tìm hiểu sự ra đời của triết học mác xít là một chuỗi tư duy biện chứng. Nó không chỉ là những vấn đề lý luận đơn thuần mà còn gắn liền với hoàn cảnh lịch sử và những con người hiện thực của cuộc sống. triết học cung cấp cho ta thế giới quan và phương pháp luận duy vật, làm cho ta sống điềm đạm, sâu sắc hơn. Bởi lẽ quá trình ra đời của nó thực sự là một bước ngoặt cách mạng, đứng trên những triết lý vĩ đại khác.
Trang 1TÍNH TẤT YẾU VÀ THỰC CHẤT BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG TRONG TRIẾT HỌC DO C MÁC, PH ĂNGGHEN THỰC HIỆN
Ý NGHĨA TRONG CUỘC ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG HIỆN NAY
Triết học Mác, Ăngghen là sự kế thừa những thành tựu vĩ đại của t ưtưởng triết học nhân loại mà trực tiếp là triết học cổ điển Đức Triết họcMác, Ăngghen là thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa họctrong nhận thức và cải tạo thế giới, là vũ khí lý luận của giai cấp cơngnhân trong quá trình giải phĩng giai cấp, giải phĩng xã hội Triết họcMác,Ăngghen khác hẳn về chất so với tất cả những tư tưởng triết họctrước đĩ Triết học Mác, Ăngghen ra đời khơng phải là một sự ngẫunhiên, hay ý muốn chủ quan của Mác, Ăngghen mà nĩ nảy sinh phù hợpvới quy luật phát triển khách quan của lịch sử tư tưởng nhân loại Sự rađời của triết học Mác là kết quả của sự thống nhất giữa sự chín muồi củađiều kiện khách quan và nhân tố chủ quan
Điều kiện khách quan
Vào giữa những năm 40 của thế kỷ XX lực lượng sản xuất pháttriển mạnh mẽ do sự tác động của cuộc cách mạng cơng nghiệp, làm chophương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được củng cố vững chắc, nổi bật là
ở Anh và Pháp Vào thời kỳ này nước Anh đã trở thành một cường quốc
tư bản chủ nghĩa lớn nhất, nước Đức tuy cơng nghiệp cịn phụ thuộc vàoAnh và Pháp song cũng phát triển khá nhanh SưÏ phát triển mạnh mẽ củachủ nghĩa tư bản lúc này đã được Mác Ăng Ghen nhận xét : “Giai cấp tưsản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra nhữnglực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cảcác thế hệ trước kia gộp lại”1 Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã thể
hiện rõ tính hơn hẳn của nĩ so với phương thức sản xuất phong kiến
1 C Mác và Ph Aêngghen toàn tập, tập 4, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995 trang 603
Trang 2Chủ nghĩa tư bản ngày càng phát triển dẫn đến nảy sinh mâu thuẫn giữalực lượng sản xuất phát triển với trình độ và tính chất xã hội hoá ngày càngcao với quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân
về tư liệu sản xuất Giai cấp tư sản lúc đầu nó còn là lực lượng cách mạng,nhưng khi đã xác lập được vị trí thống trị của mình dần dần trở thành lựclượng bảo thủ Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất biểuhiện về mặt xã hội đó là mâu thuẫn giai cấp
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất thì giai cấp công nhânngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đóng một vai trò to lớntrong đời sống chính trị xã hội Trước sự áp bức bóc lột của giai cấp tư sản thìphong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ ỞAnh phong trào hiến chương của công nhân Anh trở thành một phong tràochính trị có tính chất quần chúng rộng lớn Ở Pháp có cuộc đấu tranh củacông nhân chống bọn tư bản đã phát triển thành một loạt cuộc khởi nghĩa vũtrang Cuộc khởi nghĩa của công nhân Liông nổ ra năm 1831 đã báo hiệu mộtgiai đoạn mới của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội tư bản Thực tiễn sảnxuất vật chất và đấu tranh cách mạng cho thấy, giai cấp vô sản đã lớn mạnh cả
về số lượng và chất lượng, thật sự trưởng thành, bước lên vũ đài chính trị
Giữa những năm 40 của thế kỷ XX, trung tâm của phong trào cáchmạng chuyển sang nước Đức Phong trào đấu tranh của giai cấp côngnhân phát triển mạnh mẽ, nhưng đó chỉ là các cuộc đấu tranh tự phát Giaicấp công nhân lúc này họ chưa ý thức được địa vị của mình trong tiếntrình lịch sử, họ chưa thấy được con đường và biện pháp để giải phóngbản thân mình và giải phóng toàn xã hội, họ thiếu tổ chức và thiếu lý luậndẫn đường Thực tiễn xã hội, đặc biệt là thực tiễn cách mạng của giai cấp
vô sản đã nảy sinh một yêu cầu khách quan là phong trào đấu tranh củagiai cấp công nhân phải được soi sáng bằng lý luận cách mạng và khoa
Trang 3học Như vậy phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân là cơ sở kháchquan quyết định tính tất yếu của sự ra đời một hệ tư tưởng mới
Trong lúc này các học thuyết xã hội không tưởng của Xanhximông,Phuriê, Ôoen ra đời nhưng không đáp ứng được yêu cầu của phong trào cộngsản trong sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp Chính thực tiễncác phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân lúc đó nó đòi hỏi phải đượcsoi sáng bởi lý luận cách mạng đó là lý luận Mác nói chung và triết học Mácnói riêng Chính Mác, Ăng Ghen đã đáp ứng được những đòi hỏi đó: sáng tạo
ra lý luận cách mạng của phong trào công nhân, đáp ứng những đòi hỏi cấpthiết của giai cấp công nhân để tự giải phóng mình và giải phóng toàn xã hội
Như vậy: Giai cấp công nhân đã tìm thấy ở triết học Mác vũ khí tinhthần của mình cũng giống như triết học Mác đã tìm thấy giai cấp công nhânnhư là vũ khí vật chất của mình
Sự ra đời của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêngchính là sự giải đáp về mặt lý luận khoa học những vấn đề thực tiễn củathời đại đặt ra trên lập trường của giai cấp vô sản cách mạng
Sự xuất hiện chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêngkhông những là sản phẩm tất yếu của những điều kiện kinh tế xã hội của xãhội tư bản chủ nghĩa giữa thế kỷ XIX mà còn bởi toàn bộ đời sống xã hội, đờisống khoa học và văn hoá Lý luận mác xít không xuất hiện tách rời conđường văn minh chung cuả nhân loại, đó là những tiền đề lý luận và khoa học
tự nhiên
Trong quá trính xây dựng học thuyết của mình, Mác, Ăngghen đã kếthừa những thành tựu trong tư tưởng của triết học nhân loại từ thời cổ đại, màtrực tiếp là triết học cổ điển Đức; chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và kinh
tế chính trị học cổ điển Anh Triết học cổ điển Đức với hai nhà triết học tiêubiểu đó là Hê Ghen và Phoiơbắc Mác, Ăngghen đã kế thừa một cách có chọn
Trang 4lọc những tư tưởng của triết học Hêghen và Phoiơbắc, đĩ là những tư tưởngbiện chứng của Hêghen và chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc Từ phép biệnchứng duy tâm của Hêghen cải tạo thành phép biện chứng duy vật, từ chủnghĩa duy vật siêu hình của Phoiơbắc cải tạo thành chủ nghĩa duy vật biệnchứng.
Ý nghĩa lịch sử nổi bật của triết học cổ điển Đức là ở chỗ, nĩ là mộttrong những tiền đề lý luận cho việc hình thành thế giới quan duy vật biệnchứng Hai ơng đã nhiều lần nĩi rằng: Trong sự phát triển trí tuệ của mình, haiơng đã chịu ơn nhiều của các nhà triết học Đức trong đĩ cĩ Hêghen, nhưĂngghen đã nĩi: khơng cĩ triết học Đức thì khơng thể cĩ chủ nghĩa xã hộikhoa học Cơng lao lịch sử của Hêghen là đã phê phán mạnh mẽ tư duy siêuhình, xây dựng một cách cĩ hệ thống phương pháp biện chứng, mặc dù nĩnúp dưới cái vỏ thần bí và dựa trên cơ sở duy tâm sai lầm
Mác, Ăngghen đánh giá cao phương pháp biện chứng của Hêghen,đồng thời chỉ rõ những hạn chế của Hêghen Mác chỉ rõ: “tính chất thần bí màphép biện chứng đã mắc phải trong tay Hêghen tuyệt nhiên khơng ngăn cảnHêghen trở thành người đầu tiên trình bầy một cách bao quát và cĩ ý thứcnhững hình thái vận động chung của phép biện chứng ấy Ở Hêghen, phépbiện chứng bị lộn đầu xuống đất Chỉ cần dựng nĩ lại là sẽ phát hiện được cáihạt nhân hợp lý của nĩ đằng sau lớp vỏ thần bí” 2
Mác, Ănghen đã kế thừa cĩ phê phán những giá trị tư tưởng trongkinh tế chính trị học ở Anh mà đại biểu là(Ađamxmít, Đavít Ricácđơ) cĩmột vai trị to lớn trong việc sáng tạo ra kinh tế mác xít và triết học Mác.Khơng cĩ sự cải tạo ấy thì khơng thể phát hiện ra cơ sở vật chất của quátrình lịch sử xã hội, khơng thể sáng lập ra quan điểm duy vật về lịch sử và
2 C Mác – Ph Aêngghen Tuyển tập, tập 3, Nxb Sự thật, Hà Nội 1982, trang 209
Trang 5không thể khắc phục được tính chất không triệt để của chủ nghĩa duy vậttrước Mác.
Việc nghiên cứu chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán ở Pháp vớicác đại biểu là(Xanhximông, Phuriê, Ooen) cũng đã đem lại cho Mác,Ăngghen những tài liệu hết sức phong phú để hiểu một cách duy vật biệnchứng về đời sống xã hội Những nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng đã bóctrần những mâu thuẫn của xã hội tư bản, họ nhìn xã hội tư bản như một xãhội sớm muộn sẽ biến đổi và được thay thế bằng một xã hội tốt đẹp hơn Đây
là những tiền đề lý luận có đóng góp quan trọng trong việc hình thành triếthọc Mác, đó là những quan điểm duy vật về lịch sử và những dự báo về tươnglai của xã hội cộng sản chủ nghĩa
Cùng với những tiền đề lý luận nói trên, những thành tựu khoa học tựnhiên lúc này cũng phát triển mạnh mẽ tạo ra những tiền đề quan trọng cho việchình thành các quan điểm duy vật biện chứng của Mác, Ăngghen, bởi sự pháttriển của tư duy triết học phải dựa trên cơ sở những tri thức khoa học do cáckhoa học cụ thể đem lại, với các phát minh quan trọng đó là
Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng của nhà vật lý học ngườiĐức (Rôbec May e) Học thuyết về cấu tạo tế bào thực vật và động vật do cácnhà bác học người Đức, Anh: Sơlayđen và Savanxơ đưa ra vào những năm 30của thế kỷ XIX; thuyết tiến hoá của nhà bác học Anh: (Đác Uyn)
Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng đã chứng minh rằng: Các
sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất không tồn tại tách rời nhau mà chúngluôn liên hệ với nhau và các sự vật hiện tượng không tự nhiên sinh ra, không
tự nhiên mất đi mà trong những điều kiện nhất định sẽ chuyển hoá từ dạngnày sang dạng khác Đây là cơ sở khoa học cho việc hình thành những quanđiểm duy vật biện chứng về thế giới, đồng thời khẳng định tính thống nhất vậtchất của thế giới
Trang 6Thuyết tế bào và thuyết tiến hố cũng khẳng định: Thế giới sinh vậtđược cấu tạo từ tế bào, là sự phát triển lâu dài chứ khơng phải do thần linh,thượng đế sinh ra Như vậy thuyết tế bào và thuyết tiến hố nĩ phá tan cácquan điểm của các nhà triết học duy tâm cho rằng thế giới này do thần linhthượg đế sinh ra, phá tan quan niệm về cái huých ban đầu, đồng thời là cơ sở
để hình thành các quan điểm duy vật về thế giới
Với những phát minh trên đã làm bộc lộ rõ tính chất hạn chế và sự bấtlực của phương pháp tư duy siêu hình trong việc nhận thức thế giới, đã giángmột địn rất mạnh vào chủ nghĩa duy tâm tơn giáo và phép siêu hình trongquan niệm về thế giới, như Mác, Ăgghen đã khẳng định: “quan niệm mới vềthế giới đã được hồn thành trên những nét cơ bản: Tất cả cái gì cứng nhắcđều bị tan ra, tất cả cái gì là cố định đều biến thành mây khĩi và tất cả những
gì đặc biệt mà người ta cho là tồn tại vĩnh cửu thì đã trở thành nhất thời; vàngười ta đã chứng minh rằng, tồn bộ giới tự nhiên đều vận động theo mộtdịng và tuần hồn vĩnh viễn”3 Đồng thời với sự phát triển của khoa học tựnhiên nĩ lại là cơ sở để phát triển tư duy biện chứng và sự phát triển của tưduy biện chứng đã được kiểm nghiệm bởi khoa học tự nhiên Chính Mác vàĂngghen đã nhấn mạnh rằng, phép biện chứng đã trở thành một tất yếu tuyệtđối với khoa học tự nhiên và các ơng đã khái quát về mặt triết học tồn bộnhững thành tựu khoa học tự nhiên thế kỷ XIX để xây dựng nên chủ nghĩaduy vật biện chứng của mình
Những điều kiện lịch sử, những tiền đề kinh tế xã hội, lý luận và khoa học
cĩ một ý nghĩa vơ cùng quan trọng đối với sự ra đời của triết học Mác Và cũngchính thời đại đĩ đã sinh ra những thiên tài cĩ khả năng khái quát tồn bộ lịch sửphát triển của nhân loại, khái quát được những kinh nghiệm lịch sử và trả lờiđúng đắn những câu hỏi mà thời đại đã đặt ra
3 C Mác, Ph Aêngghen Toàn tập, tập 20, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội 1994, trang 471
Trang 7Nhân tố chủ quan
Triết học Mác xuất hiện khơng chỉ là kết quả của sự vận động và pháttriển cĩ tính quy luật của các nhân tố khách quan mà cịn được hình thànhthơng qua vai trị của nhân tố chủ quan, đĩ là thiên tài và hoạt động thực tiễnkhơng mệt mỏi của Mác và Ăngghen, lập trường giai cấp cơng nhân và tìnhcảm đặc biệt của hai ơng đối với nhân dân lao động là một trong những yếu tố
cơ bản làm nên bước ngoặt cách mạng trong triết học Mác, Ăngghen
Mác, Ăngghen là những người cĩ trí thơng minh vượt tầm thời đại.C.Mác (5/5/1818 – 14/3/1883) sinh ra trong một gia đình tư sản cấp tiến cĩảnh hưởng rất lớn về trí tuệ của người bố Mác là người cĩ trí tuệ thơngminh kiệt xuất, khi mới 18 tuổi đã làm dự thảo luận án tiến sỹ luật Mác làngười thuộc tầng lớp tư sản nhưng đĩ là tư sản cấp tiến, sớm cĩ khát vọnggiải phĩng con người, giải phĩng xã hội Với một trí tuệ uyên bác, baotrùm nhiều lĩnh vực rộng lớn và một nhãn quan chính trị đặc biệt nhạy cảm,Mác đã vượt qua được những hạn chế lịch sử của các nhà triết học đươngthời để giải đáp thành cơng những vấn đề bức thiết về mặt lý luận của nhânloại Đánh giá về Mác, Lênin đã nhận xét: “thiên tài của Mác chính là ởchỗ Ơng đã giải đáp được những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại
đã đặt ra” 4
Cũng như Mác, Ph Ăngghen (28/11/1820 – 5/5/1895) ngay từ thờitrai trẻ đã tỏ ra là người cĩ năng khiếu đặc biệt và nghị lực học tập,nghiên cứu phi thường Sinh ra trong một gia đình chủ xưởng dệt ở thànhphố Bácmen của Đức Xuất thân trong một gia đình tư sản, Ơng cĩ tríthơng minh tương đương với Mác Mác tìm thấy ở Ăngghen một ngườicùng tư tưởng, một người đồng chí nhất mực trung thành, gắn bĩ với nhautrong sự nghiệp chung Giữa Mác và Ăngghen cĩ một tình bạn vĩ đại Như
4 V.I.Lênin, Toàn tập, bản tiếng việt, Nxb Tiến bộ, Mátxcơ va 1980, Tập 23, trang 49
Trang 8Lênin đã từng nĩi: “giai cấp vơ sản châu âu cĩ thể nĩi rằng khoa học củamình là tác phẩm sáng tạo của hai bác học kiêm chiến sỹ mà tình bạn đãvượt xa tất cả những gì là cảm động nhất trong những truyền thuyết củađời xưa kể về tình bạn của con người”5 Ăngghen đã kiên trì tự họ để quyếttâm theo con dường làm khoa học và hoạt động cách mạng cải biến xã hội.Cũng như Mác, Ăngghen coi nhiệm vụ của triết học phải gắn với cuộc đấutranh chính trị thực tiễn.
Mác, Ăngghen mặc dù xuất thân từ tầng lớp tư sản nhưng thơng quahoạt động thực tiễn từ phong trào cơng nhân, sống trong phong trào cơngnhân, được tận mắt chứng kiến những bất cơng trong xã hội tư bản, hiểu vàthơng cảm sâu sắc nỗi thống khổ của người lao động làm thuê Mác vàĂngghen đã đứng về những người cùng khổ, đấu tranh khơng mệt mỏi vì lợiích của họ, trang bị cho họ một cơng cụ sắc bén để nhận thức và cải tạo thếgiới, gắn chặt hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn tạo nên động lực sángtạo của Mác và Ăngghen
Như vậy: Triết học Mác, Ăngghen ra đời khơng phải là sự xuất hiệnmột cách ngẫu nhiên mà nĩ ra đời là một tất yếu khách quan trên cơ sở nhữngđiều kiện khách quan và nhân tố chủ quan và sự ra đời của triết học Mác làmột bước ngoặt cách mạng quan trọng trong lịch sử tư tưởng triết học nhânloại
Trong lịch sử xã hội đã cĩ khơng ít những bước nhảy vọt, những bướcngoặt cách mạng, tạo ra những thành tựu vĩ đại, trong văn học nghệ thuật,trong khoa học, trong triết học Sự xuất hiện chủ nghĩa Mác là bước ngoặtcách mạng quan trọng trong lịch sử tư tưởng nhân loại Chính vì vậy màLênin đã khẳng định: Chủ nghĩa Mác là sự phát triển cao nhất của tồn bộkhoa học lịch sử, khoa học kinh tế và triết học ở Châu Âu
5 V.I.Lênin, Toàn tập, bản tiếng việt, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva 1978, tập 2 trang 12
Trang 9Bước ngoặt cách mạng là gì?: Bước ngoặt cách mạng là một mốc quan
trọng trong lịch sử, chỉ ra sự chuyển biến về chất của một quá trình phát triển
xã hội nói chung, của nhận thức con người về tự nhiên, xã hội và chính bảnthân con người Đó là sự thay đổi căn bản cái cũ, xây dựng cái mới khác hẳn
về chất so với cái cũ và nó phù hợp với quy luật phát triển tất yếu của lịch sử
Bước ngoặt cách mạng trong triết học do Mác, Ăngghen thực hiện:
Đó là Mác và Ăngghen đã xây dựng nên một hệ thống triết học khoahọc và cách mạng, hệ thống triết học đó hoàn toàn khác về chất so với các hệthống triết học trước đó Hệ thống triết học đó là sự kế thừa một cách có phêphán những thành tựu của tư duy nhân loại, sáng tạo nên chủ nghĩa duy vậttriết học, mới về chất, hoàn bị nhất, triệt để nhất, trong đó có sự thống nhấtgiữa chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng, giữa quan niệm duy vật về tựnhiên với quan niệm duy vật về đời sống xã hội, là sự thống nhất giữa nhậnthức thế giới và cải tạo thế giới, là thế giới quan, phương pháp luận cáchmạng và khoa học của giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân lao động trong
sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội
Nội dung biểu hiện của bước ngoặt cách mạng
Mác, Ăngghen đã kế thừa một cách có chọn lọc những thành tựu của triết học nhân loại, sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật biện chứng
Trong lịch sử tư tưởng triết học trước Mác, từng thời đoạn đã cónhững bước ngoặt Nhưng bước ngoặt cách mạng trong triết học thì chỉ cóMác, Ăng ghen Triết học Hy Lạp, La Mã cổ đại cũng đã mở ra các bìnhdiện của thế giới quan và được phát triển đến triết học cổ điển Đức Đếnthời kỳ Mác, Ăng ghen nó đã phát triển sâu sắc hơn trên tất cả các bìnhdiện đó là chủ nghĩa duy vật hoàn bị và phép biện chứng thực sự cáchmạng Gắn kết hai khoa học đó thành khoa học duy nhất để đem đến một
Trang 10bước ngoặt trong quan niệm của con người đó là chủ nghĩa duy vật biện
chứng
Các tư tưởng triết học trước Mác đã tách rời chủ nghĩa duy vật và phépbiện chứng
Thời kỳ cổ đại: Chủ nghĩa duy vật là thô sơ chất phác, phép biện chứng
là phép biện chứng tự phát, vì thời kỳ đó do điều kiện lịch sử xã hội và trình
độ khoa học chưa phát triển
Trong triết học cổ điển Đức: Tiêu biểu là phép biện chứng của Hêghen vàchủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc Tư tưởng triết học của Hêghen và Phoiơbắccũng là sự tách rời giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng Phép biện chứngcủa Hêghen là phép biện chứng duy tâm đó là biện chứng của “ ý niệm tuyệt đối”
và chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là chủ nghĩa duy vật siêu hình, duy vật về tựnhiên nhưng lại duy tâm về xã hội
Hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác là siêu hình máy móc, duy tâm
về lịch sử xã hội mà căn nguyên cơ bản là không thấy được vai trò của thực tiễn,không xem thực tiễn dưới quan điểm duy vật Sự phát triển của các tư tưởng triếthọc trước Mác không phải là sự phủ định biện chứng mà là phủ định sạch trơnnên không tạo ra bước ngoặt cách mạng
Phoiơbắc là người học trò đầu tiên của Hêghen đã thất vọng với phươngpháp của Hêghen, phủ định sạch trơn toàn bộ những tư tưởng triết học củaHêghen, vứt bỏ nó mà không nghiên cứu cải tạo nó Cái thiên tài sáng tạo củaMác, Ăngghen ở chỗ, khi nghiên cứu triết học của Hêghen và Phoiơbắc, Mác,Ăngghen đã kế thừa có phê phán những tư tưởng triết học của Hêghen vàPhoiơbắc, đó là kế thừa những tư tưởng biện chứng của Hêghen, từ phép biệnchứng duy tâm của Hêghen, đã cải tạo thành biện chứng duy vật và từ chủnghĩa duy vật siêu hình của Phoiơbắc cải tạo thành chủ nghĩa duy vật biệnchứng