Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề dự án đầu tư từ ngân sách Nhà nước ở chủ yếu do cấp huyện quản lý mà không đề cập tới các dự án đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước thực hiện tr
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ ANH
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Chu Đức Dũng
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng công trình này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn
của các giảng viên, công trình này chưa được công bố lần nào Tôi xin chịu trách
nhiệm về nội dung và lời cam đoan này
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Anh
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các
cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn và kính trọng tới tất
cả tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Với thời gian nghiên cứu có hạn, trong khi vấn đề nghiên cứu rộng và phức tạp Mặc dù đã được sự tận tình giúp đỡ của các đồng nghiệp mà đặc biệt là sự chỉ
bảo tận tình của thầy giáo PGS,TS Chu Đức Dũng, nhưng sự hiểu biết của bản
thân còn hạn chế, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự thông cảm của các thầy giáo, cô giáo
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Đào tạo, các quý thầy cô Trường Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian học tập cũng như thực hiện Luận văn Kiến thức mà các thầy cô truyền đạt sẽ là hành trang giúp tôi vững bước hơn trên con đường đời sau này
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên chia
sẻ, giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn Cuối cùng tôi xin chúc Quý thầy cô và các bạn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc
và thành đạt trong cuộc sống/
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Anh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH 5
5
1.1.1 Hoạt động đầu tư 5
6
7
1.2 10
1.2.1 Quản lý nhà nước về kinh tế 10
1.2.2 Quản lý nhà nước các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách 11
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước cấp huyện đối với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách 14
1.2.4 Phân cấp quản lý nhà nước cấp huyện đối với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay 16
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước cấp huyện đối với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách 23
1.3.1 Các yếu tố đảm bảo hiệu quả quản lý NSNN 23
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước cấp huyện đối với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách 24
dự á 26
26
1.4.2 Kinh nghiệm của huyện Kim Bôi 27
1.4.3 Bài học kinh nghiệm đối với công tác quản lý nhà nước các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Lương Sơn, Tỉnh Hòa Bình 29
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
2.2.1 Phương pháp luận 31
2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 31
2.2.3 Các phương pháp phân tích 32
2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 32
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiện trạng của địa phương 32
2.3 địa phương 36
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH 38
- 38
3.1.1 Các đặc điểm tự nhiên, xã hội 38
3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian 2010 - 2014 44
3.1.3 Tiềm năng, lợi thế và khó khăn, thách thức 47
49
3.2.1 Kết quả 49
57
3.3 Đánh giá công tác quản lý 72
3.3.1 Thành tựu 72
Trang 43.3.2 Hạn chế 75
3.3.3 Nguyên nhân hạn chế 81
Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH , TỈNH HÒA BÌNH 84
4.1 Quan điểm m -2015- 2020 84
4.1.1 Quan điểm phát triển huyện Lương Sơn theo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 84
4.1.2 Mục tiêu tổng quát 85
4.1.3 Phương hướng quản lý Nhà nước các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước ở huyện Lương Sơn 87
4.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 89
4.2.1 Đổi mới công tác kế hoạch hoá đầu tư 89
4.2.2 Nâng cao chất lượng lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư 93
4.2.3 Đổi mới công tác cán bộ quản lý dự án và khai thác sử dụng 96
4.2.4.Thực hiện nghiêm túc Luật đấu thầu 98
4.2.5 Nâng cao kỷ luật và chất lượng quyết toán vốn đầu tư 99
4.2.6 Đẩy nhanh tốc độ giải ngân vốn đầu tư 100
4.2.7.Chống thất thoát vốn Nhà nước trong đầu tư và xây dựng 102
4.2.8 Nâng cao trình độ cán bộ quản lý vốn đầu tư phát triển 105
4.3 Kiến nghị 107
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 114
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
7 KBNN Kho bạc nhà nước
8 KH Kế hoạch
15 TMĐT Tổng mức đầu tư
16 ODA Hỗ trợ phát triển chính thức
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
2014 46 Bảng 3.2: Nguồn vốn đầu tư phát triển trong giai đoạn 2010 -2014 do ĐP quản
lý của huyện Lương Sơn 50
Bảng 3.3 Cơ cấu vốn đầu tư phát triển thời kì 2010 - 2014 Phân theo ngành
Bảng 3.6 Tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư XDCB qua các năm 2010-2013 58
Bảng 3.7 Kết quả thẩm định các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách giai đoạn
2010- 2014 65
MỞ ĐẦU
1
Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Việt Nam đã
có những bước phát triển không ngừng về mọi mặt Nhiều lĩnh vực hoạt động xây dựng như quản lý dự án, khảo sát, thiết kế công trình, thi công xây lắp đã có bước trưởng thành nhanh chóng, trong đó có những công trình lớn và hiện đại Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, phục
vụ đắc lực cho công tác quản lý nhà nước các dự án đầu tư, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp Ngân sách nhà nước giữ vai trò hết sức quan trọng là chìa khóa của tăng trưởng kinh tế, trên thực tế, việc quản lý sử dụng ngân sách cho dự án đầu tư đã và đang bộc lộ hiện tượng thất, thoát, lãng phí, tiêu cực và kém hiệu quả Để quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn ngân sách này Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp quy như: Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002, Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, thông tư số:198/2013/TT-BTC quy định việc quản lý, sử dụng, sử lý tài sản của các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước Thông tư số: 75/2008/TT-BTC Hướng dẫn quản lý
vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách xã, phường, thị trấn
Tuy nhiên, đến nay việc quản lý Nhà nước các dự án đầu tư vẫn còn nhiều bất cập, từ việc quyết định cấp vốn, sử dụng vốn đến việc quyết toán vốn đầu tư, sự chồng chéo giữa các văn bản hướng dẫn đã dẫn đến việc sử dụng ngân sách dành cho dự án đầu tư kém hiệu quả Các quận, huyện đang trong quá trình đô thị hóa thì nhu cầu đầu tư là rất lớn, nhất là dự án đầu tư cho hệ thống hạ tầng giao thông, hạ tầg kỹ thuật đô thị, đô thị nông thôn, các công trình công cộng xã hội không có khả năng thu hồi vốn… Do đó, đòi hỏi phải có những nguồn lực để đầu tư, nhất là nguồn lực về tài chính Để có nguồn ngân sách đáp ứng nhu cầu đầu tư thì phải có những cơ chế, chính sách để tạo nguồn và theo đó muốn sử dụng có hiệu quả ngân sách cho đầu tư thì phải có cơ chế quản lý phù hợp Tuy nhiên, thực trạng của hoạt động quản lý đối với các dự án bằng nguồn vốn ngân sách trong thời gian qua còn tồn tại những hạn chế nhất định, sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thị
Trang 6trường và hội nhập quốc tế, định hướng xã hội chủ nghĩa Năng lực, trình độ quản lý
nhà nước đối với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách hiện nay còn nhiều
vấn đề bất cập Đây là một vấn đề ngày càng trở nên bức xúc và là điều đáng lo ngại
cần được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước nói chung và các cấp, các ngành trên địa
bàn cấp huyện nói riêng
- Vì vậy việc quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách ở cấp huyện
Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn …; đề tài nghiên cứu đánh
giá thực trạng và đề xuất giải pháp
Đối tượng nghiên cứu: Lĩnh vực quản lý nhà nước về đầu tư bằng vốn ngân
sách và các yếu tố liên quan
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu công tác quản lý nhà
nước các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình do huyện Lương Sơn quản lý
Về thời gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước các dự
án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình trong khoảng thời gian từ năm 2010 -2014, và các giải pháp, đề xuất giải quyết các vấn đề được đặt ra định hướng đến năm 2020
Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề dự án đầu tư từ ngân sách Nhà nước ở
chủ yếu do cấp huyện quản lý mà không đề cập tới các dự án đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước thực hiện trên địa bàn huyện mà không do huyện quản lý, bao gồm: khung khổ pháp lý, nội dung, phương pháp, hình thức, tổ chức có thể tiếp cận vấn đề quản lý nhà nước các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách trên nhiều phương diện khác nhau
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quản lý nhà nước các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện
Chỉ ra các ưu, nhược điểm, hạn chế trong việc quản lý nhà nước các dự án đầu
tư bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
2015 - 2020
Trang 7Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ ngữ
viết tắt, danh mục bảng biểu, kết cấu luận văn gồm 4 chương:
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: T nhà nước đối với
1.1.1 Hoạt động đầu tư
Người ta thường quan niệm đầu tư là việc bỏ vốn hôm nay để mong thu được lợi nhuận trong tương lai Tuy nhiên tương lai chứa đầy những yếu tố bất định mà ta khó biết trước được Vì vậy khi đề cập đến khía cạnh rủi ro, bất chắc trong việc đầu
tư thì các nhà kinh tế quan niệm rằng: đầu tư là đánh bạc với tương lai Còn khi đề cập đến yếu tố thời gian trong đầu tư thì các nhà kinh tế lại quan niệm rằng: Đầu tư
là để dành tiêu dùng hiện tại và kì vọng một tiêu dùng lớn hơn trong tương lai, đầu
tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên trong một thời gian dự án nhằm thu lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội
Trong mọi thời đại, đầu tư luôn là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia Thuật ngữ đầu tư được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau, song tựu trung lại có thể coi "Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư" (Luật
đầu tư - 2005)
Hoạt động đầu tư được hiểu là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu
tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lí dự án đầu tư (Luật đầu
tư - 2005)
bằng ngân sách
-Hoạt động đầu tư có những đặc trưng cơ bản sau:
Một là,
Trang 8
(NĐ52/1999 NĐ-Cp về Quy chế quản lý đầu tƣ và xây dựng cơ bản)
ngân sách nn
Trang 9ngân sách n
Trang 10,
,
- Các phương pháp hành chính
- Các phương pháp kinh tế
- Các phương pháp giáo dục
1.2.2 Quản lý nhà nước các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách
Quản lý nhà nước các dự án đầu tư là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng quá trình đầu tư (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư cho đến khi thanh lý tài sản do đầu tư tạo ra) bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội và tổ chức - kỹ thuật cùng các biện pháp khác nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao trong những điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật kinh tế khách quan nói chung và quy luật vận động đặc thù của đầu tư nói riêng
Để nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển, vấn đề quan trọng là quản lý vốn đầu
tư Quản lý vốn đầu tư phát triển là quá trình quản lý các chi phí đầu tư để đạt được mục tiêu đầu tư Các chi phí đó bao gồm chi phí khảo sát, quy hoạch, chi phí chuẩn
bị đầu tư, chi phí mua sắm thiết bị xây lắp và các chi phí khác được ghi trong tổng
dự toán được duyệt
Quản lý đầu tư ở tầm vĩ mô là quản lý các dự án đầu tư Quá trình hình thành
và vận hành dự án qua ba giai đoạn là: chuẩn bị đầu tư; thực hiện đầu tư và vận hành khai thác dự án Mỗi giai đoạn gồm nhiều bước công việc khác nhau được tiến hành một cách liên tục Quá trình quản lý đầu tư theo các dự án cũng là quá trình quản lý trong từng bước, từng giai đoạn của nó
Vốn đầu tư phát triển được quản lý theo yêu cầu, nguyên tắc, mục đích và trình tự, thủ tục như sau:
Yêu cầu: Đầu tư phải có hiệu quả đảm bảo mục tiêu chiến lược phát triển
kinh tế xã hội trong từng thời kỳ theo định hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế
Bảo đảm dự án được thực hiện theo đúng quy hoạch, phương án kiến trúc thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán được duyệt, bảo đảm chất lượng và thời gian xây dựng với chi phí hợp lý
Trang 11Chỉ đầu tư cho dự án đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội và đủ thủ tục xây dựng
cơ bản Thực hiện đầu tư tập trung, dứt điểm, ngăn chặn lãng phí thất thoát trong
hoạt động đầu tư và xây dựng
Nguyên tắc: Các nguồn vốn đầu tư phát triển phải được đầu tư theo dự án,
được cấp có thẩm quyền phê duyệt, phải quản lý công khai, có kiểm tra, kiểm soát
và đảm bảo sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật
Phải chấp hành nghiêm túc trình tự thủ tục về đầu tư xây dựng, quy chế đấu
thầu do Nhà nước quy định Việc giải ngân vốn đầu tư phải đảm bảo các hồ sơ, tài
liệu pháp lý theo quy định, thực hiện cấp vốn đúng kế hoạch đúng nguồn vốn, đúng
mục đích, trực tiếp cho người thụ hưởng và theo mức độ hoàn thành công việc
Mục tiêu của quản lý đầu tư
a Trên góc độ quản lý nhà nước
Mục tiêu chung của quản lý đầu tư cần phải đạt là:
- Đáp ứng tốt nhất việc thực hiện các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh
tế xã hội trong từng thời kỳ của địa phương, nhằm thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của người lao động
- Huy động tối đa và sử dụng với hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư trong
và ngoài nước, tận dụng và khai thác tốt các tiềm năng và tài nguyên thiên nhiên, đất
đai, lao động và các tiềm năng khác, bảo vệ môi trường sinh thái, chống mọi hành vi
tham ô, lãng phí trong sử dụng vốn đầu tư và khai thác các kết quả đầu tư
- Đảm bảo quá trình thực hiện đầu tư, xây dựng công trình theo quy hoạch
kiến trúc được duyệt, đảm bảo sự bền vững và mỹ quan, áp dụng công nghệ xây
dựng tiên tiến, đảm bảo chất lượng và thời gian xây dựng với chi phí hợp lý
- Năng lực Ban quản lý và chủ đầu tư
Trường hợp chủ đầu tư thành lập Ban Quản lý dự án thì Giám đốc quản lý dự
án phải có trình độ đại học trở lên thuộc chuyên ngành phù hợp, có chứng nhận
nghiệp vụ về quản lý dự án và có kinh nghiệm làm việc chuyên môn tối thiểu 3
năm Riêng đối với các dự án nhóm C ở vùng sâu, vùng xa thì Giám đốc quản lý dự
án có thể là người có trình độ cao đẳng hoặc trung cấp thuộc chuyên ngành phù hợp
và có kinh nghiệm làm việc chuyên môn tối thiểu 3 năm Chủ đầu tư có thể cử người thuộc bộ máy của mình hoặc thuê người đáp ứng các điều kiện nêu trên làm
Giám đốc quản lý dự án
b Trên góc độ từng cơ sở
Doanh nghiệp có vốn đầu tư, mục tiêu của quản lý đầu tư suy cho cùng là nhằm đạt được hiệu quả kinh tế tài chính cao nhất với chi phí vốn đầu tư thấp nhất trong một thời gian nhất định trên cơ sở đạt được các mục tiêu của từng giai đoạn của từng dự án đầu tư
Đối với giai đoạn chuẩn bị đầu tư, mục tiêu chủ yếu của quản lý là đảm bảo chất lượng và mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu, dự đoán, tính toán Đối với giai đoạn thực hiện đầu tư, mục tiêu chủ yếu của quản lý là đảm bảo tiến độ, chất lượng với chi phí thấp nhất
Đối với giai đoạn vận hành, các kết quả đầu tư là nhanh chóng thu hồi đủ vốn đã
bỏ ra và có lãi đối với các công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, hoặc đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất với chi phí thấp nhất đối với các hoạt động đầu tư khác
Phạm vi đầu tư bằng ngân sách nhà nước
Trong điều kiện nguồn vốn ngân sách nhà nước có hạn, nhà nước chỉ đầu tư vào những lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không muốn đầu tư, không có khả năng đầu tư hoặc không được phép đầu tư Do đó phạm vi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước tập trung chủ yếu vào các dự án thuộc loại sau:
- Dự án có quy mô lớn mà các thành phần kinh tế khác khó có khả năng đáp ứng Các công trình loại này thường là các công trình lớn có phạm vi ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển kinh tế, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các vùng, miền, địa phương hoặc ngành kinh tế
- Dự án có khả năng thu hồi vốn thấp Các dự án này do khả năng thu hồi vốn thấp nên không hấp dẫn các thành phần kinh tế khác đầu tư vào trong khi công trình lại có ý nghĩa kinh tế xã hội quan trọng nên nhà nước phải sử dụng ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng
- Dự án mà các thành phần kinh tế khác không được phép đầu tư Loại này thường là các công trình thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng, các công trình có ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế xã hội của nhân dân
Trang 121.2.3 Nội dung quản lý nhà nước cấp huyện đối với các dự án đầu tư bằng
nguồn vốn ngân sách
- Công tác kế hoạch hoá vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách
Các dự án được ghi vào kế hoạch chuẩn bị đầu tư phải phù hợp với quy
hoạch phát triển của địa phương
Các dự án được ghi vào kế hoạch chuẩn bị thực hiện đầu tư hoặc thực hiện
đầu tư phải có quyết định đầu tư phù hợp với những quy định của quy chế quản lý
đầu tư xây dựng
Công tác kế hoạch hoá vốn đầu tư nhằm phân bổ kế hoạch vốn cho các dự án
đầu tư xây dựng cơ bản một cách hợp lý có hiệu quả phù hợp với chiến lược phát
triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn
-Công tác phân cấp quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước
Quy định các biện pháp, cách thức tổ chức và vận hành các biện pháp nhằm
phân định rõ thẩm quyền quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà
nước của các cơ quan có thẩm quyền như:
Thẩm quyền quyết định đầu tư;
Thẩm quyền bố trí kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm;
Thẩm quyền phê duyệt thiết kế, dự toán, kết quả đấu thầu, chỉ định thầu;
Thẩm quyền phê duyệt dự toán …
- Công tác lập và thẩm định dự án đầu tư, thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán
Nhiệm vụ quan trọng của việc quản lý đầu tư và xây dựng là quản lý tốt công
tác chuẩn bị đầu tư, trong đó có việc lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư được xem như là một yêu cầu không thể thiếu và là cơ sở
để ra quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư Đây là công việc được tiến hành trong
các giai đoạn hình thành dự án (nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi hoặc các
nghiên cứu chuyên đề)
Yêu cầu thẩm định dự án đầu tư xuất phát từ bản chất, tính phức tạp và các
đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư
Thẩm định dự án nhằm làm sáng tỏ và phân tích về một loạt các vấn đề có
liên quan tới tính khả thi trong quá trình thực hiện dự án: thị trường, công nghệ, kỹ
thuật, khả năng tài chính của dự án để đứng vững trong suốt đời hoạt động, về quản
lý thực hiện dự án, phần đóng góp của dự án vào sự tăng trưởng của nền kinh tế … với các thông tin về bối cảnh và các giả thiết sử dụng trong dự án này; Đồng thời đánh giá để xác định xem dự án có giúp địa phương đạt được các mục tiêu xã hội hay không, nếu có thì bằng cách nào, và liệu dự án có đạt hiệu quả kinh tế hay không khi đạt các mục tiêu này
Giai đoạn thẩm định dự án bao hàm một loạt khâu thẩm định và quyết định, đưa tới kết quả là chấp thuận hay bác bỏ dự án Như vậy, về mặt chuyên môn yêu cầu chung của công tác thẩm định dự án là đảm bảo tránh thực hiện đầu tư các dự
án không có hiệu quả, mặt khác cũng không bỏ mất các cơ hội đầu tư có lợi Mặt khác, thẩm định dự án còn là công việc được thực hiện theo quy định về quản lý đầu tư, vì vậy cần được tiến hành theo các yêu cầu về quản lý Về mặt này, công tác thẩm định dự án phải được tiến hành phù hợp với các quy định hiện hành
về quản lý đầu tư và đảm bảo thời hạn quy định
- Quản lý công tác đấu thầu
Công tác đấu thầu là việc lựa chọn nhà thầu theo những tiêu thức nhất định Tuỳ theo quy mô, tính chất, tiêu chuẩn kỹ thuật của từng dự án để quy định các cách
tổ chức đấu thầu (đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, …); quy định thang điểm chấm thầu … nhằm mục đích giảm chi phí đầu tư, nâng cao chất lượng công trình, rút ngắn thời gian thực hiện dự án
- Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng
Thực hiện đầy đủ các quy định của nhà nước về lập, thẩm định, trình duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán, tổ chức đấu thầu hoặc lựa chọn nhà thầu
Tuyển chọn tổ chức tư vấn, cung ứng vật tư, thiết bị, xây lắp có đủ tư cách pháp nhân, có đủ năng lực để đảm nhận các công việc trong quá trình đầu tư Kiểm tra chất lượng các loại vật tư, cấu kiện xây dựng, thiết bị lắp đặt đúng theo yêu cầu thiết kế và tiêu chuẩn kỹ thuật được duyệt
Được quyền yêu cầu các tổ chức tư vấn, cung ứng, tổ chức nhận thầu xây lắp giải trình về chất lượng vật liệu, thiết bị và công việc do các tổ chức này thực hiện nếu thấy không đạt yêu cầu quy định có quyền yêu cầu sửa chữa, thay thế hoặc từ chối nghiệm thu
Trang 13- Công tác giám sát, đánh giá đầu tư
Giám sát, đánh giá việc thực hiện dự án của chủ đầu tư theo các nội dung đã
được cấp có thẩm quyền phê duyệt và việc chấp hành các quy định của Nhà nước về
đầu tư xây dựng;
Qua giám sát, đánh giá đầu tư, phát hiện các nội dung phát sinh, điều chỉnh
và đề xuất, kiến nghị với cấp có thẩm quyền xử lý bảo đảm tính hiệu quả, tính khả
thi của dự án
- Công tác thanh, quyết toán
Nhằm đánh giá lại toàn bộ hoạt động đầu tư, xác định giá trị và hiệu quả
thực tế của các dự án hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng
1.2.4 Phân cấp quản lý nhà nước cấp huyện đối với các dự án đầu tư bằng
nguồn vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay
a Phân cấp quản lý nhà nước
Hiện nay, có một số quan niệm khác nhau xung quanh khái niệm “phân cấp”
Theo một số tác giả, phân cấp chính là phân quyền giữa trung ương và địa phương
(2) Phân cấp là phân ra, chia thành các cấp, các hạng (3) Phân cấp có sự chuyển
giao quyền lực quản lý xuống các cấp dưới để thực hiện cho sát dân và sát tình hình
thực tiễn, đồng thời, để giảm bớt khối lượng cho cấp trên khỏi phải trực tiếp giải
quyết những việc sự vụ Việc phân cấp phải gắn trách nhiệm với quyền hạn rõ ràng
và bảo đảm tính thống nhất từ trung ương đến cơ sở (4) Có quan niệm khác cho
rằng, phân cấp có thể theo hai hướng: một hướng nằm ngang là sự phân chia căn cứ
vào sự khác nhau của các công việc của một cấp; hướng nằm dọc (thẳng đứng) là sự
phân chia theo cơ cấu thứ bậc công việc giữa các cấp khác nhau (5)
Có ý kiến cho rằng, cần phân biệt “phân cấp quản lý” với một số khái niệm
gần với nó là phân công, phân nhiệm, phân quyền vì “phân công và phân nhiệm đều
để chỉ sự xác định quyền hạn, trách nhiệm cả theo chiều ngang và chiều dọc Thông
thường, người ta sử dụng khái niệm phân công để chỉ quan hệ theo chiều ngang với
dụng ý phân biệt nó với phân cấp Nếu phân quyền được hiểu là phân giao quyền
hạn cho một cơ quan hoặc một cấp chính quyền nào đấy thì thực ra sử dụng thuật
ngữ phân công và phân cấp là đầy đủ và chính xác hơn” (6)
Như vậy, cho đến nay, mặc dù được sử dụng một cách rộng rãi, song cách
hiểu về phân cấp còn chưa hoàn toàn thống nhất
Dưới góc độ ngôn ngữ, “cấp” được hiểu là loại hạng trong một hệ thống (xếp theo trình độ cao thấp, trên dưới) (7) Từ đó, phân cấp quản lý được cắt nghĩa là giao bớt một phần quyền quản lý cho cấp dưới, quy định nhiệm vụ và quyền hạn cho mỗi cấp (8) Như vậy, ở đây có hai nội dung cần lưu ý là chuyển giao thẩm quyền cho cấp dưới và xác định thẩm quyền của mỗi cấp trong đó
Hiện nay, căn cứ vào cách phân chia đơn vị hành chính - lãnh thổ mà ở Việt Nam hình thành các cấp chính quyền: trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Phân cấp quản lý nhà nước, trước hết được hiểu là phân cấp giữa trung ương với chính quyền cấp tỉnh; đồng thời, còn bao hàm cả phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương với nhau
Theo các văn kiện của Đảng, phân cấp được tiến hành theo hướng “phân cấp
rõ hơn cho địa phương, kết hợp chặt chẽ quản lý ngành và quản lý lãnh thổ và trên
cơ sở nguyên tắc “chính quyền trung ương quản lý tập trung một số lĩnh vực theo ngành dọc được xác định từ yêu cầu thực tế Đối với một số lĩnh vực khác, trung ương trực tiếp quản lý một phần, còn một phần phân cấp cho địa phương quản lý” Cũng với tinh thần đó mà hiện nay, phân cấp được hiểu là việc chuyển giao nhiệm
vụ, thẩm quyền từ cơ quan quản lý nhà nước cấp trên xuống cơ quan quản lý cấp dưới nhằm đạt mục tiêu chung là nâng cao hiệu quả quản lý (9)
Việc chuyển giao nhiệm vụ, quyền hạn chỉ có thể được tiến hành một khi thẩm quyền và trách nhiệm của cấp chuyển giao và cấp được chuyển giao đã được xác định hết sức rõ ràng Vì vậy, bản thân khái niệm phân cấp phải hàm chứa trong
đó nội dung phân định thẩm quyền của từng cấp hay nói một cách khác, phân định thẩm quyền là tiền đề cho việc chuyển giao nhiệm vụ, quyền hạn (hoặc rộng hơn nữa, điều chỉnh khối lượng nhiệm vụ, quyền hạn cho phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế của mỗi cấp chính quyền)
Trên cơ sở những lập luận đó, có thể đưa ra khái niệm về phân cấp quản lý nhà nước như sau: Phân cấp quản lý nhà nước là sự phân định thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp chính quyền trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp giữa khối lượng và tính chất thẩm quyền với năng lực và điều kiện thực tế của từng cấp nhằm tăng cường chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước
Trang 14b Ý nghĩa, vai trò, mục tiêu, nguyên tắc, nội dung phân cấp
- Mục tiêu, ý nghĩa, vai trò của phân cấp quản lý nhà nước
Theo các nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Đại hội Đảng IX, phân cấp được đặt
trong bối cảnh “đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân
chủ, tăng cường pháp chế” Nghị quyết cũng xác định “phân cấp mạnh và toàn diện
giữa các cấp trong hệ thống hành chính nhà nước” là một trong những định hướng và
giải pháp chủ yếu nhằm “đẩy mạnh cải cách hành chính” là công việc quan trọng
quyết định thành công của công cuộc đổi mới giai đoạn 2001 - 2005 (10)
Ngày 11/6/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
121/2003/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình nghiên cứu xác định vai trò, chức năng và
cơ cấu tổ chức của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước giai đoạn I
(2003-2005) Tại đó, mục tiêu phân cấp quản lý trung ương - địa phương được khái quát hoá
là “nhằm quy định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi cấp
trong hệ thống hành chính nhà nước; phát huy tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền địa phương trong giải quyết công việc
cho dân nhanh chóng, thuận lợi, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước và phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và của cả nước”
Trong bối cảnh và điều kiện cụ thể hiện nay, để vươn tới mục tiêu bao trùm
và tổng quát nói trên, phân cấp quản lý nhà nước giữa trung ương và địa phương
phải hướng tới việc giải quyết một số mục tiêu cụ thể, mang tính cấp bách
Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001 giao cho Chính phủ nhiệm vụ “quyết
định và chỉ đạo thực hiện phân công, phân cấp quản lý ngành và lĩnh vực trong hệ
thống hành chính nhà nước” (Điều 16) Hiện nay, có những quan điểm khác nhau về
thẩm quyền quy định phân cấp quản lý nhà nước Về mặt ý tưởng và nguyên tắc,
phân cấp là một nội dung của luật Điều này cũng đáp ứng một trong những tiêu chí
của Nhà nước pháp quyền là Nhà nước quản lý xã hội bằng luật, đề cao luật trong
hệ thống các nguồn pháp luật khác Tuy nhiên, trong khi luật chưa thể lường hết
mọi tình huống phân cấp thì việc giao cho Chính phủ quy định về phân cấp trong
từng ngành, lĩnh vực là một giải pháp phù hợp với nguyên tắc “Nhà nước quản lý xã
hội bằng pháp luật” Vì vậy, mục tiêu cấp bách hiện nay là tăng cường công tác lập
quy của Chính phủ để tiến hành phân cấp quản lý trong từng ngành, lĩnh vực cụ thể
Luật Tổ chức Chính phủ bổ sung hai chức năng quan trọng của bộ, cơ quan ngang bộ là quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn Nhà nước theo quy định của pháp luật (Điều 22) Vì vậy, một trong những định hướng trong phân cấp là nghiên cứu cơ chế để phân định thẩm quyền giữa trung ương và địa phương trong hai lĩnh vực mới nêu trên Bên cạnh đó, việc rà soát quá trình cải cách hành chính thời gian qua cho thấy, phân cấp trong một số lĩnh vực quản lý nhà nước có nhiều bất cập, cần tập trung giải quyết kịp thời như lĩnh vực tài chính, ngân sách; về đất đai; đầu tư; văn hoá - xã hội; tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức Vì vậy, mục tiêu cụ thể của phân cấp quản lý phải được tiến hành theo trọng điểm nhằm giải quyết những vấn đề như đã nêu trên
Với mục tiêu được đặt ra như vậy, phân cấp có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng dưới hai góc độ: góc độ tổ chức quyền lực nhà nước, pháp chế và góc độ dân chủ
Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là một trong những vấn đề quan trọng phải được thể chế hoá bằng các nguyên tắc Hiến pháp và bằng pháp luật Dưới giác độ này, phân cấp là một biện pháp mang tính pháp lý để giải quyết mối quan hệ giữa trung ương và địa phương, xác định vị trí của từng cấp chính quyền - yếu tố quan trọng để hiện thực hoá nguyên tắc pháp chế - một đòi hỏi đối với phương thức hoạt động của Nhà nước pháp quyền theo tinh thần Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992
Nhà nước pháp quyền được đặc trưng bởi tính dân chủ trong phương thức tổ chức quyền lực nhà nước Dân chủ cũng vốn là một trong những nét ưu việt của chế
độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta Phân cấp với mục đích tạo quyền tự chủ, sáng tạo, phát huy tính năng động của địa phương, để khai thác thế mạnh và tiềm năng của chính quyền cơ sở là một biểu hiện rõ nét của dân chủ và phù hợp với xu thế hiện nay là tăng cường tính tự quản của địa phương trong việc quyết định những vấn đề của địa bàn lãnh thổ
Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân Đối với hoạt động quản lý nhà nước, yêu cầu đã và đang đặt ra là bảo đảm tính khoa học, tính hiệu quả của
Trang 15quản lý nhà nước để hướng tới mục đích cuối cùng là tạo thuận lợi cho nhân dân,
bảo vệ lợi ích của nhân dân Việc phân định thẩm quyền rõ ràng, dựa trên luận cứ
khoa học rằng chắc là điều kiện để phát huy tính hiệu quả của cơ chế quản lý nhà
nước, tăng cường trách nhiệm và tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức
các cơ quan nhà nước và là cơ sở để nhân dân giám sát, kiểm tra hoạt động của bộ
máy nhà nước
Với mục tiêu và ý nghĩa, vai trò như vậy, phân cấp là một đòi hỏi bức bách,
được hình thành như một biện pháp rồi đến chính sách và có thể được xem là một
trong những nguyên tắc quản lý nhà nước
-Nguyên tắc phân cấp quản lý nhà nước
Phân cấp quản lý nhà nước là một nội dung của cải cách hành chính và rộng
hơn là đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước Vì vậy, nó phải được tiến hành
trên cơ sở những định hướng và quan điểm chỉ đạo xuyên suốt hai quá trình nói
trên, trong đó phải kể đến các nguyên tắc: tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng; tập trung dân chủ; pháp chế Bên cạnh đó,
phân cấp được đặc trưng bởi một số nguyên tắc như sau:
- Bảo đảm tính thống nhất của quyền lực nhà nước: Như trên đã nêu, quản lý
nhà nước là sản phẩm của sự phân công lao động nhằm phối hợp và liên kết hoạt
động của các tổ chức, cá nhân Xuất phát từ tính thống nhất của quyền lực nhà nước
mà các chủ thể quản lý dù có chức năng, nhiệm vụ cụ thể ở phạm vi và quy mô
khác nhau, song tất cả cùng hướng tới một mục tiêu chung và một nhiệm vụ chung
Để bảo đảm chủ quyền quốc gia là biểu tượng của tính thống nhất của quyền
lực nhà nước, một số lĩnh vực quản lý nhà nước và một số thẩm quyền trong từng
lĩnh vực đó được xem như đặc quyền của trung ương và việc chuyển giao cho địa
phương là sự vi phạm tính thống nhất của quyền lực nhà nước, Chính vì vậy mà một
số chức năng của Nhà nước chỉ có thể được phân công theo chiều ngang giữa các cơ
quan lập pháp hành pháp và tư pháp mà không thể phân cấp theo chiều dọc cho các
cơ quan địa phương
- Bảo đảm tính hiệu quả: Phân cấp là một quá trình bắt đầu từ việc thử
nghiệm hoặc rà soát chức năng, nhiệm vụ của từng cấp chính quyền để phát hiện
khả năng, tính trội của một cấp nhất định trong việc đảm nhiệm một công việc, hoạt động thuộc nội dung quản lý nhà nước Việc lựa chọn chủ thể quản lý phải xuất phát từ tiêu chí hiệu quả, có nghĩa là cấp nào có khả năng đạt được mục tiêu, chất lượng và yêu cầu quản lý với chi phí ít nhất và thời gian ngắn nhất thì nên giao nhiệm vụ tương ứng cho cấp đó Hiện nay, có nhiều tiêu chí để đánh giá tính hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước
Dưới góc độ bảo đảm tính nhân dân của nền hành chính nhà nước, chất lượng của công tác quản lý phải được phản ánh bằng các chỉ số như: sự gần dân, thuận lợi cho dân, nhanh chóng và đơn giản về thủ tục Nguyên tắc bảo đảm tính hiệu quả của phân cấp quản lý nhà nước cũng được áp dụng một cách phổ biến ở một số nước và đôi khi, được gọi là nguyên tắc “cấp tốt nhất”
- Bảo đảm tính phù hợp: Nếu như tính hiệu quả là tiêu chí có nhằm vào việc đánh giá khả năng chủ quan của chủ thể quản lý nhà nước thì tính phù hợp nhằm vào việc đánh giá các yếu tố khách quan tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước Tính phù hợp là một phạm trù rộng, bao gồm các nội dung đa dạng sau đây: + Phân cấp quản lý nhà nước phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi làm sáng tỏ mối quan hệ giữa Nhà nước và xã hội dân sự Một số lĩnh vực quản lý nhà nước cần được phân cấp theo tư duy mới là không nhất thiết phải “nhà nước hoá” mà trái lại, cần xã hội hoá để phát huy tính tích cực của các thiết chế của xã hội dân sự Theo xu hướng đó, một số công việc quản lý
có thể chuyển giao cho các chủ thể phi nhà nước, các tổ chức xã hội và nhiệm vụ của Nhà nước là hoạch định chính sách, giữ quyền thanh tra, kiểm tra việc thực hiện và
xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp Chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đặt ra yêu cầu “xoá bỏ dần sự phân biệt kinh tế trung ương với kinh tế địa phương”, xoá bỏ chế độ bộ chủ quản Những yếu tố đó trong tốc độ phát triển kinh tế - xã hội phải được tính đến trong quá trình phân cấp + Phân cấp phải phù hợp với đặc thù quản lý nhà nước trong từng ngành, lĩnh vực: Việc phân ngành, lĩnh vực được thực hiện để bảo đảm tính chuyên nghiệp, thống nhất và tính đặc thù trong mỗi lĩnh vực quản lý cụ thể
Trang 16Mỗi ngành kinh tế - xã hội, lĩnh vực công tác đòi hỏi những phương thức
thực hiện và cơ chế quản lý thích hợp Như trên đã nêu, đối với một số lĩnh vực
quản lý nhà nước đặt ra nhu cầu tập trung hoá quyền lực ở mức độ cao nhằm bảo
đảm chủ quyền quốc gia và tính thống nhất của quyền lực nhà nước; một số lĩnh
vực khác - lại đòi hỏi quá trình không những phi trung ương hoá, phi tập trung hoá
mà còn có thể áp dụng cơ chế chuyển giao mạnh mẽ một số thẩm quyền quản lý cho
các tổ chức xã hội Vì vậy, việc phân cấp quản lý nhà nước trong các ngành, lĩnh
vực nói chung và đối với công tác tư pháp nói riêng, phải phản ánh đầy đủ những
đặc thù và yêu cầu đối với ngành, lĩnh vực
- Phù hợp với đặc điểm của đơn vị hành chính - lãnh thổ: đơn vị hành chính -
lãnh thổ là địa bàn được hình thành dựa theo các tiêu chí đa dạng như yếu tố dân cư,
địa lý, diện tích, địa bàn nông thôn, đô thị, đồng bằng, vùng biên giới, miền núi, hải
đảo Ngay các địa bàn cùng một loại như nông thôn hay đô thị cũng được phân
loại theo các tiêu chí như mức độ phát triển kinh tế - xã hội, mật độ dân cư, mức độ
đô thị hoá, tỷ lệ sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp và công nghiệp Ngoài ra,
một số đô thị cấp tỉnh còn được hưởng quy chế đặc thù do vị trí và tầm quan trọng
của chúng như những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Sự đặc thù của
đối tượng và địa bàn quản lý chi phối tính chất nhiệm vụ, nội dung và phương thức
quản lý nhà nước Vì vậy, phân cấp quản lý nhà nước phải bảo đảm sự phù hợp của
từng loại hay nhóm đơn vị hành chính -lãnh thổ; trong một số trường hợp, phải phù
hợp và tạo đà phát triển cho đơn vị hành chính - lãnh thổ có quy chế đặc biệt
- Nội dung phân cấp quản lý nhà nước
Như đã nêu trên, quản lý nhà nước đòi hỏi sự phân công lao động để đạt
được mục tiêu và hiệu quả quản lý Để sự phân công đó đạt được độ chín về mặt
khoa học, độ thuyết phục về tính thực tế và sự hứa hẹn về mức độ hiệu quả, cần
bám sát và tiến hành các bước sau đây:
+ Khảo sát đánh giá thực trạng phân cấp quản lý nhà nước với các nội dung:
đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tế áp dụng các quy định đó trong
việc phân cấp giữa trung ương - địa phương và giữa các cấp địa phương với nhau;
+ Phân tích những nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất cập trong quản lý nhà
nước về từng lĩnh vực công tác cụ thể;
Đề xuất nội dung phân cấp giữa các chủ thể quản lý theo tinh thần xác định
rõ địa chỉ phân cấp và trách nhiệm của từng chủ thể Việc đề xuất nội dung phân cấp có thể liên quan đến việc chuyển giao thẩm quyền từ trung ương cho địa phương, từ cấp trên xuống cấp dưới và không loại trừ trường hợp ngược lại: vì mục tiêu thống nhất quản lý nhà nước và vì tính hiệu quả, nhiệm vụ cấp dưới được kiến nghị chuyển giao lên cấp trên hoặc cấp trung ương
Sản phẩm cuối cùng của quá trình phân cấp quản lý nhà nước là một hệ thống quy định pháp luật về phân định thẩm quyền quản lý nhà nước và cơ chế thực hiện những thẩm quyền đó Như vậy, suy cho cùng, phân cấp bao gồm các nội dung
cụ thể như sau:
+ Xác định những thẩm quyền đặc biệt của trung ương trong việc quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực công tác cụ thể nhằm bảo đảm tính thống nhất trong quản lý nhà nước;
+Xác định những thẩm quyền riêng của từng cấp chính quyền theo tiêu chí
“cấp tốt nhất”;
+ Xác định thẩm quyền chung của hai (hoặc một số) cấp chính quyền và cơ chế phối hợp trong việc thực hiện thẩm quyền chung đó Thực tiễn quản lý nhà nước cho thấy không loại trừ sự tác động của một số chủ thể lên cùng một đối tượng
và khách thể quản lý Trong trường hợp này, không nên tuyệt đối hoá việc phân định thẩm quyền theo nghĩa “mỗi việc chỉ do một chủ thể đảm nhiệm” Vấn đề đặt
ra là cần xác định phạm vi trách nhiệm của mỗi chủ thể “đồng quản lý” và có cơ chế quản lý thích hợp
+ Quy định các điều kiện về tài chính, tổ chức, nhân sự để bảo đảm thực hiện thẩm quyền được phân định, đặc biệt là những thẩm quyền mới được chuyển giao; + Xác định cơ chế giám sát, kiểm tra việc thực hiện thẩm quyền là kết quả của phân cấp quản lý nhà nước
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước cấp huyện đối với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách
1.3.1 Các yếu tố đảm bảo hiệu quả quản lý NSNN
- Một là, các quy định pháp luật về quản lý NSNN Bằng các quy định về thể chế, trách nhiệm, quyền hạn của các đối tượng liên quan đến quản lý NSNN Như
Trang 17vậy, để nâng cao hiệu quả quản lý NSNN thì đòi hỏi quan trọng nhất là phải ban
hành đủ các văn bản pháp luật trong quản lý NSNN
- Hai là, tổ chức bộ máy quản lý NSNN: Cơ quan Tài chính, Thuế, Kho bạc
Nhà nước, Hải quan,… và đội ngũ cán bộ có năng lực đủ mạnh và năng động, tinh
thần trách nhiệm cao và phối hợp thực thi trong quản lý NSNN
- Ba là, phân định trách nhiệm giữa các cấp NS trong thực hiện quản lý
NSNN Cụ thể là quyền lực của Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương,
trong các tổ chức hoạt động
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước cấp huyện đối với
các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách
1.3.2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
Ngân sách nhà nước là tổng hòa các mối quan hệ kinh tế - xã hội, do vậy nó
luôn chịu sự tác động của các yếu tố đó, cũng như các chính sách kinh tế - xã hội và
cơ chế quản lý tương ứng, cụ thể:
- Về kinh tế:
Như đã biết, kinh tế quyết định các nguồn lực tài chính và ngược lại các
nguồn lực tài chính cũng tác động mạnh mẽ đối với quá trình đầu tư phát triển và
hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý trong quá trình hiện đại hóa nền kinh tế Kinh tế ổn
định, tăng trưởng và phát triển bền vững là cơ sở đảm bảo vững chắc của nền tài
chính, mà trong đó ngân sách nhà nước là khâu trung tâm, giữ vai trò trọng yếu
trong phân phối các nguồn lực tài chính quốc gia Kinh tế càng phát triển nền tài
chính càng ổn định và phát triển, thì vai trò của NSNN càng ngày càng được nâng
cao, thông qua các chính sách tài khóa, thực hiện việc phân bổ các nguồn lực cho
phát triển kinh tế và ổn định xã hội
- Về mặt xã hội:
Xã hội ổn định bởi chế độ chính trị ổn định Sự ổn định về chính trị - xã hội
là cơ sở để động viên mọi nguồn lực và nguồn tài nguyên quốc gia cho sự phát triển
- chính trị - xã hội cũng hình thành nên môi trường và điều kiện để thu hút các
nguồn vốn đầu tư trong nước và quốc tế; thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế
cũng như tăng cường các nguồn lực tài chính Sự ổn định chính trị - xã hội ở Việt
Nam hiện nay đang là yếu tố tác động tích cực để kinh tế Việt Nam vượt qua khủng
hoảng kinh tế những năm 2008 - 2011 và mở ra những cơ hội và điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu
1.3.2.2 Chính sách và thể chế kinh tế
Chính sách kinh tế - xã hội và thể chế kinh tế phù hợp với xu thế phát triển,
có ý nghĩa quyết định đến việc khai thông các nguồn lực và tiềm năng quốc gia cũng như thu hút nhiều nguồn lực từ bên ngoài Ở Việt Nam trong thời gian qua, tiếp theo sau chính sách đổi mới kinh tế, phát triển kinh tế nhiều thành phần, chính phủ đã liên tục thực hiện các chính sách kinh tế mở “Đa phương hóa, đa diện hóa”
đi đôi với hoàn thiện thể chế kinh tế, chính sách điều hành kinh tế vĩ mô, đã thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế phát triển vượt bậc và đã đưa kinh tế Việt Nam từ nằm trong nhóm các nước nghèo nhất sang các nước có thu nhập trung bình của thế giới Theo đó nguồn lực gia tăng, chính sách tài khóa phát huy được hiệu lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững
1.3.2.3 Cơ chế quản lý ngân sách nhà nước
Đổi mới cơ chế quản lý hệ thống NSNN, mà trọng tâm là hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách, phân định thu - chi giữa các cấp ngân sách, mở rộng quyền chi phối quỹ dự trữ tài chính và quỹ dự phòng, nâng cao quyền tự quyết của NS cấp dưới trong hệ thống NSNN đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong quản lý hệ thống NS quốc gia Trong hơn 20 năm qua, việc liên tục đổi mới cơ chế quản lý ngân sách, đã đem lại những chuyển biến tích cực và hiệu quả trong quản lý hệ thống ngân sách quốc gia Nhờ đó nguồn thu ngân sách không ngừng tăng lên, đầu
tư công ngày càng có vị thế, ngân sách nhà nước từng bước đi vào thế cân đối tích cực, trong quá trình phát triển kinh tế theo xu thế hội nhập
1.3.2.4 Chính sách khuyến khích khai thác các nguồn lực tài chính
Hệ thống các chính sách trích thưởng thu vượt kế hoạch vào ngân sách các cấp ngân sách địa phương, quyền chi phối kết dư ngân sách cuối năm và sử dụng quỹ dự trữ tài chính, quỹ dự phòng đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho các cấp chính quyền địa phương, phát huy tính năng động sáng tạo trong khai thác các nguồn thu hiện hữu và các nguồn thu tiềm năng ở địa phương Đây là động lực rất quan trọng
Trang 18cho mở rộng nguồn thu, tăng thu ngân sách và bảo đảm cân đối bền vững của hệ
thống ngân sách quốc gia
1.4 Một số kinh nghiệm và bài học k quản lý nhà nước đối với các
1.4.2 Kinh nghiệm của huyện Kim Bôi
Trong 5 năm qua 2005-2009, huyện Kim Bôi đã đạt mức tăng trưởng bình quân 10,4%, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp (44,4%), tăng tỷ trọng TTCN - XD (20,5%), dịch vụ (35,1%), các ngành sản
xuất phát triển, đời sống của nhân dân ổn định và từng bước nâng lên
Để đạt được kết quả đó, UBND huyện đã cụ thể hóa các Nghị quyết chuyên
đề của Huyện ủy về phát triển KT-XH, xây dựng các chương trình, kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và từng giai đoạn phát triển Trong đó, sản xuất nông, lâm nghiệp đã tạo bước đột phá từ việc dồn điền, đổi thửa, từ đó tạo hướng chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu cây trồng, vật nuôi Cùng với phát triển cây lương thực, cây công nghiệp, lâm nghiệp, cây thực phẩm, chăn nuôi được mở rộng diện tích theo hướng xây dựng cánh đồng thu nhập cao, nhân rộng nhiều mô hình VAC trồng cây có giá trị kinh tế cao,trồng cỏ nuôi trâu, bò tại truồng, chăn nuôi lợn rừng, nhím, dế Trong thời gian tới, huyện thực hiện giải pháp là đầu tư đồng bộ, thâm canh toàn diện, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, đa dạng các
mô hình kinh tế, tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích
Từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong những năm qua, huyện đã tiến hành rà soát, điều chỉnh quy hoạch, từ đó xây dựng kế hoạch phát triển của từng vùng kinh tế theo hướng công nghiệp, TTCN, dịch vụ và du lịch Trên cơ sở những tiềm năng về tài nguyên, khoáng sản, đất đai, lao động, huyện đã quy hoạch các cụm công nghiệp và tiến hành tiếp xúc với nhiều nhà doanh nghiêp trong, ngoài tỉnh
để mời gọi đầu tư, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế liên doanh liên kết để mở rộng các phương thức sản xuất, đa dạng hóa các ngành nghề, tạo ra nhiều sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh, giải quyết việc làm cho người lao động
Trang 19Một trong những thế mạnh đang được huyện khai thác có hiệu quả, đó là phát triển
các khu, điểm du lịch văn hóa, sinh thái Toàn huyện hiện có 23 cơ sở kinh doanh
dịch vụ du lịch, trong đó 7 cơ sở nhà nghỉ đạt tiêu chuẩn cấp tỉnh, 1 cơ sở nhà nghỉ
đạt tiêu chuẩn 3 sao Một số khu du lịch có quy hoạch có sự đầu tư lớn, thu hút
đông khách du lịch đến thăm quan, nghỉ dưỡng như: Khu du lịch suối khoáng Kim
Bôi, khu du lịch sinh thái Cửu Thác ở xã Tú Sơn, Thác Mặt Trời ở xã Kim Tiến,
khu Resort xã Vĩnh Tiến Kim Bôi có kế hoạch bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử,
văn hóa, các lễ hội truyền thống, các làng, bản văn hóa mang dấu ấn đặc trưng của
địa phương Đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá trên các phương tiện truyền thông
đại chúng Xây dựng các thiết chế văn hóa, nội quy, quy chế quản lý các điểm du
lịch, bản làng du lịch, giữ gìn tốt môi trường văn hóa, xã hội và coi trọng công tác
đào tạo nâng cao chất lượng của đội ngũ nhân viên phục vụ
thông tho
: -
-
Để có được những kết quả trên, những năm qua cấp ủy, chính quyền, MTTQ
và đoàn thể các cấp trong tỉnh đã chủ động, đẩy mạnh tuyên truyền cho nhân dân
nắm, hiểu các chính sách, đơn giá bồi thường tài sản trên đất; quy định về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh để phục vụ các dự án đầu tư; quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, ban, ngành liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; chế độ, chính sách bồi thường, hỗ trợ về đất đai, tài sản khi bị thu hồi đất một cách công khai, minh bạch Cùng với đó, Ban chỉ đạo công tác bồi thường, GPMB, hỗ trợ tái định cư của tỉnh
và Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các huyện, thành phố đã bám sát, nắm chắc tình hình cơ sở, có sự lắng nghe và đối thoại cởi mở với người dân bị ảnh hưởng các dự án từ đó đã kịp thời tháo gỡ, giải quyết các vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện bồi thường, GPMB, đặc biệt là đối với các dự án lớn, trọng điểm Xác định bồi thường, hỗ trợ, GPMB là một lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến quyền và lợi ích trực tiếp của các tổ chức, cá nhân dễ dẫn đến khiếu kiện, làm ảnh hưởng đến tình hình ANTT Do vậy, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương luôn xác định đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, từ đó kịp thời phát hiện, tháo gỡ những vướng mắc từ cơ sở
đ
Trang 202.1 Câu hỏi nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm trả lời các câu hỏi sâu đây:
- Quá trình quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân
sách trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình trong thời gian vừa qua đã đạt được kết quả gì?
- Những tồn tại bất cập trong quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư bằng
nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình trong những năm qua là gì?
- Những giải pháp nào cần triển khai để góp phần hoàn thiện công tác quản
lý nhà nước đối với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp luận
Để đạt được các nội dung của đề tài, chúng tôi dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét đánh giá các hiện tượng nghiên cứu một cách khách quan và phân tích sự vật trong mối quan hệ nhân quả, lô gíc và khoa học, gắn với điều kiện kinh tế xã hội nhất định
2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Phương pháp thu thập, xử lý số liệu từ
các nguồn: thu thập, xử lý số liệu từ nhiều nguồn khác nhau, chủ yếu nguồn số liệu từ các tài liệu thống kê của các bộ, ngành, địa phương có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận văn Đồng thời cũng thu thập số liệu thông qua mạng Internet
, từ đó chọn ra các số liệu tiêu biểu liên quan đế
2010 đến năm 2014
Trang 212.2.3 Các phương pháp phân tích
a Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp này được sử dụng trong, điều tra, tổng hợp và phân tích các dữ
liệu thu thập được trên cơ sở đó tìm ra được bản chất của vấn đề
Trong luận văn phương pháp thống kê mô tả được dùng để mô tả thực trạng
tình hình thu, chi ngân sách xã trên địa bàn huyện Lương sơn, tỉnh Hòa Bình; hệ
thống hoá bằng phân tổ thống kê, tính các chỉ tiêu tổng hợp về số tuyệt đối, tương
đối, số bình quân, cơ cấu, tỷ trọng để phân tích tình hình biến động của hiện tượng
theo thời gian cũng như ảnh hưởng của hiện tượng này lên hiện tượng kia Từ đó
thấy được sự biến đổi về lượng và chất của vấn đề nghiên cứu để rút ra bản chất,
tính quy luật, dự báo xu hướng phát triển và đề xuất giải pháp mang tính khoa học
b Phương pháp so sánh
Là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng hoá có cùng
nội dung, tính chất để xác định mức, xu hướng biến động của nó trên cơ sở đánh giá
thông qua tính toán các tỷ số, so sánh thông tin từ các nguồn khác nhau ở các thời
điểm khác nhau, chỉ ra các mặt ổn định hay không ổn định, phát triển hay không
phát triển, hiệu quả hay không hiệu quả để tìm ra giải pháp tối ưu cho mỗi vấn đề
c Phương pháp chuyên khảo
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng phương pháp chuyên khảo để đi sâu
nghiên cứu điển hình về công tác quản lý ngân sách, nhằm giúp cho việc đánh giá tình
hình quản lý được sát hơn, đồng thời đưa ra những giải pháp về quả lý thu, chi ngân
sách trên địa bàn tỉnh nói chung và địa bàn huyện nói riêng có cơ sở và hiệu quả
d Phương pháp chuyên gia
Đây là phương pháp được sử dụng nhiều trong quá trình nghiên cứu đề tài
Cụ thể của phương pháp này là tranh thủ ý kiến đóng góp của các chuyên gia kinh
tế, các nhà quản lý ở các cấp ngân sách và ý kiến của họ trong đánh giá cũng như đề
ra các giải pháp nhằm hoàn thiện vấn đề quản lý ngân sách nhà nước hiện nay
2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiện trạng của địa phương
2.3.1.1 Về kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân (theo giá so sánh) (%);
Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần
so sánh
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %
Công thức: y = dY/Y × 100(%), Trong đó :Y là qui mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn (tỉnh/thành phố) là toàn bộ các khoản thu mà chính quyền địa phương (tỉnh/thành phố) huy động vào quỹ ngân sách trong một thời kỳ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Nó chỉ bao gồm những khoản thu, mà chính quyền địa phương huy động vào ngân sách, không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả cho đối tượng nộp
(1) Thu thuế do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của pháp luật; (2) Các khoản phí, lệ phí, thu từ các hoạt động sự nghiệp nộp vào ngân sách theo quy định của pháp luật;
(3) Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước theo quy định của pháp luật; (4) Các khoản thu từ đất:
Tiền sử dụng đất; tiền cho thuê đất, tiền cho thuê và bán nhà thuộc sở hữu nhà nước; thu hoa lợi công sản và đất công ích;
(5) Viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, các
tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài cho địa phương;
(6) Thu từ quỹ dự trữ tài chính;
(7) Thu kết dư ngân sách;
(8) Thu chuyển nguồn;
(9) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật;
(10) Huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật;
Trang 22(11) Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước;
(12) Thu từ huy động vốn đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng theo
quy định tại khoản 3 Điều 8 của Luật Ngân sách nhà nước
Phương pháp tính:
Cơ cấu thu ngân sách nhà nước trên địa bàn (%) Thu ngân sách nhà nước trên
địa bàn theo từng loại phân tổ chủ yếu Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn
- Thu nhập bình quân đầu người (VND);
Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng (Tổng cục Thống kê công bố theo
quy định) được tính bằng cách chia tổng số thu nhập của hộ dân cư cho số nhân
khẩu của hộ và chia cho 12 tháng
đầu người 1 tháng nhân với 12 tháng
- Tỷ lệ biến động đất, tài nguyên khác hàng năm (%); cơ cấu kinh tế (%)
2.3.1.2 Về văn hoá - xã hội - giáo dục - y tế
- Tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm (%);
Tỷ lệ hộ dân cư dùng điện sinh hoạt là số phần trăm hộ dân cư sử dụng điện
cho sinh hoạt trong tổng số hộ gia đình hiện có trong năm xác định
Công thức tính:
Tỷ lệ hộ dân cư dùng điện sinh hoạt (%) = Số hộ dân cư sử dụng điện cho
sinh hoạt x 100
Tổng số hộ dân cư hộ dân cư dùng điện sinh hoạt là các hộ dùng điện vào
mục đích sinh hoạt và sản xuất từ lưới điện quốc gia, trạm phát điện của địa
phương, máy phát điện riêng, thuỷ điện gia đình (không kể sử dụng điện bình ắc quy) Được tính là sử dụng điện nếu thời gian sử dụng từ 15 ngày trở lên trong tháng và mỗi ngày sử dụng ít nhất 4 giờ
Tỷ lệ hộ dân cư dùng nước hợp vệ sinh là số phần trăm hộ dân cư được sử dụng nước hợp vệ sinh trong tổng số hộ hiện có trong năm xác định
Tỷ lệ hộ nghèo (%) = (Số hộ dân cư có thu nhập bình quân đầu người dưới chuẩn nghèo/ Tổng số hộ dân cư) x 100
Chỉ tiêu phản ánh tình trạng nghèo của dân cư theo khu vực, vùng và tỉnh/TP, là căn cứ đề xây dựng các chương trình, chính sách giảm nghèo đối với các khu vực địa lý cũng như các bộ phận dân cư nghèo
- , xã hoàn thành chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục THCS; tiểu học đúng độ tuổi (%)
- Tỷ lệ phường, xã hoàn thành chuẩn quốc gia về y tế (%)
Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế xã được xác định tại thời điểm báo cáo, theo công thức:
Tỷ lệ xã/phường/thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế (%)
=
=
Xã/phường/thị trấn đạt chuẩn quốc gia tại
thời điểm báo cáo x 100
Số xã/phường/thị trấn tại cùng thời điểm
Bộ Tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020, bộ Tiêu chí này áp dụng cho các xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã), bao gồm:
Tiêu chí 1: Chỉ đạo và điều hành công tác CSSK nhân dân Tiêu chí 2: Nhân lực y tế
Tiêu chí 3: Cơ sở hạ tầng trạm y tế xã
Trang 23Tiêu chí 4: Trang thiết bị, thuốc và các phương tiện khác
Tiêu chí 5: Kế hoạch - Tài chính
Tiêu chí 6: YTDP, Vệ sinh môi trường, các CTMTGQ về y tế
Tiêu chí 7: Khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng và y dược học cổ truyền
Tiêu chí 8: Chăm sóc sức khỏe bà mẹ-trẻ em
Tiêu chí 9: DS-KHHGĐ
Tiêu chí 10: Truyền thông, giáo dục sức khỏe
Theo Quyết định số 3447/QĐ-BYT của Bộ Trưởng Bộ Y tế ngày 22 tháng 9
năm 2011 về việc Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020
2.3.2.1 Chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện trên địa
bàn huyện Lương Sơn ,tỉnh Hòa Bình
- Các chỉ tiêu phản ánh quy mô ngân sách: mức thu, mức chi ngân sách thành phố
- Các chỉ tiêu nghiên cứu cơ cấu và sự biến động nguồn kinh phí cấp cho các
đơn vị trực thuộc qua các năm
- Các chỉ tiêu nghiên cứu xu hướng biến động về quy mô ngân sách huyện
theo thời gian: tốc độ phát triển, tốc độ tăng thu, tăng chi qua các năm
2.3.2.2 Chỉ tiêu phản ánh nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả quản lý ngân sách
nhà nước cấp huyện trên địa bàn huyện Lương Sơn ,tỉnh Hòa Bình
- Các chỉ tiêu đánh giá nhiệm vụ kế hoạch và chấp hành kế hoạch NS qua các năm
- Các chỉ tiêu về các căn cứ để phân bổ NS cho các ngành, lĩnh vực, các đơn
vị trực thuộc
- Cơ cấu tỷ trọng chi đầu tư (%)
- Cơ cấu chi cho giáo dục phân theo cấp ngân sách(%)
- Cơ cấu chi ngân sách huyện theo tổng chi ngân sách(%)
- Cơ cấu chi đầu tư phát triển trong tổng chi ngân sách(%)
* Công thức tính:
Cơ cấu chi ngân sách nhà nước (%) = [(Chi ngân sách nhà nước theo từng
loại phân tổ chủ yếu)/(Tổng chi ngân sách nhà nước)] x 100
2.3.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh nội dung của quản lý nhà nước đối với các dự án đầu
tư bằng ngân sách tại huyện Lương Sơn
- Quản lý dự án phải phù hợp quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết để đảm bảo sự đồng bộ về quy hoạch hạ tầng, mỹ quan và hiện tại
- Chỉ tiêu phân bổ vốn cho các dự án đàu tư sử dụng vốn ngân sách
- Thẩm định, phê duyệt thiết kế, tổng dự toán xây dựng công trình
- Lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng
- Chỉ tiêu thi công xây dựng công trình
- Chỉ tiêu chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình
- Chỉ tiêu đánh giá đấu thầu
Trang 24Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN
ĐẦU TƯ BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
-3.1.1 Các đặc điểm tự nhiên, xã hội
*Đặc điểm tự nhiên
Huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình là cửa ngõ của miền Tây Bắc, Phía Đông
giáp huyện Chương Mỹ và Mỹ Đức, thành phố Hà Nội; Tây giáp Kỳ Sơn; Nam giáp
huyện Kim Bôi và huyện Lạc Thủy; Bắc giáp huyện Quốc Oai, thành phố Hà
Nội.Với diện tích khoảng 377 Km2
, Hiện tại, tính đến tháng 2 - 2014, dân số huyện Lương Sơn vào khoảng 97.446 người Lương Sơn là một huyện vùng thấp bán sơn
địa của tỉnh Hoà Bình, có địa hình phổ biến là núi thấp và đồng bằng, là nơi tiếp
giáp giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng và miền núi Tây Bắc - Bắc Bộ Với vị trí
thuận lợi gần Thủ đô Hà Nội và địa hình xen kẽ nhiều núi đồi, thung lũng rộng
phẳng, kết hợp với hệ thống sông, suối, hồ tự nhiên, nhân tạo cùng với hệ thống
rừng… Đã tạo cảnh quan thiên nhiên và điều kiện phù hợp để huyện Lương Sơn
phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, sân golf
Trên địa bàn huyện có nhiều danh lam thắng cảnh, di chỉ khảo cổ học, hệ
thống hang động, núi đá tự nhiên như: hang Trầm, hang Rồng, hang Tằm, hang
Trổ…động Đá Bạc, động Long Tiên… đây là những tiềm năng để phát triển những
tour du lịch danh lam thắng cảnh kết hợp với nghỉ dưỡng
Ngoài ra Lương Sơn cũng là huyện có nguồn tài nguyên du lịch văn hóa vật
thể và phi vật thể
Các dự án trong khu công nghiệp Lương Sơn…góp phần quan trọng vào phát
triển của ngành công nghiệp trên địa bàn Đặc biệt, trong cơ cấu sản xuất công
nghiệp đã không ngừng tăng lên Cơ cấu sản xuất nội bộ ngành công nghiệp có sự
chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng công nghiệp khai thác và tăng tỷ trọng công
nghiệp chế biến Ngành CN - TTCN ở Lương Sơn phát triển khá mạnh trong đó
khu công nghiệp Lương Sơn thu hút 19 dự án tỷ lệ lấp đầy giai đoạn 1 đạt 66% Những khu công nghiệp Lương Sơn, Bắc Lương Sơn, Nam Lương Sơn đang thu hút các nhà đầu tư đến với mảnh đất giàu tiềm năng này
*Đặc điểm xã hội:
Hệ thống điện: Huyện Lương Sơn có 18/18 xã,1 thị trấn đẫ có điện lưới
quốc gia, tỷ lệ hộ dung điện đạt 995 Toàn huyện có 72 trạm biến áp, 20 HTX dịch
vụ điện năng, trong đó mới có 5 HTX được cấp giấy phép hoạt động điện lực
Hệ thống lưới điện do các HTX điện năng quản lý khoảng 234 km, phục vụ cho gần 10.000 hộ dân 3 xóm: Ngọc Lâm, Khuộc (xã Cao Răm), Đồng Bưởi (Xã Trường Sơn) chưa có điện lưới quốc gia
Hệ thống điện lưới nông thôn chất lượng chưa cao, nhiều nơi chưa đảm bảo
về an toàn và yêu cầu kỹ thuật, tổn thất điện năng lớn Các HTX dịch vụ điện năng năng lực quản lý yếu, chất lượng chưa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nhân dân Điện cung cấp cho các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và không ngừng tăng
, nhằm làm đẹp cảnh quan đô thị và cũng sẵn sàng cung cấp các dịch vụ cho khách
du lịch và các nhà đầu tư
Hệ thống giao thông: Thuận lợi kể cả đường bộ, đường sông Quốc lộ 6, chạy
theo hướng Đông Tây, cắt ngang qua địa bàn huyện khoảng 15 km từ khu Năm Lu đến dốc Kẽm, đi từ thị trấn Xuân Mai huyện Chương Mỹ (Hà Nội), sang huyện Kỳ Sơn, Hòa Bình Quốc lộ 21A, cắt qua một vài đoạn ở rìa phía Đông huyện
Một số tỉnh lộ như đường từ Bãi Lạng (thị trấn Lương Sơn) đến Khăm (xã Vĩnh Tiến - Kim Bôi), đường Bãi Nai - Cầu Vai Réo, hệ thống đường liên huyện, liên xã, liên thông rất dày đặc và thuận tiện
Có thể nói rằng chất lượng giao thông của tỉnh ngày một được nâng cao rõ rệt đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của việc phát triển kinh tế Một số tiến bộ khoa học kĩ thuật được phổ biến và áp dụng trong lĩnh vực quản lý và xây dựng giao thông Và huyện Lương Sơn vẫn đã và đang tiếp tục huy động các nguồn lực tập
Trang 25trung đầu tư cho việc phát triển giao thông để thật sự tạo ra môi trường hấp dẫn các
nhà đầu tư
Hệ thống cấp thoát nước:
Các khu dân cư, khu công nghiệp đã có đủ nước sạch phục vụ cho sản xuất
cũng như sinh hoạt Hệ thống thoát nước thường xuyên được quan tâm đầu tư nâng
cấp để đảm bảo cho phát triển bền vững đồng thời đảm bảo đời sống cho nhân dân
và đảm bảo vệ sinh môi trường
Y tế:
Kết quả đạt được trong 10 năm qua đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho
người dân, mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở ngày càng được củng cố và phát
triển, cơ sở vật chất, trang thiết bị được đầu tư, trang bị đầy đủ Hiện nay, huyện có
01 Bệnh viện đa khoa với 100 giường bệnh, đủ trang thiết bị cho một bệnh viện
tuyến huyện Mạng lưới y tế xã được củng cố, kiện toàn thường xuyên, toàn huyện
có 20 trạm y tế xã, thị trấn với 125 cán bộ viên chức và 138 nhân viên y tế thôn bản;
47 cơ sở hành nghề y dược tư nhân thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu
cho nhân dân 100% cơ sở vật chất các trạm y tế tuyến xã được xây dựng kiên cố,
trong đó 35% số trạm có nhà xây 2 tầng, hệ thống điện, nước, xử lý chất thải cơ bản
đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và bảo đảm vệ sinh môi trường Bên cạnh đó,
việc nghiên cứu, kế thừa, bảo tồn và phát triển y dược học cổ truyền được đẩy
mạnh, Hội Đông y của huyện có 20 chi hội ở khắp các xã, thị trấn với trên 300 hội
viên; 08 phòng chẩn trị y học cổ truyền Hầu hết các Trạm y tế xã, thị trấn đều có
vườn thuốc nam Tỷ lệ khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền ngày càng tăng Năm
2014 có 22.451 lượt bệnh nhân, tăng 75,3% so với năm 2005 (12.802 lượt bệnh
nhân) Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia các loại hình Bảo hiểm
y tế, tiến tới thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, đến năm 2014, toàn huyện có trên
70% số người dân tham gia bảo hiểm y tế; Trình độ đội ngũ cán bộ y tế ngày càng
được nâng cao Tại tuyến huyện, năm 2014 có 15 bác sỹ trình độ đại học và trên đại
học, tăng 5 bác sỹ so với năm 2010 Tại các trạm y tế xã, thị trấn năm 2014, có 95%
số trạm y tế có bác sỹ, tăng 35% so với năm 2010 (có 60%) 100% trạm y tế xã, thị
trấn có nữ hộ sinh trình độ từ trung cấp trở lên Đội ngũ cán bộ y tế học đường cũng
thường xuyên được củng cố cả về số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh ban đầu cho học sinh tại các trường học trên địa bàn huyện (Nguồn:
UBND tỉnh Hòa Bình, 2014)
Bên cạnh đó đội ngũ cán bộ, viên chức Ngành Y luôn nêu cao tinh thần, thái
độ phục vụ người bệnh, văn minh trong giao tiếp, ứng xử, thực hiện tốt 12 điều y đức, quy tắc ứng xử của Bộ Y tế ban hành 100% cán bộ, viên chức y tế đăng ký học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Những biểu hiện tiêu cực, gây phiền hà với người bệnh được ngăn chặn, đẩy lùi Việc tiếp cận với các dịch vụ
y tế ngày càng dễ dàng hơn Người bệnh được đối xử bình đẳng trong khám, chữa bệnh và sử dụng các dịch vụ y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh trong toàn huyện
Giáo dục: Huyện Lương Sơn đã tích cực thực hiện nhiệm vụ công tác giáo
dục và đào tạo, công tác phổ cập giáo dục Cụ thể, đã ban hành 25 văn bản chỉ đạo
về việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm trong năm học, về công tác phối kết hợp thực hiện phổ cập giáo dục, xây dựng xã hội học tập và hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng Đồng thời thực hiện tốt công tác tuyên truyền đến toàn thể cán bộ, nhân dân về mục tiêu của giáo dục và đào tạo, của công tác phổ cập giáo dục và xây dựng xã hội học tập Cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học được quan tâm đầu tư
tích cực Trong năm 2014, toàn huyện xây dựng mới 16 phòng học kiên cố, và 8
công trình phụ trợ với tổng số tiền 19,5 tỷ đồng.Mua sắm, bổ sung thiết bị cho các trường học trên địa bàn với số tiền gần 6 tỷ đồng
Cùng với việc đầu tư về cơ sở vật chất, huyện Lương Sơn cũng tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ Tổ chức cho cán bộ giáo viên tham gia các lớp bồi
dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và cử các đồng chí giáo viên phụ trách công tác phổ
cập giáo dục tham gia đầy đủ các lớp tập huấn về công tác điều tra, thống kê phổ cập giáo dục do Sở GD&ĐT tổ chức Nhờ đó, kết quả chất lượng giáo dục đã đạt được cụ thể là: đối với giáo dục mầm non: Có tổng số trẻ 5 tuổi được học và hoàn thành chương trình giáo dục mầm non mới là 1.718 cháu, đạt tỷ lệ 100% Trong năm học có 77 giáo viên đạt giáo viên giỏi cấp huyện, 7 giáo viên đạt giáo viên giỏi cấp tỉnh Về giáo dục tiểu học: Phổ cập giáo dục Tiểu học - chống mù chữ đã
có 36.519 đối tượng trong độ tuổi từ 15 - 35 được công nhận biết chữ, đạt tỷ lệ
Trang 2699,95%; phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi có 1.685 trẻ 6 tuổi vào lớp 1, đạt tỷ
lệ 100% Có 368 em học sinh giỏi cấp huyện, 96 em học sinh giỏi cấp tỉnh và 3 học
sinh giỏi cấp quốc gia Có 54 giáo viên giỏi cấp huyện và 6 giáo viên giỏi cấp tỉnh
Về giáo dục THCS: có 1.095 học sinh đủ điều kiện xét tốt nghiệp THCS, đạt tỷ lệ
100% Có 197 học sinh giỏi cấp huyện, 69 học sinh giỏi cấp tỉnh và 2 học sinh giỏi
quốc gia Có 54 cán bộ quản lý, giáo viên giỏi cấp huyện, 10 cán bộ quản lý, giáo
viên giỏi cấp tỉnh Về phổ cập giáo dục bậc trung học phổ thông có 4.540 đối tượng
trong độ tuổi từ 18 - 21 vào tốt nghiệp THPT, đạt tỷ lệ 72,4% Các tiêu chuẩn về
chất lượng đội ngũ và cơ sở vật chất đều đảm bảo theo quy định
Với kết quả đã đạt được, huyện Lương Sơn tiếp tục được công nhận là
đơn vị hoàn thành công tác phổ cập giáo dục năm 2014 (Nguồn: UBND huyện
Lương Sơn, 2014)
Văn hoá - thông tin thể dục thể thao:
Các hoạt động văn hoá, văn nghệ của huyện phát triển khá, chất lượng văn
hoá, văn nghệ quần chúng được nâng lên rõ rệt, nội dung phong phú, đa dạng,
mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc
Công tác thông tin tuyên truyền luôn kịp thời và hiệu quả Các chủ trương,
chính sách của Đảng đã tới được người dân Có 14/18 xã đã được phủ sóng phát
thanh, 9/18 xã được phủ sóng truyền hình Phong trào xây dựng nếp sống văn hoá,
bài trừ các tệ nạn mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu trong ma chay, cưới xin được triển
khai rộng khắp toàn huyện Thư viện của huyện mở cửa phục vụ nhu cầu thông
tin, nâng cao kiến thức của các tầng lớp nhân dân
Mặc dù cơ sở vật chất phục vụ thể thao trong huyện còn thiếu thốn và yếu
kém nhưng phong trào thể dục, thể thao, rèn luyện thân thể diễn ra rất sôi nổi, các
môn thể thao như bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông thu hút được đông
đảo nhân dân tham gia
Lương Sơn có địa hình xen kẽ nhiều núi đồi, thung lũng rộng phẳng, kết hợp
với hệ thống sông, suối, hồ tự nhiên, nhân tạo cùng với hệ thống rừng… đã tạo
cảnh quan thiên nhiên và điều kiện phù hợp để huyện Lương Sơn phát triển du lịch
sinh thái, nghỉ dưỡng, sân golf
Trên địa bàn huyện có nhiều danh lam thắng cảnh, di chỉ khảo cổ học, hệ thống hang động, núi đá tự nhiên như: hang Trầm, hang Rồng, hang Tằm, hang Trổ…động Đá Bạc, động Long Tiên… đây là những tiềm năng để phát triển những tour du lịch danh lam thắng cảnh kết hợp với nghỉ dưỡng
Hiện toàn huyện có 44 CLB TD -TT có quyết định thành lập của UBND xã, thị trấn ở các môn bóng bàn, cầu lông, bóng chuyền, karatedo, tennis , toàn huyện còn có hàng trăm nhóm thể thao cùng sở thích hoạt động hiệu quả như của Hội NCT, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội CCB Hoạt động của các mô hình thể thao đã thu hút đông đảo mọi lứa tuổi, thành phần tham gia, nhờ đó các chỉ tiêu phát triển sự nghiệp TD -TT huyện Lương Sơn trong năm vừa qua đã đạt và vượt kế hoạch của Sở VH -TT&DL giao Số người tập luyện TD -TT thường xuyên là 24.600, đạt 103% kế hoạch (trong đó có 6.270 người đạt chế độ rèn luyện theo tiêu
chuẩn); gia đình thể thao có 4.250 hộ, đạt 108% (Nguồn: Theo thống kê của ngành
văn hóa huyện Lương Sơn, 2014)
Có thể nói, hoạt động của các CLB TD -TT đã và đang thúc đẩy phong trào rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ trong quần chúng nhân dân ngày càng phát triển, góp phần kết nối tình làng, nghĩa xóm, giảm thiểu TNXH phát sinh trong cộng đồng dân cư
Bưu chính viễn thông:
Mạng lưới bưu chính viễn thông trên địa bàn tỉnh có những bước tiến quan trọng và vượt bậc Hiện nay, Lương Sơn, Hoà Bình có thể liên lạc trực tiếp với cả nước thuận lợi Dịch vụ bưu chính viễn thông tăng nhanh Hệ thống mạng bưu chính viễn thông đã được hoàn thiện theo hướng mở rộng quy mô và hiện đại hoá
về mọi mặt có thể hoà nhập với trong nước, khu vực Các xã có điện thoại, các tuyến truyền dẫn liên tỉnh, nội tỉnh Các dịch vụ bưu chính như chuyển phát nhanh, điện hoa, 1080, bưu chính uỷ thác, tiết kiệm bưu điện, nhắn tin, điện thoại thẻ, Internet, phục vụ nhiệt tình, nhanh chóng và đảm bảo
Cơ sở hạ tầng cho các ngành dịch vụ
Cơ sở vật chất cho ngành thương mại dịch vụ luôn được củng cố tăng cường
và phát triển, hình thành các khu trung tâm thương mại dịch vụ, chợ đầu mối, khu sinh thái nghỉ dưỡng thu hút khách du lịch cũng như các nhà đầu tư đến làm ăn
Trang 27Hệ thống ngân hàng, tài chính, kho bạc:
Hệ thống ngân hàng của huyện sẵn sàng đáp ứng nhu cầu về dịch vụ tài
chính trong nền kinh tế thị trường cơ sở vật chất ngày một tiến bộ
Tiềm năng về dân số, lao động:
Dân số toàn huyện 98.856 người gồm 3 dân tộc chính là Mường, Dao, Kinh,
trong đó người Mường chiếm khoảng 70% dân số Lực lượng lao động đông, số lao
động phi nông nghiệp ngày càng gia tăng, tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 45%,
điều này cho thấy huyện có thế mạnh về nguồn lực lao động
3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian 2010 - 2014
3.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế, thu chi ngân sách và đầu tư
Huyện Lương Sơn Phát huy lợi thế về vị trí địa lý, đầu mối giao lưu kinh tế,
văn hóa-xã hội giữa miền núi và miền xuôi trong nhiều năm qua, các xã trong huyện
đã duy trì nền kinh tế đa dạng với nhiều thành phần nông, lâm nghiệp; công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp, du lịch,- dịch vụ Nhờ đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, vận
động người dân, Lương Sơn đã nhanh chóng bắt nhịp với sự phát triển của nền kinh
tế thị trường
a Tăng trưởng kinh tế: Những năm qua, thực hiện chủ trương thu hút đầu
tư của tỉnh, huyện Lương Sơn đã tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi cho
các doanh nghiệp vào đầu tư tại huyện, bước đầu khai thác tiềm năng, lợi thế của
huyện là địa bàn giao thông thuận lợi, gần Thủ đô Hà Nội, tạo đà và thúc đẩy sản
xuất công nghiệp phát triển, tăng năng lực sản xuất, kim ngạch xuất, nhập khẩu, giải
quyết việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động; đời sống một bộ phận nhân
dân vùng dự án từng bước cải thiện, thu ngân sách Nhà nước ngày càng tăng, góp
phần thúc đẩy kinh tế của huyện tăng trưởng
Từ năm 2010 - 2014, huyện Lương Sơn đã cấp mới và thay đổi nội dung
đăng ký kinh doanh cho 136 hộ kinh doanh và 26 doanh nghiệp với tổng số vốn
đăng ký trên 169 tỷ đồng Hiện nay toàn huyện có 820 cơ sở sản xuất công nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp, giá trị sản xuất công, nghiệp tiểu thủ công nghiệp đạt 728,5
tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2010 đạt 18,2% Trong đó: Nông, lâm
nghiệp 1,7%; công nghiệp - xây dựng 25,8%; thương mại dịch vụ 23,9% Cơ cấu
kinh tế nông, lâm nghiệp 25,0%; công nghiệp - xây dựng 43,5%; thương mại dịch
vụ 31,5% Về kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2014 đạt 11,5% Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 23,1%; Công nghiệp, xây dựng chiếm 48,1%; Thương mại - dịch vụ chiếm 28,8% Giá trị sản xuất đạt 7.678,3 tỷ đồng, trong đó, lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp đạt 1.547 tỷ đồng; công nghiệp - xây dựng đạt 4.250
tỷ đồng; thương mại - dịch vụ đạt 1.881,3 tỷ đồng Thu nhập bình quân đầu người tăng khá Theo số liệu thống kê, năm 2010 thu nhập bình quân đầu người đạt 18,2 triệu đồng/ năm, năm 2014 đạt 36,6 triệu đồng/ năm Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 7,% (năm 2010) xuống còn 5,25% (năm 2014) Đây là điều kiện thuận lợi để huyện
Lương Sơn phát triển thành vùng động lực kinh tế của tỉnh Hòa Bình (Nguồn:
UBND huyện Lương Sơn, 2014)
Hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển KT -XH tiếp tục được quan tâm đầu tư
đã tập trung phát triển mạng lưới giao thông, thủy lợi, lưới điện Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM Lương Sơn có 6 xã đạt từ 14 - 17
tiêu chí; 11 xã đạt từ 7 - 13 tiêu chí; còn 2 xã đạt dưới 7tiêu chí (Nguồn: UBND
huyện Lương Sơn, 2014)
b Thu ngân sách :Năm 2014 thu NSNN trên địa bàn ước đạt 90 tỷ đồng,
vượt 27,7% so với dự toán tỉnh giao và vượt 20% so với dự toán huyện giao Đây là năm đầu tiên huyện Lương Sơn thu NSNN vượt dự toán sau 2 năm (2012 - 2013)
hụt thu lớn (Nguồn: UBND huyện Lương Sơn, 2014)
c Tổng đầu tư xã hội:
Trong giai đoạn 2010 - 2014 trên địa bàn huyện có 82 dự án được triển khai thực hiện, trong đó có 24 dự án sản xuất công nghiệp, chiếm 34%, 44 dự án khai thác chế biến khoáng sản, chiếm 49,7%; trong số đó có 6 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đầu tư khoảng 170.500 triệu USD, 76 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư khoảng trên 9,7 nghìn tỷ đồng Các dự án trên đã có đóng góp tích cực trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của huyện Từ năm 2010
- 2014 đã nộp ngân sách nhà nước 182.151 triệu đồng Tuy nhiên vài năm trở lại đây do khó khăn trong sản xuất kinh doanh, sản phẩm tiêu thụ chậm, nhiều dự án phải thu hẹp quy mô sản xuất hoặc ngừng sản xuất Công tác giải phóng mặt bằng
Trang 28cho dự án còn nhiều vướng mắc, trong 143 dự án mới có 50 dự án hoàn thành giải
phóng mặt bằng, còn 82 dự án thực hiện dở dang Khó khăn trong công tác giải
phóng mặt bằng chủ yếu do tình trạng các dự án tồn từ trước đây
Trong đó đẩy mạnh thu hút đầu tư, thông thoáng trong cải cách hành chính,
tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp vào sản xuất kinh doanh trên cơ sở có chọn
lọc, đánh giá; đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng Tăng cường đối thoại, kịp
thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp
Đầu tư xã hội đạt mức tương đối khá (392,6 tỷ đồng), gồm đầu tư của nhà
nước, đầu tư của doanh nghiệp và đầu tư của nhân dân Đầu tư cơ sở hạ tầng tập
trung vào củng cố hệ thống giao thông, hệ thống đô thị, mạng lưới điện, viễn thông
và một số công trình hạ tầng dịch vụ cho du lịch, hệ thống thuỷ lợi
3.1.2.2 Chuyển đổi cơ cấu kinh tế
2014
ĐVT: %
Đơn vị so sánh Lương Sơn
1 Công nghiệp - xây dựng 43,1 45,1 31,5 38,6 38,24 38,50
2 Nông - lâm - thuỷ sản 25,8 23,1 35 27,1 20,66 18,12
3 Dịch vụ 31,1 31,8 33,5 34,3 41,1 43,38
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Lương Sơn năm 2014
Cơ cấu kinh tế năm 2010 so với năm 2014: Tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản
chiếm 23,1%, giảm 3%; công nghiệp -xây dựng chiếm 45,1%, tăng 2%; dịch vụ chiếm
31,8%, tăng 0,7% Như vậy cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực, tỷ trọng công nghiệp,
xây dựng tăng, cơ cấu thành phần kinh tế xuất hiện những sản phẩm mới với công nghệ
tiên tiến hơn trong công nghiệp, dịch vụ, việc chuyển đổi cơ cấu trong sản xuất nông
nghiệp cũng có bước tiến nhất định
3.1.3 Tiềm năng, lợi thế và khó khăn, thách thức
3.1.3.1 Tiềm năng, lợi thế
a)Về du lịch:
- Khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của huyện, của tỉnh, nhất là vị trí địa lý, cảnh quan thiên nhiên, giá trị văn hoá, môi trường sinh thái để đưa du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện, của tỉnh
- Phát triển du lịch của tỉnh gắn với du lịch vùng Bắc Bộ, đặc biệt là Thủ đô
Hà Nội và cả nước Gắn phát triển du lịch với giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc và đặc thù văn hoá địa phương, tôn tạo các khu di tích lịch sử
- Phát huy lợi thế địa phương có Sân golf Phượng Hoàng (Lương Sơn), đây là một trong các sân golf lớn nhất cả nước, là điểm thu hút khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa có thu nhập cao, góp phần đẩy du lịch của huyện cũng như của tỉnh phát triển
b)Về thương mại:
- Phát triển ngành thương mại của huyện tương xứng với tiềm năng và khai thác tối đa lợi thế của vùng cửa ngõ của tỉnh với Thủ đô Hà Nội Phát triển thương mại trở thành đòn bẩy để phát triển ngành sản xuất và dịch vụ khác, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân, góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động xã hội;
- Hoàn chỉnh hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ thương mại trên địa bàn theo hướng kết hợp giữa phát triển thương mại tại khu vực đô thị với phát triển thị trường nông thôn; phát triển các chợ đầu mối để thu mua sản phẩm của nông dân, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các siêu thị, trung tâm thương mại tại đô thị và các trung tâm huyện lỵ, thị trấn
- Quy hoạch và nâng cấp hệ thống chợ nông thôn; xây dựng các trung tâm thương mại, siêu thị ở khu trung tâm và khu vực đầu mối giao thông tại thị trấn Lương Sơn, các thị trấn, trung tâm cụm xã
c) Về nông, lâm, ngư nghiệp:
- Vê nông nghiệp: Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế trên diện tích canh tác, phát triển sản phẩm
Trang 29chất lượng cao, sản phẩm sạch; xây dựng nền nông nghiệp hàng hoá có sức cạnh
tranh cao, nhiều sản phẩm có thương hiệu, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật
trong sản xuất, nhất là công nghệ sinh học và cơ giới hoá để nâng cao năng xuất lao
động và thu nhập cho nhân dân; là khu vực cung cấp các sản phẩm nông nghiệp
sạch cho khu vực Hà Nội
- Về lâm nghiệp: Phát triển lâm nghiệp toàn diện từ quản lý, bảo vệ, trồng,
cải tạo, làm giàu từ rừng đến khai thác, chế biến lâm sản, bảo vệ môi trường, cảnh
quan cho du lịch sinh thái; tăng cường chuyển giao ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đưa
những giống mới vào sản xuất
d) Về công nghiệp:
- Phát triển các khu, cụm công nghiệp: Khu công nghiệp Lương Sơn, khu
công nghiệp Nam Lương Sơn, khu công nghiệp Nhuận Trạch (huyện Lương Sơn),
cụm công nghiệp Vitaco
- Tập trung xây dựng các khu, cụm công nghiệp ở các xã, thị trấn dọc tuyến
đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 6, Quốc lộ 12, thu hút các dự án đầu tư, tiến đến lấp
đầy diện tích đất các khu công nghiệp
e) Về quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự xã hội được đảm bảo ổn định vì
đã đạt được tiến bộ về: tuyên truyền, thông tin và quốc phòng; an ninh chính trị - xã
hội; Xây dựng thế trận quốc phòng nhân dân, chú trọng chống diễn biến hoà bình;
Phối kết hợp giữa hoạt động quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, giảm nghèo
3.1.3.2 Những khó khăn, thách thức
Với những thuận lợi lớn về phát triển kinh tế, Lương Sơn có nhiều cơ hội
giải quyết việc làm cho lực lượng lao động của huyện Tuy nhiên bên cạnh những
thuận lợi Lương Sơn cũng đối diện với không ít khó khăn, thách thức trong giải
quyết việc làm cho người lao động trong đó có lực lượng thanh niên Các doanh
nghiệp trên địa bàn huyện có nhu cầu lao động lớn nhưng đòi hỏi khá khắt khe đối
với người lao động Bên cạnh trình độ, tay nghề người lao động phải có ý thức kỷ
luật tốt Trong khi đó đa số người lao động của Lương Sơn nói chung trong đó có
thanh niên đều xuất phát từ nông thôn, kỹ năng phỏng vấn khi tham gia tuyển dụng
còn nhiều yếu tố; chưa được đào tạo trường lớp bài bản; việc chấp hành về thời gian
lao động và ý thức kỷ luật lao động còn hạn chế
Hàng tồn kho cao; tình trạng bất động sản trầm lắng; nợ xấu chưa được giải quyết; thu ngân sách đạt thấp, nợ đọng thuế
Việc quy hoạch sử dụng đất đai, đầu tư hạ tầng vẫn còn hạn chế, giải phóng mặt bằng, thu hút đầu tư còn nhiều khó khăn, vướng mắc Được tỉnh xác định là vùng kinh tế động lực, vừa là vinh dự nhưng cũng là trách nhiệm đặt ra cho Đảng
bộ huyện Lương Sơn đang có nhiều cơ hội phát triển và cũng đang đứng trước nhiều khó khăn cần vượt qua Trong đó những khó khăn là: sức ép của các nhà đầu
tư, sức ép về giải phóng mặt bằng, sức ép giữa thu hút đầu tư, việc làm và chuyển đổi ngành nghề cho nông dân
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt thấp; tình trạng sinh con thứ 3 trở lên còn nhiều; các chỉ tiêu trường học đạt chuẩn quốc gia,
xã đạt chuẩn đạt chuẩn quốc gia về y tế, số người được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu NQĐH đề ra
Trình độ khoa học công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật và trình độ chuyên môn, quản lý còn hạn chế so với mặt bằng cả nước
Chưa có tư duy, cách làm mới để đưa kinh tế xã hội vượt lên, đặc biệt là du lịch và công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp do nguồn nhân lực còn hạn chế - chủ yếu
là lao động nông nghiệp, chậm phát triển khu công nghiệp
Kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông thiếu đồng bộ gây trở ngại trong phát triển kinh tế của ngành chủ yếu như du lịch và công nông nghiệp Khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài, huy động các nguồn lực trong nước còn hạn chế, năng suất lao động thấp mà yêu cầu đầu tư phát triển và đổi mới công nghệ cao, công tác quy hoạch còn hạn chế
3.2.1 Kết quả đầu tư phát triển ngân sách nhà nước trong những năm qua
3.2.1.1 Kết quả đầu tư
a Việc huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển:
Trong giai đoạn 2010 - 2014 tình hình kinh tế, chính trị trên Thế giới và trong nước có nhiều biến động phức tạp như: chiến tranh cục bộ, diễn biến hoà bình, khủng bố, thiên tai, bạo loạn diễn ra ở n
Trang 30Lương Sơn ít nhiều cũng chịu sự ảnh hưởng đó Ở cấp độ dự án cụ thể có thể thấy
trong những năm qua các dự án đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt Khối lượng vốn
đầu tư toàn xã hội thực hiện trong năm 2010 là 185,13 tỷ đồng, 2011 là 232,044 tỷ
đồng năm 2012 tăng lên 249,78 tỷ đồng, năm 2013 tăng nhanh đạt 369,006 tỷ đồng
Trong đó vốn của địa phương quản lý từ vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước là, vốn
đầu tư từ ngân sách nhà nước ngày một giảm cả về giá trị tuyệt đối và tỷ trọng
trong năm 2010 là 66,1 tỷ đồng, chiếm 35,7% đến năm 2011 là 131,319 tỷ đồng,
chiếm 56,6%, năm 2012 là 128,15 tỷ đồng ,chiếm 51,3%, năm 2013 là 107,46 tỷ
đồng, chiếm 27,1% trong tổng vốn đầu tư do địa phương quản lý
Cụ thể về khối lượng vốn đầu tư thực hiện trong năm 2010 và 2014 ta có trong
bảng số liệu sau:
Bảng 3.2: Nguồn vốn đầu tư phát triển trong giai đoạn 2010 -2014 do ĐP quản
lý của huyện Lương Sơn
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Lương Sơn năm 2014
Trong cả thời kỳ 2010 - 2014 phục vụ tăng thêm đạt được đúng chỉ tiêu đề ra
trong kế hoạch, các công trình, hạng mục công trình được hoàn thành nghiệm thu
đưa vào sử dụng
Kết quả huy động vốn đầu tư toàn xã hội cho đầu tư phát triển kinh tế - xã
hội ở huyện Lương Sơn giai đoạn 2010 - 2014 tăng
Trong giai đoạn này huyện Lương Sơn chủ trương đầu tư vào cơ sở hạ tầng
như: các công trình giao thông (cầu, đường, hệ thống chiếu sáng, ); các công sở;
trường học; hệ thống kênh mương thuỷ lợi; điện thoại, thông tin liên lạc Các dự án này chủ yếu sử dụng vốn ngân sách của Nhà nước Các nguồn vốn khác cũng có nhưng không đáng kể Một số công trình nhỏ được đầu tư bằng nguồn vốn tự có của địa phương, tuy nhiên số lượng các dự án này còn rất hạn chế, cả về quy mô vốn lẫn chất lượng
Cơ chế chính sách của Nhà nước đã thu hút được nguồn vốn rất lớn của dân và
tư nhân đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng thể hiện rõ qua các năm , năm 2010 là 52,61tỷ đồng, chiếm 28,42%, đến năm 2011 là 61,76 tỷ đồng, chiếm 26,6%, năm 2012 là 76,87 tỷ đồng, chiếm 30,78%, năm 2013 là 184,156 tỷ đồng, chiếm 46,6 %
Bảng 3.3 Cơ cấu vốn đầu tư phát triển thời kì 2010 - 2014
Phân theo ngành kinh tế
Đơn vị tính: %
1 Nông lâm nghiệp thuỷ sản 43,04 41,56 37,2 31,8 28,2
2 Công nghiệp xây dựng 38,5 38,7 34,3 36,29 38,7
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Lương Sơn năm 2014
nghiệp và tăng tỷ trọng đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ Điều đó đã làm cho cơ cấu kinh tế chuyển dịch một cách hợp lý
Ví dụ như: năm 2010 Dịch vụ là 18,25 đến năm 2011 tăng lên 19,83, đến năm 2012 tăng lên 28,4 đến năm 2013 tăng lên 31,76, sơ bộ đến năm 2014 tăng lên 33,1cho thấy cơ cấu đầu tư ngành có chiều tăng tỷ lệ đầu tư cho lĩnh vực Dịch vụ nhưng mà chưa cao
Trong khi đó Dịch vụ là một ngành mang lại nhiều lợi ích về kinh tế nhất lên chú trọng đầu tư nhiều hơn
Trang 31b Cơ sở vật chất:
Nguồn vốn huy động đầu tư phát triển đạt kết quả cao, nhiều công trình cơ sở
hạ tầng, giao thông, thuỷ lợi, trường học hoàn thành phát huy hiệu quả, khẳng định chủ
trương đầu tư đúng hướng, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, giao lưu hàng hoá thông
suốt, các mặt xã hội về giáo dục, văn hoá, thể thao có nhiều thay đổi
Các dự án đầu tư vào địa bàn huyện đã và đang phát huy hiệu quả Chẳng
hạn dự án Nhà máy sản xuất nhôm của Công ty ALMINE - Nhật Bản tại KCN
Lương Sơn vốn đầu tư 36 triệu USD Khi dự án đi vào hoạt động cần có khoảng
500 lao động địa phương thì người dân phải nắm bắt được cơ hội này hay như các
dự án sản xuất công nghiệp khác cũng vậy
Tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng, ưu tiên cho đầu tư hạ tầng thực hiện quy
hoạch, nâng cấp thị trấn Lương Sơn thành thị xã Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của
SXNN, xây dựng vùng cây, hàng hóa, cung cấp cho thị trường
Dự án nhà ở và thương mại thị trấn Lương Sơn Diện tích đất im lìm, lầy lội
khi xưa đã hoàn thành được thay thế bằng mặt bằng khu đô thị mới của thị trấn
Lương Sơn Trục đường chính vào khu đô thị và trung tâm thương mại rộng 27 m
đã hoàn thành được bố trí các dải cây xanh đô thị hai bên, hệ thống giao thông
tương đối đồng bộ bảo đảm sự liên kết; hệ thống thoát nước, cấp nước, đèn chiếu
sáng đang khẩn trương hoàn thiện, các lõi cây xanh được bố trí hài hòa, hợp lý để
tạo cảnh quan, môi trường cho toàn bộ khu vực dự án Một phần diện tích đã và
đang được xây dựng nhà ở theo quy hoạch, tạo nên cảnh quan đô thị mới văn minh,
hiện đại
Dự án Trung tâm thương mại và nhà ở Lương Sơn do Công ty CP Đông
Dương làm chủ đầu tư triển khai trên địa bàn thị trấn Lương Sơn bảo đảm mục tiêu,
tiến độ, chất lượng đang chứng tỏ hiệu quả và định hướng đúng đắn của chủ trương
huy động các nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng xây dựng Lương Sơn sớm trở thành
thị xã trong tương lai
c Công tác quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng:
Nhà nước thực hiện việc quản lý chặt chẽ đối với các dự án đầu tư xây dựng
bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước từ khâu lập, đấu thầu, thực hiện, thẩm định,
thanh tra, kiểm tra là rất cần thiết nó giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước đánh giá được tính hợp lý của các dự án đầu tư xây dựng từ góc độ hiệu quả kinh tế - xã hội, giúp cho các chủ đầu tư lựa chọn được phương án đầu tư tốt nhất theo quan điểm hiệu quả và mang tính khả thi, giúp cho các cơ quan quản lý nguồn vốn xây dựng ra các quyết định đầu tư chính xác và tránh sự tham ô, lãng phí gây thất thoát, xác định rõ tính chất của các dự án, giúp cho người dân hiểu rõ cái lợi, cái hại của các dự án trên các mặt kinh tế - xã hội và họ cùng tham gia giám sát, quản lý các dự
án đầu tư xây dựng
- Tăng cường công tác giáo dục, phổ biến pháp luật về hoạt động xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý xây dựng tại các địa phương nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng; tháo gỡ khó khăn, huy động các nguồn lực để kích cầu đầu tư và tiêu dùng
- Thẩm định, phê duyệt dự án, thiết kế dự toán, kết quả đấu thầu, thanh quyết toán đã tuân thủ theo Quy chế Quản lý đầu tư và xây dựng ban hành theo Nghị định số: 52/1999/NĐ-CP, 12/2000/NĐ-CP, 07/2003/NĐ-CP; Quy chế Đấu thầu ban hành theo Nghị định số: 88/1999/NĐ-CP, 14/2000/NĐ-CP, 66/2003/NĐ-CP của Chính phủ, các quy định của các Bộ, ngành và của UBND tỉnh, huyện về công tác đầu tư và xây dựng Trong quá trình thẩm định các dự án đã căn cứ vào các quy hoạch đã được UBND huyện phê duyệt như: Quy hoạch tổng thể, quy hoạch địa phương, để xem xét đến sự phát triển của kiến trúc đô thị đồng thời phối kết hợp chặt chẽ với các Sở, ngành, huyện thị hữu quan
- Trong năm 2010 - 2014 việc giao kế hoạch đã được chuẩn bị sớm, dân chủ, công khai và chấp hành tương đối tốt các quy định về trình tự và thủ tục trong quản
lý đầu tư và xây dựng
- Đã tổ chức một số cuộc thanh tra, kiểm tra về tiến độ và chất lượng xây dựng các công trình, nhất là công trình trọng điểm Qua thanh tra, kiểm tra đã phát hiện và
bổ sung những sai sót kịp thời để đẩy nhanh tiến độ thi công
- Các công trình xây dựng xong đưa vào sử dụng đã phát huy hiệu quả ngay
- Công tác chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng đã được thực hiện có kinh nghiệm hơn, đạt kết quả tốt hơn, tạo điều kiện để các dự án, nhất là các dự án trọng điểm đẩy nhanh tiến độ và hoàn thành đưa vào sử dụng