Do vậy, cần phải có những định hướng chiến lược đúng đắn cũng như cần phải đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách cho giáo dục đào tạo để phát triển nguồn nhân lực
Trang 1-
ĐỒNG VĂN TÂN
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN PHỔ YÊN, THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 - 34 - 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN KHÁNH DOANH
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN Luận văn “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà
nước cho giáo dục - đào tạo tại địa bàn huyện Phổ Yên, Thái Nguyên”
được thực hiện từ tháng 2/2011 đến tháng 11/2011 Luận văn sử dụng những
thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Các thông tin này đã được c hỉ rõ nguồn
gốc, đa số thông tin thu thập từ điều tra thực tế ở địa phương , số liệu đã được
tổng hợp và xử lý trên các phần mềm Excel của Microsoft Office
Tôi xin cam đoan rằng , tất cả số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận
văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị
nào tại Việt Nam
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và mọi thông tin trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Đặc biệt xin chân thành cảm ơn PGS-TS Nguyễn Khánh Doanh đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, lãnh đạo Huyện uỷ, UBND huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên, Phòng Giáo dục & Đào tạo, Phòng Thống kê, Phòng Lao động - Thương binh - Xã hội đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ khi điều tra thu thập số liệu thứ cấp giúp tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn sát cánh, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 10 năm 2011
T¸c gi¶ luËn v¨n
Đồng Văn Tân
Trang 3MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng số liệu vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp của luận văn 3
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
1.1 Một số vấn đề chung về NSNN và chi NSNN cho giáo dục đào tạo 5
1.2 Quản lý chi NSNN cho giáo dục, đào tạo 10
1.2.1 Nguyên tắc quản lý chi NSNN cho giáo dục - đào tạo 10
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý chi NSNN cho giáo dục - đào tạo 16 1.2.3 Vai trò và sự cần thiết phải hoàn thiện quản lý chi NSNN cho giáo dục - đào tạo 18
1.3 Kinh nghiệm hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN cho giáo dục đào tạo ở một số quốc gia trên thế giới 25
1.3.1 Khái quát chung về chính sách chi NSNN cho giáo dục đào tạo của một số nước trong khu vực và trên thế giới 25
1.3.2 Một số kinh nghiệm rút ra cho công tác quản lý chi ngân sách giáo dục - đào tạo của Việt Nam 29
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSNN CHO GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở HUYỆN PHỔ YÊN 32
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32
2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 32
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 36
2.1.3 Tình hình phát triển kinh tế của huyện 39
2.1.4 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Phổ Yên ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội 43
2.2 Một số nét cơ bản về giáo dục đào tạo và chính sách quản lý chi ngân sách nhà nước ở huyện Phổ Yên 45
2.2.1 Khái quát về giáo dục đào tạo của huyện Phổ Yên 45
2.2.2 Tình hình đầu tư từ nguồn vốn NSNN cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo ở huyện Phổ Yên 50
2.3 Thực trạng công tác quản lý chi NSNN cho giáo dục đào tạo ở huyện Phổ Yên 56
2.3.1 Mô hình và tổ chức bộ máy quản lý chi NSNN cho giáo dục - đào tạo ở huyện Phổ Yên 56
2.3.2 Nhiệm vụ chủ yếu trong công tác quản lý chi NSNN cho giáo dục đào tạo 58
2.4 Đánh giá chung về hoàn thiện cơ chế quản lý chi NSNN cho giáo dục đào tạo ở huyện Phổ Yên 77
2.4.1.Những thành tựu đạt được 77
2.4.2 Những tồn tại và hạn chế 78
2.4.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế và vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện cơ chế quản lý chi NSNN cho giáo dục đào tạo ở tỉnh Huyện Phổ Yên 82
Trang 4Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO HUYỆN
PHỔ YÊN - THÁI NGUYÊN 87
3.1 Quan điểm, thực tế, mục tiêu 87
3.1.1 Định hướng phát triển giáo dục đào tạo Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 87
3.1.2 Những mục tiêu cơ bản phát triển giáo dục đào tạo ở huyện Phổ Yên 91 3.1.3 Yêu cầu của việc hoàn thiện chính sách quản lý chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo ở huyện Phổ Yên 92
3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chính sách quản lý chi ngân sách cho giáo dục đào tạo trên địa bàn huyện Phổ Yên 93
3.2.1 Hoàn thiện cơ cấu chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo 93
3.2.2 Hoàn thiện mô hình, công tác quản lý; hệ thống định mức, tiêu chuẩn chi thường xuyên của NSNN cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo 96
3.2.3 Hoàn thiện quy trình lập và phân bổ dự toán, cấp phát, thanh quyết toán các nguồn kinh phí chi cho giáo dục - đào tạo 98
3.2.4 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát quá trình chi tiêu các khoản chi NSNN cho giáo dục - đào tạo Thực hiện quy chế công khai tài chính đối với các đơn vị dự toán 102
3.2.5 Củng cố, nâng cao chất lượng công tác quản lý tài chính ở các đơn vị cơ sở giáo dục - đào tạo 104
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105
1 Kết luận 105
2 Một số kiến nghị và đề xuất 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Phổ Yên 34
Bảng 2.2: Dân số huyện Phổ Yên qua các năm 36
Bảng 2.3: Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện giai đoạn 2008 - 2010 40
Bảng 2.4: Thống kê về cơ sở vật chất 48
Bảng 2.5: Cơ cấu chi NSNN cho giáo dục và đào tạo huyện Phổ Yên trong tổng chi NSĐP giai đoạn 2006 - 2010 51
Bảng 2.6: Cơ cấu chi NSNN cho các phân ngành trong hệ thống giáo dục ở huyện Phổ Yên giai đoạn 2008 – 2010 54
Bảng 2.7: Cơ cấu chi sự nghiệp giáo dục - đào tạo giai đoạn 2006-2010 66
Bảng 2.8: Cơ cấu các nhóm mục chi trong tổng chi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo 68
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng giá trị sản xuất các ngành giai đoạn 2001-2010 41
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn huyện 2001 và 2008 42
Biểu đồ 2.3: So sánh chi ngân sách đối với giáo dục đào tạo trong tổng chi ngân sách địa phương ở Huyện Phổ Yên 52
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu chi ngân sách đối với giáo dục đào tạo huyện Phổ Yên 53
Biểu đồ 2.5: Cơ cấu chi NSNN cho Giáo dục và cho Đào tạo 55
Biểu đồ 2.6: Cơ cấu chi NSNN cho Giáo dục và cho Đào tạo 67
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam đó khẳng định mục tiêu tổng
quát của chiến lược phát triển kinh tế xã hội đánh giá 2006 – 2010 là: “Sớm
đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [4] “Về
giáo dục và đào tạo, phấn đấu để lĩnh vực này cùng với khoa học và công
nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, thông qua việc đổi mới toàn diện giáo
dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo
dục Việt Nam” Một phần nguyên nhân của thực trạng này chính là do Việt
Nam chưa tiến hành quy hoạch tổng thể phát triển nhân lực cấp quốc gia nên
việc cụ thể hóa Chiến lược phát triển nhân lực cũng gặp khó khăn Để khắc
phục tình hình nêu trên [1] Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm
2011 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt “Chiến lược phát triển nhân lực
Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020” Từ đó, mỗi bộ, ngành và địa phương phải
xây dựng, quy hoạch phát triển nhân lực đồng bộ với chiến lược, kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội chung của mình Bản thân các doanh nghiệp và tổ
chức cũng phải có kế hoạch phát triển nhân lực của riêng mình Bản đề án về
Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 do các bộ, ngành
xây dựng mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm đầu mối chính đó đưa ra mục tiêu:
Tăng nhanh tỷ lệ nhân lực được đào tạo trong toàn nền kinh tế với cơ cấu hợp
lý Tổng số nhân lực qua đào tạo năm 2015 khoảng 30,5 triệu người (chiếm
khoảng 55% trong tổng số 55 triệu người làm việc trong nền kinh tế) và năm
2020 khoảng gần 44 triệu người (chiếm khoảng 70% trong tổng số gần 63
triệu người làm việc trong nền kinh tế) Trong tổng số nhân lực qua đào tạo,
số nhân lực đào tạo qua hệ thống dạy nghề năm 2015 khoảng 23,5 triệu người
(bằng 77%), năm 2020 khoảng 34,4 triệu (bằng 78,5%); số nhân lực đào tạo
qua hệ thống giáo dục đào tạo năm 2015 khoảng 7 triệu người (bằng 23%), năm 2020 khoảng 9,4 triệu (bằng 21,5%) [1] Để giáo dục và đào tạo luôn là quốc sách hàng đầu, qua đó phát triển phát triển nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển Nhất là trong điều kiện hiện nay - phát triển nền kinh tế tri thức được coi là một yếu tố quan trọng của lực lượng sản xuất Qua mục tiêu phát triển kinh tế xã hội cho thấy Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm phát triển giáo dục đào tạo, không ngừng tăng cường đầu tư cho giáo dục đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế mới, thị trường lao động mới ở trong và ngoài nước Giáo dục đào tạo vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển kinh
tế xã hội Đối với mỗi quốc gia muốn phát triển nhanh kinh tế xã hội, bắt kịp thời đại không còn con đường nào khác là phát triển nhanh và mạnh hơn nữa khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo Ngân sách nhà nước vẫn là nguồn tài chính cơ đào tạo chính là hoạt động đầu tư - đầu tư cho tương lai [4]
Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo tại địa phương nhìn chung trong những năm qua chưa có chiến lược tài chính cho giáo dục đào tạo, công tác quản lý điều hành ngân sách giáo dục đào tạo chưa hợp lý, thể hiện từ công tác lập, phân bổ dự toán đến công tác quyết toán Mô hình tổ chức bộ máy quản
lý chi ngân sách cho giáo dục đào tạo chưa đáp ứng được nhiệm vụ quản lý
ngân sách toàn ngành Chính vì lý do đó, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Giải
pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo tại địa bàn huyện Phổ Yên, Thái Nguyên”
Do vậy, cần phải có những định hướng chiến lược đúng đắn cũng như cần phải đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách cho giáo dục đào tạo để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng cho sự phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới, vì mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Trang 72 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách Nhà
nước cho giáo dục, đào tạo tại địa bàn huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý chi ngân
sách Nhà nước cho giáo dục, đào tạo
Phân tích thực trạng công tác quản lý chi ngân sách Nhà nước cho giáo
dục, đào tạo tại địa bàn huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
Đề xuất những giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà
nước cho giáo dục đào tạo trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm Phòng giáo dục huyện Phổ
Yên, Phòng tài chính, kế hoạch thuộc UBND huyện Phổ Yên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu đến thực trạng công tác quản lý chi ngân sách
nhà nước cho giáo dục đào tạo tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Luận
văn tập trung vào các số liệu tại Phòng tài chính - Kế hoạch thuộc UBND
huyện Phổ Yên, Phòng giáo dục huyện Phổ Yên
Về thời gian: Đề tài được nghiên cứu với số liệu giai đoạn 2006-2010,
các số liệu điều tra trong năm 2010 tại huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên
4 Những đóng góp của luận văn
- Luận giải được sự cần thiết phải hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN
cho giáo dục đào tạo trong quá trình xã hội hoá giáo dục
- Phân tích, đánh giá có căn cứ khoa học thực trạng công tác quản lý chi
NSNN đối với giáo dục đào tạo và những vấn đề cấp bách đặt ra cần giải quyết
- Đề xuất và phân tích những quan điểm, giải pháp cơ bản để hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN đối với giáo dục đào tạo trong quá trình xã hội hoá giáo dục thời gian tới ở nước ta và ở huyện Phổ Yên, và tỉnh Thái Nguyên
5 Kết cấu của luận văn Phần mở đầu
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế quản lý chi
NSNN cho giáo dục và đào tạo
Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo
dục và đào tạo ở huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 – 2010
Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý chi
NSNNcho giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn tới
Phần kết luận
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Một số vấn đề chung về NSNN và chi NSNN cho giáo dục đào tạo
a Khái niệm về NSNN:
NSNN là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử Sự hình thành và phát
triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa
tiền tệ trong các phương thức sản xuất của các cộng đồng và nhà nước của từng
cộng đồng Nói cách khác sự ra đời của Nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng
hóa tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của NSNN
Cho đến nay, các nhà nước khác nhau đều tạo lập và sử dụng NSNN, thế
nhưng người ta vẫn chưa có sự nhất trí về NSNN Có nhiều ý kiến khác nhau
về khái niệm NSNN nhưng ta có thể hiểu: NSNN được đặc trưng bằng sự vận
động của các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền
tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên
cơ sở luật định Nó phản ánh các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ
thể xã hội, phát sinh khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính
quốc gia theo nguyên tắc hoàn trả trực tiếp là chủ yếu [3]
Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 được Quốc hội nước Cộng
hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16 tháng 12 năm 2002 quy
định: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đó
được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong
một năm để đảm bảo thực hiện các chứ năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các
khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ
chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của
pháp luật [3]
b Khái niệm về chi NSNN
Chi NSNN là một trong hai nội dung cơ bản của hoạt động NSNN, “chi NSNN là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN do quá trình thu tạo lập nên nhằm duy trì sự tồn tại, hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước”
Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
Chi NSNN phản ánh mục tiêu hoạt động của ngân sách, đó là đảm bảo
về mặt vật chất (tài chính) cho hoạt động của Nhà nước, với tư cách là chủ thể của NSNN trên hai phương diện: (1) Duy trì sự tồn tại và hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước, (2) Thực hiện chức năng nhiệm vụ mà Nhà nước phải gánh vác Chi NSNN bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau Giai đoạn thứ nhất là phân phối (phân bổ) quỹ NSNN cho các đối tượng, mục tiêu khác nhau Quá trình phân phối được thực hiện trên dự toán và trên thực tế (chấp hành Ngân sách Nhà nước), dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau như chức năng, nhiệm vụ, quy mô hoạt động, đặc điểm tự nhiên, xã hội… thể hiện
cụ thể dưới dạng định mức, tiêu chuẩn, chế độ chi ngân sách Giai đoạn tiếp theo là việc sử dụng phần quỹ ngân sách đã được phân phối của các đối tượng được hưởng thụ, hay còn gọi là quá trình thực hiện chi tiêu trực tiếp các khoản tiền của NSNN NSNN được sử dụng ở các khâu tài chính Nhà nước trực tiếp, gián tiếp và các khâu tài chính khác phi Nhà nước Chi ngân sách kết thúc khi tiền đã thực sự được sử dụng cho các mục tiêu đã định [2] Các khoản chi NSNN rất đa dạng và phong phú nên có rất nhiều cách phân loại chi NSNN khác nhau:
- Theo tính chất phát sinh các khoản chi, chi NSNN bao gồm chi thường xuyên và chi không thường xuyên
Trang 9Chi thường xuyên: là những khoản chi phát sinh tương đối đều đặn cả về
mặt thời gian và quy mô các khoản chi Nói cách khác là những khoản chi
được lặp đi lặp lại tương đối ổn định theo những chu kỳ thời gian cho những
đối tượng nhất định
Chi không thường xuyên: là những khoản chi ngân sách phát sinh không
đều đặn, bất thường như chi đầu tư phát triển, viện trợ, trợ cấp thiên tai, địch
họa trong đó, chi đầu tư phát triển được coi là phần chủ yếu của chi không
thường xuyên
- Theo mục đích sử dụng cuối cùng, chi NSNN được chia thành chi tích
luỹ và chi tiêu dùng
Chi tích luỹ là các khoản chi mà hiệu quả của nó có tác dụng lâu dài Các
khoản chi này chủ yếu được sử dụng trong tương lài như: chi đầu tư hạ tầng
kinh tế – kỹ thuật, chi nghiên cứu KHCN, công trình công cộng, bảo vệ môi
trường
Chi tiêu dùng là những khoản chi nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu
trước mắt và hầu như được sử dụng hết sau khi đã chi như: chi cho bộ máy
Nhà nước, an ninh, quốc phòng, văn hoá, xã hội Cụ thể, đó là các khoản chi
lương, các khoản có tính chất lương và chi hoạt động Nhìn chung chi tiêu
dùng là những khoản chi có tính chất thường xuyên
- Theo mục tiêu, chi NSNN được phân loại thành chi cho bộ máy Nhà
nước và chi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Chi cho bộ máy Nhà nước: bao gồm chi đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất,
mua sắm trang thiết bị cần thiết, chi trực tiếp cho đội ngũ cán bộ, công chức,
chi phí thường xuyên để duy trì hoạt động của các cơ quan Nhà nước( văn
phòng phí, hội nghị, công tác phí )
Chi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước: Bao gồm chi cho an
ninh – quốc phòng (những khoản chi duy trì hoạt động bình thường của các
lực lượng an ninh, quốc phòng như chi đầu tư, chi mua sắm, chi hoạt động), chi phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, đảm bảo xã hội, chi phát triển kinh tế là những khoản đầu tư cơ sở hạ tầng quan trọng cho nền kinh tế (giao thông, điện và chuyển tải điện, thông tin liên lạc, thuỷ lợi và cấp thoát nước, sự nghiệp nhà ở) và một số nhiệm vụ khác như: Hỗ trợ các đoàn thể chính trị - xã hội, đối ngoại
- Với tư cách là quỹ tiền tệ để thanh toán cho các nhu cầu của Nhà nước và tài trợ cho các đối tượng khác nhau trong xã hội (Nhà nước với tư cách là người mua của thị trường), chi NSNN bao gồm:
Chi thanh toán: là chi trả cho việc Nhà nước được hưởng những hàng hóa, dịch vụ mà xã hội cung cấp cho Nhà nước Chi thanh toán gắn với hai luồng đi: tiền và hàng hóa, dịch vụ
Chi chuyển giao: là những khoản chi mang tính chất một chiều từ phía Nhà nước như tài trợ, trợ cấp, cứu trợ [2]
c Chi NSNN cho giáo dục đào tạo:
Chi NSNN cho giáo dục - đào tạo gắn liền với cơ cấu, nhiệm vụ của ngành trong mỗi giai đoạn lịch sử và được xem xét ở các giác độ khác nhau Căn cứ vào cơ cấu tổ chức của ngành giáo dục - đào tạo có thể hiện cơ cấu chi NSNN cho giáo dục - đào tạo gồm:
- Chi ngân sách cho hệ thống các trường học gồm có:
+ Chi ngân sách cho hệ thống các trường MN và các trường phổ thông + Chi ngân sách cho các trường đại học, các học viện, các trường cao đẳng, các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề
+ Chi cho các trường Đảng, đoàn thể
- Chi ngân sách cho các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục - đào tạo như: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục
Trang 10Theo cách phân loại chi NSNN theo yếu tố và phương thức quản lý các
khoản chi cho giáo dục - đào tạo bao gồm:
- Chi thường xuyên
- Chi XDCB tập trung
Chi thường xuyên là những khoản chi có tính chất thường xuyên để duy
trì các hoạt động của các cơ quan nhà nước, các cơ sở giáo dục, đào tạo nhằm
thực hiện những nhiệm vụ được giao
Chi xây XDCB tập trung là các khoản chi nhằm tăng thêm tài sản như
chi xây dựng mới và tu bổ công sở, trường học, đường xá, phục vụ công tác
dạy và học
Đối với các khoản chi thường xuyên căn cứ vào đối tượng của việc sử
dụng kinh phí NSNN có thể chia thành 4 nhóm mục chi sau:
Nhóm 1 – Chi thanh toán cá nhân: là các khoản chi cho con người như
chi lương, các khoản phụ cấp theo lương, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
kinh phí công đoàn, chi phúc lợi tập thể cho giáo viên, cán bộ nhân viên, chi
học bổng và trợ cấp cho học sinh sinh viên, tiền công…
Nhóm 2 – Chi cho hoạt động chuyên môn: chi mua tài liệu, văn phòng
phẩm, chi công tác phí, công vụ phí, điện nước, xăng xe, chi hội nghị về công
tác quản lý, hội thảo, hội giảng, điện báo, điện thoại, các hoạt động chuyên
đề về chuyên môn
Nhóm 3 – Chi mua sắm, sữa chữa: là các khoản chi sửa chữa lớn tài
sản cố định phục vụ chuyên môn như nhà cửa, ô tô, đường điện, đường xá,
cầu cống; chi mua sắm tài sản phục vụ chuyên môn như ô tô, nhà cửa, thiệt
bị tin học
Nhóm 4 – Các khoản chi khác: là các khoản chi bầu cử HĐND các cấp,
chi khắc phụ hậu quả thiên tai, chi kỷ niệm các ngày lễ lớn, chi bảo hiểm
phương tiện, chi tiếp khách, chi xử lý tài sản được xác lập sở hữu nhà nước,
các khoản chi khác [5]
Ngoài ra, từ năm 1991 NSNN còn chi tiêu cho các đơn vị thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục như chương trình phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ, chương trình tăng cường cơ sở vật chất trường học, chương trình công nghệ giáo dục
1.2 Quản lý chi NSNN cho giáo dục, đào tạo
1.2.1 Nguyên tắc quản lý chi NSNN cho giáo dục - đào tạo
Thực chất cơ chế quản lý chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo là các hoạt động và tổ chức các hoạt động phân phối NSNN, kiểm tra giám sát việc phân phối và sử dụng NSNN cho giáo dục - đào tạo theo đúng quy định của pháp luật
Nội dung cơ chế quản lý chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo gồm [18]:
Thứ nhất, cơ chế quản lý định mức chi:
Trong quản lý các khoản chi thường xuyên của NSNN, nhất thiết phải có định mức cho từng nhóm mục chi hay cho mỗi đối tượng cụ thể Nhờ đó mà ngành, các cấp, các đơn vị mới có căn cứ pháp lý để triển khai các công việc
cụ thể thuộc quá trình quản lý chi thường xuyên của NSNN
Định mức chi là cơ sở quan trọng để lập dự toán chi, cấp phát và quyết toán các khoản chi, đồng thời là chuẩn mực để phân bổ và kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng kinh phí của NSNN
Định mức chi phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Một là: Các định mức chi phải được xây dựng một cách khoa học, từ
việc phân loại đối tượng đến trình tự, cách thức xây dựng định mức phải được tiến hành một cách chặt chẽ có cơ sở khoa học xác đáng Nhờ đó mà các định mức chi đảm bảo được tình phù hợp với mỗi loại hình hoạt động, phù hợp với từng đơn vị
Hai là: Các định mức chi phải có tính thực tiễn cao Tức là nó phải phản
ánh mức độ phù hợp của các định mức với nhu cầu kinh phí cho các hoạt
Trang 11động Chỉ có như vậy định mức chi mới trở thành chuẩn mực cho cả quá trình
quản lý kinh phí chi thường xuyên
Ba là: Định mức chi phải đảm bảo thống nhất đối với từng khoản chi với
từng đối tượng thụ hưởng ngân sách cùng loại
Bốn là: Định mức chi phải đảm bảo tính pháp lý cao
Định mức chi thường xuyên của NSNN thường bao gồm hai loại:
- Định mức chi tiết: Là loại định mức xác định dựa trên cơ cấu chi cùa
NSNN cho mỗi đơn vị được hình thành từ các mục chi nào, người ta tiến hành
xây dựng định mức chi cho từng mục đó, ví dụ như: chi công tác phí, hội
nghị, chi lương, học bổng
- Định mức chi tổng hợp: Là loại định mức dùng để xác định nhu cầu chi
từ NSNN cho mỗi loại hình đơn vị thụ hưởng Do vậy, với mỗi loại hình đơn
vị khác nhau sẽ có đối tượng để tính định mức chi tổng hợp khác nhau
Mỗi loại định mức chi đều có ưu nhược điểm riêng của nó Tuỳ theo
mục đích quản lý mà có sự lựa chọn hoặc vận dụng kết hợp các loại định mức
chi cho hợp lý Đối với định mức chi tiết, ưu điểm của nó là tính chính xác và
tính thực tiễn khá cao nên nó thường được sử dụng trong quá trình nghiên cứu
ban hành các chế độ chi thường xuyên của NSNN, ngoài ra, nó cũng còn được
sử dụng trong quá trình thẩm định tính khả thi của các dự toán kinh phí và dự
toán chi NSNN Đối với định mức chi tổng hợp ưu điểm của nó là có thể xác
định được dự toán chi NSNN nhanh, nhưng ngược lại nó cũng bộc lộ một
nhược điểm là tính chính xác không cao Vì vậy, nó được lấy làm căn cứ để
hướng dẫn cho các ngành, các cấp xây dựng dự toán kinh phí, đồng thời nó
cùng là một trong những cơ sở cho cơ quan tài chính khi thẩm định dự toán
kinh phí của các đơn vị trực thuộc
Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, định mức chi tiết thường được áp
dụng theo hệ thống định mức chi NSNN áp dụng chung cho lĩnh vực hành
chính sự nghiệp, còn định mức chi tổng hợp được sử dụng chủ yếu trong khâu phân bổ ngân sách giáo dục - đào tạo cho các địa phương, các đơn vị Định mức chi tổng hợp cho giáo dục - đào tạo có thể xác định theo đầu dân số hoặc đầu học sinh và theo từng thời kỳ có thay đổi cho phù hợp
Từ sự phân tích trên cho thấy, trong cơ chế quản lý chi NSNN cho giáo dục - đào tạo không những phải xây dựng được hệ thống định mức, chế độ chi tiêu một cách đẩy đủ, có cơ sở khoa học, quá trình quản lý phải tuân thủ triệt
để hệ thống định mức, tiêu chuẩn chi tiêu đó mà còn phải đánh giá, phân tích tình hình thực tế chi theo định mức nhằm xem xét tình phù hợp của hệ thống định mức hiện hành Xu hướng chung, các loại hoạt động ngày càng phát triển nên làm nảy sinh các nhu cầu mới Đặc biệt, trong điều kiện còn xảy ra mất giá của tiền tệ cũng dễ làm cho định mức chi dễ bị lạc hậu so với thực tiễn [5] Thứ hai, lập dự toán chi NSNN cho giáo dục - đào tạo
Dự toán là một trong những công cụ quan trọng được sử dụng trong quản
lý điều hành NSNN Quản lý theo dự toán là một nguyên tắc quan trọng trong quản lý NSNN nói chung và quản lý chi NSNN cho giáo dục - đào tạo nói riêng, khi lập dự toán chi NSNN cho giáo dục - đào tạo cần phải dựa trên những căn cứ sau:
Một là: Chủ trương của Đảng và Nhà nước về duy trì phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo trong từng thời kỳ
Hai là: Phải dựa vào chỉ tiêu kế hoạch phát triển giáo dục - đào tạo, đặc biệt là các chỉ tiêu có liên quan trực tiếp đến việc cấp phát kinh phí của ngân sách trong kỳ như chỉ tiêu về số lượng trường, lớp, biên chế, số lượng giáo viên, học sinh, sinh viên
Ba là: Căn cứ nhu cầu kinh phí, khả năng huy động các nguồn vốn ngoài
ngân sách cũng như khả năng đáp ứng của NSNN trong kỳ kế hoạch để lập dự toán chi
Trang 12Bốn là: Các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu sử dụng
kinh phí NSNN hiện hành và dự đoán những điều chỉnh hoặc thay đổi có thể
xảy ra trong kỳ kế hoạch
Năm là: Căn cứ vào kết quả phân tích đánh giá tình hình quản lý và sử
dụng kinh phí của năm trước
Quy trình lập dự toán chi NSNN cho giáo dục - đào tạo được tiến hành
theo các bước sau [8]:
Bước 1: Căn cứ vào dự toán sơ bộ về thu chi NSNN kỳ kế hoạch để xác
định mức chi dự kiến phân bổ cho ngành giáo dục - đào tạo Trên cơ sở đó,
hướng dẫn các đơn vị tiến hành lập dự toán kinh phí
Bước 2: Các đơn vị cơ sở giáo dục căn cứ vào chỉ tiêu được giao (số
kiểm tra) và văn bản hướng dẫn của cấp trên để lập dự toán kinh phí của đơn
vị mình để gửi đơn vị dự toán cấp trên hoặc cơ quan tài chính Cơ quan tài
chính xét duyệt tổng hợp dự toán chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo vào dự
toán chi NSNN nói chung để trình cơ quan chính quyền và cơ quan quyền lực
nhà nước xét duyệt
Bước 3: Căn cứ vào dự toán chi đã được cơ quan quyền lực Nhà nước
cấp trên thông qua, cơ quan tài chính sau khi xem xét điều chỉnh lại cho phù
hợp sẽ chính thức phân bổ mức chi theo dự toán cho các đơn vị thuộc ngành
giáo dục - đào tạo
Thứ ba, chấp hành dự toán chi NSNN cho giáo dục - đào tạo
Chấp hành dự toán chi NSNN cho giáo dục - đào tạo cần chú ý đến các
yêu cầu cơ bản sau:
- Đảm bảo phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, trên cơ sở dự toán chi
đã xác định
- Tiến hành cấp phát vốn, kinh phí một cách đầy đủ, kịp thời, tránh mọi
sơ hở gây lãng phí, thất thoát vốn của NSNN
- Trong quá trình sử dụng các khoản chi ngân sách phải hết sức tiết kiệm, đúng chính sách chế độ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội của mỗi khoản chi
Quá trình tổ chức điều hành cấp phát và sử dụng khoản chi NSNN cho giáo dục - đào tạo cần dựa trên những căn cứ sau:
- Dựa vào định mức chi đã được duyệt của từng chỉ tiêu trong dự toán Đây là căn cứ tác động có tính chất bao trùm đến việc cấp phát và sử dụng các khoản chi bởi vì mức chi của từng chỉ tiêu là cụ thể hoá mức chi tổng hợp đã được cơ quan quyền lực Nhà nước phê duyệt
- Dựa vào khả năng nguồn kinh phí NSNN có thể đáp ứng chi cho giáo dục - đào tạo Trong quản lý điều hành ngân sách phải quán triệt quan điểm
“lường thu mà chi” Mức chi trong dự toán mới chỉ là con số dự kiến, khi thực hiện phải căn cứ vào điều kiện thực tế của năm kế hoạch mới chuyển hóa được chỉ tiêu dự kiến thành hiện thực
- Dựa vào định mức, chế độ chỉ tiêu sử dụng kinh phí NSNN hiện hành Đây là những căn cứ pháp lý có tính bắt buộc quá trình cấp phát và sử dụng kinh phí phải tuân thủ, là căn cứ để đánh giá tính hợp lệ, hợp pháp của việc cấp phát và sử dụng các khoản chi
Các biện pháp cơ bản để tổ chức tốt công tác cấp phát và sử dụng các khoản chi NSNN cho giáo dục - đào tạo bao gồm:
- Cụ thể hóa dự toán chi tổng hợp cả năm thành dự toán chi hàng quý để làm căn cứ quản lý, cấp phát
- Quy định rõ ràng trình tự cấp phát, trách nhiệm và quyền hạn của mỗi
cơ quan (Tài chính, Kho bạc, Giáo dục và đào tạo) trong quá trình cấp phát,
sử dụng các khoản chi NSNN
Cơ quan Tài chính phải thường xuyên xem xét khả năng đảm bảo kinh phí cho giáo dục - đào tạo, bàn bạc với cơ quan giáo dục điều chỉnh kịp thời
dự toán chi trong phạm vi cho phép
Trang 13- Hướng dẫn các đơn vị cơ sở trong ngành giáo dục thực hiện tốt chế độ
hạch toán kế toán áp dụng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp, hạch toán
đầy đủ rõ ràng các khoản chi cho từng loại hoạt động
- Thường xuyên kiểm tra tình hình nhận và sử dụng kinh phí NSNN ở
các đơn vị giáo dục, đảm bảo đúng dự toán, phù hợp với định mức chế độ chi
NSNN hiện hành
Thứ tư, quyết toán chi NSNN cho giáo dục - đào tạo:
Mục đích chủ yếu của khâu công việc này là tổng hợp, phân tích, đánh
giá tình hình thực hiện kế hoạch chi từ đó rút ra những ưu nhược điểm trong
quản lý để có biện pháp khắc phục trong thời gian tới Công việc cụ thể được
tiến hành là kiểm tra, quyết toán các khoản chi
Trong quá trình kiểm tra, quyết toán các khoản chi phải chú ý các yêu
cầu cơ bản sau:
- Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời cho các cơ
quan có thẩm quyền xét duyệt theo quy định
- Số liệu trong báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, trung thực, nội dung
các báo cáo tài chính phải theo đúng nội dung ghi trong dự toán được duyệt
và theo đúng mục lục NSNN hiện hành
- Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị trước khi trình cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền phê duyệt phải có xác nhận của KBNN đồng cấp về tổng
số và chi tiết
- Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán không được quyết toán chi
lớn hơn thu
Chỉ một khi các yêu cầu trên được tôn trọng đầy đủ thì công tác quyết
toán các khoản chi NSNN cho giáo dục - đào tạo mới tiến hành được thuận
lợi, đồng thời, nó mới tạo cơ sở vững chắc cho việc phân tích đánh giá quá
trình chấp hành dự toán một cách chính xác, trung thực và khách quan
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý chi NSNN cho giáo dục - đào tạo Một là: Tổng sản phẩm quốc nội và phương thức phân phối tổng sản
phầm quốc nội
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh giá trị mới mà nền kinh tế sáng tạo ra trong một năm
Tổng sản phẩm quốc nội có ảnh hưởng tới số chi ngân sách cho giáo dục
- đào tạo bởi vì hai lý do sau:
- Tổng sản phầm quốc nội cao, thu nhập bình quân đầu người tăng lên, cuộc sống vật chất của nhân dân khá giả, lúc đó người dân mới có điều kiện cho con cái ăn học, đóng góp kinh phí cho nhà trường ; các công ty, xí nghiệp làm ăn phát đạt dễ làm việc tài trợ cho giáo dục - đào tạo
- Theo chế độ tài chính hiện hành, Nhà nước sẽ tham gia vào quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại tổng sản phẩm quốc nội để tạo nguồn thu cho NSNN Nhà nước động viên một phần tổng sản phẩm quốc nội vào tay mình làm cơ sở vật chất cho quá trình chi tiêu Cho nên khi tổng sản phẩm quốc nội tăng sẽ làm tăng tổng số thu NSNN, tạo cơ sở cho việc tăng chi NSNN cho giáo dục - đào tạo, số chi NSNN cho giáo dục - đào tạo không những chịu ảnh hưởng của tổng sản phẩm quốc nội mà còn chịu ảnh hưởng của phương thức phân phối tổng sản phẩm quốc nội Nếu phương thức phân phối xác định tỷ lệ lớn, số chi NSNN cho giáo dục - đào tạo tăng thì giáo dục
- đào tạo sẽ phát triển mạnh nhưng hạn chế khả năng chi cho các ngành khác
và cho tích luỹ Nếu phương thức phân phối xác định tăng nhiều cho các ngành khác mà giảm nhẹ khoản chi NSNN cho giáo dục - đào tạo thì sẽ làm giảm chất lượng giáo dục - đào tạo [9]
Hai là: Tốc độ phát triển dân số, số lượng và cơ cấu dân số
Tốc độ dân số tăng lên, dân số lớn sẽ làm giảm thu nhập quốc dân bình quân đầu người, giảm thu nhập bình quân của mỗi gia đình Do đó, các gia
Trang 14đình khó có điều kiện cho con đi học, nguồn kinh phí đầu tư từ gia đình cũng
giảm, gây ảnh hưởng tới số chi NSNN cho giáo dục - đào tạo
Ba là: Thực trạng trang thiết bị, phương tiện sẵn sàng phục vụ cho giáo
dục - đào tạo
Nhân tố này có ảnh hưởng đến các khoản chi có tính chất không thường
xuyên của NSNN cho giáo dục - đào tạo như khoản chi sữa chữa, mua sắm
máy móc, thiết bị cho hoạt động giảng dạy, khoản chi này không có định mức
quản lý và được xác định tuỳ thuộc vào thực trạng của nhà trường
Bốn là: Phạm vi, mức độ các khoản dịch vụ không phải trả tiền do Nhà
nước cung cấp cho học sinh
Thực chất của nhân tố này nói đến phạm vi, mức độ các khoản được Nhà
nước bao cấp phục vụ, trước kia với cơ chế quản lý quan liêu bao cấp hầu hết
mọi nhu cầu học hành, sinh hoạt của học sinh đều được Nhà nước bao cấp, do
vậy số chi NSNN cho giáo dục - đào tạo cao Ngày nay, khi nền kinh tế chuyển
sang kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, phạm vi bao cấp của Nhà
nước giảm, nhà nước chỉ đảm bảo kinh phí để duy trì sự hoạt động của nhà
trường, phần còn lại huy động qua chính sách thu học phí của học sinh
Trên đây là 4 nhân tố có tác động lớn tới số chi NSNN cho giáo dục -
đào tạo xuất phát từ tình hình kinh tế – xã hội mang lại Tuy nhiên, từ phần
mình giáo dục - đào tạo cũng tạo nên nhân tố ảnh hưởng tới số chi NSNN cho
giáo dục
Năm là: Mạng lưới tổ chức hoạt động sự nghiệp giáo dục - đào tạo
Mạng lưới tổ chức hoạt động giáo dục - đào tạo là hệ thống các trường
đào tạo, cơ cấu tổ chức cán bộ quản lý, giáo viên giảng dạy Nhân tố này ảnh
hưởng trực tiếp tới khoản chi lương, phụ cấp lương, phúc lợi tập thể cũng như
chi phí quản lý hành chính [9]
1.2.3 Vai trò và sự cần thiết phải hoàn thiện quản lý chi NSNN cho giáo dục - đào tạo
a Vai trò của quản lý chi NSNN cho giáo dục đào tạo
- Giáo dục đào tạo đối với sự nghiệp đổi mới đất nước
Giáo dục - đào tạo là hoạt động trực tiếp tác động nâng cao trí tuệ, hiểu biết và khả năng vận dụng những trí thức khoa học, kỹ thuật vào sản xuất của con người Tri thức là nguồn lực mạnh nhất so với tài nguyên thiên nhiên, tiền bạc của cải và sức mạnh cơ bắp trong việc tạo ra sản phẩm hàng hóa Giáo dục - đào tạo giúp chúng ta đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia công nghệ, những nhà quản lý giỏi, nói chung là tạo ra những con người lao động với hàm lượng trí tuệ ngày càng cao
Đội ngũ lao động được trang bị các kiến thức khoa học, kỹ thuật có trình
độ học vấn và chuyên môn, nghiệp vụ tốt sẽ làm tăng sức hấp dẫn với đầu tư nước ngoài Ngày nay, các công ty xuyên quốc gia, các nhà tư bản ở các nước công nghiệp phát triển khi đầu tư ra nước ngoài, họ luôn có xu hướng áp dụng những công nghệ tiên tiến, có hàm lượng kỹ thuật công nghệ cao để nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Do
đó họ không chỉ hướng vào những nước có nguồn nhân công rẻ, mà ngày càng chú trọng hơn đến việc đầu tư vào những nơi có đội ngũ lao động được đào tạo tốt [15]
Giáo dục đào tạo cũng có tác dụng tích cực trong việc giúp cho người lao động có năng lực tự giải quyết công ăn việc làm Khả năng giải quyết việc làm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng trí tuệ, hiểu biết có vai trò quan trọng nhất hình thành năng lực tự giải quyết việc làm của người lao động Thông thường, những người được đào tạo tốt, có trình độ học vấn, có hiểu biết khoa học, kỹ thuật, kinh tế, có trình độ chuyên môn và tay nghề cao dễ tìm được việc làm cho mình hơn những người không được đào tạo hay đào tạo kém,
Trang 15thậm chí những người được đào tạo tốt còn có thể tạo ra việc làm cho nhiều
người khác nữa [10]
Nền kinh tế thế giới đã chứng kiến sự tác động to lớn của của cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại chuyển từ công nghiệp hóa tập
trung, chi phí lớn sang mô hình công nghiệp tự động, tin học hoá, nhỏ, gọn,
tiêu tốn ít nhiên liệu, linh hoạt dễ đổi mới sản xuất theo nhu cầu đa dạng,
phong phú của khách hàng Thị trường phong phú và biến động nhanh chóng
“một nền kinh tế thị trường như vậy còn đòi hỏi người lao động có trình độ
khoa học, kỹ thuật và nghiệp vụ cao, biết xử lý linh hoạt, sáng tạo”
Bước sang thế kỷ 21, cuộc cách mạng KHCN sẽ có những bước tiến
nhảy vọt, đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên
thông tin và phát triển kinh tế tri thức, đồng thời tác động tới tất cả các lĩnh
vực, làm biến động nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của
xã hội Trong quá trình kinh tế hoá tri thức, con người vẫn được nhấn mạnh là
vị trí hạt nhân, phát triển vai trò trung tâm vô cùng quan trọng Vì vậy, nhóm
ngành văn hoá, giáo dục là quần thể tri nghiệp sản xuất truyền bá tin tức văn
hóa và tri thức, đặc biệt là đào tạo nên đội ngũ quân nhân tài, những người
sáng tạo ra tri thức trở thành một trong những ngành lớn nhất [15]
Bên cạnh đó toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế
khách quan, vừa là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh
của các nước đang phát triển để bảo vệ lợi ích quốc gia Sự cạnh tranh kinh
tế giữa các quốc gia sẽ ngày càng quyết liệt hơn đòi hỏi phải tăng năng suất
lao động, nâng cao chất lượng hàng hóa và đổi mới công nghệ một cách
nhanh chóng [4]
Sự phát triển mạnh mẽ của KHCN, sự phát triển năng động của các nền
kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hoá đang làm cho việc rút ngắn khoảng
cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên phức tạp hơn và nhanh hơn
KHCN trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế xã hội Giáo dục là nền tảng của sự phát triển KHCN, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của thế hệ hiện nay và mai sau
Các nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục - đào tạo không chỉ
là phúc lợi xã hội mà thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế, xã hội nhanh chóng và bền vững Sự nghiệp giáo dục - đào tạo đã trở thành sự nghiệp sống còn của mỗi quốc gia Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được xem là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tư cho phát triển [4]
Nhận thức rõ sức mạnh của giáo dục - đào tạo đối với sự phát triên kinh
tế xã hội, thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác
giáo dục - đào tạo Bác Hồ đã từng nói “muốn có chủ nghĩa xã hội, thì phải
có những con người xã hội chũ nghĩa” Người coi giáo dục - đào tạo là công
việc xây dựng con người lao động mới và là chiến lược lâu dài “Vì sự nghiệp
mười năm trồng cây, vì sự nghiệp trăm năm trồng người” [6]
Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta bằng những đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp nên đã đưa đất nước vượt qua nguy cơ khủng hoảng, đạt được những thành tựu đáng kể Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội của Đảng đã khẳng định KHCN, giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu Giờ đây, chúng ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước Đại hội X của Đảng đã tiếp tục khẳng định con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt
Để đi tắt đón đầu từ một nước kém phát triển thì vai trò của giáo dục - đào tạo và KHCN lại càng có tính quyết định Muốn nhanh chóng hiện đại hóa nền sản xuất cần phải nắm bắt được xu thế mới của công nghiệp hóa,
Trang 16hướng tới làm chủ những ngành sản xuất mũi nhọn, những công nghệ tiên tiến
nhất hiện nay Hơn lúc nào hết chúng ta cần nhanh chóng tạo được một đội
ngũ công nhân tri thức đông đảo Vì vậy, việc phát triển giáo dục - đào tạo
như thế nào để có được những con người lao động với chất lượng cao, phát
triển toàn diện ngày càng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng [4]
Một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo cho ngành giáo dục -
đào tạo thực hiện được mục tiêu phát triển đặt ra cho từng thời kỳ đó là sự
đầu tư tài chính cho công tác này Cần phải có những chính sách huy động
tích cực mọi nguồn vốn kể cả trong ngân sách và ngoài ngân sách để phục
vụ cho các hoạt động giáo dục - đào tạo Trong điều kiện phát triển kinh tế
thị trường như hiện nay, các nguồn lực trong nhân dân, trong các tổ chức,
doanh nghiệp và đoàn thể có vai trò quan trọng nhưng đồng thời cần phải
thấy rõ vai trò trọng tâm của Nhà nước trong việc đầu tư phát triển sự nghiệp
giáo dục - đào tạo ở nước ta [9]
- Vai trò quản lý chi NSNN đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo:
Quản lý chi NSNN cho giáo dục - đào tạo là qúa trình phân phối sử dụng
một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để duy trì, phát triển sự nghiệp giáo dục -
đào tạo theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp
Vai trò của quản lý chi ngân sách không chỉ đơn thuần là cung cấp
nguồn lực tài chính để duy trì, củng cố các hoạt động giáo dục - đào tạo mà
còn có tác dụng định hướng, điều chỉnh các hoạt động giáo dục - đào tạo phát
triển theo đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước
Ngày nay, trong điều kiện phát triển kinh tế trí thức với quan điểm giáo
dục là sự nghiệp của quần chúng, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương xã
hội hóa giáo dục và đào tạo Gắn liền với chủ trương đó, Nhà nước thực hiện
mở rộng, đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục kể cả trong nước và
ngoài nước
Trong điều kiện có nhiều nguồn vốn đầu tư cho giáo dục - đào tạo như vậy nhưng nguồn vốn đầu tư từ NSNN vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng Vai trò chủ đạo của chi NSNN cho giáo dục - đào tạo được thể hiện trên các mặt sau:
Một là: NSNN luồn là nguồn chủ yếu cung cấp nguồn tài chính để duy
trì, định hướng sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước
Giáo dục - đào tạo là một lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn mà Nhà
nước luôn phải quan tâm và có sự đầu tư thích đáng, “Ngân sách Nhà nước
giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực cho giáo dục” Chính vì vậy mà
nguồn vốn đầu tư của NSNN luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư cho giáo dục - đào tạo
Mặc dù thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách để huy động nguồn lực ngoài ngân sách đầu tư cho giáo dục như chính sách về đóng góp học phí, lệ phí tuyển sinh, đóng góp xây dựng trường, đóng góp phí đào tạo từ phía các cơ sở sử dụng lao động, các chính sách ưu đãi về thuế, huy động các nguồn tài trợ khác cho giáo dục - đào tạo…Tuy nhiên do việc xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo thực hiện chậm, các thành phần kinh tế phi Nhà nước phát triển chưa mạnh nên sự đóng góp cho giáo dục còn hạn chế Vì vậy, cho dù đối tượng chi có giảm đi nhưng kinh phí đầu tư của NSNN cho giáo dục - đào tạo hàng năm không giảm mà ngày một tăng lên [32]
Hai là: Chi NSNN đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố, tăng
cường số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy Hai yếu tố này lại ảnh hưởng có tính chất quyết định đến chất lượng hoạt động giáo dục - đào tạo
Trang 17Có thể nói, ngân sách giáo dục chủ yếu dành cho những chi phí liên quan
đến con người Trong đó chi lương và phụ cấp cho giáo viên luôn chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng chi thường xuyên cho giáo dục - đào tạo Hiện nay, trừ
một phần nhỏ các trường dân lập, bán công thì lương và phụ cấp cho giáo
viên đều do NSNN đảm bảo Phải thấy rằng, lương của giáo viên là một vấn
đề có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của giáo viên Một chính sách lương
hợp lý cho phép giáo viên không cần kiếm việc làm thêm, ngược lại nếu mức
lương giáo viên không đủ để trang trải những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống
và không khuyến khích giáo viên toàn tâm toàn ý cho việc dạy học thì họ sẽ
tìm mọi cách để có thêm thu nhập Ví dụ như dạy tư (thường là dạy chính
những học sinh ở trường công) hoặc bằng nhiều hoạt động kinh doanh khác
Hậu quả là nó sẽ tác động tiêu cực đến chất lượng giáo dục được cung cấp
qua hệ thống nhà nước
Ba là: Nguồn vốn NSNN là nguồn duy nhất đảm bảo kinh phí để thực
hiện các chương trình - mục tiêu quốc gia về giáo dục như: Chương trình phổ
cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ, chương trình tăng cường cơ sở vật
chất trường học, chương trình đầu tư cho giáo dục vùng cao…
Bốn là: Thông qua cơ cấu, định mức ngân sách cho giáo dục có tác dụng
điều chỉnh cơ cấu, quy mô giáo dục trong toàn ngành Trong điều kiện đa dạng
hóa giáo dục - đào tạo như hiện nay thì vai trò định hướng của Nhà nước thông
qua chi ngân sách để điều phối quy mô, cơ cấu giữa các cấp học, ngành học,
giữa các vùng là hết sức quan trọng, đảm bảo cho giáo dục - đào tạo phát triển
cân đối, theo đúng định hướng đường lối của Đảng và Nhà nước
Năm là: Sự đầu tư của NSNN có tác dụng hướng dẫn, kích thích thu hút
các nguồn vốn khác đầu tư cho giáo dục - đào tạo Nhà nước đầu tư hình
thành nên các trung tâm giáo dục có tác dụng thu hút sự đầu tư của các tổ
chức, cá nhân phát triển các loại dịch vụ phục vụ cho trung tâm giáo dục đó
Mặt khác trong điều kiện các tổ chức, cá nhân chưa có đủ tiềm lực đầu tư độc lập cho các dự án giáo dục thì sự đầu tư vốn của NSNN là số vốn đối ứng quan trọng để thu hút các nguồn lực khác cùng đầu tư cho giáo dục Thông qua sự đầu tư của Nhà nước vào cơ sở vật chất và một phần kinh phí hỗ trợ đối với các trường bán công, tư thục, dân lập có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ phong trào xã hội hóa giáo dục - đào tạo về mặt tài chính [14]
b Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN cho giáo dục- đào tạo
Trong những năm qua, từ sự nhận thức rõ vị trí, vai trò của giáo dục - đào tạo đối với sự nghiệp đổi mới đất nước cũng như vai trò của chi NSNN đối với việc phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, đầu tư cho giáo dục - đào tạo trên phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương đã được quan tâm nâng lên hơn trước nhiều Số chi cho giáo dục - đào tạo trong tổng chi NSNN qua các năm đều tăng đáng kể cả về số tuyệt đối lẫn tương đối, đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu chi tiêu cho bộ máy nhà trường, cho các hoạt động giảng dạy và học tập, cho xây dựng cơ sở vật chất trường học Tuy nhiên, mức tăng chi ngân sách chưa đủ đáp ứng các yếu tố như tăng học sinh, giáo viên và trượt giá hàng năm
Trong điều kiện đó, ngành giáo dục - đào tạo đã và đang phải giải một bài toán rất khó khăn là phải thoả mãn đồng thời yêu cầu tăng số lượng, đảm bảo chất lượng, nâng cao hiệu quả giáo dục - đào tạo trong điều kiện nguồn lực còn hạn hẹp Bài toán này cũng khó như bài toán chung hiện nay của đất nước là phải tạo ra một sự tăng trưởng nhanh chóng từ một điểm xuất phát rất thấp
Để giải được bài toán đó, hay nói cách khác, là để tạo ra sự chuyển biến
cơ bản, toàn diện về giáo dục - đào tạo, đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bên cạnh các chính sách tăng đầu tư cho giáo dục từ NSNN và đẩy mạnh xã hội
Trang 18hóa giáo dục - đào tạo thì việc đổi mới và kiện toàn lại hệ thống chính sách tài
chính – tiền tệ đảm bảo sử dụng NSNN chủ động và có hiệu quả, tăng cường
kiểm soát các khoản chi, kiên quyết chống lãng phí, thất thoát, nâng cao hiệu
quả đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách cho giáo dục - đào tạo là một trong
những yêu cầu thiết yếu trong giai đoạn hiện nay và sắp tới
Vì vậy, có thể nói hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN cho giáo dục -
đào tạo là một đòi hỏi có tính tất yếu khách quan trên bình diện quốc gia cũng
như đối với bất kỳ một địa phương, đơn vị nào [14]
1.3 Kinh nghiệm hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN cho giáo dục đào
tạo ở một số quốc gia trên thế giới
1.3.1 Khái quát chung về chính sách chi NSNN cho giáo dục đào tạo của
một số nước trong khu vực và trên thế giới
Các nước đang phát triển ở Châu Á nhìn chung có nét đặc trưng là tỉ lệ
phát triển dân số cao, phần lớn kinh tế còn nghèo nàn, mức sống người dân
thấp, kinh phí đáp ứng nhu cầu đi học bị hạn chế Nhà nước đầu tư cho giáo
dục theo xu hướng chung là để thực hiện giáo dục đại trà cho các cấp học phổ
thông (xoá mù chữ, phổ cập tiểu học, phổ cập trung học cơ sở) Hệ thống giáo
dục đào tạo ở các nước Châu Á thường gồm 4 cấp học: Mẫu giáo, tiểu học,
trung học và đại học ngoài ra còn có đào tạo nghề, đào tạo sau đại học và đào
tạo lại Phần lớn các nước Châu Á cưỡng bức học tiểu học, số học sinh học tiểu
học của các nước Châu Á tăng lên, thu hút các em ở độ tuổi đến trường đạt gần
90% Ở các nước ChâuÁ tồn tại 2 hệ thống: Trường của Nhà nước và trường tư
thục Học phí của các trường tư thục tương đối cao, giáo dục đại học ở các
nước này thời gian gần đây đã có những bước phát triển đáng kể Ở các nước
có xu thế phát triển tư bản, học đại học phải đóng học phí, ở một số nước giáo
dục đại học hoàn toàn dành cho người có tiền (Ấn độ, Philipine ) [11]
Bảng 1.1: Số liệu về chi cho Giáo dục - Đào tạo ở một số nước
GDP (%)
Tỷ lệ trong tổng chi NS
Nguồn: Báo cáo phát triển con người, UNDP; BC phát triển của ngân hàng thế giới
Vấn đề đầu tư, quản lý giáo dục đào tạo ở các nước tư bản phát triển có những đặc trưng riêng Ở phương Tây, về lịch sử đã hình thành 2 hệ thống quản lý nhà trường: Trung ương và phi Trung ương
Hệ thống quản lý Trung ương thể hiện rõ nhất ở Pháp: Các kế hoạch và chương trình dạy học, nhiệm vụ trách nhiệm bổ nhiệm và bãi miễn các nhân viên thuộc các trường nhà nước, đều do Bộ Giáo dục quy định chi tiết thông qua các chỉ thị, công văn, quyết định Ngược lại với hệ thống quản lý trung ương là phi trung ương được hình thành lâu đời ở các bang của Vương quốc Anh và Cộng hoà Liên bang Đức Ở những nước này, thậm chí mỗi vùng có một chủ quyền riêng về giáo dục kể cả việc đề ra bộ luật giáo dục
a Kinh nghiệm ở Trung quốc:
Phân tích kinh nghiệm cải cách và phát triển giáo dục ở Trung Quốc trong 10 năm qua, Uỷ ban giáo dục quốc gia Trung Quốc đã đúc rút thành các nguyên lý có thể tóm tắt được như sau:
+ Cải cách và phát triển giáo dục đào tạo phải dựa trên cơ sở phát triển một cách toàn diện quy mô, chất lượng, cơ cấu và hiệu quả
+ Cải cách và phát triển giáo dục đào tạo phải đáp ứng được yêu cầu của đất nước dựa trên nền tảng kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa
Trang 19+ Phát triển giáo dục, đào tạo phải dần hướng vào con đường quản lý theo
luật và hoạch định chính sách phải tiến hành một cách dân chủ, khoa học
+ Cải cách về quan niệm giáo dục đào tạo là điều kiện tiền đề cho các
hoạt động cải cách giáo dục
Luật giáo dục của Trung Quốc đã quy định rằng: nguồn ngân sách nhà
nước là thành phần chính trong các nguồn vốn cho giáo dục đào tạo, đồng
thời đa dạng hoá các nguồn vốn tự tạo khác để hỗ trợ, bổ sung nguồn vốn
ngân sách nhà nước Tỷ lệ đầu tư nguồn vốn từ NSNN cho giáo dục đào tạo
trong tổng chi NSNN phải tăng dần cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế
Nhà nước thiết lập thể chế lấy kinh phí từ NSNN làm chính, và tranh thủ kinh
phí hỗ trợ giáo dục đào tạo từ các nguồn khác làm cho giáo dục đào tạo phát
triển tương ứng với trình độ phát triển kinh tế - xã hội
Chi ngân sách giáo dục đào tạo của Trung Quốc tăng trung bình hàng
năm là 10% Tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục đào tạo chiếm 14% trong tổng
chi NSNN Tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục đào tạo chiếm 3,1% trong GDP
Nếu so sánh quốc tế thì mức chi tiêu giáo dục đào tạo nêu trên của Trung
Quốc là thấp hơn mức trung bình của các nước đang phát triển (4,1%) và mức
trung bình của các nước phát triển (5,6%)
Về quy mô giáo dục: hiện nay, Trung Quốc đang thực hiện trrên quy mô
toàn diện chính sách giáo dục bắt buộc 9 năm Hiện có 99,08% trẻ em trong độ
tuổi đi học đã được cắp sách đến trường; 95,45% trong số đó đã vào các trường
THCS Ngoài ra, 59% học sinh THCS đã vào học tại các trường cao hơn
Ở Trung Quốc cùng với việc xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ
nghĩa, giáo dục đào tạo cũng đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ Quá
trình chuyển đổi này đã dẫn đến sự đa dạng hoá các nguồn vốn và sự phát
triển uyển chuyển của chúng: từ chỗ chỉ phụ thuộc và NSNN chuyển sang đa
dạng hoá các nguồn vốn Do vậy, vấn đề thiếu hụt vốn trở thành một vấn đề
được rất nhiều người quan tâm
Trước cuộc cải cách ở thập kỷ 80, các cơ sở giáo dục đào tạo của Trung Quốc nhận kinh phí đào tạo từ Chính phủ theo kế hoạch ngân sách thống nhất của nhà nước Căn cứ vào phần kinh phí phân bổ của năm trước, Chính phủ
có thể điều chỉnh (tăng lên) tuỳ thuộc và nhu cầu của nhà trường, các cơ sở giáo dục đào tạo và khả năng về ngân sách cho giáo dục đào tạo Kinh phí không sử dụng hết phải trả lại cho nhà nước vào cuối năm Như vậy, hệ thống ngân sách kiểm soát chặt chẽ đã không tạo ra sự khuyến khích cho việc nâng cao hiệu quả, hạn chế tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục đào tạo và cấp chính quyền địa phương
Trong quá trình cải cách, đặc biệt từ thập kỷ 90 Trung Quốc đã thực hiện một số cải cách đáng kể như phi tập trung hoá tài chính, thay đổi trong cơ quản lý tài chính mới và đa dạng hoá nguồn vốn cho giáo dục đào tạo Điều
đó thể hiện ở việc Chính phủ trung ương đã phân cấp trách nhiệm cho tỉnh và
Bộ trong việc cung cấp tài chính cho giáo dục đào tạo, đa dạng hoá nguồn vốn cho giáo dục đào tạo Đồng thời khuyến khích các cơ sở giáo dục đào tạo đa dạng hoá các kênh tạo nguồn vốn, đó là các nguồn: thu nhập tự tạo của các cơ
sở giáo dục đào tạo (thu nhập từ doanh nghiệp của trường, thu nhập từ các hoạt động đào tạo và chương trình liên kết đào tạo, thu nhập từ nghiên cứu khoa học và dịch vụ tư vấn, thu nhập từ các hoạt động quyên góp từ thiện, biếu tặng, ) và nguồn thu học phí [16]
b Kinh nghiệm ở Úc:
Ở Úc áp dụng hệ thống đóng góp cho giáo dục đào tạo Chính phủ sau khi xác đinh ngân sách cho các cơ sở giáo dục đào tạo, cấp kinh phí trọn gói 3 năm tới và hàng năm kiểm tra đầu ra, nghĩa là với số tiền như vậy phải cung cấp cho xã hội bao nhiêu học sinh, sinh viên tốt nghiệp Đối với sinh viên phải đóng góp 23% so với tổng chi phí đào tạo Họ có thể 1 trong 2 cách đóng góp: đóng ngay khi đang học sẽ giảm 25% so với số tiền phải đóng và trả dần khi đã tốt nghiệp có việc làm trả theo mức thu nhập bình quân/năm
Trang 20Cơ chế, chính sách tài chính đối với giáo dục đào tạo ở Úc rất ổn định,
xác định rõ trách nhiệm của nhà nước và người học, quyền điều hành tài
chính của cơ sở giáo dục đào tạo đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trước nhà nước
(cung cấp đủ học sinh tốt nghiệp, nếu không đủ thì trừ kinh phí các năm tiếp
theo ở các cơ sở giáo dục công lậ, đối với các cơ sở ngoài công lập có uy tín
nhà nước cũng ký hợp đồng giao đào tạo một số ngành nghề mà xã hội có nhu
cầu và nhà nước cấp kinh phí) và thể hiện sự ưu tiên đối với người học trong
khi học và sau tốt nghiệp phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của người học Đây
là cơ chế, chính sách cơ bản không có quá nhiều sự hướng dẫn chồng chéo
khác đối với các cơ sở giáo dục đào tạo [9]
1.3.2 Một số kinh nghiệm rút ra cho công tác quản lý chi ngân sách giáo
dục - đào tạo của Việt Nam
a Chính sách vĩ mô:
Xây dựng một chiến lược đầu tư cho hệ thống giáo dục đào tạo song
song với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, KHCN Cơ chế, chính sách
quản lý chi đầu tư cho giáo dục đào tạo phải thúc đẩy quan hệ cung cầu về sản
phẩm đào tạo, tăng quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng, hiệu quả và phải
phù hợp với điều kiện, khả năng phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ
Kiên trì đầu tư và hoàn thiện chính sách quản lý chi cho giáo dục đào
tạo, lấy sự phát triển của giáo dục đào tạo làm nền tảng cho sự phát triển về
sau Hiệu quả của đầu tư và hoàn thiện cơ chế quản lý chi cho giáo dục đào
tạo không thể do bằng ngày, tháng mà phải hàng thế hệ, hàng thập niên
Chính sách đầu tư cho giáo dục đào tạo được xác định là huy động mọi
nguồn tài chính để phục vụ cho nhu cầu giáo dục, trong đó NSNN phải là
nguồn cơ bản Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục trong tương quan với các
tư cho giáo dục đào tạo Nếu giáo dục đào tạo được cung cấp như một dịch vụ trong nền kinh tế thị trường thì chỉ những người có khả năng trả lại các loại phí mới được vào học Vì vậy, cần phải có sự đầu tư của Chính phủ vào giáo dục đào tạo Và đầu tư của Chính phủ vào giáo dục đào tạo suy cho cung là nhằm để tăng hiệu quả của đầu tư xã hội vào giáo dục và tạo ra sụ công bằng
về cơ hội giáo dục đào tạo Một khi công bằng trong phân bố giáo dục được giải quyết thì thường sẽ dẫn đến công bằng trong phân phối thu nhập Quan niệm Nhà nước đầu tư ngân sách cho giáo dục - đào tạo có nghĩa là đầu tư cho tất cả các lĩnh vực, mọi bộ, ngành có hoạt động giáo dục đào tạo chứ không phải chỉ đầu tư cho Bộ Giáo dục Đào tạo Điều này xuất phát từ thực tế: sự nghiệp giáo dục - đào tạo không phải là nhiệm vụ riêng của Bộ Giáo dục Đào tạo mà là nhiệm vụ của các bộ, ngành Vì vậy, hoàn thiện cơ chế quản lý chi cho giáo dục đào tạo là nhiệm vụ chung của các bộ, ngành, là nhiệm vụ của quốc gia, của toàn dân
b Chính sách nâng cao hiệu quả chi NSNN cho giáo dục đào tạo
Trong cơ cấu chi ngân sách cho giáo dục đào tạo, NSNN cần tập trung cho giáo dục đại trà các cấp học thấp, cần tập trung nhiều hơn cho các bậc giáo dục phổ cập, cho vùng nông thôn, miền núi, cho đào tạo trình độ cao, cho những ngành khó thu hút đầu tư ngoài NSNN Tăng chi NSNN cho dạy thực hành, kỹ thuật công nghệ cho học sinh theo hướng phân ban ngay trong những
Trang 21năm đầu của bậc giáo dục trung học Tiếp tục đầu tư hiện đại hoá giáo dục
thông qua đưa tin học và nhà trường, xác định tỷ trọng đầu tư hợp lý để đào tạo
đội ngũ cán bộ, công nhân có tay nghề cao và đội ngũ các nhà khoa học [19]
Chính sách quản lý chi NSNN cho giáo dục - đào tạo cần kết hợp chặt
chẽ giữa Trung ương và địa phương Trung ương chỉ đạo thống nhất cả nước
về cơ chế chính sách vĩ mô, về chương trình mục tiêu, nhưng địa phương
phải được vận dụng để phù hợp với các điều kiện cụ thể về thiên nhiên, dân
cư, lao động truyền thống và đặc biệt là phù hợp với ngân sách địa phương
Thực hiện trao quyền tự chủ, trong đó có tự chủ tài chính cho các cơ sở
giáo dục đào tạo Khuyến khích đa dạng hoá các hoạt động có thu trong các
cơ sở giáo dục đào tạo để tái đầu tư cho giáo dục đào tạo
Có chính sách đãi ngộ hợp lý đối với đời sống giáo viên, nâng cao trình
độ cho đội ngũ này để đáp ứng với yêu cầu của tình hình hiện nay nhằm nâng
cao hiệu quả và chất lượng của giáo dục đào tạo [20]
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSNN CHO GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO Ở HUYỆN PHỔ YÊN 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý Phổ Yên là huyện trung du nằm ở phía nam của tỉnh Thái Nguyên, cách trung tân thành phố Thái Nguyên 26 km về phía Nam và cách Hà Nội 56 km
về phía Bắc theo Quốc lộ 3
Huyện Phổ Yên có các vị trí giáp danh như sau:
- Phía Bắc, Tây Bắc giáp thành phố Thành Phố Thái Nguyên, huyện Đại
Từ và thị xã Sông Công (Tỉnh Thái Nguyên)
- Phía Nam giáp huyện Sóc Sơn (Thành phố Hà Nội)
- Phía Đông và Đông Bắc giáp huyện Hiệp Hòa (Tỉnh Bắc Giang) và giáp huyện Phú Bình - Thái Nguyên
- Phía Tây giáp huyện Tam Đảo (Tỉnh Vĩnh Phúc) [13]
b Địa hình Huyện Phổ Yên thuộc vùng gò đồi của tỉnh Thái Nguyên, bao gồm vùng núi thấp và đồng bằng
Địa hình của huyện thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và chia làm 2 vùng rõ rệt:
- Vùng phía Đông (hữu ngạn sông Công): Gồm 11 xã và 2 thị trấn, có
độ cao trung bình 8 - 15 m, đây là vùng gò đồi thấp xen kẽ với địa hình đồng bằng
- Phía Tây (tả ngạn sông Công): Gồm 4 xã, 1 thị trấn, là vùng núi của huyện, địa hình đồi núi là chính, cao nhất là dãy Tạp Giang 515 m Độ cao trung bình ở vùng này là 200 - 300 m
Trang 22c Khí hậu
Phổ Yên nằm trong khu vực vó tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2
mùa rõ rệt: mùa nóng, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10; mùa lạnh, mưa ít
từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm khoảng 270C, tháng 7 là tháng
nóng nhất (28,50C), tháng 1 là tháng lạnh nhất (15,60C) Số giờ nắng cả năm
là 1.628 giờ, năng lượng bức xạ đạt 115 kcal/cm2
- Chế độ mưa: Mưa phân bố không đồng đều trong năn Mùa mưa từ
tháng 5 đến tháng 10, chiếm 91,6% lượng mưa cả năm Mùa mưa trùng với
mùa lũ nên thường gây úng lụt cho vùng thấp của huyện [13]
d Chế độ thủy văn
Chế độ thủy văn của các sông qua địa phận Phổ Yên phụ thuộc chủ yếu
vào chế độ mưa và khả năng điều tiết của lưu vực sông Công và sông Cầu
Mùa lũ trên 2 hệ thống sông Công và sông Cầu thường trùng vào mùa
mưa (từ tháng 5 đến tháng 10), xuất hiện nhiều nhất vào tháng 6, 7, 8, 9 Bình
quân mỗi năm có từ 1 - 2 trận lũ
Mùa cạn ở 2 hệ thống sông kéo dài khoảng 4 tháng (từ tháng 112 đến
tháng 3 năm sau) Lượng nước trên các sông này bình quân chỉ đạt 1,5 - 2%
tổng lượng nước cả năm Đây là yếu tố bất lợi cho sản xuất và sinh hoạt trên
địa bàn huyện [13]
e Tài nguyên đất
Huyện Phổ Yên có 10 loại đất chính Trong đó có các loại đất phù xa,
bạc màu, dốc tụ và đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa thường có độ dốc thấp,
tầng đất dày >100 cm, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nhưng loại đất
này chỉ chiếm 35% diện tích đất tự nhiên toàn huyện Đất đỏ vàng trên phiến
thạch sét, đất vàng nhạt trên đá cát, đất nâu vàng trên phù xa cổ có diện tích
chiếm 61,6% diện tích toàn huyện, hầu hết có độ dốc >250
Tình hình sử dụng đất đai huyện Phổ Yên được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Phổ Yên
Đơn vị: ha
TT Chỉ tiêu 2008 2009 2010
So sánh Tốc độ
PT BQ (%)
09/08 ±∆ 10/09 ±∆ (%) (%)
Tổng diện tích tự nhiên 25667.6 25667.6 25667.6 100 0 100 0 100
1 Đất nông nghiệp 20326.9 19955.3 19910.4 98.17 -371.6 99.77 -44.91 98.9
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 12634.3 12308.7 12267.4 97.42 -325.6 99.65 -41.2 98.5
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 8216.1 8159.7 8120 99.31 -56.4 99.51 -39.6 99.4
1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 325.6 320.8 320.5 98.54 -4.74 99.8 -0.33 99.2
2 Đất phi nông nghiệp 5032 5408.1 5453.2 107.47 375.9 100.8 45.03 104.1
2.1 Đất ở 787.6 949.7 960.6 120.59 162.1 101.1 10.88 110.4 2.1.1 Đất ở tại nông thôn 726.1 887.1 892.2 122.18 161.0 100.5 5.06 110.8 2.1.2 Đất ở tại đô thị 61.5 62.59 68.4 101.74 1.07 109.3 5.82 105.4
Trang 23Bảng biểu trên cho thấy tình hình đất đai của huyện đã có sự biến động
đối với cả 3 loại đất là đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử
dụng Trong đó diện tích đất nông nghiệp đang có xu hướng giảm nhanh, năm
2009 so với năm 2008 chỉ đạt 98,172% tức là giảm 371,6ha và năm 2010 so
với năm 2008 giảm 44,91 ha Và sự sụt giảm đáng kể nhất là diện tích trồng
cây lâu năm (năm 2009 so với 2008 giảm 269,2 ha), tiếp đến là diện tích trồng
cây hàng năm (năm 2009 so với 2008 giảm 56,44 ha và 2009 so với 2008
giảm 39,64 ha) Nhưng bên cạnh sự giảm sút này thì diện tích đất phi nông
nghiệp lại có sự gia tăng đang kể Năm 2009 so với 2008 tăng 7,47% tức là
tăng 375,97ha và năm 2009 so với 2008 tăng 45,03 ha Tập trung lớn nhất
trọng sự thay đổi đó là diện tích đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp
Nguyên nhân của sự thay đổi này là do thời gian gần đây, phát huy được
những lợi thế của mình huyện Phổ Yên là điểm đến của khá nhiều các nhà
đầu tư cả trong nước ngoài Vì thế mà số lượng dự án đầu tư vào huyện tăng
lên nhanh chóng cả về quy mô dự án và giá trị dự án đầu tư bao gồm cả dự án
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng lẫn dự án kinh doanh Một khi các dự án được
xây dựng thì đồng nghĩa với nó là diện tích đất khác sẽ phải giảm đi và diện
tích đất giảm đi ở đây chính là đất sản xuất nông nghiệp Với đặc điểm là
huyện trung du của tỉnh lại nằm trên quốc lộ 2 Thái Nguyên đi Hà Nội nên
trong thời gian tới nơi đây còn là điểm dừng chân cho nhiều nhà đầu tư hơn
nữa Điều này có nghĩa diện tích đất đô thị (đất phi nông nghiệp) sẽ không
ngừng tăng lên - hay quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ
f Tài nguyên rừng
Theo số liệu thống kê năm 2010, diện tích rừng của huyện là 6.962,13 ha
(chiếm 26.9% diện tích tự nhiên), trong đó rừng sản xuất là 4.282,79 ha, rừng
phòng hộ là 2.679,34 ha Với những loại cây rừng chủ yếu là bạch đàn, mỡ,
bồ đề, keo, tre, mai… Lượng tăng trưởng đạt 5,5 - 6,5 m3/ha/năm
Phổ Yên là huyện chuyển tiếp giữa vùng núi và vùng đồng bằng nên
diện tích đất lâm nghiệp không lớn và tập trung chủ yếu ở các xã phía Tây của
huyện Những xã có thảm rừng lớn là Phúc Tân (2.188,26 ha), Phúc Thuận (2.875,01 ha), Thành Công (929,88 ha)
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
a Dân số và lao động
Tình hình dân số huyện Phổ Yên được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.2: Dân số huyện Phổ Yên qua các năm
Tỷ lệ( %) trong tổng nhân khẩu 67,33 67,44 67,6 67,38 67,48
1 Số người trong độ tuổi LĐ 80485 80973 82075 83402 84298
- Có khả năng lao động 76782 77329 78464 79816 80673
- Mất khả năng lao động 3703 3644 3611 3586 3625
2 Số người ngoài độ tuổi có tham
- Lao động trên độ tuổi 5564 5657 5682 5728 5990
- Lao động dưới độ tuổi 8436 8580 8618 8592 8622
B - Phân bố nguồn lao động 90782 91466 92664 94136 95285
1 LĐ đang làm việc trong các
2 Số người trong độ tuổi LĐ có
Tr Đó: - Học phổ thông 3154 3172 3328 4128 4200
3 Số người trong độ tuổi có khả
- Tỷ lệ (%) thất nghiệp so với số người LĐcó khả năng LĐ 0,65 0,60 0,64 0,53 0,52
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Phổ Yên
Trang 24Dân số lao động là nguồn lực cơ bản quyết định mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh tính đến 01 tháng 10 năm 2010 dân số toàn huyện Phổ Yên là
141.203 người Lao động trong độ tuổi năm 2010 là 84.298 lao động trong đó
lao động hoạt động trong lĩnh vực Nông lâm nghiệp là 43.326 lao động
Nếu xét cơ cấu lao động theo chất lượng thì có thể thấy, tỷ lệ lao động
qua đào tạo của Phổ Yên đang có xu hướng tăng lên rõ rệt, năm 2008 tỷ lệ
người trong độ tuổi lao động đang đi học chiếm 4,1% đến năm 2010 là 5%
Xem xét thực trạng sử dụng lao động, số lao động trong độ tuổi không
có việc làm năm 2010 ở Phổ Yên là: 486 lao động, chiếm tỷ lệ 0,52%
Những năm gần đây tỷ lệ thất nghiệp, số lao động trong độ tuổi không có
việc làm ngày càng giảm, thực trạng sử dụng lao động ở cả khu vực thành
thị và nông thôn có phần tốt hơn Đóng góp vào việc giải quyết việc làm
trong 5 năm qua chủ yếu là sự phát triển kinh tế tại địa phương thông qua
các chương trình phát triển kinh tế công nghiệp, nông nghiệp Số lao động
giải quyết việc làm từ kinh tế Huyện tăng lên qua các năm, trong nông
nghiệp, đó là sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thực hiện kinh tế
trang trại, trong công nghiệp, sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân, nhất là
trong ngành chế biến, cơ khí, khai thác
b Cơ sở hạ tầng
* Giao thông:
Mạng lưới đường bộ trên địa bàn huyện Phổ Yên gần trục Quốc lộ 3 dài
13 km chạy qua trung tâm huyện theo hướng Bắc Nam Từ trục Quốc lộ 3 này
là các đường xương cá đi các xã, thị trấn và khu vực dân cư
Tổng chiều dài đường liên huyện là 27 km, bao gồm các tuyến Ba Hàng
- Tiên Phong, đường 261 (Ba Hàng - Phúc Thuận) Từ Quốc lộ 3 đi Chã và từ
đường 261 đi Thành Công, các tuyến này hiện nay đều là đường cấp phối
Đường liên xã có khoảng 19 km, liên thôn 30 km Trong phong trào xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn hiện nay, nhiều tuyến đường đã được bê tông hóa theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm
Tuyến đường sắt Hà Nội - Thái Nguyên qua địa bàn huyện Phổ Yên chủ yếu vận chuyển than và quặng sắt, đoạn qua huyện dài khoảng 19 km
Có 2 tuyến giao thông đường thủy thuộc hệ thống sông: Sông Công (đoạn qua địa bàn huyện dài 68 km) và Sông Cầu (dài 17 km)
* Thủy lợi:
Công trình đầu mối trên địa bàn huyện có 3 công trình lớn là Hồ Suối Lạnh, Bình Sơn và trạm bơm Cống Táo Ngoài ra, còn có trên 20 trạm bơm lớn, nhỏ Kênh Hồ Núi Cốc cấp I với tổng chiều dài trên 18 km đã được kiên
cố hóa, kênh nhánh cấp 2 + 3 dài 240 km, kênh hồ đập dài 36 km kênh chính,
23 km kênh nhánh tập trung ở các xã Phúc Thuận, Minh Đức, Thành Công, Vạn Phái Trong 3 năm qua đã bê tông hóa được 250 km kênh mương nội đồng, xây dựng thêm được một số trạm bơm dầu, bơm điện Từ kết quả của công tác thủy lợi đã đưa diện tích 2 vụ lên gần 4.000 ha
* Hệ thống điện, thông tin liên lạc:
Hiện nay, 100% số xã, thị trấn trong huyện đã được sử dụng lưới điện quốc gia, số hộ dùng điện đạt 100% Mạng lưới điện hiện còn bộc lộ nhiều bất cập, chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sản xuất và sinh hoạt
Hệ thống thông tin liên lạc và viễn thông của huyện khá hoàn chỉnh Đến nay, mạng điện thoại cố định đã phủ 18/18 xã, thị trấn, sóng điện thoại di động phủ 14/15 xã, thị trấn
* Hệ thống giáo dục, y tế:
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo của huyện Phổ Yên trong những năm qua đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, huyện đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS vào tháng 12/2003, sớm 1 năm so với kế hoạch
Trang 25Phổ Yên luôn là đơn vị dẫn đầu của tỉnh trong công tác xây dựng trường
chuẩn quốc gia Số trường chuẩn quốc gia là 40, đạt 60% trên tổng số Số lớp
học được tầng hóa là 306 đạt 35% Chất lượng giáo dục ở các cấp học được
nâng lên rõ rệt Trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế công nghiệp đẩy
mạnh công tác đào tạo cho trên 5.200 học viên/năm Trung tâm dạy nghề
huyện đào tạo nghề cho 4.700 lao động, đưa tổng số lao động qua đào tạo
toàn huyện chiếm 25% nguồn lao động của địa phương
Phổ Yên là huyện có hệ thống y tế tương đối hoàn chỉnh Toàn huyện có
1 bệnh viện, 2 phòng khám đa khoa, 18 trạm y tế với tổng số 180 giường
bệnh, 1.721 cán bộ y tế Hiện nay có 2 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, ngành y
tế huyện đang xây dựng chuẩn quốc gia về y tế xã để nâng cao hơn nữa chất
lượng khám chữa bệnh cho nhân dân Trong ba năm qua, y tế huyện đã thực
hiện khám chữa bệnh cho 210.000 người, giảm tỷ lệ sinh thô xuống còn
0,2‰/năm [24]
2.1.3 Tình hình phát triển kinh tế của huyện
a Tăng trưởng kinh tế
Thời gian qua cùng với hàng loạt các chính sách mở cửa của huyện về
ưu đãi đầu tư khiến nhu cầu xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị tăng
lên nhanh chóng Do đó, ngành Xây dựng trong giai đoạn 2008-2010 đã đạt
được tốc độ tăng trưởng bình quân năm cao nhất trên địa bàn và đạt 31,89%
Điều này phần nào đánh giá được tốc độ đô thị hoá và xây dựng cơ bản đang
diễn ra mạnh mẽ tại huyện Phổ Yên
Trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế theo đường lối đổi mới,
với sự nỗ lực vượt bậc của cấp ủy, chính quyền và toàn dân, nền kinh tế của
huyện đã có những chuyển biến tích cực Giá trị sản xuất của các ngành nông
nghiệp, công nghiệp và dịch vụ - thương mại đều tăng, cơ cấu kinh tế có sự
chuyển dịch, đời sống của đại bộ phân dân cư đã được cải thiện [24], và được
thể hiện qua bảng số liệu sau đây:
Bảng 2.3: Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện giai đoạn 2008 - 2010
Chỉ tiêu
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Tốc độ phát triển (%)
Số lượng (triệuđ)
Cơ cấu (%)
Số lượng (triệuđ)
Cơ cấu (%)
Số lượng (triệuđ)
Cơ cấu (%) 09/08 10/09 BQ
Tổng GTSX 2204979 100 2567903 100 3410468 100 116,46 132,81 124,64
1.N - L - N 522696 23,71 595153 23,18 639157 18,74 113,86 107,39 110,63
2.CN - XD 1168638 53,00 1414239 55,07 2018995 59,20 121,02 142,76 131,89
3.TM - DV 469666 21,30 558511 21,75 752316 22,06 118,92 134,70 126,81
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Phổ Yên
Trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế theo đường lối đổi mới, với sự nỗ lực vượt bậc của cấp ủy, chính quyền và toàn dân, nền kinh tế của huyện đã có những chuyển biến tích cực Giá trị sản xuất của các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ - thương mại đều tăng, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch, đời sống của đại bộ phân dân cư đã được cải thiện
Tổng giá trị sản xuất của huyện tăng từ 2.204.979 triệu đồng năm 2008 lên 3.410.468 triệu đồng năm 2010 (theo giá hiện hành), tốc độ phát triển bình quân (2008 - 2010) là 124,64%
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế của huyện thời gian qua
có sự chuyển dịch tích cực phù hợp với xu thế chung của huyện và tỉnh, giảm dần tỉ trọng nông nghiệp, thủy sản trong tổng giá trị gia tăng (về giá trị vẫn tăng), tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ Năm
2009, tỷ trọng ngành nông lâm ngư nghiệp trong tổng giá trị sản xuất là 23,18%, công nghiệp - xây dựng là 55,07%, thương mại và dịch vụ là 21,75% Năm 2010, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm xuống còn 18,74%, công nghiệp - xây dựng tăng lên là 59,20%, thương mại và dịch vụ tăng lên 22,06% GDP bình quân đầu người đến năm 2010 đạt 24.619 triệu đồng
Trang 26(tương đương 1.230 USD) Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
năm 2010 đạt 1.550 tỷ đồng, tăng bình quân 39,60% Tổng sản lượng lương
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Phổ Yên
Qua biểu đồ trên ta nhận thấy giá trị sản xuất của huyện Phổ Yên tăng
trưởng nhanh liên tục qua các năm Năm đánh dấu mốc tăng trưởng nhanh đó
là năm 2008 Tốc độ phát triển của ngành dịch vụ thương mại trong giai đoạn
2008 đến 2010 có tốc độ phát triển nhanh nhất được thể hiện bằng độ dốc của
đường L2 Giá trị của ngành sản xuất công nghiệp năm 2009 có biểu hiện
giảm sút và có dấu hiệu phục hồi trong năm 2010 Giá trị của ngành nông
nghiệp có sự tăng trưởng liên tục nhưng với tốc độ chậm và phát triển nhanh
trong giai đoạn 2008-2010 về giá trị
L2 L1
L3
L4
b Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn huyện 2006 và 2010
ĐVT: %
54.76000
14.73000 30.5000
1 CN và XD 2 DV 3 Nông nghiệp
59.20
1 CN và XD 2 DV 3 Nông nghiệp
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Phổ Yên
Cơ cấu ngành kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu ngành: Do xác định rõ
phương hướng phát triển hiện nay là phát huy mọi tiềm năng để tăng giá trị các ngành dịch vụ Vì thế cơ cấu ngành đã có sự chuyển dịch mạnh theo hướng ngày càng hợp lý, tỷ trọng ngành thương mại dịch vụ tăng nhanh, tỷ trọng nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng giảm dần (trong khi quy mô giá
trị sản xuất nông nghiệp nói chung và bình quân lương thực có hạt vẫn tăng,
từ 377,6 kg/người năm 2006 lên 391 kg/người năm 2010) Năm 2006, tính trên toàn địa bàn, tỷ trọng các ngành Công nghiệp & XD - Dịch vụ - Nông nghiệp đạt theo thứ tự: 54,76% - 14,73% - 30,5%; Đến năm 2010 tỷ trọng các ngành tương ứng đạt là: 18,74% - 59,2% 22,06%
Như vậy có thể nói vị trí của ngành CN - XD và ngành dịch vụ có sự hoán vị nhau Năm 2006 trong tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng chiếm chủ yếu và ngành nông nghiệp đứng thứ hai thì ngược lại năm 2010 tỷ trọng lớn nhất là của huyện Phổ Yên là dịch vụ thương mại và thứ hai lại là ngành nông nghiệp Sự thay đổi theo chiều hướng tốt phù hợp với quan điểm và
phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện
Trang 272.1.4 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Phổ Yên
ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội
a Thuận lợi
- Phổ Yên là huyện cửa ngõ phía Nam của tỉnh Thái Nguyên, có vị trí địa
lý giáp thành phố Thái Nguyên và có đường Quốc lộ 3 chạy qua, có điều kiện
hết sức thuận lợi cho việc tiếp cận với khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới
để phát triển
- Đất đai của huyện tương đối đa dạng, thuận lợi cho việc phát triển nông
lâm nghiệp Tiềm năng cùng với thời tiết khí hậu thuận lợi cho việc phát triển
tập đoàn cây con phong phú, có lợi thế để phát triển một nền nông nghiệp bền
vững Tuy nhiên, khai thác thế mạnh này phải biết cách bảo vệ, khôi phục và
phát triển, kết hợp với khai thác có hiệu quả tài nguyên đất đai, khí hậu cũng
như môi trường sinh thái
- Trên địa bàn huyện có nhiều doanh nghiệp của tỉnh và trung ương tạo
thành những khu công nghiệp như: Khu công nghiệp Tây Phổ Yên, Khu công
nghiệp Nam Phổ Yên, Tổ hợp công nghiệp dịch vụ đô thị Yên Bình
- Nhân dân các dân tộc huyện Phổ Yên có truyền thống đoàn kết, tương
thân tương ái, sát cánh bên nhau, khắc phục mọi khó khăn để xây dựng huyện
Phổ Yên thành một huyện giàu mạnh
- Cơ sở hạ tầng được nâng cấp xây dựng, mạng lưới giao thông nông
thôn được cải thiện tốt, thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và tiêu thụ nông sản
Hơn nữa, huyện có hệ thống kênh mương kiên cố (đặc biệt có hệ thống kênh
Hồ Núi Cốc và có 3 công trình thủy lợi lớn là Hồ Suối Lạnh, Bình Sơn và
trạm bơm Cống Táo Ngoài ra, còn có trên 20 trạm bơm lớn, nhỏ.) tạo điều
kiện thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp
- Về giáo dục đào tạo, y tế, thông tin liên lạc đã và đang phát triển, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện
b Khó khăn
- Tập quán canh tác vẫn còn lạc hậu, kinh tế chủ yếu phát triển là thuần nông, độc canh, tự cấp, tự túc, số lượng hàng hóa chưa nhiều, chất lượng sản phẩm chưa cao
- Áp lực của sự gia tăng dân số đòi hỏi việc làm Trình độ dân trí thấp, đội ngũ lao động chưa thông qua đào tạo vẫn chiếm tỷ lệ khá cao, hạn chế việc tiếp thu khoa học kỹ thuật và giảm hiệu quả lao động
- Hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn chưa đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất và đời sống nhất là các xã vùng núi, làm cho kinh tế chậm phát triển, các vấn đề xã hội trở nên gay gắt
- Hệ thống kênh Hồ Núi Cốc chỉ cung cấp nước tưới cho diện tích đất phần phía Đông (hữu ngạn Sông Công), còn diện tích đất phần phía Tây (tả ngạn Sông Công) không có hệ thống kênh chảy qua Đây là một khó khăn trong việc cung cấp nước tưới vào mùa khô
- Cơ cấu sản xuất, cơ cấu sử dụng đất đai, lao động còn nhiều bất hợp lý, đòi hỏi có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ mới có thể phát huy hết tiềm năng của huyện
- Trong những năm gần đây, thời tiết khắc nghiệt, dịch bệnh gia súc, dịch bệnh cúm gia cầm phát sinh ở một số nơi, gây tâm lý lo ngại và giảm hiệu quả chăn nuôi đối với một số gia đình nuôi gia cầm lớn Mặt khác, giá cả thị trường có nhiều biến động nhất là một số mặt hàng sản phẩm công nghiệp như sắt thép, vật tư phục vụ nông nghiệp như giống, phân bón Hàng hóa của nông dân làm ra như chè búp khô chưa có nơi tiêu thụ ổn định và giá cao [24]
Trang 282.2 Một số nét cơ bản về giáo dục đào tạo và chính sách quản lý chi ngân
sách nhà nước ở huyện Phổ Yên
2.2.1 Khái quát về giáo dục đào tạo của huyện Phổ Yên
Trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2006 đến 2010, sự nghiệp giáo dục
và đào tạo huyện Phổ Yên đã phát triển với quy mô lớn nhất từ trước đến nay
và đã đạt được nhiều kết quả đáng kể, cụ thể như sau:
a Về giáo dục mầm non
Mạng lưới trường lớp được đa dạng hóa với các loại hình: công lập, bán
công, dân lập và tư thục, phân bổ tương đối hợp lý theo điều kiện của từng
vùng, miền Xoá được xã trắng về mẫu giáo trên địa bàn tỉnh Phần lớn các cơ
sơ giáo dục mầm non thực hiện đúng chương trình, đúng đối tượng, chất
lượng giáo dục được nâng lên
Đến cuối năm 2010, toàn huyện có 24 trường bán công, gồm 69 điểm
trường, tăng 01 trường Mầm non Phúc Thuận III Trong đó có 7 trường mầm
non đạt chuẩn quốc gia chiếm 29,16%, tăng 16,6% so với năm 2009
Tỷ lệ huy động các cháu ra lớp với 248 nhóm lớp gồm 6.215 cháu đạt
54% tăng 1% so với năm 2009 Trong đó, số cháu trong độ tuổi đi nhà trẻ huy
động được 53 lớp gồm 1.106 cháu đạt 20% Số cháu trên 2 tuổi ra lớpdddược
928 cháu đạt tỷ lệ 44% Số cháu trong độ tuổi mẫu giáo gồm có 195 lớp với
5.109 cháu đạt tỷ lệ 85% Đáng chú ý số cháu trong độ tuổi mẫu giáo lớn (5
tuổi là 2.076 đạt tỷ lệ đến lớp học 100% [23]
b Về giáo dục tiểu học
Chất lượng giáo dục toàn diện trong các trường tiểu học tiến bộ rõ Toàn
tỉnh đã đạt tiêu chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học tại thời điểm tháng
12/1998 Chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học tiếp tục được củng cố Bộ Giáo
dục và Đào tạo đã kiểm tra và công nhận huyện Phổ Yên đạt tiêu chuẩn phổ
cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi vào thời điểm tháng 11 năm 2010
Hệ thống trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia tiếp tục được mở rộng; hiện nay trên địa bàn huyện Phổ Yên có 28 trường công lập có 54 điểm trường trong đó có 26 trường đạt chuẩn quốc gia, tăng 03 trường so với năm 2009 Trong năm 2010, huyện Phổ Yên đã huy động học sinh đến trường được 407 lớp với 10.267 học sinh; Trong số đó có 196 học sinh khuyết tật học hoà nhập 100% số trường trên học 2 buổi/ngày
Số học sinh lớp 1 đúng độ tuổi ra lớp đạt 96,3%.Số học sinh lớp 5 học đúng độ tuổi đạt 93,5%
Năm 2010 có tổng 224 lớp học ngoại ngữ với 5.787 học sinh Tổ chức được 103 lớp học tin với 2.647 học sinh theo học [23]
- Về giáo dục THCS:
Mạng lưới trường lớp THCS và THPT phát triển nhanh, được đa dạng hóa ở cấp THPT, phục vụ thoả mãn nhu cầu học sinh tốt nghiệp tiểu học vào THCS Toàn huyện hiện có 17 trường công lập trong đó có 7 trường đạt chuẩn quốc gia, tăng thêm 6,25% so với năm 2009 (tăng 01 trường) Huy động học sinh đến lớp gồm 227 lớp học với 8.471 học sinh Trong năm 2010
tổ chức dạy được 224 lớp học ngoại ngữ với 8.471 học sinh tham gia, tổ chức được 60 lớp học tin học với 2.160 học sinh 100% học sinh lớp 8 được học hướng nghiệp nghề
Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì giáo dục và đào tạo Huyện Phổ Yên vẫn còn nhiều tồn tại, khó khăn trước mắt cần phải khắc phục:
- Về mặt xây dựng đội ngũ giáo viên:
Mặc dù số lượng giáo viên trong thời gian qua đã tăng lên nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế Tình trạng thừa, thiếu giáo viên ở các cấp học luôn xảy ra Hiện nay, huyện Phổ Yên còn thiếu khoảng 269 giáo viên ở các cấp Cụ thể cấp Mầm non thiếu 184 cán bộ, giáo viên; cấp Tiểu học thiếu
78 cán bộ, giáo viên; cấp Trung học cơ sở thiếu 7 cán bộ hành chính Nếu tính
về tỷ lệ giáo viên đứng lớp đạt 2,1giáo viên/ lớp
Trang 29Trình độ giáo viên mặc dù đã được nâng lên nhiều hơn trước nhưng số
giáo viên không đạt chuẩn đào tạo theo luật định vẫn chiểm tỷ lệ tương đối
cao, nhất là đối với các bậc học mầm non và THCS Số giáo viên nhà trẻ
không đạt chuẩn là 12%, mẫu giáo là 5% và THCS là 3% [23]
- Về chất lượng giáo dục
Phòng Giáo dục huyện Phổ Yên luôn chỉ đạo các trường luôn quan tâm
đễn chất lượng giáo dục, tránh bệnh thành tích Năm học 2007-2008, tỷ lệ học
sinh có học lực yếu, kém cao nhất so với các địa phương khác trong tỉnh Thái
Nguyên (14,52%) Năm 2009, tỷ lệ học sinh yếu, kém giảm hơn năm trước và
chiếm tỷ lệ 7,25% Thực hiện việc đưa danh sách các học sinh xếp loại học
lực yếu, kém để trao đổi với gia đình nhằm tìm các biện pháp tích cực giúp
các em cải thiện được lực học một cách thiết thực, có hiệu quả Mặt khác,
quan tâm cụ thể tới chất lượng giáo dục toàn diện cần phải nâng cao vai trò
của giáo viên chủ nhiệm lớp với giáo viên bộ môn trong việc đánh giá kếthuế
quả hai mặt (Học lực và hạnh kiểm) giáo dục của học sinh, tạo điều kiện giúp
đỡ các em có giải pháp phấn đấu hơn nữa trong học tập [23]
Phòng giáo dục cũng tổ chức định kỳ kỳ thi “Giáo viên dạy giỏi” Năm
học 2009-2010, Phòng đã tổ chức cho 104 giáo viên thi lý thuyết Có 57 giáo
viên đạt loại giỏi chiếm tỷ lệ 54.80%, 43 giáo viên đạt loại khá chiếm
41,34%, chỉ có 4 giáo viên đạt loại trung bình chiếm tỷ lệ 3,86% trong tổng số
giáo viên tham gia dự thi Trường xếp thứ nhất là trường THCS Tân Hương,
xếp thứ nhì là trường THCS Thuận Thành, xếp thứ 3 là hai trường THCS Bắc
Sơn và THCS Minh Đức
Trong cuộc thi “Học sinh giỏi toán bằng máy tính cầm tay” năm học
2009-2010, đoàn Phổ Yên xếp thứ nhì trong toàn tỉnh và có đến 3 học sinh
được chọn vào đội tuyển của tỉnh tham dự cuộc thi cấp khu vực trong đó có 1
học sinh đạt giải 3 cuộc thi khu vực [23]
- Về xây dựng cơ sở vật chất trường học:
Bảng 2.4: Thống kê về cơ sở vật chất
Chỉ tiêu Hiện Mầm non Tiểu học Trung học cơ sở
có
Nhu cầu % đáp ứng Hiện có
Nhu cầu % đáp ứng Hiện có
Nhu cầu % đáp ứng
1 Phòng học thông thường 181 286 63,3 329 485 67,8 193 246 78,5 1.1 Kiên cố, cao tầng 21 41 51,2 150 214 70,1 173 189 91,5
Nguồn: Phòng Giáo dục huyện Phổ Yên
* Đối với cấp học Mầm non huyện Phổ Yên
- Số phòng học đạt tiêu chuẩn hiện có năm 2010 là 181 trường, mới đáp ứng được 63,3% nhu cầu thực tế Số bàn ghế cho học sinh mới đạt 83,5% số bàn ghế giáo viên đạt 89,3% Hiện tại, cần phải được mua mới để thay thế vì
số bàn ghế đó đã xuống cấp, hư hỏng Số lượng máy tính phục vụ cho công tác quản lý, kế toán mới chỉ đạt 33% Đồ dùng dạy học, sách tham khảo đạt mức thấp 42% Hiện còn 9 trường mầm non chưa được bố trí đủ diện tích để xây dựng và làm sân vui chơi cho các cháu bé [23]
* Đối với cấp học Tiểu học
- Số phòng học đạt tiêu chuẩn hiện có năm 2010 là 329 trường, đáp ứng được 67,8% nhu cầu thực tế Phòng thư viện đạt 8,7%, phòng học bộ môn đạt
Trang 3018%, phòng đồ dùng dạy học đạt 41,5% Số bàn ghế cho học sinh còn được
sử dụng tốt là 5.848 bộ, đạt 87,1% Số bàn ghế giáo viên hiện còn sử dụng tốt
cho năm học 2010-2011 là 389 bộ, chiếm tỷ lệ 90,3% Số lượng máy tính
phục vụ cho công tác quản lý, kế toán, thực hành mới chỉ đạt 42,2% Đồ dùng
dạy học, sách tham khảo đạt mức khá là 89,7% Hiện còn 6 trường mẫu giáo
chưa được bố trí đủ diện tích để xây dựng và làm sân vui chơi cho các em
* Đối với cấp học Trung học cơ sở
- Số phòng học đạt tiêu chuẩn trong năm 2010 là 193 trường, mới đáp
ứng được 78,5% nhu cầu thực tế Phòng thư viện đạt yêu cầu là 690 phòng
chiếm tỷ lệ 60,5%; Phòng thí nghiệm đạt chuẩn yêu cầu có 13phòng đạt tỷ lệ
48,1%; Phòng học bộ môn đạt 29/46 phòng đạt tỷ lệ 63%; phòng đồ dùng dạy
học chỉ đạt 34,3% Số bàn ghế cho học sinh còn được sử dụng tốt là 2.886 bộ,
đạt 80,6% Số bàn ghế giáo viên hiện còn sử dụng tốt là 239 bộ, chiếm tỷ lệ
100% Số lượng máy tính phục vụ cho công tác quản lý, kế toán, thực hành
mới chỉ đạt 42,2% Đồ dùng dạy học, sách tham khảo đạt mức khá là 89,7%
Hiện còn 6 trường mẫu giáo chưa được bố trí đủ diện tích để xây dựng và làm
sân vui chơi cho các em
- Về công tác xã hội hóa giáo dục:
Việc huy động các lực lượng xã hội đầu tư nguồn lực cho giáo dục còn
nhiều vấn đề tồn tại Các doanh nghiệp, những nơi trực tiếp sử dụng những
thành quả của giáo dục chưa chú ý đầu tư cho giáo dục Tuy đã được quy
hoạch nhưng đất đai của nhiều trường vẫn chật chội, chưa đủ để phục vụ cho
học sinh hoạt động Nguồn đóng góp của nhân dân không nhiều, chỉ có được
thị trấn Phổ Yên, khu vực các xã đặc biệt là các xã miền núi hầu như chưa có
gì Bên cạnh đó còn một bộ phận không nhỏ trong các lực lượng xã hội còn
nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ về công tác xã hội hóa giáo dục, còn có
tình trạng khoán trắng công tác giáo dục cho nhà trường
Nguyên nhân dẫn đến những mặt hạn chế nêu trên trước hết là do năng lực quản lý của ngành giáo dục - đào tạo ở huyện Phổ Yên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới đặt ra cho ngành, việc thể chế những quan điểm, đường lối lớn của Đảng và Nhà nước trong phạm vi địa phương chưa được tiến hành thấu đáo, đầy đủ, một phần do thiếu đội ngũ giáo viên có chất lượng cũng như
sự đầu tư cho công tác chuyên môn chưa nhiều Một nguyên nhân quan trọng nữa là cơ sở vật chất của ngành giáo dục và đào tạo Huyện Phổ Yên còn quá thiếu thốn, chủ yếu dựa vào nguồn đầu tư còn hạn hẹp của NSNN
Đứng trước những khó khăn chung của ngành, đòi hỏi cơ chế quản lý chi NSNN cần phải được hoàn thiện để có biện pháp tháo gỡ những vướng mắc, tồn tại, góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục - đào tạo huyện Phổ Yên ngày càng phát triển ổn định và bền vững
2.2.2 Tình hình đầu tư từ nguồn vốn NSNN cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo ở huyện Phổ Yên
a Thực trạng chi ngân sách nhà nước cho công tác giáo dục đào tạo
Trước năm 1996, khi chưa có Luật NSNN, kinh phí NSNN cho giáo dục, đào tạo do ba cấp ngân sách Trung ương, tỉnh và huyện đảm bảo Thời
kỳ này chưa có sự phân cấp rõ ràng nhiệm vụ chi của từng cấp ngân sách một cách cụ thể, dẫn đến tình trạng đưa đẩy giữa các cấp ngân sách trong việc bố trí các khoản chi cho cơ sở giáo dục Chính vì vậy, trong một thời gian khá dài, tình hình đầu tư ngân sách cho giáo dục - đào tạo mang tính chất thụ động, thất thường giữa các năm, không có định hướng ổn định
Sau khi có luật NSNN được ban hành ngày 16/12/2002 để quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước Các địa phương phải chủ động lập dự toán chi tiêu NSNN cho phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội Mức độ đầu tư NSNN cho sự nghiệp giáo
Trang 31dục đào tạo cũng vì thế mà có sự thay đổi, điều chỉnh giữa các giai đoạn phát
triển kinh tế của huyện Phổ Yên Bảng số liệu được trình bày dưới đây cho
biết tình hình đầu tư ngân sách nhà nước cho công tác giáo dục đào tạo giai
đoạn 2006 - 2010 như sau:
Bảng 2.5: Cơ cấu chi NSNN cho giáo dục và đào tạo huyện Phổ Yên trong
tổng chi NSĐP giai đoạn 2006 - 2010
II Chi NSNN cho giáo dục
Nguồn: phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Phổ Yên
Qua số liệu trên cho thấy, tổng chi NSĐP cho giáo dục - đào tạo huyện
Phổ Yên giai đoạn 2006 – 2010 liên tục tăng về ngân sách Năm 2006, chi
NSNN cho giáo dục đào tạo 39.367 triệu đồng chiếm 40,79% trong tổng chi
ngân sách địa phương Năm 2010, chi cho giáo dục đào tạo là 95.750 triệu
đồng chiếm tỷ lệ 41,95% Theo số liệu phân tích qua bảng trên ta thấy tốc độ
tăng trưởng về chi ngân sách địa phương của huyện Phổ Yên năm 2010 so với
năm 2006 tăng 237% thì tốc độ tăng trưởng về chi ngân sách cho giáo dục
đào tạo tăng 243% [13] Như vậy, tốc độ tăng cho ngân sách cho giáo dục đào
tạo của huyện Phổ Yên tăng nhanh hơn so với tốc độ chi năng suất địa phương trong giai đoạn nghiên cứu trên và được trình bày ở biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 2.3: So sánh chi ngân sách đối với giáo dục đào tạo trong tổng
chi ngân sách địa phương ở Huyện Phổ Yên
Đơn vị tính: triệu đồng
Nguồn: phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Phổ Yên
b Về tỷ trọng, chi NSNN cho giáo dục - đào tạo Huyện Phổ Yên
Biểu đồ 2.4 dưới đây cho ta thấy chi ngân sách cho công tác giáo dục đào tạo của huyện Phổ Yên cao hơn tỷ trọng chi NSNN cho giáo dục - đào tạo của tỉnh Thái Nguyên rất nhiều Năm 2010, chi ngân sách cho giáo dục đào tạo của tỉnh tỉnh Thái Nguyên có tỷ lệ là 1.210.683/4.695.171 triệu đồng tương đương với 26% trong tổng chi ngân sách địa phương và cao hơn mức trung bình chung so với các huyện, thị là 39%