Tuy nhiên, bước sang năm 2009, dệt may TPHCM sẽ phải đối mặt với các áp lực cạnh tranh quốc tế gay gắt như các thị trường lớn tăng cường áp dụng các tiêu chuẩn cho nhập khẩu hàng dệt may
Trang 1BỘ BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
ĐOÀN THỊ HẢI NGÂN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CHO CÁC DOANH NGHIỆP MAY TPHCM
Chuyên ngành : THƯƠNG MẠI Mã số : 60.34.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn: TS LÊ TẤN BỬU
TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2009.GIÁDỤC VÀ ĐÀO TẠO
TPDANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN Association of South East Asian Nations (hiệp hội các nước Đông
Nam Á) CMPT Cut, making, packing, thread (gia công cắt, may, thùng, chỉ)
CP SX TM Cổ phần sản xuất thương mại
EU European Union (Liên minh Châu Âu) FOB Free on board (phương thức sản xuất xuất khẩu) ISO Hệ thống quản lý chất lượng ISO
KNNK Kim ngạch nhập khẩu KNXK Kim ngạch xuất khẩu NPL Nguyên phụ liệu SXKD Sản xuất kinh doanh SWOT Strenths, Weaknesses, Opportunities, Threats (điểm mạnh, điểm
yếu, cơ hội, nguy cơ)
TP Thành Phố TPHCM Thành Phố Hồ Chí Minh WEF Diễn đàn kinh tế thế giới WTO World Trade Organization (tổ chức thương mại thế giới) WRAP Hệ thống quản lý chất lượng WRAP
Trang 2DANH MỤC HÌNH VẼ – BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng ngành may TPHCM giai đoạn
2003-2008
Bảng 2.2 Giá trị sản xuất của ngành may TPHCM theo giá thực tế năm
1994 theo từng khu vực
Bảng 2.3 Sản phẩm chủ yếu phân theo khu vực kinh tế
Bảng 2.4 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may TPHCM so với cả nước
Bảng 2.5 Tỷ trọng các thị trường xuất khẩu của TPHCM năm 2006-2009
Bảng 2.6 Quy mô lao động trong 50 doanh nghiệp dệt may TPHCM
được điều tra
Bảng 2.7 Lao động sản xuất ngành may phân theo ngành kinh tế ở
TPHCM
Bảng 2.8 Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may TPHCM
Bảng 2.9 Kim ngạch nhập khẩu NPL hàng dệt may của các doanh
nghiệp TPHCM
Bảng 2.10 Công tác thiết kế sản phẩm của doanh nghiệp may TPHCM
Bảng 2.11 Kênh phân phối hàng may mặc TPHCM
Bảng 2.12 Hoạt động quảng bá hình ảnh, sản phẩm may của các doanh
nghiệp TPHCM
Bảng 2.13 Nhãn hiệu hàng may mặc
Bảng 3.1 Mục tiêu phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2020
Ồ CH
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 9
1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh 9
1.1.1 Cạnh tranh 9
1.1.2 Thị trường cạnh tranh 10
1.1.3 Năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh 10
1.1.4 Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 12
1.1.5 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh 15
1.1.6 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh ngành may 14
1.1.6.1 Ngành may đem lại giá trị xuất khẩu cao 14
1.1.6.2 Ngành may giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động, góp phần ổn định xã hội 15
1.2 Một số kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh hàng may mặc 15
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp may nước ngoài 15
1.2.2 1.2.1.1 Kinh nghiệm của Indonexia 15
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 16
1.2.1.3 Kinh nghiệm của Hồng Kông 19
1.2.3 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp may trong nước ……… 21
1.2.4 1.2.2.1 Kinh nghiệm của công ty dệt may LEGARMEX 21
1.2.2.2 Kinh nghiệm của công ty May Việt Tiến 21
1.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho doanh nghiệp may TPHCM 23
Trang 3KẾT LUẬN CHƯƠNG I 24
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP MAY TPHCM 25
2.1 Tình hình hoạt động của ngành may TPHCM trong thời gian vừa qua 25
2.1.1 Tổng quan ngành may TPHCM 25
2.1.2 Giá trị sản xuất ngành may TPHCM 27
2.1.3 Sản phẩm chủ yếu của ngành may TPHCM 28
2.1.4 Kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp TPHCM 29
2.1.5 Thị trường xuất khẩu 30
2.1.6 Hình thức xuất khẩu 32
2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may TPHCM 34
2.2.1 Thực trạng các yếu tố nguồn lực cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 34
2.2.1.1 Yếu tố nguồn nhân lực 34
2.2.1.2 Yếu tố vốn 37
2.2.1.3 Yếu tố trình độ công nghệ và máy móc thiết bị 39
2.2.1.4 Yếu tố nguồn nguyên phụ liệu đầu vào 40
2.2.1.5 Công tác thiết kế sản phẩm may 42
2.2.2 Hiệu quả sản xuất hàng may 44
2.2.2.1 Hiệu quả sử dụng năng lượng trong sản xuất 44
2.2.2.2 Giá thành sản phẩm 44
2.2.3 Thực trạng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp 46
2.2.3.1 Chiến lược sản phẩm 46
2.2.3.2 Chiến lược phân phối 47
2.2.3.3 Chiến lược xúc tiến thương mại và hoạt động marketing 48
2.2.4 Thực trạng về thương hiệu hàng may mặc 49
2.2.5 Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may TPHCM 51
2.2.5.1 Yếu tố biến động từ thị trường dệt may thế giới 51
2.2.5.2 Yếu tố biến động từ thị trường dệt may trong nước 52
2.2.6 Yếu tố tiến bộ khoa học kỹ thuật 53
2.2.7 Yếu tố đối thủ cạnh tranh 54
2.2.7.1 Đối thủ cạnh tranh nước ngoài 54
2.2.7.2 Đối thủ cạnh tranh trong nước 56
2.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may TPHCM 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 60
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO CÁC DOANH NGHIỆP MAY TPHCM 62
3.1 Định hướng phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2020 62
3.1.1 Quan điểm phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2020 62
3.1.2 Mục tiêu phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2020 62
3.2 Cơ sở đề xuất định hướng ngành may TPHCM đến năm 2020 64
3.2.1 Quan điểm đề xuất định hướng ngành may TPHCM 64
3.2.2 Đề xuất định hướng ngành may TPHCM 64
3.3 Cơ sở xây dựng giải pháp 65
3.4 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp may TPHCM 66 3.4.1 Giải pháp về các yếu tố nguồn lực 66
3.4.1.1 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 66
3.4.1.2 Giải pháp về vốn 68
3.4.1.3 Giải pháp về đổi mới máy móc thiết bị 69
3.4.1.4 Giải pháp về nguyên phụ liệu đầu vào 69
3.4.1.5 Giải pháp cải tiến công tác thiết kế sản phẩm 71
Trang 43.4.2 Giải pháp sử dụng năng lượng trong sản xuất và tiết kiệm chi phí 72
3.4.3 Giải pháp về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp 73
3.4.3.1 Giải pháp về chiến lược sản phẩm 73
3.4.3.1.1 Đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu 73
3.4.3.1.2 Nâng cao chất lượng sản phẩm 74
3.4.3.2 Giải pháp về nghiên cứu và phát triển thị trường 75
3.4.3.3 Giải pháp về chiến lược phân phối 76
3.4.3.4 Giải pháp về xúc tiến thương mại và hoạt động marketing 77
3.4.4 Giải pháp về thương hiệu hàng may mặc 79
3.4.5 Giải pháp về khoa học công nghệ 80
3.4.6 Phát huy vai trò của Hội dệt may thêu đan TPHCM 81
3.4.7 Một số kiến nghị đối vai trò hỗ trợ của nhà nước và chính quyền TPHCM 82
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 82
KẾT LUẬN CHUNG 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Í MI
NH –Nă
LỜI NÓI ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
TPHCM là một cực phát triển của nền kinh tế cả nước nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam và có rất nhiều lợi thế sẵn có như nguồn lao động dồi dào,
cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội, dân trí… hơn các địa phương khác
Tại TPHCM, ngành dệt may vẫn đứng đầu, thu về hơn 4 tỷ USD xuất khẩu năm
2008 chiếm gần 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn thành phố Tương lai phát triển ngành công nghiệp dệt may TPHCM không chỉ là ngành công nghiệp chủ lực của thành phố mà sẽ trở thành trung tâm giao thương, kinh doanh dệt may và thời trang của cả nước, trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, bước sang năm 2009, dệt may TPHCM sẽ phải đối mặt với các áp lực cạnh tranh quốc tế gay gắt như các thị trường lớn tăng cường áp dụng các tiêu chuẩn cho nhập khẩu hàng dệt may, sự xuất hiện ngày càng nhiều các đối thủ cạnh tranh lớn có lợi thế hơn mình, áp lực giảm giá hàng dệt may trên thị trường Mỹ, Trung Quốc được bãi bỏ hạn ngạch xuất khẩu vào EU… Để giúp các doanh nghiệp dệt may TPHCM, nhất là các doanh nghiệp may mặc có thể vững vàng xuất khẩu vào các thị trường quốc tế thì một trong những điều kiện quan trọng là phải nâng cao được năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp đó Xuất phát từ lý do đó, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp may TPHCM”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về cạnh tranh
- Phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may TPHCM
- Đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp may TPHCM
Trang 53 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của các doanh nghiệp
TPHCM trong giai đoạn 2003-2008 Đề tài không đi sâu vào chuyên môn mà
phân tích một cách tổng quát để đưa ra những giải pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh cho các doanh nghiệp may TPHCM
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích, suy luận từ cơ sở lý
luận cạnh tranh kết hợp với các thông tin và số liệu thu thập được về thực trạng
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp may TPHCM, phương pháp khảo sát, điều
tra dựa trên kết quả phỏng vấn 50 doanh nghiệp
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Luận văn đã đưa ra những kiến nghị, giải pháp thực hiện cụ thể, giúp các doanh
nghiệp TPHCM có thể nâng cao năng lực cạnh tranh để hội nhập kinh tế quốc tế
Từ đó, tăng khả năng xuất khẩu hàng may mặc vào các thị trường quốc tế
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh
1.1.1 Cạnh tranh
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường Hoạt động của nó không bị giới hạn bởi không gian và thời gian Cạnh tranh là động lực phát triển của nền kinh tế Cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh nghiệp, các ngành, các quốc gia cùng sản xuất một loại hàng hóa, dịch vụ trên cùng một thị trường để giành được nhiều khách hàng, nhằm tạo ra những điều kiện có lợi nhất trong việc sản xuất, tiêu thụ hàng hóa dịch vụ với lợi nhuận cao nhất Do vậy cạnh tranh từ rất lâu đã được coi là động lực của sự tăng trưởng và phát triển Như P.A Samueson từng nói: “cạnh tranh đó là sự kình địch giữa các doanh nghiệp để giành khách hàng hoặc thị trường”
Cạnh tranh có tác dụng thúc đẩy quá trình sản xuất phát triển Thông qua cạnh tranh, sẽ kích thích các doanh nghiệp nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất để tạo ra được những sản phẩm tốt hơn, giá cả rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn Để không bị đào thải, buộc các doanh nghiệp phải luôn đổi mới, nâng cao sự sáng tạo trong hoạt động kinh doanh của mình
Bên cạnh những mặt tích cực, cạnh tranh cũng có những mặt tiêu cực Đó là sự cạnh tranh không bình đẳng, tình trạng cá lớn nuốt cá bé, thiệt hại quyền lợi của người tiêu dùng Cạnh tranh không lành mạnh sẽ dẫn đến khủng hoảng thừa, thất nghiệp Vì vậy, chấp nhận cạnh tranh như là sự tất yếu của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tìm mọi cách khai thác lợi thế riêng của mình để từ đó phát triển năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển
Trang 61.1.2 Thị trường cạnh tranh
Thị trường xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng
hóa và hình thành trong lĩnh vực lưu thông Khái niệm thị trường phản ánh các
mối quan hệ kinh tế trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa như quan hệ
giữa người bán với người mua, giữa người bán với nhau và giữa những người mua
với nhau
Paul A.Samuelson định nghĩa thị trường là một quá trình trong đó người mua và
người bán cùng một thứ hàng hóa tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và
số lượng Trong khi đó, R.S.Pindyck lại coi thị trường là một tập hợp những người
mua, người bán tương tác lẫn nhau dẫn tới khả năng trao đổi Nhưng dù trình bày
khái niệm thị trường thế nào thì thị trường cũng chính là mối quan hệ giữa tổng số
cung và tổng số cầu với cơ cấu cung cầu về một loại hàng hóa dịch vụ nào đó
Thường đã nói đến thị trường là nói đến cạnh tranh, nhưng theo R.S.Pindyck
không phải là không có thị trường không cạnh tranh, mặc dù số lượng các nhà sản
xuất tham gia rất đông nhưng các nhà sản xuất đơn lẻ có thể tác động đến giá cả
thị trường Trong nền kinh tế thị trường thì cạnh tranh chính là thuộc tính bản chất
của kinh tế thị trường Có thể nói cạnh tranh là yêu cầu có tính quy luật của nền
kinh tế thị trường Ơû đâu có thị trường, ở đó cần có cạnh tranh, chỉ có cạnh tranh
mới làm cho thị trường trở nên năng động, nhạy bén và hiệu quả hơn
1.1.3 Năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng nội tại hiện có của doanh nghiệp,
công ty hoặc một ngành sản xuất nào đó được biểu hiện trên hai mặt: lợi thế và
yếu thế về các nguồn lực và tồn tại dưới hai dạng hiện thực và tiềm ẩn với các
đối thủ cạnh tranh trên doanh trường Nói một cách cụ thể, năng lực cạnh tranh là
khả năng tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành thấp dựa vào những
lợi thế trong việc sử dụng và huy động các nguồn lực của doanh nghiệp, công ty
hoặc của ngành để có thể vượt qua các đối thủ cạnh tranh đang cạnh tranh với mình
Trong quá trình cạnh tranh, các đối thủ luôn luôn phải giành giật để đạt được vị trí hàng đầu Vì vậy, để thắng lợi trên đấu trường cạnh tranh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải hết sức quan tâm tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh, bằng cách luôn tìm kiếm các giải pháp trong công tác tổ chức, khai thác, quản lý các nguồn lực nhằm tạo ra những sản phẩm mới có chất lượng ngày càng cao, giá bán hợp lý, có sức thuyết phục mạnh hơn, phù hợp với sở thích và thị hiếu của khách hàng
Trong thời đại bùng nổ của những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, các sản phẩm và dịch vụ không ngừng được cải tiến, đổi mới làm cho tình hình cạnh tranh càng thêm gay gắt Vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh đối với các nhà quản lý sản xuất kinh doanh phải được xem như yếu tố sống còn Để làm được điều đó, đòi hỏi các doanh nghiệp, công ty, các ngành sản xuất phải phát huy khả năng sáng tạo, khai thác đầy đủ chất xám của đội ngũ cán bộ khoa học-kỹ thuật và quản lý kinh tế, nhằm tạo cho đơn vị mình, ngành của mình những ưu thế vượt trội trong cạnh tranh so với đối thủ trên các mặt chất lượng sản phẩm, kiểu dáng sản phẩm, chất lượng thương hiệu, giá cả cũng như sự chủ động về nguồn cung cấp nguyên phụ liệu
Tóm lại, sự thành công trên đấu trường cạnh tranh của doanh nghiệp, công ty hoặc một ngành nào đó, là kết quả của một quá trình thực hiện đúng đắn các giải pháp khai thác triệt để các lợi thế cạnh tranh, chọn lựa hợp lý các chiến lược và đề ra các sách lược nâng cao năng lực cạnh tranh chính xác phù hợp trong từng giai đoạn phát triển cụ thể
Trang 7
1.1.4 Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là điều kiện
tiên quyết quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trên thị trường Muốn có được
năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp phải qua một quá trình xây dựng bộ máy tổ
chức, lãnh đạo, xây dựng các chiến lược sản xuất, kinh doanh, tạo dựng môi
trường bên trong và bên ngoài tốt để làm cơ sở vững chắc cho hoạt động của
mình Doanh nghiệp là một tế bào kinh tế xã hội, tồn tại và hoạt động trong môi
trường có hàng loạt các yếu tố tác động, ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp Doanh nghiệp cần thấy rõ ảnh hưởng của các yếu tố này để có các
biện pháp tích cực nhằm hạn chế hoặc loại trừ những ảnh hưởng tiêu cực để tạo
dựng năng lực cạnh tranh của mình ngày một cao hơn
Các yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể chia làm hai
nhóm:
- Nhóm các yếu tố bên trong, bao gồm:
+ Các yếu tố về nguồn lực (nguồn nhân lực, vốn, trình độ công nghệ và máy móc
thiết bị, nguyên phụ liệu đầu vào…)
+ Hiệu quả sử dụng năng lượng trong sản xuất, giá thành sản phẩm
+ Việc đề ra và thực hiện chiến lược sản xuất kinh doanh
+ Ý thức về xây dựng thương hiệu
- Nhóm các yếu tố bên ngoài: bao gồm
+ Các yếu tố phát sinh từ các môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài
nước
+ Tiến bộ khoa học kỹ thuật
+ Đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước
+ Các chính sách và biện pháp kinh tế vĩ mô
Như vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp rất cần sự nỗ lực của bản thân doanh nghiệp và nhất là các chính sách của nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Dưới đây xin được đề cập tới các tiêu chí chủ yếu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.5 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh
Có rất nhiều tiêu chí xác định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, và không hoàn toàn nhất trí với nhau M.J Baker và S.J.Hart trong tác phẩm “marketing and competitive success” đã đưa ra bốn tiêu chí xác định là tỷ suất lợi nhuận, thị phần, tăng trưởng xuất khẩu và quy mô M.J Baker và S.J.Hart cũng cho rằng tiêu chí đơn giản nhất là mức độ đạt được mục tiêu của công ty, từ các chỉ số đo lường tài chính đến chỉ tiêu hàm lượng kỹ thuật sáng tạo Peter và Waterman đã sử dụng bảy tiêu chí để xác định, ba tiêu chí trong số đó đo lường mức độ tăng trưởng và tài sản dài hạn được tạo dựng trong 20 năm, ba tiêu chí khác đo lường khả năng hoàn vốn và tiêu thụ Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đưa ra tám tiêu chí: mức độ mở cửa nền kinh tế, vai trò của chính phủ, tài chính, kết cấu hạ tầng, công nghệ, quản lý của doanh nghiệp, lao động, thể chế trong khi một số nhà kinh tế đánh giá năng lực cạnh tranh dựa trên chỉ số cạnh tranh tăng trưởng (trình độ công nghệ, tài chính, hội nhập quốc tế) và chỉ số cạnh tranh hiện hành (chỉ số đánh giá chiến lược và hoạt động của doanh nghiệp, chỉ số đánh giá môi trường kinh doanh)
Theo tác giả, để đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành may Việt Nam và TPHCM, tác giả đề xuất tiêu chí dựa trên các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là:
- Ý thức cạnh tranh của doanh nghiệp: vì khi các doanh nghiệp ý thức được vấn đề cạnh tranh, cảm nhận được các nguy cơ đe dọa thì doanh nghiệp muốn tồn tại
Trang 8chắc chắn phải tiến hành các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh, xây dựng
chiến lược cạnh tranh
- Năng suất: đóng vai trò có tính chất quyết định vì năng suất là kết quả tổng hợp
của tất cả các yếu tố (con người, công nghệ sản xuất…đến các yếu tố về mặt tâm
lý) Năng suất lao động thấp thể hiện một trình độ quản lý, trình độ công nghệ,
trình độ nguồn nhân lực thấp, đương nhiên năng lực cạnh tranh cũng không thể
cao được
- Yếu tố nguồn lực (vốn, máy móc thiết bị, nhân lực, tiến bộ khoa học kỹ thuật…)
- Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
- Thương hiệu và đối thủ cạnh tranh
1.1.6 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh ngành may
1.1.6.1 Ngành may đem lại giá trị xuất khẩu cao
Năm 2007, dệt may đã vượt qua dầu thô để vươn lên vị trí hàng đầu trong danh
mục các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với mức tăng trưởng trên 30%
và trị giá xuất khẩu đạt 7.8 tỷ USD Năm 2008, may mặc Việt Nam tiếp tục tăng
kim ngạch xuất khẩu lên 9.13 tỷ USD
Ngoài ra, nhu cầu thị trường may mặc thế giới ngày càng tăng cao, theo nhận
định của các nhà quản lý ngành dệt may, trong 5 năm, từ 2002 đến 2006, thị
trường dệt may thế giới tăng trưởng bình quân 6%/năm cho sản phẩm dệt và 8%
cho sản phẩm may mặc Tổng nhập khẩu hàng hóa dệt may trên thế giới năm
2005 là 480 tỷ USD và trong 5 năm tới mức tăng trưởng bình quân là 8%/năm với
tổng kim ngạch vào năm 2010 ước đạt 700 tỷ USD Theo đánh giá thì lợi thế cạnh
tranh thuộc về hầu hết các nước đang phát triển tại châu Á, trong đó có Việt
Nam
Theo phòng thương mại Biella, mục tiêu xuất khẩu dệt may Việt Nam đến năm
2010 đạt khoảng 10-12 tỷ USD và sử dụng 50% nguyên phụ liệu nội địa sẽ càng
củng cố vị thế về xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trên trường quốc tế Giá nhân công Việt Nam hiện nay vẫn thuộc loại rẻ so với các nước trong khu vực, người lao động cần cù, chịu khó, có kỹ năng lao động cao Đây là một lợi thế cạnh tranh rất lớn của ngành dệt và may Việt Nam
1.1.6.2 Ngành may giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động, góp phần ổn định xã hội
Công nghiệp dệt may đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây và trở thành ngành quan trọng trong nền kinh tế đất nước Ngành dệt may không những phục vụ xuất khẩu mà còn đáp ứng cho nhu cầu mặc, thời trang cho cả thị trường nội địa 84 triệu người Ngành dệt may giải quyết công ăn việc làm cho hơn 2 triệu lao động làm việc ở trên 2.000 doanh nghiệp dệt may trên cả nước, hơn 600 nghìn lao động tại TPHCM, góp phần ổn định tình hình kinh tế xã hội trên toàn quốc Nếu tính cả những cơ sở nhỏ, những lao động ở những ngành vệ tinh cho dệt may như các cơ sở sản xuất nguyên phụ liệu nút, chỉ, dây kéo thì số lượng lao động lớn hơn nhiều (Việt Nam phải có tới 6 triệu lao động gắn với ngành dệt may-theo bài viết: “Đâu là giá trị dệt may?” trang Thông tin thương mại Bộ công thương) Mục tiêu đến năm 2010 toàn ngành dệt may sẽ sử dụng khoảng 4-4,5 triệu lao động Rõ ràng, dệt may là một ngành khá quan trọng, có vai trò rất to lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm cho phần lớn lao động tại Việt Nam và cũng là ngành có thể tận dụng được nhiều lợi thế quốc gia
1.2 Một số kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh hàng may mặc 1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp may nước ngoài
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Indonexia
Chính phủ Indonexia đang đẩy nhanh chương trình hiện đại hóa và cơ cấu lại ngành dệt may nhằm đạt mục tiêu tăng kim ngạch xuất khẩu dệt may lên 11.8 tỷ
Trang 9USD vào năm 2009 Hàng loạt các biện pháp đưa ra gồm: Thứ nhất, Bộ công
nghiệp Indonesia và Ngân hàng trung ương Indonexia đã thành lập một nhóm
công tác nhằm tìm cách đổi nguồn vốn ngắn hạn hiện có thành nguồn vốn trung
và dài hạn thông qua các kỹ thuật ứng dụng tài chính cho việc tái cơ cấu máy
móc cần nguồn vốn trung và dài hạn; Thứ hai, chính phủ đảm bảo cung cấp
nguyên vật liệu chính cho ngành dệt may, trong đó có các sản phẩm từ hóa dầu
hiện khá khan hiếm Trong kế hoạch tổng thể phát triển hệ thống khí đốt đặc biệt
nhằm phục vụ các ngành công nghiệp trong nước, chính phủ sẽ đảm bảo việc
cung cấp khí đốt cho ngành hóa dầu; Thứ ba, chính phủ sẽ nỗ lực nhằm bảo hộ
ngành dệt may trong nước trước môi trường kinh doanh không lành mạnh như
buôn và nhập lậu ồ ạt hàng may mặc; Thứ tư, bộ công nghiệp sẽ khuyến khích
các công ty tăng cường sản xuất các mặt hàng có giá trị cao từ sợi tự nhiên như
lụa và chính phủ sẽ lập một kế hoạch tổng thể phát triển ngành sản xuất lụa quốc
gia
Chính sách của chính phủ cũng chú trọng tới cải thiện cơ sở hạ tầng, đa dạng hóa
nền kinh tế Các doanh nghiệp dệt may trong nước đã phát huy thế mạnh thị
trường nội địa rộng lớn với hơn 220 triệu dân và không ngừng tìm kiếm thị trường
quốc tế Với sự mở cửa, hiện đại hóa đang được xúc tiến mạnh mẽ, ngành dệt
may Indonesia mang đến nhiều tiềm năng hợp tác cho các đối tác nước ngoài và
cơ hội phát triển trong tương lai là rất khả quan
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là một trong những nước có số lượng hàng may mặc xuất khẩu lớn
nhất thế giới, chiếm 37.7% thị phần toàn cầu và có sức cạnh tranh cao so với các
nước khác trên thế giới Trung Quốc trở thành đối thủ cạnh tranh đáng gờm của
nhiều nước Sự kiện Trung Quốc gia nhập WTO đã mở ra nhiều cơ hội cho hoạt
động xuất khẩu hàng may mặc về lâu dài khi hạn ngạch xuất khẩu hàng may mặc
của Trung Quốc tăng lên 25% trong năm đầu Theo thống kê của Uûy ban Công nghiệp dệt may Trung Quốc, giá trị xuất khẩu hàng dệt may Trung Quốc trong năm 2003 ước đạt khoảng 70 tỷ USD, tăng 12% so với năm trước, chiếm 18% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả Trung Quốc, trong đó Nhật Bản, Hồng Kông, EU là ba thị trường xuất khẩu lớn chiếm khoảng 52% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may (theo truy cập trong Internet từ Hiệp hội dệt may Việt Nam) Để có được thành công này thứ nhất phải kể tới sự thay đổi trong chính sách ngoại thương Trung quốc
Ngoài các chính sách ưu đãi khác như thuế, hỗ trợ từ chính phủ…cải cách chính sách ngoại thương của Trung Quốc được thực hiện bằng việc nhóm các mặt hàng xuất khẩu tiềm năng thành ba nhóm hàng: Loại thứ nhất là những mặt hàng mà Nhà nước tiếp tục độc quyền kinh doanh, loại thứ hai gồm 173 mặt hàng mà các tỉnh thành được phép xuất khẩu trực tiếp nhưng dưới sự điều hành và phối hợp của các công ty ngoại thương của Nhà nước, loại thứ ba là các hàng hóa (trong đó có may mặc) mà các tỉnh, thành phố được xuất khẩu tự do, Nhà nước khuyến khích xuất khẩu những sản phẩm này Kế tiếp trong cuộc cải cách là việc thành lập bốn đặc khu kinh tế ở vùng Đông Nam duyên hải Trung Quốc với mục tiêu giúp ngành công nghiệp nội địa đuổi kịp với các nền kinh tế lân cận như Hồng Kông, Đài Loan…Ngoài ra, bốn đặc khu kinh tế trên còn được thành lập với hai mục đích: cho phép các công ty nội địa sản xuất phục vụ cho xuất khẩu, không chịu sự kiểm soát của kế hoạch tập trung và sự quản lý của các công ty ty ngoại thương của Nhà nước, thứ hai nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài để gia tăng năng lực cho hoạt động xuất khẩu, bên cạnh đó còn giúp nâng cấp kỹ thuật, công nghệ khi các công ty trong nước tham gia vào liên doanh hoặc làm đối tác với các doanh nghiệp nước ngoài, tạo điều kiện cho việc chuyển giao các yếu tố kỹ thuật Các doanh nghiệp Trung Quốc tăng cường hợp tác với các công ty nước ngoài để
Trang 10học hỏi những kinh nghiệm tiến bộ, theo kịp các tiêu chuẩn quốc tế về nhân sự,
vốn, thông tin và công tác quản trị
Thứ hai là kể tới sự thay đổi bắt nguồn từ các khu vực kinh tế Đó là vai trò của
các doanh nghiệp dệt may ở vùng nông thôn Các doanh nghiệp công nghiệp
nông thôn đã giữ một vị trí đáng kể trong quá trình xuất khẩu sản phẩm Trung
Quốc, đặc biệt là ngành may mặc Số liệu của chính phủ cho thấy, trong năm
1989, 2/3 giá trị xuất khẩu hàng dệt may là từ ngành công nghiệp dựa vào nông
thôn Năm 1990, lên đến gần 90%, hiện nay 15 tập đoàn mạnh nhất cũng là các
doanh nghiệp ở nông thôn Đây là một định hướng phù hợp vì không những thúc
đẩy quá trình công nghiệp hóa ở khu vực nông thôn, mà các doanh nghiệp Trung
Quốc còn tận dụng những lợi thế của lao động ở nông thôn nhằm gia tăng khả
năng cạnh tranh cho sản phẩm xuất khẩu nhờ giá lao động rẻ, mặt khác đây là
các ngành công nghiệp lao động chuyên sâu, không đòi hỏi kỹ năng cao
Mặt khác, phải kể đến sự đóng góp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong hoạt
động xuất khẩu hàng dệt may Trên 100.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ định
hướng vào xuất khẩu đang sử dụng hệ thống sản xuất linh hoạt, có khả năng thay
đổi nhanh chóng dòng sản phẩm để phù hợp với nhu cầu thay đổi thời trang dệt
may của khách hàng ở thị trường nước ngoài
Tuy nhiên, xuất khẩu hàng dệt may Trung Quốc có nhược điểm lớn là phần lớn
sản phẩm của họ đều là phẩm cấp trung bình hoặc thấp, các doanh nghiệp Trung
Quốc sử dụng chính sách giá rẻ làm lợi thế cạnh tranh khi kinh doanh trên thị
trường thế giới Hiện Trung Quốc vẫn giữ vị trí hàng đầu trong xuất khẩu hàng
may mặc nhưng đang gặp phải sự cạnh tranh gay gắt từ Bangladesh, Honduras,
Aán Độ, Pakistan… Nhận thức được vấn đề này, các doanh nghiệp Trung Quốc bắt
đầu các chiến lược lâu dài như chiến lược về nhân sự, kinh doanh, sản xuất dưới
sự hướng dẫn của chuyên gia nước ngoài, hợp tác với những công ty có tên tuổi
lớn, thiết lập các chi nhánh ở Hồng Kông, Nhật Bản, châu Aâu, châu Mỹ… hình thành mạng lưới sản xuất và marketing xuyên lục địa nhằm tạo dựng thương hiệu nổi tiếng Ngoài ra, để chuẩn bị cho giai đoạn hậu hạn ngạch, Trung Quốc đã tiến hành nhiều chính sách để cải cách ngành dệt may như mạnh dạn thực hiện chính sách tư nhân hóa, cho phá sản các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ, tích cực đổi mới trang thiết bị, áp dụng công nghệ mới Chính phủ cũng tiến hành hỗ trợ nhiều mặt như hình thức trợ giá, duy trì giá có lợi cho hoạt động xuất khẩu, hỗ trợ thông qua cước phí vận tải
Nhờ các chính sách nói trên mà các doanh nghiệp Trung Quốc đã thành công trong việc tạo ra và sử dụng chính sách giá rẻ làm lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế và họ có khả năng đáp ứng nhiều loại phẩm cấp hàng hoá vào các thị trường, nhất là thị trường EU
1.2.1.3 Kinh nghiệm của Hồng Kông
Ngành dệt may là ngành công nghiệp lớn nhất tại Hồng Kông, có giá trị tổng sản lượng cao nhất, chiếm hơn 43% tổng trị giá xuất khẩu nội địa và là ngành thu hút nhiều lao động nhất, chiếm hơn 23% lực lượng lao động trong sản xuất
Các doanh nghiệp kinh doanh hàng dệt may Hồng Kông có nhiều kinh nghiệm trong thiết kế thời trang và kiểm soát chất lượng, trong bán hàng và hoạt động marketing, công tác hậu cần, kho vận
Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Hồng Kông là Mỹ, Trung Quốc, Anh, Nhật Bản Ngành may mặc của Hồng Kông đã tạo được danh tiếng đối với khách hàng trên thế giới về tính chuyên nghiệp, chất lượng tuyệt hảo, năng động, nhạy cảm với sự thay đổi trong xu hướng thị trường Các doanh nghiệp có khả năng sản xuất với số lượng lớn các mặt hàng có chất lượng cao và đa dạng về chủng loại, thậm chí cả những mặt hàng đặc biệt trong thời gian ngắn Các sản phẩm may mặc thời trang có giá từ trung bình đến cao mang nhãn hiệu của những nhà thiết
Trang 11kế Hồng Kông được bày bán tại các cửa hàng cao cấp trên thế giới Hiện nay một
số nhà sản xuất đi vào lĩnh vực kinh doanh bán lẻ với mạng lưới bán lẻ ở những
thành phố lớn trên thế giới, một số sản xuất –bán lẻ nổi tiếng như G2000,
Crorcodile…Một số nhãn hiệu thời trang cao cấp có tiếng trên thế giới như Calvin
Klein, Yves Saint liên kết sản xuất hàng may mặc với Hồng Kông thông qua việc
đặt văn phòng tại Hồng Kông hoặc qua trung gian
Để có được sự thành công trong kinh doanh xuất khẩu hàng dệt may, Uûy ban
thương mại Hồng Kông đóng một vai trò hết sức quan trọng Các doanh nghiệp
Hồng Kông thường tìm kiếm khách hàng thông qua các hội trợ và triển lãm
thương mại, từ đó tiếp cận và khai thác cơ hội thị trường, đồng thời các doanh
nghiệp Hồng Kông cũng tham gia rất nhiều hoạt động trình diễn thời trang thế
giới do ủy ban thương mại Hồng Kông tổ chức tại các thành phố lớn trên thế giới
Họ còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thăm và tìm hiểu thông tin về các thị
trường kinh doanh, làm cầu nối để thiết lập mối quan hệ kinh doanh với khách
hàng mới Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Hồng Kông còn phát triển sản phẩm
qua việc khai thác các khúc thị trường ngách như kinh doanh các loại sản phẩm
may mặc cho người già Các doanh nghiệp may mặc Hồng Kông nhận thức tính
chất phức tạp trong cạnh tranh trên thị trường thế giới, họ đã đề ra những giải
pháp mang tính chiến lược như:
- Gia tăng và duy trì tiêu chuẩn sản phẩm tập trung vào chất lượng cao
- Cải tiến và đáp ứng nhanh các xu hướng thời trang và cách tân
- Tăng cường đầu tư vào tất cả các khâu bao gồm chất lượng vải, thiết kế sản
phẩm và cơ cấu mặt hàng may mặc
- Tăng cường các giải pháp mang tính chủ động như quan hệ chặt chẽ với những
chuỗi cửa hàng đặc biệt, các cửa hàng kinh doanh, các xí nghiệp đặt hàng qua
email với số lượng lớn
1.2.2 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dệt may trong nước
1.2.2.1 Kinh nghiệm của công ty dệt may LEGARMEX
Được biết đến là một công ty may hàng đầu trong lĩnh vực thiết kế và sản xuất quần áo thời trang cho thị trường nội địa và xuất khẩu Công ty hoạt động dưới mô hình cổ phần hóa, với cơ chế sản xuất năng động, hiệu quả đã tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh lớn trên thị trường LEGARMEX tiến hành quá trình tăng năng suất lao động trong nhiều năm, duy trì chất lượng sản phẩm ở mức cao nhất, thực hiện nhiều dự án đầu tư, xây dựng các trung tâm thương mại lớn nhằm giới thiệu hình ảnh của LEGARMEX và quảng bá thương hiệu của họ cũng như của dệt may Việt Nam LEGARMEX liên tục đẩy nhanh quá trình phát triển của mình bằng cách mở rộng các phương thức xâm nhập thị trường Trong năm 2008, LEGARMEX đưa vào sử dụng một trung tâm thời trang LEGARMEX hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, với sự tham gia của nhiều đơn vị trong ngành Có thể nói, những kinh nghiệm và thành tựu nói trên là minh chứng hùng hồn cho sự cạnh tranh cao về chất lượng sản phẩm của LEGARMEX
1.2.2.2 Kinh nghiệm của công ty May Việt Tiến
Mặt hàng chủ lực của công ty may Việt Tiến là sơ mi, jacket, quần âu, quần kaki… Hiện nay Việt Tiến đã trở thành thương hiệu hàng đầu trong làng thời trang nam giới tại thị trường nội địa Bên cạnh đó, Việt Tiến cũng gia công các sản phẩm xuất khẩu mang thương hiệu của các công ty nổi tiếng như Nike, Otto,
JC Penny, Decathlon…xuất khẩu đi các thị trường lớn EU, Mỹ, Nhật
Trong giai đoạn 2002-2004, Việt Tiến đã giành gần 240 tỷ đồng để đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất, như công nghệ sản xuất áo veston của Mỹ, hệ thống ráp áo sơ mi tự động của Italy, thuê chuyên gia thiết kế mẫu người Pháp Chính sách chất lượng là yếu tố quan trọng hàng đầu của Việt Tiến trong việc nâng cao
Trang 12năng lực cạnh tranh sản phẩm Tất cả các khâu đều được kiểm tra chất lượng kỹ
càng trước khi hoàn tất và đóng gói xuất xưởng Ngoài việc đổi mới công nghệ,
Việt Tiến cũng tập trung hoàn thiện các hệ thống quản lý như ISO 9002, SA 8000
nhằm đáp ứng những yêu cầu về quản lý chất lượng sản phẩm ngay từ khâu đầu
đến khâu cuối cùng, tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm
Do nguồn nguyên phụ liệu hầu hết phải nhập khẩu từ nước ngoài nên để chủ
động cho việc sản xuất và giảm giá thành sản phẩm, Việt Tiến đã tiến hành tham
gia vào chuỗi liên kết doanh nghiệp sợi-dệt-nhuộm-may của Vinatex
Đối với thị trường xuất khẩu, Việt Tiến phân loại khách hàng theo một số loại thị
trường chính Mỹ, EU, Nhật Bản, Asean, có cơ chế quản lý sát với thị trường, gắn
sản xuất với tiêu thụ để sản xuất ra sản phẩm chất lượng cao, giá cả phù hợp,
giao hàng đúng hẹn
Việc đăng ký bảo hộ thương hiệu tại thị trường Mỹ và một số thị trường Asean là
bước tiến quan trọng khởi đầu cho chiến lược xây dựng thương hiệu Việt Tiến tại
thị trường nước ngoài, từng bước xây dựng uy tín của thương hiệu thông qua việc
khẳng định chất lượng sản phẩm Từ đó, từng bước thiết lập hệ thống phân phối
sản phẩm tại các thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản, Asean
Như vậy, mặc dù Việt Tiến tiêu thụ sản phẩm phần lớn trong thị trường nội địa
nhưng họ đã rất thành công trong việc tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao
và thương hiệu nổi tiếng Điều này hoàn toàn bắt nguồn từ các chính sách hợp lý
của Việt Tiến Đây là một điển hình trong ngành may mà các doanh nghiệp Việt
Nam cũng như TPHCM cần học hỏi kinh nghiệm
1.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho doanh nghiệp may TPHCM
Từ khảo sát và nghiên cứu những kinh nghiệm dùng để nâng cao năng lực cạnh
tranh trong xuất khẩu hàng may mặc của doanh nghiệp trong và ngoài nước, có
thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp may TPHCM như sau:
- Tích cực đổi mới máy móc thiết bị trong từng khâu công việc nhuộm), ứng dụng khoa học kỹ thuật kỹ thuật hiện đại và công nghệ mới trong việc tạo ra các giống cây bông có năng suất cao, cho chất lượng tốt
(dệt-may-in Các doanh nghiệp TPHCM tăng cường sản xuất các sản phẩm may có trị giá xuất khẩu cao, tăng nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia
- Các doanh nghiệp TPHCM tăng cường hợp tác với những công ty có tên tuổi lớn, hình thành mạng lưới sản xuất và marketing xuyên lục địa, tham gia chuỗi liên kết các công ty sợi-dệt-nhuộm-may
- Các doanh nghiệp TPHCM liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp phụ trợ và các vùng quy hoạch nguyên phụ liệu của nhà nước để tạo thế chủ động trong việc mua nguyên phụ liệu cho sản xuất, tận dụng lợi thế lao động ở khu vực nông thôn và ngoại ô thành phố để giảm bớt chi phí nhân công
- Các doanh nghiệp TPHCM tăng cường hoàn thiện các hệ thống quản lý chất lượng ISO, SA 8000, WRAP…nhằm tăng năng suất, giảm chi phí sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm cũng như cho doanh nghiệp may thành phố
- Về phía chính quyền của thành phố, cần đề ra các chính sách, các dự án cụ thể trong việc phát triển ngành may thành phố, đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ vay vốn, khoa học kỹ thuật, tăng cường tổ chức các cuộc hội trợ triển lãm giúp doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận với khách hàng nước ngoài và tìm kiếm thông tin
Trang 13KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Từ những nghiên cứu trong chương I, có thể rút ra được những kết luận như sau:
Hệ thống được các lý luận cơ bản về cạnh tranh, thị trường cạnh tranh, năng lực
cạnh tranh, từ đó xác định được các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh, đồng
thời xác định được các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
nhằm đánh giá được năng lực cạnh tranh của ngành may mặc TPHCM ở chương
II
Phân tích được tầm quan trọng của ngành may mặc Việt Nam và TPHCM, cho
thấy vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh ngành may là rất cần thiết và có ý
nghĩa thực tiễn trong bối cảnh hiện nay
Nêu được các bài học kinh nghiệm của các doanh nghiệp may trong và ngoài
nước và rút ra kinh nghiệm cho các doanh nghiệp may TPHCM
Với những lý luận cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh, kinh nghiệm thực
tiễn từ các doanh nghiệp may trong và ngoài nước sẽ là nền tảng để tiếp tục
nghiên cứu thực trạng và giải pháp cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh và phát
triển ngành may mặc tại TPHCM hiện tại và tương lai
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP MAY TPHCM 2.1 Tình hình hoạt động của ngành may TPHCM trong thời gian vừa qua 2.1.1 Tổng quan ngành may TPHCM
Ngành công nghiệp dệt may có vai trò đặc biệt quan trọng đối với kinh tế TPHCM Các doanh nghiệp dệt may tại thành phố đóng góp tới 45% sản lượng của cả nước, chiếm 13% tổng giá trị sản xuất công nghiệp chế biến của thành phố Hiện nay trên địa bàn TPHCM đã có những doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm có chất lượng được người tiêu dùng yêu thích và có uy tín trên thị trường thế giới như: công ty Dệt Thành Công, công ty dệt Phong Phú, Dệt Việt Thắng, công ty May Việt Tiến, May Hữu Nghị, May Nhà Bè… Ngoài ra, các doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn cũng khá phát triển cùng với mạng lưới hàng ngàn hộ cá thể, gia đình nhận may gia công xuất khẩu Bên cạnh đó, các hoạt động, dịch vụ kinh doanh hỗ trợ đến ngành dệt may đã được hình thành Nhiều văn phòng giao dịch của các tập đoàn may mặc toàn cầu lớn như Nike, Adidas, Jc Penny, Decathlon, Eddi Bauer… đã được thiết lập và mở rộng quy mô hoạt động
Trang 14Bảng 2.1: Tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng ngành may TPHCM giai đoạn
2003-2008
Giá trị SX may mặc của TP
(triệu đồng) so sánh 1994
5.696.168 6.576.714 8.047.339 9.684.218 10.901.464 12.978.666
Tổng giá trị SX dệt may TP
(triệu đồng) so sánh 1994
11.239.262 12.877.603 14.993.949 17.553.183 19.382.537 21.639.265
Cơ cấu may mặc trong tổng
giá trị dệt may TP
50,68% 51,07% 53,67% 55,17% 56,24% 59,98%
Công nghiệp chế biến TP
Cơ cấu may mặc trong công
nghiệp chế biến TP
6,58% 6,59% 7,05% 7,45% 7,39% 7,81%
Tốc độ tăng trưởng giá trị
SX may mặc (%)
127.9% 115.5% 122.4% 116.9% 116% 119%
Giá trị sản xuất may mặc
của cả nước (triệu đồng)
10.466.300 12.791.900 15.304.200 18.462.700 không có số
liệu không có số liệu
Tỷ trọng so với cả nước (%) 54,42% 51,41% 52,58% 52,45%
Nguồn: Cục thống kê TPHCM+Bộ công thương và tính toán của tác giả
(http://tttm.moit.gov.vn/Default.aspx?itemid=79)
Theo thống kê năm 2008, giá trị sản xuất công nghiệp dệt may toàn TPHCM ước
đạt 21.639 tỷ đồng, đứng thứ hai trong số các ngành công nghiệp chế biến (sau
công nghiệp thực phẩm và đồ uống), trong đó ngành may mặc đạt 12.978 tỷ
đồng, chiếm 59,98% tổng giá trị sản xuất dệt may thành phố Tỷ trọng so với
tổng giá trị công nghiệp may cả nước chiếm tới hơn 52%.So với tổng giá trị sản
xuất công nghiệp chế biến thành phố thì giá trị sản xuất hàng may mặc chiếm
khoảng 7,81% Ngành công nghiệp may thành phố có tốc độ tăng trưởng đều qua
các năm (116%-119%) Xét về toàn ngành dệt may thành phố, năm 2007 tăng
trưởng 113,2%, năm 2008 tăng trưởng 109,8% Trong đó, khối doanh nghiệp trong nước đạt mức tăng 104,8 %, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 124,6% (Xem phụ lục 4).Mặc dù đã là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO, các doanh nghiệp may Việt Nam nói chung và doanh nghiệp thành phố nói riêng vẫn chưa có cơ hội thâm nhập hiệu quả vào các thị trường lớn trên thế giới như Mỹ và EU
2.1.2 Giá trị sản xuất ngành may TPHCM Bảng 2 2: Giá trị sản xuất của ngành may TPHCM theo giá thực tế năm
Tốc độ tăng trưởng (%) 144,4% 123,06% 122,50% 115,7%
Khu vực cá thể 971.204 1.031.120 1.188.929 1.315.575
Nguồn: Cục thống kê TPHCM và tính toán của tác giả (http://www.pso.hochiminhcity.gov.vn/so_lieu_ktxh)
Qua số liệu bảng trên cho thấy, ngành may mặc TP HCM trong những năm qua tập trung nhiều nhất trong khu vực tư nhân 33,44%, tiếp đó là khu vực đầu tư
Trang 15nước ngoài 29,73% và khu vực nhà nước 23,12%, khu vực tập thể chiếm tỷ trọng
không đáng kể 0,12% Tại TPHCM tập trung nhiều công ty may có quy mô lớn,
trong đó các công ty này đã dần dần cổ phần hóa và vẫn nắm giữ một phần vốn
của nhà nước như công ty may Việt Tiến, Nhà Bè, Phong Phú, Phương Đông,
tổng công ty dệt may Gia Định, công ty May Sàigòn 1, 2, 3… Tốc độ tăng trưởng
đạt lớn nhất trong khu vực tư nhân 25,9%, tiếp đến khu vực đầu tư nước ngoài
23%, khu vực nhà nước 15,7%
Xét về giá trị sản xuất công nghiệp và tốc độ tăng trưởng ta thấy ngành may đều
tăng qua các năm, điều này chứng tỏ ngành may TP HCM vẫn đang tiếp tục tăng
trưởng và là một trong những ngành công nghiệp chủ lực của thành phố Một thực
tế cho thấy, trong những năm qua, tỷ trọng hàng may mặc trong khu vực nhà
nước đang giảm dần nhường chỗ cho khu vực tư nhân và khu vực đầu tư nước
ngoài
2.1.3 Sản phẩm chủ yếu của ngành may TPHCM
Bảng 2 3 : Sản phẩm chủ yếu phân theo khu vực kinh tế
Tốc độ tăng sản lượng may (%) 59,01% 36,23% -0,04% 29,66% 2,48%
Nguồn: cục thống kê TPHCM và tính toán của tác giả
(http://www.pso.hochiminhcity.gov.vn/so_lieu_ktxh)
Sản phẩm chủ yếu của ngành may TPHCM là các loại quần áo may sẵn (áo thun,
áo khoác, quần áo trượt tuyết và thể thao, quần, áo sơ mi, đồ lót…) Theo số liệu
thống kê của cục thống kê TPHCM, ngành may tăng trưởng khá ổn định, hầu như tăng qua các năm, duy nhất năm 2006 giảm nhưng không đáng kể (-0,04%) Cũng giống như phân tích về giá trị sản xuất ngành may mặc ở phần trên, ở đây sản lượng may mặc cũng tập trung nhiều nhất ở khu vực tư nhân và khu vực đầu
tư nước ngoài Từ năm 2005 trở lại đây, do có nhiều công ty tư nhân mở ra và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào TPHCM nên sản lượng từ hai khu vực này tăng rất nhanh
2.1.4 Kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp TPHCM
Ngành dệt may TPHCM có hơn 600 doanh nghiệp và luôn chiếm tỷ trọng 45% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Nhiều doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu đạt cao trên mức 500.000 USD/tháng như May Sài Gòn 3, Garmex Saigon js, Cholimex, Agtex… Đối với TPHCM, sản phẩm dệt may chiếm một tỷ trọng cao trong tổng giá trị xuất khẩu của thành phố, đây là một trong những ngành công nghiệp chủ lực với cơ cấu giá trị sản xuất tương đối cao so với các ngành công nghiệp khác Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của thành phố tăng từ 1.382,4 triệu USD năm 2003 lên 4.024,9 triệu USD năm 2008, tăng hơn 2,5 lần
Trang 162.1.5 Thị trường xuất khẩu
Theo đánh giá của Bộ Công Thương, các tháng đầu năm 2009, công tác tìm kiếm
thị trường mới được các doanh nghiệp may TPHCM làm rất tốt Trong lúc các thị
trường lớn Mỹ, EU, Nhật Bản đang bị giảm sút mạnh thì các thị trường khác tuy
nhỏ hơn nhưng lại tăng trưởng trong 6 tháng đầu năm 2009 Số liệu thống kê cho
thấy kim ngạch xuất khẩu vào thị trường EU giảm 8,58%, Mỹ giảm 24,63%, Nhật
Bản giảm 6,47%, nhưng mức tăng trưởng xuất khẩu vào một số thị trường khác
tương đối cao: Đài Loan 17,59%, Hàn Quốc: 6,27%, các nước ASEAN: 7,44%,
đặc biệt là Nam Phi: 375,72% Tổng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2009
giảm 17,08%, do tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu, nhu cầu hàng may mặc của
các thị trường lớn Mỹ, EU, Nhật đều giảm sút mạnh
Bảng 2.5: Tỷ trọng các thị trường xuất khẩu của TPHCM năm 2006-2009
Đối với thị trường EU, năm 2008 đã bãi bỏ hạn ngạch dệt may cho Trung Quốc,
do đó Bộ Công thương và các doanh nghiệp may cần nghiên cứu tác động của thị trường EU để giúp các doanh nghiệp định hướng mặt hàng và nước xuất khẩu để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh
Đối với thị trường Nhật Bản, từ năm 2009, hàng may mặc của ta xuất khẩu sang Nhật được hưởng mức thuế 0% theo hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam-Nhật Bản được ký kết tháng 4 năm 2008, các doanh nghiệp Việt Nam có thể phải sử dụng nguồn nguyên phụ liệu nội địa hoặc nhập khẩu từ Nhật Bản hoặc các nước ASEAN để được hưởng mức thuế này Do đó, để đẩy mạnh xuất khẩu hơn nữa vào Nhật Bản, cần tổ chức, liên kết với Nhật Bản hỗ trợ xây dựng Trung tâm giao dịch nguyên phụ liệu dệt may và Trung tâm đào tạo chất lượng cao và hợp tác quốc tế cho ngành may nhằm cung cấp nguyên phụ liệu cho ngành này và đào tạo cán bộ kỹ thuật tay nghề cao, cán bộ thiết kế, thời trang cho ngành, tổ chức xúc tiến thương mại tại Nhật để đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này
Trang 17Ngoài các thị trường trọng điểm Mỹ, EU, Nhật các doanh nghiệp cũng nên xúc
tiến mạnh mẽ vào các thị trường tiềm năng khác như Canada, Đài Loan, Hàn
Quốc, châu Phi, Nga, các nước ASEAN, đóng vai trò trung tâm mua sắm của các
khu vực và đạtù mức kim ngạch tương đối cao sau 3 thị trường lớn nói trên Đặc
biệt chú trọng khai thác đơn hàng ở thị trường có lợi thế về thuế là Nhật Bản
(0%) nhằm bù đắp số đơn hàng thiếu hụt tại Mỹ, EU
Do vậy, các doanh nghiệp may Việt Nam và TPHCM cần làm tốt công tác thị
trường, nhằm mục tiêu xuất khẩu cả năm đạt 9.5 tỷ USD, tăng khoảng 5% so với
năm 2008
.2.1.6 Hình thức xuất khẩu
Các doanh nghiệp may TPHCM thường sản xuất và xuất khẩu dưới hai hình thức
chủ yếu: CMPT và FOB
a Phương thức gia công CMPT
Phương thức này được các doanh nghiệp may TPHCM áp dụng chủ yếu trong sản
xuất (60-70%), phần lớn xuất khẩu đi EU và Nhật Xuất phát từ nguồn nguyên
phụ liệu trong nước không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của khách hàng
nước ngoài mà Việt Nam phải nhập khẩu nguyên phụ liệu để gia công xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu chủ yếu dưới sự kiểm soát của các công ty nước ngoài Hàn
Quốc, Hồng Kông hoặc các văn phòng đại lý cho đối tác nước ngoài Các công ty
này sử dụng Việt Nam làm đơn vị gia công, họ cung cấp toàn bộ nguyên phụ liệu,
rập mẫu thiết kế, quy cách sản phẩm cho công ty Việt Nam Với phương thức gia
công này, giá trị gia tăng tạo ra trên sản phẩm gia công chủ yếu là tính cho chi
phí quản lý và tiền công cho công nhân-nhân viên (trung bình giá gia công cho
quần áo thun từ 0,6 usd -1,0 usd, áo nỉ 1,5 usd-2,0 usd, quần áo ép seam, trượt
tuyết từ 3-5 usd, quần short 1-1,2 usd, quần dài 2-2,5 usd…chỉ chiếm 15-20% trị
giá FOB, lợi nhuận đem lại từ hình thức gia công này khoảng 4-5%) Phần đóng
góp của các doanh nghiệp may vào việc hoàn thiện một chiếc áo khoác khoảng 11%, áo sơ mi là 25%, quần dài là 15% và trong các sản phẩm khác luôn dưới 25% Mặt khác, các doanh nghiệp phải phụ thuộc hoàn toàn vào đối tác, luôn bị động và thiếu ổn định trong sản xuất do nguyên phụ liệu phục vụ cho quá trình sản xuất gần như do các đối tác cung cấp
Tóm lại, tỷ lệ gia công CMPT vẫn còn lớn, điều này sẽ khiến các doanh nghiệp may thành phố vẫn còn rất khó khăn trong việc nâng cao được lợi nhuận từ phương thức gia công này và do đó chưa nâng cao được năng lực cạnh tranh sản phẩm trên thương trường quốc tế
b Phương thức sản xuất xuất khẩu FOB
Khi nhận hàng theo phương thức FOB, các doanh nghiệp được hưởng tỷ lệ lãi cao trên một đơn hàng từ 8-15% tổng trị giá FOB, đồng thời có thể tiết kiệm được chi phí nguyên phụ liệu nếu tính sát định mức và đàm phán mua được nguyên phụ liệu giá rẻ Thực tế trên địa bàn thành phố đã có những công ty thành công trong lĩnh vực kinh doanh FOB Ví dụ: Phương thức FOB đã giúp Công ty CP SXTM May Sàigòn tự chủ hơn trong hoạt động kinh doanh, đem lại tỷ suất lợi nhuận cao gấp bốn lần gia công Sản xuất FOB của công ty năm 2007 chiếm 50% năng lực sản xuất của công ty nhưng đạt hơn 80% doanh thu, 85% lợi nhuận Năm 2003, doanh thu FOB mới là 5 tỷ đồng thì đến năm 2007 doanh thu FOB đã đạt 250 tỷ đồng, năm 2008 đạt 350 tỷ đồng Còn đối với công ty Minh Hoàng, phần lớn sản lượng là dưới dạng hợp đồng trọn gói FOB…Nói chung, ưu điểm của phương thức này là các doanh nghiệp có thể chủ động hơn trong sản xuất và xuất khẩu Chi phí nguyên phụ liệu và các phụ phí khác phát sinh trong quá trình sản xuất có thể giảm thiểu ở mức tối đa Tuy nhiên, hiện tại do những khó khăn trong vấn đề nội địa hóa sản phẩm cũng như cung cấp nguyên phụ liệu nên chưa có nhiều doanh nghiệp xuất khẩu theo phương thức FOB
Trang 18Trong năm 2004, hàng may mặc thành phố mới thực hiện 30% xuất khẩu theo
phương thức FOB, còn lại 70% thực hiện theo phương thức gia công CMPT Đến
nay phương thức gia công CMPT đang được chuyển dịch sang FOB một cách tích
cực theo hướng CMPT giảm dần, FOB tăng dần Theo tổng công ty dệt may Việt
Nam, tỷ lệ xuất khẩu FOB của các thành viên trong tổng công ty là 64.3%, nếu
tính cho toàn ngành tỷ lệ xuất FOB là 40%
2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may TPHCM
2.2.1 Thực trạng các yếu tố nguồn lực cấu thành năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp
2.2.1.1 Yếu tố nguồn nhân lực
Một trong những yếu tố có thể nói là quan trọng nhất để thực hiện thắng lợi mục
tiêu của ngành dệt may thành phố đề ra là vấn đề nguồn nhân lực Lao động
trong ngành dệt may chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các ngành công nghiệp chế
biến TPHCM, chiếm 12.6% năm 2002, tăng lên 13.1% năm 2007 Dưới đây xin
được đề cập tới ba khía cạnh của yếu tố nguồn nhân lực là quy mô lao động, trình
độ lao động, năng suất lao động và thu nhập
(1) Quy mô lao động
Bảng 2.6: Quy mô lao động trong 50 doanh nghiệp dệt may TPHCM được điều tra
34%
8%
58%
Dưới 1000 lao động Từ 1000-5000 Trên 5000 lao động
Nguồn: điều tra cá nhân
Phần lớn các doanh nghiệp có số lao động dưới 1.000 lao động (chiếm 58%), số doanh nghiệp có lao động từ 1.000 đến 5.000 người chiếm 34%, số doanh nghiệp có lao động lớn hơn 5.000 người chỉ có 4, chiếm 8% (công ty May Việt Tiến, tổng công ty dệt may Gia Định, công ty Dệt Phong Phú, công ty Nhà Bè) Quy mô lao động này cũng tỉ lệ thuận với quy mô công ty Theo điều tra cá nhân từ 50 doanh nghiệp, doanh nghiệp thuộc loại nhỏ (lao động dưới 1.000 người) chiếm 52%, doanh nghiệp thuộc loại vừa (lao động từ 1.000-5.000 người) chiếm 30%, doanh nghiệp thuộc loại lớn (lao động trên 5.000 người) chiếm 18% Lao động được phân theo loại hình doanh nghiệp như bảng sau:
Bảng 2.7: Lao động sản xuất ngành may phân theo ngành kinh tế ở TPHCM
Đvt: người
Cơ sở công nghiệp nhà nước 27.182 28.354 26.208 26.085
Cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài 59.270 69.742 78.708 86.742
Nguồn: Cục thống kê TPHCM
Qua bảng ta thấy, lao động trong các doanh nghiệp may có sự biến động rõ nét Lao động trong khu vực nhà nước đang có xu hướng giảm dần, lao động trong khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh Nhưng nhìn chung, lao động ngành may tăng nhanh và tập trung chủ yếu ở khu vực kinh tế tư nhân, sau đó là doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài Hai loại hình này đang thu hút 2/3 lao động của toàn ngành dệt may thành phố Các doanh nghiệp này có
Trang 19khuynh hướng đầu tư cho việc thu hút lao động chứ không có khuynh hướng đầu
tư mạnh cho hoạt động đào tạo
(2) Trình độ lao động
Đánh giá thực trạng trình độ lao động ngành may TPHCM, một số lãnh đạo các
doanh nghiệp may thừa nhận: sở dĩ trình độ lao động ngành may hiện nay thấp là
do không có sự đồng bộ giữa công tác đào tạo và thực tế đặt ra cho doanh nghiệp
Sự phát triển của ngành may thiếu sự hoạch định chi tiết ở cấp quốc gia cũng như
cấp thành phố Từ đó dẫn đến sự mất cân đối trầm trọng giữa việc các doanh
nghiệp cần đông về số lượng, cao về chất lượng nguồn nhân lực nhưng các doanh
nghiệp còn rất ít quan tâm tới vấn đề đào tạo Về trình độ lao động hiện nay,
ngành may có 4% lao động có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học, 7,3% có
trình độ trung cấp, kỹ thuật viên và 85,2% là công nhân trong đó 6,3% công nhân
có tay nghề bậc 5 trở lên
Do đó, thực trạng trình độ lao động ngành may TPHCM đang đặt ra một thách
thức rất lớn và gay gắt về nguồn nhân lực chất lượng cao –yếu tố có ý nghĩa
quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp TPHCM nói riêng
và Việt Nam nói chung
(3) Năng suất lao động và thu nhập
Năng suất lao động của các doanh nghiệp may Việt Nam và TPHCM hiện nay
khá thấp Theo thống kê của hiệp hội dệt may Việt Nam, năng suất lao động của
nhiều doanh nghiệp vẫn còn thấp hơn 30%-50% so với mức bình quân của doanh
nghiệp các nước trong khu vực Có 90% doanh nghiệp vẫn còn xa lạ với ba chữ
ERP (hệ thống quản lý tích hợp nguồn lực)…Rất ít các công ty may đạt năng suất
trên 450 USD/công nhân/tháng Số lượng xí nghiệp có năng suất
500-600USD/công nhân/tháng lại càng hiếm, phổ biến ở mức 200-300USD/tháng
Một trong những nguyên nhân lý giải cho mức năng suất thấp này là do trình độ tay nghề của công nhân may thuộc các thành phần kinh tế trên địa bàn TPHCM chênh lệch rất lớn Đa số lao động làm việc tại các doanh nghiệp tư nhân có thâm niên làm việc ngắn, có trình độ bậc thợ bình quân chỉ 2/7 hoặc 3/7
Về thu nhập, do ảnh hưởng của năng suất lao động cho nên thu nhập của công nhân may ở các thành phần kinh tế khác nhau là rất khác nhau Lao động thuộc các doanh nghiệp may thuộc thành phần kinh tế quốc doanh có tay nghề khá cao và đồng đều, năng suất bình quân đạt 7,5-8usd/ngày, thu nhập bình quân tăng từ 1,3 triệu đồng/tháng năm 2003 lên 2,0 triệu đồng/tháng năm 2007 Ngược lại, trong các doanh nghiệp may tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, thu nhập chỉ ở mức từ 0,8-1,5 triệu đồng/người/tháng Tình trạng tăng ca quá mức ở các doanh nghiệp này là thường xuyên do sức ép về tiến độ giao hàng của khách rất căng thẳng
2.2.1.2 Yếu tố vốn
Vốn thiếu đang là trở ngại lớn nhất trong đổi mới công nghệ trong ngành dệt và may TPHCM Tổng vốn kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may TPHCM tương đối lớn Nếu năm 2000 tổng vốn kinh doanh đạt 9.913,9 tỷ đồng thì đến năm 2004 đạt 19.038 tỷ đồng Tỷ trọng vốn của ngành dệt may chiếm trên dưới 14% vốn toàn ngành công nghiệp chế biến thành phố, chỉ sau ngành chế biến thực phẩm và đồ uống (chiếm 16%) Trong hai ngành dệt và may thì tổng vốn ngành dệt (8.580,4 tỷ) nhỏ hơn tổng vốn ngành may (10.457,6 tỷ) Tuy nhiên, vốn bình quân một doanh nghiệp ngành dệt lại lớn hơn doanh nghiệp may Điều này cho thấy tỷ lệ các doanh nghiệp ngành may TPHCM rất nhiều nhưng chủ yếu là những doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn ít Chỉ có một số doanh nghiệp có tiềm lực vốn lớn trên địa bàn là công ty May Nhà Bè, công ty May Việt Tiến, công ty Dệt
Trang 20Phong Phú, tổng công ty dệt may Gia Định, công ty dệt may Thành Công, công ty
may Phương Đông, công ty dệt Thắng Lợi
Bảng 2.8: Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may TPHCM
Đvt: triệu đồng
Tổng cộng vốn 9.913.961 11.889.336 15.243.833 17.229.351 19.038.049
Tổng vốn KD ngành
công nghiệp chế biến
67.667.399 83.210.520 102.027.655 119.963.087 136.787.547 Tỷ lệ so với CN chế
Nguồn : cục thống kê TPHCM
Theo hiệp hội dệt may Việt Nam, tổng nhu cầu vốn cho ngành may, dệt thoi, kéo
sợi, sợi nhân tạo và cán bông dự kiến đến năm 2010 là 2.725 tỷ USD Trong đó,
vốn đầu tư dự kiến cho ngành may là 834 triệu USD, đầu tư lĩnh vực dệt thoi là
1.095 tỷ USD, đầu tư cho lĩnh vực kéo sợi là 600 triệu USD, đầu tư cho lĩnh vực
sợi nhân tạo là 150 triệu USD, và đầu tư cho cán bông là 46 triệu USD Trong
tổng nguồn vốn dự kiến đầu tư trên thì có 1.635 tỷ USD là nguồn vốn vay (chiếm
60%), còn lại 1.090 tỷ (chiếm 40%) là nguồn vốn tự có của các nhà đầu tư Trước
đây, nhiều doanh nghiệp đi vay gần như tới 80-100% tổng nguồn vốn đầu tư của
dự án nên rất rủi ro, nguy hiểm Cho nên, để phát triển bền vững thì nguồn vốn tự
có của chủ đầu tư phải đạt từ 40-50% ở mỗi dự án
2.2.1.3 Yếu tố trình độ công nghệ và máy móc thiết bị
Máy móc thiết bị phục vụ ngành may TPHCM chủ yếu là loại trung bình, số máy móc thiết bị mới có năng suất cao còn khiêm tốn, số máy móc lạc hậu đang dần dần được các doanh nghiệp đầu tư mới để thay thế Theo điều tra mới đây của Sở công nghiệp TPHCM, chỉ có 21/212 (tương ứng 9,91%) cơ sở ngành may có trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến Đây là một trong những nguyên nhân chính làm cho sản phẩm của ngành này chưa có sức cạnh tranh cao, giá trị gia tăng của các cơ sở sản xuất công nghiệp may tại thành phố trên đơn vị sản phẩm thấp Phần lớn các cơ sở sản xuất công nghiệp may tại thành phố là các cơ sở dân doanh có quy mô nhỏ, vốn đầu tư vào sản xuất ít, lạc hậu Vì vậy, việc đầu tư trang thiết bị mới, ứng dụng công nghệ mới còn gặp rất nhiều khó khăn Phần lớn trang thiết bị được đổi mới chủ yếu ở các công ty có quy mô lớn Công ty may Việt Tiến đã đầu tư hơn 300 tỷ đồng cho việc nhập khẩu máy móc và trang thiết
bị đồng bộ, cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới nhà xưởng Năm 2003, Việt Tiến đầu tư thêm 60 tỷ đồng đưa thêm một loạt dây chuyền may hiện đại vào hoạt động Công ty dệt may Thành Công sử dụng quy trình sản xuất khép kín “kéo sợi-dệt-nhuộm-may” với các loại máy móc tương đối hiện đại hơn so với các doanh nghiệp khác Công ty đã đầu tư 25 tỷ đồng cho việc mở rộng nhà xưởng, văn phòng, kho hàng, 5-10 tỷ đồng cho máy móc thiết bị phục vụ văn phòng, 45-
65 tỷ cho thiết bị máy móc phục vụ nhà xưởng trong những năm qua
Theo khảo sát năm 2005 của hiệp hội dệt may Việt Nam, mới có 11% số doanh nghiệp dệt may trang bị máy tính cho kho hàng, 20% có máy chủ, đặc biệt chưa có doanh nghiệp nào áp dụng ERP và hệ thống quản trị điện tử Khảo sát năm
2006 cho thấy, một số doanh nghiệp lớn đã bắt đầu triển khai ERP song còn thận trọng thăm dò như Việt Tiến…
Trang 21Nhìn chung, các doanh nghiệp may TPHCM đã có những nỗ lực đầu tư đổi mới
công nghệ nhưng theo một số chuyên gia trong ngành thì mức độ đổi mới vẫn còn
hạn chế, chưa kịp với công nghệ hiện đại trên thế giới Với trình độ máy móc
thiết bị như hiện nay cũng chưa thể góp phần tạo thế mạnh cạnh tranh trong khu
vực và với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại thành phố
2.2.1.4 Yếu tố nguồn nguyên phụ liệu đầu vào
Theo nguồn điều tra cá nhân từ 50 công ty dệt may tại TPHCM, doanh nghiệp
chuyên sản xuất và xuất khẩu hàng may mặc là 31, chiếm 62%, doanh nghiệp
sản xuất xuất khẩu hàng dệt là 8, chiếm 16%, doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu
cả hai loại là 11, chiếm 22% Với số lượng doanh nghiệp may lớn hơn nhiều so
với số lượng doanh nghiệp dệt như vậy thì sản lượng vải sản xuất ra sẽ không đủ
đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho ngành may hiện nay
Xét trên cả nước, Việt nam có 24.000 ha diện tích trồng bông nhưng hàng năm
mới chỉ sản xuất ra được 8.000 tấn bông sơ, đáp ứng khoảng 5% nhu cầu trong
nước Ngoài ra, 70% nhu cầu sợi tổng hợp, 40% nhu cầu sợi xơ ngắn, 40% nhu
cầu vải dệt kim và 60% nhu cầu vải dệt thoi vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài
Các mặt hàng này chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc, Đài Loan và các nước
tốc độ tăng (%) -2,7% 1,5% 8,3% 14,6% 18,7% -9,5%
Nguồn: Báo cáo tổng kết tình hình sản xuất ngành công nghiệp TPHCM- cục
Theo kết quả điều tra từ 50 doanh nghiệp dệt may tại TPHCM, lượng nguyên phụ liệu nhập khẩu cũng tới hơn 70%, nguyên phụ liệu sản xuất trong nước chiếm 30% nhưng trong đó có tới 15% là mua của các công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài (như mua của Pangrim: 30 triệu mét/năm, Houlon: 70 triệu mét/năm, Choongnam 20 triệu mét/năm) Cũng theo các chuyên gia, xu hướng đầu tư tập trung vào khâu kéo sợi và dệt, trong khi công đoạn in, nhuộm, hoàn tất lại không được đầu tư tương xứng, tỷ lệ vải đạt chất lượng chỉ đạt 70-80%, thấp hơn nhiều
so với mức 95-98% của các xưởng nhuộm của Trung Quốc và Hồng Kông Giá hàng dệt và nguyên phụ liệu của Việt Nam tăng cao hơn so với hàng nhập Trung Quốc, Pakistan, Indonexia cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm năng lực cạnh tranh của sản phẩm may
Bên cạnh đó, ngành dệt may cũng đã thực hiện một số dự án về cung cấp nguyên phụ liệu như đã khánh thành trung tâm kinh doanh nguyên phụ liệu dệt may vào tháng 11/2003, khởi công xây dựng Trung tâm giao dịch thương mại siêu thị ngành vải sợi, dệt may vào tháng 3/2007 tại Quận 5, TPHCM, dự kiến đến năm
2010 sẽ đưa vào hoạt động Nhanh nhất là Trung tâm kinh doanh nguyên phụ liệu dệt may Sanding Tam của công ty CP May Sài gòn 2, đã chính thức đi vào hoạt động cuối năm 2007 Sự ra đời của các trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu sẽ
Trang 22phần nào đáp ứng nhu cầu của nhiều nhà sản xuất hàng may mặc, tạo sự chủ
động về nguyên liệu cho doanh nghiệp và dần thay thế nguyên phụ liệu nhậpï
khẩu bằng nguyên phụ liệu trong nước, giảm được chi phí đầu vào, tạo điều kiện
cho sản phẩm may của TPHCM có khả năng cạnh tranh cao
Nhìn chung, ngành may TPHCM đã có những nỗ lực trong việc giải quyết vấn đề
nguyên phụ liệu đầu vào Song thực tế, thời gian và tiến độ thực hiện vẫn còn
chậm, và giường như ngành may mặc Việt Nam và TPHCM vẫn gần như hoàn
toàn phụ thuộc vào nước ngoài Đây là vấn đề cần được chính quyền thành phố,
doanh nghiệp quan tâm hơn nữa và giải quyết cấp bách để chủ động được nguyên
phụ liệu trong sản xuất Nếu không, năng lực cạnh tranh của ngành sẽ ngày một
giảm sút
2.2.1.5 Công tác thiết kế sản phẩm may
Đây là khâu vô cùng quan trọng trong ngành may Hiện tại, các doanh nghiệp
may TPHCM đều có bộ phận thiết kế riêng nhưng thực chất công tác thiết kế này
chưa mang đúng ý nghĩa của nó bởi các doanh nghiệp chưa chủ động trong công
tác thiết kế
Theo kết quả điều tra 50 doanh nghiệp dệt may trên địa bàn TPHCM thì công tác
tự thiết kế của doanh nghiệp chỉ chiếm khoảng 20%, còn lại 80% là thiết kế theo
yêu cầu của khách hàng
Bảng 2.10: Công tác thiết kế sản phẩm của doanh nghiệp may TPHCM
Tự thiết kế 20%
Thiết kế theo yêu cầu của khách 80%
Nguồn: điều tra cá nhân
Hiện nay, một số doanh nghiệp hàng đầu ngành may như Việt Tiến, Nhà Bè, Phương Đông, Legafashion, Sanding đều đang tập trung mạnh mẽ cho công tác thiết kế mẫu, với việc mỗi doanh nghiệp thu hút hàng chục nhà thiết kế vào làm việc với những điều kiện khá ưu đãi Đây là dấu hiệu tốt cho thấy công tác thiết kế đang được các doanh nghiệp chú ý tới nhiều hơn Tuy nhiên, việc thiết kế sản phẩm nói chung vẫn chưa theo kịp xu hướng thời trang thế giới do việc cập nhật thông tin không kịp thời, công tác nghiên cứu thị trường còn yếu Đội ngũ thiết kế vẫn còn làm nhiều công việc thủ công như vẽ và đi sơ đồ trên giấy, tính định mức bằng tay, dẫn đến thời gian thiết kế lâu và chậm giao mẫu thành phẩm cho khách Mặt khác, do đội ngũ thiết kế chưa được đào tạo căn bản nên chưa tận dụng được hết công nghệ mới từ các phần mềm Gerber, CAM, CAD để thiết kế sản phẩm một cách có hiệu quả Do đó kéo theo mẫu mã sản phẩm hàng may chưa đa dạng
Bắt đầu từ năm 2007, Việt Nam đã chính thức là thành viên thứ 150 của WTO nên không còn được hưởng các ưu đãi riêng về thuế quan mà phải tuân theo các quy định của WTO bình đẳng với các thành viên khác, do đó đòi hỏi sản phẩm
Trang 23may của Việt Nam nói chung và TPHCM nói riêng phải nâng cao khả năng cạnh
tranh để duy trì vị trí trên thị trường quốc tế Nhất là thị trường EU, một thị trường
đòi hỏi cao về chất lượng và mẫu mốt, thời trang là một trong những yếu tố quyết
định tiêu thụ sản phẩm trên thị trường này Hơn nữa các đối thủ cạnh tranh nặng
ký từ châu Á (Trung Quốc, ấn Độ, Bangladesh) cũng đang tăng tốc xuất khẩu vào
thị trường EU Xu hướng buôn bán nội khu vực giữa các nước EU và chiến lược
đầu tư sản xuất sang các nước Đông Aâu và nhập trở lại sản phẩm của các nước
EU cũng là một khó khăn cho Việt Nam trong khả năng tăng xuất khẩu sang thị
trường này
2.2.2 Hiệu quả sản xuất hàng may
2.2.2.1 Hiệu quả sử dụng năng lượng trong sản xuất
Phần lớn các doanh nghiệp may tại TPHCM có quy mô vừa và nhỏ, thiết bị và
công nghệ lạc hậu, chi phí sản xuất cao Năng lượng tiêu thụ của các doanh
nghiệp may thành phố chủ yếu là điện, dầu (FO,DO) Với một xưởng nhuộm có
công suất 1.5 triệu tấn vải/năm, cần 1.11 triệu lít dầu FO và khoảng 1 triệu kw
điện, tổng số tiền tiêu thụ để phục vụ cho quy trình nhuộm sấy số vải trên khoảng
gần 5.3 tỷ đồng/năm Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng năng lượng chỉ đạt khoảng
74-78% Trong các doanh nghiệp may thì quá trình gây lãng phí năng lượng liên
quan tới các quy trình sản xuất vận hành của lò hơi, hệ thống hơi, động cơ, hệ
thống máy nén khí, hệ thống chiếu sáng, nước Tất cả các yếu tố này đã và đang
làm tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp may, do đó giảm hiệu quả sản xuất
và giảm năng lực cạnh tranh của sản phẩm được sản xuất ra
2.2.2.2 Giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm may của Việt Nam cũng như TPHCM còn cao, so với các
nước trong khu vực, Việt Nam thường cao hơn 2.4 đến 3.6 lần, vì năng suất lao
động của công nhân còn thấp hơn mức bình quân của các nước trong khu vực
30-50% Các chi phí điện nước cũng kém cạnh tranh với nước láng giềng Trung Quốc Giá điện của Việt Nam khoảng 7 cent/kwh trong khi của Trung Quốc khoảng 6 cent/kwh Mặt khác, các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Trung Quốc thường xây dựng luôn nhà máy phát điện chạy bằng than, chi phí chỉ khoảng 4 cent/kwh Với vấn đề nước cũng vậy, giá nước Việt Nam là 4000 đồng/m3 gấp đôi giá của Trung Quốc 2000 đồng/ m3 Các chi phí này dẫn đến giá thành sản phẩm may của ta khó rất khó cạnh tranh với đối thủ nước bạn Ngoài ra, thời gian qua các doanh nghiệp cũng đã liên tục đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, dây chuyền đồng bộ Tuy đã có sự phát triển nhưng cũng chưa đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu ngày càng cao Nguồn nguyên phụ liệu phần lớn là nhập khẩu nên giá thành cao và các doanh nghiệp không chủ động được trong sản xuất, gây gián đoạn sản xuất và phát sinh thêm chi phí Ngoài ra, một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp may TPHCM còn lúng túng, chưa định vị được chiến lược kinh doanh, không tận dụng hết năng lực thiết bị hiện có, máy phải ngừng hoạt động đã góp phần đẩy chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm lên cao và từ đó làm sức cạnh tranh của doanh nghiệp bị giảm sút
Đối với hàng may mặc xuất vào thị trường Mỹ, để tránh việc bị điều tra chống bán phá giá, giá xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam đã tăng khá so với cùng kỳ và cao hơn nhiều so với mức giá nhập khẩu trung bình vào thị trường Mỹ Theo số liệu thống kê năm 2008, giá hàng may mặc của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ đạt trung bình 3,03 USD/m2, cao hơn nhiều so với mức trung bình 1.85 USD/m2 và là mức giá cao nhất trong số 12 nước cung cấp hàng may mặc lớn nhất vào thị trường này Giá hàng may mặc Trung Quốc xuất khẩu vào Mỹ chỉ ở mức 1,57USD/m2, Aán Độ là 1,81USD/m2, Băngladesh là 2,11 USD/m2, Indonexia là 2,61 USD/m2…Do vậy, hàng may mặc của ta phải cạnh tranh gay
Trang 24gắt và giảm giá nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng thì mới có thể cạnh tranh
được với các nước này
2.2.3 Thực trạng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
2.2.3.1 Chiến lược sản phẩm
Về chủng loại sản phẩm, các doanh nghiệp may trên địa bàn thành phố thường
chọn những mặt hàng có lợi thế riêng cho công ty mình Ví dụ như công ty may
CP SXTM May Saigon tập trung vào sản phẩm áo jacket ép seam, quần trượt
tuyết có giá trị xuất khẩu cao, áo nỉ của các khách hàng Decathlon, Newave,
Melcosa; công ty dệt may Thành Công có lợi thế về các sản phẩm dệt kim, áo
t-shirt, polo shirt; công ty may Hữu Nghị lại có thế mạnh về jacket và quần tây;
công ty Agtex có thế mạnh về sản phẩm quần tây, sơ mi nam Phần lớn những
mặt hàng này đều làm theo các đơn đặt hàng của khách, chủng loại, mẫu mã,
thông số kỹ thuật có sẵn nên các doanh nghiệp may thành phố chưa phát huy
được tính sáng tạo của riêng mình Phần lớn vẫn là sao chép lại mẫu gốc của
khách Do đó chủng loại sản phẩm cũng chưa phong phú, đa dạng Ngay cả
những đơn hàng xuất khẩu theo hình thức FOB vẫn dựa trên đơn đặt hàng theo
yêu cầu của khách hàng nước ngoài
Về chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng sản phẩm, hầu hết các sản phẩm
của các doanh nghiệp may TPHCM tập trung vào thị trường sản phẩm trung bình
và cấp thấp Sản phẩm may của Việt Nam và TPHCM phải cạnh tranh gay gắt
với sản phẩm các nước châu Á như Trung Quốc, Aán Độ, Bangladesh
Để kiểm soát và bảo đảm được chất lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị
trường xuất khẩu, các doanh nghiệp may TPHCM đã thực hiện việc xây dựng và
áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000, hệ thống quản lý chất lượng môi
trường ISO 1400, hệ thống trách nhiệm xã hội SA 8000, WRAP Tuy nhiên, số
đơn vị đạt được chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng chưa nhiều, đặc biệt tại
các doanh nghiệp tư nhân và các cơ sở sản xuất nhỏ, công tác quản lý chất lượng chưa được quan tâm đúng mức Trong khi đó, khách hàng lớn châu Aâu rất quan tâm tới các hệ thống quản lý chất lượng này và thường đòi hỏi doanh nghiệp may phải thực hiện đầy đủ các hệ thống chất lượng nói trên
2.2.3.2 Chiến lược phân phối
Theo kết quả điều tra trong số 50 doanh nghiệp, có tới 45 doanh nghiệp may TPHCM xuất khẩu bằng hình thức thông qua công ty thương mại hoặc văn phòng đại diện của công ty nước ngoài (chiếm 90%), chỉ có 5 doanh nghiệp (chiếm 10%) là xuất khẩu trực tiếp tới các nhà phân phối trên thị trường quốc tế
Bảng 2.11 : Kênh phân phối hàng may mặc TPHCM
Nguồn: điều tra cá nhân
Các doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở việc phân phối tới các nhà nhập khẩu ở thị trường cuối cùng, chưa xây dựng được mạng lưới phân phối đến tận tay người tiêu dùng nước ngoài Do vậy, thị phần của hàng may TPHCM phụ thuộc vào khả năng phân phối của nhà nhập khẩu tại thị trường đó, điều này phản ánh sự yếu kém về năng lực phát triển và khống chế thị phần hàng may của thành phố