1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Đội gạp lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh

78 628 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 493 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam không ít tác giả đã thành công trong việctạo dựng hình tượng khắc họa con người như Nguyễn Khải, Nguyễn MinhChâu, Nguyên Ngọc, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM



BÙI BÍCH NGỌC

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT “ĐỘI GẠO LÊN CHÙA”

CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGÀNH: NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khóa luận: PGS TS Cao Thị Hảo

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016

Trang 2

MỤC LỤC TrangTRANG BÌA PHỤ I

Trang 3

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Đối với mỗi tác phẩm văn học quan niệm nghệ thuật về con người

và phương thức biểu hiện của nó đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiệnnội dung ý nghĩa của tác phẩm Nó tạo thành cơ sở, thành nhân tố vận độngcủa nghệ thuật, thành bản chất nội tại của hình tượng nghệ thuật Sự vận độngcủa thực tế làm nảy sinh những con người mới, và những miêu tả về conngười ấy sẽ làm văn học đổi mới Bên cạnh đó đối với những cách giải thíchvà cảm nhận về con người cũng làm cho văn học thay đổi căn bản Các nhàvăn có thể sử dụng lại các đề tài, cốt truyện, nhân vật truyền thống thể hiệndưới những phương thức truyền thống nhưng không nhìn nhận họ ở góc độngày hôm qua mà là chính cái nhìn của ngày hôm nay

Quan niệm nghệ thuật về con người không phải là bất cứ cách cắtnghĩa, lý giải nào về con người, mà là cách cắt nghĩa có tính phổ quát, tộtcùng mang ý vị triết học, nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong việc miêu tả conngười Nó luôn hướng vào con người trong mọi chiều sâu của nó, cho nên đâylà tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn vốn có của văn học.Nhà văn là người suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ra những tưtưởng mới để hiểu về con người, do đó càng khám phá nhiều quan niệm nghệthuật về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của họ, càng đánhgiá đúng thành tựu của họ

1.2 Trong tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết đương đại Việt Nam nói

riêng vấn đề hình tượng con người trong tác phẩm đã trở thành yếu tố cốt lõitạo lên thành công của tác phẩm Mỗi nhà văn lại có một góc nhìn khác nhauvề “đứa con” của mình Ở Việt Nam không ít tác giả đã thành công trong việctạo dựng hình tượng khắc họa con người như Nguyễn Khải, Nguyễn MinhChâu, Nguyên Ngọc, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Xuân Khánh,

Ma Văn Kháng, Lê Lựu… Những cây bút này đã góp phần làm cho tiểuthuyết Việt Nam khẳng định được vị trí của mình

Trang 4

Một trong những cây bút được đánh giá cao trong giai đoạn hiện nay làtác giả Nguyễn Xuân Khánh Nguyễn Xuân Khánh được đánh giá là nhà văn

“tự do trên sân chơi tiểu thuyết hiện đại”[19] là “cầu nối giữa truyền thống và hiện đại”[19] Trong khi nhiều tiểu thuyết hiện đại khi đi vào chủ đề lịch

sử thường rơi vào tình trạng “lạc đường” khi thuộc vào hai trường hợp hoặcđưa ra những hư cấu phi lí nhảm nhí hoặc minh họa cho lịch sử một cách khôcứng, nhạt nhòa thì Nguyễn Xuân Khánh lại là một trong số ít những tác giảthành công với thể loại tiểu thuyết lịch sử Gần đây, ông đã cho ra đời bộ ba

tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn và Đội gạo lên chùa Cả ba tác

phẩm này đều gây tiếng vang lớn, mang lại cho Nguyễn Xuân Khánh nhiềugiải thưởng và tên tuổi của ông nhanh chóng đến với bạn đọc Đặc biệt với

Đội gạo lên chùa cuốn tiểu thuyết được hoàn thành vào tuổi bảy mươi chín

đã càng khẳng định tên tuổi của ông khi tác phẩm đoạt giải thưởng là mộttrong năm tác phẩm hay nhất của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2011

Có thể nói điểm nổi bật trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa là Nguyễn

Xuân Khánh đã đi sâu vào khám phá “con người cũ” dưới góc nhìn mới.Nguyễn Xuân Khánh không chỉ viết về cuộc sống con người dưới cái nhìnlịch sử văn hóa truyền thống mà ông còn thổi vào từng trang sách một màusắc, một không khí Phật giáo đậm đặc Bởi theo ông trong mỗi con người đặcbiệt là người Việt Nam dù ít dù nhiều mỗi chúng ta đều mang một tinh thầnPhật giáo Chính vì thế mà Nguyễn Xuân Khánh đã xuất phát từ góc nhìn Phậtgiáo để đi sâu khám phá con người Đây chính là điểm nổi bật khác biệt so

với tiểu thuyết của các nhà văn khác và cũng là điểm khác biệt của Đội gạo

lên chùa so với hai tiểu thuyết trước đó của ông.

1.3 Việc đi từ góc nhìn của Phật học để cắt nghĩa con người trong tác

phẩm đòi hỏi Nguyễn Xuân Khánh phải có những lựa chọn nhất định trongphương thức thể hiện nhân vật của mình, từ đó bộc lộ quan niệm của mình vềthế giới con người Các phương thức này không chỉ là công cụ nhà văn sửdụng để chỉ ra một hướng khám phá và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chínhtác giả mà nó còn là phương diện để người đọc nắm bắt và cảm thấy mối quan

Trang 5

hệ phức tạp của con người với thế giới xung quanh được nhà văn vạch ratrong tác phẩm Đó là mối quan hệ giữa thế giới Phật pháp – thế giới nội tâmcon người – thế giới trần tục Từ đó thấy rằng việc tìm hiểu quan niệm nghệthuật về con người và nghệ thuật biểu hiện quan niệm nghệ thuật đó của nhàvăn trong tác phẩm sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn cách lý giải con người và thếgiới của các tác giả mà cụ thể trong phạm vi nghiên cứu của đề tài là tác giảNguyễn Xuân Khánh.

Với những lí do trên chúng tôi lựa chọn “Quan niệm nghệ thuật về con

người trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh” làm đề tài

nghiên cứu của mình Hi vọng công trình hoàn thành sẽ góp phần khẳng địnhgiá trị của tác phẩm và vị trí của nhà văn trong đời sống văn học đương đại

2 Lịch sử vấn đề

Trong khi thể loại tiểu thuyết đặc biệt là tiểu thuyết lịch sử đang rơi vào

tình trạng mờ nhạt, thiếu sức sống thì Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân

Khánh lại như một làn gió thổi vào nền tiểu thuyết Việt Nam một “hơi thở”đầy mới mẻ Tác phẩm ra mắt ngày 20 - 6 – 2011, là tác phẩm thứ ba trong bộ

ba tiểu thuyết đã làm nên tên tuổi của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh Nhận xét

về cuốn sách, nhà phê bình Nguyễn Hoài Nam viết: “Với Đội gạo lên chùa,

nhà văn Nguyễn Xuân Khánh một lần nữa khiến những độc giả yêu mến ông phải khâm phục trước sức nghĩ, sức viết của một tác giả cao niên”[17].Vừa

xuất hiện tác phẩm đã gây được sự chú ý của bạn đọc, của các nhà nghiêncứu, cũng như nhanh chóng khẳng định được vị trí của mình trong nền vănhọc Việt Nam nói chung và trong lĩnh vực tiểu thuyết nói riêng

Đến với Đội gạo lên chùa người đọc không chỉ hình dung được về một

giai đoạn lịch sử suốt từ thời kì kháng chiến chống Pháp cho đến cuộc cảicách của nhà nước Việt Nam độc lập đầu tiên Mà nó còn mang đến chongười đọc hình ảnh những con người trong suốt thời kì đó Tác phẩm đã táihiện lại lịch sử theo cách của văn học, không khô cứng mà mang tính hấp dẫn

trong từng câu chuyện, từng nhân vật Đồng thời Ðội gạo lên chùa cũng là

Trang 6

“lời cảnh báo về những giá trị cốt yếu, sâu thẳm, đẹp đẽ của văn hóa Việt đang bị phá hủy, đang dần biến mất”(Hoàng Quốc Hải) [18].

Đặc biệt sau khi đạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam Đội gạo

lên chùa đã trở thành một tác phẩm gây được sự chú ý của không ít nhà phê

bình Nhà nghiên cứu trẻ Phạm Xuân Thạch đánh giá: “Nguyễn Xuân Khánh là một trường hợp độc đáo khi mọi sự thể nghiệm, đột phá về hình thức đã trở nên bão hòa thì ông lại trở về với dạng sơ khai của tiểu thuyết: tiểu thuyết truyền thống”[16] Nhà văn Hoàng Quốc Hải - người cũng đau đáu với những

cuốn tiểu thuyết lịch sử - nêu những điều tâm đắc của mình về cuốn tiểu

thuyết của người đồng nghiệp tài hoa: “Anh luôn đụng đến những vấn đề bản

chất của văn hóa Việt, đó là Mẫu thượng ngàn - hiện tượng văn hóa thuần

Việt; và giờ đây là đạo Phật - hiện tượng văn hóa du nhập nhưng đã được

Việt hóa Ðội gạo lên chùa cũng là lời cảnh báo về những giá trị cốt yếu, sâu

thẳm, đẹp đẽ của văn hóa Việt đang bị phá hủy, đang dần biến mất”[16].

Bên cạnh những lời khen ngợi, nhiều nhà nghiên cứu cũng thẳng thắnchỉ ra những hạn chế của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trong khi viết đó là

đôi khi ông quá sa đà vào việc trình bày phong tục văn hóa hoặc “thiếu sự cụ thể ở những chi tiết thực, vì thế đọc tiểu thuyết của ông thích nhưng chưa

“sướng”, đây là một điều đáng tiếc” [18]- nhà phê bình văn học Hoài Nam

bày tỏ quan điểm

Nhìn nhận “đứa con” của mình, Nguyễn Xuân Khánh chỉ nói rất giản

dị: “Tôi “đội gạo lên chùa” bằng tất cả vốn sống của cuộc đời mình, bằng tất

cả sự trải nghiệm 79 năm của mình Có những chi tiết đời giúp tôi nhặt được: năm 1977 tôi bị nghi ung thư, nằm viện, có sư ông nằm cùng phòng Sư lại có chú tiểu theo chăm sóc, chú tiểu nguyên là bộ đội, đi lính về thì vào chùa Tôi

rỉ rả tâm sự với sư cụ và chú tiểu, và tiểu thuyết là sự thu nhặt, gắn kết, đúc rút, tỉa gọt từ tất cả”[17]

Ông cũng tự bộc bạch: “Tôi cũng nhận thấy những khiếm khuyết của mình khi sáng tác, như là sự nói dài, như khi viết về đạo Phật Khi viết, tôi không quan tâm dài hay ngắn mà chỉ sợ mình thiếu đi sự lịch lãm và cái

Trang 7

phông văn hóa sâu rộng Tôi luôn tâm niệm: Mọi quan điểm, mọi ý kiến đều

có chỗ đứng dưới ánh mặt trời, cốt là hay Xin hãy cho mọi người có quyền khác với mình, bởi các khuynh hướng sáng tác đều có độc giả của nó”[16].

Như vậy, vừa xuất hiện cuốn tiểu thuyết Đội gạo lên chùa dày 866

trang của Nguyễn Xuân Khánh đã thu hút được sự quan tâm của độc giả vàkhông ít nhà nghiên cứu Các nhà phê bình nhà nghiên cứu cũng đã đi tìmhiểu tác phẩm ở nhiều góc độ nhưng tập trung chủ yếu vào tìm hiểu từ góc

nhìn văn hóa lịch sử tôn giáo Như trong luận văn Thạc sĩ “Cảm quan triết

luận – phật giáo trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân

Khánh” của Phạm Văn Vũ Trong công trình này tác giả đã tập trung nghiên

cứu phương diện tôn giáo, cụ thể là vấn đề Phật giáo, đồng thời nghiên cứunhững biểu hiện sinh động của cảm quan triết luận – Phật giáo trong tácphẩm Cụ thể, triết luận Phật giáo được thể hiện qua hai phương diện là cảmthức tùy duyên – nhập thế và triết luận Phật giáo thể hiện qua số phận conngười Trong khóa luận này chúng tôi đã kế thừa những nghiên cứu của tácgiả về ngôn ngữ mang màu sắc Phật giáo từ đó đi sâu vào nghiên cứu ngônngữ của từng kiểu loại con người đã khám phá được trong tác phẩm

Ngoài ra còn công trình nghiên cứu “Chất thiền trong sáng tác của Kawabata Yasunari (Nhật Bản) và Nguyễn Xuân Khánh (Việt Nam)” của tiến sĩ Huỳnh Quán Chi (Đại học Tiền Giang – 2014) có đoạn nhận xét: “Với tác phẩm này, người đọc bị lôi cuốn vào những cuộc phiêu lưu bất ngờ của nhân vật Qua đó người đọc cũng nhận thấy nhiều gặp gỡ kỳ lạ giữa hai tác giả Hai tác giả cùng chịu ảnh hưởng của thiền, mỹ học thiền và văn hóa Phật giáo cổ truyền Dù bản sắc văn hóa của hai truyền thống Việt - Nhật có những điểm không hoàn toàn giống nhau nhưng cả hai đã trao cho người đọc những cảm hứng về cái đẹp bay bổng, kỳ diệu với chất nhân bản, Phật bản

độc đáo”[17] Các bài viết như “Từ một góc nhìn tâm linh với Đội gạo lên

chùa” của Vân Long đăng trên báo Sức khỏe và đời sống Bài viết “Tiểu

thuyết như một tham khảo Phật giáo – Đọc Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh” của Mai Anh Tuấn cũng đã đưa ra nhận xét “Đội gạo lên chùa

Trang 8

của Nguyễn Xuân Khánh là cuốn tiểu thuyết ngay từ tiêu đề đã tiết lộ một dấu chỉ Phật giáo và bởi thế, liền sau đó, vẫy gọi những cảm xúc cũng như tri thức tiếp nhận thuộc chốn cửa thiền”[18].

Trên báo văn nghệ, số 6, ngày 11 tháng 2 năm 2012, nhà văn Văn

Chinh có bài “Tinh thần dân chủ Phật giáo Việt qua tiểu thuyết Đội gạo lên

chùa của Nguyễn Xuân Khánh” Trong bài viết tác giả đã phát hiện ra cái hay

trong tác phẩm từ góc nhìn Phật giáo: “Đặt vấn đề sai lầm dĩ vãng thành một sơn “bão nổi can qua” vừa đứng nhất lại vừa bản chất nhất, vì người làng quê có thiện căn nhưng có cả ác ă, bị khuyên thiện hay xui ác đều rất dễ; và

vì rồi người cũng làng thì vẫn phải sống với nhau, dời này sang đời khác đây phải chăng cũng là tư tưởng nghệ thuật của tiểu thuyết” [19]

Một số tác giả khác lại quan tâm về nghệ thuật tiểu thuyết trong tác

phẩm “Nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh qua Đội gạo lên chùa” của Hoàng Thị Hoài Hương (Luận văn thạc sĩ) “Đội gạo lên chùa – trong

chùa và ngoài chùa” của Hoài Nam đăng trên trang Ngôn ngữ và văn hóa hay

“Nghệ thuật kết cấu trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân

Khánh” của tác giả Nguyễn Quốc Bảo Nhà thơ Hoàng Việt Hằng trong bài

viết “Thong thả kiếp người đội gạo lên chùa” đưa ra nhận định:“Từng nổi tiếng với Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn, tiểu thuyết gia Nguyễn Xuân Khánh lại mang đến cho làng văn một cuốn sách tầm cỡ Đội gạo lên chùa

giản dị và lôi cuốn”[21] Đồng thời tác giả bài viết cũng chỉ ra nghệ thuật xây

dựng nhân vật người phụ nữ trong Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân

Khánh đều là “điển hình của chịu thương, chịu khó, sống vì gia đình, quê

hương” Với bài viết “Người đưa lịch sử vào tiểu thuyết”, tác giả Vĩnh Hưng cũng đã đề cập đến nghệ thuật của tiểu thuyết Đội gạo lên chùa, đó là:

“viết theo lối cổ điển, mang tính luận đề về ảnh hưởng của đạo Phật” [21].

Với dấu ấn Phật giáo sâu sắc Đội gạo lên chùa còn nổi bật với hệ

thống từ ngữ mang màu sắc tôn giáo Về vấn đề này tác giả Trịnh Thị Mai đã

từng có bài viết “Trường từ vựng về Phật giáo trong hai tiểu thuyết Mẫu

Trang 9

bài viết của mình tác giả đã nhận định “với 589 đơn vị từ vựng về đạo Phật,

xuất hiện với tần số rất cao đều khắp cả tác phẩm, Đội gạo lên chùa đã được

các nhà phê bình văn học coi là một quyển từ điển về Phật giáo”[26].

Bên cạnh đó còn có một số bài viết, bài luận tìm hiểu về nhân vật

trong tác phẩm như “Đàn bà con gái trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh” của Xuân Phong đăng trên báo tin tức “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh” của tác giả Nguyễn Thùy Linh có viết

“Nguyễn Xuân Khánh đã tạo dựng cho các nhân vật trong tiểu thuyết một bầu không khí riêng, đó là không khí mang đậm màu sắc lịch sử – văn hoá dân tộc Ở trong thế giới ấy, nhân vật dù là nguyên mẫu của lịch sử như Hồ Quý Li, Trần Khát Chân, Hồ Nguyên Trừng, Trần Nghệ Tôn hay là những con người bình thường, bước ra từ đời sống như cô Mùi, cô Nguyệt, sư cụ

Vô Úy, chú tiểu An đều có một không gian riêng, nhân vật được sống là chính mình với đầy đủ cảm xúc chân thành nhất” Để làm sáng chân dung các nhân vật, Nguyễn Xuân Khánh đều có những lựa chọn bút pháp nghệ thuật hợp lí: sử dụng yếu tố nguyên mẫu và hư cấu nghệ thuật nhuần nhuyễn, các yếu tố ngôn ngữ, giọng điệu, đặc biệt là đặt nhân vật dưới góc nhìn văn hoá Việt đậm đà tính dân tộc, kết tinh thành biểu tượng độc đáo”[25] Bài viết “Trong bóng hình một đại tự sự” của Nguyễn Chí Hoan

(Tham luận tại tọa đàm Lịch sử và văn hóa qua tự sự nghệ thuật của NguyễnXuân Khánh do Viện Văn học tổ chức)

Các bài viết đã đứng dưới góc độ tôn giáo và nghệ thuật để đi sâu vàotìm hiểu tác phẩm Mỗi bài viết, mỗi công trình nghiên cứu là một sự khámphá tác phẩm ở các khía cạnh khác nhau Tuy nhiên theo chúng tôi khảo sátvấn đề quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm chưa được các tácgiả chú ý nhiều trong khi đây là một trong những vấn đề trọng tâm tạo nên sự

thành công của tác phẩm Bởi vậy, với đề tài “Quan niệm nghệ thuật về con

người trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh”, chúng

tôi sẽ tập trung tìm hiểu tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh từ góc độ thi

Trang 10

pháp Từ đó đóng góp một phần vào việc khẳng định giá trị tác phẩm trongnền văn học nói chung và lĩnh vực tiểu thuyết nói riêng.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là quan niệm nghệ thuật về

con người trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh.

3.2 Phạm vi nghiên cứu: phạm vi nghiên cứu chính của đề tài là tiểu

thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh Bên cạnh đó chúng tôi

cũng quan tâm tới một số tiểu thuyết đương thời để so sánh

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Vị trí vai trò của Nguyễn Xuân Khánh trong dòng tiểu thuyết đương đạiViệt Nam

Khái quát quan niệm nghệ thuật về con người nói chung và quan niệmnghệ thuật về con người trong sáng tác của tác giả Nguyễn Xuân Khánh nóiriêng

Một số kiểu loại tiêu biểu về con người trong tiểu thuyết Đội gạo lên

chùa của Nguyễn Xuân Khánh.

Những phương thức biểu hiện con người của tác giả Nguyễn Xuân

Khánh trong tác phẩm Đội gạo lên chùa

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu văn học từ góc độ thi pháp

Phương pháp phân tích tổng hợp

Phương pháp thống kê

Phương pháp lịch sử hệ thống

Phương pháp nghiên cứu liên ngành

6 Cấu trúc của đề tài

Đề tài gồm các phần:

Trang 11

Trong phần nội dung chính gồm 3 chương sau:

Chương 1: Một số vấn đề lí luận về quan niệm nghệ thuật về con ngườivà tác giả Nguyễn Xuân Khánh

Chương 2: Một số kiểu loại con người tiêu biểu trong tiểu thuyết Đội

gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh.

Chương 3: Những phương thức biểu hiện con người trong tiểu thuyết

Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh.

Trang 12

B NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI VÀ TÁC GIẢ NGUYỄN XUÂN KHÁNH 1.1 Một số vấn đề lí luận về quan niệm nghệ thuật về con người 1.1.1 Khái niệm

Theo từ điển thuật ngữ văn học “Quan niệm nghệ thuật là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ qui chiếu ẩn chìm trong hình trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật [4,Tr273].

Quan niệm nghệ thuật còn là các nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và conngười vốn có của hình thức nghệ thuật, bảo đảm cho nó khả năng thể hiện đờisống với một chiều sâu nào đó Nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong cách hiểuthế giới và con người của một hệ thống nghệ thuật, thể hiện khả năng, phạm

vi, mức độ chiếm lĩnh đời sống của nó Quan niệm nghệ thuật của văn học cóliên quan mật thiết với quan niệm về thế giới và con người về mặt triết học,khoa học, tôn giáo, đạo đức, chính trị vốn có của thời đại mình Nhưng do đặcthù của mình mà quan niệm nghệ thuật có những thể hiện và bộc lộ riêng.Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người thể hiện ở điểm nhìn nghệthuật, ở chủ đề cảm nhận đời sống được hiểu như những hằng số tâm lí củachủ thể, ở kiểu nhân vật và biến cố mà tác phẩm cung cấp, ở cách xử lí biếncố và quan hệ nhân vật Khác với tư tưởng, tác phẩm tập trung thể hiện mộtthái độ với cuộc sống trong bình diện quan hệ giữa hiện thực và lí tưởng.Quan niệm nghệ thuật chỉ cung cấp một mô hình nghệ thuật về thế giới cótính chất công cụ để thể hiện những cuộc sống cần phải mang tính khuynhhướng khác nhau Cụ thể là nó chỉ cung cấp một điểm xuất phát để tìm hiểunội dung của tác phẩm cụ thể, một cơ sở để nghiên cứu sự phát triển tiến hóacủa văn học

Trang 13

Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình” [12;Tr5] Nghĩa là nó chỉ ra một hướng khám phá, phát hiện cách cảm

thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể, ngay cả khi miêu tả con ngườigiống hay không giống so với đối tượng có thật

Quan niệm nghệ thuật về con người chính là sự khám phá con ngườibằng nghệ thuật, là hình thức đặc thù thể hiện con người trong văn học Đó lànhững nguyên tắc cảm thấy, hiểu biết và miêu tả con người trong văn học.Quan niệm nghệ thuật về con người phản ánh cấu trúc của nhân cách conngười và các hình thức phức tạp tương ứng trong quan hệ con người với thếgiới Nó mang dấu ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn đầyđộc đáo của nghệ sĩ Bên cạnh đó quan niệm nghệ thuật về con người còn làsản phẩm của văn hóa tư tưởng Nó là hình thức đặc thù nhất cho sự phản ánhnghệ thuật, trong đó thể hiện sự tác động qua lại của nghệ thuật với các hìnhthái ý thức xã hội khác

1.1.2 Biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người

Trong văn học quan niệm nghệ thuật về con người tạo thành cơ sở,thành nhân tố vận động của nghệ thuật, thành bản chất nội tại của hình tượngnghệ thuật Nó là sự lí giải cắt nghĩa về con người mang tính phổ quát, tộtcùng mang ý vị triết học, thể hiện cái tối đa trong việc miêu tả con người Màchỉ trong giới hạn đó mới có khác biệt với quan niệm thông thường và mới cótính sáng tạo Nhà văn sử dụng quan niệm nghệ thuật của mình làm hệ quichiếu sáng tạo ra hình tượng nhân vật và khắc họa con người

Quan niệm nghệ thuật về con người biểu hiện trong toàn bộ cấu trúccủa tác phẩm văn học, nhưng biểu hiện tập trung trước hết là ở các nhân vật.Nhân vật văn học nào cũng biểu hiện cách hiểu của nhà văn về con ngườitheo một quan điểm nhất định và qua các đặc điểm mà nhà văn lựa chọn Đólà mô hình về con người của tác giả Tuy nhiên quan niệm nghệ thuật về con

Trang 14

người và nhân vật không phải là một Quan niệm nghệ thuật về con người baoquát rộng hơn, nhân vật chỉ là biểu hiện cụ thể cá biệt của nó.

Nhân vật là cơ sở để khám phá quan niệm nghệ thuật về con người củatác giả Muốn tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người phải xuất phát từnhững biểu hiện lặp đi lặp lại của nhân vật, thông qua các yếu tố bền vững,được tô đậm dùng để tạo lên chúng Các yếu tố này được nhà văn xây dựngvà được biểu hiện trong tác phẩm Chẳng hạn như ở cách xưng hô đối vớinhân vật, tên gọi của nhân vật, cách thức giới thiệu nhân vật và sự biến đổicủa nhân vật trong tác phẩm Đồng thời nó còn biểu hiện qua chân dung nhânvật, ngoại hình, trang phục, hành động, tâm lý, nội tâm, ngôn ngữ hay giaotiếp Tính cách của nhân vật nếu hiểu là nội dung khái quát nhân vật như cácphẩm chất tư tưởng, đạo đức, ý chí… thì không phải phạm vi của biểu hiệnquan niệm nghệ thuật, mà bản thân nó thuộc vào quan niệm tư tưởng ý thứchệ của tác giả Nhưng tính cách nếu hiểu là cơ sở logic của hình tượng conngười thì nó lại là yếu tố mang quan niệm nghệ thuật

Miêu tả chân dung nhân vật: mỗi nhà văn khi tạo ra các nhân vật trongtác phẩm của mình đều chọn những cách miêu tả khác nhau để xây dựng hìnhtượng nhân vật Đó không chỉ là cách miêu tả tạo cho nhân vật một đặc điểmnhận diện mà đó còn là cách nhìn, quan niệm của nhà văn về con người trong

mối tương quan với cuộc sống Không phải ngẫu nhiên mà trong Lửa tư

những ngôi nhà, Miền cháy, Nguyễn Minh Châu lại cho nhân vật của mình

hiện lên với vẻ khắc khổ, dằn vặt bất an sau chiến tranh mà đó chính là hiệnthân của những con người lo toan, những con người luôn bất an khi cuộc sống

thay đổi Hay những con người tự nhận thức ““trong con người tôi đang sống lẫn lộn người tốt kẻ xấu, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và ác

quỷ” [2;Tr195] được thể hiện trong Bức tranh, Cỏ lau, Chiếc thuyền ngoài

xa Còn với nhà văn Nam Cao chúng ta lại thấy một cái nhìn mới rất khác.

Ông thấy trong những Chí Phèo, Thị nở không phải những cái mà người tavẫn thương thấy đó là những hạng người dưới đáy xã hội mà là những conngười biết vượt lên trên định kiến xã hội tìm kiếm hạnh phúc cho chính

Trang 15

mình Nguyễn Tuân thì nhìn thấy cái đẹp trong những con người ở thời dĩvãng Trong khi đó Nguyễn Khải lại hướng tới những vẻ đẹp thanh lịch, tinh

tế trong con người Hà Nội đến chất văn hóa thủ đô… Có thể thấy rằng mỗinhân vật lại là sản phẩm của một quan niệm một cách cắt nghĩa lí giải khácnhau về con người

Bên cạnh miêu tả nhân vật biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về conngười còn thể hiện ở cách xây dựng hành động và tâm lý nhân vật Có nhữngnhà văn quan niệm nhân vật phải tầm vóc phải sống bằng hành động như

Nguyên Ngọc trong Đất nước đứng lên, Trên quê hương những anh hùng

điện ngọc Có những nhà văn lại tạo lên sự sống của nhân vật bằng thế giới

nội tâm như Thạch Lam với Hai đứa trẻ

Tâm lý con người là một lĩnh vực rất rộng Tác phẩm có thể miêu tả ýnghĩ, suy tính, trạng thái hoặc cả quá trình, miêu tả ý thức và vô thức Quanniệm nghệ thuật về con người có rất nhiều phương diện để biểu hiện tâm lýchẳng hạn như quan niệm về sự sống – cái chết, quan niệm về lối sống, quanniệm cái tốt – cái xấu… Những biểu hiện ấy tạo thành những phạm vi, phạmtrù cảm nhận về con người Quan niệm nghệ thuật về con người gắn liền vớicác phạm trù nhân loại học như tư tưởng hành động, sự hoài nghi, sự sùng báimang tính cá nhân hoặc cộng đồng…

Ngoài ra những chi tiết, ngôn ngữ hay cách đặt tên cho nhân vật cũng lànhững phạm trù thể hiện quan niệm về con người như mọi yếu tố khác của tácphẩm Song chúng chỉ biểu hiện trong tính hệ thống, trong sự lặp lại có quiluật, có sự liên hệ chi phối lẫn nhau

Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm văn họcbiểu hiện qua tất cả các mặt của nhân vật dưới ngòi bút của tác giả mà bộc lộ

ra bên ngoài thông qua cách mà tác giả đặt tên cho nhân vật của mình haycách miêu tả từ chân dung ngoại hình đến tính cách Những yếu tố đó lặp đilặp lại khiến cho người đọc thông qua đó có thể phát hiện được quan niệm củatác giả về con người

Trang 16

1.2.Tác giả Nguyễn Xuân Khánh và những đóng góp cho dòng tiểu thuyết đương đại Việt Nam

1.2.1 Tiểu sử và con người.

1.2.1.1 Tiểu sử.

Nguyễn Xuân Khánh có bút danh là Đào Nguyễn, ông sinh năm 1933,quê tại Cổ Nhuế - Từ Liêm - Hà Nội Ông từng đỗ tú tài Toán và từng họcĐại học Y khoa Hà Nội cho đến hết năm 1952 Năm 1953, Nguyễn XuânKhánh vào bộ đội Trong khoảng mười năm, ông đã đảm nhiệm những vai tròkhác nhau trong quân đội Đầu tiên Nguyễn Xuân Khánh ở một đơn vị pháobinh, sau đó chuyển sang dạy văn hoá tại Trường Sĩ quan Lục quân trước khiông chuyển về làm việc tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội rồi Báo Thiếu niêntiền phong Từ 1966, ông là phóng viên báo Thiếu niên Tiền phong Năm

1973, Nguyễn Xuân Khánh quyết định dừng sự nghiệp của mình nên ông vềnghỉ hưu sớm Hiện nay ông đang sống tại Hà Nội

1.2.2.2 Con người.

Nguyễn Xuân Khánh bắt đầu sự nghiệp viết văn từ năm 1955, cùngthời với Nguyên Ngọc, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng…Khi tên tuổi Nguyễn Xuân Khánh mới chớm xuất hiện nhờ vài truyện ngắn thì

sự kiện “Nhân văn giai phẩm” khiến ông “chìm xuồng” cùng biết bao cây bútkhác Sau khi bị treo bút, ông phải bươn chải đủ mọi nghề để kiếm sống, nhưlàm thợ may 7 năm, bán máu 3 - 4 năm, thợ khoá, dịch sách, hợp tác xã muabán và ông từng bị lao động cải tạo 1 năm Tác phẩm “Trư cuồng” của ôngtừng bị cấm xuất bản ở Việt Nam vì tác phẩm phản ánh xã hội Việt Namtrong thời kỳ bao cấp

Cuộc đời nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã từng trải qua những giaiđoạn bĩ cực, lăn lộn bên lề đường nên hình ảnh của lão nhà văn chẳng khác gìcây xương rồng trên cát và cho đến mãi sau này, Nguyễn Xuân Khánh vẫngiữ thói quen sống khắc khổ, giản dị Ông đòi hỏi mọi thứ phải rõ ràng, rànhmạch, làm tốt thì hãy làm, không thì thôi đừng làm Với ông, viết văn khôngphải cuộc chơi Khi người viết đã sáng tạo ra một tác phẩm, điều đầu tiên cần

Trang 17

phải chú trọng đó là tác phẩm giúp gì cho đời sống chứ không phải thỏa mãncái tôi cá nhân

Về lối sống ông quan niệm Phật giáo là một lối sống, “Cứ sống hết mình với cuộc đời này bằng bốn chữ của nhà Phật từ - bi - hỉ - xả thì tôi nghĩ cũng đã là hạnh phúc rồi, và những người xung quanh cũng cảm thấy dễ chịu rất nhiều”[27].

Về văn chương ông quan niệm luôn sống hết mình viết hết mình vàmang hết tâm hồn mình để lao động để sáng tạo ra những đứa con tinh thần

của thời đại Bởi vậy dịch giả Đoàn Tử Huyền đã từng nhận xét: “Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh hiện là một trong số rất ít nhà văn Việt Nam có tác phẩm đáng đọc nhất”[18]

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác.

Nguyễn Xuân Khánh ra mắt làng văn miền Bắc vào đầu năm 1959 với

truyện ngắn Một đêm, đăng tạp chí Văn nghệ quân đội số 2/1959, là tác phẩm

đoạt giải nhì (đợt 1, 1958, không có giải nhất) cuộc thi viết về đời sống bộ độitrong hòa bình của tạp chí Văn nghệ quân đội

Nhưng ông chính thức bước vào nghiệp văn từ năm 1963 với tập truyện

ngắn Rưng sâu (tập truyện ngắn, Nxb Văn học,1963) sau đó là một loạt các tác phẩm ra đời sau đó : Miền hoang tưởng (tiểu thuyết, Nxb Đà Nẵng, 1990), Trư cuồng (tiểu thuyết, talawas, 2005), Hồ Quý Ly (tiểu thuyết, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 2000, 2001, 2002, nối bản và tái bản 15 lần), Hai đứa trẻ và

con chó Mèo xóm núi (Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 2002), Mưa quê (Nxb Kim

Đồng, Hà Nội, 2003), Mẫu thượng ngàn (tiểu thuyết, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 2006), Đội gạo lên chùa (tiểu thuyết, Nxb Phụ nữ 2012).

Không chỉ viết truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh còn có

sách biên khảo như: George Sand – nhà văn của tình yêu (Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1994) Bên cạnh đó là dịch thuật các tác phẩm nước ngoài như: Những

quả vàng (tiểu thuyết của Nathalie Sarraute, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1996), Chuông nguyện cầu cho kẻ đã khuất (tiểu thuyết của Taha Ben Jelloun,

Trung tâm Văn hoá - Văn minh Pháp và nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội, 1998),

Trang 18

Bảy ngày trên khinh khí cầu (Jules Verne, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 1998), Hoàng hậu Sicile (tiểu thuyết của Pamela Schoenewaldt, Nxb.Kim Đồng, Hà

Nội, 1999), Tâm lý học đám đông (tiểu luận của Gustave le Bon, Nxb Tri

thức, Hà Nội, 2006)

Tuy có số lượng tác phẩm không phải là ít nhưng mãi đến 2000, têntuổi Nguyễn Xuân Khánh mới được đông đảo bạn đọc biết đến với tiểu thuyết

Hồ Quý Ly sau đó là Mẫu thượng ngàn (2006) và thứ ba là Đội gạo lên chùa (2011) Bộ ba tiểu thuyết lịch sử - văn hóa đã đem lại cho ông nhiều giải

thưởng cao quý như: Giải thưởng Thăng Long của UBND TP Hà Nội, Giảithưởng Hội Nhà văn Hà Nội và Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam

1.2.3 Những đóng góp tiêu biểu của Nguyễn Xuân Khánh cho dòng tiểu thuyết đương đại Việt Nam.

Trong hơn 10 năm đầu thế kỷ XXI, văn học bắt kịp với thời đại khi viếtvề những vấn đề mới Tuy nhiên, hầu hết các tác phẩm viết về những vấn đềthời đại chưa để lại tác phẩm hay, nhất là ở các cây bút trẻ Nguyên nhân xuấtphát từ nhận thức sai lầm là chất liệu đời sống mới sẽ cho ra đời những tácphẩm hay Trong khi đó, một trong những khuynh hướng sáng tác gần đây làquay trở lại với những thời đại đã trở thành lịch sử để suy ngẫm những vấn đềđương đại Hướng đi này đã có một số thành công nhất định tiêu biểu phải kểđến là các tiểu thuyết lịch sử-văn hóa của Nguyễn Xuân Khánh

Khi viết về đề tài lịch sử Nguyễn Xuân Khánh là một trong số ít nhàvăn gặt hái được nhiều thành công bởi đây không phải là đề tài dễ khai thácnó đòi hỏi người viết phải hết sức cẩn trọng, nghiêm túc, tỉ mỉ và tốn nhiềuthời gian, công sức trong việc xử lý tư liệu nhất là phải biết dung hòa yếu tốchân thật lịch sử và yếu tố hư cấu của văn chương Nếu không làm được điềunày nhà văn sẽ biến tác phẩm của mình thành phục dựng lại lịch sử không cósức hấp dẫn của tác phẩm văn học

Nguyễn Xuân Khánh không chỉ khắc phục được điều này mà ông cònthành công khi có một góc nhìn mới về một vấn đề tưởng như rất quen thuộc.Với sự sáng tạo và quá trình làm việc không mệt mỏi Nguyễn Xuân Khánh đã

Trang 19

lần lượt cho ra đời ba cuốn tiểu thuyết có giá trị, đầu tiên là Hồ Quý Ly Tiểu thuyết Hồ Quý Ly được viết trong những suy tư về quá trình đổi mới của dân

tộc, qua câu chuyện về thời kì sóng gió cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV Đâylà cuốn tiểu thuyết tái hiện lại khoảng lịch sử cuối thời Trần (1225 -1400),

góp thêm tiếng nói khám phá xã hội và con người Hồ Quý Ly, một con người

cách tân đi trước lịch sử Khắc họa thành công nhân vật Hồ Quý Ly cùng cáckẻ sĩ trong triều đình nhà Hồ, Nguyễn Xuân Khánh đã thổi một luồng khí mớimẻ vào thể loại tiểu thuyết lịch sử, kéo câu chuyện thời quá khứ gắn kết vớicâu chuyện của thời hiện tại, để đưa ra những tham góp thiết thực vào công

cuộc đổi mới đất nước Đồng thời Hồ Quý Ly còn là bức tranh đẹp về ngàn

năm văn hiến với những địa danh cổ nổi tiếng, những cảnh sinh hoạt thôn dã,những lễ hội dân gian, những phong tục tốt đẹp… được lưu truyền hay đã bị

mai một theo năm tháng Hồ Quý Ly được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt

Nam (1999 - 2000), giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội

Tiếp sau thành công của Hồ Quý Ly Nguyễn Xuân Khánh tiếp tục cho

ra đời cuốn tiểu thuyết đồ sộ thứ hai – Mẫu thượng ngàn Mẫu thượng

ngàn là cuốn tiểu thuyết về văn hoá phong tục Việt Nam được thể hiện qua

cuộc sống và những người dân ở một vùng quê bán sơn địa Bắc Bộ cuối thế

kỷ 19, đầu thế kỷ 20 Mẫu thượng ngàn cũng là cuốn tiểu thuyết lịch sử xã

hội về Hà Nội cuối thế kỷ XIX, gắn với việc người Pháp đánh thành Hà Nộilần thứ hai, việc xây Nhà thờ Lớn, cuộc chiến của người Pháp với quân Cờ

Đen Mẫu thượng ngàn còn là câu chuyện tình yêu của những người đàn bà

Việt trong khung cảnh một làng cổ Đó là tình yêu vừa bao dung, vừa mãnhliệt của những người phụ nữ với bao nỗi đắng cay, đầy chất phồn thực, bi, hài

hoà quyện với mộng mơ và cao thượng Mẫu thượng ngàn đã đạt giải thưởng

Tiểu thuyết Hội Nhà Văn Hà Nội năm 2006 Qua cuốn tiểu thuyết đầy ấntượng này, tác giả Nguyễn Xuân Khánh một lần nữa chứng tỏ bút lực mạnh

mẽ, sâu sắc, trữ tình của mình, chứng tỏ sự am hiểu sâu sắc về một thời lịch

sử, một phần nền văn hóa Việt

Trang 20

Đến tuổi 80 của cuộc đời Nguyễn Xuân Khánh lại tiếp tục cho ra đời

cuốn tiểu thuyết thứ ba mang tên Đội gạo lên chùa (NXB Phụ nữ, 6/2011).

Trong cuốn tiểu thuyết này Nguyễn Xuân Khánh đã tái ngộ độc giả bằngdòng văn chương ấm áp và cuốn hút, hứa hẹn những miêu tả, xét đoán tinh tếvề tâm thức con người cũng như những bí ẩn thẳm sâu trong tiềm thức và vănhóa của một cộng đồng dân tộc

Mượn tứ của câu ca dao đa nghĩa trong kho tàng ca dao Việt Nam:

“ Ba cô đội gạo lên chùa

Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư ”

Nguyễn Xuân Khánh đã dẫn dắt người đọc vào cuộc phiêu lưu kỳ lạ,vượt quãng thời gian thăm thẳm của hai cuộc bể dâu: kháng chiến chống Phápvà cải cách ruộng đất Qua câu chuyện kể của chú tiểu An và Nguyệt - ngườichị gái đẹp nết đẹp người, người đọc được chạm vào những số phận củangười dân làng Sọ và cuộc sống vừa lạ lùng, bí hiểm, vừa thanh khiết, thânthuộc trong ngôi chùa làng Sọ Tác phẩm khai thác một đề tài truyền thốngnhưng lại có những cách tân mạnh mẽ về cả nội dung và nghệ thuât Về nộidung tác phẩm xoay quanh cuộc sống của những con người làng Sọ qua cuộcbể dâu suốt từ thời kì kháng chiến chống Pháp cho đến cuộc cải cách đầu tiênsau cách mạng Đó không chỉ là cuộc sống của những người dân Việt đó cònlà cuộc sống của những đứa con lai những con người bên kia chiến tuyến Ởmỗi nhân vật tác giả đều tìm thấy một điểm tốt đẹp dù ít dù nhiều Về nghệthuật tác phẩm được xây dựng theo lối mở truyện lồng trong truyện, ngôn ngữphong phú mang cả màu sắc cổ điển và hiện đại

Bên cạnh đó Đội gạo lên chùa còn là tác phẩm mới mẻ, hòa cùng với

tư duy tiểu thuyết về lịch sử của các lý thuyết hiện đại, hậu hiện đại Là tiểuthuyết viết về lịch sử nhưng tác phẩm không nhấn mạnh vào các vấn đề, sựkiện nhân vật lịch sử mà đi sâu vào góc độ lí giải cắt nghĩa con người, dùngquan niệm ngày hôm nay để kiến giải quá khứ, vừa có tính chân thật lịch sửnhưng vẫn dung hòa được tính hư cấu của văn chương Bên cạnh đó tác phẩmcòn mang những cách tân tiểu thuyết lịch sử - văn hóa, đó là sự đổi mới

Trang 21

nguyên tắc tự sự theo hướng tiểu thuyết hóa, đổi mới ngôn ngữ kết cấu khicấu trúc chuyện kể tạo thành cuộc đối thoại giữa các lớp văn hóa Trong tácphẩm không chỉ là sự đối thoại giữa các nhân vật sư cụ Vô Úy – Thầy giáoHải, bà vãi Thầm – cô Nguyệt, An – Huệ, …mà đó còn là sự đối thoại giữanhững tư tưởng, những quan niệm về lối sống, về thế giới, con người.

Tiểu kết chương 1:

Như vậy, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh là một trong số ít những nhàvăn thành công với thể loại tiểu thuyết lịch sử Với bộ ba tiểu thuyết đồ sộ củamình ông đã dẫn dắt người đọc vào một thời kì đã qua với những hào hùngcủa lịch sử và những khám phá về con người qua từng thời kì đó Đặc biệt với

Đội gạo lên chùa Nguyễn Xuân Khánh đã chọn một góc nhìn mới – góc nhìn

Phật giáo để cắt nghĩa, lý giải về con người trong một giai đoạn đầy biến cốlịch sử Chính sự khám phá con người này đã hình thành nên cái riêng củaông trong quan niệm nghệ thuật về con người

Không chỉ riêng Nguyễn Xuân Khánh mà đối với bất kì nhà văn nàocũng đều có quan niệm nghệ thuật riêng, điều đó được thể hiện trong tácphẩm Và quan niệm nghệ thuật về con người có vai trò quan trọng trong việcthể hiện nội dung tư tưởng của tác giả cũng như tác phẩm đó Nhờ có quanniệm nghệ thuật mà những yếu tố nội tại của nhân vật trong tác phẩm đượcbộc lộ một cách rõ ràng, cụ thể qua từng hành động, ngôn ngữ, …Nó đem lạicho người đọc một sự hình dung nhất định về những điều tác giả muốn hướngtới, là thước đo của hình thức văn học và cơ sở của tư duy nghệ thuật

Trang 22

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ KIỂU LOẠI CON NGƯỜI TIÊU BIỂU TRONG TIỂU THUYẾT ĐỘI GẠO LÊN CHÙA CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH

Trong mỗi tác phẩm văn học, nhà văn luôn cố gắng đi tìm những cáchkhác nhau để tái hiện lại cuộc sống bằng con mắt của mình Trong đó nhânvật là trung tâm tạo nên cách cắt nghĩa cuộc sống và thế giới của mỗi nhà văn.Mỗi cách khám phá con người khác nhau lại tạo nên một kiểu loại con ngườikhác nhau thể hiện trong toàn bộ nội dung và hình thức nghệ thuật của tác

phẩm Trong Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh với cảm quan phật

giáo sâu sắc, mỗi hình tượng nhân vật trong tác phẩm của ông đều hiện lênvới những cảm quan và nhân sinh quan nhà Phật Chính vì thế khi đi nghiêncứu quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của ông chúng tôi đãkhảo sát và nhận thấy hệ thống nhân vật của Nguyễn Xuân Khánh có thể đượcchia thành 3 kiểu loại: con người thiện căn, con người vô minh và con ngườitùy duyên

2.1 Con người thiện căn

Phật giáo cho rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tính Khái niệm Phậttính (Buddha – dhatu) còn gọi là Như Lai tính hay Giác tính chỉ cho bản tínhcủa Phật hay khả năng tính thành Phật, là hạt giống hay chủng tử có sẵn trongtâm thức mỗi con người Điều đó có nghĩa là chúng sinh trước sau đều sẽthành Phật Phật tính chính là yếu tố hình thành con người thiện căn Phật tínhcó các đặc điểm sau: an ổn, rời tham ái, toàn trí, toàn kiến, tự tại, đến nhưvậy, đi như vậy Con người nhận ra Phật tính biết sống không vì mình biếtmang lại những niềm vui và hạnh phúc cho người khác đó là con người thiệncăn

Với cảm quan Phật giáo sâu sắc Nguyễn Xuân Khánh đã xây dựngnhân vật dưới cái nhìn Phật giáo Tiêu biểu là con người thiện căn Xuyênsuốt từ đầu tác phẩm hình tượng nhân vật sư Vô Úy đã tạo cho người đọc một

sự tưởng tượng nhất định về thế giới của Phật pháp Đó là một con người tự

tại an nhiên “Người ta lúc nào cũng cần đàng hoàng gặp cảnh nào cũng

Trang 23

không thay đổi”[6;Tr198] Ngay từ pháp danh Vô Úy của người, Vô úy nghĩa

là không sợ Đứng giữa cuộc đời bao nhiêu điều cám dỗ bao nhiêu thứ phùphiếm xa hoa dễ làm con người ta mê lầm Chỉ có “vô úy” trước mọi tìnhcảnh con người mới giữ được mình, từ đó mới có thể mang lại những điều tốtlành cho người khác

Sư Vô Úy từ nhỏ đã theo nghiệp tu hành, người đi tu không phải để

“chạy trốn quả nghiệp” mà đi tu bởi “yêu trần thế” Tu không phải là tìm nơiđể tránh mọi “phong ba bão táp” của thời cuộc mà tu là một lối sống Đó chỉlà cách sống khác, cách sống mà những con người đạo hạnh chấp nhận theođuổi để đứng vững giữa những buồn vui đau khổ của cuộc đời Tu thiềnkhông phải để bất li thế gian, không phải chỉ ở hình thức hay ý niệm mà tu

thiền là tu ở trong tâm.“Người tu thiền không phải chỉ ngồi tư thế hoa sen, rồi hít thở theo đúng qui cách đã là tu thiền Con nên hiểu mọi lời nói, hành vi,

cử chỉ…tất cả đều thiền hết Thiền là một nếp sống đạo hạnh Từ sớm mai cho đến tối mịt, lúc nào cũng là thiền”, “ăn là thiền, nói là thiền, nghĩ là thiền, đi đứng là thiền, làm việc đồng áng cũng là thiền Bởi vì thiền là sự sống, hiểu sống Ta bưng bát cơm ăn, ta cám ơn sự sống Người làm ra hạt gạo tức làm ra sự sống.”[6;Tr211] Tu thiền là cách để sư Vô Úy rèn luyện

chính mình Bởi Phật dạy rằng chúng sinh còn trôi lăn trong sinh tử luân hồi,còn nhiều phiền não và khổ đau đơn giản vì chưa phát hiện ra thiện căn củachính mình và sống với nó mà thôi Và đức Phật sẽ cứu rỗi con người đưa conngười thoát khỏi những mê lầm những đau khổ đó

Sư cụ Vô Úy là người hiểu rõ điều đó, chính vì thế người luôn dạy cácđệ tử của mình sống chan hòa với cuộc sống Sống với những hạnh phúc đơngiản mà đôi khi vì những dục vọng sai lầm người ta bỏ qua hay đánh mất

Người nói : “Con ạ kinh pháp có nói rằng : Chúng ta được sinh ra ở cõi người Đó là điều hi hữu Sống ở đời đã là điều hiếm có, vậy thì ta phải sống làm sao cho xứng đáng Đừng phí hoài”[6;Tr211] Đôi lúc hạnh phúc đơn giản là “Sáng dậy, ta được nghe chim hót, được hưởng luồng gió mát trong lành”, khi ấy “ta phải biết trang nghiêm nhủ thầm trong dạ: tôi rất sung

Trang 24

sướng được sinh ra ở cõi nhân gian này Cho nên ăn miếng cơm ta cũng cần niệm hồng danh đức Phật, rồi cám ơn những nhà nông đã một nắng hai sương vất vả làm ra hạt gạo Sau đó từ tốn nhai thật kĩ miếng cơm cho đến lúc cảm nhận được vị ngọt của nó Ăn như thế tức là ăn thiền Đi cũng vậy Phải đi đứng từ tốn khoan thai, đi theo chiều kim đồng hồ, đi theo lẽ phải, đi theo chính đạo Nói cũng vậy, nghĩ cũng vậy, làm cũng vậy Tất cả đều thuận theo chính đạo Lúc nào cũng trang nghiêm và cung kính”[6;Tr221] Người

truyền dạy cho đệ tử nhưng không bao giờ để họ tự phụ về kiến thức của

mông giữa biển kiến thức mênh mông “ta đã trao cho các con một nắm chân

lý như nắm lá khô trong tay ta vậy, nhưng ngoài nắm chân lý này còn muôn vàn chân lý khác mà ta không đếm xuể…”[6,Tr329].

Người không chỉ đệ tử mình về lối sống về thái độ sống, mà người còn

dạy đệ tử của mình về chữ tâm “Tâm từ của người Phật tử rải đều khắp chúng sinh Tâm từ không phải tình luyến ái riêng biệt, tình đồng chí đồng bào, tình cha mẹ, vợ chồng Nó không phân biệt thân sơ”[6;Tr329] Phật giáo có quan

niệm về luân hồi, không có cái gì là tự nhiên có tự nhiên không mà đều có quiluật nhất định, Con người sống hoàn toàn tự tại cũng như vạn vật chúng sinhđến rồi đi, sinh rồi diệt không phân biệt cao sang thấp hèn Phật pháp thì mởlòng với hết thảy, bởi thế mà người không chỉ thu nhận đệ tử Khoan Độ, KhoanHòa - tên cướp Thuồng Luồng, là những con người từng mê lầm mà người cònthu nhận cả con hổ mồ côi tên Côi làm phật tử của đức Phật

Những con người giữ được đạo hạnh giữ được Phật tính thì dù ở đâu dùnhư thế nào người đó vẫn giữ vững chánh niệm và luôn bình thản, an nhiêntrước mọi tình thế Tác giả ngay từ đầu đã vẽ ra cho người đọc một sự tưởngvề con người sư cụ Vô Úy Đó là khi sư cụ Vô Úy và chú tiểu An đi đường

gặp một cơn mưa, trong khi An “ba chân bốn cẳng” tìm chỗ nấp thì sư cụ vẫn bước “điềm nhiên” như thường vậy Đó là sự khác biệt trong lối sống của

người tu hành, khi đã ngộ đạo con người không bất li thế gian nhưng luônbình thản trước xoay vần của tạo vật

Trang 25

Sinh ra giữa thời điểm biến cố của lịch sử khi thực dân Pháp xâm lượcvà coi nhà chùa là nơi che giấu cách mạng phải chọn làm mục tiêu để khaithác đe dọa những người cách mạng Sư Vô Úy vẫn bình tâm thản nhiên đốimặt Lúc bị dọa nạt rồi bị bắt lên nhà giam phòng nhì đánh đến gãy chân,người vẫn không quên niệm hồng danh đức Phật cứu khổ cứu nạn Đó vừa làmột cách đối phó lại cũng là một cách tiếp thêm tinh thần cho chính bản thân.

Sư Vô Úy không chỉ có Phật trong suy nghĩ mà có cả trong lối sống, lối sốngtừ bi khoan dung độ lượng sẵn sàng mở lòng với tất cả chúng sinh

Không giống với sư cụ Vô Úy, không sùng bái Phật giáo cũng khônghiểu rõ về giáo lý nhà Phật nhưng thầy giáo Hải lại nhận thấy ở Phật giáo một

sức mạnh to lớn “Đạo Phật dạy người ta lòng từ bi Không có từ bi thế giới này sẽ rơi vào mông muội Rồi lại dạy con người ta dựa vào chính mình Ta luôn phải tìm Phật trong bản thân thế gian ngày nay rất cần cái tâm cao thượng Có được cái vô ngã, cái từ bi hỉ xả của đức Phật thì mới mong thế giới được an lành”[6;Tr333] Hải không thuyết giảng về tình thương, tình bác

ái, tình đồng chí đồng bào Tất cả những gì anh làm là vì một lí lẽ rất đơn

giản, anh đã thấy “sự ngạo nghễ vênh vang của những con người da trắng, lúc nào cũng tự vỗ ngực tự miệt thị hành hạ những đồng bào khốn khổ của dân tôc mình Không thể chịu đựng được nữa”[6;Tr415] Và Hải đã chiến đấu đến cùng vì lẽ ấy “Anh không phải người cuồng tín, cũng chẳng mang tư tưởng anh hùng” Những hình ảnh về một thầy giáo thư sinh nhỏ bé, nho nhã

được tác giả miêu tả một cách chân thật nó như một thước phim về cuộc đời

của bao chiến sĩ cách mạng thời ấy Khi bị bắt anh phải “chịu mọi cực hình từ đánh đập dã man thời nguyên thủy đến tra điện, thân thể sưng vù chỗ nào cũng có vết thương Chân thì gãy” Rồi “mặt xám ngoét Anh ho sặc sụa Nước ở mũi anh vọt ra Sau đó anh nôn thốc nôn tháo” Nguyễn Xuân Khánh không miêu tả nhiều về Hải, ông chỉ viết vài dòng ngắn “thầy Hải trạc hai tư hai nhăm, dáng người gầy gò, mặc áo the thâm quần dài trắng Mặt thầy sáng sủa tiếng nói nhẹ nhàng”[6;Tr77] Với bộ dạng ấy người đọc được vẽ ra

trước mắt một con người hiền lành dường như không đủ sức chịu đựng những

Trang 26

bão táp nhưng ngược lại với dáng hình ấy lại là một con người kiên cường,can đảm Vì lòng yêu tổ quốc mà anh đã đánh đổi cả cuộc đời mình, mạngsống của mình Hải như một hình ảnh về một lớp thế hệ thanh niên lúc ấy Chỉcó khác là trong lòng Hải có một cái gì như là tinh thần của Phật pháp Anh tựtại và chấp nhận, an nhiên và bình thản đón đợi dù biết trắc kết cục bi thảmkhi rơi vào nhà giam phòng nhì Dù thấy rõ mồn một cái chết đang hiện hữuanh vẫn cảm nhận được một cái gì bồng bềnh từ tâm khảm, từ hình ảnh củaNguyệt đang lơ lửng trong tâm trí và anh vẫn không ngừng niệm Phật khi bịtra tấn

Hải không sùng bái Phật nhưng anh cũng không phủ nhận Phật giáo,anh tin vào lối sống của Phật giáo, tin vào những điều tốt đẹp mà giáo lí nhàPhật giảng dạy Nguyệt cũng vậy, hình ảnh Nguyệt hiện lên trong tác phẩmnhư hình ảnh của biết bao người phụ nữ Việt giàu đức hi sinh, can đảm vàgiàu tình yêu thương

Nguyễn Xuân Khánh dường như luôn dành sự ưu ái khi miêu tả vềnhững người phụ nữ Ở họ, người đọc luôn bắt gặp những bản chất tốt đẹptoát lên từ ngay vẻ bề ngoài Hình ảnh bà Nấm với bàn tay ấm áp, phúc hậu

Cô Thêu, cô Khoai với vẻ đẹp căng tràn sức sống Hay cô Rêu với giọng hátngọt ngào như thiên thần đến chết rồi mà vẫn như còn ở trên trần thế tỏa ramùi hương của giếng thơm làm cho cuộc đời tươi vui mãi

Nguyệt cũng là người con gái đẹp, cái đẹp như bộc lộ ngay từ cái tên

“Nguyệt – trăng” hình ảnh ấy ra một cái gì mờ ảo mà lại dịu dàng, Nguyệt có

“nước da như ngà, mớ tóc đen nhánh óng ả chảy xuống kheo chân” [6;Tr78] và hơn cô thế cô ý thức được cái đẹp của mình “chính bản thân Nguyệt cũng cản nhận được chất đàn bà ma mị của mình ở ngôi chùa, cho nên cô cố gắng che đậy giấu giếm nó đi Nguyệt bằng mọi cách, tự làm cho mình xấu đi”[6;Tr337] không chỉ đẹp “chị Nguyệt rất khéo tay Đường kim mũi chỉ vừa

êm vừa đều tăm tắp” không chỉ vậy Nguyệt còn ăn nói nhẹ nhàng “Dạ… dạ….em ở chùa làng”[6;Tr77] Nguyệt không chỉ đẹp về thể chất mà đẹp cả tâm hồn Nó bộc lộ qua mỗi hành động của cô “lúc An mới sinh, mẹ của họ

Trang 27

ốm nặng, và chị Nguyệt mới bảy tuổi đầu đã phải bế em đi ăn mày xin sữa cả làng cho em khỏi chết”[6;Tr336] Rồi Nguyệt làm cách mạng cùng Hải cô

không nghĩ được cái lớn lao trong việc mình làm khi được ông Trí giảng giải

và hỏi có muốn làm cách mạng không? Có sợ không? Nguyệt chỉ trả lời “bố

em bị chúng nó giết” Và cô chỉ biết rằng còn nhiều người khác cũng chịu số

phận như cha cô Thế nên cô làm cách mạng Nguyệt không có được cái bìnhthản chấp nhận như thầy Hải và sư cụ nhưng ở cô người đọc thấy một tâmhồn trong trẻo và an ổn hoàn toàn trong sáng và không tính toán

Như vậy, qua các nhân vật của mình có thể thấy Nguyễn Xuân Khánhđã bộc lộ một phần quan niệm của mình về con người Con người với ôngluôn có bản chất tốt đẹp, và với ông sự đánh giá con người nằm trong cách mà

người ta cư xử hành động “Con người văn hóa là con người hướng tới sự cao thượng Mà từ, bi, hỉ, xả là bốn đức hạnh cao thượng của Phật giáo Phật bảo bốn điều cao cả ấy lúc nào cũng có sẵn và còn ngủ trong từng con người”[6;Tr784].

2.2 Con người vô minh

Từ “vô minh” nói chung thì tiếng Phạn gọi là Avidya và tiếng Pa-li làAvijja, nghĩa từ chương của chữ này là sự “thiếu hiểu biết”, thế nhưng cũngcó thể hiểu đấy là một sự “nhầm lẫn” “Thiếu hiểu biết” không phải là thiếu

sự học hỏi từ trong sách vở, hay sự thiếu hiểu biết mang tính cách thông tháicủa một nhà bác học Nói một cách đơn giản thì ta có thể hiểu vô minh như làmột cách “nhìn sai” hay “hiểu sai”

Vô minh là một khái niệm vô cùng quan trọng trong giáo lý nhà Phật.Nó được kinh sách đề cập trong ba trường hợp khác nhau Thứ nhất vô minhlà nọc độc thứ nhất trong số ba nọc độc gọi là Tam Độc: đấy là sự đần độn

hay u mê (moha - si mê); sự thèm khát và bám víu (raga - tham lam) và hận thù (krodha - sân hận) U mê (moha - ignorance - si mê) sẽ đưa đến những

hành động ngu đần và sai lầm, mang lại những xúc cảm bấn loạn trong tâmthức Thứ hai vô minh (avidya/avijja) là “nút thắt” hay cái “khoen” đầu tiêntrong số mười hai “nút thắt” của chuỗi dài lôi kéo và tương tác gọi là “Thập

Trang 28

nhị nhân duyên”, trói buộc chúng sinh trong thế giới luân hồi Cái nút thắt đầutiên ấy còn được gọi là vô minh nguyên thủy (sahajavidya), tức sự kiện khônghiểu biết về Tứ Diệu Đế, về quy luật nguyên nhân hậu quả (nghiệp) và khôngý thức được sự hiện hữu trói buộc của chính mình Vô minh mang ý nghĩa của

sự lầm lẫn, thiếu sáng suốt (ditthi, wrong views - tà kiến) nghĩa là không nhìn

thấy bản chất của mọi vật thể, tức phương thức hiện hữu đích thật của conngười và mọi hiện tượng

Vô minh chính là nguyên nhân khiến con người tạo ra các nghiệp bất

thiện Sở dĩ con người đau khổ là vì không đạt được những ham muốn dụcvọng của chính mình Phật giáo nói rằng con người và vạn vật luân hồi, khôngcó gì là bất diệt kể cả con người Và đã là một thực thể,một con người thìkhông thể tránh khỏi sinh, lão bệnh, tử, tham, sân, si, hỉ, lộ, ái, ố Nhưng cóngười biết kìm chế nó, biết mang cái từ tâm để hướng thiện còn có người thì

không “Đứng về mặt tuyệt đối tất cả chúng sinh đều rơi vào luật nhân quả, bậc đại tu hành thì hiểu rõ luật nhân quả, không bị mê lầm bị che mờ, cái tâm không sai biệt, nên không chấp có chấp không Nếu tâm có sai biệt thì dù có

tu một trăm kiếp hồ ly vẫn là hồ ly”[6;Tr253].

Bernard Martinot là một Tây lai nửa Việt nửa Pháp, mẹ hắn bà Thu làmột người sùng mộ đạo Phật nhưng lại không truyền thụ được cho con mìnhlòng yêu kính Phật giáo Bernard căm ghét cả chùa chiền bởi trong suy nghĩcủa mình hắn nghĩ rằng vì Phật giáo đã làm bà thu mê muội nó tuy không trựctiếp nhưng cũng góp phần vào cái chết của mẹ mình Bernard đã mắc vào tamđộc của vô minh đó là u mê – tham lam – sân hận

Phật giáo nói rằng con người và vạn vật sinh ra đều có Phật tính nhưngkhông phải ai cũng duy trì được nó Bernard cũng vậy hắn sinh ra hẳn có Phật

tính “tây lùn rất yêu trẻ con, thường ra phố huyện thấy trẻ con là cho kẹo”

nhưng vì trong quá trình tồn tại hắn không giữ nổi mình, bị những cám dỗ,những đau khổ và dục vọng của cuộc đời chi phối bởi thế mà hắn thành ra thùhận, u mê

Trang 29

Bernard là một đứa con lai, lên sáu tuổi thì mất cha, mẹ Bernard là bàThu – một người Việt thuần túy đã cho con trai về quê ngoại sống cùng giađình em trai là ông Cẩn Cậu bé Bernard đã sống như một nửa dòng máutrong người nó, dòng máu da vàng Đối với Bernard lúc này cuộc sống cậu

đang sống “cũng êm đềm lắm chứ, cũng thú vị lắm chứ” Nhưng nó chưa đủ

với hắn, Bernard cảm thấy từ sâu thẳm trong tiềm thức có một cái gì như làkiêu hãnh như là quí phái lắm mà nó chưa thể nhận ra được Đó chính là cáinút đánh dấu khởi đầu chi sự u mê kéo dài của hắn Tuy nó chưa rõ ràngnhưng nó đã tồn tại và chỉ chờ đánh thức là nó trỗi dậy

Càng lớn lên Bernard càng cảm nhận được sự khác biệt của mình giữangôi làng người Việt hắn vừa sợ hãi vừa kiêu hãnh với dòng máu da trắng củamình mà ông Jules là người đã giúp Bernard “khoác thêm lốt da trắng” bên

ngoài lớp da vàng của nó, Bernard bắt đầu có những thay đổi “ tiếng gọi của giống nòi đã lên tiếng trong Bernard tuy nó chưa tường minh, chưa rõ mồn một”[6;Tr44] Bernard tự hào với dòng máu da trắng của mình và khinh miệt

một nửa dòng máu da vàng còn lại Hắn càng si mê nó bao nhiêu thì hắn càngthù hận bấy nhiêu đặc biệt là khi bị người ta trà đạp lên dòng máu ấy Thêmvào đó những biến cố trong cuộc đời càng đẩy lòng thù hận của Bearnad ngàymột lên cao hơn

Đánh mất mối tình đầu với cô gái An Nam cũng chỉ bởi vì anh ta là mộtngười da trắng Rồi khi cách mạng tháng Tám về người An Nam giành đượcchính quyền từ tay Nhật, thời thế đã thay đổi Bernard nhận ra mình không thểcó cuộc sống trước đây mình đã sống không thể có cái gia đình bé nhỏ anh đã

mơ về Trong Bernad niềm tự hào “giống nòi” bấy lâu ông Jules tìm cáchkhơi gợi trong anh mà không thể giờ đây nó trỗi dậy mạnh mẽ đến không ngờvà cũng chính vì nó mà anh nhận ra mình không thuộc về nới này, xứ sở này

Rồi khi cô Mận – người con gái Bernard yêu lấy chồng mà lại lấy ngayanh Vệ quốc đoàn hôm cách mạng về đã “dạy dỗ” Bernard Điều đó đã vôtình đẩy mối thù hận trong lòng Bernard lên thêm một bậc Sao đó lại là baonhiều nỗi đau khác mà Bernard phải nhận, ông Cẩm cậu Bernard chết vì Việt

Trang 30

Minh, bà Thu mẹ Bernard đau buồn vì cái chết của em cũng qua đời, đó là

mối hận tiếp theo trong lòng Bernard Mối hận ấy càng ngày càng sâu sắc “sự thù hận của Bernard cứ như vậy tăng lên từng bước Nó như những lớp sóng

xô đẩy, lớp sau đè lên lớp trước hay nói cho đúng, lớp nọ đẩy lớp kia dâng lên càng ngày càng cao” và “sự thù hận làm con người thiếu sáng suốt”[6;Tr45], và sau tất cả những chuỗi dài bi kịch xảy ra đối với mình

Bernad đã trở thành tên “ Tây lùn tàn ác” Chính sự thù hận đã biến Bernadthành kẻ giết người không ghê tay, một kẻ bất chấp mọi luật lệ Đối vớiBernard chiến tranh là một sự tàn nhẫn đến rợn người, không đạo đức không

luật lệ và không cả tình người “Trên thế gian này, đã có cuộc chiến tranh nào không có sự hãm hiếp, không có chuyện cắt cổ giết người”, “trong cuộc chiến tranh này, kẻ nào nhân đạo, kẻ ấy đang tự sát” “chiến tranh là chiến tranh Đó là máu và lửa Phải độc địa như loài rắn Phải thâm hiểm xảo quyệt như loài chó sói Làm bất cứ điều gì, chỉ cốt cuối cùng chiến thắng Bởi

vì chỉ có người chiến thắng mới là người có lý”[6;Tr182] Không chỉ u mê

trong niềm kiêu hãnh về giống nòi, Bernard còn u mê trong chính tư tưởng lí

lẽ của chính bản thân hắn “đáng lẽ tôi là người bình thường đấy chứ Nhưng

ai đã phản bội tôi Ai đã giết cậu tôi, đẩy mẹ tôi đến chỗ chết Ai đã cư xử với tôi như một kẻ hạ đẳng” “những lí lẽ ấy làm hắn yên tâm, cảm thấy được một chính nghĩa hỗ trợ, bảo vệ Và hắn nhúng tay vào máu một cách điềm nhiên Tuy vấy máu mà vẫn thấy bàn tay sạch một cách tinh tươm”[6;Tr45] Bernard

trở nên tàn ác nhưng lại ý thức được sự tàn ác của mình nên Bernard vừa sợhãi vừa cố gắng lấy cái thiện để biện minh cho hành động tàn ác xấu xa củamình Hắn đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho rằng đó mới chính là nguyên nhân đẩyhắn thành con người như hiện tại Hắn càng mê muội thì lại càng tin rằng bảnthân mình vô tội và tâm hồn mình không vấy bẩn

Có nhiều con đường dẫn người ta đến nghiệp bất thiện trong đó có mêlầm Đức vì mê lầm trong lý tưởng tôn giáo đến cực đoan mà định ra tay giết

An chỉ nhằm thỏa mãn rằng lý tưởng của mình mới là chân lý Cũng vì u mêhiểu sai về lí tưởng cuộc chiến tranh mà đại úy Thalan, chuẩn úy Gustave

Trang 31

sang Đông Dương Gustave cứ nghĩ đây là một cuộc khai sáng thực sự nhưngười Pháp vẫn tuyên truyền nhưng khi sang Việt Nam tham gia chiến tranh

anh thấy những hình ảnh bà mẹ quì gối xin tha và anh thấy “như mẹ mình ở nhà vậy và mình chỉ biết quay mặt đi” Còn Thalan anh hết sức tôn trọng tôn

giáo và luật lệ chiến tranh nhưng anh lại mê lầm với lí tưởng khai sáng và

thôn tính của tổ quốc từ đó phục vụ cho một cuộc xâm chiếm tàn bạo “tôi hết lòng vì sự vinh quang của nước Pháp Tôi tốt hay tôi xấu?”[6;Tr414].

Sự u mê cũng đã đẩy Bernard đến thù hận rồi thù hận lại đẩy hắn đếntham lam Bernard luôn thấy người ta khinh bỉ mình với dòng máu lai tạp đặcbiệt hắn ghen tỵ với đại úy Thalan một con người Pháp thuần chủng cao quý.Hắn muốn được trở nên cao quý và quyền lực Hắn làm việc cho người Phápchống lại chính một nửa dòng máu da vàng của hắn, hắn muốn được trở vềnước Pháp sống cuộc sống mà trong tiềm thức hắn nghĩ mình vốn dĩ phảiđược hưởng

Lòng tham có thể đẩy con người ta đến những việc làm chính bản thânhọc cũng không muốn nó xảy ra Quản Mật vì tham quyền lực mà phản bội tổquốc, phản bội gia đình khi đem quân của Bearnard về phá rừng Cò – mảnhđất phúc địa của gia đình Ông chánh Long tham sắc đẹp mà làm khổ baongười phụ nữ Cô Xim phản bội gia đình ông chánh tổng tham gia đấu tố cũng

vì lòng tham, sự ích kỉ bản thân Họ đã hành động khi cái vô minh lấn át chemất những thiện căn trong con người mình

Từ nhỏ Bernard đã được miêu tả với những bản tính không mấy tốt đẹp

của người Việt “Thế là suốt thời thơ ấu Bernard chơi bời nghịch ngợm và học tập cùng với lũ trẻ người Việt Nó nói tiếng Việt, ăn cơm bằng chén đũa, chén thịt chó mắm tôm, đi ăn giỗ ăn tết, rồi có lúc học cả cái đối xử mánh khóe, xỏ lá ba que chẳng khác gì hạng hạ lưu trong xã hội người Việt”[6;Tr49] Để rồi khi lớn lên hắn học được cách giết người không gớm

tay Hắn đem chiến sĩ cách mạng ra giữa phố bắn cho đến chết để mọi ngườinhìn đó mà ghê sợ, lấy đó mà làm gương Hắn lại có sức mạnh ghê gớm với

lũ “đầu trâu mặt ngựa” “Bất kì đến địa phương nào hắn cũng nhanh chóng

Trang 32

tập hợp được ngay một lũ lâu la Bọn đầu trâu mặt ngựa chỉ ngửi thấy hắn, chỉ trông thấy hắn là bâu ngay lại Có gì đâu, thủa nhỏ hắn đã thường xuyên

đi lại với bọn anh chị Hà Nội Nói rất sõi tiếng Việt, lại sõi đến mức rành rẽ

cả những tiếng đầu đường xó chợ; rồi cách đối xử rất khí phách anh hùng nghĩa hiệp, nốc rượu như hũ chìm, sẵn lòng thử tài vài chiêu quyền cước, rất hào phóng chia sẻ với đàn em”[6;Tr69] Tất cả những điều ấy như nói nên

con người Bernard một tên tây lai hội tụ cả tất cả những cái xấu xa của cả haidòng máu Hắn có những mánh khóe của người Việt cộng thêm vào sự tàn áccủa kẻ đi xâm chiếm thành ra Bernard trở thành “một bãi chiến trường” của

sự giành giật giữa hai dòng máu “phải nói rằng có lúc hắn đã ngả về phía người mẹ Nhưng rồi hoàn cảnh chiến tranh đưa đẩy, hắn đã chối từ người

mẹ và đi về phía người cha”[6;Tr70].

Trong tác phẩm tác giả lặp lại chi tiết Bernard đánh giá người khác rất

nhiều lần “Bernard nhận xét : sư cụ thì lạnh lùng, có vẻ không thích người Pháp; sư bác Độ thì mắt sắc sảo đáng ngờ; bà vãi Thầm và chú tiểu An thì là

lũ dân mê tín ngu muội”[6;Tr71] khi nhận xét về sư Khoan Độ hắn nói “Vị sư bác ấy cao lớn, hai tay dài quá khổ, như hai ống tre, xuống quá đầu gối Mắt xếch trắng dã long mày rậm Chắc phải cân nặng tới tám mươi kilogram Một trọng lượng bất thường Một khổ người bất thường so với người Việt Người hắn không có mỡ chỉ thấy toàn xương là xương Con người típ ấy khoa học gọi là kẻ “siêu đực” Công thức nhiễm sắc thể là XYY Con người này có sức khỏe phi thường, tính cách hung hãn, cực đoan thô thiển, giết người không ghê tay Họ thường là kẻ phạm tội Tôi nghĩ hắn không phải là sư” [6;Tr349].

Qua cách đánh giá của Bernard về người khác đủ để thấy hắn chỉ nhìn về mặtxấu xa của người đó Hắn đã mang những ý nghĩ tiêu cực ngay từ trong bảnchất của mình

Như vậy, thông qua nhân vật Bernard Matinot và các nhân vật khácNguyễn Xuân Khánh đã thể hiện một khía cạnh của con người – con người vôminh Ông nhân thấy rằng chính những sân hận, u mê và tham lam là nguyênnhân đẩy con người ta đến sai lầm, đến những nghiệp bất thiện Vô minh luôn

Trang 33

song song tồn tại trong mỗi con người cũng như Phật tính và chỉ khi nào conngười ta có được tính thiện để hóa giải vô minh trong chính bản thân mình khi

ấy mới mong cuộc sống trở nên tốt đẹp

2.3 Con người tùy duyên

Theo Phật giáo mỗi con người sinh ra là một pháp (tiếng Phạn làDharma, tiếng Pali là Dhamma nghĩa là nắm giữ) “đặc biệt” của thế giới Conngười bao gồm phần sinh lý, tâm lý và là sự kết hợp của Ngũ Uẩn(Rupaskadha – tích tụ), gồm 5 yếu tố tích tụ, kết hợp: Sắc, Thụ, Tưởng, Hành,Thức Và mỗi pháp tức mỗi con người không bao giờ tự xuất hiện hay tự mất

đi mà không theo luật duyên khởi Một đứa trẻ ra đời, không phải tự nhiên màcó Cần đến tinh cha huyết mẹ (nhân) với bao sự chăm sóc (duyên), đủ ngàyđủ tháng (duyên) mới sinh ra Nhân và duyên phải đủ, pháp (quả) mới hiệnthành

Theo ý niệm đó Phật giáo cho rằng con người luôn chịu sự chi phốicủa duyên khởi tức là mọi sự diễn biến trong cuộc đời là do chữ duyên tạothành Trong chữ duyên ấy lại được chia thành bốn yếu tố, nói cách khác làbốn duyên sinh ra các pháp đó là Nhân duyên, Thứ đệ duyên, Duyên duyên.Tăng thượng duyên Các pháp ở thế gian khi xuất hiện sẽ chịu sự chi phối củamột, hai, ba hay cả bốn duyên đó

Nhân duyên là chỗ mà pháp từ đó sinh ra, đang từ đó sinh ra, sẽ từ đósinh ra Do những yếu tố (điều kiện) nào đó mà một sự việc hay một sự vật(nói chung là mọi hiện tượng thuộc tâm hay vật) xuất hiện thì những yếu tốđó gọi là duyên, cũng gọi là nhân, cũng gọi là nhân duyên (đối với quả đãxuất hiện) Nhân duyên được chia thành 2 loại là:

Ngoại duyên: Chỉ cho những gì thuộc phạm vi ngoại cảnh Đặc tính củapháp nhân duyên là dù “nhân” không thay đổi mà “duyên” thay đổi thì “quả”có thể thay đổi Con người có thể thay đổi mọi việc theo ý mình dù ở lãnh vựcnào, với điều kiện là tìm ra đúng nguyên nhân của nó Nói đúng hơn là tìm rađúng liên hệ nhân quả của nó, và thay đổi cái nhân ấy

Trang 34

Nội duyên: Chỉ cho những loại duyên có liên quan đến tâm như vôminh, ái, nghiệp … là nhân duyên sinh ra ấm, giới, nhập Thân tâm và hoàncảnh mà một chúng hữu tình đang có đây, là kết quả của những gì mà chúnghữu tình đó đã tạo tác trong quá khứ Những hành tác đó được các duyêntham, sân, si (phiền não chướng) hỗ trợ mà có cái thân phần đoạn như hiệnnay xuất hiện Trong khi nhân quả thuộc nội duyên không chỉ xảy ra trongmột đời mà có liên hệ khá nhiều đời Nhân, có khi thuộc quá khứ mà phảimấy đời sau mới đủ duyên hiện quả

Thứ đệ duyên chính là duyên gây ra luật nhân quả Đời sống của chúng

ta được tiếp nối, chết đây sinh kia là do dòng vọng niệm Liên tục nối kếtnhau là do cái nhân Thứ đệ duyên này Pháp trước diệt là điều kiện để phápsau sinh Pháp trước nếu không diệt thì pháp sau không thể sinh Niệm sausinh rồi trở thành niệm trước, tiếp tục diệt làm điều kiện cho niệm sau sinh.Cứ thế mà tương tục không dứt

Sở duyên duyên là đối tượng của năm giác quan, kinh luận gọi là Sởduyên Hiểu theo cách đơn giản nghĩa là duyên ở trong duyên Con người códuyên thứ nhất để rồi từ duyên đó sinh ra duyên thứ hai thì gọi Sở duyênduyên Sở duyên duyên là một trong các duyên khiến nhân quả xoay vần, lànhcó, dữ có

Tăng thượng duyên là loại duyên mà nhờ nó các duyên khác có thểphát tán hoặc theo chiều thuận hoặc theo chiều nghịch, cái này có nên cái kiacó, cái này làm duyên tăng thượng cho cái kia Theo đó thì ba duyên trêncũng mang hình thức Tăng thượng duyên, nhưng duyên này chỉ chung cho tất

cả những duyên còn sót lại, không thuộc ba duyên trên Tăng thượng duyêncó ở cả mặt nội duyên lẫn ngoại duyên Quả báo của thiện nghiệp là sung túc,danh vọng, sắc đẹp … Chúng có thể là duyên để thiện nghiệp trong hiện tại cóđiều kiện phát triển nhưng cũng có thể là duyên khiến ác nghiệp có điều kiệntăng thạnh Trong điều kiện đó, sung túc, danh vọng … mang hình thức củaTăng thượng duyên

Trang 35

Đội gạo lên chùa là tác phẩm đậm đặc chất thiền do vậy chữ duyên mà

Phật giáo quan tâm đến đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của sự kiện vànhân vật trong tác phẩm Với hệ thống nhân vật vô cùng phong phú đa dạng,tác phẩm là bức tranh muôn màu về cuộc sống của những con người gắn cuộcđời mình với ngôi chùa Sọ, nhưng có thể nói xuyên suốt tác phẩm là nhân vật

An Tác phẩm như thước phim về cuộc đời An từ lúc nhỏ cho đến lúc trưởngthành với bao biến cố và đổi thay An được chùa cưu mang từ nhỏ sống trongchùa An không có cái quyết tâm trở thành một Phật tử xuất gia mà chỉ đơngiản là vì ở đó An thấy lòng mình thanh thản, thấy được tĩnh tâm trở lại sau

khi chứng kiến cái chết của cha mẹ “những cái xác không đầu Có cả những người bị trói đứng vào cột Cái đầu lâu chưa đứt hẳn còn lủng lẳng treo trước ngực”[6;Tr39] Hương chùa thanh tịnh giúp An vơi đi phần nào ảm ảnh

về những con người nằm bên vũng máu những cái đầu bị cắt lìa khỏi cổ Ởđó, bên cạnh con chó vàng, An có thể khóc, những giọt nước mắt mà đối với

An có thể coi như là cứu mạng bởi nó giúp An nhẹ lòng và bớt ám ảnh về cáichết Chùa đối với An là ngôi nhà thứ hai, là gia đình lớn mà An mang ơnsuốt đời An nhận ra rằng mình thật may mắn khi có cái duyên với Đức Phật

giữa cuộc đời: “tôi có duyên được tiếp xúc, tiếp nhận sự từ bi bao la của đức Phật giữa lúc thế gian đầy cảnh tang thương chết chóc”[6;Tr648] Và An đã

hết lòng sống với nhân duyên ấy An đã sống hết mình vì ngôi chùa, khi sư

cụ Vô Úy lâm nạn An đã chăm sóc cho Người không quên nhang khói chochùa, quyết bảo vệ chùa cùng sư thúc Khoan Độ Nhưng trong lòng An vẫnluôn mơ về một cuộc sống gia đình bình thường trần tục, nhất là khi chịNguyệt được sư thầy gả cho thầy giáo Hải, An không thể giấu niềm vui đó

“Riêng tôi vui mừng, đó là lẽ đương nhiên Chị tôi mà có gia đình, tức là từ nay tôi cũng có một gia đình, đó là điều tôi khao khát thèm muốn”[6;Tr157].

Và ước ao đó đối với một người như An không phải là một điều lạ Đối vớimột cậu bé sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân bình thường thìmọi xáo trộn trong cuộc sống đều là những cú va đập vào tinh thần mà đối với

An đó lại là cú va quá lớn, quá bất hạnh và ám ảnh Cái chết tức tưởi của cha

Trang 36

mẹ làm cậu bé vừa sợ hãi vừa mongmỏi được trở về với cuộc sống trước đây.Trong sâu thẳm đâu đó trong tâm hồn An cái mơ ước về cuộc sống trần tục ấyvẫn như một mạch nước ngầm đang chảy mà đôi lúc chính bản thân An cũngkhông hề nghĩ là có nó tồn tại Và rồi khi đó như là một hệ quả tất yếu củangoại duyên mà cũng là nội duyên An từ dã ngôi chùa để trở về trần tục

Việc chú tiểu An trở về trần tục như “mọi việc tự nhiên xảy ra” Với

An đi tu không phải dứt hết mọi buồn vui đau khổ của cuộc đời mà như lời

của sư cụ Vô Úy:“Phật giáo là một lối sống Mà đã là lối sống thì tu ở chùa cũng được, tu ở ngoài cũng được” Sư cụ cũng dạy anh về lối sống “cư trần lạc đạo thả tùy duyên” “Cư trần ta hãy ở giữa cõi trần này mà vui với đạo Tùy duyên ! hãy tùy duyên mà hành đạo Hãy nhớ lấy hai chữ tùy duyên con ạ”.Chính những lời dậy ấy mà An tự thấy “ít nhất tôi cũng có đủ can đảm và nghị lực tuổi trẻ để hòa vào thế gian để cùng gánh chịu những vui buồn đau khổ của thế gian này Muốn hưởng ngoại lệ đó là điều tôi không muốn” An

đã can đảm chấp nhận mọi sự ở đời bởi với An mọi sự là tùy duyên, không épbuộc không chối bỏ Và An đã mang theo những quan niệm suy nghĩ đó bướckhỏi cửa Phật về với thế tục để trở thành một anh bộ đội rồi một người chồng,một người cha với một gia đình nho nhỏ

Không giống các nhân vật khác An không được miêu tả thật tỉ mỉ vềngoại hình tất cả những gì về cậu đều được bộc lộ qua suy nghĩ, hành động vàcách đánh giá nhìn nhận về những sự vật, con người, hiện tượng xung quanh.Từ đó bộc lộ rõ lối sống tùy duyên của An Không sân hận bất cứ điều gì bởiđó là cái duyên, đã là duyên ắt là điều tất yếu phải đến, phải đi, phải chấpnhận và từ bỏ nó là quy luật xoay vần trong cõi đời này

Khác với An, Vô Trần được tác giả miêu tả là “một người dong dỏng cao, dáng thư sinh Đôi lông mày rất đen, đôi mắt tươi tắn sáng quắc”[6;Tr141] Điều đó như báo trước cho người đọc về một con người với

nhiều điều cần khám phá

Sư Vô Trần từ nhỏ quyết vào chùa làm Phật tử dù cha mẹ can ngăn

nhưng Trần một mực “con xin lạy mẹ Con xin phép mẹ được cắt tóc đi tu.

Trang 37

Lòng con đã nhuốm mùi thiền chỉ có vào chùa, con mới thấy lòng mình thanh thản”[6;Tr90] Vào chùa được sư phụ dạy bảo Trần đã thật sự là một Phật tử

của cửa thiền, nhưng đúng như sư cụ Vô Chấp nói, Trần có cái “nhiệt tình quáđỗi” Để rồi trong sư nhiệt tình ấy Trần bỗng cảm thấy cô đơn khi một mìnhgiữa ngôi chùa rộng lớn, Vô Trần nghĩ về mình, nghĩ về cuộc đời mình và

miên man thấy “có lẽ anh chưa dứt khỏi vòng sinh tử” Chính Trần nhận thấy rằng “Phải chăng sự đi tu của anh là một sự đi tìm đường trong cõi nhân gian, và đó cũng chỉ là bước khởi đầu của một hành trình dài dằng dặc”[6;Tr96] Đó như một lời mách bảo hay chỉ dẫn về cuộc đời của Trần Và

anh đã từ bỏ cõi Phật, trút bỏ bộ quần áo thầy tu đi theo mối tình với cô Nấm

trở về với cõi tục Phải chăng như chú tiểu An từng nghĩ“Phật giáo có một sức hút tinh thần ghê gớm Song đến lúc này tôi mới biết người đàn bà có một sức hút ghê gớm chẳng kém”[6;Tr799] Phật giáo đã khiến Trần bỏ nhân gian

mà vào chùa, điều đó tưởng chừng như không có gì thay đổi được thế nhưngvới sức manh ghê gớm của đàn bà, Vô Trần lại từ bỏ Phật giáo mà trở về cõinhân gian

Tuy đã từ bỏ con đường tu thân nhưng Trần vẫn đem cái tên sư tổ VôChấp đặt cho anh để về với thế tục “Nguyễn Vô Trần” và hơn thế anh nguyệnđem những điều Phật dạy để trở về cõi nhân gian Đó không phải là một bước

đi lầm đường mà là “thả tùy duyên”.

Hồi nhỏ Trần đã dứt bỏ nhân gian, cha mẹ để làm đệ tử của Phật giờkhi cái duyên với Phật đã hết Trần lại tiếp tục cái duyên ở đời – cái duyên vớicách mạng, chỉ có điều khác trước đây là anh đã có thứ hương giải thoát củachùa và chính nó đã giúp anh vượt qua bao thử thách trong cuộc đời Duyênđời của Trần có lẽ bắt đầu từ khi nghe tiếng khóc của cô Nấm trong vườn Còđể rồi anh phải từ bỏ cả cửa thiền vì phạm giới Rồi từ đó cuộc sống lại choanh cái duyên làm bạn với vợ chồng ông cụ Tập Qua đó mà được gặp Trí –con trai cụ và là một người cách mạng hoạt động trong “hội kín” Cái duyên

đời tiếp tục để Trí tin tưởng vào Trần để cuối cùng “Trần đã trở thành người cách mạng một cách ngẫu nhiên như thế Anh đã làm liên lạc cho tổ chức

Trang 38

cách mạng một cách tự nhiên giản dị”[6;Tr139] Trần không trốn tránh mọi

sự việc xảy đến với mình, anh chấp nhận nó như một điều tất yếu Kể cả việctừ một nhà sư quanh năm gõ mõ tụng kinh không màng vật chất không mấyquan tâm đến việc đời để rồi phải trở thành một anh thợ cạo chật vật để kiếmtiền cho cái gia đình nhỏ bé của mình, nhất là trở thành một nhà cách mạnghoạt động tích cực vì nhân dân, đất nước Trần đã không sợ bất kì hoàn cảnhnào đến với mình dù là khổ đau hay biết trước rằng đó sẽ là cả một quãng

đường dài và khó khăn trước mắt bởi Phật đã dạy rằng “Nhận chân cuộc đời, nhìn đau khổ nhưng người Phật tử vẫn sẵn sàng lăn mình vào dòng đời, vẫn can đảm nhận chịu một cuộc sống dù dẫy đầy tai ách Tuy họ thấy thực trạng cuộc đời là đau khổ, nhưng họ vẫn hãnh diện đã được làm người”[19].

Nếu như An sống giữa hai thế giới phật pháp và nhân gian, còn sư VôTrần từ Phật trở về cõi đời thì sư Khoan Độ lại từ đời mà đến Phật Sư KhoanĐộ ngay từ đầu chưa có những tư tưởng giác ngộ Phật giáo Anh là một conngười sinh ra ở cõi nhân sinh nhưng cũng có lúc đã sống bên lề của cuộc đời

“Thủa nhỏ Độ đã nổi tiếng ngỗ nghịch, là kẻ đứt dây trên trời rơi xuống”.

Đến mức cha anh phải cắt gân con trai của mình để mong anh thay đổi Từ đó

“Anh như con thú hoang, thấy mình sắp chết đã bỏ bầy đàn đi tìm vào rừng sâu, tìm nơi vắng vẻ để chết một cách bình thản với niềm uất hận và kiêu hãnh vô bờ”[6;Tr270] Độ sống không có một luật lệ hay lối sống nào, thậm chí như một kẻ hoang dại “người cha xa anh đã đành, dân làng chẳng ai dám dây với anh, ngay cả bọn trai tráng lêu lổng bây giờ cũng xa lánh anh”[6;Tr270] Độ đã sống như ở ngoài cuộc đời, ngoài cõi nhân sinh, anh

như ở một thế giới khác, thế giới ấy như thể không tồn tại con người vậy

Cho đến khi Khoai - người đàn bà cơ nhỡ đã đến với Độ và kéo anh trởvề cuộc đời Lúc này Độ mới biết đến cuộc đời thực sự, anh từ bỏ những lốisống vô luật lệ trước đây Anh có một gia đình nhỏ với người vợ mà anh yêuthương Người vợ ấy đã cho anh biết đến những khoái lạc trần tục những hạnhphúc đời thường Độ biết cố gắng để làm cho người đàn bà – người vợ củaanh và chính anh có được một cuộc sống như cuộc sống của bao người bình

Trang 39

thường khác Độ thay đổi không còn ngang tàng như trước, anh có mục đíchsống, có động lực cho những hành động của mình đó là gia đình, anh cũng đã

bắt đầu tin vào thế giới của Phật: “ mình có tin có trời có Phật không” – à … ờ…cũng có tin”[6;Tr268]

Có lẽ cuộc sống của Độ sẽ mãi bình yên như thế nếu người vợ của anhkhông bị rắn cắn chết Độ trở nên điên cuồng bỏ nhà, bỏ cha anh ra đi lần thứhai Anh trở thành tướng cướp trong băng cướp Thuồng Luồng với phươngchâm “cướp của người giàu chia cho người nghèo”, nhưng rồi cái ý tưởngnhân nghĩa ấy chỉ còn leo lét Băng cướp của anh phải cướp cả những ngườinghèo khổ để sống, cuộc đời đã đẩy anh đến một bước ngoặt không ngờ tớiđó là cái duyên với nhà Phật

Độ bị thương trong một trận cướp, nằm trong ranh giới mong manhgiữa sự sống và cái chết Chính cái thế giới mông lung không rõ ràng ấy đãgột rửa cho anh những trần tục những đau khổ những bất hạnh của cuộc đời

“Mấy tháng dòng đi về cõi sống, đã tẩy rửa rũ bỏ bao nhiêu là bụi bặm, đã thanh sạch đi rất nhiều”[6;Tr267] Và cũng chính trong khoảng thời gian ấy

anh được sư Vô Úy chăm sóc Cái duyên với vị sư già làm Độ hoàn toàn thayđổi anh không còn là kẻ giang hồ ngang tàng mà cái ngang tàng của anhchuyển sang thành lòng trung thành kính trọng với Phật pháp Dường như anhcảm nhận được sức mạnh từ bi của Phật giáo, cái sức mạnh đã đem anh từ cõichết trở về, làm cho lòng anh thanh thản, như được giải thoát như được sinh

ra và sống lại lần thứ hai Độ đã đốt ngón tay để thề nguyện làm vị hộ phápbảo vệ cho chùa và những gì liên quan đến nhà chùa Anh đã trở thành một đệ

tử của nhà Phật

Nhìn chung, con người cũng như vạn vật không phải là một thực thểbất biến Con người hay bất kì sự vật hiện tượng nào đều là một cái nút trongmột sợi dây dài điểm này nối với điểm kia Cái này liên quan đến cái kia.Giống như trong bánh xe luân hồi, kiếp này liên quan đến kiếp khác vì thế màcon người luôn thay đổi Sự thay đổi ấy là tự nhiên trong cuộc sống Nó cóthể do bản thân của mỗi người nhưng cũng có thể là do ngoại cảnh tác động

Ngày đăng: 02/08/2016, 22:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Huỳnh Công Bá, (2006), “Lịch sử tư tưởng Việt Nam”, Khoa lịch sử trường Đại học sư phạm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lịch sử tư tưởng Việt Nam”
Tác giả: Huỳnh Công Bá
Năm: 2006
2. Giang Thị Duyên, (2010), “Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng” Đề tài nghiên cứu khoa học – Đại học sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm nghệ thuật về con người trongtiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng”
Tác giả: Giang Thị Duyên
Năm: 2010
4. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi, (2010), “Từ điển thuật ngữ văn học”, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuậtngữ văn học”
Tác giả: Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2010
5. Hoàng Thị Thu Hường,(2013), “Nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh qua Đội gạo lên chùa”, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn - Đại học sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn XuânKhánh qua Đội gạo lên chùa
Tác giả: Hoàng Thị Thu Hường
Năm: 2013
6. Nguyễn Xuân Khánh,(2011), “Đội gạo lên chùa”, Nxb phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đội gạo lên chùa”
Tác giả: Nguyễn Xuân Khánh
Nhà XB: Nxb phụ nữ
Năm: 2011
7. Phương Lựu – Trần Đình Sử – Nguyễn Xuân Nam – Lê Ngọc Trà – La Khắc Hòa – Thành Thế Thái Bình,(2012), “Lí luận văn học”, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lí luận văn học”
Tác giả: Phương Lựu – Trần Đình Sử – Nguyễn Xuân Nam – Lê Ngọc Trà – La Khắc Hòa – Thành Thế Thái Bình
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 2012
8. Thánh Nghiêm – Pháp sư Tịnh Hải,(2008) “Lịch sử Phật giáo thếgiới”, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lịch sử Phật giáo thế"giới”
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
9. Nguyễn Thị Kim Ngân, “Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Thời xa vắng”, của Lê Lựu, luận văn cử nhân khoa học – Đại học sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quan niệm nghệ thuật về con người trongtiểu thuyết Thời xa vắng”
10. Hoàng Phê,(2009), “Từ điển tiếng Việt”, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Từ điển tiếng Việt”
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2009
11. Trần Đình Sử,(2007), “Dẫn luận thi pháp học”, Nxb Đại học Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dẫn luận thi pháp học”
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Đại học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2007
12. Âu Dương Tuyền,(2011), “Thiền tu”, Nxb Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thiền tu”
Tác giả: Âu Dương Tuyền
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2011
13. Chu Thụy Văn,(2014), “Truyện kể Phật giáo”, Nxb Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Truyện kể Phật giáo”
Tác giả: Chu Thụy Văn
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2014
14. Phạm Văn Vũ, (2013), “Cảm quan triết luận – phật giáo trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh”, luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn – Đại học sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cảm quan triết luận – phật giáo trong tiểuthuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh”
Tác giả: Phạm Văn Vũ
Năm: 2013
15. Scott Littleton,(Trần Văn Huân dịch) “Trí tuệ phương đông”, (2003), Nxb văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí tuệ phương đông
Tác giả: Scott Littleton,(Trần Văn Huân dịch) “Trí tuệ phương đông”
Nhà XB: Nxb văn hóa thông tin
Năm: 2003
16. Pospelov chủ biên,(1985), “Dẫn luận nghiên cứu văn học” tập 1, 2, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu văn học”
Tác giả: Pospelov chủ biên
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1985
17. Báo tuổi trẻ online - chuyên mục văn hóa giải trí (báo mạng) 18. Báo thể thao văn hóa (báo mạng) Khác
19. Báo văn nghệ, số 6, ngày 11 tháng 2 năm 2012 Khác
20. ebooks.vnu.edu.vn/iii/cpro/app?id=2068151254945577 Khác
22. thientongvietnam.net/kinhsach-thike/Vài vấn đề phật pháp, hòa thượng Thích Thanh Từ, thiền tông Việt Nam, kinh sách và thi kệ của Hòa thượng Thích Thanh Từ và chư vị Tôn Đức Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w