1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên

54 342 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trách nhiệm của các cơ quan và cá nhân trong việc quản lý chi NSNN như sau: - Cơ quan tài chính: Thẩm tra việc phân bổ dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng; Bố trí nguồn để đáp ứng c

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hệ thống Kho bạc Nhà nước đã được thành lập và nhanh chóng trở thành

công cụ sắc bén trong quản lý mọi hoạt động thu, chi Ngân sách Nhà nước, góp

phần quan trọng vào việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất

nước Luật Ngân sách Nhà nước ra đời, từng bước được sửa đổi, hoàn thiện đã tạo

ra sự chuyển biến về công tác quản lý quỹ Ngân sách Nhà nước Theo đó, công tác

kiểm soát chi được thể chế hoá và trở thành một công cụ không thể thiếu của hệ

thống Kho bạc Nhà nước Trong thời gian qua, tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên,

chi Ngân sách Nhà nước đã đảm bảo được các nhu cầu kinh phí thiết yếu cho các

mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước trong mỗi thời kỳ, vấn đề quản

lý các khoản chi Ngân sách Nhà nước có ý nghĩa hết sức to lớn về mặt kinh tế - xã

hội, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu và hoàn thiện một cách hữu hiệu nhất

Cơ chế quản lý, cấp phát thanh toán chi NSNN tuy đã được thường xuyên

sửa đổi và từng bước hoàn thiện, nhưng cũng chỉ có thể quy định được những vấn

đề chung nhất, mang tính nguyên tắc Vì vậy, nó không thể bao quát hết được tất cả

những hiện tượng nẩy sinh trong quá trình thực hiện chi NSNN Cũng chính từ đó,

cơ quan tài chính và KBNN thiếu cơ sở pháp lý cụ thể cần thiết để thực hiện kiểm

tra, kiểm soát từng khoản chi NSNN Như vậy, cấp phát chi NSNN đối với cơ quan

tài chính chỉ mang tính chất phân bổ NSNN, còn đối với KBNN thực chất chỉ là

xuất quỹ NSNN, chưa thực hiện được việc chi trả trực tiếp đến từng đơn vị sử dụng

kinh phí, chưa phát huy hết vai trò kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN Mặt

khác, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động KT-XH, công tác chi

NSNN cũng ngày càng đa dạng và phức tạp hơn Điều này cũng làm cho cơ chế

quản lý chi NSNN nhiều khi không theo kịp với sự biến động và phát triển của hoạt

động chi NSNN Trong đó, một số nhân tố quan trọng như hệ thống tiêu chuẩn định

mức chi tiêu còn xa rời thực tế, thiếu đồng bộ, thiếu căn cứ để thẩm định; chưa có

một cơ chế quản lý chi phù hợp và chặt chẽ đối với một số lĩnh vực

Các khoản chi của NSNN đều mang tính chất không hoàn trả trực tiếp Tính chất cấp phát trực tiếp không hoàn lại của các khoản chi NSNN là một ưu thế cực

kỳ to lớn đối với các đơn vị sử dụng NSNN Trách nhiệm của họ là phải chứng minh được việc sử dụng các khoản kinh phí bằng các kết quả công việc cụ thể đã được nhà nước giao Tuy nhiên, việc dùng những chỉ tiêu định tính và định lượng

để đánh giá và đo lường kết quả công việc trong nhiều trường hợp là thiếu chính xác và gặp không ít khó khăn Từ thực tế trên, đòi hỏi những cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc kiểm tra, giám sát quá trình chi tiêu để phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hiện tượng tiêu cực của những đơn vị sử dụng kinh phí NSNN; đồng thời phát hiện những kẽ hở trong cơ chế quản lý để từ đó có những giải pháp và kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung kịp thời những cơ chế, chính sách hiện hành, tạo nên một cơ chế quản lý chi chặt chẽ

Trong những năm qua đã có một số đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này, song mới nghiên cứu tổng thể, vai trò, trách nhiệm của cơ quan kiểm soát thanh toán, chưa đưa ra được những vấn đề bất cập đến những cơ chế, chính sách, các chế độ và quy trình nghiệp vụ có liên quan đến quản lý chi NSNN Mặt khác lý luận về quản

lý chi NSNN và trách nhiệm của cơ quan kiểm soát, thanh toán NSNN trong nền kinh tế thị trường chưa được nghiên cứu đầy đủ dưới giác độ quản lý kinh tế

Xuất phát từ những lý do trên Tôi lựa chọn đề tài: “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên”

2 Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn và đánh giá thực trạng công tác quản

lý chi NSNN tại KBNN Thái Nguyên Từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chi của KBNN về chi NSNN Góp phần nâng cao hiệu quả và tăng cường công tác quản lý ở KBNN Thái Nguyên nói riêng và hệ thống KBNN nói chung Việc nghiên cứu hoàn thiện cơ chế và nâng cao vai trò quản lý chi của KBNN về chi NSNN là vấn đề có tính cấp thiết đối với quản lý NSNN nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN, đặc biệt là dưới góc độ quản lý kinh tế gắn

Trang 2

với việc chuyển biến mạnh về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế để hội nhập kinh tế

quốc tế

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý chi NSNN qua

hệ thống Kho bạc Nhà nước

- Đánh giá thực trạng tình hình quản lý chi NSNN tại KBNN Thái Nguyên

- Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN tại

KBNN Thái Nguyên

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là cơ chế, chính sách, chế độ, quy trình nghiệp vụ và

thực tế công tác quản lý, với mục tiêu là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về

hoàn thiện cơ chế và vai trò quản lý chi của KBNN về chi NSNN

Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi không gian: nghiên cứu trong hệ thống KBNN tỉnh Thái Nguyên

+ Phạm vi về nội dung: Phạm vi nghiên cứu tập trung vào những vấn đề cơ

chế, quy trình kiểm soát chi NSNN về chi thường xuyên, chi ĐTXDCB, chi chương

trình mục tiêu Quốc gia

+ Phạm vi về thời gian: Tài liệu tổng quan được thu thập từ những tài liệu đã

công bố từ năm 2004 đến năm 2011 Số liệu phân tích thực trạng được sử dụng chủ

yếu trong 3 năm từ năm 2008 đến 2010

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Luận văn đã hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý chi NSNN qua KBNN,

phân tích và đánh giá thực trạng làm rõ thêm về cơ sở lý luận và thực tiễn về quản

lý chi NSNN qua KBNN trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác

quản lý chi NSNN ở Việt Nam nhằm sử dụng NSNN có hiệu quả hơn, góp phần

thúc đẩy sự phát triển KT-XH và tăng cường hội nhập quốc tế

5 Bố cục luận văn: Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục, tài liệu tham

khảo, phụ lục, nội dung chính luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Thái nguyên

Trang 3

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý chi NSNN

1.1.1.1 Cơ sở lý luận về công tác quản lý chi NSNN

1.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

 Ngân sách nhà nước (NSNN)

Mỗi một Quốc gia khi hình thành Nhà nước thì cần phải có nguồn lực để bảo

vệ chính thể nhà nước và đảm bảo cho các mặt hoạt động phát triển của mình Một

trong những nguồn lực quan trọng nhất là NSNN NSNN phục vụ cho giai cấp

thống trị Nó là công cụ để giai cấp thống trị bảo vệ nhà nước, đảm bảo hoạt động

bộ máy nhà nước, đồng thời là công cụ để hoàn thiện quản lý nhà nước của mình

Trong hệ thống tài chính, NSNN là khâu chủ đạo, là điều kiện vật chất quan trọng

để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Như vậy, NSNN là một phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử Nó phản ánh

những mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã

hội trong điều kiện còn tồn tại quan hệ hàng hóa - tiền tệ và được sử dụng như một

công cụ thực hiện các chức năng của Nhà nước

NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà

nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực

hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

 Chi ngân sách nhà nước

Quỹ NSNN là toàn bộ các khoản tiền của Nhà nước, kể cả tiền vay, có trên

tài khoản của NSNN các cấp; Quỹ NSNN được quản lý tại KBNN

Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc

không hoàn trả trực tiếp nhằm trang trải cho chi phí bộ máy nhà nước và thực hiện

các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước

Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

 Quản lý chi NSNN

Quản lý chi NSNN là sự tác động của Nhà nước vào hoạt động của các đối tượng có thu nhập và các đối tượng sử dụng một phần thu nhập đó bằng các công cụ quản lý vĩ mô của mình để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước Đối tượng tác động của quản lý chi NSNN là toàn bộ các khoản chi của NSNN được bố trí để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Tác động của quản lý chi NSNN mang tính tổng hợp, hệ thống gồm nhiều biện pháp khác nhau, được thể hiện dưới dạng

cơ chế quản lý Cơ sở của quản lý chi NSNN là sự vận dụng các quy luật kinh tế xã hội phù hợp với thực tiễn khách quan Mục tiêu của quản lý chi NSNN là đem lại một kết quả tốt nhất về kinh tế xã hội, đồng thời giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa một bên là Nhà nước và một bên là các chủ thể khác trong xã hội

KBNN có trách nhiệm quản lý quỹ NSNN (quỹ ngân sách trung ương và quỹ ngân sách các cấp chính quyền địa phương), thống nhất quản lý, tổ chức thanh toán, điều hoà vốn và tiền mặt thuộc quỹ NSNN nhằm tập trung nhanh các khoản thu; đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán, chi trả của NSNN

1.1.1.2 Phân loại chi ngân sách nhà nước

Căn cứ theo yếu tố thời gian và phương thức quản lý, chi ngân sách nhà nước

có các loại sau:

 Chi đầu tư phát triển

Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn; Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật;

Trang 4

Chi bổ sung dự trữ Nhà nước; Chi đầu tư phát triển thuộc các CTMT Quốc gia, dự

án Nhà nước; Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

 Chi thường xuyên

Các hoạt động sự nghiệp giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin

văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các hoạt

động sự nghiệp khác do các cơ quan Nhà nước quản lý; Các hoạt động sự nghiệp

kinh tế do các cơ quan Nhà nước quản lý; Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã

hội; Hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đảng cộng sản và các tổ chức chính trị -

xã hội; Trợ giá theo chính sách của Nhà nước; Phần chi thường xuyên thuộc các

CTMT quốc gia, dự án Nhà nước; Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội; Trợ cấp cho các đối

tượng chính sách xã hội; Hỗ trợ các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức

xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; Các khoản chi thường xuyên khác theo quy

định của pháp luật

 Chi khác

NSNN còn các khoản chi: Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do chính phủ

vay; Chi viện trợ; Chi cho vay theo quy định của pháp luật; Chi bổ sung quỹ dự trữ

tài chính Nhà nước; Chi bổ sung ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới; Chi trả

gốc và lãi các khoản huy động đầu tư kết cấu hạ tầng theo quy định tại khoản 3 điều

8 của Luật NSNN; Chi chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách năm trước sang năm

sau

1.1.1.3 Vai trò và đặc điểm của chi ngân sách nhà nước

NSNN là công cụ quan trọng của Nhà nước để điều chỉnh vĩ mô đối với toàn

bộ đời sống kinh tế, xã hội, định hướng phát triển sản xuất điều tiết thị trường, bình

ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội và đảm bảo an ninh Quốc gia Sự thay đổi cơ

chế quản lý kinh tế từ quản lý tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều

tiết của Nhà nước làm thay đổi căn bản vai trò của NSNN Trong nền kinh tế thị

trường nước ta hiện nay vai trò của NSNN có sự thay đổi cơ bản hết sức quan trọng

Việc từ bỏ nguyên tắc quản lý trực tiếp theo kiểu “cấp phát, giao nộp” đối với khu

vực quốc doanh và các cơ quan Nhà nước đã tạo điều kiện cho NSNN đảm nhận vai

trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ các hoạt kinh tế - xã hội Vai trò này được thể hiện

ở chỗ trong khi xoá bỏ mọi hình thức cấp phát và huy động theo kiểu bao cấp nhằm tăng cường tự chủ và tự chịu trách nhiệm của tất cả các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư, đồng thời sử dụng vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước được thực hiện chủ yếu thông qua công cụ Ngân sách

Kinh tế thị trường một mặt thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động xã hội, đẩy mạnh quá trình xã hội hoá sản xuất, tạo ra tính năng động và tự điều chỉnh của nền kinh tế Mặt khác tạo ra sự độc quyền trong nền kinh

tế làm cho giá cả không phản ánh được quan hệ cung cầu đích thực, hạn chế sản lượng sản xuất hàng hoá, từ đó dẫn đến thất nghiệp, cung cầu lao động mất cân đối Mục tiêu cao nhất của các chủ thể kinh doanh trong kinh tế thị trường là chạy theo lợi nhuận, không chú ý đến quyền lợi chung dẫn đến hiện tượng phân cực giàu, nghèo, phát triển, tự phát, thiếu hụt hàng hoá dịch vụ công cộng, tàn phá môi trường Có thể nói những khuyết tật đó, bản thân kinh tế thị trường không thể khắc phục được mà cần có sự can thiệp của Nhà nước thông qua các công cụ chủ yếu như pháp luật, kế hoạch, tổ chức, tài chính, tiền tệ Trong các công cụ đó NSNN được coi là công cụ quan trọng nhất

NSNN tham gia điều tiết thị trường góp phần bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát NSNN định hướng phát triển sản xuất thông qua các khoản chi kinh tế và chi đầu tư xây dựng hệ thống các công trình giao thông thuỷ lợi Chính phủ có thể tạo điều kiện và hướng nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp vào những lĩnh vực và những vùng cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế mới, điều hoà thị truờng hàng hoá và thị truờng sức lao động giữa các vùng và các khu vực

NSNN điều chỉnh trong lĩnh vực thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội Trong

chính sách Tài chính về điều chỉnh phân phối trong thu nhập, vai trò quan trọng của

Ngân sách được thể hiện với phạm vi rất rộng lớn ở cả hai mặt thu và chi Ở đây Nhà nước đóng vai trò trung tâm phân phối lại, nhằm chuyển bớt một phần thu nhập

từ các tầng lớp giầu có sang tầng lớp những người nghèo và rất nghèo Đồng thời Nhà nước cũng là người thay mặt xã hội thực hiện nghĩa vụ cơ bản đối với các đối

Trang 5

tượng như trẻ mồ côi, người già không nơi nương tựa, người tàn tật và các đối

tượng thương binh, gia đình liệt sỹ Tuy nhiên vấn đề sử dụng công cụ NSNN để

điều chỉnh các vấn đề xã hội không đơn giản, đòi hỏi phải được nghiên cứu đầy đủ

và có sự thống nhất giữa chính sách và biện pháp

Như vậy bàn về vai trò NSNN trong nền kinh tế thị trường, một vấn đề nổi

lên rất rõ nét là hoạt động của nó đã chuyển biến một cách căn bản và toàn diện, từ

chỗ chủ yếu với những khu vực kinh tế Nhà nước và các nhu cầu chi tiêu cho bộ

máy Nhà nước trong cơ chế bao cấp và quan hệ hiện vật, sang một bình diện mới

với phạm vi rộng rãi hơn, bao quát hơn Thông qua hoạt động thu chi NSNN thực

hiện tái phân phối thu nhập đảm bảo sự công bằng của xã hội, trợ giúp trực tiếp

dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ

cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu, các

khoản chi để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù chữ Cụ

thể qua các hoạt động thu NSNN để điều tiết thu nhập, điều tiết tiêu dùng đảm bảo

thu nhập chính đáng của người lao động, hạn chế thu nhập bất chính Qua hoạt động

thu chi dưới hình thức trợ cấp để thực hiện các chính sách dân số, chính sách việc

làm, chính sách bảo trợ xã hội

NSNN là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát

triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt

động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà chính phủ đã hoạch định

để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định

và bền vững Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí

đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then

chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển

các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình

thành các doanh nghiệp Nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống

độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo

Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được

sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về

cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn NSNN đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh Như trên đã nói NSNN là khâu tài chính tập trung quan trọng nhất, là kế hoạch tài chính cơ bản, tổng hợp của Nhà nước Nó giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính, có tính quyết định sự phát triển của nền kinh tế quốc dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa NSNN lành mạnh là tiền đề phát triển kinh tế Một mặt NSNN là kết quả của hoạt động kinh tế - xã hội, mặt khác nó có tác dụng tích cực đối với việc phát triển kinh tế Thông qua phân phối NSNN có thể điều chỉnh cơ cấu, ưu tiên cho những lĩnh vực quan trọng, cân bằng những vấn đề kinh tế - xã hội, môi trường như thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, làm thay đổi bộ mặt xã hội cả thành thị và nông thôn, tăng thu nhập bình quân và nâng cao đời sống nhân dân Chi cho phát triển kinh tế là khoản chi có tính chất tích luỹ, tái sản xuất ra của cải vật chất, sản xuất mở rộng, tạo ra nhiều công ăn việc làm và hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp

Từ đó ta thấy NSNN có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền tài chính quốc gia, nó tác động đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội NSNN là cân đối tài chính tiền

tệ quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển kinh tế, công bằng xã hội và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế

Chi NSNN gắn chặt với hoạt động của bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội mà Nhà nước đảm nhận Quy mô tổ chức bộ máy Nhà nước, khối lượng, phạm vi nhiệm vụ do Nhà nước đảm đương có quan hệ tỷ lệ thuận với tổng mức chi NSNN Cơ quan quyền lực cao nhất mà Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ các khoản chi của NSNN Ở Việt Nam đó là Quốc hội

Các khoản chi NSNN thường được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ mô, nghĩa là các khoản chi NSNN phải được xem xét một cách toàn diện dựa vào mức độ thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội mà các khoản chi đó đảm nhiệm Chi NSNN gắn với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như tiền lương, giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái và các phạm trù khác thuộc lĩnh vực tiền tệ Các khoản chi NSNN thường

Trang 6

mang tính chất không bồi hoàn trực tiếp Tính không hoàn trả trực tiếp thể hiện ở

chỗ không phải bất cứ khoản chi nào cũng đều được hoàn lại bằng các khoản thu

tương ứng Đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt các khoản chi NSNN với các

khoản tín dụng, các khoản chi cho hoạt động kinh doanh

1.1.1.4 Nguyên tắc chi ngân sách nhà nước

NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách địa

phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có HĐND và UBND

Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và quan hệ giữa các cấp được thực hiện theo các

nguyên tắc sau:

Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được

phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể; Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ

đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ

những địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách;

Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu đảm bảo để thực hiện những

nhiệm vụ được giao; tăng cường nguồn lực cho ngân sách xã HĐND tỉnh, thành

phố trực thuộc trung ương (cấp tỉnh) quyết định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi

giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh

tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp;

1.1.1.5 Đặc điểm và nguyên tắc quản lý chi ngân sách nhà nước

 Đặc điểm quản lý chi NSNN

Theo quy định tại điều 52 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP Trách nhiệm của các

cơ quan và cá nhân trong việc quản lý chi NSNN như sau:

- Cơ quan tài chính: Thẩm tra việc phân bổ dự toán ngân sách cho các đơn vị

sử dụng; Bố trí nguồn để đáp ứng các nhu cầu chi, trường hợp các đơn vị sử dụng

ngân sách chi vượt quá khả năng thu và huy động của quỹ ngân sách thì cơ quan tài

chính phải chủ động thực hiện các biện pháp vay tạm thời theo quy định để bảo đảm

nguồn; Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi tiêu và sử dụng ngân sách ở các cơ

quan, đơn vị sử dụng ngân sách…

- Kho bạc Nhà nước: Thực hiện việc thanh toán, chi trả các khoản chi NSNN căn cứ vào dự toán được giao, quyết định chi của thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN và tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết khác theo quy định của Chính phủ; Có quyền từ chối các khoản chi ngân sách không đủ điều kiện chi theo quy định hoặc tạm dừng thanh toán theo yêu cầu của cơ quan tài chính; Thủ trưởng cơ quan KBNN chịu trách nhiệm về các quyết định thanh toán, chi ngân sách hoặc từ chối thanh toán chi ngân sách…

- Đơn vị sử dụng ngân sách: Quyết định chi đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức và trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao; Quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản Nhà nước theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức; đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả Trường hợp vi phạm, tuỳ theo tính chất và mức độ, sẽ bị sử

lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Người phụ trách công tác tài chính, kế toán tại các đơn vị sử dụng ngân sách có nhiệm vụ thực hiện đúng chế độ quản lý tài chính - ngân sách, chế độ

kế toán nhà nước, chế độ kiểm tra nội bộ và có trách nhiệm ngăn ngừa, phát hiện và kiến nghị thủ trưởng đơn vị, cơ quan tài chính cùng cấp xử lý đối với những trường hợp vi phạm

Sơ đồ 1.1: Các cơ quan, đơn vị quản lý chi NSNN thuộc ngành tài chính

Sở tài chính các

Các vụ chức năng chuyên ngành quản lý tài chính thuộc Bộ Tài chính

KBNN Trung Ương

Phòng tài chính Quận, Huyện, Thành phố, Thị xã

KBNN Huyện, Thành

Trang 7

 Nguyên tắc quản lý chi NSNN

NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công

khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm

Quốc hội quyết định dự toán NSNN, phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn

quyết toán NSNN

Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó đảm bảo; việc ban

hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách sau khi dự toán đã

được cấp có thẩm quyền quyết định thì phải có giải pháp đảm bảo nguồn tài chính

phù hợp với khả năng cân đối ngân sách của từng cấp;

Trường hợp cơ quan quản lý Nhà nứơc cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản

lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình, thì phải chuyển kinh phí từ

ngân sách cấp trên cho cấp dưới thực hiện nhiệm vụ đó; Ngoài việc uỷ quyền thực

hiện nhiệm vụ chi và bổ sung nguồn thu quy định trên, không được dùng ngân sách

của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác, trừ trường hợp đặc biệt theo quy

định của Chính phủ

1.1.1.6 Chức năng, nhiệm vụ quản lý của KBNN về chi NSNN

KBNN là tổ chức thuộc Bộ tài chính, thực hiện chức năng quản lý nhà nước

về quỹ NSNN, các quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác của nhà nước; thực hiện

huy động vốn cho NSNN, cho đầu tư phát triển qua hình thức phát hành công trái,

trái phiếu theo quy định của pháp luật – KBNN có các nhiệm vụ chủ yếu sau:

1 Tập trung quản lý các khoản thu NSNN (bao gồm cả thu viện trợ, thu vay

nợ trong nước và nước ngoài); thực hiện hạch toán số thu NSNN cho các cấp ngân

sách theo quy định của pháp luật

2 Tổ chức thực hiện chi NSNN, kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi

từ NSNN theo quy định của pháp luật (bao gồm cả chi thường xuyên và chi đầu tư

XDCB, chi chương trình mục tiêu) KBNN có quyền trích từ tài khoản tiền gửi của

tổ chức,cá nhân để nộp NSNN hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu

cho NSNN theo quy định của pháp luật; có quyền từ chối thanh toán, chi trả các

khoản chi không đúng, không đủ điều kiện theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc ủy thác của các đơn vị

3 Quản lý, kiểm soát và thực hiện nhập, xuất các quỹ tài chính nhà nước; quản lý các khoản tạm thu,tạm giữ, tịch thu, ký cược, ký quỹ, thế chấp theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

4 Tổ chức hạch toán kế toán NSNN, hạch toán kế toán các quỹ và tài sản của nhà nước giao cho KBNN quản lý

5 Quản lý các tài sản quốc gia quý hiếm theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; quản lý tiền, tài sản, các chứng chỉ có giá của nhà nước và của các đơn vị, cá nhân gửi tại KBNN

6 Tổ chức huy động vốn trong nước và ngoài nước cho đầu tư phát triển thông qua phát hành công trái, trái phiếu theo đúng quy định của pháp luật; thực hiện một số dịch vụ tín dụng nhà nước theo quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình

7 Thực hiện nhiệm vụ hiện đại hóa hoạt động của hệ thống KBNN; thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế thuộc lĩnh vực KBNN theo quy định của pháp luật và phân công của Bộ trưởng Bộ tài chính

Quản lý chi NSNN là trách nhiệm của các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến việc quản lý và sử dụng kinh phí NSNN, trong đó hệ thống KBNN giữ vai trò đặc biệt quan trọng, trực tiếp kiểm soát và chịu trách nhiệm về kết quả kiểm soát của mình Luật NSNN đã quy định mọi khoản chi của NSNN chỉ được thực hiện khi có đủ điều kiện quy định, theo nguyên tắc thanh toán trực tiếp cho đơn vị sử dụng ngân sách và các tổ chức được NSNN hỗ trợ thường xuyên phải mở tài khoản tại KBNN, chịu sự kiểm tra của cơ quan tài chính và KBNN trong quá trình thanh toán và sử dụng kinh phí

KBNN chủ động bố trí vốn để chi trả đầy đủ kịp thời cho các cơ quan, đơn vị

sử dụng ngân sách theo yêu cầu, trên cơ sở dự toán ngân sách đã được duyệt Để thực hiện việc cấp phát, thanh toán kinh phí một cách kịp thời, KBNN còn thường xuyên cải tiến quy trình cấp phát, thanh toán như thực hiện hình thức thanh toán

Trang 8

điện tử trong hệ thống, cải tiến chế độ kế toán, ứng dụng tin học vào quản lý các

nghiệp vụ…Từng bước thực hiện cấp phát, thanh toán trực tiếp cho đơn vị cung cấp

hàng hoá dịch vụ theo tính chất của từng khoản chi NSNN

Trên cơ sở đó, KBNN thực hiện kiểm tra và hạch toán các khoản chi NSNN

theo đúng mục lục NSNN; đồng thời cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin

cần thiết, phục vụ công tác chỉ đạo và điều hành của cơ quan tài chính và chính

quyền các cấp Ngoài ra, KBNN còn phối hợp chặt chẽ với cơ quan tài chính trong

việc bố trí, sắp xếp các nhu cầu chi tiêu, bảo đảm thu chi NSNN luôn được cân đối,

việc điều hành quỹ NSNN được thuận lợi KBNN phải kiểm tra việc sử dụng kinh

phí NSNN cấp cho các đơn vị, tổ chức kinh tế, bảo đảm đúng mục đích, đúng chế

độ định mức chi tiêu của Nhà nước Công việc kiểm tra đó được KBNN thực hiện

thông qua việc xem xét các hồ sơ, tài liệu chi NSNN trên các phương diện như: dự

toán ngân sách được duyệt; thẩm quyền chuẩn chi; chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi

của nhà nước Nếu phát hiện thấy cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế sử dụng kinh phí

được NSNN cấp chi không đúng mục đích, không đúng chế độ, chính sách của nhà

nước, KBNN từ chối cấp phát thanh toán KBNN hoạt động có tính độc lập tương

đối, theo cơ chế tác động trở lại đối với các cơ quan, đơn vị Vì vậy, không những

đã hạn chế được tình trạng lãng phí, thất thoát, tiêu cực, mà còn bảo đảm cho việc

sử dụng kinh phí NSNN đúng mục đích, hợp pháp, tiết kiệm, có hiệu quả Đồng

thời tham gia kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán, góp phần

đề cao kỷ cương, kỷ luật tài chính Thông qua việc cấp phát, thanh toán các khoản

chi NSNN, KBNN còn tiến hành tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình chi NSNN

qua KBNN theo từng địa bàn, từng cấp ngân sách và từng khoản chi chủ yếu, rút ra

những nhận xét, đánh giá về những kết quả đã được, những hạn chế, tồn tại và

nguyên nhân Từ đó, cùng với các cơ quan hữu quan phối hợp nghiên cứu nhằm cải

tiến và hoàn thiện cơ chế cấp phát, thanh toán NSNN qua KBNN

Quản lý quỹ NSNN là chức năng cơ bản và chủ yếu của KBNN Với chức

năng nhiệm vụ của KBNN được Nhà nước giao đã khẳng định vị trí của hệ thống

Kho bạc trong việc quản lý quỹ NSNN nói chung, quản lý và kiểm soát chi NSNN

nói riêng, bước đầu tạo nên sự đồng bộ của các quá trình quản lý ngân sách, từ khâu xây dựng dự toán, phân bổ dự toán đến khâu kiểm soát, thanh toán và quyết toán NSNN, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài chính - Ngân sách, là điều cần thiết không thể thiếu được bước chuyển sang kinh tế thị trường và tập trung vốn phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

1.1.1.7 Sự cần thiết nâng cao vai trò quản lý của KBNN về chi NSNN

Quản lý chi NSNN là trách nhiệm của các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến việc quản lý và sử dụng kinh phí NSNN, trong đó hệ thống KBNN giữ vai trò đặc biệt quan trọng, trực tiếp kiểm soát và chịu trách

nhiệm về kết quả kiểm soát của mình

 Do yêu cầu phát triển cuả nền kinh tế và quản lý tài chính công

Trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính nói chung và đổi mới cơ chế quản lý NSNN nói riêng, đòi hỏi mọi khoản chi của NSNN phải bảo đảm tiết kiệm

và có hiệu quả, bởi vì nó là nguồn lực của đất nước, trong đó chủ yếu là tiền của và công sức lao động do nhân dân đóng góp, do đó không thể chi tiêu một cách lãng phí Vì vậy, quản lý chặt chẽ các khoản chi NSNN thực sự trở thành mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và của toàn xã hội Thực hiện tốt công tác này sẽ có ý nghĩa rất to lớn trong việc thực hành tiết kiệm, tập trung mọi nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế - xã hội, chống các hiện tượng tiêu cực, chi tiêu lãng phí, góp phần lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, kiềm chể lạm phát Góp phần nâng cao trách nhiệm và phát huy được vai trò của các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến công tác quản lý và sử dụng NSNN Đặc biệt, theo Luật NSNN quy định, hệ thống KBNN chịu trách nhiệm kiểm soát thanh toán, chi trả trực tiếp từng khoản chi NSNN cho các đối tượng sử dụng đúng với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được Nhà nước giao, góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật tài chính

 Do yêu cầu của mở cửa hội nhập, quản lý của KBNN về chi NSNN phải phù

hợp với thông lệ Quốc tế

Trang 9

Theo kinh nghiệm quản lý NSNN của các nước và khuyến nghị của các tổ

chức tài chính quốc tế, việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN chỉ thực hiện

có hiệu quả trong điều kiện thực hiện cơ chế chi trả trực tiếp từ cơ quan quản lý quỹ

NSNN đến từng đối tượng sử dụng ngân sách Có như vậy mới có thể bảo đảm đề

cao kỷ cương, kỷ luật quản lý tài chính nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả sử

dụng kinh phí của NSNN Đồng thời tính tương đồng trong cơ cấu tổ chức của bộ

máy tài chính, trong cơ chế quản lý chi của KBNN đối với chi NSNN tạo điều kiện

giao lưu hợp tác, học tập kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của

KBNN giữa các nước trong khu vực và trên thế giới

 Do đòi hỏi thực hiện kịp thời và có hiệu quả mục tiêu phát triển kinh tế - xã

hội

Trong cơ chế thị trường, chi NSNN không còn là kế hoạch cấp vốn duy nhất

cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, Chính phủ phải điều chỉnh

chi tiêu Ngân sách cho các mục tiêu trọng tâm liên quan đến các hoạt động kinh tế -

xã hội của khu vực Nhà nước mà khu vực tư nhân không thể đáp ứng Vì vậy chi

tiêu Ngân sách cho các mục đích và lĩnh vực tiêu dùng của xã hội, các hoạt động sự

nghiệp có tính chất thường xuyên phải được bố trí ưu tiên ngay từ khi xây dựng và

thiết lập cân đối Ngân sách Mặt khác chi cho phát triển chủ yếu phải nhằm đầu tư

vào kết cấu hạ tầng để tạo hành lang và môi trường cho các hoạt động kinh tế của cả

khu vực Nhà nước lẫn khu vực tư nhân cùng phát triển

Đây là cơ sở ban đầu để hình thành lên sự cân đối NSNN, đảm bảo nguyên

tắc hợp lý, tiết kiệm các khoản chi Ngân sách Điều này có nghĩa là chi cho các hoạt

động kinh tế - xã hội có tính chất thường xuyên bao gồm: Các khoản chi cho các

hoạt động sự nghiệp tiêu dùng chung của xã hội như Giáo dục đào tạo, khoa học kỹ

thuật, y tế, văn hoá xã hội, phúc lợi và việc làm, các sự nghiệp kinh tế của Nhà

nước, đảm bảo an ninh quốc gia và trật tự xã hội, bộ máy quản lý Nhà nước và trợ

giá thực hiện các chính sách của Chính phủ bị khống chế tối đa trong khuôn khổ

khả năng thu trong nước có được

Chi đầu tư phát triển của Ngân sách trong cơ cấu cân đối thu chi, cần được

bố trí để đầu tư cho đối tượng thuộc các công trình kết cấu hạ tầng, các công trình kết cấu then chốt có tác động thay đổi cơ cấu kinh tế của cả nước và từng vùng, vốn đầu tư ban đầu cho các doanh nghiệp Nhà nước, chi trợ giá đảm bảo chính sách của Chính phủ và các khoản chi dự trữ quốc gia cần thiết

 Do công tác quản lý chi NSNN còn bất cập, tồn tại và hạn chế

Cơ chế quản lý, cấp phát thanh toán chi NSNN tuy đã được thường xuyên sửa đổi và từng bước hoàn thiện, nhưng cũng chỉ có thể quy định được những vấn

đề chung nhất, mang tính nguyên tắc Vì vậy, nó không thể bao quát hết được tất cả những hiện tượng nẩy sinh trong quá trình thực hiện chi NSNN Cũng chính từ đó,

cơ quan tài chính và KBNN thiếu cơ sở pháp lý cụ thể cần thiết để thực hiện kiểm tra, kiểm soát từng khoản chi NSNN Như vậy, cấp phát chi NSNN đối với cơ quan tài chính chỉ mang tính chất phân bổ NSNN, còn đối với KBNN thực chất chỉ là xuất quỹ NSNN, chưa thực hiện được việc chi trả trực tiếp đến từng đơn vị sử dụng kinh phí, chưa phát huy hết vai trò kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN Mặt khác, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động KT-XH, công tác chi NSNN cũng ngày càng đa dạng và phức tạp hơn Điều này cũng làm cho cơ chế quản lý chi NSNN nhiều khi không theo kịp với sự biến động và phát triển của hoạt động chi NSNN, trong đó, một số nhân tố quan trọng như hệ thống tiêu chuẩn định mức chi tiêu còn xa rời thực tế, thiếu đồng bộ, thiếu căn cứ để thẩm định; chưa có một cơ chế quản lý chi phù hợp và chặt chẽ đối với một số lĩnh vực Mặt khác, công tác kế toán chưa được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ đã tạo ra những kẽ hở trong

cơ chế quản lý chi NSNN Từ thực tế trên, đòi hỏi những cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc kiểm tra, giám sát quá trình chi tiêu để phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hiện tượng tiêu cực của những đơn vị sử dụng kinh phí NSNN; đồng thời phát hiện những kẽ hở trong cơ chế quản lý để từ đó có những giải pháp và kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung kịp thời những cơ chế, chính sách hiện hành, tạo nên một cơ chế quản lý chi chặt chẽ

Trang 10

Một thực tế khá phổ biến là các đơn vị sử dụng kinh phí được NSNN cấp

thường có chung một tư tưởng là tìm mọi cách sử dụng hết số kinh phí được cấp, ít

quan tâm đến việc chấp hành đúng mục đích, đối tượng và dự toán đã được duyệt

Các đơn vị này chi tiêu không có trong dự toán đã được phê duyệt, không đúng chế

độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu; thiếu các hồ sơ, chứng từ pháp lý có liên

quan…Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần thiết phải có một tổ chức thứ ba có thẩm quyền,

độc lập và khách quan, có kỹ năng nghề nghiệp, có vị trí pháp lý và uy tín cao để

thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát và đưa ra ý kiến nhận xét, kết luận chính xác đối

với khoản chi của đơn vị bảo đảm có trong dự toán được duyệt; đúng chế độ, định

mức, tiêu chuẩn được duyệt; có đủ hồ sơ, chứng từ thanh toán theo đúng quy

định…, có giải pháp chấn chỉnh và xử lý kịp thời các gian lận, ngăn chặn các sai

phạm và lãng phí có thể xảy ra trong việc sử dụng NSNN của các cơ quan, đơn vị,

bảo đảm tiết kiệm và có hiệu quả

Các khoản chi của NSNN đều mang tính chất không hoàn trả trực tiếp Tính

chất cấp phát trực tiếp không hoàn lại của các khoản chi NSNN là một ưu thế cực

kỳ to lớn đối với các đơn vị sử dụng NSNN Trách nhiệm của họ là phải chứng

minh được việc sử dụng các khoản kinh phí bằng các kết quả công việc cụ thể đã

được nhà nước giao Tuy nhiên, việc dùng những chỉ tiêu định tính và định lượng

để đánh giá và đo lường kết quả công việc trong nhiều trường hợp là thiếu chính

xác và gặp không ít khó khăn Vì vậy, cần phải có một cơ quan chức năng có thẩm

quyền để thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi của NSNN, bảo đảm

tương xứng giữa khoản tiền nhà nước đã chi ra với kết quả công việc mà các đơn vị

sử dụng NSNN thực hiện Xuất phát từ thực tế khách quan trên, KBNN được giao

nhiệm vụ tập trung và phản ảnh đầy đủ, kịp thời các khoản thu NSNN quy định

Thực hiện hạch toán số thu NSNN theo quy định Thực hiện chi NSNN, kiểm

soát, thanh toán, chi trả các khoản chi NSNN theo quy định của pháp luật Với

nhiệm vụ đó, với các điều kiện quản lý NSNN, nên KBNN được giao kiểm soát

chi NSNN là phù hợp với thực tế khách quan

1.1.1.8 Nội dung của công tác quản lý chi Ngân sách nhà nước

 Điều kiện cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN

Chi NSNN chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau:

Một là: Đã có trong dự toán chi NSNN hàng năm được giao Dự toán chi

NSNN của các đơn vị phải phản ảnh đầy đủ các khoản chi theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền ban hành Đối với các đơn vị sự nghiệp

có thu, trong dự toán phải ghi rõ các nguồn thu của đơn vị được sử dụng và phần hỗ trợ của NSNN; các khoản chi phải theo nhóm mục của mục lục NSNN Cơ quan tài chính cùng cấp có trách nhiệm kiểm tra kết quả lập và giao dự toán ngân sách cho các đơn vị Nếu có sự sai lệch so với nội dung dự toán được cấp có thẩm quyền giao thì yêu cầu đơn vị điều chỉnh lại

Hai là: Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm

quyền quy định: Định mức tiêu chuẩn chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành là căn cứ quan trọng để lập dự toán chi NSNN hàng năm và là căn cứ để KBNN kiểm soát khi cấp phát thanh toán cho đơn vị sử dụng ngân sách Những khoản chi chưa có tiêu chuẩn định mức được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, KBNN căn cứ vào dự toán được cơ quan cấp trên trực tiếp của đơn vị sử dụng ngân sách phê duyệt làm căn cứ để kiểm soát

Ba là: Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được uỷ

quyền quyết định chi: Trong quản lý và điều hành ngân sách, chuẩn chi là sự cho phép, đồng ý chi Thẩm quyền chuẩn chi phải là người đứng đầu cơ quan, đơn vị, đồng thời là chủ tài khoản, đã được cơ quan nhà nuớc có thẩm quyền phê duyệt Chủ tài khoản phải đăng ký chữ ký mẫu và con dấu của cơ quan, đơn vị tại KBNN nơi giao dịch

Bốn là: Các khoản chi phải có đủ hồ sơ, chứng từ hợp lệ Mỗi khoản chi đều

phải lập theo mẫu chứng từ quy định và được cấp có thẩm quyền duyệt KBNN có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ trước khi cấp phát, thanh toán kinh phí NSNN cho đơn vị sử dụng

Trang 11

Ngoài các điều kiện quy định trên, trường hợp sử dụng vốn, kinh phí NSNN

để đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và các

công việc khác phải qua đấu thầu hoặc thẩm định giá thì còn phải tổ chức đấu thầu

hoặc thẩm định giá theo quy định của pháp luật

Các khoản chi có tính chất thường xuyên được chia đều trong năm để chi; các

khoản chi có tính chất thời vụ hoặc chỉ phát sinh vào một số thời điểm như đầu tư

XDCB, mua sắm, sửa chữa lớn và các khoản chi có tính chất không thường xuyên

khác phải thực hiện theo dự toán quý được đơn vị dự toán cấp I giao cùng với giao

dự toán năm

Cơ chế quản lý chi NSNN của KBNN

 Cơ chế quản lý chi thường xuyên

Cơ quan giao dự toán NSNN: Căn cứ vào khả năng ngân sách hàng năm

được Quốc hội, HĐND các cấp quyết định dự toán chi tiêu trong đó có chi thường

xuyên NSNN cho các ngành, các địa phương Bộ Tài chính đối với ngân sách trung

ương, UBND các cấp đối với ngân sách địa phương ra quyết định giao dự toán cho

các cấp, các ngành Sau đó các cấp, các ngành giao dự toán cho các đơn vị sử dụng

NSNN

Đơn vị sử dụng kinh phí chi thường xuyên NSNN: Khi có dự toán năm được

giao, các đơn vị sử dụng NSNN gửi KBNN nơi giao dịch, đây là nguồn kinh phí

năm đơn vị được sử dụng Căn cứ dự toán được giao, hàng tháng các đơn vị sử

dụng ngân sách đến KBNN nơi giao dịch làm thủ tục rút kinh phí để chi tiêu Tùy

theo từng nhóm mục và mục chi, đơn vị phải hoàn thành đầy đủ các hồ sơ, chứng từ

theo chế độ quy định Đồng thời việc rút kinh phí phải theo đúng chế độ chi tiêu của

cấp có thẩm quyền quyết định

KBNN nơi thực hiện cơ chế kiểm soát chi thường xuyên NSNN: Công tác

kiểm soát chi NSNN thực hiện căn cứ vào hồ sơ chứng từ của đơn vị sử dụng ngân

sách gửi KBNN theo một quy trình chặt chẽ, từ kế toán viên, cán bộ kế hoạch đến

Trưởng phòng Kế toán, Trưởng phòng Kế hoạch, sau đó đến lãnh đạo KBNN duyệt

chi NSNN KBNN căn cứ vào dự toán được giao của đơn vị; căn cứ vào chế độ tiêu

chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; căn cứ vào quyết định chi của thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN; căn cứ vào hồ sơ chứng từ thanh toán của từng loại chi đảm bảo đúng mục chi Khi đủ các điều kiện chi, KBNN kiểm tra đúng sẽ tiến hành thanh toán cho đơn vị, nếu sai yêu cầu đơn vị phải hoàn thiện hoặc sẽ từ chối thanh toán KBNN có quyền từ chối thanh toán các khoản chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định của cơ quan nhà nước

và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình

 Cơ chế quản lý chi Đầu tư XDCB và CTMT

Nguồn vốn đầu tư XDCB và CTMT do hệ thống KBNN kiểm soát là vốn NSNN, bao gồm vốn trong nước, vốn vay nước ngoài của Chính phủ và vốn viện trợ nước ngoài cho Chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan Nhà nước, thực hiện cấp phát cho các dự án đầu tư thuộc đối tượng sử dụng vốn NSNN theo quy định của Luật NSNN, Luật đầu tư và Luật xây dựng

Đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng một phần vốn tiền tệ đã được tạo lập qua thu NSNN để tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất và để dự trữ hàng hóa Nhà nước đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng của nền kinh

tế Chính vì ý nghĩa đó khoản chi này là chi cho tích lũy nhằm thực hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định , từng bước tăng cường và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế Kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB, vốn CTMT qua KBNN được thực hiện theo những nguyên tắc sau đây:

Thứ nhất, tất cả các khoản chi đầu tư XDCB qua hệ thống KBNN phải được

kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán Các khoản chi phải đúng định mức, đơn giá trong dự toán được duyệt của cấp có thẩm quyền, được bố trí kế hoạch vốn đầu tư và được chủ đầu tư chuẩn chi

Thứ hai, tất cả các chủ dự án đều phải mở tài khoản cấp phát vốn đầu tư tại

KBNN nơi thuận tiện giao dịch thanh toán

Thứ ba, KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ , chứng từ, điều kiện chi

và thực hiện cấp phát thanh toán kịp thời các khoản chi đầu tư XDCB , CTMT theo

Trang 12

đúng quy định; tham gia với cơ quan tài chính, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm

quyền trong việc kiểm tra tình hình cấp phát thanh toán các dự án; xác nhận số thực

chi cho các dự án qua hệ thống KBNN; KBNN có quyền từ chối thanh toán chi trả

và thông báo cho chủ dự án biết đồng thời gửi cơ quan cấp trên của chủ đầu tư đối

với các trường hợp chi sai mục đích, đối tượng theo dự toán đã được duyệt hoặc các

trường hợp vận dụng sai định mức, đơn giá

Thứ tư, mọi khoản chi đầu tư XDCB, CTMT qua hệ thống KBNN đều được

hạch toán bằng đồng Việt Nam theo từng niên độ, từng cấp ngân sách và theo đúng

mục lục NSNN Các khoản chi bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao động đều

được quy đổi và hạch toán bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật,

ngày công do cơ quan có thẩm quyền ban hành

Thứ năm, tất cả các khoản chi sai chế độ đều phải được thu hồi giảm cấp

phát Căn cứ vào quyết định của cơ quan NN có thẩm quyền KBNN có trách nhiệm

thu hồi giảm cấp phát các khoản chi đã được thanh toán từ NSNN

 Quy trình quản lý chi NSNN của KBNN

* Việc cấp phát các khoản chi thường xuyên: Căn cứ vào dự toán NSNN được

giao, tiến độ triển khai công việc và điều kiện chi ngân sách, thủ trưởng đơn vị dự

toán quyết định chi gửi KBNN nơi giao dịch, kèm theo các tài liệu cần thiết theo

chế độ quy định; KBNN kiểm tra tính hợp lệ hợp pháp của các tài liệu do đơn vị sử

dụng ngân sách gửi, thực hiện việc thanh toán khi có đủ các điều kiện theo quy

định; Việc thanh toán vốn và kinh phí ngân sách thực hiện theo nguyên tắc trực tiếp

từ KBNN cho người hưởng lương, trợ cấp xã hội và người cung cấp hàng hoá, dịch

vụ; Đối với các khoản chi chưa có điều kiện thực hiện việc thanh toán trực tiếp,

KBNN tạm ứng cho đơn vị sử dụng NSNN để chủ động chi theo dự toán được giao,

sau đó thanh toán với KBNN

Chú thích qui trình chi NSNN:

1 Các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương; UBND Tỉnh, Thành phố, Huyện, Xã;

Các đơn vị dự toán cấp I, cấp II sau khi được cơ quan Nhà nước có thẩm

quyền giao dự toán năm, tiến hành phân bổ, giao dự toán chi NSNN cho các đơn vị sử dụng NSNN (đơn vị dự toán cấp III)

2a Đồng thời với việc phân bổ, giao dự toán cho đơn vị dự toán cấp III, gửi phân bổ dự toán cho KBNN Trung ương, Sở Giao dịch KBNN Trung ương để kiểm tra và thông báo tiếp cho KBNN Tỉnh

2b Trường hợp các đơn vị dự toán đóng tại các tại các địa phương thì dự toán cấp I (TW) gửi phân bổ, giao dự toán cho các đơn vị cấp III và KBNN các Tỉnh nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch để nhập dự toán và kiểm soát chi dự toán

3 Trường hợp các đơn vị cấp I và cấp II phân bổ tiếp cho các đơn vị cấp III

mở tài khoản giao dịch tại KBNN các Tỉnh, KBNN Trung ương thông báo dự toán, kế hoạch vốn cho KBNN các Tỉnh

4 Đơn vị dự toán cấp III khi có nhu cầu chi, thanh toán gửi hồ sơ chứng từ đến KBNN nơi mở tài khoản dự toán để thực hiện thanh toán (qua bộ phận “1 cửa”)

5a Đối với các trường hợp phải kiểm soát chi NSNN, bộ phận “1 cửa” sẽ chuyển chứng từ hồ sơ thanh toán cho bộ phận kiểm soát chi để kiểm soát 5b Đối với các trường hợp hồ sơ, chứng từ đã đầy đủ, rõ ràng không phải kiểm soát thì bộ phận “1 cửa” chuyển chứng từ sang bộ phận kế toán để thanh toán cho đơn vị

6 Sau khi kiểm soát xong, bộ phận kiểm soát chi sẽ chuyển chứng từ thanh toán cho bộ phận kế toán thanh toán để thanh toán cho đơn vị

7a Trường hợp thanh toán qua ngân hàng, bộ phận kế toán thanh toán làm thủ tục thanh toán qua hệ thống ngân hàng đến các đơn vị hưởng mở tài khoản tại các ngân hàng

7b Trường hợp thanh toán bằng tiền mặt (lương, phụ cấp lương…) bộ phận kế toán sau khi hạch toán xử lý chứng từ xong sẽ chuyển cho bộ phận kho quĩ

để chi tiền trực tiếp cho đơn vị dự toán

8 Bộ phận kho quĩ chi tiền cho các đơn vị dự toán bằng tiền mặt

Trang 13

Sơ đồ 1.2: Qui trình kiểm soát, thanh toán chi NSNN qua KBNN

* Việc cấp phát vốn đầu tư XDCB, CTMT: Căn cứ vào dự toán ngân sách năm

được giao, giá trị khối lượng công việc đã thực hiện và điều kiện chi ngân sách, chủ

đầu tư lập hồ sơ đề nghị thanh toán kèm theo các tài liệu cần thiết theo quy định gửi

cơ quan KBNN; Cơ quan KBNN kiểm tra hồ sơ đề nghị thanh toán của chủ đầu tư

và thanh toán khi có đủ các điều kiện theo quy định; Tất cả các khoản chi NSNN

- KBNN Tỉnh, Thành phố

- KBNN Huyện

KBNN – Trung ương

Sở giao dịch KBNN

- Đơn vị sử dụng NSNN (đơn vị dự toán cấp III)

Hệ thống các ngân hàng

Bộ phận kế toán thanh toán

Đơn vị cung cấp hàng hóa dịch vụ, xây lắp…

Bộ phận kho quĩ

(1)

(4)

(2a) (2b)

(5b) (3)

vị sử dụng NSNN chuẩn chi

KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN đủ điều kiện thanh toán theo quy định; KBNN có quyền yêu cầu các đơn vị sử dụng NSNN cung cấp đầy đủ các

hồ sơ, chứng từ phù hợp với từng khoản chi theo quy định; KBNN có quyền tạm đình chỉ, từ chối chi trả, thanh toán và thông báo cho đơn vị sử dụng NSNN biết; chịu trách nhiệm về quyết định của mình trong các trường hợp sau:

+ Chi không đúng mục đích, đối tượng theo dự toán được duyệt;

+ Chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; (thực hiện theo điều 10 của nghị định 60)

+ Không đủ các điều kiện chi theo quy định

1.1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý chi NSNN

1.1.2.1 Kinh nghiệm về quản lý chi NSNN tại một số nước trên thế giới

 Kinh nghiệm của Cộng hoà Pháp

Kế toán Kho bạc Nhà nước sẽ thực hiện xuất quỹ theo lệnh chuẩn chi (quyết định chi) sau khi thực hiện một loạt các kiểm tra sau:

Kiểm tra tư cách người chuẩn chi (có đúng là người chuẩn chi ra lệnh phải thanh toán); Kiểm tra tính mục đích của khoản chi (xem xét khoản chi có đúng dự toán được giao hay không); Kinh phí dành cho các khoản chi còn hay không? Kiểm tra tính hợp thức: Các công việc hoặc dịch vụ đã hoàn thành hay chưa (Biên bản nghiệm thu, hoá đơn chứng từ), trừ trường hợp đơn vị sử dụng ngân sách được tạm ứng; Kiểm tra tính chính xác của số liệu về mặt số học; Kiểm tra xem khoản chi đã được chấp thuận của Kiểm soát viên tài chính hay chưa? (chỉ kiểm tra trong trường hợp các khoản chi theo Luật định cần có sự chấp thuận của Kiểm soát viên tài chính); Kiểm tra các hồ sơ chứng từ liên quan đến khoản chi; Kiểm tra số tiền chi ra

có đúng đối tượng thụ hưởng cuối cùng

Trang 14

Nguyên tắc kiểm tra là: kiểm tra toàn bộ lệnh chuẩn chi đã đưa cho kế toán

kiểm tra trước khi thanh toán (tiền kiểm) và kiểm tra theo 8 nội dung trên

Hiện nay cơ chế quản lý và kiểm soát chi đang có những thay đổi theo

hướng nâng cao hiệu quả kiểm soát chi với những nội dung cụ thể là: những khoản

chi lớn và rủi ro thì phải tăng cường kiểm tra; giảm bớt sự trùng lắp trong kiểm tra

của người chuẩn chi và kế toán; tăng cường trách nhiệm của đơn vị chi tiêu; rút

ngắn thời gian tiến hành thanh toán, quy định rõ trách nhiệm của chuẩn chi và của

kế toán Kho bạc Để thực hiện mục tiêu đó thì phải kiểm soát theo ngưỡng chi trên

cơ sở phân tích rủi ro các khoản chi, việc kiểm tra sẽ căn cứ vào các tiêu thức là:

phạm vi, thời điểm và cường độ kiểm tra

Để kiểm soát theo ngưỡng chi đạt hiệu quả thì phải phân tích được mức

độ rủi ro của các khoản chi, việc phân tích này dựa vào bản chất khoản chi và

chất lượng của chi tiêu đó…Việc theo dõi chất lượng của đơn vị sử dụng ngân sách

có thể đánh giá được những sai sót của đơn vị thông qua công tác thống kê của Kho

bạc về một số tiêu chí: hình thức kiểm tra; thời hạn thanh toán; tiền mặt sai sót; bản

chất sai sót; khối lượng tiền chi tiêu

Trong kiểm tra mẫu, nếu phát hiện số sai sót trên tổng món chi lớn hơn 2%

thì quay lại kiểm tra toàn bộ; nếu số sai sót nằm trong kế hoạch kiểm tra thì trách

nhiệm thuộc về kế toán kho bạc; nếu số sai sót không nằm trong kế hoạch kiểm tra

thì trách nhiệm thuộc Toà kiểm toán Để quy định được trách nhiệm giữa kế toán

kho bạc và toà kiểm toán trong kiểm soát chi thì hàng năm quy trình kiểm soát chi

của Kho bạc phải được Toà kiểm toán phê duyệt về kế hoạch và mức độ kiểm soát

các khoản chi

Công tác kiểm soát chi theo ngưỡng chi tại Pháp đã mang lại hiệu quả

thiết thực về cơ chế quản lý chi và kiểm soát chi NSNN, cụ thể là:

- Thời gian thanh toán các khoản chi giảm

- Số tiền kiểm soát lớn nhưng không phải kiểm tra nhiều món chi

 Kinh nghiệm của Canada

Theo Hiến pháp của Canada, bộ máy quản lý Nhà nước được chia làm ba cấp: Chính phủ Liên bang, Chính phủ Bang và chính quyền tỉnh Do vậy, NSNN được hình thành theo ba cấp tương ứng, mỗi cấp ngân sách được quyền có những khoản thu và có những nhiệm vụ chi riêng Quản lý chi NSNN nói chung và kiểm soát chi NSNN nói riêng được dựa trên nguyên tắc phân định rõ ràng, rành mạch về trách nhiệm, quyền hạn cũng như nghĩa vụ và lợi ích giữa chính quyền các cấp, không những đảm bảo sự hoạt động bình thường, có hiệu quả của bộ máy hành chính Nhà nước mà còn đảm bảo được việc cung cấp các dịch vụ công cộng có chất lượng cao trên toàn bộ phạm vi lãnh thổ Canada

Các cơ quan của Chính phủ tham gia vào quá trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách Liên bang gồm: Bộ Tài chính là đơn vị chủ trì lập kế hoạch thu - chi ngân sách; Tổng cục Thuế là cơ quan ngang Bộ tổ chức việc thu thuế; Kho bạc là cơ quan ngang bộ (thuộc Chính phủ) chịu trách nhiệm chấp hành và quyết toán ngân sách Kho bạc Canada cũng là cơ quan quản lý, theo dõi hoạt động của tất cả các cơ quan khác của Chính phủ; Tổng Kiểm toán Nhà nước là cơ quan trực thuộc Quốc hội (độc lập so với Chính phủ) tổ chức kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách và kiểm toán các chương trình chi tiêu công cộng của Chính phủ

Quy trình lập ngân sách liên bang hàng năm: Quy trình lập kế hoạch ngân sách liên bang ở Canada hàng năm như sau (năm ngân sách bắt đầu từ 1/4, kết thúc vào 31/3 hàng năm):

Trong tháng 6 Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Tài chính họp đánh giá và dự báo tình hình ngân sách trong năm kế hoạch và các năm sau; Từ tháng 6 đến tháng 9, các cơ quan chính phủ dự kiến chương trình, mục tiêu cụ thể của mình và dự kiến ngân sách cho các năm sau; Từ tháng 10, Bộ trưởng Bộ Tài chính đưa ra kế hoạch ngân sách trong năm tới theo các chương trình mục tiêu của Chính phủ và đề xuất của các cơ quan thuộc Chính phủ Bản kế hoạch ngân sách này chủ yếu tập trung vào các khoản chi ngân sách mới hoặc dự kiến thay đổi các khoản chi hiện hành

Trang 15

Bản kế hoạch ngân sách được công bố rộng rãi để lấy ý kiến trong nhân dân (từng

người dân có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức để góp ý kiến vào

bản dự toán ngân sách do Bộ Tài chính đưa ra); Đầu tháng 1 năm sau, căn cứ vào

các ý kiến tham gia của các cơ quan Chính phủ và đại đa số quần chúng, Chính phủ

sẽ xem xét và điều chỉnh kế hoạch ngân sách; Tháng 2 năm sau, kế hoạch ngân sách

chính thức được trình Quốc hội Trước khi đưa ra biểu quyết tại Hạ Nghị viện, Uỷ

ban Tài chính của Thượng Nghị viện tổ chức thẩm tra và soạn thảo báo cáo thẩm tra

kế hoạch ngân sách do Chính phủ trình Trong quá trình thẩm tra, Uỷ ban Tài chính

của Thượng Nghị viện tiếp tục nhận hoặc trực tiếp nghe ý kiến của nhân dân đóng

góp vào bản kế hoạch Hạ Nghị viện sẽ nghe báo cáo thẩm tra của Uỷ ban Tài chính

và biểu quyết thông qua kế hoạch ngân sách để bắt đầu thực hiện vào 1/4 hàng năm

Chấp hành ngân sách Chính phủ Liên bang: sau khi được Quốc hội thông

qua, Chính phủ Liên bang công bố chính thức kế hoạch thu - chi ngân sách vào cuối

tháng 3 hàng năm Kho bạc Canada là cơ quan chấp hành chi ngân sách Quy trình

cấp phát ngân sách được thực hiện trực tiếp qua Kho bạc và hệ thống ngân hàng

thương mại

Trong quản lý chi ngân sách, Chính phủ Canada đã thay đổi quan điểm kiểm

soát đầu vào bằng quan điểm kiểm soát theo đầu ra Có nghĩa là thay vì việc kiểm

soát chặt chẽ việc chi tiêu cụ thể của từng bộ (mang tính sự vụ) bằng việc giám sát

hiệu quả của các chương trình hoặc khoản chi tiêu do bộ đó đảm nhiệm

 Kinh nghiệm của Singapore

Nguyên lý cơ bản của lập ngân sách theo kết quả đầu ra ở Singapore là đòi

hỏi các nhà quản lý khu vực công có trách nhiệm hơn đối với công việc được giao,

đồng thời tạo điều kiện cho họ có thêm quyền tự chủ trong quản lý để đạt được mục

tiêu đã đặt ra Với việc thực hiện lập kế hoạch ngân sách theo kết quả đầu ra, các

Bộ, ngành sẽ được quản lý theo mô hình tự chủ tài chính Các cơ quan thực hiện tự

chủ tài chính là các cơ quan Nhà nước có kết quả đầu ra và mục tiêu hoạt động đã

được xác định rõ, những cơ quan này được linh hoạt trong quản lý để có thể cung

cấp dịch vụ một cách có hiệu quả hơn Một cơ quan, đơn vị được xem là tự chủ về tài chính khi có đầy đủ các yếu tố cơ bản làm cơ sở cho việc lập ngân sách theo kết quả đầu ra như sau:

Xác định được trước mục tiêu công việc và sản phẩm đầu ra: Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị sẽ được làm rõ hơn vì hàng năm họ phải xác định trước đầu ra và đặt mục tiêu công việc trình lên Bộ trưởng để được phân bổ ngân sách theo hình thức “bỏ phiếu” trước đây, ngân sách được phân bổ trên cơ sở điều chỉnh tăng dự toán theo một tỷ lệ nhất định so với dự toán thực hiện năm trước Việc điều chỉnh này sẽ bù đắp cho sự gia tăng về chi phí đầu vào

Hệ thống phân bổ ngân sách trước đây ở Singapore chủ yếu dựa trên yếu tố đầu vào, gắn với các nội dung chi cụ thể Các Bộ, ngành chỉ cần lập ngân sách theo

số lượng đầu vào cần cho hoạt động của mình mà không liên kết giữa đầu vào và đầu ra Hệ thống lập ngân sách theo kết quả đầu ra hiện nay đòi hỏi Chính phủ trở thành người mua dịch vụ thay mặt cho những người nộp thuế Chính phủ xem các

Bộ, ngành như là những người cung cấp dịch vụ và phân bổ ngân sách cho các Bộ, ngành theo mức độ công việc hoàn thành Như vậy, các Bộ, ngành sẽ có trách nhiệm hơn với công việc của mình

Có cơ chế khuyến khích việc hoàn thành mục tiêu đề ra: Theo cơ chế điều hành ngân sách hiện hành, nguồn vốn ngân sách cấp nếu cuối năm không sử dụng hết thì phải hoàn trả ngân sách Do đó, các Bộ, ngành có xu hướng cố gắng sử dụng hết nguồn ngân sách thừa trước khi kết thúc năm tài khoá Để khuyến khích hoạt động có hiệu quả hơn, các cơ quan thực hiện đạt và vượt mục tiêu ban đầu đề ra sẽ được phép giữ lại phần ngân sách còn thừa

Áp dụng cơ chế quản lý linh hoạt: Thủ trưởng cơ quan, đơn vị sẽ được trao quyền chủ động và linh hoạt tối đa đối với các vấn đề có liên quan đến tổ chức, nhân sự và tài chính trong phạm vi ngân sách được duyệt

Trong quá trình lập ngân sách theo kết quả đầu ra ở Singapore, việc xác định

kế hoạch đầu ra là một công đoạn quan trọng nhất Kế hoạch đầu ra là một công cụ tổng hợp đối với tất cả các cơ quan tự chủ, là cơ sở cho việc thực hiện lập ngân sách

Trang 16

theo kết quả đầu ra Trước hết, kế hoạch đầu ra với vai trò là một công cụ giám sát,

bao gồm một danh mục các mục tiêu hoạt động và đầu ra hoàn chỉnh trong đó cơ

quan tự chủ sẽ có nhiệm vụ phải mang lại những kết quả tương xứng với nguồn lực

được phân bổ Việc tăng cường trách nhiệm này được thực hiện đồng thời với việc

tăng cường quyền quản lý Kế hoạch đầu ra cần được soạn thảo phù hợp với kế

hoạch ngân sách năm và trong chừng mực có thể, việc phân bổ ngân sách cần gắn

liền với mức sản lượng đầu ra Chính là một công cụ để đánh giá hoạt động của đơn

vị nhằm khuyến khích đạt mục tiêu đã đặt ra

Ở Singapore, sử dụng 5 chỉ số để đánh giá kết quả hoạt động của một đơn vị,

tự chủ tài chính áp dụng theo kết quả đầu ra: kết quả tài chính; số lượng sản phẩm

đầu ra; chất lượng dịch vụ; hiệu quả hoạt động và kết quả hoạt động Thông qua các

mô hình trên chúng ta thấy rằng mỗi nước khác nhau có mô hình tổ chức khác nhau

Tuy nhiên các Kho bạc đều có chức năng và nhiệm vụ chung giống nhau đó là:

- Tổ chức quản lý tiền, tài sản của Nhà nước và thực hiện các nhiệm vụ tập

trung Ngân sách, thanh toán chi trả của Chính phủ

- Huy động các nguồn vốn trong nước và nước ngoài để bù đắp thiếu hụt

Ngân sách Nhà nước và đầu tư (cả trong nước và nước ngoài)

- Thực hiện chức năng kế toán Nhà nước, quản lý thu chi của Chính phủ

1.1.2.2 Bài học rút ra từ kinh nghiệm quản lý về chi NSNN trên thế giới

Một là, sự tuân thủ nghiêm ngặt quy trình, trình tự lập, thảo luận và phê

duyệt dự toán NSNN từ cấp cơ sở đến khi phê chuẩn của cơ quan lập pháp Quỹ

thời gian dành cho công tác chuẩn bị ngân sách của các nước này là rất dài,

thường là 12 tháng trước khi năm ngân sách có hiệu lực Chính vì vậy mà dự

toán ngân sách sau khi được phê chuẩn là một dự toán chi tiết đến từng mục thu

và từng mục chi của từng bộ, ngành và tương đối phù hợp với nhu cầu chi thực

tế của các đơn vị, do dự toán được tổng hợp từ dưới lên và trải qua một quá trình

thảo luận rất kỹ ở cấp bộ, ngành, chính phủ và tại nghị viện

Hai là, công tác kiểm tra trước, trong và sau khi chi NSNN được thực hiện bởi

một quy trình khép kín theo một cơ chế kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ trên cơ sở phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cá nhân và từng bộ phận tham gia vào quá trình chi ngân sách, đó là kiểm soát viên tài chính, chuẩn chi viên, kế toán, thanh tra tài chính, toà thẩm kế hoặc tổng kiểm toán Nhà nước Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các bộ chi tiêu, Bộ Tài chính, Chính phủ và cơ quan lập pháp được phân định rõ ràng

và thể chế hoá thành Luật

Ba là, trong quản lý chi, mở rộng phương thức quản lý theo đầu ra Lấy kết

quả đầu ra của các chương trình, khoản chi tiêu để đánh giá hiệu quả Mô hình này

có thể áp dụng đối với một số chương trình, khoản chi tiêu của Việt nam trong khi chưa thể ban hành hết các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu

Bốn là, phải tăng cường cải cách các thủ tục hành chính trong cơ chế kiểm

soát chi NSNN đảm bảo đơn giản thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các đơn

vị sử dụng ngân sách

Năm là, giao nhiệm vụ quyết toán quỹ NSNN cho cơ quan kho bạc đảm

nhận Đồng thời, thành lập cơ qua kiểm tra kế toán để thực hiện kiểm tra toàn bộ quá trình chi của đơn vị, kế toán, kiểm soát của KBNN và của ngân hàng

1.1.2.3 Vận dụng ở Việt Nam

Những năm cuối của thập kỷ 90, công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đất nước diễn ra một cách sâu sắc và toàn diện để phù hợp với cơ chế quản lý tài chính, tiền tệ đã có sự thay đổi, đặc biệt là các vấn đề có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ quyền hạn cơ chế hoạt động của ngành Tài chính

Đối với ngành Tài chính, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 155/ HĐBT ngày 15/10/1988 về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Bộ Tài chính Tiếp theo Nghị định trên, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 07/HĐBT ngày 04/01/1990, Hệ thống KBNN trực thuộc Bộ Tài chính được thành lập và đi vào hoạt động trên phạm vi cả nước kể từ ngày 01/04/1990

Trang 17

Theo đó chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của KBNN như sau: Quản lý quỹ

NSNN và các quỹ Tài chính Nhà nước; Trực tiếp giao dịch thu, chi NSNN với các

đơn vị kinh tế, cơ quan hành chính sự nghiệp thuộc các cấp Ngân sách mở tài khoản

giao dịch tại KBNN; Huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển; Kế toán

quỹ NSNN và làm quyết toán NSNN theo niên độ Ngân sách; KBNN được quyền

từ chối các khoản chi không đúng nguyên tắc quản lý tài chính

Sau thời gian hoạt động 5 năm, để xác định rõ hơn vị trí, vai trò KBNN, ngày

05/04/1995 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/NĐ-CP quy định về chức năng

nhiệm vụ nhiệm vụ quyền hạn và tổ chức bộ máy KBNN

Đặc biệt là từ khi Nhà nước ban hành Luật NSNN (1996, 2002) để quản lý

thống nhất nền tài chính quốc gia, xây dựng NSNN lành mạnh, củng cố kỷ luật tài

chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tiền của Nhà nước, tăng tích luỹ để thực hiện

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN, đáp ứng nhu cầu

phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo quốc phòng, an

ninh, đối ngoại và bảo vệ môi trường, thì chức năng nhiệm vụ của KBNN được

khẳng định đầy đủ, rõ ràng hơn, cụ thể: Quỹ NSNN được quản lý tại KBNN; Các

đơn vị sử dụng ngân sách và các tổ chức được NSNN hỗ trợ thường xuyên phải mở

tài khoản tại KBNN, chịu sự kiểm tra của cơ quan Tài chính và KBNN trong quá

trình thanh toán, sử dụng kinh phí;

Với chức năng nhiệm vụ được Nhà nước giao đã khẳng định vị trí của hệ

thống Kho bạc trong việc quản lý quỹ NSNN nói chung, quản lý và kiểm soát chi

NSNN nói riêng, bước đầu tạo nên sự đồng bộ của các quá trình quản lý ngân sách,

từ khâu xây dựng dự toán, phân bổ dự toán đến khâu kiểm soát, thanh toán và quyết

toán NSNN, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài chính - Ngân sách, là điều cần

thiết không thể thiếu được bước chuyển sang kinh tế thị trường và tập trung vốn

phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

1.2 Phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 1.2.1.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

Thu thập thông tin thứ cấp từ các tài liệu đã công bố trong và ngoài nước Nguồn tài liệu chủ yếu từ các thư viện, trường đại học Kinh tế quốc dân, Cục thống

kê, Kho bạc Nhà nước tỉnh Thái nguyên, một số thông tin của sở, ban, ngành liên quan của tỉnh cung cấp; trong các Website Thời báo kinh tế,

1.2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

Được điều tra qua việc sử dụng để lấy ý kiến của Lãnh đạo các Phòng ban, các chuyên gia am hiểu về lĩnh vực quản lý NSNN

1.2.2 Phương pháp phân tích số liệu

* Phương pháp phân tích thống kê: Phương pháp này dùng để phân tích các

số liệu cụ thể và thường kết hợp với so sánh để làm rõ các vấn đề như tình hình biến động của các hiện tượng qua các giai đoạn thời gian; Mức độ hiện tượng; Mối quan

hệ giữa các hiện tượng

* Phương pháp phân tích tỷ lệ Phương pháp phân tích tỷ lệ dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng chỉ tiêu này trong các quan hệ tỷ lệ với các đại lượng của chỉ tiêu khác trong doanh nghiệp Về nguyên tắc, phương pháp phân tích tỷ lệ yêu cầu cần phải xác định các ngưỡng, các định mức chuẩn để so sánh Trên cơ sở so sánh về tỷ lệ các chỉ tiêu kinh tế với giá trị của các tỷ lệ định mức chuẩn, có thể rút ra những kết luận

* Phương pháp so sánh

So sánh là phương pháp chủ yếu được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích Vì vậy để tiến hành so sánh phải giải quyết những vấn đề cơ bản sau: Xác định số gốc để so sánh; Xác định điều kiện so sánh; Xác định mục tiêu so sánh Mục tiêu so sánh trong phân tích kinh tế là xác định mức biến động tuyệt đối và mức biến động tương đối theo xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích Sử dụng phương pháp so sánh thông qua các chỉ tiêu về số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, tốc độ phát triển từ đó đưa

ra các kết luận có căn cứ khoa học

Trang 18

1.2.3 Phương pháp khác

Phương pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp duy vật

biện chứng và lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin Phân tích tổng hợp kết hợp lịch sử

logic, liên hệ so sánh kết hợp với nghiên cứu thực tiễn, để có thể rút ra kết luận

1.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

- Chỉ tiêu: Tổng thu Ngân sách nhà nước = (A + B + C + D + E)

Trong đó : (A) : Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn

(B) Thu chuyển nguồn

(C) Thu vay xây dựng cơ sở hạ tầng

(D) Thu kết dư ngân sách năm trước

(E) Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên

- Chỉ tiêu: Tổng chi ngân sách địa phương = (E + F + M + N)

Trong đó : (E): Chi trong cân đối ngân sách địa phương

(F): Chi chương trình mục tiêu quốc gia

(M) Chi từ nguồn để lại quản lý qua NSNN

(N) Chi chuyển nguồn

- Chỉ tiêu: Chi trong cân đối ngân sách địa phương = (1) + (2) + (3) + (4)

Trong đó: (1) : Chi đầu tư XDCB từ nguồn tập trung

(2): Chi đầu tư XD cơ sở hạ tầng từ nguồn sử dụng đất

(3): Chi từ nguồn vay đầu tư XDCSHT

(4): Chi đầu tư và hỗ trợ các doanh nghiệp

- Chỉ tiêu : Chi thường xuyên = (5) + (6) + (7) + (8) + (9) + (10) + (11)

Trong đó : (5): Chi trợ giá hàng chính sách

(6) : Chi sự nghiệp kinh tế

(7): Chi giáo dục – đào tạo

(8): Chi sự nghiệp y tế

(9) : Chi sự nghiệp khoa học – công nghệ

(10) Chi sự nghiệp văn hóa – thế thao và phát thanh truyền hình

(11): Chi quản lý hành chính + Chi quốc phòng an ninh và chi khác

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSNN TẠI KHO BẠC NHÀ

NƯỚC TỈNH THÁI NGUYÊN 2.1 Đặc điểm của tỉnh Thái Nguyên

2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên

Tỉnh Thái nguyên phía nam tiếp giáp với thủ đô Hà nội, phía Tây giáp với tỉnh Vĩnh Phúc và Tỉnh Tuyên Quang, Phía Đông giáp với tỉnh Bắc Giang, phía bắc Giáp với Tỉnh Bắc Cạn, Lạng Sơn Diện tích tự nhiên 3.546,55km2 Thái nguyên có quốc

lộ 3, quốc lộ 1B Thái nguyên – Lạng Sơn, quốc lộ 13 Thái nguyên – Yên bái và trục đường sắt Hà nội – Thái nguyên, đường sông Đa phúc – Hải phòng chạy qua, khá thuận tiện giao lưu kinh tế với các tỉnh Thành lân cận Tỉnh Thái Nguyên là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ

2.1.2 Đặc điểm Kinh tế - xã hội

Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính: Thành phố Thái Nguyên; Thị xã Sông Công và 7 huyện: Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương Tổng số gồm 180 xã, trong đó có 125 xã vùng cao và miền núi, còn lại

là các xã đồng bằng và trung du

Dân số Thái Nguyên khoảng gần 1,2 triệu người, trong đó có 8 dân tộc chủ yếu sinh sống đó là Kinh, Tày, Nùng, Sán dìu, H’mông, Sán chay, Hoa và Dao Ngoài ra, Thái Nguyên được cả nước biết đến là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với 6 Trường Đại học, 14 trường Cao đẳng, 9 trung tâm dạy nghề, mỗi năm đào tạo các loại được khoảng gần 100.000 lao động Là một trung tâm y tế của vùng Đông Bắc với 01 Bệnh viên Đa khoa TW, 9 Bệnh viện cấp tỉnh và 14 Trung tâm y tế và bệnh viện cấp huyện; Là một nơi có những địa danh du lịch lịnh sử, sinh thái, có nhiều danh thắng tầm cỡ chưa được đầu

tư khai thác như: Hồ Núi Cốc, Hang Thần Sa – Thác Mưa

Trang 19

Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây có

nhiều thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh, một số ngành nghề trọng điểm

đều có sự tăng về năng lực sản xuất; các thành phần kinh tế đều có sự tăng trưởng,

nhất là kinh tế ngoài quốc doanh đã khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế

nhiều thành phần song cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: thiên

tai, dịch bệnh gia súc; giá cả đầu vào ở hầu hết các ngành sản xuất đều tăng làm cho

chi phí sản xuất tăng cao đã đẩy giá thành sản phẩm tăng lên, ảnh hưởng không nhỏ

tới sức cạnh tranh; kết cấu cơ sở hạ tầng, nhất là kết cấu hạ tầng khu vực nông thôn

miền núi tuy đã cải thiện nhưng vẫn thiếu và xuống cấp; lĩnh vực xã hội còn nhiều

bức xúc, tai nạn giao thông tuy có nhiều biện pháp nhằm kiềm chế nhưng vẫn chưa

có xu hướng giảm

Sau hơn hai mươi năm đổi mới đất nước, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc

Tỉnh Thái Nguyên đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng, tạo tiền đề

phát triển kinh tế - xã hội địa phương Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Thái Nguyên

bình quân hàng năm đạt trên 10% Cơ cấu kinh tế xã hội chuyển dịch theo hướng

tăng nhanh tỷ trọng trong công nghiệp và xây dựng trong GDP của Tỉnh, sản xuất

công nghiệp thoát khỏi tình trạng trì trệ, giá trị tăng bình quân 19,4%/năm Quán

triệt tư tưởng chỉ đạo của Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVII “tiếp tục

đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo sự phát triển nhanh và bền

vững, phấn đấu xây dựng Thái Nguyên thành tỉnh giàu mạnh, nâng cao đời sống vật

chất và tinh thần của nhân dân, tạo tiền đề vững chắc để đến năm 2020 tỉnh ta cơ

bản trở thành tỉnh công nghiệp”

Biểu đồ 2.1: Tổng SP trên địa bàn theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế

Đơn vị: tỷ đồng

0 5000 10000 15000 20000 25000

Nông lâm, thủy sản Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ

Tổng

Nguồn: Số liệu theo niêm giám thống kê năm 2010

Từ số liệu ở biểu đồ sau ta thấy giá trị sản lượng các ngành tăng dần qua các năm từ 2008 đến 2010 Ngành dịch vụ vẫn chiếm tỷ trọng lớn trên 40% Cơ cấu ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản có xu hướng giảm xuống Tỷ trọng ngành công nghiệp có cơ cấu khá ổn định chiếm tỷ lệ 35 – 36%

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu tổng SP trong tỉnh theo giá thực tế phân theo khu vực

kinh tế Đơn vị: %

0 10 20 30 40 50

Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

Nông lâm, thủy sản Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ

Nguồn: Số liệu theo niêm giám thống kê năm 2010

Đánh giá chung, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh những năm gần đây, đặc biệt là năm 2010, tiếp tục phát triển theo hướng tích cực, các chỉ tiêu kinh

tế - xã hội chủ yếu của tỉnh đều hoàn thành so với kế hoạch và tăng khá so với cùng

kỳ Một số lĩnh vực kinh tế-xã hội cũng có sự cải thiện đáng kể

Trang 20

Biểu đồ 2.3: Tốc độ phát triển tổng sản phẩm trong tỉnh Thái nguyên

năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

Nông lâm, thủy sản Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ

Tổng sản phẩm trên địa bàntheo khu vực kinh tế

Nguồn: Số liệu theo niêm giám thống kê năm 2010

Tốc độ phát triển kinh tế trên địa bàn từ năm 2006 – đến 2008 có xu hướng tăng

ổn định, năm 2008 là năm có tốc độ tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay Đóng góp

vào mức tăng trưởng chung thì khu vực công nghiệp và xây dựng vẫn duy trì được

tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất với mức đóng góp lớn nhất trong đó giá trị sản

xuất công nghiệp đạt 7.095 tỷ đồng, mức sản xuất của các thành phần kinh tế đều có

sự tăng trưởng, nhất là khu vực ngoài quốc doanh; tiếp đến là khu vực dịch vụ, mức

đóng góp 4,11% vào tốc độ tăng chung, trong đó nhóm ngành dịch vụ kinh tế tăng

13,8%, riêng ngành thương nghiệp tăng 16%, vận tải, bưu điện tăng 17,89%, các

ngành dịch vụ xã hội tăng 10,15% và khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có mức

đóng góp là 1,24%, riêng ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất quyết định đến tốc

độ tăng trưởng chung của khu vực này, mức đóng góp của ngành nông nghiệp tăng

khoảng 4,75% so với năm 2006 Từ năm 2008 – 2010 tốc độ tăng trưởng có xu

hướng giảm do chịu ảnh hưởng chung của khủng hoảng kinh tế

Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, GDP bình quân đầu người cũng có

chiều hướng tăng đáng kể, năm 2010 đạt 10,6 triệu đồng/người/năm, tăng 1,9 triệu

đồng/người/năm Cơ cấu kinh tế trên địa bàn tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích

cực Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng khu vực Công nghiệp – Xây dựng

tăng nhanh và cao hơn nhiều so với mức bình quân chung, khu vực Dịch vụ tăng xấp

xỉ mức bình quân chung toàn tỉnh, trong khi đó khu vực Nông lâm nghiệp và thuỷ sản

tăng chậm nên cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng khu vực Nông lâm thuỷ sản và tăng tỷ trọng khu vực Công nghiệp – Xây dựng

Thái Nguyên là một trong những tỉnh trọng tâm đang tập trung triển khai thực hiện Quyết định số 79/2005/QĐ-TTg ngày 15/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 37-NQ-TW ngày 01/07/2004 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế- xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc bộ đến năm

2010 Là một tỉnh trung du miền núi, là trung tâm khu vực phía bắc với căn cứ địa, chiến khu ATK năm xưa vì vậy đang được Chính phủ quan tâm đầu tư với trên 50

xã đặc biệt khó khăn, vùng sâu vùng xa và nhiều xã ATK được hưởng các chính sách đầu tư như chương trình 135, trung tâm cụm xã, phát triển kết cấu hạ tầng, kinh tế xã hội, an ninh- quốc phòng

Kinh tế Thái Nguyên tuy có phát triển nhưng hiện nay vốn mất cân đối trên nhiều mặt như: thiếu vốn đầu tư, sự phát triển kinh tế chưa cân đối với tiềm năng, thừa lao động nhưng lại thiếu lao động kỹ thuật có trình độ cao, các cơ sở công nghiệp nặng được xây dựng từ nhiều năm trước đây, thiết bị công nghệ lạc hậu, hiệu quả sản xuất - kinh doanh thấp, sức cạnh tranh trên thị trường yếu

Hệ thống cấu trúc hạ tầng yếu kém như giao thông, bưu điện, cấp nước, dịch

vụ Tài chính Ngân hàng đã làm cho các nhà đầu tư băn khoăn, trong khi đó Tỉnh lại rất cần vốn cho việc đầu tư phát triển một vùng nông thôn và miền núi rộng lớn do quá yếu kém về hạ tầng, đã làm cho sự phát triển kinh tế của vùng đầy tiềm năng không thực hiện được mà còn làm cho các vấn đề xã hội bức xúc Với những thuận lợi và khó khăn trên, trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Tỉnh Thái nguyên đã đạt được những mục tiêu cơ bản

về phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, từng bước phấn đấu xây dựng Tỉnh Thái Nguyên thành một trong những trung tâm kinh tế (công nghiệp, thương mại,

du lịch), văn hoá, giáo dục, y tế của Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, có hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối hiện đại và đồng bộ, có nền văn hóa lành mạnh và đậm đà

Trang 21

bản sắc dân tộc, quốc phòng - an ninh vững mạnh, đời sống vật chất, tinh thần của

nhân dân nâng cao góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

2.2 Đặc điểm của Kho bạc Nhà nước Thái nguyên

2.2.1 Chức năng nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước

Nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước: Thực hiện việc thanh toán, chi trả các

khoản chi NSNN căn cứ vào dự toán được giao, quyết định chi của thủ trưởng đơn

vị sử dụng NSNN và tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết khác theo quy định của

Chính phủ; Có quyền từ chối các khoản chi ngân sách không đủ điều kiện chi theo

quy định hoặc tạm dừng thanh toán theo yêu cầu của cơ quan tài chính; Thủ trưởng

cơ quan KBNN chịu trách nhiệm về các quyết định thanh toán, chi ngân sách hoặc

từ chối thanh toán chi ngân sách…

2.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy tại KBNN Thái Nguyên

Cùng với quá trình xây dựng và trưởng thành của toàn hệ thống, KBNN Thái

Nguyên được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 01/04/1990 Đến nay hơn 20

năm, KBNN Thái Nguyên đã nỗ lực cố gắng phấn đấu nhanh chóng ổn định tổ

chức, hoàn thiện bộ máy, vươn lên thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao, thể

hiện tốt vai trò là một công cụ quản lý tài chính của Nhà nước, góp phần đắc lực

phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên và công cuộc đổi

mới xây dựng và phát triển của đất nước

KBNN Thái Nguyên gồm: Văn phòng KBNN tỉnh (có 9 phòng chuyên môn

nghiệp vụ), 9 KBNN huyện, thành phố, thị xã trực thuộc KBNN tỉnh Tổng số cán

bộ công chức là 197 người (Văn phòng KBNN tỉnh có 70 người, KBNN các huyện,

thành phố, thị xã có 127 người); số công chức có trình độ đại học, cao đẳng chiếm

62,0%; công chức có trình độ trung học chiếm 25,8 %; số công chức có trình độ sơ

cấp và nghiệp vụ khác còn 11,0 %

Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy của KBNN Thái nguyên

\\

Ban Giám đốc KBNN Thái Nguyên

Phòng Kế toán Nhà nước

Phòng Kiểm soát chi

Ban Giám đốc KBNN Thái Nguyên

Trang 22

2.2.3 Chức năng nhiệm vụ của các phòng chức năng

* Tại Văn phòng KBNN Tỉnh:

+ Phòng Kiểm soát chi NSNN, thanh toán toàn bộ các dự án đầu tư XDCB,

dự án thuộc nguồn vốn chương trình mục tiêu Quốc gia, nguồn vốn sự nghiệp kinh

tế, thuộc nguồn vốn ngân sách TW, ngân sách tỉnh; nguồn vốn đầu tư nước ngoài

(ODA, khác); vốn quy hoạch; vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư, các dự án đầu tư từ

nguồn vốn tự có của đơn vị

+ Phòng Kế toán Nhà nước thực hiện nhiệm vụ kiểm soát chi NSNN vốn

thường xuyên, thanh toán tất cả các nguồn vốn, thực hiện đối chiếu số liệu các

nguồn vốn

* Tại KBNN các Huyện, Thành phố, Thị xã trực thuộc:

+ Tổ Tổng hợp – Hành chính thực hiện nhiệm vụ kiểm soát, thanh toán toàn

bộ các nguồn vốn đầu tư XDCB, CTMT, SNKT của tất cả các cấp ngân sách (TW,

Tỉnh, Huyện, Xã) phát sinh trên địa bàn theo phân cấp quản lý ngân sách và theo ủy

quyền của KBNN tỉnh

+ Bộ phận Kế toán Nhà nước thực hiện nhiệm vụ kiểm soát chi NSNN vốn

thường xuyên, thanh toán tất cả các nguồn vốn, thực hiện đối chiếu số liệu các

nguồn vốn

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN

Sự phát triển kinh tế - xã hội có tác động đến nguồn thu NSNN Qui mô

nguồn thu sẽ quyết định đến nguồn chi NSNN, đồng thời đòi hỏi cần phải có một cơ

chế, chính sách, chế độ quản lý chặt chẽ, hiệu quả trong quản lý quỹ NSNN Nguồn

thu chủ yếu của NSNN là từ thuế và khai thác nguồn tài nguyên quốc gia, đó là các

khoản thu thuế từ các cơ sơ sản xuất, kinh doanh và dịch vụ Vì vậy tốc độ phát

triển kinh tế, xã hội càng cao thì các nguồn thu cho NSNN càng lớn, đồng thời cũng

khai thác tốt hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất đai thuận lợi cho việc khai

thác nguồn thu Mặt khác, khi cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật đồng bộ và tốt hơn nên

sẽ thu hút được các nhà đầu tư vào đầu tư sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy

tăng trưởng và phát triển kinh tế, tăng thu cho ngân sách, đáp ứng nhu cầu chi

Khi Luật NSNN được ban hành, thì cơ chế quản lý và kiểm soát chi NSNN qua KBNN mới được hình thành và đi vào cuộc sống Để hướng dẫn thực hiện Luật NSNN các chế độ chính sách về quản lý và kiểm soát chi NSNN qua KBNN được ban hành, đó là nghị định của Chính phủ, các thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính và các Bộ, ngành chức năng, các văn bản của KBNN Đây là hệ thống chế độ, chính sách làm cơ sở cho KBNN thực hiện cơ chế quản

lý chi NSNN Vì vậy Chế độ chính sách phải mang tính khả thi, phù hợp với pháp luật hiện hành của Nhà nước, đảm bảo quản lý chặt chẽ không có kẽ hở để tránh thất thoát tài sản Nhà nước và cán bộ làm công tác quản lý Chế độ chính sách phải mang tính ổn định, tránh thay đổi nhiều để thuận lợi cho việc triển khai thực hiện Năng lực quản lý điều hành của các cấp chính quyền và các cấp quản lý NSNN ảnh hưởng nhiều đến quản lý quỹ NSNN Theo Luật NSNN, Quốc hội quyết nghị dự toán ngân sách trung ương và trợ cấp cho ngân sách địa phương Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố quyết nghị dự toán ngân sách cấp mình và trợ cấp cho ngân sách cấp dưới Bộ Tài chính căn cứ vào quyết nghị của Quốc hội và quyết định của Thủ tướng Chính phủ ra quyết định giao dự toán thu, chi NSNN cho các

bộ, ban, ngành ở trung ương và trợ cấp ngân sách cho các địa phương Tại tỉnh, thành phố, căn cứ vào quyết nghị của HĐND, Chủ tịch UBND tỉnh ra quyết định giao dự toán thu, chi NSNN cho các sở, ban, ngành và trợ cấp cho ngân sách quận, huyện, thành phố Nhận được quyết định giao dự toán các đơn vị dự toán cấp I phân bổ dự toán cho các đơn vị sử dụng NSNN Như vậy các đơn vị sử dụng NSNN

có quyết định giao dự toán của cơ quan chủ quản thì mới đến KBNN làm thủ tục kiểm soát chi và rút kinh phí Do đó Năng lực quản lý điều hành của các cấp chính quyền và các cấp quản lý NSNN sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến cơ chế quản lý quỹ NSNN Các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN, việc các đơn vị có tự giác chấp hành chế độ chi tiêu NSNN hay không cũng là một nhân tố rất quan trọng đối với KBNN trong thực hiện cơ chế quản lý quỹ NSNN

Yếu tố con người, tổ chức, chính sách luôn luôn có tầm quan trọng đặc biệt Thể hiện qua các nội dung: Năng lực đề ra sách lược trong hoạt động, đưa ra được

Trang 23

các kế hoạch triển khai công việc một cách hợp lý, rõ ràng; tạo nên một cơ cấu tổ

chức hợp lý, có hiệu quả, có sự phân định rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn giữa

các nhân viên cũng như giữa các khâu, các bộ phận Năng lực quản lý của người

lãnh đạo có tầm quan trọng đặc biệt đối với hoạt động của KBNN nói chung và việc

quản lý quỹ NSNN nói riêng Nếu năng lực của người lãnh đạo yếu, bộ máy tổ chức

không hợp lý, các sách lược không phù hợp với thực tế thì việc quản lý chi NSNN

sẽ yếu, dễ gây thất thoát, lãng phí và ngược lại

Năng lực chuyên môn của người cán bộ KBNN là yếu tố quyết định hiệu quả

trong quản lý quỹ NSNN Nếu năng lực chuyên môn cao sẽ loại trừ được sai lệch

trong hồ sơ, chứng từ, thanh toán và quyết toán NSNN Thể hiện ở năng lực phân

tích, xử lý các thông tin được cung cấp, giám sát, đối chiếu với các quy định hiện

hành của Nhà nước Nếu người cán bộ KBNN không làm tốt công tác này sẽ không

phát hiện ra những thất thoát, lãnh phí trong chi NSNN

Quy trình nghiệp vụ là một trong những mắt xích quan trọng ảnh hưởng trực

tiếp đến quản lý quỹ NSNN, vì vậy quy trình nghiệp vụ phải được xây dựng theo

hướng cải cách thủ tục hành chính, quy định rõ thời hạn giải quyết công việc, từng

động tác trình tự công việc phải làm của lãnh đạo và các bộ quản lý một cách khoa

học, đồng thời phải quy định rõ mối quan hệ giữa các bộ phận gắn liền với chế độ

trách nhiệm

Trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng công nghệ hiện đại trong công việc

cũng ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý quỹ NSNN, như việc ứng dụng

công nghệ tin học trong công tác quản lý quỹ NSNN đã giúp tiết kiệm được thời

gian xử lý công việc, đảm bảo nhanh chóng, chính xác và thống nhất về mặt số liệu

tạo tiền đề cho những cải tiến quy trình nghiệp vụ một cách hiệu quả hơn Chính vì

vậy công nghệ tin học là một trong những nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến chất

lượng và hiệu quả của công tác quản lý quỹ NSNN

2.4 Thực trạng quản lý của KBNN về chi NSNN tại Tỉnh Thái nguyên

2.4.1 Phân công nhiệm vụ quản lý về chi NSNN ở KBNN Thái Nguyên

- Quản lý quỹ NSNN và chi NSNN: Nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN là một trong những chức năng, nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu của KBNN Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ này, trong các đơn vị KBNN cần phân công nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng, hợp lý, đồng thời sắp xếp bố trí cán bộ theo một dây chuyền nhằm thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc theo các chế độ, quy trình nghiệp vụ Dây chuyền công việc bao gồm từ lãnh đạo trực tiếp quản lý, chỉ đạo, điều hành và kiểm soát, phê duyệt các khoản thu, chi NSNN các cấp đến các công chức chuyên môn nghiệp vụ tại các

bộ phận chuyên trách cụ thể như: Bộ phận kế hoạch tổng hợp theo dõi tình hình phân bổ, bố trí dự toán NSNN, tổng hợp tình hình thực hiện thu, chi NSNN, điều hòa vốn đảm bảo nhu cầu thanh toán của NSNN và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm soát chi các CTMT thuộc nguồn vốn NSNN; Bộ phận Kế toán chịu trách nhiệm tổ chức công tác hạch toán kế toán NSNN, công tác thanh toán thu, chi NSNN, tổng hợp số liệu thu, chi NSNN phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành NSNN và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm soát toàn bộ các khoản chi thường xuyên của NSNN; Bộ phận thanh toán vốn đầu tư chịu trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát phân bổ bố trí NSNN cho các nguồn vốn đầu tư XDCB, CTMT…, tổng hợp tình hình phân bổ, thanh toán, quyết toán các nguồn vốn đầu tư XDCB, tham mưu đề xuất trong lĩnh vực quản lý, điều hành vốn đầu tư XDCB và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm soát các khoản chi đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn NSNN và vốn nước ngoài; Bộ phận Kho quỹ chịu trách nhiệm tổ chức công tác thu, thanh toán các khoản chi trả của NSNN bằng tiền mặt; Bộ phận tin học chịu trách nhiệm

về các trang thiết bị, triển khai các chương trình ứng dụng, các quy trình công nghệ, quản lý trung tâm dữ liệu về thu, chi NSNN phục vụ cho công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành quỹ NSNN các cấp; Bộ phận thanh tra, kiểm tra, kiểm soát chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát từ xa về việc chấp hành và tuân thủ các nguyên tắc, chế

độ, quy trình nghiệp vụ trong quản lý thu, chi NSNN, cảnh báo các nguy cơ tiềm ẩn

Trang 24

có khả năng rủi ro, mất an toàn trong quá trình quản lý, điều hành thu, chi NSNN

các cấp tại các đơn vị trong và ngoài hệ thống KBNN…

- Kiểm soát chi NSNN và chi thường xuyên: Trong thời kỳ từ 1990 - 1996

Nhìn chung trong giai đoạn này cơ chế quản lý cấp phát chi NSNN vẫn được thực

hiện theo tinh thần Nghị định số 168/CP của Hội đồng Chính phủ được ban hành từ

năm 1961, thời kỳ quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp Do

vậy, trong công tác quản lý điều hành chi NSNN còn bộc lộ khá nhiều điểm bất hợp

lý, đó là: cơ quan tài chính ra lệnh cấp phát; KBNN thực hiện xuất quỹ NSNN theo

lệnh của cơ quan tài chính; đơn vị thụ hưởng thực hiện việc chi tiêu Do vậy, thực

hiện việc cấp phát vốn NSNN qua KBNN là xuất quỹ NSNN Cơ quan tài chính căn

cứ vào nhu cầu chi tiêu của các đơn vị thụ hưởng NSNN để bố trí chi theo tổng số

khoản chi, có phân chia theo một số mục chi, nhưng chỉ là hình thức Để khắc phục

tình trạng trên Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 861/TTg ngày 30/12/1995

nhấn mạnh vai trò kiểm soát chi NSNN qua KBNN Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá

IX đã thông qua Luật NSNN Kể từ năm 1945, đây là lần đầu tiên Việt Nam có

được một bộ Luật điều chỉnh các mối quan hệ về việc phân cấp quản lý, lập, chấp

hành và quyết toán NSNN; phân định trách nhiệm, quyền hạn của các Bộ, ngành,

địa phương trong việc quản lý và điều hành NSNN Trong lĩnh vực quản lý chi

NSNN, kể cả chi thường xuyên và chi các CTMT, Luật NSNN đã quy định rõ các

điều kiện để một khoản chi NSNN được thực hiện cũng như quy trình cấp phát kinh

phí NSNN qua cơ quan tài chính và KBNN Đồng thời với việc đổi mới cơ chế lập,

chấp hành và quyết toán NSNN theo Luật NSNN, các cơ chế khác cũng được triển

khai một cách đồng bộ

- Kiểm soát chi đầu tư XDCB, CTMT: Trước năm 2000 nhiệm vụ kiểm soát

chi đầu tư XDCB do hệ thống Cục Đầu tư Phát triển thực hiện, KBNN Thái Nguyên

chỉ thực hiện kiểm soát chi vốn sự nghiệp có tính chất XDCB như sự nghiệp đường

bộ, đường sắt, địa chất Thực hiện quyết định số 145/1999/QĐ-BTC ngày

26/11/1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về nhiệm vụ và tổ chức bộ máy thanh toán

vốn đầu tư thuộc hệ thống KBNN Từ ngày 01 tháng 01 năm 2000, KBNN Thái

Nguyên tiếp nhận toàn bộ nhiệm vụ kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB từ Cục đầu tư phát triển bàn giao sang, KBNN Thái Nguyên được thành lập thêm phòng thanh toán vốn đầu tư để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ này Năm 2001, thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Tài chính về việc bàn giao công tác kiểm soát chi đầu tư XDCB thuộc ngân sách huyện, xã từ phòng Tài chính huyện sang KBNN huyện KBNN Thái Nguyên đã phối hợp với cơ quan Tài chính chỉ đạo thực hiện bàn giao và tiếp nhận việc kiểm soát chi đầu tư XDCB từ các phòng Tài chính Huyện sang KBNN các Huyện, Thành phố, Thị xã trong tỉnh

Hiện nay KBNN Thái Nguyên đang phân công bố trí thực hiện nhiệm vụ kiểm soát chi đầu tư XDCB, CTMT và vốn sự nghiệp như sau:

* Tại văn phòng KBNN Tỉnh + Phòng kiểm soát chi thực hiện nhiệm vụ kiểm soát, thanh toán toàn bộ các

dự án đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn ngân sách TW, ngân sách tỉnh; nguồn vốn đầu

tư nước ngoài (ODA, OFID, JBIC, khác); vốn quy hoạch; vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư, các dự án đầu tư từ nguồn vốn tự có của đơn vị …

+ Phòng Kế hoạch tổng hợp thực hiện nhiệm vụ kiểm soát, thanh toán các dự

án thuộc nguồn vốn chương trình mục tiêu Quốc gia, nguồn vốn sự nghiệp kinh tế, các nguồn vốn sự nghiệp khác…

+ Phòng Kế toán thực hiện nhiệm vụ hạch toán kế toán, thanh toán tất cả các nguồn vốn, thực hiện đối chiếu số liệu nguồn vốn, số cấp phát, thanh toán… theo chi tiết từng nguồn vốn, từng cấp ngân sách, từng dự án và chủ đầu tư

* Tại KBNN các Huyện, Thành phố, Thị xã trực thuộc:

+ Bộ phận Kế hoạch – Thanh toán vốn đầu tư thực hiện nhiệm vụ kiểm soát, thanh toán toàn bộ các nguồn vốn đầu tư XDCB, CTMT, SNKT của tất cả các cấp ngân sách (TW, Tỉnh, Huyện, Xã) phát sinh trên địa bàn theo phân cấp quản lý ngân sách và theo ủy quyền của KBNN tỉnh

+ Bộ phận Kế toán thực hiện nhiệm vụ hạch toán kế toán, thanh toán tất cả các nguồn vốn, thực hiện đối chiếu số liệu nguồn vốn, số cấp phát, thanh toán… theo chi tiết từng nguồn vốn, từng cấp ngân sách, từng dự án và chủ đầu tư

Trang 25

2.4.2 Tình hình thu – chi NSNN của Tỉnh Thái nguyên

Biểu đồ 2.4: Thu ngân sách trên địa bàn từ 2008-2010

Đơn vị tính: Triệu đồng

) (Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2010)

Qua bảng tổng hợp số liệu trên cho thấy thu NSNN trên địa bàn hàng năm đều

tăng khá, mức tăng bình quân chung cả thời kỳ là 40%, riêng năm 2010 có số tăng

đột biến khá lớn, tăng so với năm 2009 là 56% Đặc biệt số thu trong cân đối tăng

mạnh và tương đối đều qua các năm, cá biệt năm 2010 có mức tăng cao nhất so với

năm 2009 là 65% Đây là căn cứ để cân đối bố trí nguồn chi NSNN của địa phương,

là điều kiện cần và đủ để thực hiện các chính sách đầu tư, bảo đảm an sinh xã hội

Biểu đồ 2.5: Tổng chi ngân sách địa phương năm 2008 - 2010

1 Chi trong cân đối NS địa phương

2 Chi chương trình mục tiêu quốc gia

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2010)

0 1284150 2568300 3852450 5136600 6420750

T ổng thu ngân sách nhà nước trên địa

bàn

T hu bổ sung từ ngân sách cấp trên 1731100 2026800 2309000

Biểu đồ 2.6: Tổng thu - chi ngân sách trên địa bàn tỉnh Thái nguyên

Đơn vị tính: Triệu đồng

0 2000000 4000000 6000000 8000000

Tổng thu 3437100 4621600 6076700 Tổng chi NSĐP 3350100 4460000 5095300

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2010)

Nếu xét tổng thu và tổng chi ngân sách trên địa bàn thì tổng thu và tổng chi tăng đều qua các năm từ 2008 – 2010 và tổng thu luôn hơn tổng chi Tuy nhiên nếu xét về Thu và chi trong cân đối ngân sách thì mặc dù thu ngân sách trên địa bàn hàng năm đều có sự tăng trưởng, nhưng tốc độ tăng chi ngân sách địa phương lớn hơn Hàng năm ngân sách TW vẫn phải trợ cấp cân đối trên 40% tổng số chi

Trang 26

Biểu đồ 2.7: Thu - chi trong cân đối ngân sách địa phương

Đơn vị tính: Triệu đồng

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2010)

2.4.3 Thực trạng quản lý của KBNN về chi NSNN trên địa bàn tỉnh TN

2.4.3.1 Thực trạng công tác quản lý quỹ và nhiệm vụ chi NSNN

Quản lý chi NSNN theo Luật NSNN thuộc trách nhiệm của các ngành, các

cấp, các cơ quan đơn vị cá nhân liên quan đến việc quản lý và sử dụng các nguồn

kinh phí Nhà nước Trong đó việc quản lý của KBNN là công đoạn cuối cùng để

hoàn thành quy trình quản lý chi NSNN theo Luật NSNN đã quy định Công đoạn

này có tầm quan trọng đặc biệt vì nó không những kết thúc một quy trình quản lý

chi mà quyết định cho từng đồng vốn của Nhà nước đi vào cuộc sống, phục vụ công

cuộc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước một cách đúng đắn có hiệu quả và tiết

kiệm nhất

Thực hiện luật NSNN, Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ Tài chính;

HĐND tỉnh Thái Nguyên ban hành nghị quyết số 23/2003/NQ-HĐND ngày

12/12/2003 về nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách và tỷ lệ phân chia

các khoản thu NSNN; UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành quyết định số

81/2004/QĐ-UB ngày 13/01/2004 về cơ chế quản lý và quy định nguồn thu, nhiệm

vụ chi cho từng cấp ngân sách trong tỉnh để thực hiện từ năm 2004; Ngày 24/7/2006

0 1000000

2000000

3000000

4000000

Chi trong cân đ?i NS ĐF 2125600 2718200 3863900

Thu trong cân đ?i NS 1107100 1449400 2393200

HĐND tỉnh ban hành nghị quyết số 22/2006/NQ-HĐND về định mức phân bổ dự toán chi ngân sách tỉnh Thái Nguyên thực hiện từ năm 2007-2010

Căn cứ các quy định của luật NSNN; Các Nghị định của Chính phủ; Thông

tư hướng dẫn của Bộ Tài chính; các văn bản của KBNN; Nghị quyết của HĐND tỉnh Thái Nguyên; Quyết định của UBND tỉnh Thái Nguyên, KBNN Thái Nguyên

tổ chức, triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý, kiểm soát thanh toán các khoản chi NSNN trên địa bàn theo đúng các cơ chế, chế độ, định mức các cấp có thẩm quyền

đã quy định

Tình hình chi NSNN từ năm 2008 – 2010 được thể hiện qua bảng 2.1

- Qua bảng 2.1 ta thấy chi cho đầu tư phát triển: Năm 2008: 389500 triệu

đồng, chiếm 18% trong chi cân đối ngân sách địa phương; năm 2009: 488400 triệu

đồng, chiếm 17,9% trong chi cân đối ngân sách địa phương; năm 2009/2008 tăng hơn 25%; năm 2010: 821500 triệu đồng, chiếm 21% trong chi cân đối ngân sách địa phương

- Chi thường xuyên: Những năm qua mặc dù có nhiều khó khăn trong cân đối ngân sách song địa phương đã quan tâm đảm bảo cân đối nhu cầu chi thường xuyên cho hoạt động của bộ máy nhà nước và đáp ứng kịp thời đầy đủ ngân sách cho nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Năm 2008: 1701000 triệu đồng, chiếm 51% trong chi cân đối ngân sách địa phương; năm 2009: 2914000 triệu đồng, chiếm 65% trong chi cân đối ngân sách địa phương; năm 2009/2008 tăng 71%; năm 2010: 2858700 triệu đồng, chiếm 56% trong chi cân đối ngân sách địa phương; năm 2010/2009 giảm 1% Khoản chi này năm sau cao hơn năm trước, do điều chỉnh tiền lương tối thiểu hàng năm Chi thường xuyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên chiếm khoảng 60% tổng chi ngân sách trên địa bàn và khoảng 70% tổng số chi ngân sách trong cân đối Chi thường xuyên được kế toán thành 13 khoản loại chi khác nhau bao gồm: Chi trợ cước trợ giá, chi cho hoạt động quản lý hành chính và chi cho các hoạt động sự nghiệp, an ninh quốc phòng, chi đảm bảo xã hội và các khoản chi khác

Trang 27

Phạm Văn Công – Quản lý kinh tế

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

53

Bảng 2.1:Tình hình chi ngân sách tỉnh Thái nguyên

2009/2008

So sánh 2010/2009

Số tiền Tỷ trọng % Số tiền Tỷ trọng % Số tiền Tỷ trọng % Mức % Mức %

Tổng chi (A+B+C+D) 3.350.100 100 4.460.000 100 5.095.300 100 1.109.900 33 635.300 14,2

A Chi cân đối NS ĐF 2.125.600 63,44 2.718.200 60,94 3.863.900 75,83 592.600 27,8 1.145.700 42,1

I Chi đầu tư phát triển 389500 11,6 488400 10,95 821500 16,12 98.900 25,3 333.100 68,2

1 Chi XDCB từ nguồn tập trung 245.700 7,33 200400 4,49 265700 5,21 -45.300 -18,4 65.300 32,5

2 Chi ĐT XDCSHT bằng nguồn SDĐ 139.800 6,57 219100 8,06 495000 12,81 79.300 56,7 275.900 125,

3 Chi từ nguồn vốn vay ĐT XDCSHT 0 0 65000 13,30 56800 6,91 65.000 -8.200 -12,6

II Chi thường xuyên 1701000 50,77 2914000 65,33 2858700 56,1 1.213.000 71,3 -55.300 -1,89

1 Chi trợ giá các mặt hàng CS 12.200 0,364 15.000 0,33 10.300 0,20 2.800 22,9 -4.700 -31,3

2 Chi sự nghiệp kinh tế 148.400 4,42 204.200 4,57 245.900 4,8 55.800 37,6 41.700 20,4

3 Chi SN GD- ĐT 793.500 23,68 1.008.200 22,6 1.201.900 23,58 214.700 27, 193.700 19,2

4 Chi sự nghiệp Y tế 192.100 9,03 258.800 9,52 372.900 9,65 66.700 34,7 114.100 44,0

5 Chi SN khoa học và công nghệ 7.600 0,22 12.900 0,28 16.400 0,32 5.300 69,7 3.500 27,1

6 Chi SN văn hóa, thể thao, PTTH 47.600 1,42 65.500 1,46 89.500 1,75 17.900 37,6 24.000 36,6

7 Chi đảm bảo xã hội 65.700 1,96 115.200 2,58 103.300 2,02 49.500 75,3 -11.900 -10,3

8 Chi quản lý hành chính 343.100 10,24 393.900 8,83 616.200 12,09 50.800 14,8 222.300 56,4

9 Chi SN môi trường 40.500 1,208 76.800 1,72 102.300 2,00 36.300 89,6 25.500 33,2

10 Chi QP – AN địa phương 37.800 1,128 50.100 1,12 71.500 1,40 12.300 32,5 21.400 42,7

11 Chi khác của ngân sách 12.600 0,37 13.400 0,34 28.500 0,55 800 6,34 15.100 112,

III Chi bổ sung quỹ dự trữ TC 1000 0,029 1000 0,02 1000 0,02 0 0 0 0

IV Chi trả nợ quỹ HTPT 34.200 1,02 14.800 0,33 182.700 3,58 -19.400 -56,7 167.900 1134

B Chi CT MTQG, nhiệm vụ khác 440.800 13,15 619.800 13,88 699.400 13,72 179.000 40,6 79.600 12,8

C Các khoản chi quản lý qua NSNN 172.200 5,14 276.500 6,199 200.000 3,92 104.300 60,5 -76.500 -27,6

D Chi chuyển nguồn 611.500 18,25 845.400 18,95 332.000 6,51 233.900 38,2 -513.400 -60,7

(Nguồn: Niên giám thống Thái Nguyên năm 2010)

Với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của địa phương rất lớn tốc độ tăng chi ngân sách địa phương hàng năm tăng tương đối cao Chi Ngân sách địa phương hàng năm đều tăng đã tập trung cho chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi thường xuyên

và chi chương trình mục tiêu quốc gia và các khoản chi khác Mặc dù trong bối cảnh cân đối ngân sách địa phương mới đảm bảo được 40% của năm 2008 và tăng lên 45,53% của năm 2010, nhưng cơ cấu chi NSĐP các năm 2008, 2009, 2010 vẫn giữ nguyên được cân đối chi theo đúng nguyên tắc phân bổ ngân sách như: chi thường xuyên chiếm 50 - 60%; chi đầu tư phát triển chiếm 28%; chi CTMT chiếm 9% - 13 %

+ Chi sự nghiệp kinh tế: bao gồm nhu cầu chi cho sự nghiệp nông lâm nghiệp thuỷ lợi, sự nghiệp kiến thiết địa chính, sự nghiệp giao thông vận tải hàng năm khoản chi này chiếm khoảng 6% tổng chi ngân sách trên địa bàn và khoảng 8% tổng chi thường xuyên đây là khoản chi có ý nghĩa quan trọng đảm bảo phát triển toàn diện nền kinh tế của tỉnh Là khoản chi góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đồng thời nuôi dưỡng, phát triển nguồn thu NSNN: năm 2008: 148400 triệu đồng, chiếm 9% trong chi thường xuyên; năm 2010: 245900 triệu đồng, chiếm 8,6% trong chi thường xuyên; Ngoài việc đảm bảo cho hoạt động bộ máy của các sự nghiệp trên, khoản chi này phục vụ trực tiếp các CTMT nhằm phát triển kinh tế địa phương

+ Chi sự nghiệp giáo dục–đào tạo: Đây là khoản chi lớn, năm 2008: 793500 triệu đồng, chiếm 47% trong chi thường xuyên; năm 2009: 1008200 triệu đồng, chiếm 35% trong chi thường xuyên, năm 2009/2008 tăng 27%; năm 2010: 1201900 triệu đồng, chiếm 42% trong chi thường xuyên, năm 2010/2009 tăng 19% Điều đó cho thấy sự quan tâm của các cấp các ngành trong công tác đầu tư cho con người, nâng cao dân trí và nhất trong thời gian gần đây công tác xã hội hóa giáo dục rất cần thiết, cấp bách và thực tế trong thời gian vừa qua trên địa bàn tỉnh công tác xã hội hóa giáo dục cũng đã được thực hiện đáng kể tạo nguồn đáp ứng một phần nhu cầu chi thường xuyên của các trường về chi xây dựng, sửa chữa trường lớp học, chi mua sắm bàn ghế Do có sự quan tâm đầu tư của nhà nước, sự nghiệp giáo dục đào tạo của địa phương đã có bước tiến quan trọng 98% học sinh tiểu học, 90% trung học

cơ sở, 70% trung học phổ thông đi học đúng độ tuổi, tỉnh cơ bản hoàn thành sự

Ngày đăng: 02/08/2016, 22:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Các cơ quan, đơn vị quản lý chi NSNN thuộc ngành tài chính - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên
Sơ đồ 1.1 Các cơ quan, đơn vị quản lý chi NSNN thuộc ngành tài chính (Trang 6)
Sơ đồ 1.2: Qui trình kiểm soát, thanh toán chi NSNN qua KBNN - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên
Sơ đồ 1.2 Qui trình kiểm soát, thanh toán chi NSNN qua KBNN (Trang 13)
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy của KBNN Thái nguyên - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên
Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy của KBNN Thái nguyên (Trang 21)
Bảng 2.2: Tình hình thanh toán vốn đầu tƣ XDCB, Vốn TPCP, Vốn CTMT - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên
Bảng 2.2 Tình hình thanh toán vốn đầu tƣ XDCB, Vốn TPCP, Vốn CTMT (Trang 29)
Bảng  2.3:  Tình  hình  thanh  toán  vốn  đầu  tƣ  XDCB,  Vốn  TPCP,  Vốn  CTMT  theo cấp ngân sách - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên
ng 2.3: Tình hình thanh toán vốn đầu tƣ XDCB, Vốn TPCP, Vốn CTMT theo cấp ngân sách (Trang 29)
Bảng 2.4: Tình hình thanh toán vốn đầu tƣ XDCB, Vốn TPCP, Vốn CTMT - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên
Bảng 2.4 Tình hình thanh toán vốn đầu tƣ XDCB, Vốn TPCP, Vốn CTMT (Trang 30)
Bảng 2.5: Số lƣợng tài khoản giao dịch tại KBNN Thái Nguyên - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên
Bảng 2.5 Số lƣợng tài khoản giao dịch tại KBNN Thái Nguyên (Trang 30)
Bảng 2.6  Một số thông tin về hoạt động kho quỹ năm 2010   (ĐV: Đồng) - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên
Bảng 2.6 Một số thông tin về hoạt động kho quỹ năm 2010 (ĐV: Đồng) (Trang 31)
Bảng 2.9    Tình hình thực hiện giao dịch một cửa trong công tác kiểm soát thanh - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên
Bảng 2.9 Tình hình thực hiện giao dịch một cửa trong công tác kiểm soát thanh (Trang 33)
Bảng 2.8 Tình hình kiểm tra tiến độ thực hiện của dự án  và quản lý sử dụng vốn của chủ đầu tƣ năm 2010 - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên
Bảng 2.8 Tình hình kiểm tra tiến độ thực hiện của dự án và quản lý sử dụng vốn của chủ đầu tƣ năm 2010 (Trang 33)
Bảng 2.10 : Số liệu từ chối thanh toán qua kiểm soát chi NSNN tại KBNN TN - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên
Bảng 2.10 Số liệu từ chối thanh toán qua kiểm soát chi NSNN tại KBNN TN (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w