Bộ Nông nghiệp và PTNT công bố kế hoạch hành động tái cơ cấu ngành trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản Ngày 29/8/2014, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn NN và PTNT đã phối hợp cùng FA
Trang 1Vấn đề chung
THƯƠNG MẠI NÔNG LÂM THỦY SẢN CHÍNH CỦA VIỆT
NAM 8 THÁNG ĐẦU NĂM 2014
Theo báo cáo của Trung tâm Tin học và Thống kê, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 8 ước đạt 2,47 tỷ USD, đưa giá trị xuất khẩu của ngành 8 tháng đầu năm 2014 lên 20,22 tỷ USD, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm 2013 Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 9,49 tỷ USD, tăng 5,7%; Giá trị xuất khẩu thuỷ sản ước đạt 4,95 tỷ USD, tăng 25,4%; Giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản chính ước đạt 4,06 tỷ USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2013
XUẤT KHẨU
Thuỷ sản vẫn là mặt hàng xuất khẩu chính trong tổng kim ngạch xuất khẩu với giá trị xuất khẩu thủy sảntháng 8 ước đạt 679 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu 8 tháng đầu năm ước đạt 4,95 tỷ USD, tăng 25,4% so vớicùng kỳ năm 2013 Hoa Kỳ vẫn duy trì được vị trí là thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam,chiếm 22,8% tổng giá trị xuất khẩu Xuất khẩu thủy sản sang thị trường này 7 tháng đầu năm đạt 973,84 triệuUSD, tăng 38,58% so với cùng kỳ năm 2013 Xuất khẩu sang các thị trường tiêu thụ lớn khác đều tăng như NhậtBản, Hàn Quốc và Trung Quốc với mức tăng tương ứng đạt 6,39%, 53,83% và 27,37%
Xuất khẩu tiêu tiếp tục tăng trưởng cao với khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 8 ước đạt 6 nghìn tấn, vớigiá trị đạt 56 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu 8 tháng đầu năm lên 126 nghìn tấn với giá trị 926 triệuUSD, tăng 23,9% về khối lượng và tăng 38,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013 Xuất khẩu tiêu sang thịtrường Hòa Kỳ, Singapore, Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất và Ấn Độ - 4 thị trường lớn nhất của Việt Namtrong 7 tháng đầu năm 2014 - chiếm 45,73% thị phần – có mức tăng trưởng mạnh Thị trường Hoa Kỳ tăng25,7% về khối lượng và tăng 35,19% về giá trị; Singapore tăng 80,74% về khối lượng và tăng gấp 2,27 lần vềgiá trị, Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất tăng 63,24% về khối lượng và tăng 93,63% về giá trị Thị trường
Ấn Độ tăng 85,68% về khối lượng và tăng gấp hơn 2 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2013
Xuất khẩu cà phê tiếp tục tăng cao trong tháng 8 năm 2014 với khối lượng ước đạt 89 nghìn tấn, giá trịước đạt 198 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 8 tháng đầu năm ước đạt 1,22 triệu tấn và 2,529 tỷUSD, tăng 26,8% về khối lượng và tăng 22,3% về giá trị so cùng kỳ năm 2013 Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thịtrường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2014 với thị phần lần lượt là 14,07% và9,91% Thị trường Bỉ có tốc độ tăng mạnh nhất, gấp 2,6 lần về khối lượng và gấp 2,4 lần về giá trị so với 7 thángđầu năm 2013
Khối lượng hạt điều xuất khẩu tháng 8 ước đạt 28 nghìn tấn với giá trị 185 triệu USD, đưa khối lượngxuất khẩu điều 8 tháng đầu năm 2014 đạt 188 nghìn tấn với giá trị đạt 1,217 tỷ USD, tăng 13,9% về khối lượng
và tăng 15% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013 Hoa Kỳ, Trung Quốc và Hà Lan vẫn duy trì là 3 thị trường nhậpkhẩu điều lớn nhất của Việt Nam chiếm lần lượt 31,55%, 15,69% và 11,54% tổng giá trị xuất khẩu
Ước giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ tháng 8 đạt 488 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu 8 thángđầu năm đạt 3,87 tỷ USD, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2013 Xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ 7 tháng đầunăm sang hầu hết các thị trường chính đều tăng, ngoại trừ thị trường Trung Quốc giảm 8,61%; Hoa Kỳ và NhậtBản có mức tăng trưởng lần lượt là 14,6% và 23,27% so với cùng kỳ năm 2013 Hoa Kỳ, Trung Quốc và NhậtBản - 3 thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam 7 tháng đầu năm 2014 – chiếm 66,18% tổng giá trị xuấtkhẩu
Trong khi đó, một số mặt hàng xuất khẩu chính như gạo, cao su, chè, sắn tiếp tục giảm cả về khối lượng
và giá trị trong 8 tháng đầu năm 2014.
Khối lượng gạo xuất khẩu tháng 8 năm 2014 ước đạt 584 nghìn tấn với giá trị 267 triệu USD đưa khốilượng xuất khẩu gạo 8 tháng đầu năm 2014 ước đạt 4,44 triệu tấn và 2,01 tỷ USD, giảm 9% về khối lượng, vàgiảm 5,3% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái Thị trường lớn nhất trong bảy tháng đầu năm 2014 là TrungQuốc với 36,18% thị phần Đáng chú ý nhất là thị trường Philippin có sự tăng trưởng đột biến trong 7 tháng đầunăm với mức tăng gấp 2,8 lần về khối lượng và gấp 2,83 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2013 Với mức tăngtrưởng này, Philippin vươn lên vị trí đứng thứ 2 về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam, chiếm 22,99% thịphần, tiếp đến là Gana, Malaysia và Singapore, chiếm thị phần lần lượt là 5,11%; 4,39% và 3,32%
Trang 2Ước tính khối lượng xuất khẩu cao su tháng 8 đạt 98 nghìn tấn với giá trị 166 triệu USD, với ước tínhnày 8 tháng đầu năm 2014 xuất khẩu cao su đạt 548 nghìn tấn với giá trị đạt 989 triệu USD, giảm 9,8% về khốilượng và giảm 31,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013 Mặc dù Trung Quốc và Malaysia vẫn duy trì là thịtrường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2014, nhưng lại có xu hướng giảm mạnh sovới cùng kỳ năm 2013, cụ thể: Trung Quốc giảm 21,01% về khối lượng và giảm 40,25% về giá trị; Malaysiagiảm 13,72% về khối lượng và giảm 40,03% về giá trị
Khối lượng xuất khẩu chè tháng 8 năm 2014 ước đạt 11 nghìn tấn với giá trị đạt 20 triệu USD, đưa khốilượng xuất khẩu chè 8 tháng đầu năm ước đạt 83 nghìn tấn với giá trị đạt 139 triệu USD, giảm 6,9% về khốilượng và giảm 1,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013 Khối lượng chè xuất khẩu sang Pakistan - thị trường lớnnhất của Việt Nam tăng 60,32% về khối lượng và tăng 92,43% về giá trị Thị trường Côoét có tốc độ tăng mạnhnhất, tăng 70,6% về lượng và tăng 74,35% về giá trị so với 7 tháng đầu năm 2013 Thị trường Inđônêxia giảmmạnh nhất, giảm 56,39% về khối lượng và giảm 55% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013
Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 8 ước đạt 193 nghìn tấn, với giá trị đạt 70triệu USD đưa tổng khối lượng xuất khẩu mặt hàng này 8 tháng đầu năm đạt 2,26 triệu tấn với giá trị đạt 729triệu USD, giảm 2,6% về khối lượng và giảm 4% về giá trị so cùng kỳ năm 2013 Bảy tháng đầu năm 2014, giátrị xuất khẩu sắn và các sản phẩm sắn sang hầu hết các thị trường lớn đều giảm mạnh, ngoại trừ thị trường NhậtBản tăng mạnh (tăng gấp 12 lần về khối lượng và tăng gấp gần 7 lần về giá trị); Malaysia tăng 6,65% về khốilượng nhưng giảm 3,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013 Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu sắn vàcác sản phẩm sắn lớn nhất của Việt Nam với 84,95% thị phần
NHẬP KHẨU
Giá trị nhập khẩu toàn ngành nông, lâm, thủy sản trong 8 tháng đầu năm 2014 ước đạt 14,3 tỷ USD, tăng 18,7% so với năm cùng kỳ năm 2013 Trong đó, nhập khẩu một số mặt hàng chính ước đạt 11,03 tỷ USD, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước
Gỗ tiếp tục là mặt hàng nhập khẩu chính với giá trị nhập khẩu tháng 8/2014 đạt 190 triệu USD, đưa kimngạch nhập khẩu 8 tháng đầu năm đạt gần 1,56 tỷ USD, tăng 70,5% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, nhậpkhẩu gỗ từ thị trường Lào chiếm 31,8%, Campuchia chiếm 13,7%, Hoa Kỳ chiếm 9,6% Trung Quốc là thịtrường nhập khẩu gỗ lớn thứ 4 của Việt Nam, chiếm 9,4% tổng kim ngạch nhập khẩu Tổng kim ngạch nhậpkhẩu gỗ và sản phẩm gỗ từ thị trường này trong 7 tháng đầu năm 2014 đã tăng 20,8% so với cùng kỳ năm 2013
Thủy sản vẫn là mặt hàng nhập khẩu tăng khá cao Ước giá trị nhập khẩu mặt hàng thủy sản tháng8/2014 đạt 114 triệu USD, đưa kim ngạch nhập khẩu 8 tháng đầu năm đạt 720 triệu USD, tăng 73% so với cùng
kỳ năm 2013 Hai thị trường nhập khẩu chính là Ấn Độ (33,5%) và Đài Loan (6,9%) Trung Quốc là thị trườngnhập khẩu thủy sản lớn thứ 8 của Việt Nam, chiếm 3,1% tổng kim ngạch nhập khẩu Tổng kim ngạch nhập khẩuthủy sản từ thị trường này trong 7 tháng đầu năm 2014 đã tăng 50,8% so với cùng kỳ năm 2013
Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 8/2014 đạt 171 nghìn tấn với giá trị đạt 45 triệu USD,đưa khối lượng nhập khẩu mặt hàng này trong 8 tháng đầu năm đạt 2,83 triệu tấn, giá trị nhập khẩu đạt 734 triệuUSD, tăng gấp 2,3 lần về lượng và 1,8 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2013 Braxin, Ấn Độ và Thái Lan là cácthị trường nhập khẩu chính của mặt hàng này, chiếm lần lượt 48,8%; 20,9% và 6,6% tổng kim ngạch nhập khẩu
Trong khi đó, ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 8/2014 đạt 24 nghìn tấn với giá trị 16triệu USD, đưa khối lượng nhập khẩu mặt hàng này trong 8 tháng đầu năm đạt 1,01 triệu tấn, giá trị nhập khẩuđạt 615 triệu USD, tăng nhẹ 0,6% về lượng và 0,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013
Nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 8 tháng đầu năm đạt gần 2,25 tỷ USD, tăng 8,6% so với cùng
kỳ năm 2013 Thị trường nhập khẩu chính của nhóm mặt hàng này là Achentina (chiếm 33% thị phần), Hoa Kỳ(13,9%) và Trung Quốc (10,7%) Tổng kim ngạch nhập thức ăn gia súc và nguyên liệu từ thị trường Trung Quốctrong 7 tháng đầu năm 2014 đã tăng gấp 2,3 lần so với cùng kỳ năm trước
Ngoài ra, một số mặt hàng nhập khẩu giảm như cao su, phân bón và hạt điều Ước khối lượng nhậpkhẩu cao su 8 tháng đầu năm đạt 206 nghìn tấn, giá trị nhập khẩu đạt 415 triệu USD, tăng 1,8% về lượng nhưnggiảm 8,4% về giá trị so với cùng kỳ năm trước
Ước tính kim ngạch xuất khẩu phân bón 8 tháng đầu năm đạt 806 triệu USD, giảm 12,4% về lượng vàgiảm 28,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013 Hạt điều đạt 406 nghìn tấn, giá trị nhập khẩu đạt 418 triệu USD,giảm 3% về lượng nhưng tăng 4,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013
H.V (Theo báo cáo Thống kê của CIS)
Trang 3Bộ Nông nghiệp và PTNT công bố kế hoạch hành động tái cơ cấu ngành trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản
Ngày 29/8/2014, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN và PTNT) đã phối hợp cùng FAO và Nhóm Trợ giúp Quốc tế (ISG) tổ chức “Hội nghị công bố kế hoạch hành động tái cơ cấu ngành trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản” đồng thời đưa ra các đề xuất, giải pháp chính để thực hiện các kế hoạch hành động trên tập trung vào việc chuyển đổi các hình thức đầu tư công - tư, tăng cường bộ máy tổ chức, xúc tiến, nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ.
Tại Hội nghị, Bộ trưởng Cao Đức Phát đã công bố kế hoạch hành động tái cơ cấu các tiểu ngành nôngnghiệp Đánh giá cao những thành tựu về nông nghiệp mà Việt Nam đạt được thời gian qua, đại diện Tổ chứcNông lương Liên hợp quốc tại Việt Nam, đại diện Nhóm các nhà tài trợ và các đại sứ quán cho rằng, việc công
bố “Kế hoạch hành động tái cơ cấu các tiểu ngành trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản” của Việt Nam là bước tiếnquan trọng để triển khai "Tầm nhìn mới trong nông nghiệp" gắn với Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp hướngtới phát triển bền vững
Về ngành trồng trọt, mục tiêu tái cơ cấu ngành nhằm duy trì tăng trưởng, bảo đảm vững chắc an ninhlương thực trước mắt và lâu dài; tăng thu nhập cho nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định chính trị xãhội, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu Trong đó, ưu tiên triển khai chuyển đổi cơ cấu câytrồng, phát triển sản xuất quy mô lớn, tập trung gắn với thị trường (ngành lúa gạo, sản phẩm quốc gia, rau antoàn, cà phê – tái canh) Áp dụng rộng rãi công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước (cho các cây trồng như cà phê,
hồ tiêu, điều, chè, mía…); Cơ giới hóa, giảm thất thoát sau thu hoạch, hỗ trợ công nghệ và thiết bị thu hoạch lúa,ngô, mía, chè, cà phê Đẩy mạnh chế biến, bảo quản, hỗ trợ công nghệ và thiết bị chế biến… Bên cạnh đó, sẽ tiếnhành tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, mở rộng đối tác công tư PPP, tăng cường xúc tiến thương mại Đổi mới
cơ chế chính sách, tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về trồng trọt
Về chăn nuôi, kế hoạch hành động tái cơ cấu ngành gồm nâng cao năng suất, chất lượng giống gia súc,gia cầm Trong đó, tiến hành giám định, bình tuyển, loại thải đực giống không đủ tiêu chuẩn; Xây dựng hệ thốngquản lý quốc gia về đực giống vật nuôi, nâng cấp các cơ sở sản xuất giống vật nuôi do Trung ương và địaphương quản lý Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất chăn nuôi; Đầu tưnguồn lực cho nghiên cứu khoa học về lĩnh vực chăn nuôi; Nghiên cứu công nghệ sinh học, di truyền nhằm chọnlọc, nhân thuần các giống lợn, gia cầm có năng suất và chất lượng cao theo định hướng tiêu dùng trong nước vàxuất khẩu; Nghiên cứu chọn lọc, lai tạo các tổ hợp lai phù hợp với vùng sinh thái nhằm tăng giá trị gia tăng vàlợi thế vùng…
Về tái cơ cấu ngành thủy sản, ưu tiên rà soát, điều chỉnh quy hoạch nuôi, tiêu thụ cá tra; Nuôi tôm nước
lợ, cá rô phi, tôm hùm, nhuyễn thể Rà soát, điều chỉnh quy hoạch khai thác gồm: số lượng tàu thuyền theo nghề,vùng biển; Hệ thống cảng cá, khu neo đậu; Hệ thống sửa chữa đóng mới tàu cá Bên cạnh đó, hoàn thiện thể chế,chính sách như: sửa đổi luật thủy sản 2003; Chính sách tạo, sử dụng, quản lý quỹ tái tạo nguồn lợi thủy sản;Chính sách quản lý ven bờ Về khai thác thủy sản, tiến hành đánh giá nguồn lợi hải sản, hiện đại tàu cá, giám sáttổn thất sau khai thác, nâng cao năng lực đăng ký, đăng kiểm tàu cá, đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng Về nuôitrồng thủy sản, quan trắc môi trường trong nuôi trồng thủy sản, áp dụng công nghệ cao trong giống, nuôi, bệnh,môi trường
Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết, trải qua gần 30 năm qua, ngành nông nghiệp Việt Nam đã có nhiềuđóng góp quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho ngườidân, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định chính trị Đạt được không ít thành tựu lớn nhưng trong những nămgần đây đã bộc lộ điểm yếu đòi hỏi phải tái cơ cấu và có nhiều bước thay đổi căn bản theo hướng nâng cao giátrị gia tăng, phát triển bền vững Đề án tái cơ cấu thay đổi cách tiếp cận phát triển ngành dựa trên chỉ tiêu sốlượng cụ thể sang các chỉ số mục tiêu về “ba trụ cột phát triển bền vững: kinh tế - môi trường - xã hội” cho nôngnghiệp Việt Nam Đề án chủ trương phát triển sản xuất nông nghiệp theo tín hiệu thị trường và nhu cầu tiêudùng, Chính phủ chuyển vai trò từ nhà cung cấp trực tiếp sang việc tạo dựng môi trường kinh doanh lành mạnh,thúc đẩy các thành phần kinh tế khác nâng cao chất lượng và số lượng đầu tư và dịch vụ trong ngành Đề án tái
cơ cấu cũng đặt ra vấn đề xem xét lại vai trò của các bên trong mối quan hệ "Nhà nước – Doanh nghiệp – Xãhội” thông qua việc thúc đẩy hợp tác “bốn nhà” trong chuỗi giá trị
Trang 4Bà Lan Hương, đại diện Văn phòng FAO Việt Nam cho biết, quan điểm hỗ trợ của FAO lấy con người
là trọng tâm của tiến trình phát triển, làm sao phải tăng thu nhập cho người nông dân Nên đối với đề án tái cơcấu ngành nông nghiệp, FAO sẽ hỗ trợ ngành trong 4 lĩnh vực: Chính sách hỗ trợ và cải cách thể chế Thích ứngvới biến đổi khí hậu; Cải thiện các quy định có tính bền vững về hàng hóa và dịch vụ; cải thiện hệ thống nôngnghiệp và lương thực một cách toàn diện và có hiệu quả FAO sẽ hỗ trợ về khoa học công nghệ
Theo ông Nguyễn Thế Dũng, đại diện Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, hiện WB đang hỗ trợ dự
án Chuyển đổi sản xuất nông nghiệp bền vững (vnSAT) Trong thời gian tới, WB đề suất vnSAT sẽ tập trungvào lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long và cây cà phê ở Tây Nguyên Bên cạnh đó, vnSAT đề xuất cần tăngcường thể chế đối với tái cơ cấu ngành nông nghiệp; những sáng kiến lúa gạo bền vững đồng bằng sông CửuLong, sáng kiến cà phê bền vững
Đánh giá về đề án tái cơ cấu của ba tiểu ngành, ông David Devine, Đại sứ Canađa tại Việt Nam chorằng, Việt Nam đang chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên việc nâng cao năng lực cạnh tranh, năng suất laođộng, sản xuất giá trị gia tăng và phát triển bền vững với môi trường Vì vậy, những thay đổi về thể chế để cảithiện tính minh bạch và trách nhiệm của Chính phủ, đồng thời tạo điều kiện cho người dân và khu vực tư nhântham gia tích cực vào các quyết định về chính sách kinh tế và thị trường là vô cùng quan trọng Những chínhsách ưu đãi cho đầu tư vào nông nghiệp sẽ thu hút thêm các nhà đầu tư Canada vào Việt Nam, đặc biệt trong cáclĩnh vực công nghệ cao và dịch vụ môi trường Canada cam kết sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam thông qua việc xâydựng các chương trình phù hợp với nhu cầu cần thiết của Việt Nam và tập trung vào các lĩnh vực mà Canada cóthể đóng góp về các góc độ phát triển cũng như thương mại
Thời gian qua, nhiều tổ chức quốc tế đã tham gia với nhiều chương trình trợ giúp cụ thể cho tiến trình tái
cơ cấu của ngành nông nghiệp Điển hình như FAO đã giúp Bộ NN và PTNT hỗ trợ kỹ thuật để xây dựng kếhoạch hành động cho 3 tiểu ngành: trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản Chính phủ Canada hỗ trợ triển khai tái cơcấu với dự án về “Hỗ trợ kỹ thuật và chính sách để thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam”.Gần đây nhất, Dự án Chuyển đổi sản xuất nông nghiệp bền vững của Ngân hàng Thế giới hỗ trợ xây dựng một
số chuỗi nông sản quan trọng
T.H (Tổng hợp)
Trang 5Triển vọng xuất khẩu gạo những tháng cuối năm
Mục tiêu lớn nhất của hoạt động xuất khẩu gạo là phải tiêu thụ hết gạo hàng hóa cho nông dân và đảm bảo lợi nhuận tối thiểu 30% cho người trồng lúa Sau những tháng đầu năm gặp nhiều khó khăn, thời gian gần đây, xuất khẩu gạo đã có dấu hiệu tăng trưởng trở lại, nhiều thị trường lớn như Philippin, Malaysia đã và đang chuẩn bị ký những hợp đồng gạo lớn Điều đó đã có tác động tới giá cả và sức tiêu thụ lúa gạo tại các vựa lúa trên cả nước.
Tổng cục Thống kê cho biết, trong 8 tháng đầu năm, xuất khẩu gạo cả nước đạt 4,5 triệu tấn Tính đếnngày 31/8/2014, các tỉnh, thành khu vực ĐBSCL đã thu hoạch được khoảng 729.000 ha, sản lượng 3,915 triệutấn lúa hè thu và tháng 9 còn khoảng 200.000 ha, nâng sản lượng lên gần 1,1 triệu tấn lúa Theo Hiệp hội Lươngthực Việt Nam (VFA), khả năng xuất khẩu gạo cả năm dự kiến đạt khoảng 6,3 triệu tấn Tuy nhiên, để đạt mụctiêu đề ra, từ nay đến cuối năm các Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, VFA và các địaphương cần theo dõi sát diễn biến thị trường gạo thế giới, cân đối cung cầu lúa gạo hàng hóa trong nước và tìnhhình thực tế xuất khẩu gạo để kịp thời thực hiện có hiệu quả các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo Ưu tiên dànhnguồn kinh phí bổ sung ngoài dự toán năm 2014 cho Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia phục vụ cáchoạt động xúc tiến thương mại gạo từ nay đến cuối năm 2014 VFA cũng nghiên cứu, điều chỉnh kịp thời giáxuất khẩu gạo cho phù hợp với cân đối cung cầu lúa gạo hàng hóa trong nước và dự báo thị trường xuất khẩugạo, ngăn ngừa những diễn biến bất lợi cho xuất khẩu gạo của ViệtNam
Gạo Việt Nam lại có đặc điểm là hầu như được tiêu thụ trực tiếp ngay sau khi thu hoạch nên chất lượngđảm bảo và rất “hút” hàng, góp phần giúp nông dân và doanh nghiệp đảm bảo lợi nhuận Theo Thứ trưởng BộCông thương Trần Tuấn Anh, hiện nay, Việt Nam ưu tiên xúc tiến thương mại gạo tới một số thị trường, thứnhất là những thị trường truyền thống, tập trung, có quan hệ lâu dài về thương mại gạo nói riêng và thương mạinói chung như Indonesia, Philippin, Malaysia… Đây đều là những thị trường lớn xét về cả hợp tác song phươnglẫn quy mô thị trường và cần dành những ưu tiên cao để phát triển bền vững Thứ hai là những thị trường thươngmại lớn khác như Trung Quốc, Singapo, Hồng Kông, châu Phi… Thứ ba là những thị trường mới như Haiti, Mỹ
La tinh, Mexico Ngoài ra, một số thị trường khác như châu Âu cũng đang được Bộ Công Thương quan tâm,phối hợp với các cơ quan, hiệp hội cùng đẩy mạnh phát triển Tuy nhiên, cho dù là thị trường nào thì điều quantrọng nhất Bộ Công Thương, các hiệp hội và doanh nghiệp đang đẩy mạnh thực hiện là làm sao nâng cao chấtlượng sản phẩm, đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật để tạo thuận lợi lớn nhất cho hoạt động xuất khẩu
Nâng cao chất lượng của hạt gạo
Có thể khẳng định lúa gạo là lợi thế bậc nhất của Việt Nam trong sản xuất nông sản Các đối thủ cạnhtranh của Việt Nam là Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan và sắp tới là Campuchia đều có những lợi thế về phát triểnlúa gạo Phát triển lúa gạo của Việt Nam cũng có những lợi thế riêng, về điều kiện thổ nhưỡng, thời tiết khí hậu,đầu tư tập trung của các cấp, các ngành đối với sản xuất lúa gạo Đặc biệt là khu vực miền Tây luôn luôn đượcđổi mới và đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và thị trường Đội ngũ doanh nghiệp ngày càng trưởng thành,ngoài những thị trường truyền thống thì họ còn mở ra những thị trường mới Hiện nay có nhiều giống lúa đãđược tạo ra và có nhiều doanh nghiệp xây dựng thương hiệu để có những giống lúa chất lượng cao, đủ sức cạnhtranh đối với các nước trong khu vực và các nước xuất khẩu gạo mạnh trên thế giới Tuy nhiên, để nâng cao lợithế của Việt Nam, chúng ta cần nâng cao chất lượng hạt gạo và khẳng định xây dựng thương hiệu gạo Việt Namthật uy tín Bên cạnh đó, phải tiếp tục củng cố thị trường truyền thống và mở rộng thị trường mới Một điều quantrọng nữa là, trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp, vẫn đặt cây lúa là lợi thế cạnh tranh Để bà con hăng hái tiếpnhận lợi thế cạnh tranh thì rõ ràng cần có sự đầu tư khuyến khích một cách đồng bộ để giảm chi phí đầu vào, từ
đó tăng cao hiệu quả của nghề trồng lúa Đối với người nông dân, muốn nâng cao giá trị của hạt gạo, ngoàichuyện giảm chi phí đầu vào thì phải duy trì chất lượng của hạt gạo và vệ sinh an toàn thực phẩm
Bảo Thi (Báo Công thương)
Trang 6Ngành chăn nuôi hướng tới hiệu quả và an toàn dịch bệnh
Tại hội nghị Triển khai công tác chăn nuôi, thú y toàn quốc do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) tổ chức vào ngày 26/08/2014, Bộ trưởng Bộ NN và PTNT Cao Đức Phát khẳng định, phải đẩy mạnh tái cơ cấu, gấp rút triển khai các biện pháp để thúc đẩy ngành chăn nuôi hiệu quả, an toàn dịch bệnh Trong bối cảnh mới, các địa phương cần tạo điều kiện để ngành phát triển mạnh mẽ hơn với mục tiêu tăng thu nhập cho người nông dân
Theo Cục Chăn nuôi, sản xuất chăn nuôi những tháng đầu năm 2014 gặp nhiều khó khăn về dịch bệnh
và biến động của thị trường tiêu thụ Tuy nhiên, thời gian gần đây, thị trường và giá một số sản phẩm chăn nuôiđang dần ổn định, nhất là thịt lợn và trứng gia cầm, riêng thịt và sữa luôn ở mức cao Cùng với việc kiểm soát tốthơn về dịch bệnh nên sản xuất chăn nuôi đang được khôi phục trở lại Ước tính mức tăng trưởng của ngành chănnuôi trong 6 tháng đầu năm 2014 khoảng 3% so với mức tăng 1,9% của năm 2013 Nếu duy trì được tốc độ nàythì năm nay, ngành chăn nuôi sẽ đạt mức tăng trưởng trên 5%
Trong 7 tháng qua, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu lượng lớn giống lợn với trên 1.600 con, tăng 1,9 lần socùng kỳ năm 2013 Trong khi tổng lượng gia cầm giống nhập khẩu lại giảm 19% so với cùng kỳ với số lượng945.000 con Ngoài ra, Việt Nam vẫn tiếp tục gia tăng nhập khẩu như thịt lợn tăng 9,4%, thịt gà tăng 22%; trâu,
bò tăng 11,6% so với cùng kỳ (chưa tính số trâu, bò nhập lậu, tiểu ngạch khoảng 200.000 con)
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng xuất khẩu lượng lớn trứng gia cầm, sữa, mật ong và thức ăn chăn nuôi.Theo ông Nguyễn Văn Trọng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, tuy Việt Nam đã xuất khẩu sản phẩm thức ănchăn nuôi cho 13 nước trên thế giới nhưng nguyên liệu cho chế biến thức ăn chăn nuôi vẫn còn phải nhập khẩunhiều
Theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, thời gian qua, ngành chăn nuôi mới chỉ hướng vào đáp ứng nhu cầu củathị trường nội địa trong điều kiện nền kinh tế phát triển nhanh, nhu cầu tăng cao Nhờ gia tăng đầu con, tăng sảnlượng nên đến nay, nhiều loại sản phẩm như thịt lợn, gia cầm, trứng, chúng ta đáp ứng gần như bão hòa thịtrường trong nước Tuy nhiên, không thể nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm thịt, trứng, sữa nếu như vẫn
để tình trạng nhân giống vật nuôi thủ công như hiện nay Thêm vào đó, việc quản lý giống vật nuôi còn rất lỏnglẻo
Với thực tế trên, đại diện Sở NN và PTNT Vĩnh Phúc cho rằng, cần tập trung nâng cao chất lượng sảnphẩm chăn nuôi thay vì lo tăng số lượng, đồng thời tránh tình trạng chăn nuôi theo phong trào Hiện Vĩnh Phúcđang gặp khó khăn trong việc quản lý giống, đặc biệt là bò sữa giống Do vậy, ngành chăn nuôi cần quản lý chặtchẽ tinh bò sữa giống, tinh bò thịt để chuyển đổi, nâng cao chất lượng, sản lượng thịt thương phẩm
Đồng tình với quan điểm của Sở NN và PTNT Vĩnh Phúc, ông Nguyễn Thanh Sơn, Viện trưởng ViệnChăn nuôi cũng cho rằng, đã đến lúc ngành chăn nuôi không nên gia tăng số lượng mà tập trung vào nâng chấtlượng Cần áp dụng khoa học công nghệ trong việc nâng cao chất lượng con giống, thức ăn chăn nuôi
Trên cơ sở định hướng tái cơ cấu ngành chăn nuôi của Bộ NN và PTNT, các Sở NN và PTNT đã vàđang xây dựng đề án tại địa phương theo 4 định hướng: vùng chăn nuôi, giống vật nuôi, phương thức chăn nuôi
và thị trường Đây được coi là những giải pháp để ngành chăn nuôi đạt hiệu quả cao nhất qua việc các sản phẩmchăn nuôi hạ được giá thành, chất lượng cao, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh
Như vậy, bên cạnh việc phát triển chăn nuôi theo hướng phát triển trang trại tập trung, công nghệ caogắn với thị trường, nhiều địa phương đã chú trọng phát triển đàn gia súc, gia cầm có khả năng khai thác thếmạnh, phát triển chăn nuôi thành ngành sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năngcạnh tranh cao Ví dụ như Hà Giang tập trung vào con trâu, bò, lợn, ong; Quảng Bình tập trung vào bò thịt và gàri; Sóc Trăng tập trung phát triển bò sữa, lợn và gà
Tuy nhiên, theo ông Hoàng Thanh Vân, Cục trưởng Cục Chăn nuôi, hiện mới có 17/63 tỉnh thành đãhoàn thành đề án tái cơ cấu ngành chăn nuôi Nhiều địa phương vẫn còn lúng túng trong quá trình tái cơ cấu,chưa biết được nên đi theo hướng nào, cần làm khâu nào trước Do đó, Bộ NN và PTNT đang có hướng dẫn, chỉđạo địa phương đi vào khâu giống là khâu đầu tiên, từ đó tác động đến các khâu khác Bộ cũng đang thực hiệnthí điểm quản lý lợn đực giống tại 4 tỉnh là Nam Định, Phú Thọ, Bình Định và Bà Rịa - Vũng Tàu Đến cuốinăm nay, các mô hình sẽ được tổng kết và triển khai nhân rộng trên cả nước vào năm 2015
Một vấn đề được đặt ra tại hội nghị là để quản lý thức ăn chăn nuôi, Cục Chăn nuôi đã triển khai kếhoạch trọng điểm quản lý chất cấm tại 6 tỉnh: Hà Nội, Hưng Yên, Thanh Hóa, Tp Hồ Chí Minh, Đồng Nai vàVĩnh Long Đối tượng kiểm tra là các cơ sở sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi; trong đó tập trung kiểm tra
Trang 7chủ yếu đối với cơ sở vừa và nhỏ, cơ sở sản xuất thức ăn bổ sung, cơ sở xếp loại C, cơ sở không có địa chỉ rõràng Cùng với đó, Cục cũng hướng dẫn các địa phương tăng cường công tác kiểm soát chất lượng thức ăn
Theo ông Phạm Văn Đông, Cục trưởng Cục Thú y, để chăn nuôi phát triển hiệu quả, một giải phápkhông kém phần quan trọng là phải đảm bảo an toàn dịch bệnh, có như vậy mới có thể mở rộng xuất khẩu sảnphẩm chăn nuôi “Trong công tác phòng chống dịch bệnh, hiện chúng ta đã chuyển từ bị động sang chủ độngphòng chống dịch Các địa phương đều đã có kế hoạch chủ động phòng chống dịch nên khi có điểm dịch nhỏ lẻ
là được xử lý ngay bằng nguồn kinh phí tại chỗ, không phải chờ đến Trung ương như trước kia
Bên cạnh việc cấp chứng nhận cho các cơ sở an toàn dịch bệnh, Cục Thú y đã xây dựng đề án Thí điểmxây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh đối với gia súc và gia cầm giai đoạn 2014 - 2018 Mô hình vùng an toàndịch bệnh bước đầu được thực hiện tại 7 tỉnh: Nam Định, Thái Bình, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương, BàRịa - Vũng Tàu và Tây Ninh Theo ông Phạm Văn Đông, đề án này không chỉ nhằm mục đích phòng dịch bệnh
mà mục tiêu tiến tới là các vùng chăn nuôi này sẽ được các tổ chức quốc tế chứng nhận Sản phẩm chăn nuôi củavùng an toàn dịch bệnh sẽ đạt tiêu chuẩn xuất khẩu tới các thị trường khó tính như: EU, Nhật Bản, Singapo
Hiện Bộ NN và PTNT đã thành lập Ban chỉ đạo quốc gia phát triển và sản xuất vắc xin phòng bệnh chogia súc, gia cầm nhằm chủ động phòng chống dịch trong nước và xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh Bướcđầu, Ban chỉ đạo sẽ tập trung vào nghiên cứu và sản xuất vắc xin cúm gia cầm, lở mồm long móng và tai xanh.Bên cạnh đó, Bộ còn đang hợp tác với các tổ chức quốc tế như FAO, OIE, WHO, USDAID, CDC triển khaicác chương trình giám sát chủ động sự lưu hành và biến đổi của vi rút cúm gia cầm, lợn; hợp tác với TrungQuốc, Lào, Campuchia, Thái Lan để kiểm soát động vật buôn bán qua biên giới, chủ động phòng ngừa dịchbệnh lây lan vào trong nước
Bộ trưởng Cao Đức Phát nhấn mạnh, để tái cơ cấu ngành chăn nuôi có hiệu quả, mỗi địa phương khôngchỉ có đề án tổng thể của ngành nông nghiệp mà trong ngành chăn nuôi phải có đề án riêng Địa phương cần chútrọng phát triển những sản phẩm có tiềm năng và lợi thế theo hướng tăng nhanh năng suất và hiệu quả để tăngsức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu, gắn với bảo vệ môi trường Thậm chí,địa phương có thể lựa chọn và xây dựng dự án cho vật nuôi trọng tâm Trong đó đặc biệt ưu tiên các khâu như:sản xuất giống, ứng dụng khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực… để có sự chỉ đạo tập trung, hiệu quả và tạo ra
sự đột phá Không nên chú trọng, khuyến khích doanh nghiệp lớn đầu tư vào phát triển chăn nuôi tập trung, côngnghiệp Chúng ta phải làm thế nào giảm dần những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, truyền thống bằng hỗ trợ họ phát triểnchăn nuôi công nghiệp, trang trại có ứng dụng khoa học công nghệ và nâng cao thu nhập cho người dân Còn cácdoanh nghiệp chỉ đầu tư vào khâu sản xuất giống, đưa công nghệ vào mô hình, chế biến, tiêu thụ, sản xuất thức
ăn bổ sung
B.H
Trang 8Sơ kết thí điểm liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ lúa gạo vụ Hè Thu
2014
Ngày 8/9/2014, tại Long An, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) phối hợp cùngUBND tỉnh Long An tổ chức Hội nghị sơ kết thí điểm triển khai sản xuất, tiêu thụ gạo vụ Hè Thu năm 2014
Thực hiện chỉ đạo của Bộ NN&PTNT, 16 doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Lương thực Việt Nam ở 8 tỉnh:
An Giang, Cần Thơ, Tiền Giang, Long An, Kiên Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, Hậu Giang đã thí điểm thựchiện liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ lúa gạo vụ Hè Thu năm 2014 cho nông dân với diện tích 12.886 ha Trong
đó, diện tích doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm thực tế là 9.923 ha, đạt 80%, cao hơn khoảng 25% so với bìnhquân chung toàn Đồng bằng sông Cửu Long
Qua đó, những quy định trong Quyết định 62 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 15 về chính sáchkhuyến khích hợp tác liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn cơ bản phù hợp điều kiệncủa Đồng bằng sông Cửu Long trong quá trình phát triển sản xuất lúa, xây dựng chuỗi giá trị lúa gạo theo hướnghiện đại, bền vững, hiệu quả Hai hình thức liên kết trong xây dựng cánh đồng lớn được các công ty áp dụng làliên kết giữa doanh nghiệp với nông dân thông qua hợp tác xã, tổ hơp tác và liên kết trực tiếp giữa doanh nghiệpvới nông dân Đa số các công ty thí điểm đã thực hiện chính sách hỗ trợ đầu vào về giống, phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật cho nông dân và kinh phí hoạt động cho hợp tác xã, tổ hợp tác, giá mua cao hơn giá thị trường 100
-200 đồng/kg lúa tươi Theo đó, người sản xuất có thể tăng năng suất lúa từ 0,20 - 0,79 tấn/ha, tăng lợi nhuận từ 4đến 6 triệu đồng/ha, doanh nghiệp có thể giảm chi phí giao dịch, thu mua được lúa gạo có chất lượng cao đápứng nhu cầu thị trường
Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Trần Thanh Nam đề nghị, chính quyền các cấp cầnquan tâm hơn nữa đến việc hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và nông dân thực hiện thành công hợpđồng liên kết, nâng tỷ lệ thành công hợp đồng từ dưới 30% hiện nay lên trên 50% Bên cạnh đó, chính quyền cáccấp cần nâng cao năng lực các tổ chức đại diện qua các chương trình đào tạo, tập huấn, hỗ trợ về trang thiết bị và
hạ tầng sản xuất như lò sấy, kho bãi Các doanh nghiệp xây dựng phương án cánh đồng lớn mang tính chất dàihơi, xây dựng vùng nguyên liệu hiệu quả, bền vững Ngoài ra, ngân hàng và các tổ chức cung cấp dịch vụ kháccần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và nông dân tiếp cận tín dụng một cách dễ dàng
Tại hội nghị, các đại biểu cho rằng, quá trình triển khai thực hiện thí điểm vẫn còn một số hạn chế Cụthể, việc tổ chức thực hiện liên kết xây dựng cánh đồng lớn đang còn lúng túng ở cả 2 phía nhà nước và doanhnghiệp Một số địa phương chưa nghiên cứu sâu sát tình hình cụ thể của địa phương mình khi đưa ra các quyđịnh về diện tích tối thiểu cánh đồng lớn và các cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và nông dân chưa phùhợp, gây khó khăn cho việc triển khai các dự án, phương án cánh đồng lớn của doanh nghiệp Bên cạnh đó, hạtầng phục vụ sản xuất còn yếu kém, chưa đồng bộ, nhất là hệ thống thủy lợi, điện phục vụ sản xuất, cơ giới hóacác khâu trong sản xuất, thu hoạch, sau thu hoạch Trong khi đó, giá cả thị trường lúa gạo biến động thườngxuyên Một bộ phận thương lái lúa cạnh tranh kinh doanh không minh bạch, nhưng khâu quản lý thị trường chưa
có giải pháp hữu hiệu để xử lý hiệu quả Hạn chế quan trọng phải kể đến là thị trường tài chính, tín dụng trongnông nghiệp và nông thôn hoạt động chưa thật hiệu qủa; khả năng tiếp cận vốn, tín dụng của cả doanh nghiệp vàngười sản xuất vẫn rất khó khăn Ngoài ra, quy mô sản xuất manh mún nhỏ lẻ, nông dân chưa quen liên kết, khảnăng đầu tư và tiếp thu tiến bộ kỹ thuật còn hạn chế, nên khó khăn trong việc chỉ đạo điều hành
Để giải quyết các hạn chế trên, các đại biểu cho rằng, các cấp chính quyền cần tăng cường tổ chức nhiềuhoạt động tuyên truyền, phổ biến sâu rộng để người nông dân hiểu biết và thấy được quyền lợi, lợi ích từ chủtrương của Đảng, nhà nước về mô hình cánh đồng lớn để nông dân tự nguyện tham gia Cùng với đó, cần có sựphân công giao nhiệm vụ rõ ràng cho các đơn vị chức năng ở địa phương trong việc hỗ trợ các địa phương,doanh nghiệp, nông dân xây dựng cánh đồng lớn Các đơn vị liên quan cũng cần nghiên cứu cách tính giá muathóc hợp lý cho nông dân, khắc phục những hạn chế hiện nay dẫn đến việc đôi bên "bẻ kèo" Ngoài ra, chínhquyền địa phương cần tiếp tục thực hiện chính sách đầu tư ứng trước vật tư, giống vốn và hợp tác với các tổ hợptác, hợp tác xã, nông dân để cùng nhau xây dựng cánh đồng lớn
Dự kiến, diện tích cánh đồng lớn của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long năm 2015 là 196.087 ha, tăngtrên 57.112 ha (tăng 41,1%) so với diện tích thực hiện năm 2014, riêng vụ Đông Xuân 2014 - 2015 là 91.692 ha,tăng 17.692 ha (tăng 23,9%) so với năm 2013
Thanh Bình
Trang 9Khoa học cụng nghệ GIớI THIệU CáC GIốNG Và TIếN Bộ Kỹ THUậT MớI Về
CÂY LƯƠNG THựC Và Cây thực phẩm CHO CáC TỉNH MIềN NúI PHíA BắC
Viện Cây Lơng thực và Cây Thực phẩm
(Tiếp theo kỳ trớc)
III Các TBKT về cây có củ
A Các giống khoai lang (KLC266, KL20-209, KLC3)
1.Giống khoai lang chất lợng cao KLC266
Đặc điểm chính
- Thời gian sinh trởng 115 - 120 ngày trong vụ thu đông và 145 - 150 ngày trong vụ xuân
- Lá xẻ thuỳ sâu, thân màu tím, đốt rất ngắn, sinh trởng phát triển tốt, khả năng tái sinh cao
- Củ thuôn dài, vỏ củ màu đỏ hồng, ruột củ màu vàng, hàm lợng chất khô trong củ cao 32,4 –39,7%, hàm lợng carotenoid 280 ppm/100g chất khô, ò-carotene 132 ppm/100g chất khô, chất lợng củ ăntơi rất ngon (bở, ngọt, thơm), thích hợp thị hiếu ngời tiêu dùng
- Chống chịu tốt với bênh ghẻ, bệnh héo rũ, nhiễm nhẹ bọ hà trên đất chuyên màu và đất cát venbiển
- Năng suất củ đạt 12 – 14 tấn/ha, thâm canh tốt có thể đạt 18 – 20 tấn/ha
Hớng sử dụng: Dùng củ để ăn tơi.
Địa chỉ đ áp dụng thành công: ã áp dụng thành công: Ninh Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Nam và Bình Định
2.Giống khoai lang KL20-209
Đặc điểm của giống:
- Dạng hình cây bò lan; thân mập, phân cành trung bình và có màu tím
- Lá to, hình bầu dục, màu xanh, gân lá màu tím; ngọn và lá non màu tím
- Khả năng sinh trởng phát triển mạnh, chậm thoái hoá
- Thời gian sinh trởng phát triển 100 - 120 ngày
- Năng suất trung bình 16 - 17 tấn/ha, là giống có tiềm năng năng suất cao (khoảng 30 tấn/ha)
- Dạng củ thuôn dài, nhẵn; vỏ củ màu đỏ, ruột màu vàng
- Hàm lợng chất khô: 27 - 28% ở vụ Đông các tỉnh Bắc Trung Bộ; 32 - 33% ở vụ Xuân Hè, ĐôngXuân
Hớng sử dụng: KL20-209 có thể trồng các thời vụ: Vụ Đông Xuân: Trồng từ giữa tháng 11 tháng 1 năm
sau Vụ Xuân Hè: Trồng từ tháng 1 đến tháng 4 Vụ Thu Đông, vụ Đông: Trồng từ cuối tháng 8 đến cuốitháng 9 Thời vụ trồng tốt nhất là vụ Xuân Hè
3 Giống khoai lang KLC3
Giống KLC3 có dạng thân nửa đứng, lá hình tim, cây sinh trởng khoẻ, chịu rét khá Thời gian sinh ởng vụ đông 110 - 120 ngày, vụ xuân 130 – 140 ngày Vụ đông có thể cho năng suất 19 - 20 tấn/ha, tỷ lệchất khô củ 29 - 30%, tỷ lệ tinh bột củ đạt 20,9%, năng suất chất khô đạt 5,93 - 6,93 tấn/ha, năng suất tinhbột củ đạt 4,3 - 4,7 tấn/ha KLC3 có chất lợng cảm quan, chất lợng dinh dỡng và chất lợng ăn nếm củ khácao, có 4 - 6 củ/khóm, vỏ củ màu hồng nhạt, thịt củ màu vàng tơi, độ bở và độ ngọt cao, thích hợp cho sảnxuất khoai lang hàng hoá để ăn tơi
tr-B Các giống khoai tây (Solara, Marabel, Sinora, Atlantic)
1 Giống Khoai tây Solara
Thời gian sinh trởng xung quanh 90 ngày, số thân/khóm 4 - 5 thân, số củ/khóm 7 - 10 củ, hình dạngOvan, mắt củ nông, vỏ và ruột củ màu vàng đậm, chất lợng ăn khá, tỷ lệ chất khô 18 - 19%, chống chịubệnh mốc sơng khá, năng suất trung bình 15 - 20 tấn/ha
Là giống trồng phổ biến trong sản xuất hiện nay tại các tỉnh ĐBSH (Thái Bình, Nam Định, Bắc Ninh,Bắc Giang), thích hợp tiêu thụ thị trờng trong nớc
2 Giống khoai tây Marabel
Marabel có đặc điểm chín sớm, năng suất cao, tỷ lệ củ to nhiều (40 - 50%) thời gian sinh tr ởngxung quanh 80 - 85 ngày, số than /khóm 4 - 5 thân, số củ /khóm 7 - 8 củ, hình dạng Ovan, mắt củ nông, vỏ
và ruột củ màu vàng đậm, tỷ lệ chất khô thấp 16 - 17%, chống chịu bệnh mốc s ơng khá, năng suất trungbình 18 - 25 tấn/ha Chất lợng ăn trung bình
Là giống trồng phổ biến trong sản xuất hiện nay tại các tỉnh ĐBSH (Nam Định, Bắc Ninh, BắcGiang), thích hợp tiêu thụ thị trờng trong nớc
3 Giống khoai tây Sinora
Đặc điểm chính của giống
- Thời gian sinh trởng 85 - 90 ngày
- Củ có dạng tròn, cỡ củ lớn, vỏ củ màu vàng, ruột củ vàng đậm, mắt củ nông, có khả năng chốnglại sự va chạm từ bên ngoài
- Mầm củ màu tím, mầm to, khoẻ, một củ có từ 2 - 4 mầm
- Năng suất trung bình đạt từ 25 - 30 tấn /ha
- Chất khô 19,5 - 20%
- Thời gian ngủ nghỉ120 - 130 ngày do đó rất thích hợp cho bảo quản ở kho ánh sáng tán xạ
- Chất lợng ăn nếm ngon
Trang 10- Chống chịu tốt với bệnh mốc sơng, chậm thoái hoá và thích ứng ở điều kiện sản xuất vụ Đông.
Hớng sử dụng: Dùng giống khoai tây Sinora cho mục đích chế biến vì giống khoai tây này có hàm lợng chất khô
cao, hàm lợng đờng khử thấp và không bị đổi màu sau khi rán
4 Giống khoai tây Atlantic
Đặc điểm chính
- Thời gian sinh trởng: Từ 90 - 100 ngày
- Mầm củ: Màu phớt tím, mầm to, mập và khoẻ, mỗi củ có ít nhất từ 2 - 6 mầm/củ
- Dạng cây: Đứng, thân cây mập, thân và lá màu xanh sáng, bản lá mềm và xếp gần nhau, bản lárộng, có nhiều nhánh cấp hai Atlantic ra nhiều hoa ở giai đoạn 45 - 60 ngày sau trồng và hoa màu trắng
- Dạng củ: Tròn, đều củ, cỡ củ lớn, vỏ củ màu vàng nhạt, ruột củ trắng, mắt củ nông, rốn củ sâu, ra
củ tập trung một khóm có trung bình từ 7 - 10 củ và độ dài tia củ ngắn Những củ to thờng có lỗ rỗng ở giữacủ
- Thời gian ngủ nghỉ: Dài 100 - 120 ngày, ít bị hao hụt trong quá trình bảo quản
- Tiềm năng năng suất rất cao 25 - 35 tấn/ha, tỷ lệ cỡ củ thơng phẩm lớn 75 - 80% và hàm lợngchất khô khá cao đạt 20 - 22%
- Atlantic là giống chịu nhiệt tốt, nhng mẫn cảm với bệnh mốc sơng trong điều kiện thời tiết lạnh, mahoặc sơng mù nhiều
Hớng sử dụng:
- Atlantic là một giống khoai tây chất lợng, thích hợp cho chế biến (Chips) công nghiệp
- Giống thích hợp trồng ở đất pha cát, đất thịt nhẹ, trồng đợc ở mật độ cao
C Các giống sắn và dong riềng (KM98-7, Sa06, Sa21-12, DR1)
1 Giống sắn KM98-7
Đặc điểm chính:
- Thời gian sinh trởng: miền Bắc từ 7 - 10 tháng
- Thân nâu đỏ, không phân cành hoặc phân cành 1 cấp
- Phiến lá nhỏ, chia thuỳ sâu, cuống lá và phiến lá màu xanh
- Ruột củ trắng, vỏ củ màu nâu
- Năng suất đạt: 25 - 45 tấn/ha (tuỳ theo điều kiện đất đai và trình độ kỹ thuật canh tác)
- Giống sắn 08Sa06 có tỷ lệ tinh bột và tỷ lệ chất khô cao hơn KM94 khoảng 2%; tỷ lệ tinh bột đạttrên 30%, tỷ lệ chất khô đạt trên 40%
- Năng suất củ tơi đạt 34,5 tấn/ha, cao hơn KM94 từ 15 - 20%
Địa phơng đang áp dụng: Giống Sa06 đang đợc trồng nhiều ở Bắc Kạn và Yên Bái.
- Tỷ lệ tinh bột 28,0% và tỷ lệ chất khô 3,0% tơng đơng với giống sắn KM94
- Năng suất củ tơi Năng suất củ tơi đạt 35 - 40 tấn/ha, cao hơn KM4 từ 10 - 15%
Địa phơng đ áp dụng: ã áp dụng thành công: Giống sắn KM21-12 đã áp dụng thành công: đa trồng thử nghiệm nhiều nơi với quy mô lớn kết quả tốt,diện tích sản xuất thử ở hai huyện Văn Yên - Yên Bái và Na Rì - Bắc Kạn
4 Giống dong riềng DR1
Đặc điểm
- Thời gian sinh trởng ngắn: 250 - 280 ngày
- Giống DR1 sinh trởng phát triển mạnh, cây cao trung bình ít đổ, chiều cao cây trung bình: 165-185 cm Củnạc, đồng đều, ruột trắng đợc nông dân a chuộng
- Năng suất củ tơi đạt: 45 - 60 tấn/ha, hàm lợng tinh bột 13.36 - 16.4%.
- Giống dong riềng DR1 có thể phát triển tốt ở các tỉnh miền núi, trung du và đồng bằng sông Hồng, có khảnăng chịu hạn tốt, chịu rét khá và chống chịu bệnh khô lá
- Khả năng thích ứng rộng, có thể trồng đợc ở nhiều loại đất, kể các các vùng đất nghèo dinh dỡng
Hớng sử dụng: Có thể sử dụng để chế biến tinh bột, ăn tơi hoặc làm thức ăn gia súc, đặc biệt chất lợng củ
DR1 rất thích hợp cho yêu cầu chế biến công nghiệp
Địa chỉ đ áp dụng thành công: ã áp dụng thành công: Quảng Ninh, Bắc Kạn, Lai Châu
Cụng nghệ sản xuất canxi cacbonat dược dụng từ vỏ hàu
ThS Nguyễn Xuõn Thi
Trang 11Nung
Loại tạp sơ bộ
+ H2O
- Thời gian nung (giờ): 10,4 – 10,6
- Thời gian để nguội (giờ): 13-15
- Thời gian rửa (giờ): 0,5
Loại Fe+2, Fe+3
-Nhiệt độ: 900C-pH dung dịch: 5,5-Thời gian (h): 5
- Nhiệt độ phản ứng: 70–750C
- Thời gian phản ứng: 45-50phỳt
- Gớa trị pH: 7
- Tốc độ khuấy đảo:150-200v/p
Viện Nghiờn cứu Hải sản
I ĐẶC ĐIỂM TIẾN BỘ KỸ THUẬT
- Cụng suất: > 10 tấn sản phẩm năm
- Chỉ tiờu kinh tế - kỹ thuật:
đo Đạt tiờu chuẩn theo Dược điển VN IV
1 Can xi cacbonat dược dụng tiờu
8 Magnesi và cỏc kim loại kiềm % < 1,5
9 Mất khối lượng do làm khụ % < 2,0
10 Tớnh chất cảm quan Bột mịn trắng, khụng mựi, khụng tan trong
nước
11 Định tớnh : Chế phẩm phải cho cỏc phộp thử định tớnh
của canxi cacbonat
- Quy trỡnh cụng nghệ sản xuất canxi cacbonat dược dụng từ vỏ hàu
Trang 12CaCO3 tinh khiết
- Thời gian sấy: 9,1 giờ
- Chiều dày CaCO3:3,2cm
II ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
- Giá thành: sản phẩm canxi cacbonat dược dụng từ vỏ hàu: 25.000 – 30.000đ/kg
- So sánh chất lượng sản phẩm canxi cacbonat dược dụng từ vỏ hàu với một số sản phẩm trên thị trường T
SX các loại thuốc
bổ sung canxi)
Là tá dược(nguyên liệu) để
SX các loại thuốc
bổ sung canxi)
Là tá dược(nguyên liệu) để
SX các loại thuốc
bổ sung canxi)
Là tá dược(nguyên liệu) để
Sử dụng nhằm tăng độ mịn và khả năng điều chỉnh độ thẩm thấu; làm chất lưu
Sử dụng nhằm tăng độ mịn và khả năng điều chỉnh độ thẩm thấu; làm chất lưu
Không
Trang 13chuyển mùi thơm;
phụ gia trong chấtnền màu xanh da trời và kem rụng lông;
chuyển mùi thơm;
phụ gia trong chấtnền màu xanh da trời và kem rụng lông;
chuyển mùi thơm;
phụ gia trong chấtnền màu xanh da trời và kem rụng lông;
b Kem đánh răng Tạo độ bền, sự
bám chắc, độ bóng trong kem đánh răng
Tạo độ bền, sự bám chắc, độ bóng trong kem đánh răng
Tạo độ bền, sự bám chắc, độ bóng trong kem đánh răng
Không
- Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và môi truờng
- Tạo ra sản phẩm (can xi cacbonat dược dụng) đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước, thay thế hàng nhậpkhẩu, tiết kiệm ngoại tệ cho Nhà nuớc, Doanh nghiệp
- Giúp các ngành (Y, Dược, Thực phẩm….) chủ động nguồn can xi cacbonat dược dụng
- Sử dụng hợp lý vỏ hầu phế thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường do vỏ hầu gây ra
- Thúc đẩy ngành nuôi hầu phát triển mạnh hơn
- Tạo công ăn việc làm cho người lao động (đặc biệt người dân ven biển)
Ứng dụng thành công chế phẩm sinh học trừ rầy nâu hại lúa
Rầy nâu là loài sâu hại gây ra những thiệt hại nặng nề trong sản xuất nông nghiệp Những khó khăntrong công tác phòng trừ rầy nâu đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, môi trường
và cuộc sống của người nông dân Từ thực tế đó, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tỉnh NamĐịnh đã hoàn thiện công nghệ sản xuất, ứng dụng chế phẩm sinh học trừ rầy nâu hại lúa Đây là dự án thuộc
"Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triểnnông thôn đến năm 2020"
Rầy hại lúa có nhiều loài khác nhau như rầy xám, rầy nâu, rầy xanh, rầy lưng trắng, rầy xanh đuôi đen.Tuy nhiên, rầy nâu là loài gây hại nguy hiểm nhất Vòng đời rầy nâu từ 25 - 30 ngày, nhiệt độ môi trường càngcao thì vòng đời càng ngắn, một con cái trưởng thành có thể đẻ 150 - 250 quả trứng Vì vậy, tốc độ phát sinh cáthể rầy trên đồng ruộng là rất lớn Con trưởng thành và con non đều có khả năng gây hại cho cây bằng cáchchích hút dịch nhựa cây ở dảnh hoặc lá lúa Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc hút dịch nhựa gây hại lúa thì rầynâu không được xếp vào loại sâu hại đặc biệt nguy hiểm Thông qua việc chích hút nhựa cây, rầy nâu đã trởthành vật truyền các loại bệnh vi rút trên lúa như vàng lùn, lùn xoắn lá
Bệnh này làm cho lá chuyển màu vàng nhạt hoặc vàng da cam, cây lúa không phát triển được Thiệt hạicủa loại bệnh này rất nghiêm trọng Ở nước ta đã từng xảy ra đại dịch vàng lùn, lùn xoắn lá ở cả 3 miền, gâythiệt hại cho hàng chục nghìn ha lúa Tại Nam Định, vụ mùa năm 2009 đã xảy ra dịch vàng lùn, lùn xoắn lá trênhầu hết các địa phương với 19.000 ha lúa bị nhiễm bệnh, trong đó hơn 7.031 ha không cho thu hoạch, thiệt hại
vô cùng lớn
Mặc dù rầy nâu nguy hiểm song công tác phòng trừ gặp rất nhiều khó khăn Rầy nâu có phản ứng kháng,nhiễm với các giống lúa kháng rầy và thuốc bảo vệ thực vật rất rõ Trên đồng ruộng, khi gặp điều kiện bất lợi,chúng có khả năng nhanh chóng hình thành các nòi sinh học với khả năng chống chịu và thích nghi cao Quanhiều nghiên cứu cho thấy, một vài loại thuốc trừ sâu còn làm tăng khả năng sinh sản và khả năng sống sót củarầy nâu Ở đồng ruộng, khi gặp điều kiện thuận lợi về thức ăn và môi trường sống thì loại rầy không cánh xuấthiện với tỷ lệ cao, khi gặp điều kiện bất lợi, xuất hiện rầy có cánh tỷ lệ lớn và chúng có thể bay đi phát tán sangnhững vùng khác, tiếp tục gây hại
Nam Định là tỉnh nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp khoảng 106.000 ha trong đó chủ yếu là đấttrồng lúa Để đối phó với rầy nâu, bà con chủ yếu sử dụng biện pháp phun thuốc hóa học Mỗi vụ lúa phun từ 2 –
Trang 143 lần gây ảnh hưởng lớn đến môi trường và sức khỏe con người Với diện tích gieo trồng lúa (tính cả năm) là106.000 ha thì lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng hàng năm khoảng 500 tấn, đây là nguồn hóa chất rất độc hại,
có ảnh hưởng lâu dài cho con người, môi trường Để hạn chế tác hại của rầy nâu, ngành bảo vệ thực vật đãkhuyến cáo người dân phải áp dụng nhiều giải pháp một cách đồng bộ như: áp dụng các biện pháp canh tác (sửdụng các biện pháp vệ sinh đồng ruộng, bón phân cân đối, mùa vụ thích hợp để hạn chế phát sinh rầy), sử dụnggiống kháng rầy, sử dụng thuốc hóa học trừ rầy… tuy nhiên hiệu quả trừ rầy không cao lại gây ra những hậu quả
to lớn cho môi truờng và con người
Năm 2012, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ Nam Định (Sở Khoa học và Công nghệNam Định) đề xuất và được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao chủ trì thực hiện dự án “Hoàn thiệncông nghệ sản xuất, ứng dụng chế phẩm sinh học trừ rầy nâu hại lúa tại Nam Định” Theo nội dung được duyệt,Trung tâm tổ chức sản xuất chế phẩm sinh học trừ rầy nâu hại lúa theo công nghệ do Viện Bảo vệ thực vậtchuyển giao và hoàn thiện Đến nửa đầu năm 2014, Trung tâm đã hoàn thiện quy trình công nghệ do Viện bảo vệthực vật chuyển giao, sản xuất được 3 tấn chế phẩm để triển khai ứng dụng cho 3 mô hình tại Hải Hậu, XuânTrường, Vụ Bản với tổng diện tích ứng dụng chế phẩm là 17 ha Trong vụ đầu tiên ứng dụng, kết quả theo dõicho thấy, với diện tích lúa sử dụng chế phẩm sinh học, người dân chỉ phải phun tối đa 2 lần/vụ Kết quả đạt đượcrất khả quan với 100% diện tích ứng dụng đã khống chế được rầy nâu, quy trình sử dụng chế đơn giản và khôngảnh hưởng đến sức khỏe người phun, không gây ô nhiễm môi trường, năng suất lúa ổn định
Ông Hoàng Mạnh Cường, Phó Giám đốc Trung tâm cho biết, kết quả thành công bước đầu sau khi sửdụng chế phẩm đã khiến người dân tại các mô hình hoàn toàn yên tâm khi sử dụng, chính quyền địa phươngmong muốn được tiếp tục mở rộng diện tích ứng dụng chế phẩm Trung tâm sẽ tiếp tục sản xuất chế phẩm cungcấp cho người dân sử dụng đồng thời tổ chức các lớp tập huấn để tuyên truyền, có các chính sách hỗ trợ nhânrộng diện tích sử dụng chế phẩm Đây cũng là cụ thể hóa định hướng ứng dụng công nghệ sinh học và các sảnphẩm an toàn trong sản xuất nông nghiệp theo nội dung các Nghị quyết của tỉnh đề ra Việc sản xuất và ứngdụng chế phẩm sẽ góp phần hạn chế lượng thuốc hoá học sử dụng trừ sâu trên đồng ruộng, tạo sản phẩm an toànchất lượng cao cho các vùng sản xuất nông sản hàng hoá
Chủ trương của Nhà nước hiện nay là phát triển các sản phẩm an toàn phục vụ sản xuất, đời sống và bảo
vệ môi trường Việc quá lạm dụng thuốc hóa học trong sản xuất nông nghiệp đã gây nhiều ảnh hưởng tiêu cựctrong đời sống xã hội như nông sản nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏengười tiêu dùng Dự án “Hoàn thiện công nghệ sản xuất, ứng dụng chế phẩm sinh học trừ rầy nâu hại lúa tạiNam Định” sẽ góp phần cụ thể hóa chủ trương của Nhà nước về sản xuất nông nghiệp an toàn Sử dụng chếphẩm trong quá trình sản xuất sẽ góp phần giảm thiểu độc hại do sử dụng hóa chất trong nông sản, bảo vệ môitrường, bảo vệ sức khỏe người lao động và người tiêu dùng nông sản
Thùy Dung
Ngô biến đổi gen đầu tiên được cấp chứng nhận an toàn sinh học
Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa chính thức ký Quyết định cấp Giấy chứng nhận An toàn sinh học cho sản phẩm ngô biến đổi gen MON 89034 (hay còn gọi là giống ngô biến đổi gen mang sự kiện MON 89034) của công ty trách nhiệm hữu hạn Dekalb Việt Nam, thuộc tập đoàn Monsanto của Hoa Kỳ.
Trước đó, giống ngô biến đổi gen MON 89034 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cấpGiấy chứng nhận đủ điều kiện làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi Như vậy MON 89034 cũng là sản phẩm ngôbiến đổi đầu tiên và duy nhất nhận được đầy đủ hai giấy chứng nhận an toàn sinh học và giấy an toàn thực phẩm
và thức ăn chăn nuôi tính đến thời điểm này
Thông tin từ Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, để được cấp Giấy chứng nhận an toàn sinh học, mỗisản phẩm biến đổi gen cần được xem xét và đánh giá rủi ro kỹ lưỡng bởi tổ chuyên gia và phải được chấp thuậnbởi Hội đồng an toàn sinh học Quốc gia là an toàn đối với môi trường và đa dạng sinh học theo đúng trình tự quyđịnh
Trước khi được cấp Giấy chứng nhận an toàn sinh học tại Việt Nam, sự kiện MON 89034 đã được cấpchứng nhận ATSH tại 8 quốc gia trên thế giới, bao gồm: Canađa (2008), Hoa Kỳ (2008), Nhật Bản (2008),Brazil (2009), Argentina (2010), Nam Phi (2010), Phillipin (2010) và Honduras (2010)
Mặt khác, ứng dụng cây trồng biến đổi gen đã được chứng minh đem lại hiệu quả kinh tế xã hội môitrường tích cực đối với nhiều quốc gia trên thế giới
Trang 15Cụ thể, từ năm 1996 đến 2012, cây trồng biến đổi gen đã đem lại hơn 100 tỷ USD lợi ích kinh tế lũy kếcho toàn cầu và góp phần giảm 503 triệu kilôgam thuốc trừ sâu
Trong giấy chứng nhận An toàn sinh học vừa cấp cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Dekalb, Bộ Tàinguyên và Môi trường cũng yêu cầu công ty này thực hiện việc giám sát an toàn sinh học định kỳ 1 năm/lần vàbáo cáo với Bộ Tài nguyên và Môi trường
Đặc biệt, khi có thông tin khoa học mới về rủi ro, tác động bất lợi hoặc khi xảy ra sự cố đối với môitrường và đa dạng sinh học thì các đơn vị phải báo cáo ngay với các cơ quan chức năng và có biện pháp khắcphục
Giống ngô MON 89034 là sản phẩm biến đổi gen có tác dụng kháng sâu hại bộ cánh vảy, với công nghệ gen cải tiến này giúp cây trồng có thể kiểm soát đồng thời ba loại sâu hại chủ yếu trên cây ngô đó là
sâu đục thân ngô (Ostrinia furnacalis), sâu đục bắp (Helicoverpa armigera) và sâu khoang (Spodoptera litura).
Giống ngô biến đổi gen MON 89034 còn giúp tăng cường hiệu quả kiểm soát hơn sự hình thành tính kháng ở côn trùng chủ đích, về lâu dài nhờ tác động “cộng gộp” trong kiểm soát sâu hại và giảm bớt thiệt hại năng suất do sâu hại cũng như các ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người.
Các viện nghiên cứu Pháp, Canada, Trung Quốc và Mỹ tiết lộ rằng gien hạt cải dầu (Brassica napus) có
chứa một số lượng lớn các gien - hơn 100.000 gien - do thực tế là nó xuất phát từ một sự hợp nhất giữa hai loài
là Brassica rapa (cải bắp Trung Quốc) và Brassica oleracea, một giống cây trồng bao gồm bông cải xanh, súp lơ,cải bruxen, cải xoăn và những cây khác
Haibao Tang, một trong những tác giả của nghiên cứu cho biết, bộ gien hạt cải dầu có một lịch sử rất thú
vị Trong quá trình tiến hóa, mỗi gien của bộ gien có 4 bản sao Trong nghiên cứu này, chúng ta xem xét những
gì đã xảy ra trong quá trình tiến hóa Ví dụ, những gien nào đã xuất hiện và những gien nào bị mất đi
Lyons, nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Arizona cho biết: “Vị đắng trong một số giống như bôngcải xanh hoặc cải bruxen xuất phát từ một các hợp chất được gọi là glucosinolate và chúng tôi nhận thấy chínhxác những gien mã hóa những hợp chất này đã bị mất đi từ hệ gien của hạt cải dầu”
Việc xác định trình tự gien giúp các nhà khoa học và các nhà lai tạo giống cây trồng hiểu rõ về conđường trao đổi chất của thực vật Ví dụ, họ có thể tạo ra một giống cây bông cải xanh không bị đắng hoặc điềuchỉnh con đường sinh tổng hợp lipit để thay đổi hàm lượng dầu trong hạt cải dầu
Việc hoàn thành công trình nghiên cứu xác định trình tự hệ gien của hạt cải dầu bắt nguồn từ sự hợp táclâu dài giữa nhà nghiên cứu Lyon và Tang Hiện nay, phần mềm CoGe và iPlant và đang được sử dụng để phântích 23.000 bộ gien của 17.000 sinh vật Lyons cho biết: “Chúng tôi hiện đang tham gia vào việc phân tích bộgien của các loài chim, côn trùng, ong, bò, cá, lợn, ngựa và nhiều loài thực vật Các công cụ mà chúng tôi đãphát triển vài năm qua đã trở thành một công cụ tin sinh học quan trọng dành cho các nghiên cứu về hệ sinhthái”
Trang 16Bà Alice Weaver, nhà nghiên cứu về Động vật và Khoa học thú y cho biết, lợn nái thường không độngdục trở lại trong thời gian cho con bú, chúng chỉ động dục trở lại sau khi lợn con đã được cai sữa Trong chănnuôi lợn, điều này có nghĩa là việc giảm thời gian bú mẹ của lợn con sẽ giúp tối đa hóa số lứa đẻ của lợn nái mỗinăm Tuy nhiên, lợn con cai sữa sớm thường không phát triển mạnh với mức tăng trưởng giảm và thường bị mắcbệnh tiêu chảy thông thường.
Nghiên cứu của bà Weaver tiến hành xem xét liệu quá trình động dục có thể được kích thích trở lại trongkhi lợn nái vẫn cho con bú hay không để lợn nái có thể giao phối trước khi lợn con được cai sữa Dự án của bàđược thực hiện dưới sự giám sát của Tiến sĩ Will van Wettere, người đứng đầu một số dự án nghiên cứu trongviệc cải thiện khả năng sinh sản của lợn và tuổi thọ trung bình của lợn con
Các nhóm lợn nái trắng Landrace khác nhau đã được thiết lập bao gồm nhóm lợn nái cai sữa sớm vàongày thứ bảy sau khi sinh và nhóm lợn nái cai sữa vào ngày 26 sau khi sinh Các nhóm lợn nái được tiếp xúchàng ngày với lợn đực từ ngày thứ 7 sau khi sinh
Bà Weaver cho biết, nghiên cứu cho thấy rằng việc cho lợn nái tiếp xúc hàng ngày với lợn đực trưởngthành 7 ngày sau khi sinh là đủ để kích thích động dục cho dù lợn vẫn còn đang cho con bú Thời gian cho lợncon bú mẹ có thể được tăng lên trong khi lợn nái vẫn có thể đẻ trung bình 2,4 lứa một năm Điều này rất quantrọng đối với ngành chăn nuôi lợn, giúp cải thiện tốc độ tăng trưởng sau cai sữa và khả năng sống sót của lợncon Hầu hết lợn con ở Ôxtrâylia được cai sữa 24 ngày sau khi đẻ Nếu khoảng thời gian này tăng lên ít nhất 30ngày, khoảng thời gian tăng thêm sẽ có lợi ích đáng kể cho lợn con
Các nhà khoa học đang tiếp tục nghiên cứu xem liệu có bất kỳ tác động tiêu cực nào đến lứa lợn sau vốn
sẽ được hình thành trong khi lợn nái vẫn cho lứa lợn trước bú sữa hay không
N.N Nguồn: phys.org
Ứng dụng khoa học kỹ thuật nâng cao chất lượng sản phẩm
Đổi mới nghiên cứu ứng dụng, đưa công nghệ vào sản xuất là việc làm được các doanh nghiệp tỉnh Kiên Giang
áp dụng để nâng cao năng suất, chất lượng, tăng sức cạnh tranh sản phẩm hàng hóa trên thị trường
Kiên Giang hiện có gần 10.800 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Đa số các cơ sở có quy mô sản xuất lớn
đã đầu tư dây chuyền máy móc, thiết bị và quy trình sản xuất đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Theo đánh giácủa ngành công thương, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư, ứng dụng khoa học công nghệ vào chế biến và bảo quản,góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, đáp ứng cơ bản nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu
Ở lĩnh vực sản xuất xi măng, hầu hết các doanh nghiệp đã áp dụng công nghệ lò quay, sử dụng phương pháp kỹthuật khô và áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001/2000 Lĩnh vực chế biến thủy sản, các doanh nghiệp đầu tư đổi mớicông nghệ lắp đặt máy móc đổi mới tiên tiến, hiện đại với công nghệ đông nhanh IQF, tủ đông, kho trữ đông bảođảm an toàn vệ sinh thực phẩm, đạt tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn xuất khẩu thủy sản vào thị trường EU,
Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Nga Các doanh nghiệp chế biến khô đổi mới phương pháp sản xuất từ phơi sấy dưới ánhmặt trời chuyển sang phương pháp sấy khô bằng lò gas, sấy điện Lĩnh vực sản xuất nước mắm cũng được đầu tư
hệ thống xử lý và lọc đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm và xử lý nhiệt khép kín
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn trang bị thêm kho chứa, băng tải, tiếp tải lúa gạo từ ghe lên nhà máy vàngược lại, từ đó góp phần nâng cao năng suất, giảm chi phí sản xuất Các doanh nghiệp cơ khí đã đầu tư máy
Trang 17điện, hệ thống đúc chân vịt bằng điện, điện tử, đáp ứng tốt nhu cầu về chất lượng sản phẩm cho các phương tiện
đánh bắt hải sản trong và ngoài tỉnh / L.S
Tình trạng khan hiếm nước có thể giảm vào năm 2050
Khan hiếm nước không phải là một vấn đề chỉ xảy ra ở các nước đang phát triển Tại California, các nhàlập pháp đang đề xuất một kế hoạch khẩn cấp 7,5 tỷ USD nhằm giảm thiểu tình trạng khan hiếm nước Mỹ vàcác quan chức liên bang năm ngoái đã cảnh báo cư dân của Arizona và Nevada rằng họ có thể phải đối mặt vớitình trạng cắt giảm nước vào năm 2016
Kỹ thuật tưới tiêu kết hợp với biến đổi khí hậu là một trong những nguyên nhân gốc rễ của vấn đề Theocác nhà nghiên cứu từ McGill và Đại học Utrecht, tình hình có thể xoay chuyển và tình trạng khan hiếm nước cóthể giảm đáng kể chỉ trong vòng 35 năm
Các nhà nghiên cứu đã phác thảo các chiến lược trong sáu lĩnh vực chính mà họ tin rằng có thể được kếthợp theo nhiều cách khác nhau tại các vùng khác nhau trên thế giới giúp làm giảm sự căng thẳng về nước Theođịnh nghĩa, tình trạng căng thẳng về nước được coi là xảy ra tại một khu vực mà lượng nước có sẵn từ các consông bị giảm hơn 40% - một tình huống hiện đang ảnh hưởng đến khoảng một phần ba dân số thế giới và có thểảnh hưởng đến hơn một nửa số dân trên thế giới vào cuối thế kỷ nếu mô hình sử dụng nước hiện tại tiếp diễn
Các giải pháp đề xuất bao gồm các giải pháp “cứng” như xây dựng hồ chứa và tăng cường những nỗ lựckhử muối từ nước biển, và các giải pháp “mềm” như tập trung vào việc giảm nhu cầu về nước thay vì tăng nguồncung cấp nước kết hợp với công nghệ hiệu quả và các biện pháp bảo vệ môi trường Các nhà nghiên cứu tin rằngtrong khi có một số yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội có thể làm cho một số giải pháp “mềm” khó thực hiện, cácgiải pháp này vẫn mang tính thực tế hơn trong việc giảm căng thẳng về nước
Giáo sư Tom Gleeson cho biết: “Không có giải pháp nào tối ưu nhất để giải quyết vấn đề căng thẳng vềnước trên toàn thế giới Tuy nhiên, khi nhìn nhận vấn đề trên quy mô toàn cầu, chúng tôi đã tính toán rằng nếu 4trong số những chiến lược đề xuất được áp dụng cùng một lúc, chúng ta hoàn toàn có thể giảm thiểu tình trạngcăng thẳng về nước hiện nay”
Chiến lược được đề xuất để giảm căng thẳng về nước đó là:
Biện pháp “mềm”:
1 Hiệu suất sử dụng nước trong nông nghiệp có thể được cải thiện ở các lưu vực nơi nông nghiệp phụthuộc vào tưới tiêu Mục tiêu giảm gần 2% số dân trong tình trạng căng thẳng về nước vào năm 2050hoàn toàn có thể đạt được với việc trồng các giống mới hoặc tăng cường hiệu quả của việc sử dụng cácchất dinh dưỡng trong nông nghiệp Biện pháp này bao gồm hiệu quả từ việc sử dụng các giống câytrồng biến đổi gien
2 Hiệu quả tưới tiêu cũng có thể được cải thiện ở các lưu vực nông nghiệp vốn phụ thuộc vào tưới tiêu Sựthay đổi sang hình thức tưới tiêu sử dụng vòi phun nước nhỏ giọt có thể giúp đạt được mục tiêu này,nhưng chi phí đầu tư là quan trọng và tình trạng đất nhiễm mặn có thể xảy ra
3 Hạn chế tốc độ tăng trưởng dân số có thể giúp giảm thiểu tình trạng căng thẳng về nước nhưng dân sốvào năm 2050 phải đạt dưới 8,5 tỷ người, điều này rất khó đạt được với xu hướng tăng dân số hiện tại
“Biện pháp cứng”:
1 Về nguyên tắc, việc tăng lượng nước lưu trữ trong hồ chứa có thể làm giảm tình trạng căng thẳng vềnước tại tất cả các lưu vực có hồ chứa Một chiến lược như vậy sẽ đòi hỏi thêm 600 km3 dung tích hồchứa bằng cách tăng diện tích các hồ chứa hiện có, hạn chế bồi lắng hoặc xây dựng các hồ chứa mới.Chiến lược này sẽ yêu cầu vốn đầu tư đáng kể và có thể có tác động tiêu cực đến sinh thái và xã hội
2 Việc khử muối nước biển có thể được đẩy mạnh ở các lưu vực căng thẳng về nước ở ven biển bằng cáchtăng số lượng hoặc năng lực của các nhà máy khử muối Giải pháp này cần vốn và chi phí năng lượngđáng kể và quá trình khử muối sẽ tạo ra nước thải cần phải được xử lý một cách an toàn
N.N Nguồn: phys.org
Các nhà nghiên cứu xác định một pheromone trong nước tiểu của cá
rô phi đực kích thích sinh sản ở cá cái