Song hiện nay, đời sống của đồng bào các dân tộc Định Hoá và Võ Nhai còn gặp nhiều khó khăn, sản xuất phát triển chậm, số hộ nghèo đói còn khá cao so với toàn tỉnh, xuất phát từ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN ANH TÚ
GIẢI PHÁP KINH TẾ XÃ HỘI NHẰM
GIẢM NGHÈO VÀ CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG SỐNG
CHO NGƯỜI DÂN NGHÈO KHU VỰC MIỀN NÚI
TỈNH THÁI NGUYÊN Chuyên ngành : KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số: 60.31.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ GẤM
THÁI NGUYÊN - 2010
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên” được
thực hiện từ tháng 6/2008 đến tháng 6/2010 Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Các thông tin này đã được chỉ rõ nguồn gốc , đa số thông tin thu thập từ điều tra thực tế ở địa phương, số liệu đã được tổng hợp và
xử lý trên phần mềm thống kê SPSS 15
Tôi xin cam đoan rằng , số liệu và kết quả nghiên cứu trong lu ận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và mọi thông tin trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, năm 2010
Nguyễn Anh Tú
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu,
Khoa Sau Đại học, Phòng Đào tạo cùng các thầy, cô giáo trong trường Đại học
Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Đại học Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, tạo
mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Đặc biệt xin chân thành cảm ơn TS.Nguyễn Thị Gấm đã trực tiếp hướng
dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, lãnh đạo Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Thái
Nguyên, Sở Công thương, Cục Thống kê, Sở Lao động - Thương binh - Xã hội,
Sở Tài nguyên - Môi trường, Sở Khoa học - Công nghệ, Cục Thuế tỉnh Thái
Nguyên, Phòng Thống kê, Phòng Lao động - Thương binh xã hội các huyện
Định Hoá và Võ Nhai và các hộ gia đình trong mẫu điều tra đã tạo mọi điều kiện
giúp đỡ khi điều tra tài liệu, số liệu để thực hiện luận văn này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan, gia đình, bạn bè đồng nghiệp
đã luôn động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2010
Tác giả luận văn
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng, biểu, biểu đồ, sơ đồ vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 4
5 Bố cục của đề tài 4
CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
1.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5
1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 16
1.2 Phương pháp nghiên cứu 37
1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 37
1.2.2 Các phương pháp nghiên cứu 37
1.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 41
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG SỐNG CHO NGƯỜI NGHÈO KHU VỰC MIỀN NÚI TỈNH THÁI NGUYÊN 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 42
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 42
2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội 48
2.1.3 Đánh giá tình hình chung 57
2.2 Kết quả thực hiện xoá đói giảm nghèo tỉnh Thái Nguyên 58
Trang 32.2.1 Đối với tỉnh Thái Nguyên 58
2.2.2 Thực trạng nghèo đói tại địa bàn nghiên cứu 59
2.3 Đánh giá thực trạng đói nghèo ở khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên 61
2.3.1 Nguồn lực của hộ gia đình trong mẫu điều tra 61
2.3.2 Một số chỉ tiêu về điều kiện sinh hoạt của nhóm hộ điều tra 69
2.3.3 Nguồn lực đất đai 70
2.3.4 Thu nhập bình quân từ của hai nhóm hộ 71
2.3.5 Cơ cấu các nguồn thu nhập 74
2.3.6 Đầu tư cho trồng trọt 76
2.3.7 Đầu tư cho chăn nuôi 78
2.3.8 Các chi phí trong năm của nhóm hộ nghiên cứu 79
2.3.9 Khả năng tiếp cận và sử dụng vốn vay của hai nhóm hộ 82
2.4 Các khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế hộ 84
2.4.1 Đối với tiêu chí đất trồng lúa 86
2.4.2 Đối với tiêu chí về lao động 87
2.4.3 Đối với tiêu chí về nguồn vốn 88
2.4.4 Đối với tiêu chí về thông tin khoa học kỹ thuật 90
2.4.5 Đối với tiêu chí nguồn nước tưới cho cây trồng 91
2.5 Thực trạng bảo vệ và cải thiện môi trường sống 94
2.5.1 Hiện trạng xử lý rác thải 95
2.5.2 Xử lý vỏ các loại thuốc bảo vệ thực vật 95
2.5.3 Xử lý phân gia súc, gia cầm 97
2.5.4 Điều kiện nhà vệ sinh nông thôn 98
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO CÁC HỘ NGHÈO Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 3.1 Phương hướng phát triển kinh tế xã hội cho hộ nghèo khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên 100
3.2 Nhóm giải pháp đối với các cơ quan chức năng 102
3.3 Nhóm giải pháp đối với các hộ gia đình 105
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 Kết luận 109
2 Một số kiến nghị 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 1 2
PHỤ LỤC 2 18
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 BVTV Bảo vệ thực vật
2 CNH-HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
3 CFC Chlorofluorocarbon
4 HĐND Hội đồng nhân dân
5 HTX Hợp tác xã
6 ILO Tổ chức lao động quốc tế
7 ISO Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế
8 TC 207 Ủy ban kỹ thuật 207
9 UBND Ủy ban nhân dân
10 UNDP Chương trình hỗ trợ phát triển của Liên Hiệp Quốc
11 UNEP Chương trình môi trường
12 WB Ngân hàng thế giới
13 WCED Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1.1: Tình hình nghèo đói theo vùng ở Việt Nam, giai đoạn 2007-2009 24
Bảng 1.2: Số lượng và địa điểm điều tra kinh tế hộ năm 2009 37
Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Thái Nguyên năm 2009 45
Bảng 2.2: Dân số và lao động của tỉnh Thái Nguyên năm 2009 48
Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu cơ bản về kinh tế của tỉnh Thái Nguyên 50
Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu cơ bản về giáo dục tỉnh Thái Nguyên năm 2009 52
Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu cơ bản về y tế của tỉnh Thái Nguyên 53
Bảng 2.6: Thực trạng nghèo đói của tỉnh Thái Nguyên 58
Bảng 2.7: Tỷ lệ số hộ nghèo tại địa bàn nghiên cứu 60
Bảng 2.8: Thông tin chung về chủ hộ 62
Bảng 2.9: Khả năng về vốn bằng tiền của chủ hộ 64
Bảng 2.10: Thống kê về số lượng vật nuôi của hai nhóm hộ nghiên cứu 68
Bảng 2.11: Thông tin chung về chủ hộ 69
Bảng 2.12: Nguồn lực đất đai của hộ 70
Bảng 2.13: Thu nhập bình quân của hai nhóm hộ 71
Bảng 2.14: Chi phí cho hoạt động trồng lúa của hai nhóm hộ 77
Bảng 2.15: Các khó khăn trong phát triển kinh tế hộ 85
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu 2.1: Bảng thống kê các tài sản thiết yếu 67
Biểu 2.2 Cơ cấu các nguồn thu nhập 75
Biểu 2 3: Chi phí bình quân về chăn nuôi 78
Biểu 2.4: Các khoản chi phí cho cuộc sống 80
Biểu 2.5: Các khoản chi phí cho các hoạt động xã hội 81
Biểu 2.6: Số lượng và quy mô các khoản vay 82
Biểu 2.7: Phân bổ vốn vay trong sản xuất kinh doanh 83
Biểu 2 8: Giải quyết khi hộ không có đủ đất trồng lúa 86
Biểu 2.9 : Phương án xử lý khi hộ thiếu lao động 88
Biểu 2.10: Phương án xử lý khi hộ thiếu vốn 89
Biểu 2.11: Phương án xử lý khi hộ thiếu thông tin khoa học kỹ thuật 90
Biểu 2.12: Phương án xử lý khi hộ thiếu nguồn nước 92
Biểu 2.13: Sử lý rác thải sinh hoạt hàng ngày 95
Biểu 2.14: Xử lý vỏ chai, lọ thuốc trừ sâu 96
Biểu 2 15: Các hình thức xử lý phân gia súc, gia cầm 97
Biểu 2.16: Điều kiện nhà vệ sinh của hai nhóm hộ 98
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử của xã hội loài người, đặc biệt từ khi có giai cấp đến nay, vấn
đề phân biệt giàu nghèo đã xuất hiện và đang tồn tại như một thách thức lớn đối
với phát triển bền vững của từng quốc gia, từng khu vực và toàn bộ nền văn
minh hiện đại Đói nghèo và tấn công chống đói nghèo luôn là mối quan tâm
hàng đầu của các quốc gia trên thế giới, bởi vì giàu mạnh gắn liền với sự hưng
thịnh của một quốc gia Đói nghèo thường gây ra xung đột chính trị, xung đột
giai cấp, dẫn đến bất ổn định về xã hội, bất ổn về chính trị Mọi dân tộc tuy có
thể khác nhau về khuynh hướng chính trị, nhưng đều có một mục tiêu là làm thế
nào để quốc gia mình, dân tộc mình giàu có Trong thực tế ở một số nước cho
thấy khi kinh tế càng phát triển nhanh bao nhiêu, năng suất lao động càng cao
bao nhiêu thì tình trạng đói nghèo của một bộ phận dân cư lại càng bức xúc và
có nguy cơ dẫn đến xung đột
Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh đã thúc đẩy nhanh hơn
quá trình phát triển không đồng đều, làm sâu sắc thêm sự phân hoá giữa các tầng
lớp dân cư trong quốc gia Khoảng cách về mức thu nhập của người nghèo so
với người giàu càng ngày càng có xu hướng rộng ra đang là một vấn đề có tính
toàn cầu, nó thể hiện qua tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, về
nạn đói, nạn suy dinh dưỡng vẫn đang đeo đẳng gần 1/3 dân số thế giới
Nhân loại đã bước sang thế kỷ 21 và đã đạt được nhiều tiến bộ vượt bậc
trên nhiều lĩnh vực như khoa học công nghệ, phát triển kinh tế, nhưng vẫn phải
đối mặt với một thực trạng nhức nhối Đó là nạn đói nghèo vẫn còn chiếm một
tỷ lệ đáng kể ở nhiều nước mà nổi bật là ở những quốc gia đang phát triển Ở
Việt Nam từ khi có đường lối đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế vận hành theo cơ
thị trường có sự điều tiết của nhà nước, tuy nền kinh tế có phát triển mạnh, tốc
độ tăng trưởng hàng năm là khá cao, nhưng đồng thời cũng phải đương đầu với
vấn đề phân hoá giàu nghèo, hố ngăn cách giữa bộ phận dân cư giàu và nghèo đang có chiều hướng mở rộng nhất là giữa các vùng có điều kiện thuận lợi so với những vùng khó khăn, trình độ dân trí thấp như vùng sâu vùng xa Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương hỗ trợ đối với những vùng gặp khó khăn, những hộ gặp rủi ro vươn lên xoá đói giảm nghèo nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc Trong những năm qua tình hình kinh tế - xã hội đã có nhiều tiến bộ đáng kể Tuy nhiên, ở khu vực miền núi cao của tỉnh, đời sống của người dân vẫn còn nhiều khó khăn, thu nhập thấp Do vậy, xoá đói giảm nghèo vẫn là một công tác đòi hỏi Tỉnh Thái Nguyên phải tiến hành thường xuyên, liên tục, trong đó Định Hoá và Võ Nhai là hai huyện miền núi của Tỉnh Thái Nguyên, có 8 dân tộc cùng sinh sống Định Hoá là trung tâm của An toàn khu (ATK) Trung Ương trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Nhân dân các dân tộc huyện Định Hoá đã phát huy truyền thống cách mạng góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, đưa đến thắng lợi của kháng chiến chống Pháp Ngày nay, ATK Định Hoá là một trong những khu di tích lịch sử có tầm quan trọng của dân tộc Việt Nam Song hiện nay, đời sống của đồng bào các dân tộc Định Hoá và Võ Nhai còn gặp nhiều khó khăn, sản xuất phát triển chậm, số hộ nghèo đói còn khá cao
so với toàn tỉnh, xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài “Giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của đề tài nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo và cải thiện môi trường sống, nâng cao đời sống cho các hộ gia đình dân tộc miền núi Tỉnh Thái Nguyên
Trang 72.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá được những vấn đề lý luận và thực tiễn về nghèo đói
- Đánh giá được thực trạng nghèo đói của hộ gia đình các dân tộc miền núi tỉnh
Thái Nguyên
- Chỉ ra được những nguyên nhân chính dẫn đến nghèo đói của hộ gia đình
các dân tộc miền núi tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất được một số giải pháp kinh tế xã hội nhằm xoá đói giảm nghèo
và cải thiện môi trường sống cho đồng bào dân tộc miền núi tỉnh Thái Nguyên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình sản xuất, tình trạng đói nghèo
và môi trường sống của các hộ gia đình khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.2.1 Không gian nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu tại Huyện Định Hoá và Võ Nhai - Tỉnh Thái Nguyên
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những số liệu sơ cấp được điều tra vào tháng
12 năm 2009 và số liệu thứ cấp thời kỳ 2007 – 2009
3.2.3 Nội dung nghiên cứu
Đề tài được giới hạn trong phân tích nguyên nhân kinh dẫn đến nghèo đói
và cải thiện môi trường sống của các hộ gia đình khu vực miền núi tỉnh Thái
Nguyên, qua đó đề xuất một số giải pháp cơ bản Giới hạn nghiên cứu của đề tài
nghiên cứu: Thứ nhất, đối với vấn đề đói nghèo bao gồm: Các nguồn lực chủ
yếu trong phát triển kinh tế hộ: Đất đai, lao động, tài chính, khuyến nông, nguồn
nước Thức hai, đối với vấn đề cải thiện môi trường sống gồm có: Xử lý rác thải
trong sinh hoạt hàng ngày, vỏ chai thuốc trừ sâu, phân gia súc gia cầm, điều kiện
nhà vệ sinh Trong phạm vi của đề tài: Môi trường sống của người dân được
nghiên cứu là môi trường tự nhiên chỉ bao gồm nguồn nước và đất đai Môi trường này được đánh giá trong mối liên hệ mật thiết với đời sống của người dân khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, là tài liệu giúp cho UBND huyện Định Hoá và Võ Nhai nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung xây dựng và thực hiện các giải pháp xoá đói, giảm nghèo và bảo vệ môi trường sống cho người dân khu vực miền núi
5 Bố cục của đề tài
Bố cục của đề tài: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham
khảo, luận văn được chia thành 3 chương cụ thể như sau:
Chương I: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu Chương II: Thực trạng xoá đói giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người nghèo khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên
Chương III: Một số giải pháp nhằm xoá đói giảm nghèo và cải thiện môi trường sống cho người nghèo khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên
Trang 8CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1.1 Khái niệm về nghèo đói
Nghèo đói là một khái niệm mang tính chất động, nó biến đổi tuỳ thuộc vào
không gian, thời gian và xuất phát điểm của mỗi địa phương, mỗi quốc gia Tuỳ
thuộc vào từng quốc gia, từng thời điểm khác nhau, cũng như quan điểm nghiên
cứu khác nhau mà nghèo đói được phát biểu khác nhau Sau đây là các quan
điểm tiếp cận vấn đề nghèo đói;
Theo cách tiếp cận hẹp [16]
Nghèo đói là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay một nhóm
dân cư là thấp nhất so với mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư khác
Theo cách tiếp cận này về vấn đề nghèo đói chưa bao quát được tính chất
tuyệt đối của nghèo đói, nghĩa là mới chỉ đánh giá theo tiêu chuẩn nghèo đói
tương đối, mà trên thực tế thì lúc nào trong xã hội hiện đại cũng tồn tại nghèo
đói kể cả ở những quốc gia giàu nhất Nếu đứng trên phương diện so sánh mức
sống, mức thu nhập của các nhóm dân cư thì lúc nào cũng có một nhóm dân cư
đứng thấp nhất, nhóm đứng cao nhất và các nhóm trung bình Đó là nghèo đói
tương đối Nhưng thực tế ở nhiều quốc gia nghèo, ngay trong nhóm nghèo nhất
cũng đã xuất hiện nhóm nghèo đói tuyệt đối, nghĩa là họ sống một cuộc sống
cùng cực, ở tạm bợ và lo lắng về từng bữa ăn
Cách tiếp cận này là cách tiếp cận phổ biến hiện nay Những người theo
quan điểm này có xu hướng tìm kiếm một chuẩn nghèo chung để đánh giá mức
độ nghèo đói của từng nhóm dân cư, mà không đi sâu vào giải quyết những
nguyên nhân sâu xa, những căn nguyên sâu xa, bản chất bên trong của vấn đề,
tức là cơ chế nội tại của nền kinh tế đang hàng ngày hàng giờ đẩy một nhóm dân
cư đi vào tình trạng nghèo đói như một xu thế tất yếu xẩy ra Do đó, các biện pháp tấn công nghèo đói đưa ra trên theo quan điểm này thường thiếu triệt để, họ chỉ dừng lại ở các biện pháp hỗ trợ tài chính, kinh tế, và các biện pháp kỹ thuật cho nhóm dân cư nghèo đói đó, nó sẽ không tạo được động lực để bản thân những người nghèo tự mình vươn lên trong cuộc sống
Theo cách tiếp cận rộng [16]
Vấn đề nghèo đói theo quan điểm này được tiếp cận từ phương pháp luận cho rằng căn nguyên sâu xa của nghèo đói là do trong xã hội có sự phân hoá giàu nghèo, mà chính sự phân hoá đó là hệ quả của chế độ kinh tế xã hội Trong thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, khi mà năng suất lao động còn thấp, chưa có tích luỹ thì giữa con người chưa có sự phân hoá giàu nghèo Nhưng khi xã hội càng phát triển, có sự phân công lao động trong lực lượng sản suất, xã hội đã bắt đầu
có tích luỹ thì cấu trúc xã hội trên quan hệ thị tộc cũng đã bắt đầu biến đổi, xuất hiện chiếm hữu tư nhân và trao đổi hàng hoá Xã hội đã phân chia thành nhiều giai cấp, trong xã hội đã có người giàu người nghèo đây là mầm mống của những xung đột giữa các giai cấp Cách tiếp cận rộng cho phép tiếp cận nghèo đói một cách toàn diện, đặt hiện tượng nghèo đói trong sự so sánh với giàu có và trong hoàn cảnh nhất định Khi nói đến người nghèo chúng ta không thể không đặt họ vào sự so sánh toàn diện với người giàu, bằng cách đó chúng ta mới có thể nhìn thấu đáo hộ nghèo và đói như thế nào, từ đó lý giải một cách khoa học thực chất của quá trình dẫn tới đói nghèo
Từ những cách tiếp cận vấn đề nghèo đói chúng ta có thể rút ra được những kết luận sau:
- Phân hoá giàu nghèo không những là hệ quả của các xã hội có giai cấp và phân chia giai cấp, mà còn thể hiện bản chất sâu xa của các xung đột xã hội giữa lớp người giàu lớp người nghèo Giải quyết căn bản vấn đề này chỉ có thể trên
cơ sở giải quyết căn bản vấn đề bất bình đẳng trong xã hội
Trang 9- Phân hoá giàu nghèo là hiện tượng phát sinh trong quá trình thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế Bởi vậy, nếu không xử lý kịp thời, hoặc không có cơ chế duy trì
sự công bằng nhất định hay hạn chế quá trình làm trầm trọng thêm hố ngăn cách
giữa lớp người giàu và lớp người nghèo, thì nguy cơ phân tầng xã hội, phân hoá
giai cấp cũng sẽ diễn ra
- Chủ thể có đầy đủ khả năng điều hòa thu nhập giữa các nhóm dân cư là
Nhà nước, tuy nhiên do bản chất nhà nước ở các chế độ, cũng như định hướng
chính trị khác nhau là rất khác nhau nên năng lực cũng như tính triệt để của các
giải pháp xử lý hố ngăn cách giàu nghèo có thể dựa trên cách tiếp cận rộng hay
hẹp tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia, trong từng thời điểm lịch sử
nhất định
1.1.1.2 Các quan điểm về chỉ tiêu đánh giá về mức nghèo đói hiện nay
Cho đến nay dường như đã đi đến một cách tiếp cận tương đối thống nhất
về đánh giá mức độ nghèo đói, đó là định ra một tiêu chuẩn hay một điều kiện
chung nào đó, mà hễ ai có thu nhập hay chi tiêu dưới mức thu nhập chuẩn thì sẽ
không thể có một cuộc sống tối thiểu hay đạt được những nhu cầu thiết yếu cho
sự tồn tại trong xã hội Trên cơ sở mức chung đó để xác định người nghèo hay
không nghèo Tuy nhiên, khi đi sâu vào kỹ thuật tính chuẩn nghèo thì có nhiều
cách xác định khác nhau theo cả thời gian và không gian
Ở đây cần phân biệt rõ mức sống tối thiểu và mức thu nhập tối thiểu Mức
thu nhập tối thiểu hoàn toàn không có nghĩa là có khả năng nhận được những
thứ cần thiết tối thiểu cho cuộc sống Trong khi đó mức sống tối thiểu lại bao
hàm tất cả những chi phí để tái sản xuất sức lao động gồm năng lượng cần thiết
cho cơ thể, giáo dục, nghỉ ngơi giải trí và các hoạt động văn hoá khác Do vậy,
khái niệm về mức sống tối thiểu không phải là một khái niệm tĩnh mà là động,
một khái niệm tương đối và rất phong phú về nội dung và hình thức, không chỉ
tuỳ theo sự khác nhau về môi trường văn hoá, mà còn phụ thuộc vào sự thay đổi
về đời sống vật chất cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế
Quan điểm của ngân hàng thế giới (WB) năm 1998
- Trong việc lựa chọn tiêu thức đánh giá WB đã lựa chọn tiêu thức phúc lợi với những chỉ tiêu về bình quân đầu người bao gồm cả ăn uống, học hành, mặc, thuốc men, dịch vụ y tế, nhà ở và giá trị hàng hoá lâu bền Tuy nhiên, báo cáo về những số liệu này về thu nhập ở Việt Nam sẽ thiếu chính xác bởi phần lớn người lao động tự hành nghề
- WB đưa ra hai ngưỡng nghèo:
+ Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua một số lương thực gọi là ngưỡng nghèo lương thực
Ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm mà WB đưa ra theo cuộc điều tra mức sống 1998 là lượng lương thực, thực phẩm tiêu thụ phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng với năng lượng 2000-2200 kcal mỗi người mỗi ngày Người dưới ngưỡng đó thì là nghèo về lương thực Dựa trên giá cả thị trường để tính chi phí cho rổ lương thực đó Và theo tính toán của WB chi phí để mua rổ lương thực là 1.286.833 đồng/người/năm
+ Ngưỡng nghèo thứ hai là bao gồm cả chi tiêu cho sản phẩm phi lương thực, gọi là ngưỡng nghèo chung
Cách xác định ngưỡng nghèo chung:
Ngưỡng nghèo chung =(ngưỡng nghèo lương thực)+(ngưỡng nghèo phi lương thực)
Ngưỡng nghèo được tính toán về phần phi lương thực năm 1998 là 503038 đồng/người/năm từ đó ta có ngưỡng nghèo chung là 1.789.871 đồng/người/năm
- Quan điểm của tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization viết tắt là ILO) về chuẩn nghèo đói:
Trang 10+ Về chuẩn nghèo đói ILO cho rằng để xây dựng “rổ” hàng hoá cho người
nghèo cơ sở xác định là lương thực thực phẩm Rổ lương thực phải phù hợp với
chế độ ăn uống sở tại và cơ cấu bữa ăn thích hợp nhất cho những nhóm người
nghèo Theo ILO thì có thể thu được nhiều kcalo từ bất kỳ một sự kết hợp thực
phẩm mà xét về chi phí thì có sự khác nhau rất lớn Với người nghèo thì phải
thoả mãn nhu cầu thực phẩm từ các nguồn kcalo rẻ nhất
+ ILO cũng thống nhất với ngân hàng thế giới về mức ngưỡng nghèo lương
thực thực phẩm 2100 kcalo, tuy nhiên ở đây ILO tính toán tỷ lệ lương thực trong
rổ lương thực cho người nghèo với 75% kcalo từ gạo và 25% kcalo có được từ
các hàng hoá khác được gọi là các gia vị Từ đó mức chuẩn nghèo hợp lý là
511.000 đồng/người/năm
- Quan điểm của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 1998
Tiêu chuẩn nghèo theo Tổng cục Thống kê Việt Nam được xác định bằng
mức thu nhập tính theo thời giá vừa đủ để mua một rổ hàng hoá lương thực thực
phẩm cần thiết duy trì với nhiệt lượng 2100 kcalo/ngày/người Những người có
mức thu nhập bình quân dưới ngưỡng trên được xếp vào diện nghèo
- Quan điểm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội năm 1998
Quan điểm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho rằng nghèo là bộ
tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn nhu cầu cơ
bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo
trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng khu vực
+ Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã đưa ra chuẩn nghèo đói dựa
những số liệu thu thập về hộ gia đình như sau :
+ Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong một tháng quy
ra gạo được 13 kg
+ Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập tuỳ theo vùng
Vùng nông thôn, miền núi hải đảo là những hộ có thu nhập dưới 15 kg gạo
Vùng nông thôn đồng bằng trung du dưới 20 kg gạo
Vùng thành thị dưới 25 kg gạo
Bên cạnh những khái niệm về đói nghèo đã trình bày ở trên, tuỳ thuộc vào những giai đoạn, những hoàn cảnh khác nhau cũng như những mục tiêu nghiên cứu khác nhau mà người ta có những cách tiếp cận khác nhau về nghèo đói Hiện nay, có thể tiếp cận nghèo đói theo các hướng sau:
- Người nghèo là những người dễ bị tổn thương Người nghèo bị tổn thương bởi những rủi ro trong sản xuất và đời sống Khả năng hồi phục sau những rủi ro của người nghèo là hạn chế hơn rất nhiều so với những người khá giả
Mức chuẩn nghèo được Việt Nam áp dụng trong giai đoạn 2001-2005 là 80.000 đồng/người/tháng tại vùng nông thôn miền núi và hải đảo, 100.000 đồng/người/tháng tại vùng nông thôn đồng bằng và 150.000 đồng/người/tháng tại vùng thành thị
Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-
2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo Ước tính đến đầu năm
2006 cả nước còn khoảng 4,6 triệu hộ nghèo (chiếm 26-27% tổng số hộ trong cả nước), trong đó ở thành thị có 500.000 hộ (chiếm 12% số hộ ở thành thị) và ở nông thôn có 4,1 triệu hộ (chiếm 31% số hộ)
Mức chuẩn nghèo mới cao hơn mức cũ 2 lần, kéo theo số hộ được xếp vào diện nghèo cũng tăng lên 3 lần
Trên đây là một số khái niệm về nghèo đói cũng như một số hướng tiếp cận nghèo đói Tuỳ thuộc vào từng thời kỳ nghiên cứu cũng như phương hướng nghiên cứu khác nhau mà có cách tiếp cận cho phù hợp Trong đề tài này, tác giả công nhận khái niệm nghèo đói của Việt Nam, đồng thời hướng tiếp cận nghèo
Trang 11đói đối với người dân là tiếp cận về khía cạnh kinh tế, có nghĩa là tiếp cận về thu
nhập của người dân
1.1.1.3 Khái niệm về môi trường sống
Môi trường sống của con người là một phạm trù rất rộng lớn: Môi trường
sống gắn liền với điều kiện tự nhiên (đất, nước, thời tiết, khí hậu ), về phong
tục tập quán, về mối quan hệ xã hội giữa người với người
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
Môi trường sống tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá
học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác
động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động,
thực vật, đất, nước Môi trường sống tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để
xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài
nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các
chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người
thêm phong phú
Môi trường sống còn là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như:
Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ
tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường
sống định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo
nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con
người khác với các sinh vật khác
Tóm lại, môi trường sống theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và
xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên
nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội
Môi trường sống theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà
chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng
cuộc sống con người Ví dụ: môi trường sống của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định
1.1.1.4 Tiêu chí đánh giá môi trường sống
Theo đánh giá của UNDP: Trong những năm 60 và đầu những năm 70,
người ta nhận thấy rằng thế giới sẽ gặp phải các vấn đề nghiêm trọng nếu hệ sinh thái của hành tinh không được quan tâm đúng mức Chất lượng không khí ở những khu vực đông dân trên toàn cầu đã bị phá huỷ đến mức báo động Rất nhiều dòng sông trên thế giới đã bị ô nhiễm gây ảnh hưởng đến đời sống ở biển
Do đó, nguồn nước trở nên không an toàn để con người có thể sử dụng với các mục đích khác nhau nữa Thậm chí nước mưa, nguồn nước thường được coi là trong sạch nhất đã trở thành nguồn gây độc cho các loại thực vật, ô nhiễm các dòng sông và phá huỷ các thiết bị ô tô do nước mưa có tính a xít Một bức tranh toàn cảnh truyền từ vệ tinh cho thấy rằng ô nhiễm môi trường đang diễn ra ở khắp mọi nơi trên trái đất Sự ô nhiễm hành tinh do hoạt động của con người đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng đối với mọi người
Ô nhiễm môi trường không phải là một vấn đề mới Ô nhiễm môi trường
do hoạt động của con người đã tồn tại từ khi con người mới xuất hiện trên trái đất Tuy nhiên, có thể thấy sự liên hệ giữa việc ô nhiễm rộng rãi trên toàn thế giới và cuộc cách mạng về công nghiệp Trong thế kỷ 19 và 2/3 của thế kỷ 20, các nhà máy mọc lên trên khắp các thành phố Việc sử dụng điện của các khu dịch vụ, các cửa hàng và các căn hộ hàng ngày đã thải ra hàng loạt các chất thải vào không khí, vào các dòng sông, dòng suối và đất Khi dân số không nhiều, thì vấn đề dân số đối với môi trường chỉ là vấn đề nhỏ, không cần quan tâm tới Tuy
Trang 12nhiên, trong những năm gần đây, cùng với việc nhân lên của các nhà máy tại các
thành phố; việc tăng số lượng của việc sử dụng các chất độc hại như thuốc trừ
côn trùng, thuốc trừ cỏ và phân bón hoá học; với ảnh hưởng của mỗi cá nhân
trong việc tạo ra ô nhiễm môi trường từ việc mưu sinh của mình (chủ yếu thông
qua việc sử dụng các nguyên liệu hoá thạch và với việc các nguồn gây nguy hại
cho hệ sinh thái ngày càng nhiều, sự lờ đi các vấn đề tồn tại không phải là một
giải pháp nữa Dân số thế giới đã tăng từ 2.5 tỷ năm 1950 lên gần 6,5 tỷ vào thời
điểm hiện nay Việc tăng dân số có nghĩa là dẫn đến ô nhiễm môi trường và
đồng thời với việc khai thác tài nguyên nhiều hơn Ô nhiễm môi trường và tăng
sự chịu đựng của thiên nhiên diễn ra cùng một lúc Chúng ta chỉ có thể có những
nỗ lực theo một cách nào đó để kiểm soát dân số nhưng chúng ta không thể giảm
việc tăng dân số theo ý định của chúng ta Chỉ một thông số chúng ta có thể
giảm được trong vòng kiểm soát của chúng ta - đó là vấn đề ô nhiễm
Vào giữa những năm 80, việc quan tâm đến môi trường đã trở lên quan
trọng Tầng ozon bảo vệ môi trường đang giảm dần, và đồng thời tầng khí quyển
cũng bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng nhà kính từ đó dẫn đến việc nóng lên toàn cầu
Những vệt cỏ dài bị huỷ hoại được quan sát thấy tại vùng mưa nhiệt đới và các
nhà khoa học đã cảnh báo rằng toàn bộ hành tinh có thể bị nguy hiểm nếu việc
phá rừng để làm nương vẫn tiếp tục Quan điểm của các nhà khoa học khác nhau
về việc suy giảm tầng ozon Một số nhà khoa học nhấn mạnh rằng việc tiếp tục
sử dụng chlorofluorocarbons sẽ phá huỷ tầng ozon Chlorofluorocarbons hay
CFC được thấy phổ biến trong ngành công nghiệp dung môi, hệ thống điều hoà
và gần đây thấy trong các thùng chứa sơn, thuốc xịt tóc và các sản phẩm khác
Việc suy giảm tầng ozon có thể gây ung thư da Tương tự như vậy, nếu chúng ta
tiếp tục đốt các sản phẩm từ các nguyên liệu hoá thạch (than, các sản phẩm dầu
mỏ) với mức độ như hiện nay hoặc cao hơn, mỏm cực băng có thể tan chảy và
dẫn đến ngập lụt trên toàn thế giới
Các nhà khoa học không thể nhất trí với quan điểm việc nóng lên toàn cầu
do con người gây ra Trong khi một nhóm cho rằng nhiệt độ trái đất là tuần hoàn theo các chu kỳ ngắn và dài và chu kỳ này rất rõ rệt Một nhóm khác, khi đã thu thập ý kiến từ các phương tiện thông tin đại chúng và các chính phủ khác nhau cho rằng sự thay đổi khí hậu rất rõ rệt và điều đó do con người gây nên Có thể thấy rất rõ ràng rằng môi trường đã và đang bị con người phá huỷ và các hệ thống sinh thái của trái đất cần được quan tâm hơn
Vấn đề môi trường đang ngày càng được các quốc gia quan tâm Luật bảo vệ môi trường của Mỹ đã được Quốc hội thông qua vào năm 1969, cơ quan bảo vệ môi trường Hoa kỳ đã được thiết lập Mỹ đã triệu tập hội nghị về môi trường tại Stockhom năm 1971 Hai kết quả quan trọng có được từ hội nghị này: Thứ nhất, Chương trình Môi trường (UNEP) của Mỹ đã được thiết lập UNEP sẽ phụ trách vấn đề thúc đẩy trách nhiệm và nhận thức môi trường trên toàn thế giới Nhiệm vụ của UNEP là thông tin đến toàn thế giới về vấn đề môi trường Thứ hai, Hội đồng Thế giới về môi trường và Phát triển (WCED) đã được thiết lập Năm 1987, WCED đã xuất bản một báo cáo kêu gọi các ngành công nghiệp xây dựng hệ thống quản lý môi trường hiệu quả Cũng vào năm 1987, một cuộc họp toàn thế giới đã được tổ chức tại Montreal để xây dựng thoả thuận cần thiết cho việc cấm sản xuất các hoá chất phá huỷ tầng ozôn Kết quả của báo cáo của WCED là hội nghị về môi trường và phát triển của Mỹ năm 1992 (còn gọi là Hội nghị thượng đỉnh về trái đất) ở Rio de Janeiro Để chuẩn bị cho hội nghị này và để ghi nhận sự thành công của việc phát triển tiêu chuẩn ISO 9000 - hệ thống quản lý chất lượng, Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) được đề nghị tham dự Trong suốt năm 1991, ISO cùng với Hội đồng quốc tế về kỹ thuật đã thiết lập nên nhóm tư vấn chiến lược về môi trường (SAGE) với sự tham dự của 25 nước SAGE cho rằng việc nhóm ISO xây dựng tiêu chuẩn quản lý môi trường quốc tế và các công cụ thực hiện và đánh giá là rất thích hợp ISO đã cam kết thiết lập
Trang 13tiêu chuẩn quản lý môi trường quốc tế tại hội nghị thượng đỉnh tại Rio de
Janeiro năm 1992
Tuy nhiên, một số vấn đề nảy sinh trong giai đoạn đầu Một số quốc gia
thành viên đã ngạc nhiên khi thấy SAGE đã vượt qua thẩm quyền của mình để
đưa ra quy định về sự cần thiết của các tiêu chuẩn về môi trường và sự cần thiết
xây dựng các tiêu chuẩn này Một loạt các công việc liên quan đến các tiêu
chuẩn môi trường đã được bắt đầu vào năm 1992 khi ISO thành lập Uỷ ban kỹ
thuật 207 (TC 207) là cơ quan sẽ chịu trách nhiệm xây dựng hệ thống quản lý
môi trường quốc tế và các công cụ cần thiết để thực hiện hệ thống này Phạm vi
cụ thể của TC 207 là xây dựng một hệ thống quản lý môi trường đồng nhất và
đưa ra các công cụ để thực hiện hệ thống này Công việc của TC 207 được chia
ra trong 6 tiểu ban và 1 nhóm làm việc đặc biệt Canada là ban thư ký của Uỷ
ban kỹ thuật TC 207 và 6 quốc gia khác đứng đầu 6 tiểu ban Những công việc
không thuộc phạm vi của TC 207 là các công việc liên quan đến các phương
pháp kiểm tra ô nhiễm, đưa ra các giới hạn ô nhiễm và thiết lập các mức đánh
giá hiệu quả hoạt động Việc này tránh cho TC 207 liên quan đến các công việc
chủ yếu thuộc thẩm quyền của các cơ quan luật pháp [8]
Theo đánh giá của Việt Nam
Đánh giá tác động môi trường sống là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo
ảnh hưởng đến môi trường sống của các dự án quy hoạch, phát triển kinh tế - xã
hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học kỹ thuật, y
tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và các công trình khác, đề xuất các giải
pháp thích hợp về bảo vệ môi trường
Hoạt động phát triển kinh tế - xã hội ở đây có loại mang tính kinh tế - xã
hội của quốc gia, của một địa phương lớn, hoặc một ngành kinh tế văn hóa quan
trọng (luật lệ, chính sách quốc gia, những chương trình quốc gia về phát triển
kinh tế - xã hội, kế hoạch quốc gia dài hạn), có loại mang tính kinh tế - xã hội vi
mô như đề án xây dựng công trình xây dựng cơ bản, quy hoạch phát triển, sơ đồ sử dụng một dạng hoặc nhiều dạng tài nguyên thiên nhiên tại một địa phương nhỏ Tuy nhiên, một hoạt động có ý nghĩa vi mô đối với cấp quốc gia, nhưng có thể có ý nghĩa vĩ mô đối với xí nghiệp Hoạt động vi mô nhưng được tổ chức một cách phổ biến trên địa bàn rộng có khi lại mang ý nghĩa vĩ mô
Tác động đến môi trường sống có thể tốt hoặc xấu, có lợi hoặc có hại nhưng việc đánh giá tác động môi trường sống sẽ giúp những nhà ra quyết định chủ động lựa chọn những phương án khả thi và tối ưu về kinh tế và kỹ thuật trong bất cứ một kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nào
Trong giới hạn của đề tài nghiên cứu, chúng tôi đánh giá các tác động tiêu cức đến môi trường bằng những tác động có thể nhìn thấy như cách ứng xử đối với rác thải trong sinh hoạt, phân gia súc - gia cầm và điều kiện nhà vệ sinh có thể gây ra ô nhiễm môi trường nước, đất và không khí
1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.1.2.1 Tình hình nghèo đói trên thế giới
Theo số liệu của Ngân hàng Thế Giới thì trong năm 2001 trên toàn thế giới
có 1,1 tỷ người (tương ứng với 21% dân số thế giới) có ít hơn 1 đô la Mỹ tính theo sức mua địa phương và vì thế được xem là rất nghèo (Năm 1981 là 1,5 tỷ người, vào thời gian đó là 40% dân số thế giới, năm 1987 là 1,227 tỷ người tương ứng 30% và năm 1993 là 1,314 tỷ người tương đương với 29%)
Phần lớn những người này sống tại châu Á, thế nhưng thành phần những người nghèo trong dân cư tại châu Phi lại còn cao hơn nữa Các thành viên của Liên Hiệp Quốc trong cuộc họp thượng đỉnh thiên niên kỷ năm 2000 đã nhất trí với mục tiêu cho đến năm 2015 giảm một nửa số những người có ít hơn 1 đô la
Mỹ (Điểm 1 của những mục đích phát triển thiên niên kỷ) Theo thông tin của Ngân hàng Thế Giới vào tháng 4 năm 2004 thì có thể đạt được mục đích này nhưng không phải ở tất cả các nước Trong khi nhờ vào tăng trưởng kinh tế tại
Trang 14nhiều vùng của châu Á, tỷ lệ người nghèo giảm xuống rõ rệt (từ 58% xuống còn
16% tại Đông Á) thì con số những người nghèo nhất lại tăng lên ở châu Phi (gần
gấp đôi từ 1981 đến 2001 phía Nam sa mạc Sahara) Tại Đông Âu và Trung Á
con số những người nghèo nhất đã tăng lên đến 6% dân số Nếu như đặt ranh
giới nghèo là 2 đô la Mỹ mỗi ngày thì có tổng cộng là 2,7 tỷ người nghèo, gần
một nửa dân số thế giới
Nếu xếp theo thu nhập bình quân đầu người thì
các nước sau có tỷ lệ người nghèo cao nhất: Malawi,
Tanzania, Guiné-Bissau, Burundi và Yemen
Bên cạnh nguyên nhân chính trị, nghèo đói cũng
là một nguyên nhân lớn của hiện tượng dân di cư từ
vùng núi về đồng bằng, từ nông thôn về thành thị, từ
các nước thứ ba về các nước phát triển gây nên hiện
tượng thuyền nhân [17]
Trong giai đoạn vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị
xã hội, công cuộc xoá đói giảm nghèo trên thế giới cũng đã mang lại được rất
nhiều thành công Tỷ lệ người dân sống dưới mức nghèo khổ giảm đáng kể, đặc
biệt ở các khu vực Châu Á và Châu Phi Thành tựu của xoá đói giảm nghèo đạt
được do các nguyên nhân: xung đột vũ trang giảm đáng kể cũng như sự quan
tâm của toàn thế giới đối với việc xoá đói giảm nghèo Tuy nhiên, hiện nay trên
thế giới vẫn còn khoảng 1,2 tỷ người sống mức dưới 1USD/ngày hiện đang bị
đói kinh niên, tập trung chính vẫn là ở Châu Á và Châu Phi, bên cạnh đó một số
nơi do xung đột vũ trang dẫn đến tình trạng nghèo đói như khu vực Aganistan,
khu vực Trung đông và một số nơi khác trên thế giới
Một gia đình thuyền nhân năm 1979
1,2 tỷ người sống ở mức nghèo đói, trong đó chủ yếu dân châu Phi và Nam Á
Ngạc nhiên hơn, trong khi thế giới ngày càng đô thị hoá, số người nghèo đói vẫn chủ yếu nằm ở các vùng nông thôn Trong số 1,2 tỷ người trên thế giới sống với chưa đầy 1 USD/ngày, đại đa số (700 triệu người) là nông dân sản xuất nhỏ, những người lao động trên đồng ruộng và gia đình của họ ở châu Phi hạ Sahara (phần châu Phi nằm phía Nam sa mạc Sahara) và Nam Á, những người không thể nuôi sống bản thân, chưa kể đến số dân thành thị đang tăng lên, do sản lượng nông nghiệp giảm sút trong nhiều thập kỷ qua
Hầu hết những người bị đói là phụ nữ và trẻ em Phụ nữ chiếm 80% nông dân ở châu Phi, nhưng họ chỉ tiếp cận được 5% đất nông nghiệp, tín dụng và các dịch vụ được mở rộng ở châu lục này Châu Phi hạ Sahara chiếm 55% tỷ lệ chênh lệch về dinh dưỡng toàn cầu với những tác động tàn phá đối với sự phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ em ½ trong toàn bộ trẻ em Nam Á, hầu hết
ở nông thôn, bị nhẹ cân so với tuổi
Do đó, sự ủng hộ quốc tế và những khoản đầu tư của các nước đang phát triển vào nông nghiệp bị giảm mạnh trong những năm 1980 - 1990 Giai đoạn
1980 - 2005, viện trợ nước ngoài cho các nước có thu nhập thấp để phát triển nông nghiệp giảm từ 17% trong tổng số viện trợ xuống còn 3% Trong những
Trang 15năm 1990, tỷ lệ tăng trưởng chi phí công cộng toàn cầu về nghiên cứu nông
nghiệp đã giảm ½
Nhu cầu lương thực toàn cầu đang tăng lên do dân số tăng và chế độ ăn
uống thay đổi, và mức tăng này đã bỏ xa tốc độ gia tăng sản lượng các mùa vụ
Ví dụ, sản lượng ngô tính theo đầu người ở châu Phi đã giảm 14% kể từ năm
1980 Đến năm 2050, để đáp ứng dân số dự kiến tăng lên của châu Phi, sản
lượng lương thực của châu lục này cần phải tăng gấp đôi
Ở mức độ nào đó, sự chênh lệch giữa cung và cầu lương thực đã được đáp
ứng bằng việc nhập khẩu Nhập khẩu ngũ cốc thương mại của các nước đang
phát triển tăng gần gấp 3 lần trong giai đoạn 1990 - 2008 Nhưng sự phụ thuộc
ngày càng tăng lên về nhập khẩu lương thực cho thấy các nền kinh tế này, đặc
biệt những công nhân nghèo nhất, phụ thuộc nhiều vào giá cả thị trường thế giới
Chỉ trong nửa đầu năm 2008, giá ngũ cốc đã tăng gấp đôi, hoặc gấp 3 ở một số
nước Kể từ đó, giá lương thực đã giảm xuống 50 - 70% ở nhiều nước, nhưng
vẫn cao hơn mức trung bình 10 năm trước đây, khiến cho hàng ngũ những người
cực nghèo (những người phải chi 50 - 70% thu nhập cho lương thực) tăng lên ít
nhất 100 triệu người
Sản lượng lương thực tăng sẽ trở thành một thách thức trong thập kỷ tới
Nguồn cung đất trồng trọt đang dần biến mất ở hầu hết các nước đang phát triển
Sự khan hiếm nước cũng là một nguyên nhân kìm hãm sản lượng lương thực ở
các vùng nhiệt đới bán khô cằn ở châu Phi hạ Sahara và Nam Á, nơi sức ép nhu
cầu về đất lên cao Theo các dự báo của Uỷ ban liên chính phủ về biến đổi khí
hậu, tình trạng thiên tai, trong đó có nạn hạn hán nghiêm trọng, có thể trở nên
thường xuyên hơn ở các khu vực này Khi thế giới phục hồi từ cuộc suy thoái,
tốc độ tăng thu nhập và những thay đổi về chế độ ăn uống một lần nữa sẽ gây
sức ép về nhu cầu đối với nguồn cung lương thực của thế giới Trong khi đó tại
Châu Á công tác xoá đói giảm nghèo đã gặt hái được nhiều thành công ấn tượng
trong vòng 10 năm qua Theo thống kê của Liên hợp quốc số người sống dưới 1USD/ ngày ở Châu Á đã giảm từ 900 triệu người năm 1990 xuống còn 650 triệu người năm 2003 Tuy nhiên, Châu Á cũng đứng trước nhiều thách thức dẫn đến tình trạng đói nghèo như chiến tranh, sự bất ổn về mặt chính trị ở một số nước cũng như thảm họa thiên tai Bên cạnh đó, thành tựu xoá đói giảm nghèo của Châu Á phụ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc, Việt Nam, đây là những quốc gia đã rất thành công trong chương trình xoá đói giảm nghèo của mình Cụ thể Việt Nam năm 1996 tỷ lệ nghèo đói là 56,3% đã giảm xuống còn 22,6% năm
2006, như vậy trong vòng 10 năm Việt Nam đã giảm gần 50% số hộ nghèo
1.1.2.2 Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Trung Quốc
Trung Quốc là một nước láng giềng với Việt Nam, có những điều kiện kinh
tế - xã hội tương đồng với Việt Nam Trong những năm vừa qua, Trung Quốc đã thu được những thành công vượt bậc trong phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo, đặc biệt trong chương trình xoá đói giảm nghèo đã đạt được những thành tựu to lớn Là quốc gia có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất, từ 240 triệu hộ nghèo năm 1980 đến năm 2005 còn 25 triệu hộ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung và của đồng bào dân tộc thiểu số đã được cải thiện rõ nét Giải pháp xoá đói, giảm nghèo mà Trung Quốc đưa ra rất thiết thực, cụ thể:
- Thực hiện theo hình thức cuốn chiếu, chẳng hạn giai đoạn đầu chọn 500 thôn nghèo nhất Nhà nước tập trung đầu tư cho hai năm với nguồn lực đủ mạnh để giải quyết những công trình bức xúc liên quan đến sản xuất, đời sống dân sinh Sau hai năm lại chuyển đầu tư cho các thôn tiếp theo
- Đối với gia đình nghèo, trước hết giúp cho họ cách thức làm ăn, đi vào phát triển sản xuất để đảm bảo cuộc sống, sức khoẻ, sau đó mới hỗ trợ đầu tư, cho vay vốn để phát triển mạnh sản xuất để thoát nghèo bền vững, nhiều vùng hướng mạnh vào chăn nuôi bò sữa
Trang 16- Thực hiện nhiều chính sách ưu đãi đối với gia đình nghèo, địa phương
nghèo, có cơ chế động viên toàn xã hội tham gia vào chương trình giảm nghèo,
động viên các tổ chức phi chính phủ, các nhà máy, xí nghiệp tham gia đầu tư
vào các vùng nghèo, đẩy mạnh hợp tác quốc tế với nhiều hình thức thích hợp
như liên doanh đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất sữa quy mô lớn ở các khu tự
trị, tỉnh nghèo để thúc đẩy chăn nuôi bò sữa, tạo nhiều việc làm tăng thu nhập
cho nông dân để thoát nghèo bền vững
- Coi trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ về kỹ năng
sản xuất, tạo việc làm cho nông dân, quan tâm đào tạo nghề cho con em nông
dân để hướng tới mỗi gia đình có một người vào làm việc ở thành phố góp phần
giảm nghèo nhanh
- Thực hiện cho gia đình nghèo vay vốn ưu đãi, phân công trách nhiệm
giúp đỡ các địa phương nghèo cho các cơ quan, ban ngành, tổ chức đoàn thể,
các địa phương giàu giúp đỡ địa phương nghèo cả về kinh nghiệm, vốn đầu tư,
cán bộ
1.1.2.3 Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Malaysia
Chính sách xoá đói giảm nghèo của Malaysia chính thức được hình thành
từ năm 1971 gắn liền với việc ban hành chính sách kinh tế mới của Chính phủ
Kể từ đó, nó luôn được bổ sung, sửa đổi để phù hợp với nội dung của các chính
sách phát triển kinh tế - xã hội của Đất nước, như chính sách kinh tế mới (1970 -
1990), chính sách phát triển mới (1990 - 2000) và tầm nhìn 2020
Mục tiêu tổng thể của Chính sách xoá đói giảm nghèo của Malaysia là xoá
bỏ hoàn toàn nghèo đói trên toàn quốc Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện,
mục tiêu giảm tỷ lệ nghèo đói được đặt ra theo từng thời kỳ nhất định, từ 49,3%
năm 1970 xuống còn 16,7% năm 1990 và 7,2% năm 2000
Để đạt được những mục tiêu trên, Chính phủ Malaysia đã lựa chọn các
chiến lược nhằm tạo cơ hội cho người nghèo tham gia tự tạo việc làm và các
hoạt động có thu nhập cao hơn Do đa số người nghèo sinh sống ở vùng nông thôn, nên Chính phủ dành nhiều ưu tiên thực hiện các chương trình và dự án nhằm tạo điều kiện cho người dân nông thôn hiện đại hoá phương thức canh tác, chuyển dịch cơ cấu sản xuất và cơ cấu sản phẩm để nâng cao thu nhập
- Chương trình tái định cư nhằm đưa những người không có ruộng đất hoặc những người có ruộng đất nhưng sản xuất không có hiệu quả đến những vùng đất mới, ở đó họ có thể làm việc trong các đồn điền cao su hoặc sản xuất dầu cọ Tại nơi ở mới, những người định cư được cung cấp nhà ở với kết cấu hạ tầng tốt
về điện, nước
- Chương trình cải tạo đất nông nghiệp thông qua việc dồn điền đổi thửa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và áp dụng các kỹ thuật canh tác hiện đại Ở một số nơi, chương trình này cũng được thực hiện theo mô hình hợp tác xã để đạt được những lợi ích sản xuất trên quy mô lớn
- Chương trình kết hợp phát triển nông nghiệp và nông thôn với những hoạt động chế biến nông sản, khuyến khích phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh ở nông thôn để tạo thêm nguồn thu nhập
- Chương trình sản xuất tăng vụ, liên canh và xen canh cây trồng trên cùng một thửa đất để nâng cao hiệu quả và năng suất canh tác
- Dự án thành lập các chợ của nông thôn ở các trung tâm đô thị để họ bán trực tiếp sản phẩm của mình thay vì qua các trung gian
- Chương trình hỗ trợ về đào tạo, tín dụng, khoa học kỹ thuật, tiếp thị cho người dân nông thôn để họ có thể tìm được những việc làm phi nông nghiệp hoặc thành lập các cơ sở sản xuất kinh doanh của riêng mình ở các vùng nông thôn hoặc các thành thị
Bên cạnh các chương trình và dự án nhằm nâng cao thu nhập, Chính phủ cũng thực hiện nhiều biện pháp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người nghèo, chẳng hạn như thông qua việc cung cấp kết cấu hạ tầng và các dịch vụ xã
Trang 17hội Đối với các vùng nông thôn, Chính phủ đã xây dựng đường điện, điện thoại,
ống nước, đường giao thông, cung cấp các dịch vụ y tế, xây dựng trường học,
bao gồm cả nhà ở nội trú cho học sinh
Ngoài ra các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân cũng tự nguyện
tham gia tích cực vào công tác xoá đói giảm nghèo Những hoạt động chính của
các chủ thể này bao gồm: hỗ trợ về tín dụng, đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm
cho người nghèo, ngoài ra họ còn có các biện pháp hỗ trợ về điều kiện nhà ở và
việc học tập của con cái những người nghèo
Thành tựu xoá đói của Malaysia: nhờ những nỗ lực nêu trên, trong vài thập
kỷ qua tỷ lệ người nghèo của Malaysia đã giảm từ mức gần 50% năm 1970
xuống còn 15% năm 1990 và trên 4% năm 2002, vượt mục tiêu đề ra Cụ thể
hơn, năm 1990, tỷ lệ người nghèo ở các vùng nông thôn và các vùng thành thị
đã giảm xuống tương ứng còn 19,3% và 7,3% (từ các mức tương ứng 58,7% và
21,9% của năm 1970); các con số tương ứng của năm 2002 là 7% và gần 2%
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, với tốc độ như trong thời gian vừa qua,
chỉ trong một vài năm nữa ở Malaysia sẽ không còn ai phải sống dưới mức
nghèo khổ với thu nhập dưới 2 USD mỗi ngày
1.1.2.4 Tình hình nghèo đói ở Việt Nam
Việt Nam là một nước đang trên đà phát triển Kết quả đợt tổng điều tra
dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy: Dân số Việt Nam đạt 85,8 triệu người, đứng
thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á và thứ 14 trong số những nước đông dân nhất thế
giới [6] Trong những năm vừa qua cùng với sự nỗ lực của Đảng, Chính phủ,
các cấp chính quyền và toàn thể nhân dân, công cuộc xoá đói giảm nghèo đã thu
được những thành công to lớn
Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đều đạt tỷ lệ cao, đời sống của người
dân không ngừng được tăng lên, số hộ nghèo đói đã giảm xuống Tình hình
nghèo đói của Việt Nam giai đoạn 2004 - 2008 được thể hiện thông qua bảng số 1.1 dưới đây:
Bảng 1.1: Tình hình nghèo đói theo vùng ở Việt Nam, giai đoạn 2007 - 2009
Nguồn: Số liệu chuẩn nghèo quốc gia 2007 - 2009
Qua số liệu trên ta thấy năm 2004 khi Việt Nam áp dụng chuẩn nghèo mới,
tỷ lệ hộ nghèo đã giảm đi đáng kể từ 15,16% (đầu năm 2004) xuống còn 13,5% năm 2008 Tuy đạt được nhiều thành công, song Việt Nam vẫn còn một số tồn tại trong xoá đói giảm nghèo như: thứ nhất, chuẩn nghèo của Việt Nam còn cách quá xa so với chuẩn nghèo của Thế giới (1USD/người/ngày); thứ hai, kết quả xoá đói giảm nghèo không mang tính bền vững, tỷ lệ hộ dân có thu nhập xấp xỉ mức chuẩn nghèo còn cao do đó khi có sự biến động về chuẩn nghèo hoặc những tác động của các yếu tố ngoại cảnh rất dễ dẫn đến tình trạng tái nghèo; thứ ba, hầu hết số người nghèo đói của Việt Nam đều tập trung ở khu vực nông thôn, nơi có khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Chính điều này lại gây những cản trở cho công tác xoá đói giảm nghèo Cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trên, cả nước Việt Nam hiện có khoảng 2 triệu hộ nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số Tuy nhiên, trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam, rất nhiều đại biểu cho
Trang 18rằng tỷ lệ hộ nghèo giảm không phản ánh thực chất vì số người nghèo trong xã
hội không giảm, thậm chí còn tăng do tác động của lạm phát (khoảng 40% kể từ
khi ban hành chuẩn nghèo đến nay) và do là suy giảm kinh tế [1] Chuẩn nghèo
quốc gia của Việt Nam hiện nay là gồm những hộ có mức thu nhập bình quân từ
200.000 đến 260.000 đồng/người/tháng Mặc dù vậy, nhiều hộ gia đình vừa
thoát nghèo vẫn rất dễ rớt trở lại vào cảnh nghèo đói
Bên cạnh tỷ lệ nghèo còn 4,67% của vùng Đông Nam Bộ thấp nhất trong
cả nước thì tỷ lệ nghèo thì tỷ lệ nghèo ở các khu vực khác còn khá cao Cụ thể tỷ
lệ nghèo còn 6,2% của vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Tây Bắc vẫn còn tới
18,45%, vùng Bắc Trung Bộ và vùng Tây Nguyên tuy có giảm nhưng vẫn còn ở
tỷ lệ cao; vùng Đông Bắc vẫn còn 10,87%; vùng Duyên hải miền Trung Bộ vẫn
còn 10,86%; ngay cả vùng ĐBSCL một vựa lúa của cả nước cũng vẫn còn
15,3% [13]
c Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Huyện Na Hang - Tuyên Quang
Năm 2006, Huyện Na Hang (Tuyên Quang) đã đặt ra mục tiêu giảm tỷ lệ
hộ nghèo của huyện từ 5,45% xuống còn 5,2% Nhìn lại công tác xoá đói giảm
nghèo năm 2005 cho thấy, ngay từ đầu năm cấp uỷ, chính quyền huyện đã chỉ
đạo các cơ quan chức năng phối hợp cùng với các xã tiến hành điều tra phân loại
mức sống và thu nhập của nhân dân Đây cũng là việc làm thường xuyên của các
năm trước trong quá trình thực hiện xoá đói giảm nghèo Qua việc xác định còn
1.915 hộ có mức sống thuộc diện nghèo, chiếm 9,10% số hộ trong huyện
Nguyên nhân chính dẫn đến nghèo là do thiếu kinh nghiệm và thiếu vốn để đầu
tư cho sản xuất, số còn lại là do nhiều nguyên nhân khác như: thiếu lao động, già
yếu, bệnh tật và một số lười lao động, mắc các tệ nạn xã hội [7]
Xác định rõ nguyên nhân và nắm chắc điều kiện hoàn cảnh từng hộ nghèo,
các cấp chính quyền từ huyện tới xã đã phối hợp với các đoàn thể tổ chức tuyên
truyền, vận động đoàn viên, hội viên tích cực tham gia chương trình xoá đói
giảm nghèo Phân công cán bộ và thành viên ban chỉ đạo xoá đói giảm nghèo phụ trách xã, thôn và các hộ nghèo để có biện pháp giúp đỡ thiết thực Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng đã vận động xây dựng “Quỹ vì người nghèo” được 156 triệu đồng, bước đầu đã hỗ trợ hơn 40 triệu đồng giúp 40 hộ nghèo có khó khăn về nhà ở sửa chữa và làm nhà mới Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn cùng với hệ thống khuyến nông tổ chức 362 lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, hướng dẫn xây dựng kế hoạch, cách tổ chức sản xuất, chăn nuôi, kỹ thuật canh tác cho 1.176 lượt hộ nghèo Đảm bảo nhu cầu
về vốn, Ngân hàng phục vụ người nghèo huyện khẩn trương thẩm định, giải ngân vốn vay phục vụ phát triển sản xuất Trong năm có 1.278 hộ được vay 4 tỷ
928 triệu đồng Với tinh thần tương thân, tương ái không chỉ giúp các hộ nghèo
về kinh nghiệm, nhiều hộ gia đình còn giúp công, giống và cả cho vay vốn không tính lãi Mọi nguồn lực được khơi dậy và phát huy đã tạo thành phong trào giúp nhau dần thoát nghèo Trong năm 2005, toàn huyện đã có 565 hộ vươn lên có mức sống trung bình và đặc biệt không có hộ gia đình chính sách nghèo Các chính sách ưu đãi đối với hộ nghèo cũng được thực hiện đầy đủ, 402 em học sinh của các hộ gia đình nghèo được miễn giảm học phí, tiền xây dựng trường;
972 lượt người nghèo được khám chữa bệnh miễn phí Huyện đã hỗ trợ, hướng dẫn và đưa 40 con em các gia đình nghèo đi khám chữa các bệnh về mắt, sứt môi, hở hàm ếch
Từ kinh nghiệm thực hiện xoá đói giảm nghèo những năm qua, nhất là năm
2005, để đạt được mục tiêu giảm hộ nghèo xuống dưới 5,2 vào cuối năm 2006, huyện tập trung củng cố kiện toàn Ban chỉ đạo xoá đói giảm nghèo từ huyện tới
cơ sở và phân công thành viên phụ trách đến từng xã, thị trấn và thôn bản Bổ sung, điều chỉnh chính xác đủ số liệu vào sổ theo dõi xoá đói giảm nghèo, rà soát nguyên nhân của các hộ nghèo để có biện pháp chỉ đạo và tổ chức thực hiện
Trang 19- Với những hộ thiếu vốn, xác định nguồn vốn cần vay, hướng dẫn để các đoàn
thể tín chấp vay vốn, thẩm định và giải ngân kịp thời, đáp ứng nhu cầu vốn của họ
- Những hộ thiếu kinh nghiệm tổ chức sản xuất, để cán bộ khuyến nông tập
huấn và hướng dẫn kỹ thuật sản xuất thâm canh
Kết hợp chặt chẽ với các tổ chức quần chúng làm tốt công tác tuyên truyền,
giáo dục, đẩy mạnh xã hội hoá công tác xoá đói giảm nghèo, thu hút mọi người, mọi
nhà tích cực tham gia giảm đói nghèo Thực hiện có hiệu quả chương trình lồng ghép
để huy động nguồn lực tham gia giảm nghèo, nâng cao mức sống của nhân dân
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể vận động xây dựng
“Quỹ vì người nghèo” để có kinh phí hỗ trợ thêm cho các hộ sửa chữa, làm mới
nhà cửa; giúp giống, vốn, dụng cụ sản xuất Củng cố, nâng cao năng lực hoạt động
của hệ thống khuyến nông Đồng thời sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện chương
trình xoá đói giảm nghèo để kịp thời đúc rút kinh nghiệm, có biện pháp lãnh đạo,
chỉ đạo giải quyết những vướng mắc phát sinh Kịp thời khen thưởng, động viên
những tập thể, cá nhân có nhiều đóng góp trong phong trào xoá đói giảm nghèo
d Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của tỉnh Lạng Sơn
Xoá đói giảm nghèo là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, là một chủ
trương hợp lòng dân nhằm thực hiện quan điểm Phát triển kinh tế đi đôi với tiến
bộ và công bằng xã hội Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết HĐND tỉnh khoá XIII
về thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh Lạng
Sơn đã giảm từ 17,06% năm 2001 xuống còn 7,07% năm 2005 (theo chuẩn cũ),
trong đó có 20 xã, phường thị trấn có tỷ lệ hộ nghèo dưới 3% (đạt chuẩn cơ bản
xoá xong hộ nghèo); hơn 95% số hộ có công với cách mạng có đời sống bằng
hoặc cao hơn mức sống trung bình ở cộng đồng dân cư nơi họ cư trú Cơ sở hạ
tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, nước sạch, chợ, hệ thống thuỷ lợi
nhỏ… ở các xã đặc biệt khó khăn được cải thiện đáng kể giúp cho tốc độ giảm
nghèo tại đây giảm nhanh hơn toàn tỉnh (bình quân mỗi năm giảm trên 3%) Đời
sống nhân dân nhất là hộ nghèo đã được cải thiện rõ rệt, người nghèo đã được tiếp cận và hưởng nhiều hơn các dịch vụ xã hội [6]
Tuy nhiên so với yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH và tiềm năng của tỉnh, kết quả xoá đói giảm nghèo chưa bền vững, chưa đồng đều giữa các huyện, một số xã vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao Những khó khăn đang hạn chế đến quá trình giảm nghèo, đó là: trình độ nhận thức, trình độ học vấn, tay nghề của người nghèo còn hạn chế; nguồn lực đầu tư hạn hẹp việc lồng ghép thực hiện giảm nghèo hiệu quả chưa cao, công tác tuyên truyền vận động giáo dục chưa thường xuyên, chưa quyết liệt, hộ nghèo,
xã nghèo còn tư tưởng ỷ lại, công tác chỉ đạo ở một số địa phương chưa cụ thể, sâu sát,… Bước sang giai đoạn 2006-2010, Đảng và Nhà nước tiếp tục xác định xoá đói giảm nghèo là một trong các nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Từ bài học kinh nghiệm của chương trình xoá đói giảm nghèo qua các giai đoạn, xuất phát từ hiện trạng nghèo đã xác định, tỉnh Lạng Sơn tiếp tục tập trung huy động mọi nguồn lực, tranh thủ sự đầu tư của Chính phủ thông qua các chương trình mục tiêu, các dự án để xây dựng và thực hiện Chương trình xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 của địa phương Nhiệm vụ được đề ra trong giai đoạn này là tạo môi trường thuận lợi cho người nghèo tiếp cận với dịch vụ sản xuất, tự lực vượt qua nghèo vươn lên khá giả và làm giàu; đẩy nhanh tốc độ tăng thu nhập, mức sống của hộ nghèo; Tạo cơ chế cho người nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội một cách bình đẳng và hưởng thụ các thành quả của công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Theo đó, mục tiêu đặt ra cho Lạng Sơn là phải phấn đấu mỗi năm giảm tỷ lệ hộ nghèo 2-3% để đến cuối năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 17%, thu nhập của nhóm hộ nghèo tăng lên 1,6 lần; xóa xong nhà ở tạm, dột nát cho hộ nghèo diện chính sách người có công với cách mạng vào năm 2007; cơ bản xoá xong nhà ở dột nát cho hộ nghèo vào năm 2008 [6]; Đảm bảo 100%
Trang 20người nghèo được hưởng thụ đầy đủ các chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước
đối với hộ nghèo, xã nghèo, như chính sách vay vốn tín dụng, giáo dục, y tế,
khuyến nông, khuyến lâm… Để đạt được những mục tiêu trên, Chương trình
XĐGN tỉnh Lạng Sơn cũng đã đề ra một số quan điểm chỉ đạo bao gồm:
- Tập trung mọi nguồn lực, tranh thủ sự đầu tư của Chính phủ thông qua
các chương trình mục tiêu, các dự án, tiếp tục dành ngân sách của tỉnh đầu tư
các cơ sở hạ tầng, tăng nguồn vốn cho vay giảm nghèo, tiếp tục thực hiện các
chính sách trợ giúp người nghèo về y tế, giáo dục, đào tạo nghề, trợ cước trợ giá
- Trong công tác chỉ đạo điều hành, cần dựa trên cơ sở kết quả điều tra hộ
nghèo theo chuẩn mới, lựa chọn điểm, xây dựng mô hình, có biện pháp tập trung
nguồn lực cho những xã , thôn, bản nghèo, những xã đặc biệt khó khăn có tỷ lệ
hộ nghèo cao từ 55% trở lên để giảm nhanh hộ nghèo đồng thời bảo đảm sự
công bằng trong việc thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo
- Tăng cường sự phân công trách nhiệm cụ thể cho các ngành, các cấp, các
tổ chức chính trị xã hội, coi trọng việc huy động nguồn lực tại chỗ, tăng cường
đào tạo cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo ở các cấp, nhất là cán bộ thôn,
bản, khối phố, xã, phường, thị trấn
- Cần thiết lập hệ thống theo dõi đánh giá công tác xoá đói giảm nghèo cụ
thể cho từng cấp; xây dựng Quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo xoá đói giảm
nghèo các cấp Cụ thể hoá những quan điểm chỉ đạo trên, một số giải pháp cụ
thể đã được đề ra như sau: Giải pháp về tuyên truyền, vận động
- Tăng cường phát hiện nêu gương người tốt việc tốt, tổ chức tham quan tại
chỗ, giới thiệu các mô hình, cách làm hay để học tập nhân rộng điển hình Kịp
thời làm tốt công tác thi đua khen thưởng để động viên khích lệ cá nhân, hộ gia
đình, địa phương đi đầu, xuất sắc
- Tuyên truyền về các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, sự hỗ trợ của cộng đồng nhằm làm chuyển biến nhận thức để mỗi người dân trong diện hộ nghèo tự giác suy nghĩ tìm tòi cách làm ăn để thoát nghèo
1.1.2.5 Các đề tài đã nghiên cứu về đói nghèo
- “Thực trạng và giải pháp xoá đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc vùng núi cao tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Nguyễn Thành Công - Trường Đại học Kinh tế & QTKD Thái Nguyên năm 2006
- “Thực trạng và giải pháp phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nhằm tăng thu nhập cho hộ nghèo trên địa bàn huyện Định Hoá tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Đỗ Anh Tài - Trường Đại học Kinh tế & QTKD Thái Nguyên năm 2007
Các kết luận được rút ra từ các đề tài nghiên cứu trên:
+ Tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện Định Hoá hiện nay chưa phát triển đúng với tiềm năng của huyện Các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp chủ yếu được tìm thấy ở những hộ khá, giàu còn những hộ nghèo hầu như không có hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp
+ Sản phẩm tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện rất đơn điệu, chủ yếu
là các sản phẩm truyền thống của địa phương và có giá trị kinh tế thấp như: mành cọ, cót Có một số sản phẩm khác cho chế biến nông sản hàng hoá nhưng mới chỉ dừng lại ở xay sát, sơ chế các nông lâm sản
+ Từ việc nghiên cứu các điều kiện để phát triển tiểu thủ công nghiệp như: Vốn, lao động, nguyên nhiên liệu tại chỗ là mây, tre, nứa, cọ với mức đầu tư ban đầu thấp, công nghệ giản đơn, thị trường tại chỗ,
+ Trong các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện thì vốn đầu tư ban đầu và nguyên vật liệu thể hiện sự tác động rõ rệt nhất Đối với các yếu tố đầu tư ban đầu đòi hỏi các hộ gia đình
mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao khối lượng sản phẩm để sử dụng các trang
Trang 21thiết bị ban đầu hiệu quả hơn, giảm giá thành sản xuất, qua đó nâng cao thu nhạp
cho hộ sản xuất
+ Trong các giải pháp đề ra, giải pháp cấp bách nhất đó là thành lập ra cơ
quan chuyên trách về phát triển tiểu thủ công nghiệp và tìm kiếm mở rộng thị
trường
1.1.2.6 Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở Việt Nam
Có thể nói có rất nhiều những nguyên nhân gây ra đói nghèo cho đồng bào, ở
đây chúng tôi chỉ xin đưa ra một số nhóm những nguyên nhân cơ bản nhất:
a Nguồn lực hạn chế
Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn
của nghèo đói và thiếu nguồn lực Người nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì họ
không thể đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của họ Ngược lại, nguồn vốn nhân
lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi nghèo đói
Các hộ nghèo có rất ít đất đai và tình trạng không có đất đang có xu hướng
tăng lên Thiếu đất đai ảnh hưởng tới việc đảm bảo an ninh lương thực của người
nghèo, cũng như khả năng đa dạng hoá sản xuất, để hướng tới sản xuất các loại
cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao hơn Đa số người nghèo lựa chọn phương
án sản xuất tự cung, tự cấp là chính Họ vẫn sử dụng những phương thức sản xuất
truyền thống, sử dụng những phương thức này dẫn đến giá trị sản phẩm không
cao, năng suất các loại cây trồng, vật nuôi thấp nên thiếu tính cạnh tranh trên thị
trường và vì vậy đưa họ vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói
Bên cạnh đó, đa số người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch
vụ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư Nhiều những hạn chế về yếu tố đầu
vào sản xuất như đất đai, lao động, giống, phân bón, là những nguyên nhân
chính kìm hãm sự phát triển của sản xuất nông nghiệp
Người nghèo cũng thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng Sự hạn chế
của nguồn vốn là một trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi mới sản
xuất, áp dụng khoa học công nghệ mới Mặc dù trong chương trình xoá đói giảm nghèo Quốc gia, khả năng tiếp cận tín dụng đã được tăng lên rất nhiều, song vẫn còn khá nhiều người nghèo không có khả năng tiếp cận tín dụng Một mặt họ không có tài sản để thế chấp, mặt khác họ không có kế hoạch sản xuất cụ thể, hoặc sử dụng đồng vốn không đúng mục đích, do vậy họ khó có điều kiện tiếp cận nguồn vốn và cuối cùng càng làm cho họ nghèo hơn
b Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định
Người nghèo là những người có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt, ổn định Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do đó không có điều kiện để nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát khỏi đói nghèo Bên cạch đó, trình độ học vấn thấp có ảnh hưởng tới các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái đến không những thế hệ hiện tại mà cả thế hệ trong tương lai
Trình độ học vấn hạn chế cũng ảnh hưởng tới khả năng tìm kiếm việc làm trong những khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao hơn và ổn định hơn
c Người nghèo ít có cơ hội tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp
Người nghèo, đồng bào dân tộc ít người và các đối tượng đặc biệt thường
có trình độ học vấn thấp nên không có khả năng tự giải quyết các vấn đề vướng mắc có liên quan tới pháp luật Nhiều văn bản pháp luật có cơ chế thực hiện phức tạp, người nghèo khó nắm bắt Mạng lưới các dịch vụ pháp lý, số lượng các luật gia, luật sư hạn chế, phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở các thành phố, thị xã chi phí dịch vụ pháp lý còn cao
d Các nguyên nhân về nhân khẩu học
Quy mô gia đình là “mẫu số” quan trọng có ảnh hưởng đến mức thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ
Trang 22quả của nghèo đói Tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình nghèo còn rất cao Đông
con, ít lao động là một trong những đặc điểm của các gia đình nghèo Quy mô
gia đình lớn, tỷ lệ người ăn theo cao
e Nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác
Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày
và những biến động bất thường xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộng đồng
Nguồn thu nhập của họ rất thấp, bấp bênh, khả năng tích luỹ kém nên họ khó có
khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống như (thiên tai, mất
mùa, mất việc làm, mất sức khoẻ, tai nạn ) Với khả năng kinh tế mong manh
của các hộ gia đình trong nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn
lớn trong cuộc sống của gia đình họ và gây ra tình trạng nghèo đói cho hộ
Các rủi ro trong sản xuất kinh doanh cũng rất cao đối với người nghèo, do họ
không có trình độ tay nghề và thiếu kinh nghiệm làm ăn Khả năng đối phó và
khắc phục rủi ro của người nghèo cũng rất kém do nguồn thu nhập hạn hẹp làm
cho hộ gia đình mất khả năng phục hồi rủi ro và có thể còn gặp rủi ro hơn nữa
f Bệnh tật và sức khoẻ yếu cũng là yếu tố đẩy con người vào tình trạng
nghèo đói trầm trọng
Vấn đề bệnh tật và sức khoẻ kém ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập và chi
tiêu của người nghèo, làm họ rơi vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo Họ phải
gánh chịu hai gánh nặng: Một là mất đi thu nhập từ lao động, hai là gánh chịu
chi phí khám chữa bệnh, kể cả chi phí trực tiếp và gián tiếp
g Những tác động của chính sách vĩ mô và chính sách cải cách (tự do hoá
thương mại, cải cách doanh nghiệp nhà nước) đến nghèo đói
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời gian qua là một trong
những nhân tố ảnh hưởng tới mức giảm nghèo Việt Nam đã đạt được những
thành tích giảm nghèo rất đa dạng và trên diện rộng Tuy nhiên quá trình phát
triển và mở cửa nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực đến người nghèo
- Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý: Tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn còn thấp, chủ yếu mới tập trung cho thuỷ lợi, các trục công nghiệp chính, chú trọng nhiều vào đầu tư thay thế nhập khẩu, chưa chú trọng đầu tư cho những ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động
- Cải cách các doanh nghiệp Nhà nước và các khó khăn về tài chính của các doanh nghiệp Nhà nước đã dẫn đến việc mất đi nhiều việc làm trong giai đoạn đầu cải cách Nhiều công nhân mất việc làm đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm việc làm mới và bị rơi vào nghèo đói Phần lớn số người này là phụ nữ, người có trình độ thấp và người lớn tuổi
- Chính sách cải cách kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tự do hóa thương mại đã tạo ra những động lực tốt cho nền kinh tế, khuyến khích các doanh nghiệp phát triển Tuy nhiên một số ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động chưa được chú trọng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng tạo việc làm chưa được quan tâm và tạo cơ hội phát triển Tình trạng thiếu thông tin, trang thiết bị sản xuất, khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp dẫn đến nhiều doanh nghiệp bị phá sản và đẩy công nhân vào thất nghiệp và dẫn đến nghèo đói
- Tăng trưởng kinh tế giúp xoá đói giảm nghèo trên diện rộng, song việc cải thiện tình trạng của người nghèo (về thu nhập, khả năng tiếp cận, phát triển các nguồn lực) lại phụ thuộc vào loại hình tăng trưởng kinh tế Việc phân phối lợi ích tăng trưởng giữa các tầng lớp dân cư không bình đẳng, điều này dẫn đến khoảng cách giàu nghèo trong xã hội ngày càng tăng lên
- Kết cấu hạ tầng giao thông đến các vùng sâu, vùng xa, vùng đói nghèo vừa thiếu vừa yếu Việc tiếp cận các vùng này còn hết sức khó khăn Vốn đầu tư của Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu, đóng góp nguồn lực của toàn dân còn hạn chế, chủ yếu bằng lao động
Trên đây là một số những nguyên nhân và ảnh hưởng tới tình hình nghèo đói trong dân cư Tuy nhiên, đối với những địa phương khác nhau thì có thể có
Trang 23những nguyên nhân khác nhau Ngay trong bản thân các hộ nông dân cũng có
thể có một hay một số những nguyên nhân tác động gây ra tình trạng nghèo đói,
có những nguyên nhân chủ quan những cũng có những nguyên nhân khách
quan Điều mấu chốt trong nghiên cứu đói nghèo là phải tìm ra được những
nguyên nhân tác động tới hộ cũng như đâu là nguyên nhân cơ bản nhất?
1.1.1.7 Những giải pháp trong chiến lược xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
trong những năm gần đây
Để xây dựng được những giải pháp xoá đói giảm nghèo của một vùng, một
quốc gia phải được dựa trên điều kiện thực tế của địa phương Trong chiến lược
toàn diện về tăng trưởng xoá đói giảm nghèo của Việt Nam dựa vào những bài
học kinh nghiệm trong quãng thời gian thực hiện xoá đói giảm nghèo vừa qua
với những thành công đã đạt được Việt Nam đã đúc kết lại một số giải pháp
mang tính chất chính sách và định hướng để xoá đói giảm nghèo sau:
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như hệ thống điện, đường, trường, trạm
cho các xã nghèo và các xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, xã vùng cao
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là một giải pháp mang tính chiến lược để xoá
đói giảm nghèo và thu hẹp khoảng cách giữa vùng phát triển và vùng chậm phát
triển Việt Nam thực hiện thành công giải pháp này thông qua các chương trình
như 134, 135, 156 Cụ thể năm 2002, cả nước có 2362 xã thuộc chương trình
135 với tổng số vốn đầu tư là 1.149.500 triệu đồng (Chính phủ, 2002) Có thể nói
việc đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã nghèo không những tạo điều kiện phát triển
kinh tế, nâng cao đời sống cho người dân cả về vật chất lẫn tinh thần mà còn tạo
điều kiện mở rộng giao lưu hàng hoá, xoá bỏ khoảng cách giữa các vùng
- Hoàn thiện hệ thống các chính sách xoá đói giảm nghèo
Để công tác xoá đói giảm nghèo được thành công mang tính bền vững, đòi
hỏi Nhà nước và các cơ quan quản lý cần xây dựng một hệ thống chính sách đồng
bộ từ Trung ương đến địa phương Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc và
Malaysia cho thấy, nếu các chính sách xoá đói giảm nghèo được xây dựng đồng bộ
sẽ giúp cho việc triển khai các dự án, chương trình được thành công
- Xây dựng đào tạo đội ngũ cán bộ xoá đói giảm nghèo đầy đủ về năng lực và phẩm chất
- Bố trí thời vụ cây trồng, vật nuôi hợp lý với điều kiện thời tiết khí hậu cụ thể của vùng
- Thực hiện tốt chính sách cho vay vốn ưu đãi đối với hộ nghèo, nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn
- Tăng cường công tác giáo dục đào tạo nhằm nâng cao hiểu biết cho người dân về kiến thức sản xuất trồng trọt chăn nuôi và cả lĩnh vực kinh tế thị trường
- Thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hoá gia đình nhằm giảm tỷ lệ sinh trong các hộ nhất là đối với hộ nghèo
- Thực hiện đào tạo nghề, mở một số ngành nghề phụ để tăng thu nhập giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động địa phương
- Thực hiện tốt các chính sách xã hội khác như y tế, giáo dục, an ninh …
Tóm lại, từ cơ sở lý luận và thực tiễn nghèo đói chúng ta nhận thấy nghèo đói đang là một vấn đề bức xúc hiện nay không chỉ cho một quốc gia, một vùng lãnh thổ, không chỉ đối với các nước nghèo mà còn đối với cả các nước công nghiệp phát triển
Nghèo đói được nhìn nhận dưới nhiều góc độ và trong nhiều giai đoạn tuy nhiên đều tập trung vào hai vấn đề chủ yếu là thu nhập và chi tiêu
Nghèo đói có thể do nhiều nguyên nhân dẫn đến song trong đó tập trung chính
ở một số nguyên nhân về nguồn lực hạn chế như đất đai, lao động, vốn, khoa học kỹ thuật, tập quán canh tác, cơ hội việc làm phi nông nghiệp
Với những chính sách hiện nay mà Nhà nước ta đang áp dụng đã đạt được nhiều thành công đáng khích lệ, tuy nhiên trong lĩnh vực nông thôn và đối với
Trang 24các hộ dân hiện nay việc giúp họ thoát bớt khỏi sự phụ thuộc vào các nguồn lực
tự nhiên cho sản xuất nông nghiệp, đồng thời nâng cao mức sống cho các hộ dân
nghèo là điều cần phải làm và đó chính là mục tiêu chính của đề tài này
1.2 Phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Đây là bước hết sức quan trọng có liên quan trực tiếp tới độ chính xác của
các kết quả nghiên cứu Vì vậy, câu hỏi nghiên cứu phải dễ hiểu, sát với thực tế
của địa bàn nghiên cứu và phải đảm bảo tính khách quan
1) Thực trạng tình hình nghèo đói của các hộ nông dân khu vực miền núi
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên như thế nào?
2) Thực trạng bảo vệ môi trường và xử lý rác thải trong sinh hoạt của các
hộ nông dân khu vực miền núi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên như thế nào?
3) Nguyên nhân của sự khác biệt trong thu nhập giữa hai nhóm hộ nghèo
và không nghèo của các hộ nông dân khu vực miền núi trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên
4) Giải pháp kinh tế nào mang tính khả thi góp phần xoá đói giảm nghèo và
cải thiện môi trường sống cho các hộ nông dân nghèo khu vực miền núi trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên?
1.2.2 Các phương pháp nghiên cứu
1.2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
a Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua các ấn phẩm, các tài liệu, báo cáo
của văn phòng tỉnh uỷ, UBND hai huyện Định Hoá và Võ Nhai, các phòng
Thống kê, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các cán bộ chuyên trách ở
hai địa phương trên Số liệu thu thập bao gồm: Tình hình sử dụng đất đai, tổng
số hộ trong đó chia ra theo các tiêu chí: hộ khá, hộ trung bình, cận nghèo và hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo
b Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp + Phương pháp chọn điểm nghiên cứu Định Hoá và Võ Nhai là hai huyện đại diện cho khu vực miền núi của tỉnh Thái Nguyên, đời sống kinh tế - xã hội của người dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao so với các khu vực khác trong tỉnh Chính vì vậy, đề tài lựa chọn hai huyện Định Hoá và Võ Nhai thuộc tỉnh Thái Nguyên làm địa điểm nghiên cứu + Phương pháp chọn mẫu điều tra
* Phương pháp phỏng vấn trực tiếp:
Để thu thập số liệu cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã điều tra các hộ sản xuất nông nghiệp bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp một thành viên hiểu biết về nông nghiệp của gia đình Điều này đảm bảo lượng thông tin có tính đại diện và chính xác Chúng tôi phỏng vấn thử 10 hộ theo bộ mẫu câu hỏi đã được soạn thảo trước Sau đó xem xét bổ sung phần còn thiếu và loại
bỏ phần không phù hợp trong bảng câu hỏi Câu hỏi được soạn thảo bao gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi mở Nội dung các câu hỏi phục vụ cho đề tài nghiên cứu được thiết kế theo các nhóm thông tin sau:
1 Nhóm thông tin về xác định hộ gia đình
2 Nhóm thông tin về các đặc điểm nhân khẩu của hộ
3 Nhóm thông tin về các nguồn lực tự nhiên của hộ
4 Nhóm thông tin về các nguồn thu nhập của hộ
5 Nhóm thông tin về hiện trạng môi trường sống và bảo vệ môi trường
7 Nhóm thông tin về sự thiếu thốn các nguồn lực phát triển kinh tế của hộ
8 Nhóm thông tin đề cập đến các giải pháp cải thiện tình trạng đói nghèo của hộ
Trang 25Để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, đề tài lựa chọn mẫu theo phương
pháp ngẫu nhiên Trong đó, đầu tiên địa điểm điều tra được chọn như bảng 1.2
dưới đây Mỗi huyện tác giả lựa chọn ra 02 xã thuộc khu vực miền núi để tiến
hành điều tra Căn cứ theo danh sách phân loại hộ của Phòng Lao động, Thương
binh và xã hội ta có được danh sách các hộ nghèo và không nghèo (hộ khá + hộ
trung bình) Từ danh sách đó chọn ngẫu nhiên mỗi xã 35 hộ nghèo và 15 hộ
không nghèo Cụ thể tác giả chọn địa điểm điều tra và mẫu điều tra theo bảng
dưới đây:
Bảng 1.2: Số lượng và địa điểm điều tra kinh tế hộ năm 2009
Đơn vị tính: hộ
+ Sau khi xác định được số lượng mẫu cần điều tra và địa điểm điều tra,
bước tiếp theo là tiến hành điều tra tình hình kinh tế và đói nghèo của hộ, cập
nhật trên máy tính rồi xử lý phân tích
+ Thu thập tình hình của hộ bằng phiếu điều tra xây dựng trước Qua phiếu
điều tra này sẽ cho phép thu thập được các thông tin định tính và định lượng về
vấn đề liên quan đến sản xuất và nguyên nhân nghèo đói của hộ
+ Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: Thu thập thông tin qua các cán
bộ địa phương, người lãnh đạo trong cộng đồng và những người dân có uy tín
trong cộng đồng Phương pháp này đặc biệt cho phép khai thác được những kiến
thức bản địa của người dân địa phương về các nguyên nhân đói nghèo, các khó khăn trong phát triển kinh tế
* Phương pháp quan sát trực tiếp
Đây là phương pháp rất sinh động và thực tế Tác giả có thêm các thông tin tại địa bàn nghiên cứu trong quá trình đi điều tra phỏng vấn hộ thông qua ghi chép, chụp ảnh lại một cách cụ thể, thực tế, phong phú và khách quan
1.2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin
Thông tin và các số liệu sau khi thu thập được sẽ được tác giả cập nhật trên chương trình Excel 2007 của Microsoft Sử dụng phần mềm xử lý thống kê xã
hội SPSS 15.0 (Statistical Package For Social Sciences) để xử lý thống kê và
xem xét mối tương quan giữa các chỉ tiêu nghiên cứu đồng thời kiểm định các giả thiết thống kê định lượng, định tính trong mô hình phân tích
1.2.2.3 Phương pháp phân tích đánh giá
a Phương pháp thống kê mô tả: Là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội vào việc mô tả sự biến động cũng như xu hướng phát triển của hiện tượng kinh tế xã hội thông qua số liệu thu thập được Phương pháp này được dùng để tính, đánh giá các kết quả nghiên cứu từ các phiếu điều tra hộ
b Phương pháp phân tích so sánh: Xử lý số liệu tính toán ra các chỉ tiêu số tương đối nhằm chỉ rõ nguyên nhân biến động của hiện tượng nghiên cứu Phương pháp này dùng để so sánh sự sự khác nhau về thu nhập từ các ngành nghề khác nhau, cơ cấu thu nhập giữa các hộ tham gia dự án và không tham gia dự án
c Phương pháp phân tổ thống kê: Mục tiêu của việc phân tổ trong nghiên cứu là làm cho sự đồng nhất trong cùng một nhóm và sự khác biệt giữa các nhóm tăng lên Tác giải đã phân tổ các hộ điều tra theo tiêu chí: Nhóm hộ nghèo
và nhóm hộ không nghèo để tiến hành phân tích đánh giá xem có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê đối với các chỉ tiêu nghiên cứu giữa hai nhóm hộ như: Đất đai,
Trang 26thu nhập bình quân, tuổi bình quân của chủ hộ Ngoài ra, tác giả còn phân tổ số
liệu theo các tiêu chí định tính: Trình độ văn hoá, giới tính của chủ hộ, nhóm hộ
nghèo và nhóm hộ không nghèo, đánh giá mức độ các hoạt động gây ô nhiễm tại
địa phương của chủ hộ để phân tích đánh giá các yếu tố theo đa chiều [5]
1.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích
1.2.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất của hộ
(1) Tổng giá trị sản xuất của hộ : GO (Gross Output) là toàn bộ giá trị sản
phẩm do hộ làm ra, được tính bằng tổng của các sản phẩm làm ra quy về giá trị
GO = ∑piqi (i = 1:n)
Trong đó : qi khối lượng sản phẩm phẩm i
Pi : giá của sản phẩm i
(2) Chi phí trung gian: IC (Intermediate Cost) là toàn bộ những chi phí
phục vụ quá trình sản xuất của hộ (không bao gồm trong đó giá trị lao động,
thuế, chi phí tài chính, khấu hao)
IC = ∑ Ci (i = 1:n)
(3) Giá trị gia tăng: VA (Value Added) là phần giá trị tăng thêm của hộ khi
sản xuất trên một đơn vị diện tích
VA = GO - IC
1.2.3.2 Các chỉ tiêu bình quân
Từ phần mềm SPSS chúng ta có các chỉ tiêu bình quân như: Tuổi bình
quân của chủ hộ, bình quân diện tích các loại đất giữa hai nhóm hộ, thu nhập –
chi phí bình quân, số lượng lao động bình quân
1.2.3.3 Kiểm định: Kiểm định các hệ số của biến định lượng bằng thống kê
Mann Whitney và các hệ số của biến định tính bằng thống kê Pearson
Chi-Square thông qua phần mềm SPSS ở các mức xác suất 90%, 95% và 99%
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG SỐNG CHO NGƯỜI NGHÈO KHU VỰC MIỀN NÚI TỈNH
THÁI NGUYÊN
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Trang 272.1.1.1 Vị trí địa lý:
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi, nằm trong khu vực trung du và
miền núi Bắc Bộ, có diện tích tự nhiên 3.534,35 km2, dân số tính đến ngày
01/04/2009 là 1.124.786 người với 8 dân tộc anh em, trong đó chủ yếu là người
Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chí, Cao Lan, Trại và Dao Dân số phân bố
không đều Có khoảng 23% dân số tập trung ở khu vực Thành phố Thái Nguyên
Mật độ dân số rất khác biệt giữa các khu vực Khu vực thành phố Thái Nguyên,
thị xã Sông Công có mật độ dân số khá đông, vùng cao và vùng núi dân cư thưa
thớt Mật độ dân số thấp nhất là huyện Võ Nhai 78 người/km2, cao nhất là thành
phố Thái Nguyên 1.366 người/km2[12]
Thái Nguyên là tỉnh không lớn, chỉ chiếm 1,43% diện tích cả nước và
0,13% dân số so với cả nước Về mặt hành chính, Thái Nguyên có 7 huyện
bao gồm các huyện: Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ, Phú Lương, Định Hoá, Phổ
Yên và huyện Phú Bình Có 01 thị xã Sông Công và 01 thành phố với tổng
cộng 180 xã, phường, thị trấn
Tỉnh Thái Nguyên, phía Bắc giáp với Bắc Kạn; phía Tây giáp với Vĩnh
Phúc, Tuyên Quang; phía Đông giáp với Lạng Sơn, Bắc Giang; phía Nam với
thủ đô Hà Nội Với vị trí địa lý khá thuận lợi và là một trong những trung tâm
chính trị, kinh tế của Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi Đông
Bắc nói chung, Thái Nguyên còn là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng
trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Sự giao lưu đó được thực hiện
thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông mà thành phố Thái
Nguyên là đầu nút cửa ngõ giao thông để kết nối giữa các khu vực trên
Đường quốc lộ số 03 từ Hà Nội lên Bắc Kạn, Cao Bằng cắt dọc toàn bộ tỉnh Thái Nguyên chạy qua thành phố Thái Nguyên là cửa ngõ phía Nam nối Thái Nguyên với Hà Nội, các tỉnh đồng bằng Sông Hồng, với các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế, đồng thời còn là cửa ngõ phía Bắc qua tỉnh Bắc Kạn lên Cao Bằng thông sang biên giới Trung Quốc
Các quốc lộ 37, 1B, 279 cùng với hệ thống đường tỉnh lộ, huyện lộ là những mạch máu quan trọng nối Thái Nguyên với các tỉnh bạn lân cận như: Bắc Giang, Bắc Ninh, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc và thủ đô Hà Nội Tuyến đường sắt Hà Nội - Quán Triều là mối giao lưu quan trọng giữa vùng đồng bằng với khu công nghiệp Sông Công, khu Gang Thép và thành phố Thái Nguyên và nhiều cụm công nghiệp vừa và nhỏ mới được hình thành xung quanh thành phố Thái Nguyên
Cùng với vị trí trung tâm của Việt Bắc, Thái Nguyên còn là căn cứ địa cách mạng trong những năm kháng chiến, có truyền thống cách mạng và nền văn hoá đậm đà bản sắc của các dân tộc miền núi phía Bắc Với 07 trường đại học hiện nay thuộc Đại học Thái Nguyên và 27 trường cao đẳng, trung cấp, dạy nghề, lái xe Thái Nguyên còn là trung tâm đào tạo khoa học và giáo dục cho các tỉnh miền núi phía Bắc, cung cấp nguồn nhân lực được đào tạo
có chất lượng cho các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và cho tỉnh Thái Nguyên nói riêng
2.1.1.2 Đất đai, địa hình
Trong tổng diện tích 352.621,54ha đất tự nhiên của tỉnh thì có đến 78,08% diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp Diện tích đất nông nghiệp của tỉnh Thái Nguyên theo thống kê đến cuối năm 2009 là
Trang 28275.310,11ha và trong đó diện tích đất trồng lúa chiếm tới 59.738,54ha chiếm
16,94% tổng diện tích đất nông nghiệp
Căn cứ vào mục đích sử dụng mà chúng ta có thể tạm phân chia diện tích
đất đai của tỉnh Thái Nguyên như bảng 2.1 sau đây:
Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Thái Nguyên năm 2009
1 Đất sản xuất nông nghiệp 99.440,69 28,20
1.1 Đất trồng cây hàng năm 59.738,54 16,94
1.2 Đất trồng cây lâu năm 39.702,15 11,26
2.3 Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp 3.202,01 0,86
2.4 Đất có mục đích công cộng 14.392,61 4,08
4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 802,27 0,23
5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 10.328,56 2,93
Nguồn: Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh thuộc khu vực miền núi phía bắc nên vẫn có những đặc điểm chung của khu vực đó là tỷ lệ đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng cao Đất lâm nghiệp của tỉnh Thái Nguyên là 171.688,31ha chiếm 48,69% trên tổng diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh
Diện tích đất phi nông nghiệp là 42.324,09ha chiếm 12% trong tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Diện tích đất dành cho nhà ở năm 2009 là 10.597,25ha chiếm 3,31% trong tổng diện tích đất tự nhiên và diện tích chuyên dùng để xây dựng trụ sở các cơ quan hành chính sự nghiệp, đất cho an ninh quốc phòng, các công trình công cộng phục vụ cho xã hội là 20.416,61ha chiếm tỷ trọng 5,79% trong tổng diện tích đất tự nhiên
Bên cạnh đó, diện tích đất chưa sử dụng là 34.987,3ha chiếm 9,92% trên tổng diện tích đất tự nhiên Diện tích này chủ yếu tập trung ở các huyện vùng cao như Võ Nhai, Định Hoá và vẫn để trong trạng thái hoang hoá tự nhiên
2.1.1.3 Tiềm năng khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản: Thái Nguyên được thiên nhiên ban tặng cho
một nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú Các loại tài nguyên khoáng sản như quặng sắt, than mỡ, thiếc, tài nguyên làm vật liệu xây dựng tuy có trữ lượng không lớn nhưng đã được thăm dò và nhiều loại đang khai thác, là nhân tố quan trọng trong việc hình thành một số trung tâm công nghiệp có mức độ chuyên môn hoá cao
Bên cạnh việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, công tác quản lý tài nguyên môi trường luôn được thực hiện sát sao, kịp thời có các giải pháp ngăn chặn xử lý để quản lý, lập trật tự ổn định tình hình về khai thác, sử dụng, vận chuyển khoáng sản và khuyến khích các nhà đầu tư tập trung vào chế biến sâu, nâng cao giá trị trong khai thác chế biến tài nguyên khoáng sản
Trang 29theo quy hoạch; kịp thời cấp đất cho chủ đầu tư các dự án, công trình đầu tư
trên địa bàn tỉnh; cơ bản hoàn thành việc công tác cấp đổi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất về việc điều chỉnh cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với thửa
đất ở có vườn, ao đã cấp vượt hạn mức đất ở theo quy định, do không tách
diện tích đất ở và đất vườn, ao trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên theo Nghị quyết
số 34 của HĐND tỉnh Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động
tài nguyên, môi trường, chấn chỉnh và xử lý vi phạm để đảm bảo việc chấp
hành chính sách, pháp luật về quản lý, bảo vệ tài nguyên, môi trường theo
quy định [15]
2.1.1.4 Khí hậu, thuỷ văn
Khí hậu chia làm 2 mùa rất rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa
khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Nhiệt độ trung bình năm: 24,2ºC
Nhiệt độ cao nhất : 38ºC
Nhiệt độ thấp nhất : 11,5ºC
Lượng mưa trung bình : 152,9mm
/tháng
Độ ẩm không khí trung bình trong năm: 80 (%)
Lượng nước bốc hơi trung bình 960mm/năm
Số giờ nắng trung bình trong tháng: 122 giờ
Hệ thống thủy văn: Thái Nguyên có điều kiện thuỷ văn khá thuận lợi: Có hệ
thống sông Cầu với tổng chiều dài 26 km, Hồ Núi Cốc có diện tích tự nhiên 25
km2 cung cấp và điều phối nước tưới, tiêu đáp ứng cho sản xuất kinh doanh nông
nghiệp và nước sinh hoạt cho người dân
Có thể nói tỉnh Thái Nguyên có điều kiện về đất đai, khí hậu và nguồn nước rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp với hai loại cây trồng chính là cây lúa và cây chè Tỉnh có diện tích rừng bao phủ trên 48% vừa có chức năng điều hoà khí hậu, cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt đồng thời
mở ra tiềm năng phát triển kinh tế khi UBND tỉnh đã và đang giao đất, giao rừng cho người dân địa phương quản lý
2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội
2.1.2.1 Tình hình dân số và lao động
Tổng dân số toàn tỉnh Thái Nguyên và cơ cấu dân số được trình bày ở bảng 2.2 dưới đây:
Bảng 2.2: Dân số và lao động của tỉnh Thái Nguyên năm 2009
Dân số trong độ tuổi lao động Người 666.903 53,64
* Tổng số lao động nam Người 338.390 50,74
* Tổng số lao động nữ Người 328.513 49,26
Phân theo trình độ chuyên môn Người
Qua đào tạo nghề và tương đương Người 95.300 14,29 Trung học chuyên nghiệp Người 50.818 7,62 Cao đẳng đại học trở lên Người 49.684 7,45
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên
Cuối năm 2009, tổng dân số Thái Nguyên là 1.127.430 người trong đó số người trong độ tuổi lao động là 666.903 người chiếm 53,64% trong tổng
Trang 30dân số Số lao động nam là 338.390 người và số lao động nữ là 328.513
người Trong đó số lao động có trình độ cao đẳng trở lên khoảng 49.684 lao
động chiếm 7,45%
Tính tại thời điểm 0h ngày 01/4/2009, tổng dân số tỉnh Thái Nguyên là
1.124.786 người, trong đó dân số nam là 559.153 người (chiếm 49,71%); dân số
nữ là 565.633 người (chiếm 50,29%) So với cả nước, dân số tỉnh Thái Nguyên
đứng thứ 33 và đứng thứ 3 các tỉnh trong vùng trung du và miền núi phía Bắc
(sau tỉnh Bắc Giang và tỉnh Phú Thọ) Sau 10 năm, dân số tỉnh Thái Nguyên
tăng thêm 78,9 nghìn người, bình quân mỗi năm tăng 7,9 nghìn người Tỷ lệ
tăng dân số bình quân năm trong thời kỳ giữa 2 cuộc tổng điều tra năm 1999 và
2009 là 0,73%/năm, thấp hơn mức tăng bình quân 1,7%/năm của giai đoạn
1989-1999 và thấp hơn mức tăng bình quân chung của cả nước (cả nước giai
đoạn 1999-2009 tăng bình quân 1,2%/năm) Dân số thành thị của tỉnh Thái
Nguyên tại thời điểm tổng điều tra 2009 là 288 nghìn người, chiếm 25,62% dân
số (năm 1999 dân số khu vực thành thị là 228 nghìn người, chiếm 21,81% dân
số) và là tỉnh có tỷ lệ dân số thành thị cao thứ 22 so với cả nước và đứng đầu
trong số các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc [12]
2.1.2.2 Tình hình kinh tế
Trong những năm gân đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế,
xã hội của Việt Nam nói chung và của tỉnh Thái Nguyên nói riêng, tỉnh Thái
Nguyên đã đạt được các kết quả về tăng trưởng kinh tế đáng khích lệ Trong 5
năm gần đầy, tỉnh Thái Nguyên luôn giữa được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
trên 10% so với năm trước Cụ thể năm 2008, GDP của cả nước đạt 6,18% thì
Thái Nguyên có tốc độ tăng trưởng GDP đạt 11,47%
Tổng sản phẩm trong tỉnh năm 2009 (theo giá so sánh 1994) đạt 31.298 tỷ
đồng, tăng 30% so với năm 2008 Trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ
sản ước đạt 5.778 tỷ đồng, tăng 40% so với năm 2008; khu vực công nghiệp và
xây dựng chiếm tỷ trọng cao nhất nhưng chỉ đạt tốc độ tăng trưởng là 29% năm
2008 so với năm 2008, đạt 19.209 tỷ đồng Khu vực dịch vụ đạt 6.312 tỷ đồng,
tăng 26% so với năm trước
Bảng số liệu 2.3 dưới đây sẽ cho thấy các chỉ tiêu phát triển kinh tế chính của tỉnh trong ba giai đoạn 2006-2008:
Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu cơ bản về kinh tế của tỉnh Thái Nguyên
2 Công nghiệp, xây dựng 8.208 9.912 11.384 20,8 14,9
3 Thương mại, dịch vụ 5.019 6.312 7.637 25,8 21,0
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên 2009
Trong giai đoạn 2007-2009 ta thấy tổng giá trị sản xuất của tỉnh liên tục đạt mức tăng trưởng cao Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh năm 2008 so với năm
2007 đạt 26,7% Tuy nhiên, năm 2009 là một năm đầy biến động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu trong đó có cả Việt Nam và tỉnh Thái Nguyên nói riêng Tốc độ tăng
Trang 31trưởng kinh tế của tỉnh năm 2009 so với năm 2008 chỉ đạt 15,3% Riêng lĩnh
vực nông, lâm, ngư nghiệp trong giai đoạn trên cũng bị giảm sút về tốc độ tăng
trưởng Tốc độ tăng trưởng kinh tế của lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp năm
2008 so với năm 2007 đạt mức trăng trưởng rất cao lên đến 39,5% và cũng giảm
xuống mạnh còn 9,8% trong năm 2009 so với năm 2008 Lĩnh vực công nghiệp
và dịch vụ, thương mại cũng có những ảnh hưởng tiêu cực như lĩnh vực nông
nghiệp Cụ thể đối với lĩnh vực công nghhiệp và xây dựng có tốc độ tăng trưởng
năm 2008 so với 2007 đạt 20,8% thì đến năm 2009, tốc độ tăng trưởng năm
2009 so với 2008 lĩnh vực này chỉ đạt được 14,9% Lĩnh vực thương mại và dịch
vụ có tốc độ tăng trưởng năm 2008 so với 2007 là 25,8% thì đến năm 2009, tốc
độ tăng trưởng đạt được so với 2008 chỉ giữ được ở mức 21%
Như vậy, tuy có nhiều ảnh hưởng không thuận lợi của kinh tế thế giới trong
năm 2009 nhưng tỉnh Thái Nguyên vẫn có được tốc độ tăng trưởng về kinh tế
khá cao trong thời kỳ trên Giá trị sản xuất của tất cả các ngành, các lĩnh vực đạt
được trong năm 2009 đều cao hơn so với năm 2008
2.1.2.3 Tình hình xã hội
a Giáo dục
Thái Nguyên là trung tâm văn hoá của chiến khu Việt Bắc Công tác giáo
dục rất chú trọng Với sự nỗ lực đầu tư cơ sở hạ tầng, đội ngũ giáo viên ưu tú,
Thái Nguyên là trung tâm đào tạo đội ngũ trí thức, lao động có trình độ cao chỉ
xếp sau thủ đô Hà Nội tại khu vực phía Bắc Tiếp tục thực hiện tốt các cuộc vận
động, toàn ngành triển khai công tác thanh tra toàn diện các trường để duy trì nề
nếp kỷ cương dạy và học; tổ chức triển khai phong trào thi đua “xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực” đối với cấp học; thực hiện hoàn thành
tốt mục tiêu nhiệm vụ năm học 2008-2009, kết quả học sinh đã tốt nghiệp THPT
đạt 84,92% và hệ bổ túc THPT đạt 27,36% Chủ động phối hợp với các trường
đại học trên địa bàn để tổ chức tốt công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh đảm bảo an toàn, đúng quy chế Chủ động triển khai hiệu quả đề án kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên; đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình xây dựng ký túc xá sinh viên và khu đô thị sinh viên trên địa bàn, trong năm 2009-2010 đã tổ chức khởi công xây dựng 52 tòa nhà; tập trung lập quy hoạch để xây dựng khu đô thị sinh viên trong giai đoạn tiếp theo với tổng kinh phí trên 1.000 tỷ đồng do Đại học Thái Nguyên làm chủ đầu tư
Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu cơ bản về giáo dục tỉnh Thái Nguyên năm 2009
Chỉ tiêu trường học Số lượng
Số lượng lớp học
Giáo viên
Học Sinh
Trang 32Trong năm 2009, các trường, trung tâm, cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh đã
tổ chức dạy nghề trình độ sơ cấp cho 14.026 người, đạt 107,9% kế hoạch đề ra;
nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh đến năm 2009 đạt 102%
Bằng giải pháp tổ chức các sàn giao dịch việc làm thường xuyên một tháng hai
lần để người lao động có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với các nhà tuyển dụng trong
và ngoài tỉnh để tìm kiếm cơ hội việc làm cho riêng mình nên trên địa bàn tỉnh,
trong năm 2009 đã giải quyết việc làm mới cho việc làm mới cho 16.000 lao
động, trong đó xuất khẩu 1.500 lao động sang các nước bạn làm việc như: Đài
Loan, Hàn Quốc đem lại nguồn thu nhập khá cao để quay về phát triển kinh tế
hộ gia đình
b Y tế
Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu cơ bản về y tế của tỉnh Thái Nguyên
Nguồn: Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên
Tỉnh Thái Nguyên đã đầu tư khá đầy đủ về cơ sở vật chất y tế để chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, đặc biệt với sự đầu tư đầy đủ, đồng bộ cho hệ thống cơ
sở y tế xã, phường, với đội ngũ y bác sỹ có trình độ chuyên môn và tay nghề cao
có thể chăm sóc sức khỏe ngay tại địa phương cho bà con nông dân, giảm bớt rủi ro về con người, tiết kiệm được tài chính khi phải đi khám và chữa bệnh ở tuyến trên
c Công tác xoá đói giảm nghèo
Công tác xóa đói giảm nghèo, bảo trợ xã hội, chăm sóc sức khoẻ sinh sản,
kế hoạch hoá gia đình và các chính sách với người có công, gia đình chính sách tiếp tục được tập trung quan tâm, thực hiện thường xuyên, đúng quy định Các chương trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cho các vùng khó khăn và các chính sách trợ giúp trực tiếp về sản xuất và đời sống cho dân tộc thiểu số, người nghèo được đẩy mạnh, tổ chức thực hiện các nội dung của Chương trình 135, Chương trình 134 kịp thời và hiệu quả Nhằm triển khai hiệu quả chương trình hỗ trợ về nhà ở cho hộ nghèo, tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện các thủ tục theo quy định đề nghị Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan cấp kinh phí hỗ trợ xây dựng nhà ở trong giai đoạn từ năm 2009-2011 cho 8.919 hộ nghèo trên địa bàn, năm 2009 tỉnh Thái Nguyên quyết tâm thực hiện xong cho khoảng 4.000 hộ
2.1.2.4 Kết cấu hạ tầng chủ yếu
a Hạ tầng giao thông
Kết cấu hạ tầng: Hệ thống giao thông tiếp tục được đầu tư phát triển Tổ
chức bàn giao mặt bằng sạch đã thực hiện giải phóng mặt bằng dự án đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên cho chủ đầu tư để tổ chức khởi công trong tháng 11/2009 Sáng 24/11, tại xã Hồng Tiến, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Thủ
Trang 33tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát lệnh khởi công Dự án đầu tư xây dựng quốc lộ
3 mới đoạn Hà Nội - Thái Nguyên Dự án xây dựng quốc lộ 3 mới đoạn Hà Nội
- Thái Nguyên dài hơn 61km với 4 làn xe xây dựng theo tiêu chuẩn đường cao
tốc với tốc độ thiết kế 100km/h, có tổng mức đầu tư hơn 8.100 tỷ đồng Ngoài
ra, tỉnh Thái Nguyên tập trung hoàn hiện các thủ tục đầu tư báo cáo Chính phủ,
Bộ Giao thông vận tải theo quy định để đảm bảo khởi công dự án cải tạo, nâng
cấp Quốc lộ 3 cũ trong Quý 1 năm 2010
Toàn tỉnh đã tiến hành làm mới được 686 km đường bê tông xi măng, 217
km đường cấp phối, 13 km đường đá dăm Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên tất cả các xã đều có đường ô tô đến trung tâm xã 180/180 xã đã có điện
lưới quốc gia và trên 96% số hộ nông thôn được sử dụng điện 100% số xã,
phường được trang bị điện thoại với tổng số: 127.303 thuê bao mật độ điện thoại
đạt 7,8 máy/100 dân Chương trình kiên cố hoá kênh mương đạt 1.254 km trên
phạm vi toàn tỉnh Tỷ lệ hộ nông thôn miền núi được dùng nước sạch theo
chương trình mục tiêu quốc gia đạt 66%
Với trên 40 chính sách thu hút đầu tư của tỉnh, bình quân mỗi năm huy
động trên 1600 tỷ đồng cho đầu tư phát triển Đã chuyển 300ha đất nông nghiệp
thành đất công nghiệp, xây dựng mới 1 khu công nghiệp tập trung và hình thành
11 khu công nghiệp nhỏ và nhiều khu công nghiệp đã được phê duyệt, đang kêu
gọi và chờ đầu tư cơ sở hạ tầng
Kết cấu hạ tầng phục vụ thương mại được phát triển, đã xây dựng được 46
chợ và 11 trung tâm cụm xã Một số khu đô thị mới với hệ thống hạ tầng đồng bộ
đang được thực hiện tại Thái nguyên [15]
b Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
Thực hiện chủ đề của năm về phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, trong đó
phát triển hạ tầng giao thông, trong đó chú trọng đầu tư phát triển hạ tầng giao
thông khu vực nông thôn là khâu đột phá, các Sở, ngành và các địa phương thực
hiện kịp thời công tác bồi thường giải phóng mặt bằng cho các công trình, dự án trọng điểm, các dự án giao thông trên địa bàn, thông qua công tác tuyên truyền vận động đã nhận được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các địa phương; trong thời gian qua nhân dân đã tự tháo dỡ tài sản, giải phóng mặt bằng, hiến trên 600.000m2 đất; các doanh nghiệp, nhà đầu tư đã ủng hộ hàng tỷ đồng phục vụ làm các tuyến đường giao thông nông thôn Các chủ đầu tư các dự án, công trình giao thông tích cực đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện các thủ tục đầu tư, đẩy nhanh tiến độ thi công, tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát để theo sát kế hoạch nhằm phát triển hạ tầng giao thông trên địa bàn theo đúng tiến độ đã đăng ký
Đẩy mạnh công tác lập quy hoạch khu du lịch trọng điểm Quốc gia Hồ Núi Cốc, quy hoạch khu đô thị phía Tây thành phố Thái Nguyên, quy hoạch ATK liên hoàn Thực hiện các thủ tục trình Thủ tướng Chính phủ và đã được phê duyệt bổ xung vào quy hoạch các khu công nghiệp Quốc gia gồm: khu công nghiệp Tây Phổ Yên, Nam Phổ Yên, Điềm Thụy - Phú Bình, khu công nghiệp công nghệ cao Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên với diện tích trên 1000 ha; đang làm thủ tục trình các Bộ, ngành Trung ương về Khu tổ hợp công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ Yên Bình
c Công tác truyền thông Các cơ quan thông tin tuyên truyền đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, nhằm tuyên truyền chủ trương, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương; tổ chức nhiều hoạt động vui chơi, giải trí, biểu diễn nghệ thuật, giao lưu văn hóa trà… đặc biệt là các hoạt động kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, tuần lễ quốc gia an toàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ và phối hợp tổ chức giải vô địch bóng đá nữ Quốc gia 2009, giải bóng đá các câu lạc bộ, bóng đá sinh viên… đại hội dân tộc thiểu số ở các địa phương và cấp tỉnh được tổ chức trang trọng, thể hiện truyền thống văn hoá -
Trang 34lịch sử, tự hào của quê hương nâng cao hiệu quả phong trào toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hoá
2.1.3 Đánh giá tình hình chung
2.1.3.1 Thuận lợi
Với đà tăng trưởng tốt về kinh tế, duy trì được tốc độ tăng trưởng ổn định
và bền vững của tất cả các ngành đặc biệt là ngành nông, lâm thuỷ sản; tiếp tục
phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở phục vụ cho sản xuất kinh doanh và đời sống
cho khu vực nông thôn, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất kinh doanh nông,
lâm nghiệp, thuỷ sản theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi sẽ tạo đà cho
khu vực kinh tế nông thôn phát triển nhanh chóng
Thực hiện đề án phát triển công nghiệp và làng nghề, đẩy mạnh thu hút đầu
tư các dự án sản xuất kinh doanh công nghiệp có công nghệ tiên tiến, hiện đại
Quy hoạch các cụm công nghiệp như: Nam Phổ Yên, Tây Phổ Yên, Điềm Thụy
- Phú Bình và khu công nghiệp Yên Bình sẽ là điều kiện thuận lợi để các doanh
nghiệp tư nhân đầu tư vào sản xuất kinh doanh
Bộ máy tổ chức điều hành nhà nước của tỉnh đã được củng cố và nâng cao
chất lượng đội ngũ công chức trong công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện các
nhiệm vụ kế hoạch của tỉnh, của nhà nước đạt hiệu quả cao Giúp đỡ và giải
quyết các khó khăn cho doanh nghiệp tư nhân phát triển thuận lợi
2.1.3.2 Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi đó, nên kinh tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn như
xu hướng giá cả hàng hoá leo thang cao và kéo dài, tỷ lệ lạm phát cao sẽ tiếp tục
ảnh hưởng tới tốc độ phát triển và tăng trưởng kinh tế, đầu tư
Chưa tạo được sự đột phá trong công tác cải cách hành chính để thu hút
vốn đầu tư Tuy môi trường đầu tư đã được cải thiện song sự phối hợp giữa các
ngành, địa phương, các cấp còn thiếu đồng bộ, chồng chéo, trách nhiệm chưa cụ
thể, thủ tục hành chính rườm rà, năng lực của cán bộ công chức còn nhiều hạn
chế, các chính sách về tài chính, đất đai chưa đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân
Về lĩnh vực xã hội còn nhiều tồn tại, bức xúc nhất là tệ nạn ma tuý, tai nạn giao thông… ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển chung của kinh tế Thái Nguyên
2.2 Kết quả thực hiện xoá đói giảm nghèo tỉnh Thái Nguyên
2.2.1 Đối với tỉnh Thái Nguyên
Thực hiện đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện mục tiêu chiến lược quốc gia về xoá nhà dột nát, xoá đói giảm nghèo trên phạm vi cả nước Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã nỗ lực không ngừng để giảm tỷ lệ số hộ nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia Kết quả xoá đói giảm nghèo của tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2007- 2009 được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.6: Thực trạng nghèo đói của tỉnh Thái Nguyên
I Tỉnh Thái Nguyên 54.931 20,69 48.390 17,44 39.471 13,99
II Số hộ thoát nghèo 1.376 3,05 1.211 2,95 8.919 3,45
Trang 35Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên
Ghi chú: Chuẩn nghèo của Chính phủ giai đoạn 2006-2010 trong đó thành thị 260 ngàn
đồng/người/tháng, nông thôn 200 ngàn đồng/người/tháng
Qua bảng số liệu cho thấy năm 2007 tỉnh Thái Nguyên có 54.931 hộ nghèo
chiếm 20,69%.Năm 2008 tổng số hộ nghèo của toàn tỉnh Thái Nguyên giảm
xuống còn 48.390 hộ, chiếm tỷ lệ 17,44%, giảm đáng kể so với năm 2007 Số hộ
thoát nghèo năm 2008 là 1.211 hộ chiếm 2,95%; số hộ thoát nghèo năm 2007 là
1.376 hộ đạt 3,05% Năm 2009 là một năm gặt gái được nhiều thành công nhất
trong việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo
Toàn tỉnh giảm được 8.919 hộ tương đương với 3,45% Với kết quả đó, tỉnh
Thái Nguyên hiện còn 39.471 hộ nghèo tập chung chủ yếu ở các huyện miền núi
như Định Hoá, Võ Nhai, Phú Bình Kết quả xoá đói giảm nghèo của tỉnh Thái
Nguyên đã đạt được những thành công nhất định Nhưng bên cạnh đó, tính bền
vững của kết quả không thật sự cao, thể hiện qua số hộ tái nghèo, năm 2007
huyện có 432 hộ tái nghèo, năm 2008 có 365 hộ tái nghèo và năm 2009 có 289
hộ tái nghèo Vì vậy, tỉnh Thái Nguyên cần làm tốt hơn nữa công tác xoá đói
giảm nghèo, nhất là phải tìm ra những giải pháp hữu hiệu để giúp đỡ những hộ
nghèo có điều kiện phát triển kinh tế, tăng thu nhập và bảo vệ môi trường và
thoát nghèo
2.2.2 Thực trạng nghèo đói tại địa bàn nghiên cứu
Bên cạnh số liệu về tình hình đói nghèo chung của tỉnh Thái Nguyên, tác
giả đi sâu phân tích thêm tình hình đói nghèo tại hai huyện Định Hóa và Võ
Nhai trong cùng giai đoạn trên Đây là hai huyện có tỷ lệ số hộ nghèo cao nhất
trong tỉnh Do đặc điểm là các huyện miền núi, vùng sâu vùng xa và người dân ở
đây chủ yếu là người dân tộc thiểu số Hạ tầng cơ sở vật chất kinh tế - xã hội
thấp kém, trình độ dân trí của người dân chưa cao, địa hình đồi núi, khó khăn
cách trở về giao thông nên gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế - xã
hội Các số liệu về tỷ lệ hộ nghèo của hai huyện được thể hiện trong bảng số liệu 2.7 ngay sau đây:
Bảng 2.7: Tỷ lệ số hộ nghèo tại địa bàn nghiên cứu
- Hộ thoát nghèo 390 6,25 1.244 21,35 564 12,31
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên
Thông qua số liệu trên ta thấy tỷ lệ số hộ nghèo của tỉnh Thái Nguyên năm 2009 là 13,99% trong khi đó tỷ lệ hộ nghèo của huyện Định Hoá năm
2009 là 26,37% và tỷ lệ hộ nghèo của huyện Võ Nhai là 25,2% cao hơn rất nhiều so với mức bình quân chung của toàn tỉnh Đây chính là lý do mà chúng tôi đã chọn hai huyện này làm địa điểm để tiến hành các hoạt động điều tra phục vụ cho nghiên cứu
Tuy nhiên, nếu năm 2007, tỷ lệ số hộ nghèo bình quân chung của toàn tỉnh là 20,69% Trong đó tỷ lệ hộ nghèo của huyện Định Hoá năm 2007 là 32,74% và tỷ lệ hộ nghèo của huyện Võ Nhai là 41,09% Như vậy, so với tỷ lệ số hộ nghèo bình quân chung của toàn tỉnh thì có thể thấy số hộ nghèo của hai huyện Định Hoá và Võ Nhai chiếm phần lớn trong cơ cấu hộ nghèo của tỉnh Thái Nguyên và có xu hướng giảm nhanh trong giai đoạn 2007-2009 là do sự
nỗ lực của các ban ngành địa phương đã có nhiều những hoạt động tích cực
Trang 36thực hiện nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo trên địa bàn hai huyện có tỷ lệ số hộ
nghèo nhiều nhất trong tỉnh Thái Nguyên
2.3 Đánh giá thực trạng đói nghèo ở khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên
Với giả thuyết mà nhóm nghiên cứu đưa ra dựa trên sự tham vấn của các
chuyên gia, các vị lãnh đạo của UBND hai huyện Định Hoá và Võ Nhai: Đó là
những hộ nghèo là do thiếu ruộng đất để canh tác, không có hoặc thiếu lao
động, không có hoặc thiếu vốn để đầu tư cho sản xuất nông nghiệp, thương
mại và dịch vụ Mức sống thấp hơn nhóm hộ không nghèo thông qua các tiêu
chí chi tiêu hàng năm bình quân/khẩu/năm, chi phí cho đầu tư trong sản xuất
nông nghiệp Hai vấn đề này có quan hệ với nhau và có thể là nguyên nhân và
kết quả của nhau Để đánh giá xem giả thiết này có đúng hay không chúng tôi
tiến hành phân tích đánh giá thực trạng của các hộ được điều tra
Như đã trình bày trong phần trước về chuẩn nghèo theo quyết định số
170/2005/QĐ-TTg của thủ tướng Chính phủ ngày 08/7/2005 (trang 10), đề tài sẽ
phân theo tiêu chí thành các nhóm hộ khác nhau về điều kiện kinh tế: Hộ nghèo
(có mức thu nhập bình quân/đầu người/tháng dưới 200 nghìn đồng) và hộ không
nghèo có mức thu nhập bình quân/đầu người/tháng cao hơn 200 nghìn đồng Hai
nhóm hộ được so sánh với nhau theo kiểm định Mann Withney với các chỉ tiêu
định lượng và Pearson Chi-Square với các chỉ tiêu định tính để kiểm định mức
độ sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các giá trị trung bình và được lấy đến mức
xác suất 95%
2.3.1 Nguồn lực của hộ gia đình trong mẫu điều tra
Việc tìm hiểu nguồn lực của các hộ trong nghiên cứu phát triển kinh tế hộ
rất quan trọng, vì nó cung cấp những thông tin để ta có thể hiểu rõ hơn về
phương thức kiếm sống của các hộ và lý do của sự khác biệt giữa hai nhóm hộ
nghèo và hộ không nghèo Trong giới hạn nghiên cứu, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu nhiều vào các nguồn lực như đất đai, lao động và vốn bằng tiền của hộ
a Các thông tin chính của chủ hộ trong mẫu nghiên cứu
Bảng 2.8: Thông tin chung về chủ hộ
nghèo
Nhóm hộ không nghèo
So sánh sự khác biệt theo kiểm định
Mann Whitney
Pearson Chi-Square Tuổi bình quân chủ hộ
(tuổi)
41,96 (10,71)
43,07 (11,03) -
Giới tính của chủ hộ (% trên tổng số)
** Chủ hộ là nam giới 82,86 75,00
(0,64)
3,32 (0,59) * Lao động tham gia sản
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra của tác giả năm 2009 Ghi chú:
1) *, **: Khác biệt có ý nghĩa thống kê theo kiểm định Mann-Whitney và Pearson Square tại các mức xác suất 95% và 99%
Chi-2) Giá trị trong ngoặc đơn: Độ lệch chuẩn của giá trị trung bình tại mức xác suất 95%
Trang 37Tuổi bình quân của các chủ hộ giữa hai nhóm hộ nghèo và không nghèo
không có sự khác biệt theo kiểm định Mann-Whitney ở mức xác suất 90% Như
vậy ta có thể thấy yếu tố tuổi tác thể hiện cho sự tích lũy kinh nghiệm trong cuộc
sống và sản xuất cũng như giới tính của chủ hộ, người có ảnh hưởng đến việc ra
quyết định sản xuất kinh doanh của hộ được chỉ ra từ mẫu nghiên cứu là không
có sự khác biệt
Kiểm định Pearson Chi-Square cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê ở mức xác suất 99% đối với giới tính của chủ hộ giữa hai nhóm nghiên cứu
đối với mẫu điều tra Cụ thể trong nhóm hộ nghèo, chủ hộ là nam chiếm 82,86%
và chủ hộ là nữ chiếm 17,14% trong khi đó đối với nhóm hộ không nghèo, chủ
hộ là nam chiếm 75 và chủ hộ là nữ chiếm 25%
Thông qua bảng 2.8 trên ta thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức
xác suất 99% theo kiểm định Pearson Chi-Square đối với thành phần dân tộc
giữa hai nhóm nghiên cứu Số lượng chủ hộ là người dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ
thấp hơn so với chủ hộ là người dân tộc thiểu số Đối với nhóm hộ nghèo, chủ
hộ là người Kinh chiếm 25%, chủ hộ là người dân tộc Tày chiếm 51,43% và
23,57% số chủ hộ còn lại là người dân tộc thiểu số khác như: Sán Chí, Cao Lan,
Dao, Hoa Điều này thật sự khác biệt khi ở nhóm hộ không nghèo có 43,33%
số chủ hộ là người dân tộc Kinh và chỉ có 36,67% số chủ hộ được hỏi là người
dân tộc Tày, các dân tộc thiểu số khác chiếm 20% Như vậy, số lượng chủ hộ là
người dân tộc Kinh ở nhóm hộ không nghèo chiếm tỷ lệ cao hơn so với nhóm hộ
nghèo và số lượng người dân tộc thiểu số ở nhóm hộ nghèo cao hơn so với
nhóm hộ không nghèo
Không có sự khác biệt về số lượng nhân khẩu giữa hai nhóm hộ đang
nghiên cứu theo kiểm định Mann-Whitney ở mức xác suất 95% Số nhân khẩu
trung bình trong nhóm hộ nghèo là 4,21 và ở nhóm không nghèo là 4,13
Có sự khác biệt về số lượng lao động giữa hai nhóm hộ đang nghiên cứu theo kiểm định Mann-Whitney ở mức xác suất 95% Số lao động trung bình trong nhóm hộ nghèo là 2,09 và ở nhóm không nghèo là 3,32 Như vậy, số lượng lao động trung bình của nhóm hộ không nghèo nhiều hơn so với nhóm hộ nghèo trong mẫu nghiên cứu
Kiểm định Pearson Chi-Square không thấy có sự khác biệt về số lượng lao động tham gia các hoạt động sản xuất nông nghiệp của hai nhóm hộ nhưng lại
có sự khác biệt ở mức xác suất 95% đối với tiêu chí lao động có hoạt động thêm các ngành nghề phụ Cụ thể trong nhóm hộ nghèo chỉ có 11,4% số lượng lao động nông nghiệp có tham gia thêm các hoạt động nghề tự do và số lượng lao động nông nghiệp trong nhóm hộ không nghèo cao hơn là 19%
b Các thống kê về tài sản phục vụ cuộc sống giữa hai nhóm hộ
- Trước hết, chúng ta phân tích đến khả năng về vốn lưu động của các chủ hộ được điều tra Tuy nhiên, cần nhận thấy rằng đây là tiêu chí khá nhạy cảm có ảnh hưởng rất nhiều đến mức độ sai số bởi có thể các chủ hộ được phỏng vấn không nói chính xác số vốn lưu động (số tiền hiện tại) mà gia đình họ có hoặc tại thời điểm phỏng vấn, họ không có thật nhưng một thời gian ngắn ngay sau đó hộ có thể có do bán lợn, gà, trâu, bò thậm chí bán cả lúa dự trữ
Bảng 2.9: Khả năng về vốn bằng tiền của chủ hộ
Đơn vị tính: nghìn đồng
Chỉ tiêu Giá trị
trung bình
Độ lệch chuẩn Sai số chuẩn Khác biệt theo kiểm định Mann Whitney Nhóm hộ