố khác Cách tiếp cân này sẽ đảm bảo tính toàn diện và hệ thống trong phân tích đánh giá vấn đề nghiên cứu

Tiếp cận vùng miền: Để nghiên cứu khu vực bảo tồn thiên nhiên Cham Chu,

tỉnh Tuyên Quang, đề tài sử dụng cách tiếp cận vùng miền Đây là cách thức tiến hành nghiên cứu mà trong đó chọn ra những cộng đồng xã hội có những nét tương đồng hay khác biệt để làm đối tượng khảo cứu theo mục đích đã định Trong vùng miền đó có một số cộng đồng được chia ra nghiên cứu nhằm phát hiện những quy luật và tính quy luật về sự vận động và phát triển của vùng miền đó Kết quả nghiên cứu của cách tiếp cận này là những vấn đề có tính khái quát, đảm bảo độ tin cậy và mang tính đại diện cho vùng

Hướng tiếp cận của đề tài đặt trọng tâm vào phân tích quá trình biến đổi của

hệ thống sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và mối tương quan của sự biến đổi này ảnh hưởng đến sự thay đổi trong thu nhập Điều này đòi hỏi cần có sự phân tích tổng hợp nhiều vấn đề khác nhau trong điều kiện thực tế của khu vực khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang Chính vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, phương pháp tiếp cận hệ thống và lịch sử sẽ được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu đề tài

Trang 25

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.2.1 Phương pháp điều tra chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu theo hệ thống (systematic sampling)

Đầu tiên, chúng tôi xác định quy mô mẫu cần phải chọn, theo các nghiên cứu

trước đây, chúng tôi chọn quy mô mẫu là 180 mẫu, gồm có: xã Phù Lưu: 60 mẫu

(thuộc huyện Hàm Yên); xã Trung Hà: 60 mẫu và xã Hà Lang: 60 mẫu (xã Trung

Hà và Hà Lang là 2 xã thuộc huyện Chiêm Hóa) Cụ thể cách chọn mẫu hệ thống

như sau:

- Đầu tiên: Chia đám đông theo quy mô mẫu mong muốn để có bước nhảy,

ví dụ: Toàn bộ số dân của 05 xã trong Khu Bảo tồn thiên nhiên Cham Chu có 6.832

hộ với 29.703 khẩu Chọn ra số hộ trong 3 xã Phù Lưu, Trung Hà và Hà Lang Quy

mô mẫu cần chọn trong 3 xã là mỗi xã chọn ngẫu nhiên 60 mẫu, bước nhảy sẽ là 40

- Chọn điểm xuất phát: chọn một hộ ngẫu nhiên trong danh sách các hộ dân

trong xã làm hộ thứ nhất, hộ tiếp theo sẽ là hộ thứ nhất cộng thêm 40 hộ Quá trình

lần lượt như vậy cho đến khi hoàn tất danh sách các hộ trong từng xã

Sở dĩ tác giả chọn các địa phương dưới đây để thu thập thông tin là do:

- Xã Phù Lưu thuộc huyện Hàm Yên là trung tâm của khu bảo tồn thiên

nhiên, với hầu hết các ngành nghề trong cơ cấu kinh tế như: nông lâm nghiệp, công

nghiệp chế biến, xây dựng, khách sạn nhà hàng, khai thác đá… tỷ lệ hộ nghèo của

xã là 14,47% , điều kiện đất đai của xã rất đa dạng như: núi, ruộng cao, ruộng thấp

- Xã Trung Hà và Hà Lang thuộc huyện Chiêm Hóa có nhiều người dân tộc

sinh sống, người Dao, H’Mông, Cao Lan chiếm tỷ lệ 98% dân số toàn xã, Tỷ lệ hộ

nghèo là của 2 xã này lần lượt là: 27,14% và 23,54%

2.2.2.2 Xác định chuẩn nghèo

Trong nghiên cứu của luận văn, tác giả chọn chi tiêu bình quân của mỗi

người trong hộ gia đình để làm tiêu chí xét hộ có là diện nghèo hay không Căn cứ

trên đề xuất của Bộ LĐTBXH, theo đó, khi chi tiêu bình quân của mỗi người trong

hộ nếu nhỏ hơn 400.000 đồng / tháng thì hộ xem như diện nghèo

2.2.2.3 Mô hình kinh tế lượng

Như phân tích ở trên, tình trạng nghèo của hộ gia đình xuất phát từ những

nguyên nhân khác nhau Điều đó có nghĩa là khả năng nghèo của hộ gia đình sẽ là

một hàm phụ thuộc vào những yếu tố ảnh hưởng đến nó Để xác định một số biến

số có khả năng tác động đến xác suất nghèo của hộ, tác giả thiết lập mô hình hồi

quy logistic mà biến phụ thuộc có giá trị bằng 1 nếu hộ là nghèo và có giá trị bằng 0 nếu hộ không nghèo

Mô hình có dạng như sau:

Y = f(dientich, dilamxa, hocvan, lamnong, sotienvay, dantoc, duongoto, gioitinhchu, khoangcach, phuthuoc, sonam)

Khi đó hàm sản xuất Cobb- Douglass có dạng:

Y= a0*dienticha1*dilamxaa2*hocvana3*lamnonga4*sotienvaya5*dantoca6*duongotoa7*

gioitinhchua8*khoangcacha9*phuthuoca10*sonama11*eu Logarit hóa hai về ta được:

Ln Y=Lna0+Ln(dienticha1 *dilamxa a2 *hocvan a3 *lamnong a4 *sotienvay a5 *dantoc a6

* duongotoa7* gioitinhchua8*khoangcacha9*phuthuoca10*sonama11) + u Trong đó:

Biến phụ thuộc:

Dạng hộ ( ký hiệu là Y): là biến giả

+ Y=1 nếu hộ thuộc diện nghèo +Y= 0 nếu hộ không thuộc diện nghèo

Biến độc lập:

(1)Dientich: Là biến thể hiện diện tích đất của hộ gia đình (1.000 m2), kỳ

vọng mang dấu (-)

(2)Dilamxa: là biến giả, kỳ vọng mang dấu (-)

+ Nhận giá trị 1 nếu hộ có người đi làm xa

+ Nhận giá trị 0 nếu hộ không có người đi làm xa

(3)Hocvan: là biến thể hiện số năm đi học của chủ hộ, kỳ vọng mang dấu (-) (4)Lamnong: là biến giả, kỳ vọng mang dấu (+)

+Nhận giá trị 1 nếu chủ hộ làm việc liên quan tới nghề nông

+Nhận giá trị 0 nếu chủ hộ làm việc trong các ngành phi nông nghiệp

(5)Sotienvay: là biến cho biết giá trị số tiền của hộ gia đình vay từ các tổ

chức tín dụng chính thức (triệu đồng), kỳ vọng mang dấu (-)

(6)Dantoc: là biến giả, kỳ vọng mang dấu (+)

+Nhận giá trị 1 nếu hộ là dân tộc thiểu số (không phải người kinh và Hoa) +Nhận giá trị 0 nếu hộ là người Kinh và Hoa

(7)Duongoto: là biến giả, kỳ vọng mang dấu (-)

+Nhận giá trị 1 nếu hộ có đường ô tô đến tận nhà

+Nhận giá trị 0 nếu hộ không có đường ô tô đến nhà

Trang 26

(8)Gioitinh: là biến giả, kỳ vọng mang dấu (-)

+Nhận giá trị 1 nếu chủ hộ là nam giới

+Nhận giá trị 0 nếu chủ hộ thuộc nữ giới

(9)Khoangcach: là biến thể hiện số Km từ hộ gia đình đến chợ, kỳ vọng

e là sai số ngẫu nhiên

 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phần mềm phân tích thống kê SPSS (Statistical Package for

Social Sciences) để mô tả sự tác động qua lại giữa các nhóm yếu tố và áp dụng mô

hình logistic để phân tích sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến xác suất nghèo

của hộ gia đình Với các kết quả phân tích, tác giả lựa chọn và đề xuất các chính

sách nhằm tăng thu nhập cho hộ nghèo thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu

tỉnh Tuyên Quang

Kết luận chương 2

Sau khi xác định được phương pháp để tìm hiểu vấn đề cần nghiên cứu, tác

giả cố gắng xác định những yếu tố có thể ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của hộ

gia đình ở khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang Khi tiến hành cho

các yếu tố này biến động theo chiều hướng khác nhau thì xác suất nghèo của hộ gia

đình sẽ thay đổi như thế nào

Giảm nghèo không chỉ là một trong những chính sách xã hội cơ bản được

Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm, mà còn là một bộ phận quan trọng của mục

tiêu phát triển kinh tế của đất nước Mặc dù, chúng ta đã đạt được thành tựu rất to

lớn trong thời gian qua, song những thách thức sắp tới đối với công cuộc giảm

nghèo sẽ luôn là vấn đề cần được các cấp, các ngành tiếp tục nghiên cứu và phải có

những giải pháp hữu hiệu, đồng bộ để công tác xóa đói, giảm nghèo của chúng ta

tiếp tục thu được những thành tựu mới

Chương 3 THỰC TRẠNG THU NHẬP HỘ NÔNG DÂN NGHÈO KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN CHAM CHU, TỈNH TUYÊN QUANG 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu- khu bảo tồn thiên nhiên cham chu tỉnh Tuyên Quang

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu nằm trên địa phận hai huyện Hàm Yên

và Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Năm 2000 đã được Cục Kiểm lâm - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất vào danh mục các khu rừng đặc dụng Việt Nam trực thuộc sự quản lý của UBND tỉnh Tuyên Quang Theo Tổ chức Động thực vật Quốc tế (FFI) và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, KBTTN Cham Chu là một điển hình về sự đa dạng sinh học cả về hệ sinh thái rừng, thảm thực vật rừng và động thực vật rừng; đặc biệt có loài Voọc mũi hếch, là loài quý hiếm và đặc hữu của Việt Nam và Thế giới

Năm 2001, Chi cục Kiểm lâm Tuyên Quang đã phối hợp với Viện Sinh thái

và Tài nguyên sinh vật tiến hành xây dựng Dự án KBTTN Chạm Chu, UBND tỉnh Tuyên Quang phê duyệt tại Quyết định số 1536/QĐ-UB ngày 21 tháng 9 năm 2001

và được ghi vào trong tổng số 62 Khu bảo tồn thiên nhiên thuộc hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam

Khu Bảo tồn thiên nhiên Cham Chu có tổng diện tích tự nhiên là 40.274,1

ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp là 34.277,9 ha với 15.262,3 ha là rừng đặc dụng, trên diện tích hành chính của 05 xã Trung Hà, Hà Lang, Hoà Phú huyện Chiêm Hoá; xã Yên Thuận, Phù Lưu huyện Hàm Yên Khu Bảo tồn giới hạn từ

22o04’ đến 22o21’ vĩ độ Bắc, từ 104o53’ đến 105o14’ kinh độ Đông Khu Bảo tồn thiên nhiên Cham Chu nằm ở vùng núi Cham Chu, nằm giữa 2 con sông là: Sông

Lô ở phía Tây và sông Khuổi Guồng thuộc lưu vực sông Gâm ở phía đông Phía Nam là nơi hội lưu của 2 con sông này Đặc điểm địa hình, hình thành khu hệ động thực vật đa dạng và phong phú

+ Phía Bắc giáp huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang

+ Phía Đông giáp các xã Minh Quang, Tân Mỹ, Phúc Thịnh và Tân Thịnh huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang

Trang 27

+ Phía Nam giáp các xã: Bình Xa (huyện Hàm Yên) và xã Yên Nguyên

(huyện Chiêm Hoá), tỉnh Tuyên Quang

+ Phía Tây giáp xã Yên Lâm và Yên Phú (huyện Hàm Yên), tỉnh Tuyên Quang

3.1.1.2 Địa hình

Phần lớn diện tích Khu Bảo tồn thiên nhiên Cham Chu có kiểu địa hình núi

trung bình (701 - 1700 m); độ cao trung bình toàn khu vực khoảng 900 m Có ba

đỉnh cao ở trung tâm gồm Cham Chu (1.587m), Pù Loan (1.154m) và Khau Vuông

(1.218m) Có thể chia địa hình Khu BTTN Cham Chu thành một số kiểu sau:

* Địa hình núi:

- Phía Đông Bắc có dãy Khau Coóng chạy đến tận ranh giới khu bảo tồn,

đường đỉnh (đường phân thủy) của dãy cũng là đường ranh giới giữa 2 xã Trung Hà

và Hà Lang

- Phía Đông Nam và Nam có hệ thống núi Đèn, Đèo Gà, Khao Kiêng; đường

phân thủy của các hệ thống núi này cũng là ranh giới của các xã Hà Lang - Tân An

và Tân An - Hoà Phú Độ cao giảm dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam

- Phía Tây Khu bảo tồn là 2 dông núi tạo thành cánh cung kẹp lấy thung lũng

xã Phù Lưu với cánh cung Tốc Lũ ở phía Nam và cánh cung Lăng Bán ở phía Bắc

- Phía Tây - Bắc có hệ thống núi đá vôi nằm trên địa bàn 2 xã Trung Hà và

Yên Thuận; các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam (núi Khuổi My, Núi

Cánh Tiên, núi Quân Tinh)

* Địa hình đồng bằng:

- Phía Đông núi Cham Chu là dải đất tương đối bằng phẳng dài hơn 21 km

(đường chim bay) Là nơi sinh sống của hầu hết dân cư xã Trung Hà, Hà Lang và

Tân An;

- Phía Tây là dải đất bằng dài hơn 20 km; nơi sinh sống, định cư và canh

tác của 5 xã Yên Thuận, Bạch Xa, Minh Khương, Minh Dân và Phù Lưu,

huyện Hàm Yên

* Kiểu địa hình ngập nước

Ngoài 2 kiểu địa hình kể trên, địa hình ngập nước cũng được coi là khá quan

trọng, tuy diện tích không lớn nhưng nó đóng vai trò quan trọng trong việc hình

thành vi khí hậu của kiểu sinh thái ngập nước, là nguồn cung cấp nước, hình thành

hệ sinh thái tự nhiên giàu tính đa dạng sinh học của khu vực; địa hình này tồn tại ở

các dạng: Ao, hồ, sông, suối và các thủy vực

3.1.1.3 Điều kiện thời tiết, khí hậu, thuỷ văn

* Khí hậu:

Vùng Cham Chu có những nét tương đồng với chế độ khí hậu vùng Đông Bắc Nhiệt độ trung bình hàng năm 22,90C; Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất xuống đến 15,50c vào tháng 1, tháng cao nhất lên đến 28,20C rơi vào tháng 7 Tổng lượng mưa trung bình năm đạt 1661mm đặc biệt 4 tháng có lượng mưa trung bình trên 2000mm là các tháng 6,7,8,9 chiếm đến 65,24% tổng lượng mưa năm Điều này gây nên hiện tượng lũ lụt, xói mòn đất và các thiệt hại về người, môi trường và kinh tế trong 3 năm liền 1999, 2000, 2001 lũ lụt thường xuyên xảy ra trên địa bàn khu vực nghiên cứu, gây thiệt hại lớn về người và của cải

Thời kỳ khô hạn là thời kỳ kéo dài từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau, đây là thời

kỳ khô hạn đối với sự phát triển của hệ sinh thái

* Thuỷ văn:

Bên cạnh sự đa dạng phong phú về các loài động, thực vật Khu Bảo tồn thiên nhiên Cham Chu là thượng nguồn của một số con suối lớn cung cấp nước sinh hoạt, phục vụ nông nghiệp cho người dân ở khu vực và các xã lân cận như xã Yên Nguyên, huyện Chiêm Hoá; xã Tân Thành, huyện Hàm Yên

Một đặc điểm chung của vùng núi Đông Bắc là hệ thống sông suối dày đặc, cộng với lượng mưa năm lớn (1661mm), hệ thống sông suối góp phần tạo nên độ

ẩm không khí cao về mùa mưa Tổng chiều dài sông suối trong toàn bộ khu vực đạt đến 1113,7 km tương ứng khoảng 1,9 km/km2 Phía Tây là sông Lô đây cũng là ranh giới của Khu bảo tồn, phía Đông có hệ thống sông Khuổi Guồng bắt nguồn từ thũng lũng xã Trung Hà chảy qua địa phận xã Hà Lang, hợp lưu với hệ thống sông Tân Thành và sông Phúc Ninh ở phía Tây Nam khu bảo tồn

3.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên

Khu BTTN có khu hệ động, thực vật phong phú, đặc trưng bởi hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi vùng Đông Bắc Việt Nam

a Các hệ sinh thái rừng

Khu BTTN Cham Chu là nơi hội tụ của nhiều luồng thực vật: Thực vật nhiệt đới Đông nam châu Á (Baltzert et al, 2001), rừng á nhiệt đới Nam Trung Quốc và rừng Á nhiệt đới núi cao Đông Himalaya; bước đầu xác định tại Khu BTTN Cham Chu có 7 kiểu rừng: (1) Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi; (2) Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới trên núi trung bình, núi cao (>700m); (3) Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp;

Trang 28

(4) Rừng hỗn giao tre nứa- cây lá rộng; (5) Rừng tre nứa; (6) Rừng thứ sinh,

rừng trồng; (7) Thảm tươi (trảng cỏ), cây bụi;

b Sự đa dạng về khu hệ thực vật

Đến nay đã thống kê được 906 loài thuộc 425 chi, 136 họ thực vật bậc cao có

mạch Trong đó có 58 loài quí hiếm thuộc 55 chi 36 họ; nằm trong Sách đỏ Việt

Nam năm 2007 có 43 loài thuộc 40 chi, 33 họ; trong Danh lục đỏ của IUCN năm

2009 có 23 loài thuộc 25 chi, 16 họ; trong Nghị định 32/CP của Chính phủ về quản

lý các loài động thực vật quí hiếm có 16 loài thuộc 15 chi, 15 họ

c Đa dạng về khu hệ động vật

Khu hệ thú: có 33 loài đã được ghi nhận ở Khu BTTN Cham Chu, trong đó

có 01 loài bị đe doạ ở cấp quốc gia; 2 loài ở cấp độ thế giới; 9 loài ghi trong NĐ/32

của Chính Phủ (32/2006/NĐ-CP); có 21 loài thuộc diện ưu tiên bảo tồn

Khu hệ chim: Khu hệ chim ở Khu BTTN bước đầu xác định có 47 loài thuộc

19 họ; trong đó có 03 loài thuộc diện nguy cấp

Khu hệ bò sát - ếch nhái: đã ghi nhận với tổng số 11 loài thuộc 3 bộ, 11 họ;

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.1.2.1.Tình hình dân sinh-xã hội

Dân số sinh sống ở khu vực giáp ranh và bên trong KBTTN có 28.411 người

Các dân tộc chủ yếu là Kinh, Tày, Dao, Hoa, H’Mông Trình độ dân trí thấp, kỹ

thuật canh tác lạc hậu, đời sống kinh tế khó khăn nên phần lớn còn sống phụ thuộc

vào rừng và các sản phẩm từ rừng Đây là áp lực rất lớn có tác động tiêu cực đối với

tài nguyên thiên nhiên Chính vì vậy, KBTTN Cham Chu đã đánh giá nhu cầu bảo

tồn và kế hoạch các hoạt động trình tự ưu tiên, trình lên Quỹ bảo tồn rừng đặc dụng

Việt Nam xin hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động làm giảm sự tác động đến mức tối

thiểu của cộng đồng vào tài nguyên thiên nhiên khu bảo tồn

 Dân tộc

Toàn bộ KBTTN Cham Chu có 5 dân tộc chính đang sinh sống là: Kinh,

Tày, Dao, Hoa, H’Mông chiếm 98,2%, các dân tộc Cao Lan chỉ chiếm một số lượng

rất ít 1,8%)

Từ kết quả được tổng hợp ở bảng 3.1 cho thấy: Trong 5 dân tộc chính sinh

sống trong vùng, Dân tộc Tày có số dân đông nhất bằng 17.047 người (chiếm 60%)

sau đó đến dân tộc Dao 6.768 người (chiếm 23,8%) và ít nhất là dân tộc H’Mông (chiếm 1,28%)

Bảng 3.1: Thành phần dân tộc sinh sống trong khu vực khu bảo tồn thiên nhiên

Cham Chu tỉnh Tuyên Quang

(người)

Tỉ lệ (%)

(Nguồn: Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang)

Người Tày: Thuộc nhóm Tày - Thái, sống chủ yếu ở vùng thung lũng chân

núi và một phần vùng đồi

Bản của người Tày thường ở chân núi hay ven suối Tên bản thường gọi theo tên đồi núi, đồng ruộng, suối, khúc sông Mỗi bản có từ 15 đến 20 nóc nhà Bản lớn chia ra nhiều xóm nhỏ

Người Tày có một nền nông nghiệp cổ truyền khá phát triển với đủ loại cây trồng như lúa, ngô, đậu, cây ăn quả …và rau xanh, mùa nào thức đó Người Tày với các lễ hội Lồng tồng, giã cốm được tổ chức và duy trì hàng năm đã mang đến cho du khách những ấn tượng sâu sắc về nét văn hóa làng quê

Người Dao: Người Dao ở KBTTN Cham Chu thuộc ngành Dao đỏ có nguồn

gốc từ Quảng Đông (Trung Quốc) vượt biên di cư đến đất Quảng Yên - tỉnh Quảng Ninh (Việt Nam) trong khoảng thế kỷ XV- XVIII Từ đó họ đi sâu vào trong đất liền cư trú tại một số vùng thuộc tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn và Tuyên Quang Người Dao hiện sống tập trung ở hầu hết các xã, nhưng phân bố nhiều ở các xã: Yên Thuận, Phù Lưu, Trung Hà,

Người Dao cư trú ở KBTTN Cham Chu lâu đời, tập quán của người Dao là trồng lúa nương, ruộng nước và hoa màu, hát Páo dung; nghề thủ công: dệt, rèn, may phát triển Khả năng sử dụng thuốc nam từ cây rừng rất phong phú Tuy nhiên, đây là bộ phận đồng bào có các hoạt động sản xuất liên quan và tác động

Trang 29

nhiều tới rừng và môi trường, cần có sự hỗ trợ để đồng bào phát triển kinh tế nhưng

vẫn bảo vệ được tài nguyên rừng và môi trường sinh thái

Người Kinh: Người Kinh di cư đi khai hoang đến để tìm vùng đất mới sinh

sống Một số người từ vùng lân cận như Thái Nguyên, Hà Giang, Bắc Kạn số còn

lại ở các tỉnh xa hơn như Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Hà Nam, Hưng

Yên đến khai hoang, sinh cơ lập nghiệp Đến nay nhóm người Kinh có mặt ở hầu

hết các xã thuộc KBTTN Cham Chu Người kinh với tập quán sản xuất lúa nước,

chăn nuôi và tham gia dịch vụ, thương mại Đây là bộ phận tiên phong trong tiến

trình xây dựng, phát triển kinh tế xã hội Người Kinh với một số lễ hội truyền

thống chính như: Hội làng hàng năm là một dịp sinh hoạt hấp dẫn ở hầu hết các

thôn, làng nhất là vào dịp đầu xuân

Các dân tộc khác như Sán Chay, Nùng, Hoa, H’Mông đều có những phong

có lễ hội thu hút nhiều người, nhiều lứa tuổi khác nhau,

Những giá trị văn hóa mang bản sắc riêng cho từng dân tộc nêu trên cần

được bảo tồn, phát triển và có những chính sách phù hợp để tạo điều kiện hỗ trợ

đồng bào giữ gìn bản sắc văn hoá và thuần phong mỹ tục của từng dân tộc Đây

chính là tiềm năng, nguồn tài nguyên đầy triển vọng trong việc xây dựng các loại

hình du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch lễ hội trong tương lai;

 Dân số và lao động:

Dân số nằm trong vùng đệm và vùng lõi KBTTN có 6.227 hộ với 28.411

nhân khẩu Dân số phân bố tương đối đồng đều giữa các xã trong khu vực, mật độ

cao nhất là xã Hòa Phú (99 người/km2), thấp nhất là xã Hà Lang (41 người/km2

Số khẩu (người)

Tỷ lệ (%)

Mật độ (người/km 2

(Nguồn: Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang)

Số lượng nhân khẩu tập trung đông nhất ở 4 xã đó là Phù Lưu, Yên Thuận huyện Hàm Yên, Trung Hà, Hòa Phú huyện Chiêm Hóa chiếm 88,8%, cho thấy sức

ép của người dân từ các xã này vào rừng là rất lớn Xã có số dân ít nhất là Hà Lang huyện Chiêm Hóa chỉ chiếm 11,2%, chứng tỏ sức ép của người dân từ xã này là thấp hơn Tính trung bình mỗi hộ gia đình có từ 4 –5 người Như vậy số người sinh con thứ 3 thứ 4 vẫn còn phổ biến, tạo ra áp lực to lớn về dân số và vấn đề giải quyết việc làm rất nặng nề trong những năm tiếp theo

Lực lượng lao động và sự phân bố lao động trong 05 xã thuộc tại KBTTN thống kê tại biểu sau:

Bảng 3.3: Lao động và phân bố lao động của các xã thuộc khu bảo tồn

thiên nhiên Cham Chu

(Nguồn: Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang)

Lực lượng lao động trong khu vực phần lớn là sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng cây công nghiệp với thu nhập thấp Diện tích trồng lúa chủ yếu 2 vụ trên năm, một số diện tích trên cao trồng cam, cây cam là nguồn thu nhập chính cho nông dân ở đây và sắn

Một số ít trong số lao động này làm trong các lĩnh vực khác như giáo dục, y

tế, dịch vụ, công nhân lâm nghiệp thuộc các Công ty Lâm Nghiệp Với lực lượng lao động nhiều nhưng cơ cấu ngành nghề đơn điệu (chủ yếu là sản xuất nông nghiệp theo mùa vụ, năng suất lao động thấp) dư thừa lao động và nhiều thời gian nông nhàn đang là sức ép đến tài nguyên rừng vì kế mưu sinh Bên cạnh đó việc phát triển kinh tế bằng chăn nuôi gia súc theo phương thức thả tự do vào rừng cũng là nguy cơ đe dọa nghiêm trọng đối với đa dạng sinh học ở KBTTN Cham Chu

 Giao thông vận tải

Tất cả các xã trong Khu bảo tồn đều có đường ô tô tới trung tâm xã; có

162 thôn, bản có đường ô tô đến thôn, đạt 58% Tuy nhiên, đường giao thông

Trang 30

chất lượng còn thấp, chủ yếu là đường đất, một số ít là đường bê tông và đường

cấp phối được đầu tư từ chương trình phát triển nông thôn mới, khả năng sử

dụng còn nhiều hạn chế, đặc biệt là vào mùa mưa

Mạng lưới giao thông đến các xã của huyện Hàm Yên mới chỉ có đường ô tô

cấp phối đến trung tâm xã, đường gập ghềnh, nhỏ hẹp, nhiều ổ gà, ổ voi Rất khó

khăn cho việc đi lại Hệ thống giao thông của các xã thuộc huyện Chiêm Hóa đã

được rải nhựa từ huyện đến trung tâm xã

Vị trí của Ban quản lý KBTTN Cham Chu đặt tại thôn Làng Bát xã Tân

Thành, huyện Hàm Yên, đường đi lại tới các xã trong Khu Bảo tồn xa Từ trụ sở

làm việc của KBTTN Cham Chu đi đến cuối xã Trung Hà huyện Chiêm Hoá dài

hơn 90km

 Thuỷ lợi

Các công trình tưới, hệ thống kênh mương, phai đập, hồ chứa nước với khối

lượng 294 công trình đầu mối; có 249,5 km kênh mương trong đó có 146,4 km đã

được kiên cô hóa và xây dựng 29 công trình cấp nước sạch được đầu tư từ chương

trình phát triển nông thôn mới đã góp phần nâng cao hệ số sử dụng đất và chất

lượng cuộc sống của người dân trong vùng Mặc dù vậy, các công trình thuỷ lợi

hiện tại đảm bảo tưới, tiêu cho 70% diện tích lúa và rau màu của các xã Tuy nhiên,

một số các công trình được xây dựng từ lâu, do tác hại của thiên tai và mưa lũ, kinh

phí để duy tu sửa chữa thường xuyên còn thiếu, công tác quản lý khai thác còn

nhiều bất cập, dẫn đến các công trình bị xuống cấp không đảm bảo năng lực thiết

kế Do đó, trong thời gian tới, các công trình cần sớm được tu bổ, sửa chữa, nâng

cấp và xây mới để đáp ứng tốt hơn cho sản xuất của người dân Bên cạnh đó, tăng

cường công tác bảo vệ rừng đặc dụng lưu vực đầu nguồn nhằm hại chế tác hại của

thiên tai tới các công trình xây dựng

 Đường điện

Toàn bộ 05 xã: Phù Lưu, Yên Thuận, Hòa Phú, Hà Lang, Trung Hà đều đã có

điện lưới quốc gia Tuy nhiên đường dây tải điện còn yếu, và thường xảy ra mất điện

 Y tế :

Toàn vùng có 2 bệnh viện huyện và 100% các xã đều có trạm y tế xã, mỗi

trạm đều có 3-4 người y, bác sỹ hay hộ lý và trên 70% số thôn, bản có cán bộ y tế

Nhưng do khó khăn về cơ sở hạ tầng vật chất còn nghèo nàn, thiếu thốn về thuốc

men, điều kiện về vệ sinh không được đảm bảo và đội ngũ cán bộ y tế có năng lực

và chuyên môn cao còn thiếu Hoạt động chủ yếu của các trạm y tế chỉ đáp ứng

chữa trị một số bệnh thông thường và chỉ là nơi giáo dục, tuyên truyền để giúp cho

bà con chống lại các bệnh dịch

Các loại bệnh phổ biến trong vùng là bệnh đường ruột, bệnh đau mắt, bệnh

da liễu, các loại bệnh đường hô hấp…

 Giáo dục:

Hệ thống giáo dục hầu hết của các xã đã được nâng cấp Tuy nhiên ở một số cộng đồng người H’Mông, Cao Lan tỉ lệ đi học còn thấp, đặc biệt là cộng đồng người H’Mông UBND xã và cán bộ giáo viên đã xuống tận thôn vào hộ gia đình đã vận động, giải thích cho con em họ đi học trở lại Tuy nhiên tình trạng bỏ học vẫn thường xảy ra

Chương trình 135 của Chính phủ, dự án đa dạng hóa thu nhập nông thôn (RIDP) đã xây dựng các phòng học kiên cố tại các xã, tập trung cho hộ nghèo, vốn tín dụng, nước sạch, người dân địa phương cũng đóng góp để thực hiện các chương trình này, hội phun nữ tham gia quản lý Tuy nhiên số phòng kiên cố không nhiều, một số lớp học dựng tạm bợ của các lớp học phổ biến ở các thôn chủ yếu là ở cấp I

và lớp mẫu giáo Có nhiều thôn không có lớp học, học sinh đi bộ khoảng 4-5km để đến trường phổ biến khá đông Trang thiết bị phục vụ học tập như: bàn, ghế, bảng học rất xộc xệch, giáo cụ còn thiếu thốn Số học sinh trong một lớp học cao, độ tuổi lại rất chênh lệch nhau

Đội ngũ giáo viên còn thiếu, tỷ lệ giáo viên người dân tộc địa phương còn khiêm tốn và phân bố không đều, chủ yếu là dạy các lớp mầm non và cấp I, số giáo viên dạy cấp II, cấp III thường là các thầy cô giáo ở tỉnh, huyện và một số tỉnh miền xuôi lên công tác nhưng do điều kiện về thiếu thốn về chỗ ở, thiếu thông tin, thiếu thốn tình cảm và ít được sinh hoạt văn hóa văn nghệ Điều này khiến các thầy cô không thật sự yên tâm công tác và hạn chế khẳ năng phấn đấu chuyên môn của các thầy cô giáo

 Thông tin văn hóa:

Mạng lưới thông tin, văn hoá khá phát triển; 100% số xã đều thu được tín hiệu phát thanh truyền hình, Hầu hết các thôn có hệ thống loa truyền thanh; toàn vùng có 5 điểm bưu điện văn hóa xã và 11 nhà văn hoá thôn bản, hoạt động văn hóa

Trang 31

từng bước đi vào nề nếp, các giá trị văn hóa dân tộc được bảo tồn, đặc biệt là duy trì

và tổ chức tốt các lễ hội truyền thống của dân tộc (chọi trâu, hội xuống đồng );

Đất Lâm nghiệp (Ha)

Đất cây công nghiệp(Ha)

Đất khác (Ha)

(Nguồn: Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang)

Từ số liệu trên ta thấy, diện tích đất lâm nghiệp trong vùng rất lớn, với

34.277,9 ha chiếm 85,1% tổng diện tích đất tự nhiên Qua đó ta thấy rằng tiềm năng

của hoạt động sản xuất lâm nghiệp là rất lớn trong chiến lược phát triển kinh tế

vùng Đất nông nghiệp của 05 xã là 3.122,72 ha chiếm 7,7%, tổng diện tích tự

nhiên Như vậy đất nông nghiệp chiếm tỉ lệ thấp và phân bố không đồng đều, xã có

nhiều đất nông nghiệp nhất là Phù Lưu (huyện Hàm Yên) 1.119,7 ha, xã có ít là Hà

Lang (huyện Chiêm Hóa) 213,5 ha Đất sản xuất cây công nghiệp (Cam, Quýt, Sắn,

Chè, …) chiếm 2,36% phân bố không tập trung, chưa được quy hoạch kế hoạch sử

dụng đất dài hạn cụ thể, phần lớn là sản xuất tự phát với trình độ sản xuất lạc hậu,

năng suất cây trồng thấp

 Sản xuất nông nghiệp:

Sản xuất nông nghiệp là một ngành kinh tế chủ đạo của 2 huyện, nhưng với

diện tích gieo trồng còn nhỏ hẹp, năng suất cây trồng thấp nên đời sống của người

dân chỉ dựa vào nông nghiệp là rất khó khăn Hàng năm vẫn còn 25% số hộ thiếu

lương thực trong những tháng giáp hạt

Sản xuất cây công nghiệp như Cam, Quýt, Sắn, Ngô đang là một giải pháp

xoá đói giảm nghèo của nhân dân trong KBTTN Nhưng với quỹ đất hạn hẹp, chưa

có quy hoạch nên sản xuất còn diễn ra manh mún và tự phát cùng với kỹ thuật canh

tác lạc hậu nên năng suất cây trồng không cao Bên cạnh đó đầu ra của sản phẩm

không ổn định là những nguyên nhân khiến cho người dân không chuyên tâm vào sản xuất, đầu tư giống mới có năng xuất cao

Ngoài các loài cây trồng chính như đã nêu trong khu vực còn có một số loài cây trồng khác chiếm diện tích đáng kể như rau, đậu, vừng, lạc…

 Sản xuất công nghiệp và dịch vụ:

Sản xuất công nghiệp và dịch vụ chiếm vị trí rất nhỏ, hầu như không đáng kể trong nguồn thu của các xã nằm trong khu vực Các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp chiếm vai trò chủ đạo Sản xuất hàng hoá trong lĩnh vực thủ công nghiệp đang từng bước hình thành; một số hộ gia đình có điều kiện kinh tế bắt đầu hình thành mạng lưới dịch vụ buôn bán; sản phẩm chủ yếu là các nhu yếu phẩm tiêu dùng, vật liệu xây dựng (xi măng, sắt thép ), vật tư nông nghiệp (phân bón, thuốc trừ sâu, dụng cụ nông nghiệp )

Khu vực KBTTN Cham Chu không có các cơ sở sản xuất công nghiệp, chỉ có một số lò gạch sản xuất gạch thủ công (gạch nung) phục vụ tại chỗ nhưng hiện nay quy

mô hoạt động nhỏ và có tính chất thời vụ phục vụ xây dựng tại chỗ là chủ yếu Các cơ sở dịch vụ chủ yếu phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp và đời sống sinh hoạt trên địa bàn

Điều này cho thấy sản xuất nông nghiệp thuần tuý vẫn đóng vai trò chủ đạo, chiếm tỷ lệ cao và thu hút, sử dụng phần lớn lao động của khu vực Du lịch, dịch vụ vẫn chỉ là tiềm năng, lợi thế nhưng chưa được đầu tư khai thác; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng thì rất nhỏ bé thiếu đầu tư

 Chăn nuôi và thuỷ sản:

Chăn nuôi: Do có thuận lợi về diện tích rừng rộng lớn, đồi núi thấp nhiều,

thành phần loại thức ăn phong phú thích hợp với việc chăn nuôi đại gia súc vì vậy chăn nuôi trâu, bò khá phát triển trong vùng Phương thức chăn nuôi theo tập quán thả rông vào rừng, không kiểm soát quản lý, chỉ khi cần mới được tìm về Gia cầm chủ yếu là

gà, vịt được nuôi ở quanh nhà Bình quân mỗi gia đình nuôi từ 1-2 con lợn, 2-3 con trâu hoặc bò, nhiều gia đình có tới 5-10 con trâu, bò thả rông trong rừng

Chăn nuôi đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của đồng bào trong KBTTN, chăn nuôi không những cung cấp nguồn thức ăn tại chỗ mà còn cung cấp sức kéo cũng như phân bón cho sản xuất nông nghiệp, góp phần làm tăng năng suất cây trồng cũng như việc cải tạo đồng ruộng Nhưng phương thức nuôi thả tự do gia súc vào rừng đang gây ra những mối nguy hại cho đa dạng sinh học của KBTTN

Trang 32

Thuỷ sản: hệ thống sông, suối nhiều, do đó nghề đánh bắt, nuôi trồng thuỷ

sản khá phát triển, trung bình mỗi năm người dân trong vùng khai thác từ 10 – 15

tấn cá các loại cùng với nhiều loại thuỷ sản khác như tôm, ốc, ếch…phục vụ nhu

cầu thực phẩm hàng ngày cho người dân

 Sản xuất lâm nghiệp

Trong phạm vi KBTTN có 2 tổ chức kinh tế quốc doanh hoạt động trong lĩnh

vực lâm nghiệp là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Chiêm

Hóa (Chuyển đổi từ Lâm trường Chiêm hóa) và Công ty trách nhiệm hữu hạn một

thành viên lâm nghiệp Tân Thành (Chuyển đổi từ lâm trường Tân Thành) Các hoạt

động chủ yếu của các công ty này là trồng mới, bảo vệ, tu bổ làm giầu rừng và khai

thác Những năm qua người dân KBTTN đã thực hiện các chương trình theo Nghị

định 01/CP ngày 4/1/1995 (các lâm trường giao khoán rừng và đất rừng ổn định lâu

dài cho các hộ gia đình công nhân viên chức và hộ nông dân trên địa bàn) và Nghị

định 02/CP ngày 15/1/1994 của Chính phủ (Giao lại cho chính quyền địa phương

những diện tích không sử dụng để giao cho các hộ gia đình, cá nhân và tổ chức khác

sử dụng) Trong các chương trình 327, chương trình 661 người dân đã tham gia trực

tiếp vào các dự án trồng rừng, chăm sóc rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, nhận

khoán bảo vệ rừng trên diện tích đất KBTTN và các lâm trường (Nay là các công ty

lâm nghiệp)

Các hoạt động tham gia quản lý bảo vệ rừng:

Trong năm 2011-2012 Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Cham Chu cùng với

chính quyền địa phương các xã trong KBTTN tổ chức được hơn 200 cuộc họp dân ở

các thôn bản để tuyên truyền các văn bản liên quan về công tác quản lý, bảo vệ và

phát triển rừng và ký các cam kết bảo vệ rừng với các thôn bản

Một số kinh nghiệm của người dân có thể áp dụng cho bảo tồn:

Bảo tồn các loài cây quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng theo mô hình gia đình: Các

loài cây quý hiếm như Rau sắng, Ba mươi, Vang nhuộm, các loài cây làm thuốc …Các

loài động vật hoang dã thông thường như chim trĩ, nhím, dúi v.v được trồng, nuôi trong

vườn nhà vừa có thể làm thức ăn, làm thuốc và các lợi ích khác trong gia đình đã làm

tăng số lượng cá thể của các loài cây quý hiếm và các loài động vật hoang dã

 Du lịch

* Tài nguyên du lịch

Nằm trên độ cao từ 200 đến trên 1000 mét so với mặt nước biển, KBTTN Cham

Chu là một quần thể sông núi, ao hồ, thác nước sơn thủy hữu tình; một số giá trị thiên

nhiên có thể đưa vào khai thác phục vụ du lịch và giáo dục môi trường:

- Hệ sinh thái rừng tự nhiên Khu BTTN Cham Chu với sự đa dạng cao của các loài động thực vật là môi trường phục vụ thăm quan kết hợp với đào tạo và nghiên cứu khoa học

- Thác Lụa (Hòa Phú), thác Bản Ba (Trung Hà) huyện Chiêm Hóa; Khau Nàng (Yên Thuận), Mạ Héc, Nậm Lương (Phù Lưu), Xít Sa (Minh Khương) huyện Hàm Yên là điểm du lịch sinh thái khá hấp dẫn nếu được đầu tư kết cấu hạ tầng và các dịch vụ ăn, nghỉ, hướng dẫn thăm quan du lịch

- Những thôn bản người Dao, người Tày với các tập tục truyền thống và lễ hội là những điểm đến lý tưởng phục vụ du lịch khám phá, chiêm ngưỡng cho các chuyến đi cuối tuần đầy hấp dẫn;

- Khí hậu cũng là một tiềm năng du lịch của rừng đặc dụng Cham Chu Do nằm

ở độ cao trên 200 - 1000 m so với mặt nước biển, khí hậu khá mát mẻ, môi trường không khí trong lành là nơi lý tưởng cho việc xây dựng những khu nghỉ dưỡng Trong những năm qua, các cấp chính quyền của tỉnh Tuyên Quang và huyện Hàm Yên, Chiêm Hóa luôn xác định muốn bảo tồn phát triển bền vững KBTTN phải phát triển dịch vụ du lịch, nhằm tạo kế sinh nhai cho người dân, giảm áp lực dân số, đói nghèo lên tài nguyên rừng Tuy nhiên, phát triển dịch vụ và du lịch của KBTTN Cham Chu vẫn chỉ dừng ở tiềm năng, chưa khai thác được lợi thế về tự nhiên, xã hội để phát triển kinh tế xã hội các địa phương trong vùng

3.1.3 Đánh giá chung

3.1.3.1 Thuận lợi

Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu thuộc huyện miền núi có nhiều lợi thế so sánh về đất đai và lao động, về kinh tế vườn đồi, tài nguyên khoáng sản và phát triển du lịch gắn với dịch vụ Là huyện miền núi nhưng có vị trí tương đối thuận lợi nằm gần với vùng kinh tế trọng điểm phía bắc và nhiều thành phố lớn trong khu vực, thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế và hội nhập phát triển

Cơ sở hạ tầng của khu bảo tồn thiên nhiên trong những năm qua được củng

cố và tăng cường, đặc biệt là hệ thống giao thông, thuỷ lợi, điện

Là khu bảo tồn thiên nhiên có truyền thống lịch sử cách mạng và tinh thần đoàn kết gắn bó, hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh, an ninh chính trị ổn định, kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý điều hành của cấp uỷ, chính quyền từ huyện đến cơ

sở ngày càng được nâng lên Đồng thời địa phương tiếp tục được hưởng các chính sách ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế xã hội của Đảng và nhà nước tạo cho khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu sức mạnh để tiếp tục xây dựng và phát triển

Trang 33

3.1.3.2 Khó khăn

Thuộc huyện miền núi có điểm xuất phát thấp so với mặt bằng chung của

tỉnh và khu vực Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tuy đã được cải thiện song còn rất

khó khăn Trình độ dân trí còn hạn chế

Trong sản xuất nông nghiệp đã có nhiều thành công nhất định nhưng còn

phân tán, manh mún Trình độ công nghệ trong sản xuất kinh doanh còn lạc hậu,

công nghệ chế biến chưa phát triển dẫn đến trình trạng chất lượng sản phẩm và hiệu

quả sản xuất chưa cao Khả năng cạnh tranh của hàng hoá thấp, vấn đề tiêu thụ sản

phẩm cây ăn quả và cây công nghiệp còn khó khăn

Công nghiệp - TTCN và TM- DV còn nhỏ bé, khả năng thu hút các nguồn

đầu tư cho phát triển còn hạn chế, nội lực nền kinh tế còn yếu, nguồn thu ngân sách

không ổn định, còn mất cân đối

Quan hệ sản xuất ở nông thôn chậm đổi mới, hiệu quả hoạt động của các tổ chức

kinh tế quốc doanh và HTX còn thấp, chưa làm tốt vai trò chu đạo thức đẩy hộ gia đình

và các thành phần kinh tế phát triển Tỷ lệ hộ nghèo thiếu việc làm còn cao Đời sống

nhân dân miền núi vùng cao còn nhiều khó khăn là áp lực lớn đối với công tác quản lý và

điều hành

3.2 Thực trạng về thu nhập của hộ nông dân nghèo thuộc khu bảo tồn thiên nhiên

cham chu, tỉnh Tuyên Quang

3.2.1 Một số đặc điểm cơ bản về hộ nông dân đã điều tra tại khu bảo tồn thiên nhiên

Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang

3.2.1.1 Đặc điểm của chủ hộ

Bảng 3.5: Thồng tin cơ bản về chủ hộ điều tra

Tổng điều tra

Chia ra Phù Lưu Trung

Hà Lang

Trong đó: Tuổi BQ chủ hộ là nữ Tuổi 43.33 39.00 45.00 46.00

4 Trình độ văn hóa chủ hộ

5 Tỷ lệ chủ hộ tham gia tập huấn % 59.53 23.00 74.59 81.00

(Nguồn: tổng hợp từ phiếu điều tra)

Trong tổng 180 hộ điều tra có 18,03% chủ hộ là nữ, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là ở Phù Lưu với 21,52% và thấp nhất ở Hà Lang với 14,2% Tuổi bình quân chủ hộ là nữ thường thấp hơn so với bình quân chung từ 5 - 8 tuổi, chứng tỏ các hộ gia đình trẻ đang có được sự bình đẳng về giới trong suy nghĩ của mình

Xã có số chủ hộ có trình độ trên lớp 12 cao nhất là Phù Lưu với 5 người và đây cũng là xã có số chủ hộ dưới lớp 7 thấp nhất Nhìn chung trình độ học vấn chung của các xã điều tra là thấp số chủ hộ có trình độ tập trung chủ yếu từ lớp 7-

12, các xã xa trung tâm huyện thị thì mức học vấn càng là vấn đáng quan tâm

Tỷ lệ chủ hộ tham gia các lớp tập huấn còn thấp, bình quân là 59,53 % trong đó cao nhất là ở Hà Lang và thấp nhất là ở Phù Lưu Các lớp tập huấn này chủ yếu thuộc các chương trình khuyến nông, các dự án nông lâm nhằm thay đổi tập quán canh tác và chuyển giao công nghệ sản xuất cho người dân

3.2.1.2 Điều kiện sản xuất của các hộ điều tra

Bảng 3.6: Đặc điểm về điều kiện sản xuất của các hộ điều tra năm 2012

điều tra

Chia ra Phù Lưu Trung Hà Hà lang

1 DT đất bq 1 hộ m2 7075.96 6248.56 7003.27 7976.05

- Trong đó đất canh tác m2 3981.95 3453.00 3985.12 4507.73

2 Tỷ lệ hộ có DT đất canh tác

(Nguồn: tổng hợp từ phiếu điều tra)

Qua bảng ta thấy, diện tích đất bình quân 1 hộ các xã điều tra là 7075,96m2 trong đó xã có diện tích bình quân hộ cao nhất là Hà Lang là 7976,05m2, đất canh tác bình quân 1 hộ là 3981,85m2 phần lớn diện tích này là đất nông nghiệp, lâm nghiệp, diện tích dành cho nuôi trồng thủy sản là rất ít chỉ chiếm khoảng 0.75% tổng diện tích đất canh tác Số hộ có diện tích trên 5000m2 tập trung

Ngày đăng: 03/08/2016, 10:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.4: Các loại đất đai trong khu vực khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu - Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.4 Các loại đất đai trong khu vực khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu (Trang 31)
Bảng 3.5: Thồng  tin cơ bản về chủ hộ điều tra - Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.5 Thồng tin cơ bản về chủ hộ điều tra (Trang 33)
Bảng 3.8c: Theo ngành nghề sản xuất - Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.8c Theo ngành nghề sản xuất (Trang 35)
Bảng 3.9: Thực trạng tổng thu của hộ điều tra năm 2013 (tính bình quân 1 hộ) - Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.9 Thực trạng tổng thu của hộ điều tra năm 2013 (tính bình quân 1 hộ) (Trang 38)
Bảng 3.11: Tầm quan trọng của các cây trồng đối với người dân nông thôn khu - Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.11 Tầm quan trọng của các cây trồng đối với người dân nông thôn khu (Trang 39)
Bảng 3.13: Thu và cơ cấu các khoản thu từ sản xuất lâm nghiệp các nhóm hộ - Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.13 Thu và cơ cấu các khoản thu từ sản xuất lâm nghiệp các nhóm hộ (Trang 40)
Bảng 3.16: Tầm quan  trọng của các nguồn  thu nhập đối với hộ nông dân khu - Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.16 Tầm quan trọng của các nguồn thu nhập đối với hộ nông dân khu (Trang 42)
Bảng 3.15: Tầm quan  trọng của các hoạt động phi nông nghiệp ở khu bảo tồn - Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.15 Tầm quan trọng của các hoạt động phi nông nghiệp ở khu bảo tồn (Trang 42)
Bảng 3.18: Thực trạng chi tiêu của hộ điều tra năm 2013(tính bình quân 1 hộ điều tra) - Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.18 Thực trạng chi tiêu của hộ điều tra năm 2013(tính bình quân 1 hộ điều tra) (Trang 47)
Bảng 3.20: Mô hình Logit về nghèo ở khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu - Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.20 Mô hình Logit về nghèo ở khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu (Trang 53)
Bảng 3.21: Ƣớc lƣợng xác suất nghèo theo tác động biên từng yếu tố - Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang
Bảng 3.21 Ƣớc lƣợng xác suất nghèo theo tác động biên từng yếu tố (Trang 53)
Hình 4.1. Các nhân tố Môi trường và hệ thống Nông hộ - Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang
Hình 4.1. Các nhân tố Môi trường và hệ thống Nông hộ (Trang 60)
BẢNG 4.11.3: MÔ HÌNH TỔNG QUÁT 2 - Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang
BẢNG 4.11.3 MÔ HÌNH TỔNG QUÁT 2 (Trang 65)
BẢNG 4.11.6: HỆ SỐ TƯƠNG QUAN CẶP GIỮA CÁC BIẾN 5 - Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu tỉnh Tuyên Quang
BẢNG 4.11.6 HỆ SỐ TƯƠNG QUAN CẶP GIỮA CÁC BIẾN 5 (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w