Từ các quan điểm về hiệu quả kinh tế thì tác giả có thể đưa ra khái niệm về hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp như sau: hiệu quả kinh doanh là
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển bền vững cần phải có các hoạt
động: nghiên cứu nhu cầu thị trường, phân tích tình hình hiện tại của cả nền kinh tế,
của chính doanh nghiệp Từ đó, vạch ra các chiến lược phát triển ngắn hạn và dài hạn,
nhằm mục đích cuối cùng là tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu Một trong những hoạt
động quan trọng đó là phân tích tài chính và đánh giá hiệu quả tài chính Thông qua đó
tìm các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tài chính, cũng như nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh trong tương lai của doanh nghiệp
Cùng với sự phát triển kinh tế, nhu cầu sử dụng thép xây dựng tại Việt Nam và
các nước đang phát triển như Nam Mỹ, Đông Nam Á, Tây Á và Bắc Á… gia tăng rất
đáng kể Theo đó triển vọng phát triển của ngành thép xây dựng như thép lá tráng phủ
kim loại, ống thép và xà gồ thép …là rất lớn Ngoài ra theo quyết định số
145/2007/QĐ-TTg ngày 04 tháng 09 năm 2007 của Thủ tướng chính phủ về việc phê
duyệt quy hoạch phát triển ngành thép Việt Nam giai đoạn 2007 -2015 và có xét đến
2025 đã nêu: “Xây dựng và phát triển ngành thép Việt Nam thành một ngành công
nghiệp quan trọng, bảo đảm phát triển ổn định và bền vững, giảm thiểu sự mất cân đối
giữa sản xuất gang, phôi thép với sản xuất thép thành phẩm, giữa sản phẩm thép dài
với sản phẩm thép dẹt….”
Công ty TNHH Prestar Industries Việt Nam (PIV) là doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài, có tư cách pháp nhân, hoạt động và báo cáo theo hệ thống pháp luật Việt
Nam hiện hành, Công ty TNHH Prestar Industries Việt Nam được thành lập từ năm
2006 Mặc dù mới thành lập hơn 5 năm, nhưng với quy mô và chất lượng hoạt động,
PIV đã và đang dần được khẳng định trên thị trường sắt thép của Việt Nam, có những
đóng góp to lớn cho quá trình phát triển ngành vật liệu xây dựng nói riêng và nền kinh
tế nói chung Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam, đang ngày
càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế của thế giới Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với
Công ty TNHH Prestar Industries Việt Nam là phải đi trước một bước, tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển của mình
Từ những quan điểm nêu trên và tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty đang gặp một số vấn đề khó khăn, cần tháo gỡ, để có biện pháp nâng cao hiệu quả kinh
doanh Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: "Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh cho Công ty TNHH Prestar Industries Việt Nam đến năm 2017"
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu thực trạng về hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Prestar
Industries Việt Nam trong những năm từ 2009-2011 Từ đó, phát hiện cũng như tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh mà Công ty đang phải đối mặt nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho Công ty TNHH Prestar Industries Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sản xuất kinh doanh cho Công ty TNHH Prestar Industries Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng về hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong 3 năm từ 2009 đến 2011
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
tài chính, Tài chính doanh nghiệp căn bản, Chiến lược và chính sách kinh doanh, Quản trị điều hành, Quản lý chất lượng trong các tổ chức từ đó chọn lọc và hệ thống hóa
để làm cơ sở lý luận cho đề tài
dữ liệu thứ cấp gồm các Báo cáo tài chính đã được kiểm toán, Báo cáo kinh doanh, Báo cáo sản xuất của Công ty TNHH Prestar Industries Việt Nam, mạng internet Sử dụng phần mềm Excel để tổng hợp số liệu thu thập
Trang 2- Tham khảo ý kiến chuyên gia bằng cách trao đổi với Bộ phận kinh doanh, Quản
lý chất lượng và các chuyên gia người nước ngoài để tìm hiểu rõ nguyên nhân làm
ảnh hưởng đến kết quả hoạt động tài chính của công ty
tiêu kinh doanh và tham khảo một số ý kiến của một số phòng ban của PIV
5 Điểm mới và hạn chế của đề tài
Luận văn này là công trình đầu tiên nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh của công ty PIV đến năm 2017 Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động
kinh doanh qua ba năm 2009, 2010 và 2011 để tìm ra được những nguyên nhân cốt lõi
làm ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của Công ty
Những giải pháp nêu trong đề tài có thể vận dụng trong thực tiễn hoạt động
kinh doanh của PIV
Hạn chế của đề tài chỉ đánh giá và phân tích về lĩnh vực tài chính cho công ty
chưa đi sâu vào lĩnh vực kinh doanh và chưa phân tích chi tiết về tình hình sản xuất của
Công ty
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia thành 3 phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Prestar
Industries Việt Nam giai đoạn 2009-2011
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho Công ty
TNHH Prestar Industries Việt Nam đến năm 2017
Tất cả các doanh nghiệp nếu muốn tồn tại và phát triển đều cần phải giải quyết
ba vấn đề đó là sản xuất ra cái gì, sản xuất làm sao và tiêu thụ bằng cách nào để có thể thu được kết quả tối đa với nguồn lực có hạn Kết quả tối đa được tạo nên từ nguồn lực có hạn, đó chính là hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là rất cần thiết
Trong quá trình tổ chức xây dựng và thực hiện các hoạt động quản trị, các doanh nghiệp phải luôn luôn kiểm tra đánh giá tính hiệu quả của chúng Muốn kiểm tra đánh giá các hoạt động sản xuất kinh doanh chung của doanh nghiệp cũng như từng lĩnh vực, từng bộ phận bên trong doanh nghiệp thì doanh nghiệp không thể thực hiện việc tính hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh đó Vậy thì hiệu quả kinh
tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh là gì? Để hiểu được phạm trù hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh thì trước tiên chúng ta tìm hiểu xem hiệu quả kinh tế nói chung là gì Từ trước đến nay có rất nhiều tác giả đưa ra các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế:
- Theo các tác giả thì có một số tác giả cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ giữa tỷ lệ tăng lên của hai đại lượng kết quả và chi phí Các quan điểm này mới chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ không phải của toàn bộ phần tham gia vào quy trình kinh tế
- Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả nhận được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó Điển hình cho quan điểm này là tác giả Manfred Kuhu, theo ông: "Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả
Trang 3tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh" Đây là quan điểm được nhiều nhà
kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các quá trình kinh
tế
Một khái niệm được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm chú ý và
sử dụng phổ biến đó là: Hiệu quả kinh tế của một số hiện tượng (hoặc một quá trình)
kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định Đây là
khái niệm tương đối đầy đủ phản ánh được tính hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản
xuất kinh doanh
Từ các quan điểm về hiệu quả kinh tế thì tác giả có thể đưa ra khái niệm về hiệu
quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp như sau: hiệu
quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao
động, máy móc, thiết bị, tiền vốn và các yếu tố khác) nhằm đạt được mục tiêu mà
doanh nghiệp đã đề ra
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình
độ sử dụng nguồn nhân lực, tài lực của doanh nghiệp Được xác định bằng cách đối
chiếu so sánh giữa kết quả đạt được với các nguồn lực tạo ra kết quả đó
Kết quả đầu ra
Hiệu quả =
Chi phí đầu vào
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một vấn đề hết sức phức tạp, có liên quan đến
nhiều yếu tố, nhiều khía cạnh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
như lao động, nguyên vật liệu, năng lượng, các yếu tố kỹ thuật Thời gian được sử
dụng để sản xuất ra sản phẩm được thực hiện qua một hay nhiều quá trình sản xuất [7,
tr122]
1.1.2 Bản chất hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất
Khái niệm hiệu quả kinh doanh đã cho thấy bản chất của nó là phản ánh mặt
chất lượng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh trình độ lợi dụng
các nguồn lực đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Tuy nhiên để hiểu rõ và ứng dụng được phạm trù hiệu quả kinh doanh vào việc xác lập các chỉ tiêu, các công thức cụ thể nhằm đánh giá tính hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì chúng ta cần làm rõ những vấn đề sau:
- Thứ nhất, phạm trù hiệu quả kinh doanh thực chất là mối quan hệ so sánh giữa
kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để sử dụng các yếu tố đầu vào và có tính đến các mục tiêu của doanh nghiệp hoặc nguồn lực thực hiện Mối quan hệ so sánh ở đây có thể là
so sánh tuyệt đối và cũng có thể là so sánh tương đối
Về mặt so sánh tuyệt đối thì hiệu quả kinh doanh là:
H = K - C trong đó:
H: hiệu quả kinh doanh K: kết quả đạt được C: chi phí bỏ ra hoặc nguồn lực đầu vào Còn về so sánh tương đối thì:
số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu bán hàng, lợi nhuận, thị phần… như vậy kết quả sản xuất kinh doanh thường là mục tiêu của doanh nghiệp [7, tr 135]
- Thứ hai, phải phân biệt hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế xã hội với hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp: hiệu quả xã hội phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu về xã hội nhất định Các mục tiêu xã hội thường là: giải quyết công ăn việc làm cho người lao động trong phạm vi toàn xã hội phạm vi
Trang 4từng khu vực, nâng cao trình độ văn hóa, nâng cao mức sống, đảm bảo vệ sinh môi
trường… Còn hiệu quả kinh tế xã hội phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực nhằm
đạt được các mục tiêu cả về kinh tế xã hội trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân
cũng như trên phạm vi từng vùng, từng khu vực của nền kinh tế
- Thứ ba, phân biệt hiệu quả trước mắt với hiệu quả lâu dài: các chỉ tiêu hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào mục tiêu của doanh nghiệp Do
đó mà tính chất hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở các giai đoạn khác nhau Xét
về tính lâu dài thì các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của toàn bộ các hoạt động sản xuất
kinh doanh trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp là lợi nhuận và các chỉ
tiêu về doanh lợi Xét về tính hiệu quả trước mắt (hiện tại) thì nó phụ thuộc vào các
mục tiêu hiện tại mà Doanh nghiệp đang theo đuổi Trong thực tế để thực mục tiêu bao
trùm lâu dài của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, có rất nhiều doanh nghiệp hiện
tại không đạt được mục tiêu là lợi nhuận mà lại thực hiện các mục tiêu nâng cao năng
suất và chất lượng của sản phẩm, nâng cao uy tín danh tiếng của doanh nghiệp, mở
rộng thị trường cả về chiều rộng lẫn chiều sâu… Qua các chỉ tiêu hiệu quả về lợi nhuận
đang nói đến là không cao nhưng chỉ tiêu có liên quan đến các mục tiêu đã đề ra của
doanh nghiệp là cao thì chúng ta không thể kết luận là doanh nghiệp đang hoạt động
không có hiệu quả, mà phải kết luận là doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả Như
vậy các chỉ tiêu hiệu quả mà tính hiệu quả trước mắt có thể là trái với các chỉ tiêu hiệu
quả lâu dài, nhưng mục đích của nó lại là nhằm thực hiện chỉ tiêu hiệu quả lâu dài [7, tr
178]
Việc phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đánh giá trình độ khai
thác và tiết kiệm các nguồn lực đã có Phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm trong
quá trình sản xuất, đề ra các biện pháp nhằm khai thác mọi khả năng tiềm tàng để phấn
đấu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, hạ giá thành, tăng khả năng cạnh tranh,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động
Dưới góc độ người chủ sở hữu doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh được thể hiện bằng hiệu quả tài chính, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận
1.2 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp biểu hiện thông qua sự phân tích so sánh giữa các chỉ tiêu đầu ra và các chỉ tiêu đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh Do
đó, vấn đề quan trọng trong việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả là sử dụng những đại lượng đầu ra và đầu vào nào để đảm bảo phản ánh được chính xác thực chất khách quan hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1 Các chỉ tiêu đầu vào
Chỉ tiêu đầu vào phản ánh nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực
1.2.1.1 Tổng tài sản
Tổng tài sản của doanh nghiệp thường được xét theo hai mặt:
- Mặt thứ nhất phản ánh tổng tài sản theo kết cấu và hình thức tồn tại trong quá trình sản xuất kinh doanh gọi là tài sản có Tài sản có của doanh nghiệp gồm hai phần: tài sản lưu động và tài sản cố định Tài sản lưu động phản ánh tổng giá trị tài sản lưu động và các khoản đầu tư ngắn hạn có đến thời điểm báo cáo gồm các khoản mục như : vốn bằng tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản lưu động khác Tài sản cố định phản ánh toàn bộ giá trị của tài sản cố định, các khoản đầu tư tài chính dài hạn, chi phí xây dựng cơ bản dở dang và các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn của doanh nghiệp đến thời điểm báo cáo gồm các khoản mục như: tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình, tài sản cố định thuê tài chính, các khoản đầu tư tài chính dài hạn, chi phí xây dựng cơ bản dở dang, các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn, chi phí trả trước dài hạn.[2, tr 18]
- Mặt thứ hai phản ánh tổng tài sản theo nguồn hình thành còn gọi là tài sản nợ hay nguồn vốn Nguồn vốn của doanh nghiệp hình thành từ hai nguồn là nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu Nợ phải trả là các khoản nợ của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, nợ khác Nguồn vốn chủ sở hữu phản ánh
Trang 5nguồn vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo gồm nguồn vốn
quỹ và nguồn kinh phí, quỹ khác [2, tr 19]
1.2.1.2 Số lượng lao động sử dụng
Theo quan điểm lợi ích của doanh nghiệp: quản trị nguồn nhân lực là nghệ thuật
lựa chọn và sử dụng nhân viên sao cho năng suất và chất lượng công việc của mỗi
người đạt được ở mức cao nhất có thể được
Lao động là nhân tố đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh Số
lượng lao động có kỹ thuật, có chuyên môn là lực lượng đặc biệt góp phần tạo nên hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Với sản xuất, lao động được đề cao về
chuyên môn, sức khỏe và tính cần cù chịu khó, còn trong lĩnh vực kinh doanh lao động
lại mang hình thái trí tuệ, năng động và linh hoạt với mọi biến động bên ngoài Nguồn
lực lao động có thể đo bằng số người lao động, ngày công, giờ công Trong thực tế
nguồn nhân lực của doanh nghiệp thường có biến động theo thời gian, do vậy khi tính
toán hiệu quả sản xuất kinh doanh người ta thường dùng số bình quân
1.2.1.3 Chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau Chi phí có thể
được nhìn nhận một cách trừu tượng chính là biểu hiện bằng tiền những hao phí lao
động sống và lao động quá khứ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, hoặc là
những phí tổn ước tính thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh
Theo nguyên tắc kế toán của Việt Nam thì chi phí hoạt động sản xuất kinh
doanh bao gồm:
- Giá vốn hàng bán (gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp sản
xuất, chi phí sản xuất chung)
- Chi phí bán hàng
- Chi phí quản lý doanh nghiệp
- Chi phí hoạt động tài chính
lại, giảm giá hàng bán, chiết khấu bán hàng
1.2.2.2 Giá trị gia tăng
Giá trị gia tăng là phần giá trị mới được tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định Giá trị gia tăng phản ánh toàn bộ kết quả của doanh nghiệp trong thời gian nhất định
Giá trị gia tăng được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất hoặc tiêu thụ với tổng giá trị hàng hóa dịch vụ mua vào tương ứng Giá trị gia tăng được phân chia cho bốn tác nhân chủ yếu đã tham gia Đó là:
- Trả tiền lương, tiền công cho nhân viên
- Trả tiền lãi vay cho người cho vay
- Nộp thuế nhà nước
- Lợi nhuận của chủ doanh nghiệp
Do giá trị gia tăng của tất cả các doanh nghiệp cộng lại sẽ bằng GDP toàn quốc,
mà GDP tính theo đầu người là chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh trình độ phát triển và mức sống dân cư tại mỗi nước Vì vậy, giá trị gia tăng là chỉ tiêu phản ánh đầy đủ kết quả hoạt động của doanh nghiệp dưới góc độ toàn bộ nền sản xuất xã hội
Giá trị gia tăng có thể được tính như sau:
GTGT = V + T + I + NI Trong đó:
V: là thu nhập của người lao động ( gồm lương, thưởng, phụ cấp, bảo hiểm)
T: các loại thuế, phí và thủ tục phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 6I: tiền lãi trả cho người cho vay vốn
NI: lợi nhuận sau thuế
1.2.2.3 Thuế
Thuế và các khoản phí là nguồn đóng góp quan trọng của các doanh nghiệp vào
ngân sách nhà nước, tạo nguồn tích lũy để nhà nước hoạt động và tác động tích cực vào
nền kinh tế xã hội
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính
Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả tài chính là yếu tố hàng đầu quyết định
đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Chính vì thế nếu như hiệu quả tài chính
của doanh nghiệp không đạt thì doanh nghiệp sẽ khó lòng tồn tại dẫn đến thu nhập của
người lao động cũng như mức đóng góp của doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước sẽ
bị ảnh hưởng lớn
1.2.3.1 Lợi nhuận
Lợi nhuận chính là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp Lợi nhuận là biểu hiện
bằng tiền của sản phẩm thặng dư do kết quả lao động của công nhân mang lại Lợi
nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh
doanh Nó phản ánh đầy đủ các mặt số lượng và chất lượng hoạt động của doanh
nghiệp, phản ánh kết quả việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất như lao
động, nguyên vật liệu, tài sản cố định Lợi nhuận là nguồn vốn quan trọng để tái sản
xuất mở rộng doanh nghiệp Lợi nhuận là một đòn bẩy kinh tế quan trọng, có tác dụng
khuyến khích người lao động và các doanh nghiệp ra sức phát triển sản xuất, nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh, trên cơ sở của chính sách phân phối đúng đắn
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chi phối toàn bộ quá trình sản xuất kinh
doanh Lợi nhuận giúp cho doanh nghiệp có khả năng đầu tư thêm và rộng hơn hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình để thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của xã hội và có thể
đứng vững, phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt
Lợi nhuận được tính là khoản chênh lệch giữa doanh thu ròng với chi phí thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh và nghĩa vụ thuế đối với nhà nước Lợi nhuận càng cao thì thể hiện càng rõ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và ngược lại Tuy nhiên lợi nhuận mới thể hiện mặt lượng của hiệu quả chứ chưa thể hiện mặt chất của hiệu quả
Lợi nhuận = Doanh thu ròng - giá vốn hàng bán + doanh thu hoạt động tài chính - chi phí tài chính - chi phí bán hàng - chi phí quản lý doanh nghiệp - thuế thu nhập doanh nghiệp
Từ công thức trên cho thấy lợi nhuận của doanh nghiệp chịu tác động bởi 7 nhân
tố, trong đó chỉ có doanh thu ròng và doanh thu hoạt động tài chính là có ảnh hưởng cùng chiều đối với lợi nhuận, còn các nhân tố khác như: các khoản giảm trừ doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí tài chính, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp,thuế thu nhập doanh nghiệp đều có tác dụng ngược chiều đối với lợi nhuận
1.2.3.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả kinh doanh của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đây là các chỉ tiêu phản ánh chính xác tình hình doanh nghiệp nên thường được dùng để so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau [10, tr 106]
* Sức sản xuất của vốn:
Tổng vốn kinh doanh trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong việc tạo ra doanh thu: một đồng vốn kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
* Doanh thu trên chi phí sản xuất và tiêu thụ trong kỳ Doanh thu trên chi phí sản
Doanh thu (trừ thuế) Tổng chi phí sản xuất và tiêu thụ trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí sản xuất và tiêu thụ trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu
Trang 7* Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu:
Tổng doanh thu Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận từ một
đồng doanh thu bán hàng Chỉ tiêu này có ý nghĩa khuyến khích các doanh nghiệp tăng
doanh thu, giảm chi phí nhưng để đảm bảo có hiệu quả, tốc độ tăng doanh thu phải lớn
hơn tốc độ tăng chi phí
* Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn:
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn = Tổng lợi nhuận x 100%
Tổng vốn Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp: một đồng vốn tạo
ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Nó phản ánh trình độ lợi dụng yếu tố vốn của doanh
nghiệp
1.2.3.3 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào
cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh
- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động: [6, tr 150]
* Năng suất lao động của một công nhân viên:
Năng suất lao động của
Tổng giá trị sản xuất tạo ra trong kỳ Tổng số CNV làm việc trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết một công nhân viên trong kỳ làm ra được bao nhiêu đồng
doanh thu
* Kết quả sản xuất trên một đồng chi phí tiền lương:
Kết quả sản xuất trên một
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ Tổng chi phí tiền lương trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí tiền lương trong kỳ làm ra được bao
nhiêu đồng lợi nhuận
* Lợi nhuận bình quân tính cho một lao động Lợi nhuận bình quân
Lợi nhuận Tổng số lao động bình quân
* Hệ số sử dụng lao động
Tổng số lao động hiện có Chỉ tiêu này cho biết trình độ sử dụng lao động của doanh nghiệp: số lao động của doanh nghiệp đã được sử dụng hết năng lực hay chưa, từ đó tìm nguyên nhân và giải pháp thích hợp
- Nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn cố định:
* Sức sản xuất của vốn cố định:
Sức sản xuất của vốn cố
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Số dư bình quân vốn cố định trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu
* Sức sinh lời của vốn cố định:
Vốn cố định bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này cho ta biết một đồng vốn cố định trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận
* Sức sản xuất của vốn lưu động:
Sức sản xuất của vốn lưu
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ Vốn lưu động bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu trong quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 8* Sức sinh lời của vốn lưu động
Vồn lưu động bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
trong quá trình sản xuất kinh doanh
Để tiện theo dõi và dễ so sánh, ta có thể đưa ra bảng tổng hợp về các chỉ tiêu
đánh giá hiệu quả kinh doanh như sau:
1 Sức sản xuất của vốn % Doanh thu (trừ thuế) Tổng vốn kinh doanh
Doanh thu (trừ thuế) Tổng chi phí sản xuất và tiêu thụ
Lợi nhuận Tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm
4 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng
Lợi nhuận Tổng vốn kinh doanh trong kỳ
5
Năng suất lao động bình
quân một công nhân trong
Tổng giá trị sản xuất trong kỳ Tổng số CNV bình quân trong kỳ
6 Kết quả sản xuất trên một đồng chi phí tiền lương đ/đ
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm Tổng chi phí tiền lương
Lợi nhuận Tổng số lao động bình quân
Tổng số lao động hiện có
Doanh thu Vốn cố định bình quân
10 Sức sinh lời của tài sản cố
Lợi nhuận Vốn cố định bình quân
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
1.2.4 Nhóm chỉ tiêu xét về mặt hiệu quả kinh tế - xã hội
Do yêu cầu của sự phát triển bền vững trong nền kinh tế quốc dân Các doanh nghiệp ngoài việc hoạt động kinh doanh phải đạt hiệu quả nhằm tồn tại và phát triển còn phải đạt được hiệu quả về mặt kinh tế xã hội Nhóm chỉ tiêu xét về mặt hiệu quả kinh tế - xã hội bao gồm các chỉ tiêu sau:
Tăng thu ngân sách
Mọi doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải có nhiệm
vụ nộp cho ngân sách nhà nước dưới hình thức là các loại thuế như thuế doanh thu, thuế lợi tức, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt Nhà nước sẽ sử dụng những khoản thu này để cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và lĩnh vực phi sản xuất, góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân
Tạo thêm công ăn, việc làm cho người lao động
Nước ta cũng giống như các nước đang phát triển, hầu hết là các nước nghèo tình trạng kém về kỹ thuật sản xuất và nạn thất nghiệp còn phổ biến Để tạo ra nhiều công
ăn việc làm cho người lao động và nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo lạc hậu đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự tìm tòi đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động
Nâng cao đời sống người lao động
Ngoài việc tạo công ăn việc làm cho người lao động đòi hỏi các doanh nghiệp làm ăn phải có hiệu quả để góp phần nâng cao mức sống của người lao động Xét trên phương diện kinh tế, việc nâng cao mức sống của người dân được thể hiện qua chỉ tiêu như gia tăng thu nhập bình quân trên đầu người, gia tăng đầu tư xã hội, mức tăng trưởng phúc lợi xã hội
Tái phân phối lợi tức xã hội
Sự phát triển không đồng đều về mặt kinh tế xã hội giữa các vùng, các lãnh thổ trong một nước yêu cầu phải có sự phân phối lợi tức xã hội nhằm giảm sự chênh lệch
về mặt kinh tế giữa các vùng Theo quan điểm của các nhà kinh tế hiện nay, hiệu quả
Trang 9kinh tế xã hội còn thể hiện qua các chỉ tiêu: Bảo vệ nguồn lợi môi trường, hạn chế gây
ô nhiễm môi trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp biểu hiện thông qua sự phân tích so sánh
giữa các chỉ tiêu đầu ra và các chỉ tiêu đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh Do
đó, vấn đề quan trọng trong việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả là sử
dụng những đại lượng đầu ra và đầu vào nào để đảm bảo phản ánh được chính xác thực
chất khách quan hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.5 Mối quan hệ giữa hiệu quả tài chính và rủi ro
Các nhà đầu tư thường xem xét hệ số đòn bẩy tài chính để đánh giá tình hình nợ
nần của doanh nghiệp từ đó quyết định mức độ rủi ro khi đầu tư vào doanh nghiệp đó
Tuy nhiên có một chỉ số có thể giúp các nhà đầu tư đánh giá tốt rủi ro tốt hơn, thậm chí
có thể dự đoán được nguy cơ phá sản của doanh nghiệp trong tương lai gần Đó chính
là hệ số nguy cơ phá sản, hay còn gọi là Z score do nhà kinh tế học Hoa Kỳ Edward I
Altman, giảng viên trường đại học New York thiết lập Hệ số này chỉ áp dụng cho các
doanh nghiệp chứ không áp dụng cho các định chế tài chính như ngân hàng hay là các
công ty đầu tư tài chính Ở Hoa Kỳ, chỉ số Z score đã dự đoán tương đối chính xác tình
hình phá sản của các doanh nghiệp trong tương lai gần Có khoảng 95% doanh nghiệp
phá sản được dự báo nhờ Z score trước ngày sập tiệm một năm, nhưng tỷ lệ này giảm
xuống chỉ còn 74% cho những dự báo trong vòng 2 năm [ 8, tr 33]
Công thức tính hệ số nguy cơ phá sản:
Z score = 1,2*X1+1,4*X2+3,3*X3+0,64*X4+0,999*X5
Trong đó:
X1 = Vốn lưu động/Tổng tài sản
X2 = Lợi nhuận chưa phân phối/Tổng tài sản
X3 = EBIT (Lợi nhuận trước lãi vay và thuế)/Tổng tài sản
X4 = Vốn chủ sỡ hữu/Tổng nợ
Sau khi đã tính toán được hệ số Z rồi, các nhà đầu tư sẽ đối chiếu với bảng giá trị sau:
1.81<Z<2.99 Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản
Hệ thống phân tích Dupont để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của công ty [2, tr40]
S NI 1 ROE = x x
A S (1 - D / A) ROE : khả năng sinh lời trên vốn chủ sỡ hữu
Theo Robert S.Kaplan và David P.Norton “ Một hệ thống đo lường của tổ chức
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của mọi người ở cả trong và ngoài tổ chức đó Nếu các công ty muốn tồn tại và phát triển trong cuộc cạnh tranh ở thời đại thông tin thì họ
Trang 10phải sử dụng những hệ thống đo lường và quản lý được hình thành từ những chiến lược
và khả năng của chính họ.” [9, tr 40]
Thẻ điểm cân bằng bổ sung những thước đo tài chính về hiệu quả hoạt động
trong quá khứ với những thước đo của những nhân tố dẫn dắt hiệu suất trong tương lai
Những mục tiêu và thước đo của thẻ điểm được nảy sinh từ tầm nhìn và chiến lược
của một tổ chức Những thước đo và mục tiêu này quan sát hiệu quả hoạt động của tổ
chức từ bốn góc nhìn : tài chính , khách hàng , quá trình kinh doanh nội tại, học tập và
tăng trưởng Bốn góc nhìn hay khía cạnh này tạo thành khung mẫu cho thẻ điểm cân
bằng Những người lãnh đạo công ty giờ đây có thể đo lường việc các đơn vị kinh
doanh của họ tạo ra giá trị cho khách hàng hiện tại và tương lai ra sao, họ phải nâng
cao khả năng nội tại và đầu tư vào con người, hệ thống và các thủ tục cần thiết để cải
thiện hiệu quả hoạt động trong tương lai như thế nào [9, tr 24]
Bên cạnh đó môi trường của một tổ chức lại ảnh hưởng đến hoạt động và kết
quả hoạt động của doanh nghiệp như những yếu tố, những lực lượng, những thể chế…
nằm bên ngoài của doanh nghiệp mà nhà quản trị không kiểm soát được
1.3.1 Môi trường vĩ mô (Môi trường tổng quát)
Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp doanh nghiệp nhận biết được mình đang
trực diện với những gì Các nhà quản trị chiến lược của các doanh nghiệp thường chọn
các yếu tố chủ yếu sau của môi trường vĩ mô để nghiên cứu: các yếu tố kinh tế, yếu tố
chính phủ và chính trị, yếu tố xã hội, yếu tố tự nhiên và yếu tố công nghệ Vì các yếu
tố đó tương tác lẫn nhau,gây ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp
Các yếu tố kinh tế chủ yếu ảnh hưởng đến doanh nghiệp là: lãi suất ngân hàng,
cán cân thanh toán, chính sách tài chính và tiền tệ, mức độ thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát…
Các yếu tố chính phủ và chính trị: doanh nghiệp phải tuân theo các qui định về
cho vay, quảng cáo, an toàn lao động, bảo vệ môi trường… Đồng thời hoạt động của
chính phủ cũng có thể tạo ra nguy cơ hoặc cơ hội cho doanh nghiệp bằng chế độ chính
sách hoặc thông qua hệ thống pháp luật
Các yếu tố xã hội: những xu hướng doanh số, khuôn mẫu tiêu khiển, cộng đồng kinh doanh, tính linh hoạt của người tiêu thụ…
Các yếu tố tự nhiên: tác động của hoàn cảnh thiên nhiên, các loại tài nguyên, ô nhiễm
Các yếu tố dân số: tỷ suất tăng dân số, những biến đổi về dân số, mật độ dân số Các yếu tố về kỹ thuật công nghệ: chỉ tiêu của nhà nước về nghiên cứu và phát triển, bảo vệ bằng sáng chế, những sản phẩm mới, sự chuyển giao kỹ thuật mới[3, Tr38- tr43]
1.3.2 Môi trường vi mô (môi trường đặc thù)
Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố ngoại cảnh đối với doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành sản xuất kinh doanh đó Gồm 5 yếu tố cơ bản là: đối thủ cạnh tranh, người mua, người cung cấp, các đối thủ tiềm ẩn và sản phẩm thay thế Ảnh hưởng chung của các yếu tố này thường là một sự thực phải chấp nhận đối với tất cả các doanh nghiệp, để đề ra được một chiến lược thành công thì phải phân tích từng yếu tố chủ yếu đó Sự hiểu biết các yếu tố này giúp doanh nghiệp nhận ra các mặt mạnh và mặt yếu của mình liên quan đến các cơ hội và nguy cơ mà ngành kinh doanh đó gặp phải [3, Tr 48]
Mối quan hệ giữa các yếu tố được phản ánh trên hình 1.1
Nguy cơ có các đối thủ cạnh tranh mới Khả năng Khả năng
thương thương lượng của thương lượng của người cung người mua cấp hàng Nguy cơ do các sản phẩm và dịch vụ thay thế
Hình 1.1 : Mô hình Năm áp lực cạnh tranh của Micheal porter [3, tr48]
Các đối thủ mới tiềm ẩn
Các đối thủ cạnh tranh trong ngành
Người mua Người
cung cấp
Sản phẩm thay thế
Trang 111.3.3 Phân tích nội bộ doanh nghiệp
Tất cả các tổ chức đều có những điểm mạnh và điểm yếu trong các lĩnh vực kinh
doanh Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong cùng với những cơ hội và nguy cơ
bên ngoài và nhiệm vụ rõ ràng là những điểm cơ bản cần quan tâm khi thiết lập các
mục tiêu và chiến lược Các mục tiêu và chiến lược được xây dựng nhằm lợi dụng
những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu bên trong những yếu tố mà nhà quản
trị có thể kiểm soát được
Các yếu tố nội bộ chủ yếu bao gồm các lĩnh vực chức năng như: nguồn nhân
lực, nghiên cứu và phát triển, sản xuất, tài chính kế toán, marketing và nề nếp tổ chức
chung…
1.3.3.1 Phân tích các nguồn lực
Nguồn lực của một doanh nghiệp bao gồm: nguồn nhân lực, nguồn vật chất hữu
hình, các nguồn lực vô hình
Nguồn nhân lực:
- Nhân lực là yếu tố đầu tiên trong các nguồn lực mà các nhà quản trị cần phân
tích bao gồm nhà quản trị các cấp và người thừa hành.Nhà quản trị các cấp đây là
nguồn nhân lực quan trọng, có vai trò lãnh đạo doanh nghiệp Trong đó, nhà quản trị
cấp cao giữ vai trò quan trọng nhất vì mọi quyết định, hành vi, kể cả phong cách và
thái độ trong các mối quan hệ đối nội, đối ngoại của họ đều ảnh hưởng đến toàn bộ tổ
chức Doanh nghiệp thường có 3 cấp quản trị cơ bản: cấp cao, cấp giữa và cấp cơ sở
Mục đích của việc phân tích nhà quản trị các cấp là xác định khả năng hiện tại và tiềm
năng của từng nhà quản trị, so sánh nguồn lực này với các công ty khác trong ngành,
nhất là các công ty hàng đầu nhằm biết được vị thế cạnh tranh hiện tại và triển vọng
của mình trong mối quan hệ với các đối thủ trên thị trường Đây là cơ sở để chuẩn bị
cho các chiến lược nhân sự thích nghi với nhu cầu của các bộ phận, các cấp trong
doanh nghiệp, cũng như thích nghi với các xu hướng phát triển khoa học kỹ thuật trong
môi trường kinh doanh.[ 3, tr 74]
- Người thừa hành phân tích người thừa hành căn cứ vào các kỹ năng chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và kết quả đạt được trong từng thời kỳ liên quan đến nghề nghiệp và các nhiệm vụ mục tiêu cụ thể trong kế hoạch tác nghiệp
- Phân tích nguồn nhân lực thường xuyên là cơ sở giúp doanh nghiệp đánh giá kịp thời các điểm mạnh và điểm yếu của các thành viên trong tổ chức so với yêu cầu về tiêu chuẩn nhân sự trong từng khâu công việc và so với nguồn nhân lực của đối thủ cạnh tranh nhằm có kế hoạch bố trí , sử dụng hợp lý nguồn nhân lực hiện có Đánh giá khách quan nguồn nhân lực giúp cho tổ chức chủ động thực hiện việc đào tạo và tái đào tạo cả tài lẫn đức cho các thành viên của tổ chức Từ nhà quản trị cấp cao đến người thừa hành nhằm bảo đảm thực hiện chiến lược thành công lâu dài và luôn thích nghi với những yêu cầu về nâng cao liên tục chất lượng con người trong nền kinh tế tri thức.[3, tr 77]
Nguồn lực vật chất:
- Các nguồn lực vật chất hiện có của doanh nghiệp gồm: các nguồn vốn bằng tiền, máy móc thiết bị, nhà xưởng, kho hàng, đất đai, vật tư dự trữ, hàng hóa tồn kho… Xác định quy mô cơ cấu chất lượng và các đặc trưng của từng nguồn lực vật chất
- Đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế của từng nguồn lực trong các chương trình hoạt động của các bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp trong từng thời kỳ
- Đánh giá và xác định các điểm mạnh, điểm yếu về từng nguồn lực vật chất so với những đối thủ cạnh tranh chủ yếu trong ngành và trên thị trường theo khu vực địa
lý [3, 78]
Các nguồn lực vô hình:
- Nguồn lực vô hình là kết quả lao động chung của các thành viên trong tổ chức hoặc của một cá nhân cụ thể ảnh hưởng đến các quá trình hoạt động
- Tư tưởng chỉ đạo trong triết lý kinh doanh, chiến lược và chính sách kinh doanh thích nghi với môi trường
- Cơ cấu tổ chức hữu hiệu
Trang 12- Uy tín trong lãnh đạo của nhà quản trị các cấp
- Uy tín doanh nghiệp trong quá trình phát triển
- Uy tín và thị phần nhãn hiệu sản phẩm trên thị trường
- Sự tín nhiệm và trung thành của khách hàng
- Uy tín của người chào hàng
- Ý tưởng sáng tạo của nhân viên
- Văn hóa tổ chức bền vững
Tùy theo tiềm lực sẵn có,quy mô và giá trị những nguồn lực này của mỗi doanh
nghiệp có sự khác nhau và thay đổi theo thời gian Đánh giá không đúng mức các
nguồn lực vô hình, nhà quản trị các doanh nghiệp dễ đánh mất các lợi thế sẵn có của
mình trong quá trình sản xuất kinh doanh [3, tr 80 ]
1.3.3.2 Phân tích tính thích ứng của sứ mạng và mục tiêu với môi
trường
Khi bắt đầu thành lập, mỗi doanh nghiệp đều hình thành các sứ mạng cần thực
hiện trong quá trình hoạt động chính thức hoặc không chính thức, làm nền tảng triển
khai công việc cần thực hiện cụ thể trong từng thời kỳ
Nhận diện hệ thống các mục tiêu hiện tại của doanh nghiệp
Phân tích mối quan hệ về mục tiêu giữa các cấp trong doanh nghiệp
Đánh giá hệ thống mục tiêu hiện tại
Dự kiến những điều chỉnh hoặc dự kiến các mục tiêu cần đạt được trong tương
lai [3 , tr 85]
1.3.3.3 Hoạt động của các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp
Phân tích hoạt động của các bộ phận chức năng đúng giúp nhà quản trị giám sát
những diễn biến của nội bộ trong mối quan hệ tương tác với môi trường bên ngoài
nhằm có sơ sở bổ sung, chấn chỉnh những sai lạc kịp thời, đồng thời nhận diện các
điểm mạnh và điểm yếu trong từng lĩnh vực so với các đối thủ cạnh tranh nhằm có các
chiến lược cạnh tranh và các chính sách hoạt động thích nghi với môi trường kinh doanh
Các chức năng trong doanh nghiệp gồm: bộ phận marketing, nhân sự, tài chính
kế toán, nghiên cứu và phát triển, sản xuất và tác nghiệp, quản trị chất lượng, mua hàng
và hệ thống thông tin trong doanh nghiệp.[3, tr 87]
Bộ phận marketing phải đảm bảo những chức năng sau:
- Nghiên cứu môi trường marketing để nhận diện các cơ hội thị trường, phân khúc thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu và định vị thị trường Đồng thời phân tích khách hàng và các yếu tố có liên quan để hình thành các chiến lược marketing định hướng khách hàng và marketing cạnh tranh…
- Thiết kế tổ chức thực hiện và kiểm tra các chiến lược sản phẩm, giá cả, mạng lưới phân bố và xúc tiến bán hàng
- Phân tích những hoạt động marketing hiện tại và kết quả thực hiện các hoạt động marketing theo khu vực thị trường và dự báo những diễn biến trong tương lai
Bộ phận nhân sự:
- Phân tích và đánh giá quy mô và cơ cấu nhân sự hiện tại của phù hợp nhu cầu của các khâu công việc hay không?
- Khả năng hoàn thành công việc của các thành viên trong tổ chức như thế nào?
- Năng suất lao động, chính sách tuyển dụng, huấn luyện có phục vụ tốt nhu cầu sử dụng hay không, nguồn nhân lực hiện tại có được bố trí và sử dụng hợp lý chưa, chính sách tiền lương, thưởng có thu hút và giữ được những người giỏi Việc đánh giá người lao động có được tiến hành thường xuyên và khách quan không, người lao động
có yên tâm làm việc lâu dài với tổ chức không, tỷ lệ lao động di chuyển hàng năm ở mức độ nào …
Bộ phận tài chính kế toán
- Bộ phận tài chính kế toán liên quan đến những hoạt động và sử dụng các nguồn lực vật chất của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
Trang 13- Phân tích những hoạt động tài chính kế toán trong doanh nghiệp, những kết quả
về hoạt động tài chính kế toán định kỳ và các xu hướng như tỷ suất lợi nhuận, hiệu quả
sử dụng vốn đầu tư trong các quá trình sản xuất, marketing, quản trị chất lượng và
nghiên cứu phát triển, khả năng huy động vốn …
Bộ phận nghiên cứu và phát triển
- Nghiên cứu và phát triển đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện và ứng
dụng những công nghiệp mới kịp thời để tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường như:
phát triển sản phẩm mới trước đối thủ cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải
tiến quy trình sản xuất để giảm bớt chi phí
- Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu và phát triển hiện tại của doanh nghiệp là gì?
Mối quan hệ giữa cho chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới với doanh số bán
hàng trong từng thời kỳ, nguồn nhân lực có thích nghi với công nghệ mới không? Khả
năng phát triển sản phẩm mới của công ty trong thời gian tới…
Bộ phận sản xuất và tác nghiệp
- Sản xuất và tác nghiệp bao gồm tất cả các hoạt động biến đổi các yếu tố đầu vào
thành các yếu tố đầu ra ở từng công đoạn trong các quá trình hoạt động của doanh
nghiệp Những hoạt động này tạo ra các sản phẩm hay dịch vụ, mức độ hài lòng của
khách hàng, chi phí hoạt động…là những yếu tố đánh giá hiệu quả của hoạt động sản
xuất
- Những thông tin về các quy trình liên quan đến việc thiết kế hệ thống sản xuất,
công suất, năng suất, chi phí trong các quy trình hoạt động, những thông tin về hàng
tồn kho, lực lượng lao động trên các quy trình, chất lượng sản phẩm, chất lượng công
việc trong các quá trình sản xuất, khả năng hợp nhất các quy trình trong các tiến trình
hoạt động như cung cấp nguyên vật liệu, sản xuất, phân phối…
Hoạt động quản trị chất lượng
- Doanh nghiệp có hệ thống kiểm tra chất lượng hữu hiệu chưa? Những tiêu
chuẩn chất lượng áp dụng tại doanh nghiệp có phù hợp với yêu cầu của thị trường
không? Phương pháp và tiến trình quản trị chất lượng của doanh nghiệp có được thực hiện thường xuyên phù hợp với yêu cầu không? Phản ứng của khách hàng về tiêu chuẩn chất lượng thực tế của doanh nghiệp Chi phí quản trị chất lượng, đầu tư huấn luyện, đánh giá chất lượng các yếu tố đầu vào được xác định và đánh giá như thế nào?
- Căn cứ vào việc quản trị chất lượng thực tế của doanh nghiệp, các nhà quản trị nhận diện mức độ đạt được về tiêu chuẩn chất lượng so với yêu cầu của thị trường và điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành theo khu vực thị trường Đây là cơ sở để đề xuất các giải pháp hoàn thiện việc quản trị chất lượng theo thời gian nhằm gia tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường
Bộ phận mua hàng
Các thành viên bộ phận mua hàng có đáp ứng được yêu cầu công việc, có khả năng thương lượng hữu hiệu và chủ động trong việc tìm kiếm nhà cung cấp không? Đặc điểm nhu cầu về các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp.Việc phân quyền trong bộ phận mua hàng thực hiện có hiệu quả không? Doanh nghiệp có ưu thế trong thương lượng giá không? Nhà cung cấp nào có khả năng trở thành đối thủ cạnh tranh? Doanh nghiệp có quản lý dây chuyền cung cấp và kiểm soát hàng tồn kho theo phương thức JIT không? Những thuận lợi và khó khăn liên quan trong việc mua hàng của doanh nghiệp
Hoạt động của hệ thống thông tin trong doanh nghiệp
- Doanh nghiệp sử dụng phương tiện nào để thu thập thông tin môi trường kinh
đáng tin cậy hay không? Những tính chất nổi bật của hệ thống thông tin của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh và những yếu kém là gì? Khả năng dự báo các diễn biến về yếu tố môi trường của hệ thống thông tin
- Sau khi đã phân tích từng yếu tố riêng biệt của nội bộ doanh nghiệp, nhiệm vụ của nhà quản trị chiến lược là tóm tắt và đánh giá những mặt mạnh và mặt yếu, mặt
Trang 14quan trọng của các bộ phận kinh doanh chức năng, và nó cung cấp cơ sở để xác định và
đánh giá mối quan hệ giữa các bộ phận này
Kết luận chương 1
Nghiên cứu về cơ sở lý luận hiệu quả sản xuất kinh doanh một số kết luận được
rút ra như sau: Lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã được làm
rõ, các hệ thống chỉ tiêu về tài chính đã được nêu ra một cách cụ thể Mối quan hệ về
hiệu quả tài chính cũng đã được đề cập và phân tích một cách cụ thể để từ đó làm cơ sở
để đánh giá và phân tích cho chương 2
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY TNHH PRESTAR INDUSTRIES VIỆT NAM (PIV) GIAI ĐOẠN 2009 -2011
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH PRESTAR INDUSTRIES VIỆT NAM 2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành của PIV
Công ty TNHH Prestar Industries Việt Nam được thành lập theo giấy chứng nhận đầu tư số 46204300037 do Ban Quản Lý Các Khu Công Nghiệp Bình Dương cấp ngày 05 tháng 12 năm 2006
Chủ đầu tư là Công ty Prestar Resources BHD, giấy phép thành lập số
123066-A cấp ngày 12 tháng 07 năm 1984 Địa chỉ trụ sở chính tại Lô 1298, Rawang Industrial Estate, 16 ½ Miles, JaIan Ipoh, 48000 Rawang, Selangor, Malaysia
Tên giao dịch: Prestar Industries (Viet Nam) Co.,Ltd
Địa chỉ: Lô CN 7, ô số 1,2,3 đường N5, Khu Công nghiệp Sóng Thần 3, Thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương
Điện thoại: 06503.631642 Fax: 06503.631648 Tháng 08 năm 2008 thành lập phòng kinh doanh tại địa chỉ: 37 Nguyễn Quyền, Phường 11, Quận 8 , Thành Phố Hồ Chí Minh
Mã số thuế: 3700779330 Tổng vốn đầu tư: 240.700.000.000 đồng tương đương 15.000.000 USD Ngành nghề kinh doanh: Sản xuất gia công sản phẩm thép các loại gồm thép ống ,thép tấm,thép cuộn và các sản phẩm từ thép khác
Trang 152.1.2 Cơ cấu tổ chức và một số đặc điểm kỹ thuật của PIV
2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức
Công ty TNHH Prestar Industries Việt Nam là doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài,có tư cách pháp nhân, hoạt động và báo cáo theo hệ thống pháp luật Việt Nam
hiện hành
Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Prestar Industries Việt Nam gồm Ban giám
Phòng kinh doanh, Phòng tài chính kế toán, Phòng thu mua, Phòng kế hoạch, Bộ phận
sản xuất
Tổng số cán bộ công nhân viên là: 148 người trong đó bộ phận văn phòng 24
người và bộ phận quản lý sản xuất 27 người và nhân viên trực tiếp sản xuất là 97
người
(Nguồn: Phòng hành chánh nhân sự của PIV)
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của PIV
Giám Đốc Phó Giám Đốc
Phòng tài chính kế
toán
Phòng thu mua
Bộ phận sản xuất
Phòng kế
hoạch
2.1.2.2 Một số đặc điểm kỹ thuật
Đặc điểm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ
- Dây chuyền công nghệ của PIV chủ yếu được nhập từ Trung Quốc (70%) , Nhật Bản (20%) và Mã Lai (10%) với hệ thống điều khiển tự động Tình trạng máy móc thiết bị nhập khẩu mới 100% chiếm tỷ trọng 70% trên tổng tài sản
- Quy trình công nghệ sản xuất thép ống của PIV
(Nguồn : Phòng quản lý sản xuất của PIV)
Hình 2.2: Sơ đồ tiến trình sản xuất thép của PIV
Nguyên vật liệu đưa vào từ bộ phận kho xuất qua để bộ phận cắt lần 1 tiến hành cắt theo kế hoạch sản xuất
Cắt lần 1: Sau khi kiểm tra chất lượng nguyên vật liệu đầu vào, lắp đặt nguyên vật liệu vào hệ thống cắt nhân viên thao tác cài đặt thông số kỹ thuật và dao cắt thích hợp sau đó tiến hành sản xuất và giao cho công đoạn ép mỏng
sản xuất, sau khi ép xong giao cho công đoạn cắt lần 2
sản xuất, sau khi cắt xong giao cho công đoạn sản xuất thép ống
Nguyên vật liệu đưa vào
Cắt lần 1
Thép ống thành phẩm
Sản xuất thép ống
Trang 16 Sản xuất thép ống: nhận sắt đã cắt từ công đoạn cắt lần 2, đưa vào sản xuất
thành thép ống
Thép ống thành phẩm: sau khi bộ phận sản xuất ống sản xuất xong cho ra
thành phẩm nhập kho
Đặc điểm vật tư
- Nguyên vật liệu chính của công ty là thép dạng cuộn kích thước từ 1.35mm
đến 3.5mm x1250mm được nhập từ các nước Trung Quốc, Hàn Quốc và mua tại Việt
Nam
- Công ty PIV luôn để lượng hàng tồn kho thép cuộn khoảng từ 1.500tấn để dự
trữ cho sản xuất lượng, tồn kho này đủ để sản xuất trong vòng 2 tháng
- Ngoài nguyên vật liệu chính, Công ty còn sử dụng các loại vật tư phục vụ cho
sản xuất như: trục cán, lưỡi dao cắt, đà mài, dầu chống sét và các loại vật tư khác phục
vụ cho sản xuất Một số vật tư phải nhập khẩu từ Malaysia, Hàn Quốc do trong nước
chưa cung cấp được
- Số lượng, chủng loại, cơ cấu hay chất lượng, giá cả của nguyên vật liệu và tính
đồng bộ của việc cung ứng nguyên vật liệu ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng nguyên vật
liệu, ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng của sản phẩm Do đó, ảnh hưởng tới hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỷ
trọng lớn trong giá thành đơn vị sản phẩm chiếm từ 88% đến 92% cho nên việc sử
dụng tiết kiệm nguyên vật liệu có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu đồng nghĩa
với việc tạo ra kết quả lớn hơn với cùng một lượng nguyên vật liệu
Bên cạnh đó, chất lượng của nguyên vật liệu hay thành phẩm cũng ảnh hưởng
rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Đặc điểm lao động
- Công ty có dây chuyền sản xuất hiện đại, tự động hóa hoàn toàn nên số công nhân trực tiếp sản xuất tham gia trong quá trình sản xuất không nhiều lắm, công nhân chủ yếu là làm các công việc điều khiển vận hành, kiểm tra thiết bị, đóng gói Tổng số cán bộ công nhân làm việc tại PIV đến cuối tháng 12 năm 2011 là 148 người trong đó người nước ngoài là 10 người
Bảng 2.1: Tình hình lao động của PIV năm 2011
Đơn vị tính: người
Số lượng Tỷ trọng ( % )
Trang 17- Công ty có dây chuyền sản xuất hiện đại do vậy trình độ lao động đóng một
vai trò hết sức quan trọng để đánh giá khả năng sản xuất ra các sản phẩm tốt đáp ứng
cho thị trường Trình độ lao động là yếu tố quyết định cho sự thành bại của một Công
ty cho nên việc đào tạo nâng cao tay nghề là một việc làm hết sức quan trọng
Hiện tại số người nước ngoài làm việc tại công ty có 10 người, chủ yếu tham gia vào
các lĩnh vực quản lý của công ty
- Tỷ lệ nhân viên có thâm niên làm việc dưới một năm là 48% tương đối cao,
cho thấy công ty chưa có chính sách tốt để nhân viên gắn bó lâu dài với công ty
- Lao động là một trong các yếu tố đầu vào quan trọng và tham gia vào mọi
hoạt động, mọi giai đoạn, mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trình
độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm của người lao động tác động trực tiếp đến tất cả
các giai đoạn, các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, tác động trực tiếp đến năng
suất, chất lượng sản phẩm, tác động tới tốc độ tiêu thụ sản phẩm do đó nó ảnh hưởng
trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Đặc điểm về thị trường
- Đối với công ty PIV các khách hàng chủ yếu tiêu thụ sản phẩm của công ty
trong những năm vừa qua là :
Nai
Bán cho công ty trong tập đoàn
- Các khách hàng của Công ty đều yêu cầu chất lượng, giá cả và thời gian giao
hàng là đặt lên hàng đầu cho nên công ty có những chính sách phù hợp cho khách
hàng
- Tiềm năng của thị trường : đất nước ta trong giai đoạn phát triển, cùng với
các chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài, chính phủ rất quan tâm đến việc xây
dựng cơ sở hạ tầng như đường, cầu cống, bến cảng và các công trình phúc lợi phục vụ
cuộc sống nhân dân… Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, nhu cầu cải tạo
và xây dựng mới các công trình cơ sở hạ tầng tăng do đó nhu cầu tiêu thụ thép ngày càng tăng cao Bên cạnh đó theo nguồn từ hiệp hội thép Việt Nam thị trường ống thép toàn cầu được nhận định sẽ tiêu thụ lên đến 151 triệu tấn đến năm 2017
- Với tình hình tài chính của công ty gặp khó khăn mà chính sách bán hàng cho khách hàng với hình thức trả chậm rất lâu từ 77 ngày đến 83 ngày Điều này cũng ảnh hưởng quan trọng đối với hiệu quả kinh doanh của công ty
- Khả năng tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của doanh nghiệp, tới khả năng chủ động trong sản xuất kinh doanh, tới tốc độ tiêu thụ và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới mục tiêu tối thiểu hóa chi phí bằng cách chủ động khai thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực đầu vào Vì vậy tình hình tài chính của doanh nghiệp tác động rất mạnh tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp đó
2.1.3 Tình hình sản xuất kinh doanh tại Công ty PIV từ năm 2009 -2011 2.1.3.1 Nguồn nhân lực
Tình hình công nhân viên biến động trong thời gian qua được thống kê qua bảng 2.2
Số lượng cán bộ công nhân viên của PIV tăng qua các năm từ năm 2009 là 101 người lên đến 148 người vào cuối năm 2011 cho thấy nhu cầu về nguồn nhân lực của PIV rất cần để giúp công ty mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của mình
Trang 18Bảng 2.2 Tình hình nhân sự của PIV qua các năm 2009-2011
(Nguồn: Báo cáo tình hình tăng giảm nhân sự các năm của PIV)
Từ bảng 2.2 cho thấy số lượng nhân viên nghỉ việc so với số lượng cán bộ công
nhân viên tại cuối mỗi năm rất cao qua các năm 2009-2011 lần lượt là 25,74%,
33,87%, 31,76% Điều này đã ảnh hưởng đến công tác tuyển dụng và đào tạo làm gia
tăng chi phí tuyển dụng và đạo tạo cho Công ty trong các năm qua Nguồn nhân lực là
yếu tố đầu tiên mà Công ty cần phải có để chuẩn bị cho các chiến lược nhân sự thích
nghi với nhu cầu của các bộ phận để giúp công ty phát triển mạnh trong tương lai Tỷ
lệ tuyển mới ở mỗi năm đều cao từ 42,57% năm 2009 và 52,42% năm 2010 và năm
2011 là 47,97% Điều này cho thấy công ty gia tăng số ca sản xuất ở mỗi năm nhằm
gia tăng sản lượng sản xuất và tuyển bổ sung cho những vị trí cũ
2.1.3.2 Về tình hình sản xuất và tiêu thụ
Kết quả sản xuất và tiêu thụ của PIV trong các năm thể hiện qua bảng 2.3
Bảng 2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ của PIV qua các năm 2009-2011
(Nguồn: Báo cáo sản xuất và bán hàng các năm của PIV)
Số lượng sản xuất qua các năm đều tăng, năm 2009 sản xuất cao hơn 2008 là 2.434,31 tấn tương ứng với tốc độ tăng là 24,07%, năm 2010 sản xuất cao hơn 2009 là 4.403,65 tấn tương ứng với tốc độ tăng là 35,10% nhưng năm 2011 sản lượng giảm xuống 6.390 tấn so với năm 2010 vì thị trường tiêu thụ bị đứng lại, sản xuất chỉ nhập kho thành phẩm
Sản lượng tiêu thụ của PIV có chiều hướng gia tăng qua các năm, tốc độ tăng của năm 2009 so với năm 2008 là 20,46%, tốc độ tăng của năm 2010 so với năm 2009
là 42,80% Nhưng vào năm 2011 sản lượng tiêu thụ bị giảm 6.138,77 tấn so với năm
2010 tương ứng tốc độ tăng bị giảm 37,01% nguyên nhân là do chủ trương của Chính Phủ Việt Nam là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội, cắt giảm đầu tư công làm ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu thụ thép ống
Hiện tại công ty chưa áp dụng một mô hình hàng tồn kho nào trong quá trình sản xuất kinh doanh, với đặc điểm kinh doanh công ty nên kết hợp giữa mô hình lượng đặt hàng kinh tế cơ bản [5, tr 205] và hệ thống điều hành vừa đúng lúc [5, tr 399- 443] Để giúp công ty cải thiện những chi phí liên quan đến hàng tồn kho như chi phí mua hàng, chi
Trang 19phí đặt hàng, chi phí về khấu hao nhà xưởng, khấu hao thiết bị phương tiện, chi phí
lương cho nhân viên quản lý kho, chi phí trả lãi vay, và các chi phí khác…
2.1.3.3 Kết quả kinh doanh của PIV
Kết quả kinh doanh của PIV qua các năm được thể hiện qua bảng 2.4
Bảng 2.4: Kết quả họat động kinh doanh của PIV qua các năm 2009-2011
(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2009, 2010, 2011 của PIV)
Theo số liệu trên bảng 2.4 cho thấy doanh thu của PIV đều tăng qua các năm,
nguyên nhân tăng doanh thu là do sản lượng tiêu thụ tăng và giá bán qua các năm đều
tăng Vì giá thị trường biến động có chiều hướng gia tăng qua các năm làm ảnh hưởng
đến giá nguyên vật liệu đầu vào nên giá bán tăng theo giá thị trường Giá vốn hàng bán
chiếm tỷ lệ từ 95% đến 103% so với doanh thu, đặc biệt vào năm 2009 giá vốn là
103% so với doanh thu do tỷ lệ hư hỏng nguyên vật liệu quá cao làm ảnh hưởng đến
giá thành sản xuất Vì thế, kết quả kinh doanh của PIV trong ba năm qua đều lỗ
2.2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY TNHH PRESTAR INDUSTRIES VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2009-2011
2.2.1 Thực trạng hoạt động kinh doanh của PIV giai đoạn 2009 – 2011 2.2.1.1 Thực trạng sản xuất
Công ty sản xuất 3 loại mặt hàng chủ yếu là thép ống hình tròn, thép ống vuông, thép ống chữ nhật với nhiều kích cỡ khác nhau Tình hình sử dụng công suất máy móc thiết bị của PIV được thể hiện qua bảng 2.5 như sau :
Bảng 2.5 Tình hình sử dụng công suất máy của PIV qua các năm 2009-2011
Chỉ tiêu
Sản lượng (Tấn)
Tỷ lệ sử dụng công suất thiết kế
(%)
Sản lượng (Tấn)
Tỷ lệ sử dụng công suất thiết kế (%)
Sản lượng (Tấn)
Tỷ lệ sử dụng công suất thiết kế (%) Tổng số 12.546,35 24,89 16.950,00 33,63 10.560,00 20,95
(Nguồn:Báo cáo sản xuất của công ty PIV)
Sản lượng công ty sản xuất bình quân trong năm 2009 đạt 1.045,53 tấn/ tháng, năm 2010 đạt 1.412,5 tấn/tháng, năm 2011 đạt 880 tấn/tháng trong khi đó công suất thiết kế của 03 hệ thống sản xuất thép ống là 50.400 tấn /năm, 4.200 tấn/tháng và sản xuất 26 ngày/tháng, một ngày chạy 19 tiếng Trong năm 2009 PIV chỉ sử dụng 24,89%, năm 2010 33,63% và năm 2011 20,95% so với công suất thiết kế, cho thấy Công ty chưa tận dụng hết tối đa công suất thiết kế, điều này có lợi thế cho PIV khi gia tăng sản lượng sản xuất trong tháng sẽ giúp cho giá thành đơn vị sản phẩm sẽ giảm xuống một ích giúp công ty có lợi thế hơn vì chi phí khấu hao máy móc thiết bị và nhà xưởng là
Trang 20định phí, chi phí này phân bổ cho sản lượng sản xuất thành phẩm nhập kho trong
tháng
Sản lượng công ty sản xuất có xu hướng tăng trong năm 2010 sản lượng tăng
thêm 4.403,65 tấn so với năm 2009 tương ứng với tốc độ tăng là 35,10% Cụ thể thép
ống tròn tăng lên 403,65 tấn, thép ống vuông tăng lên 1.400 tấn và thép ống chữ nhật
tăng lên 2.600 tấn so với năm 2009 và tương ứng với tốc độ tăng lần lượt của từng mặt
hàng là 7,08 %, 39,13% và 79,56% Nhưng đến năm 2011 sản lượng giảm xuống 6.390
tấn so với năm 2010 và giảm 1.986,35 tấn so với năm 2009 do bị ảnh hưởng từ chính
sách thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an
sinh xã hội, cắt giảm đầu tư công làm ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu thụ thép ống Vì vậy
buộc Công ty phải giảm số lượng sản xuất do vòng quay vốn gặp khó khăn khi đáo hạn
thanh toán cho ngân hàng
Do khách hàng yêu cầu giao hàng trong 03 ngày kể từ khi ký đơn hàng, Công ty
phải có hàng thành phẩm trong kho để kịp thời cung cấp cho khách hàng dẫn đến tình
trạng tồn kho cao, đòi hỏi công ty phải có lượng nguyên vật liệu đủ đáp ứng cho nhu
cầu sản xuất ở tất cả các khâu
Công ty đang sử dụng nguồn nguyên vật liệu từ nhập khẩu và mua trong nước,
khi mua nguyên vật liệu từ nhập khẩu mất thời gian là 90 ngày hàng mới về đến kho kể
từ khi ký hợp đồng, khi mua nguyên vật liệu trong nước thì mất khoản 7 ngày hoặc14
ngày hàng mới về đến kho kể từ khi thanh toán theo điều khoản mà hợp đồng ký
Nhưng tất cả nhà cung cấp đều yêu cầu công ty phải thanh toán ngay sau khi ký hợp
đồng Do Công ty sử dụng hạn mức tín dụng tại ngân hàng United Oversea Bank
(UOB) nên phải trả chi phí vay, chi phí vay cũng ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh
doanh của công ty
Theo nguồn VSA tổng sản xuất thép xây dựng trong năm 2011 là 4.123.987 tấn,
trong đó Công ty thép Pomina sản xuất 614.531 tấn chiếm tỷ trọng 15%, tiếp theo sau
Vinakyoei sản xuất 380.518 tấn chiếm tỷ trọng 9% Điều này cho thấy PIV có tiềm năng tăng sản lượng sản xuất lên cao nhất có thể trong tương lai
Qua biểu đồ 2.1 cho thấy tỷ lệ hư hỏng của công ty khá cao từ 8,4% đến 11,6% các lỗi dẫn đến tình trạng hư hỏng cao là do bị hở mối hàn, lượn sóng, sét, biến dạng… Nguyên nhân hư hỏng của từng công đoạn sản xuất thể hiện rõ qua biểu đồ nhân quả (Phụ lục số 5)
Thiết bị do máy đang hoạt động đột nhiên bị hư, dụng cụ kiểm tra không đạt yêu cầu, bộ quy cách phục vụ chưa đạt…
Phương pháp sử dụng hóa chất không đúng quy định, tốc độ xử lý không phù hợp với từng loại nguyên vật liệu…
Nguyên vật liệu đầu vào bị sét, lượn sóng ở các công đoạn trước, độ dày không đúng tiêu chuẩn
làm việc chưa cao và bên cạnh đó trình độ tay nghề chưa đáp ứng đủ
Tỷ lệ hàng hư hỏng tại công ty qua các năm được thể hiện qua biểu đồ 2.1
(Nguồn: Báo cáo tình hình sản xuất của PIV năm 2009-2011)
Biểu đồ2.1: Tỷ lệ hư hỏng toàn bộ quá trình sản xuất của PIV qua năm 2009-2011
Qua biểu đồ 2.1 cho thấy tỷ lệ hư hỏng của Công ty có chiều hướng giảm xuống qua từng năm cụ thể tỷ lệ hư hỏng của năm 2009 là 11,60%, năm 2010 là 9,7% và năm
2011 là 8,4% Qua các năm Công ty đã có những biện pháp nhằm giảm thiểu tối đa tỷ
Trang 21lệ hư hỏng bằng chính sách thưởng cho các tổ sản xuất có tỷ lệ hư hỏng thấp nhất trong
tháng Giá nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng khá cao trong giá thành sản phẩm khoảng từ
88 % đến 92% Do đó tỷ lệ hư hỏng ở các công đoạn sẽ ảnh trực tiếp đến giá thành sản
xuất Tỷ lệ hàng hư hỏng biến thiên cùng chiều với giá thành sản xuất chính vì vậy khi
giảm tỷ lệ hàng hư hỏng xuống mức thấp nhất sẽ giúp PIV hoạt động có hiệu quả hơn
Để giúp cho mọi nhân viên có thể thấy rõ những nguyên nhân tạo nên sản phẩm
hư hỏng, cần phổ biến theo biểu đồ nhân quả cho mọi người nắm bắt dễ dàng và nhanh
chóng nắm rõ vấn đề cốt lõi “ Biểu đồ nhân quả là một công cụ được sử dụng để suy
nghĩ và trình bày mối quan hệ giữa một kết quả với các nguyên nhân tiềm tàng có thể
ghép lại thành nguyên nhân chính và nguyên nhân phụ để trình bày giống như một
xương cá Đây là một công cụ hữu hiệu giúp liệt kê các nguyên nhân gây nên biến
động chất lượng, là một kỹ thuật để công khai nêu ý kiến, có thể dùng trong nhiều tình
huống khác nhau ” [ 1, tr 192 ]
2.2.1.2 Hoạt động tiêu thụ
Về cơ cấu tiêu thụ theo thị trường chủ yếu ở Thành Phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai
và Bình Dương và Malaysia qua các năm Chi tiết sản lượng tiêu thụ và tỷ trọng ở các
thị trường được thống kê qua bảng số 2.6
Năm 2009, Công ty sản xuất thành phẩm nhập kho là 12.546,35 tấn và tiêu thụ
được 11.616,19 tấn tương đương tỷ lệ giữa tiêu thụ và sản xuất đạt 92,59% Lượng
hàng thành phẩm tồn kho vào thời điểm cuối năm tương đối cao 1.399,35 tấn tương
đương tỷ lệ là 11,15% Thị trường chủ yếu của PIV tập trung vào thị trường trong nước
chiếm 68,56% trên tổng sản lượng tiêu thụ năm 2009 trong đó, Thành Phố Hồ Chí
Minh chiếm tỷ trọng 38,55%, Bình Dương chiếm tỷ trọng 14,54% và Đồng Nai chiếm
tỷ trọng 15,46%
Thị trường xuất khẩu chiếm tỷ trọng là 31,44% năm 2009 chủ yếu là bán cho
công ty trong tập đoàn ở Malaysia
Năm 2010, Công ty sản xuất thành phẩm nhập kho là 16.950 tấn và tiêu thụ được 16.587,43 tấn tương đương tỷ lệ giữa tiêu thụ và sản xuất đạt 97,86% Lượng hàng thành phẩm tồn kho vào thời điểm cuối năm là 1.761,91 tấn tương đương tỷ lệ là 10,39% Thị trường chủ yếu của PIV tập trung vào thị trường trong nước chiếm 65,93% trên tổng sản lượng tiêu thụ năm 2010 trong đó, Thành Phố Hồ Chí Minh chiếm tỷ trọng 46,24%, Bình Dương chiếm tỷ trọng 9,58% và Đồng Nai chiếm tỷ trọng 10,10% Tốc độ tăng sản lượng tiêu thụ giữa năm 2010 và 2009 đạt 42,80% cho thấy thị trường công ty được tăng thêm do có thêm được nhiều khách hàng mới Thị trường xuất khẩu chiếm tỷ trọng là 34,07% năm 2010 chủ yếu là bán cho Công ty trong tập đoàn ở Malaysia
Bảng 2.6: Thị trường tiêu thụ của PIV qua năm 2009-2011
Chỉ tiêu
Sản lượng (Tấn)
Tỷ trọng (%)
Sản lượng (Tấn)
Tỷ trọng (%)
Sản lượng (Tấn)
Tỷ trọng (%)
(Nguồn: Báo cáo doanh thu của PIV)
Năm 2011, nghị quyết số11/NQ-CP ban hành ngày 24 tháng 02 năm 2011 của Chính phủ và chỉ thị số 01/CT-NHNN ban hành ngày 01 tháng 03 năm 2011của Ngân hàng nhà nước đưa ra nhằm cắt giảm đầu tư công và hạn chế hoạt động cho vay phi sản xuất của các ngân hàng đã tạo ra những áp lực không nhỏ đối với nhu cầu thép xây dựng Nhu cầu thấp khiến hiệu suất hoạt động của nhiều nhà máy chỉ còn khoảng