Tiếp thu một học thuyết từ bên ngoài để làm lý luận hướng dẫn tư duy và hành động cho dân tộc mình là một chân lý phổ biến, là một sự thực khách quan của các thời đại, của các dân tộc.Khái quát sự ra đời và quá trình du nhập của Nho giáo từ Trung Quốc vào Việt Nam, những tư tưởng cơ bản của triết học nho gia. ảnh hưởng của triết học nho giáo đến đời sống văn hóa, tư tưởng, và con người Việt Nam hiện nay.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
1 Những tư tưởng triết học cơ bản của Nho giáo 3
1.2 Những tư tưởng triết học cơ bản của Nho giáo 5
2 Ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống văn hoá Việt Nam 11
2.1 Quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam 11
2.2 Ảnh hưởng của Nho giáo trong tư tưởng Việt Nam 13
Trang 2Mở đầu
Thế kỷ XVII đến thế kỷ XI tr CN, trên dải đất hoàng thổ phì nhiêu củacon sông Hoàng Hà ở phía Bắc Trung Quốc đã xuất hiện một liên minhthị tộc rộng lớn, với một nền nông nghiệp định cư khá phát triển, chữviết bắt đầu được sử dụng và những hình thức của một nhà nước phôithai đã bắt đầu xuất hiện Đó là thời đại Ân- Thương- buổi bình minhcủa nền văn minh Trung Quốc Mặc dù trình độ phát triển của công cụsản xuất còn ở mức thấp, đồ sắt chưa phổ biến, nhưng nhờ vào điềukiện tự nhiên thuận lợi, cả một vùng đất phì nhiêu của lưu vực con sôngHoàng Hà, Hắc Thủy, Nhược Thủy, Lạc Thủy của vùng Hoàng HàLục Tỉnh, các bộ lạc người Ân đã định cư ở đây và có một nền kinh tếsản xuất ổn định, với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, chăn nuôi và sănbắn phát triển ở trình độ cao
Về tri thức khoa học, việc tìm ra lịch mùa là một phát minh quan trọngcủa người Ân Nó có quan hệ khăng khít với việc phát minh ra chữ viết,
là vũ khí quan trọng trong việc lợi dụng chinh phục thiên nhiên của cưdân làm nông nghiệp định cư ở lưu vực các sông lớn Người Ân đãquan sát sự vận hành của mặt trăng, các vì sao, tính chất chu kỳ củanước sông dâng lên, quy luật sinh trưởng của các cây trồng mà làm ra
âm lịch Khi nói đến nền văn minh cổ đại Trung Quốc thì quả là rộnglớn Biết bao nhiêu hệ tư tưởng xuất hiện và tồn tại mãi cho đến ngàynay Từ thuyết âm dương - ngũ hành, học thuyết của Khổng Tử, LãoTử Thế nhưng trong các học thuyết ấy, không ai có thể chối cãi đượcrằng học thuyết Nho giáo Người khởi phát là Khổng tử là người có vịtrí quan trọng hơn hết trong lịch sử phát triển của Trung Quốc nóichung và các nước Đông Nam Á nói riêng Kể từ lúc xuất hiện từ vàithế kỷ trước công nguyên cho đến thời nhà Hán (Hán Vũ Đế) Nho giáo
Trang 3đã chính thức trở thành hệ tư tưởng độc tôn và luôn luôn giữ vị trí đócho đến ngày cuối cùng của chế độ phong kiến Điều đó đã minh chứng
rõ ràng: Nho giáo hẳn phải có những giá trị tích cực đặc biệt, nếukhông sao nó có thể có sức sống mạnh mẽ đến như vậy
Từ đầu thế kỷ XX đến nay, rất nhiều người đã phê phán đạo Nho, tốcáo tính chất bảo thủ, phi khoa học của nó Nhưng nếu lấy quan điểm lịch sử
mà xem xét, ở thế kỷ XX rõ ràng Nho giáo là cổ hủ nhưng ở giai đoạn trước
là như thế Nho giáo là công cụ để phong kiến phương Bắc dùng để lệ thuộccác dân tộc khác, nhưng vừa là công cụ giúp các dân tộc chống lại Trung Quốc
Một trong những tư tưởng triết học Phương Đông thời đó mà ý nghĩacủa nó vẫn còn có giá trị cho đến tận ngày nay về vấn đề luân lý, đạo đức,chính trị - xã hội đó là những tư tưởng triết học của Nho Gia
1 Những tư tưởng triết học cơ bản của Nho giáo
1.1 Vài nét về sự ra đời của Nho giáo
Nói đến Nho giáo thì việc đầu tiên không thể không nhắc tới: đó làKhổng Tử Người ta bình luận khen tặng Khổng Tử ra sao đều không thể gọi
là quá lời, trước đây hơn 2000 năm, đại sử học gia Tư Mã Thiên khi đi thămKhúc Phụ quê hương của Khổng Tử từng cảm khái viết: “Khổng Tử áo vải,truyền hơn 10 đời, được các học trò coi là tổng sư, từ thiên tử, vương hầu đếnthứ dân đều coi ông là bậc chí thánh”
Trang 4Năm1982, một học giả Mỹ viết “Hành vi cao quý và tư tưởng lý luậnđạo đức của Khổng Tử, không chỉ ảnh hưởng tới Trung Quốc mà còn ảnhhưởng tới trần nhân loại” Khổng Tử là người nước Lỗ thời Xuân Thu tên làKhâu, tự là Trọng Ni Từ thiếu niên đến 30 tuổi, Khổng Tử chuyên cần họctập và tập luyện nắm vững các tri thức về lễ nghi, âm nhạc, xạ tiễn, ngự xạ,thư, số là sau ngành tri thức căn bản thời ấy Sau đó ông đi giảng dạy bốnphương, nghiên cứu học vấn trong vài chục năm rồi san định, biên soạn cácsách được đời sau gọi là lục kinh như Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu
Khổng Tử sống trong thời kỳ thay đổi lớn, biến động lớn Từ lâu, thiên
tử nhà Chu đã mất hết uy quyền, quyền lực rơi vào tay các vua chư hầu, cụcthể xã hội biến chuyển thay đổi nhanh chóng, người ta mỗi người chọn chomình những thái độ sống khác nhau Là một triết nhân thái độ của Khổng Tửhết sức phức tạp, ông vừa hoài cổ, vừa sùng thượng đổi mới Trong tâm trạngphân vân, dần dần ông hình thành tư tưởng lấy nhân nghĩa để giữ vững sự tồntại chung và khai sáng hệ thống tư tưởng lớn nhất thời Tiên Tần là học pháiNho giáo tạo ảnh hưởng sâu sắc tới xã hội Trung Quốc
Hệ thống tư tưởng Nhân và Nghĩa của Khổng Tử, bất kể hàm nghĩaphong phú sức tạp đến đâu, nói cho cùng cũng chi và thiết lập một trật tựnghiêm cẩn của bậc đế vương và thành lập một xã hội hoàn thiện Hệ thống tưtưởng của ông ảnh hưởng tới hơn 2500 năm lịch sử Trung Quốc
Khổng Tử tuy sáng lập ra học thuyết Nhân Nghĩa Nho gia nhưngkhông được các quân vương thời Xuân Thu coi trọng mà phải do các hậu họcnhư Tử Cống, Tử Tư, Mạnh Tử, Tuân tử truyền bá rộng về sau Trải quanhiều nỗ lực của giai cấp thống trị và các sĩ đại phu triều Hán, Khổng tử và tưtưởng Nho gia của ông mới trở thành tư tưởng chính thống Đổng Trọng Thưđời Hán hấp thu nhân cách hoàn thiện và học thuyết nhân chính của Khổng
Tử, phụ hội thêm Công Dương Xuân Thu lợi dụng âm dương bổ sung thay
Trang 5đổi lý luận trở thành học thuyết thiên nhân hợp nhất cùng với học thuyếtchính trị của Tuân Tử, khoác tấm áo thần học cho Nho học.
Từ đời Hán đến đời Thanh, Khổng học chủ yếu dùng hình thức kinhtruyện để lưu truyền Đường Thái Tông sau khi hoàn thành toàn diện thốngnhất quốc gia, liền cho kinh học gia Khổng Dĩnh Đạt chú giải, hiệu đính lạinăm kinh Nho gia là Dịch, Thi, Thư, Tà tuyên, Lễ ký thành bộ Ngũ kinhchính nghĩa gần như tổng kết toàn diện kinh học từ đời Hán đến đó Ngũ kinhchính nghĩa trở thành sách giáo khoa dùng cho thi cử đời Đường Khổng họccàng được giai cấp thống trị tín nhiệm, Đường Thái Tông nói rất rõ “Nay trẫmyêu thích nhất là đạo của Nghiêu Thuấn và đạo của Chu Không coi như chimthêm cánh, như cá gặp nước, không thể không có được” Từ đó, Khổng Tửvới đế vương, với chính phủ các triều đại đều có quan hệ như Đường TháiTông hình dung
Khi lịch sử phức tạp của Trung Quốc tiến vào thời kỳ phát đạt - thời kỳnhà Tống, vị hoàng đế khai quốc là Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn lập tứcchủ trì nghi lễ long trọng tế tự Khổng Tử để biểu dương lòng thiếu đễ, vuacòn thân chủ trì khoa thi tiến sĩ mà nội dung hoàn toàn theo Nho học Đối vớiNho học mới bột hưng ở thời Tống, chúng ta thường gọi đó là Lý học
Nội dung và kết cấu của Lý học hết sức rộng lớn, bắt đầu từ Hàn Dũđời nhà Đường, trải qua nỗ lực của Tôn Phục, Thạch Giới, Hồ Viên, Chu Đôn
Di, Thiệu Ung, Thương Tái, Trình Di, Trình Hạo đời Bắc Tống cho đến Chu
Hi đời Nam Tống là người tập đại thành hoàn chỉnh hệ thống tư tưởng Lýhọc Lý học trình Chu nhấn mạnh Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín như lễ trời (thiênlý) dùng học thuyết Khổng Mạnh làm nguồn gốc, hấp thu thêm các học thuyết
tư tưởng của Phật giáo, Đại giáo cung cấp sự nhu yếu cho xã hội quân chủchuyên chế Chu Hi tập chú giải thích các kinh điển Nho gia như Luận ngữ,Mạnh Tử trở thành những sách giáo khoa bắt buộc của sĩ tử trong xã hội
Trang 6phong kiến và là tiêu chuẩn pháp định trong khoa cử của chính phủ Điều ấyxem ra xa với chủ trương thiện lương, trí tuệ, ngoan cường của Khổng Tử ởthời Xuân Thu, góp phần tạo nên một hình ảnh Khổng Tử khác mang màu sắc
vì yêu cầu giữ thiên lý mà diệt mất nhân đục, đạo mạo bàn xuông dẫn đến tiêudiệt cá tính, thậm chí hư ngụy, giả dối nữa
Ngoài Lý học của Trình Chu có địa vị chi phối, phái Công học củaTrần Lượng, Diệp Thích, phái Tâm học của Vương Dương Minh cũng đềutôn sùng Khổng Tử, hấp thu một phần tư tưởng cơ bản của ông Những họcthuyết này đều được lưu truyền rộng rãi và tạo ảnh hưởng sâu sắc trong xã hộivăn hoá Trung Quốc
Do vì Nho học được các sĩ đại phu tôn sùng, được các vương triều đuanhau đề xướng nên Nho học thuận lợi thẩm thấu trong mọi lĩnh vực trong mọigiai tầng xã hội, từ rất sớm nó đã vượt qua biên giới dân tộc Hán, trở thànhtâm lý của cộng đồng dân tộc Trung Quốc, là cơ sở văn hoá của tín ngưỡng vàtập tính
1.2 Những tư tưởng triết học cơ bản của Nho giáo
Chúng ta tìm hiểu vì Nho giáo khi nó đã tồn tại hơn 2000 năm, luônđược cải biến được bổ sung và mang các bộ mặt khác nhau qua các thời kỳ.Nhiều học giả đã tốn rất nhiều giấy mực để sưu tâm, trích dẫn và bàn cãichung quanh những câu chữ trong sách vở của Nho giáo từ trước tới nay.Việc làm ấy thường dẫn đến những nhận định chủ quan, giản đơn và phiếndiện Muốn khen hay chê người ta đều có thể trích dẫn những lời lẽ rất hấpdẫn từ trong kho sách của Nho giáo Nhưng khi để ý rằng Khổng Tử - ngườisáng lập ra Nho giáo - khi đề ra những điều căn bản trong học thuyết của Nhogiáo cũng đang ở tâm trạng phân vân, mâu thuẫn, vừa hoài cổ, vừa sùngthường, và bối cảnh xã hội lúc ấy cũng là lúc giằng co, giành giật giữa chế độ
nô lệ và chế độ phong kiến Sau này khi Nho học được cải biến để phục vụ ý
Trang 7đồ của giai cấp thống trị thì nó càng chứa đựng nhiều mâu thuẫn Vì thếkhông thể tìm hiểu Nho học theo lối trích dẫn, kinh viện vì nó chỉ càng dẫn tavào ngõ cụt Để tìm hiểu Nho học không thể không xem xét trên giác độphương pháp duy vật lịch sử Chúng ta không phân tích những sự kiện tưtưởng bằng bản thân tư tưởng mà phải tìm hiểu tư tưởng gắn liền với nhữngđiều kiện xã hội cụ thể trong đó nó đã nảy sinh, phát triển và suy tàn.
Không thể có một thứ Nho giáo chung cho các thời đại, một thứ Nhogiáo nhất thành, bất biến ở khắp mọi nơi
Khi Khổng Tử đề ra học thuyết của ông và đi chu du thiên hạ để mongđược sử dụng thì ông đã thất bại Điều đó không có nghĩa rằng xã hội ĐôngChu đã xấu hơn xã hội thời Ngũ đế tam vương mà chỉ có nghĩa rằng những tưtưởng của ông muốn bảo vệ nền chuyên chính của quý tộc chủ nô không cònphù hợp nữa với xã hội và uy thế chính trị đang đang dần dần thuộc về tầnglớp địa chủ mới
Khi học thuyết của Khổng Tử được đặt lên vị trí độc tôn thì không cónghĩa rằng vua nhà Hán đã có đạo đức, nhân nghĩa hơn nhà Tần mà chỉ vì chế
độ trung ương tập quyền của nhà Hán đang đòi hỏi một hệ tư tưởng thích hợpvới nền kinh tế tiểu nông và bộ máy phong kiến quan liêu của nó
Khi Nho giáo đã mang hình thức duy tâm tư biên với Lý học đời Tốngthì không phải lịch sử đã tạo ra mấy nhân vật “lỗi lạc” mà chỉ vì giai cấpphong kiến đã suy tàn đã cần thiết phải đổi mới các hệ tư tưởng cũng suy tànnhư nó Nho giáo lúc đó hầu như đã kiệt sức và được bổ sung bằng giáo lýcủa Phật, Lão
Những tư tưởng triết học bản thể luận và những tư tưởng biến dịch của
vũ trụ có thể xem Khổng Tử đứng trên quan điểm triết học của Kinh Dịch.Theo tư tưởng của kinh này thì uyên nguyên của vũ trụ, của vạn vật là tháicực Thái cực chứa đựng một năng lực nội tại mà phân thành lưỡng nghi Sự
Trang 8tương tác giữa hai thế lực âm - dương mà sinh ra tứ tượng Tứ tượng tươngthôi sinh ra bát quái và bát quái sinh ra vạn vật Vậy là sự biến đổi có gốc rễ ở
sự biến đổi âm - dương
Những tư tưởng triết học về chính trị - đạo đức của Nho gia được khảosát chủ yếu trong sách “luận ngữ” Ngoài ra, còn có thể bổ cứu thêm trongNgũ kinh: “Thi, Thư, Lễ, Dịch và Xuân Thu” và các sách khác như “đại học”,
“Trung dung”
Qua hệ thống kinh điển có thể thấy hầu hết là các kinh, các sách viết về
xã hội, chính trị - đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho giáo
Quan điểm về chính trị - đạo đức của Nho gia được thể hiện ở những tưtưởng chủ yếu sau:
Một là: Xã hội là một tổng thể những quan hệ xã hội giữa con người
với con người nhưng Nho gia coi những quan hệ chính trị - đạo đức là nhữngquan hệ nền tảng của xã hội, đề cao vai trò của những quan hệ ấy và thâu tómnhững quan hệ này vào ba rường mối chủ đạo (gọi là tam cương) Trong đóquan trọng nhất là quan hệ vua - tôi, cha - con và chồng - vợ Nếu xếp theo
“tôn ti trên - dưới” thì vua ở vị trí cao nhất, còn nếu xếp theo chiều ngang củaquan hệ thì vua – cha - chồng xếp ở hàng làm chủ ”… Điều này phản ánh tưtưởng chính trị quân quyền và phụ quyền của Nho gia
Để giải quyết đúng đắn các quan hệ xã hội, mà trước hết là mối quan
hệ “tam cương”, Khổng Tử đã đề cao tư tưởng “chính danh” Để thực hiệnchính danh, Khổng Tử đặc biệt coi trọng “Nhân trị” chức không phải “pháptrị”
Hai là: Xuất hiện trong bối cảnh lịch sử quá độ sang xã hội phong kiến,
một xã hội đầy những biến động loạn lạc và chiến tranh Lý tưởng của Nhogia là xây dựng một “xã hội đại đồng” Đó là một xã hội có trật tự trên dưới,
có vua sáng - tôi hiền, cha từ - con thảo, trong ấm - ngoài êm; trên cơ sở địa vị
Trang 9và thân phận của mỗi thành viên từ vua chúa, quan lại đến thứ dân.Có thể nói
đó là lý tưởng của tầng lớp quý tộc, thị tộc cũ cũng như của giai cấp địa chủphong kiến đang lớn lên
Đối với quan hệ vua - tôi, Khổng Tử chống việc duy trì ngôi vua theohuyết thống và chủ trương “thượng hiền” không phân biệt đẳng cấp xuất thâncủa người ấy Trong việc chính trị vua phải biết “trọng dụng người hiền đức,tài cán và rộng lượng với những kẻ cộng sự ”
Trong việc trị nước cũng như tu thân, học đạo sửa mình để đạt đượcđức nhân, “lễ” được Khổng Tử rất mực chú trọng Lễ ở đây là những quyphạm nguyên tắc đạo đức Ông cho rằng do vua không giữ đúng đạo vua, chakhông giữ đúng đạo cha, con không giữ đúng đạo con nên thiên hạ vô đạo.Phải dùng lễ để khôi phục lại chính danh
Về đạo cha con, Khổng Tử cho rằng con đối với cha phải lấy chữ hiếulàm đầu và cha đối với con phải lấy lòng tự ái làm trọng Trong đạo hiếu củacon đối với cha mẹ, dù rất nhiều mặt, nhưng cốt lõi phải ở tâm thành kính
“Đời nay hễ thấy ai nuôi được cha mẹ thì người ta khen là có hiếu Nhưngloài thú vật như chó, ngựa người ta cũng nuôi được vậy Cho nên, nuôi cha
mẹ mà chẳng kính trọng thì có khác gì nuôi thú vật đâu.”
Còn Mạnh Tử, ông kịch liệt lên án những ông vua không lấy điều nhânnghĩa làm gốc, chỉ vui thú lợi lộc riêng, tà dâm bạo ngược, dùng sức mạnh đểđàn áp dân; ông gọi đó là “bá đạo” và thường tỏ thái độ khinh miệt: “kẻ hạinhân là tặc, kẻ hại nghĩa là tàn”.Người tàn tặc là một kẻ thất phu Nghe nóigiết tên Trụ, chứ chưa nghe nói giết vua Trụ
Ba là: Nho giáo lấy giáo dục làm phương thức chủ yếu để đạt tới xã
hội lý tưởng “đại đồng” Do không coi trọng cơ sở kinh tế và kỹ thuật của xãhội, cho nên, nền giáo dục dục Nho gia chủ yếu hướng vào việc rèn luyện đạođức con người Trong bảng giá trị đạo đức của Nho gia thì chuẩn mực gốc là
Trang 10“Nhân” Những chuẩn mực khác như: Lễ, nghĩa, Trí, Tín, Trung, Hiếu đều
là những biểu hiện của Nhân Chữ Nhân trong triết học Nho gia được Khổng
Tử đề cập với ý nghĩa sâu rộng nhất Nó được coi là nguyên lý đạo đức cơbản, quy định bản tính con người và những quan hệ giữa người với người từtrong gia tộc đến xã hội Nó liên quan đến các phạm trù đạo đức chính trịkhác như một hệ thống triết lý chặt chẽ, nhất quán tạo thành bản săc riêngtrong triết lý nhân sinh của ông
Theo ông, đạo sống của con người là phải “trung dung”, “trung thứ”nghĩa là sống đúng với mình và sống phải với người Xã hội thời xuân thu làthời kỳ đang trải qua những biến động lịch sử sâu sắc, Khổng Tử đã chủtrương dùng nhân đức để giáo hoá con người, cải tạo xã hội Người có đứcnhân là người làm được năm điều trong thiên hạ “cung, khoan, tín mẫu, huệ”.Cung thì không khinh nhờn, khoan thì được lòng người, tín thì người tin cậy,mẫu thì có công, huệ thì đủ khiến được người Người có nhân theo Khổng Tử
là người “trước làm những điều khó, sau đó mới nghĩ tới thu hoạch hết quả”
Như vậy, nhân là đức tính hoàn thiện, là cái gốc đạo đức của conngười, nên “nhân” chính là đạo làm người Đạo làm người hết sức phức tạp,phong phú nhưng chung quy lại chỉ là những điều sống với mình và sống vớingười là “mình muốn lập thân thì cũng giúp người lập thân, mình muốn mình thànhđạt thì cũng giúp người thành đạt”, “việc gì mình không muốn chớ đem cho người”
Người muốn đạt đức nhân phải là người có “trí” và “dũng” Nhờ có trí,con người mới có sự sáng suốt, minh mẫn để hiểu biết đạo lý, xét đoán được
sự việc, phân biệt được phải trái, thiện ác, để trau dồi đạo đức và hành độnghợp với “thiên lý” Nhưng người muốn đạt “nhân” chỉ có “trí” thôi chưa đủ,
mà cần phải có dũng khí nữa Người nhân có dũng phải là người có thể tỏ rõ ýkiến của mình một cách cao minh, có thể hành động một cách thanh cao, khivận nước loạn lạc, khi người đời gặp phải hoạn lạn Người nhân có dũng mới
Trang 11tự chủ đựoc mình, mới quả cảm xả thân vì nhân nghĩa Khi cơn thiếu thốn cựckhó không nao núng làm mất nhân cách của mình, khi đầy đủ sung túc khôngngả nghiêng xa rời đạo lý.
Bốn là: Vấn đề bản tính con người Việc giải quyết những vấn đề
chính trị – xã hội đòi hỏi Nho gia cũng như nhiều học thuyết khác của Trunghoa thời cổ phải đặt ra và giả quyết vấn đề bản tính con người Trong Nho giakhông có sự thống nhất quan điểm về vấn đề này nhưng nổi bật là quan điểmcủa Mạnh Tử Theo ông “bản tính người vốn là thiện” Thiện là tổng hợpnhững đức tính vốn có của con người từ khi mới sinh như, Nhân, Lễ, Nghĩa
Mạnh Tử thần bí hoá những giá trị chính trị - đạo đức đến mức coichúng là tiên thiên Do quan niệm bản tính con người là thiện nên Nho gia đềcao sự giáo dục để con người trở về đường thiện với những chuẩn mực đạođức sẵn có
Đối lập với Mạnh Tử coi tính người là thiện, Tuân Tử lại coi bản tínhcon người vốn là ác Mặc dù bản thân con người ác, nhưng có thể giáo hoáthành thiện Xuất phát từ quan điểm đó về tính người, Tuân tử đã chủtrươngđường lối trị nước kết hợp Nho gia với pháp gia
So với các học thuyết khác, nho gia là học thuyết có nội dung phongphú và mang tính hệ thống hơn cả; hơn thế nữa nó còn là hệ tư tưởng chính thốngcủa giai cấp thống trị Trung Hoa suốt hai ngàn năm của xã hội phong kiến
Để trở thành tư tưởng chính thống, Nho Gia đã được bổ sung và hoànthiện qua nhiều giai đoạn lịch sử trung Đại; Hán, Đường, Tống, Minh, Thanhnhưng tiêu biểu hơn cả là dưới triều đại hán và Tống, gắn liền với tên tuổi củacác bậc danh Nho như Đổng Trọng Thư (thời Hán), Chu Đôn Di, Trương Tải,Trình Hạo, Trình Di (thời Tống)
2 Ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống văn hoá Việt Nam
2.1 Quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam