1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Kạn

64 388 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề đặt ra là: Làm thế nào để thực hiện giảm nghèo và giảm nghèo bền vững cho đồng bào các dân tộc thiểu số trong khu vực Vườn quốc gia Ba Bể đồng thời gắn với việc giữ gìn, bảo vệ gi

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

CAO MINH HẢI

GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VƯỜN QUỐC GIA

BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp

Mã số: 60.62.01.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Trọng Xuân

THÁI NGUYÊN - 2015

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được dùng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ

rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Cao Minh Hải

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Kinh tế và Quản

trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ

nhiệt tình của tập thể các nhà khoa học, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã là

nguồn cổ vũ, động viên quan trọng giúp tôi hoàn thành luận văn của mình

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đến Ban giám đốc Đại học Thái Nguyên, Ban

Đào tạo - Đại học Thái Nguyên, Ban giám hiệu trường Đại học Kinh tế và

Quản trị kinh doanh, phòng Đào tạo và Khoa Kinh tế - trường đại học Kinh tế

và QTKD, UBND huyện Ba Bể, Vườn Quốc gia Ba Bể, Chi cục thống kê Ba

Bể, các hộ đồng bào dân tộc thiểu số và UBND các xã Khang Ninh, Nam

Mẫu, Quảng Khê thuộc huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn đã tạo điều kiện tốt nhất

cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Trọng Xuân,

đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn các nhà khoa học, các thầy, cô giáo,

bạn bè, đồng nghiệp và sinh viên đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 18 tháng 09 năm 2015

Tác giả luận văn

Cao Minh Hải

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 3

4 Đóng góp của luận văn 4

5 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 5

1.1 Cơ sở lý luận về giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số 5

1.1.1 Khái niệm khái niệm về đói nghèo, nguyên nhân và chuẩn nghèo tại Việt Nam 5

1.1.2 Khái niệm về dân tộc thiểu số 11

1.1.3 Khái niệm về giảm nghèo bền vững 12

1.1.4 Nội dung của giảm nghèo bền vững 16

1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững 17

Trang 3

1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững cho đồng

bào dân tộc thiểu số 18

1.1.7 Các thách thức trong giảm nghèo bền vững ở Việt Nam 23

1.2 Cơ sở thực tiễn về giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số 25

1.2.1 Kinh nghiệm của thế giới và bài học đối với Việt Nam 25

1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước và bài học rút ra cho huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 32

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 42

2.2 Phương pháp nghiên cứu 43

2.2.1 Chọn địa điểm nghiên cứu 43

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 43

2.2.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 44

2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 44

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 46

Chương 3 THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ, BẮC KẠN 47

3.1 Khái quát về vườn quốc gia Ba Bể 47

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 47

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 56

3.2 Thực trạng giảm nghèo tại vùng lõi VQG Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 61

3.2.1 Thực trạng giảm nghèo và các chính sách giảm nghèo 61

3.2.2 Thực trạng đói nghèo của hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu 74

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo cho hộ nghèo dân tộc thiểu số tại vùng lõi Vườn quốc gia Ba Bể 86

3.3.1 Cơ chế chính sách của địa phương, nhà nước 86

3.3.2 Sự phối hợp đa ngành và ở tất cả các cấp trong tổ chức thực hiện giảm nghèo bền vững 87

3.3.3 Nguồn lực xóa đói giảm nghèo 88

3.3.4 Ý thức vươn lên thoát nghèo 90

3.4 Đánh giá thực trạng giảm nghèo cho hộ nghèo dân tộc thiểu số tại vùng lõi Vườn quốc gia Ba Bể 91

3.4.1 Những kết quả đạt được 91

3.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 92

Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ 94

4.1 Định hướng và mục tiêu giảm nghèo bền vững cho đồng bào các dân tộc thiểu số vườn Quốc gia Ba Bể 94

4.1.1 Định hướng giảm nghèo bền vững cho đồng bào các dân tộc thiểu số vườn Quốc gia Ba Bể 94

4.1.2 Mục tiêu giảm nghèo bền vững cho đồng bào các dân tộc thiểu số vườn Quốc gia Ba Bể 95

4.2 Một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 96

4.2.1 Nhóm các giải pháp chung 97

4.2.2 Nhóm các giải pháp cụ thể 98

KẾT LUẬN 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

PHỤ LỤC 110

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CSHT : Cơ sở hạ tầng

DTTS : Dân tộc thiểu số

ĐVT : Đơn vị tính

HĐND : Hội đồng nhân dân

MTQG : Mục tiêu quốc gia

UBND : Ủy ban nhân dân

UNESO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của

Liên hiệp quốc

VQG : Vườn quốc gia

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Chuẩn nghèo của Việt Nam được xác định qua các thời kỳ 9

Bảng 3.1: Phân bố diện tích thảm thực vật rừng VQG Ba Bể 51

Bảng 3.2: Hiện trạng tài nguyên và tình hình sử dụng đất VQG Ba Bể 53

Bảng 3.3: Tổng hợp tài nguyên thực vật Vườn quốc gia Ba Bể 55

Bảng 3.4: Thống kê các lớp động vật Vườn quốc gia Ba Bể 55

Bảng 3.5: Dân số các xã vùng đệm và vùng lõi VQG Ba Bể năm 2014 60

Bảng 3.6: Tình hình hộ nghèo tại 3 xã vùng lõi thuộc VQG Ba Bể 61

Bảng 3.7: Tình hình hộ nghèo tại xã Quảng Khê giai đoạn 2012-2014 63

Bảng 3.8: Tình hình hộ nghèo tại xã Nam Mẫu giai đoạn 2012-2014 64

Bảng 3.9: Tình hình hộ nghèo tại xã Khang Ninh giai đoạn 2012-2014 65

Bảng 3.10: Chính sách giảm nghèo tại xã Quảng Khê giai đoạn 2012-2014 67

Bảng 3.11: Chính sách giảm nghèo tại xã Nam Mẫu giai đoạn 2012-2014 69

Bảng 3.12: Chính sách giảm nghèo tại xã Khang Ninh giai đoạn 2012-2014 71

Bảng 3.13: Tình hình chung của nhóm hộ điều tra 74

Bảng 3.14: Mức sống dân cư của địa bàn nghiên cứu 77

Bảng 3.15: Tổng hợp nguyên nhân nghèo đói của hộ 79

Bảng 3.16: Tình hình vay vốn của hộ nghèo DTTS ở 3 xã giai đoạn 2012-2014 80

Bảng 3.17: Tình hình đất đai của nhóm hộ điều tra 82

Bảng 3.18: Tổng hợp khai thác dịch vụ khuyến nông của hộ gia đình 83

Bảng 3.19: Tài sản phục vụ đời sống của hộ gia đình 84

Bảng 3.20: Tổng hợp nguyện vọng của hộ nghèo 85

Trang 5

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Nội dung về giảm nghèo bền vững 17

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đói nghèo là lực cản đối với sự phát triển bền vững của toàn nhân loại,

vì vậy vấn đề này luôn được đặt vào trung tâm trong mọi chương trình hành động quốc gia và quốc tế Mục tiêu đầu tiên trong số các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ là giảm nghèo cùng cực và nạn đói với mục đích để cho mỗi người dân trên trái đất có thể thỏa mãn được các nhu cầu thiết yếu của họ là: dinh dưỡng, y tế, chỗ ở và giáo dục Tuy nhiên, cho đến nay, an ninh lương thực vẫn là thách thức lớn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới Với xu thế hợp tác và toàn cầu hóa như hiện nay thì vấn đề XĐGN đã trở thành mối quan tâm của cả cộng đồng quốc tế Việt Nam là một nước có thu nhập thấp, do đó chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN là một chiến lược lâu dài cần được sự quan tâm giúp đỡ của cộng đồng quốc tế kết hợp chặt chẽ với tinh thần tự lực,

tự cường, đoàn kết của cả dân tộc để đẩy lùi đói nghèo tiến kịp trình độ phát triển kinh tế của các nước tiên tiến

Ở Việt Nam, thành tựu ấn tượng về giảm nghèo trong vòng 20 năm (1990 - 2010) là tỷ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm từ gần 60% xuống còn 20,7% với khoảng hơn 30 triệu người thoát nghèo Tỉ lệ hộ nghèo vào cuối năm 2014 còn khoảng 5,8 - 6%, giảm được 1,8 - 2% so với năm 2013; riêng các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a giảm bình quân 5%/năm, từ 48,39% năm 2012 xuống còn 38,89% năm 2014 Nhiều nước và tổ chức quốc tế khác cũng đánh giá cao, coi Việt Nam là "một điểm sáng thành công" trong xóa đói giảm nghèo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp thế giới (Food and Agriculture Organnization of the United Nations - FAO) cũng vinh danh công nhận thành tích nổi bật trong xóa đói, giảm nghèo cho 38 quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Đồng thời, Việt Nam cũng nằm trong nhóm 18

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

quốc gia được trao bằng khen chứng nhận việc sớm đạt được Mục tiêu phát

triển thiên niên kỷ 1, hướng tới mục tiêu giảm một nửa số người bị đói vào

năm 2015 Điều này khẳng định định hướng chiến lược toàn diện về tăng

trưởng và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam là đúng đắn và phù hợp với xu thế

phát triển chung của thế giới

Ba Bể là huyện miền núi của tỉnh Bắc Kạn, cách trung tâm hành chính tỉnh

Bắc Kạn 55km về phía Bắc, là một trong 62 huyện nghèo của cả nước [8] Huyện

Ba Bể có diện tích tự nhiên là 68.412 ha với 16 đơn vị hành chính (15 xã và 01 thị

trấn), dân số gần 5 vạn người (năm 2014) Những năm qua, với tinh thần quyết

tâm cao của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong huyện cùng với

sự quan tâm, giúp đỡ của Đảng và Nhà nước, công tác giảm nghèo của huyện Ba

Bể đã đạt được nhiều thành nổi bật và đảm bảo mục tiêu Nghị quyết đại hội Đảng

bộ tỉnh, huyện đề ra Tỉ lệ hộ nghèo giảm nhanh, từ 48,63% năm 2009 xuống còn

18,04% năm 2014 [13] Đối với địa bàn 3 xã thuộc vùng lõi Vườn quốc gia Ba Bể

gồm: xã Nam Mẫu, Khang Ninh, Quảng Khê, với diện tích của 3 xã là 10.048 ha,

dân số hơn 10 nghìn người, trong đó có tới 98% là đồng bào dân tộc thiểu số

Thống kê năm 2014 cho biết, số hộ nghèo của 3 xã là 526 hộ/2.197 hộ chiếm

23,94%, trong đó số hộ nghèo là người dân tộc thiểu số chiếm 99,34% tổng số hộ

nghèo (522 hộ) [17]

Những thành tích trong giảm nghèo của huyện Ba Bể nói chung và

của các xã thuộc vùng lõi Vườn quốc gia Ba Bể là rất đáng kể Tuy nhiên, tỷ

lệ hộ nghèo và cận nghèo vẫn cao, đặc biệt là tình trạng hộ tái nghèo vẫn còn

và xuất hiện hộ nghèo mới Để nhằm từng bước giải quyết vấn đề giảm

nghèo và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát

triển trên địa bàn các xã, phấn đấu từng bước ổn định đời sống các hộ nghèo,

tạo điều kiện cho các hộ vươn lên thoát nghèo và không bị tái nghèo, các cấp

uỷ, chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội đã quyết

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tâm thực hiện công cuộc giảm nghèo với hàng loạt các chương trình được thực hiện đồng bộ

Vấn đề đặt ra là: Làm thế nào để thực hiện giảm nghèo và giảm nghèo bền vững cho đồng bào các dân tộc thiểu số trong khu vực Vườn quốc gia Ba

Bể đồng thời gắn với việc giữ gìn, bảo vệ giá trị khu sinh thái của Vườn quốc

gia? Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” làm đề tài luận văn của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng nghèo và giảm nghèo bền vững của các

xã trong vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể, phân tích các chính sách giảm nghèo tại địa phương, đánh giá nhân tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể, từ đó đề xuất một

số giải pháp phù hợp cho công tác giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại Vườn Quốc gia Ba Bể

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về giảm nghèo bền vững

- Phân tích đánh giá thực trạng và nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nghèo của các hộ dân tộc thiểu số tại Vườn Quốc gia Ba Bể

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số Vườn quốc gia Ba Bể

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hiện trạng giảm nghèo và các chính sách giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 7

- Về không gian: Nghiên cứu tại địa bàn 3 xã thuộc VQG Ba Bể: Nam

Mẫu, Khang Ninh, Quảng Khê (3 xã vùng lõi VQG Ba Bể)

- Về thời gian: nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp năm 2012 - 2014, số

liệu điều tra năm 2015

- Về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu hiện trạng nghèo tại các địa

phương và các chính sách giảm nghèo của huyện, tỉnh, trung ương đối với các

xã thuộc Vườn quốc gia Ba Bể, nghiên cứu tình hình giảm nghèo và hiệu quả

của các chính sách giảm nghèo đối với các hộ nghèo người dân tộc thiểu số

của các xã thuộc Vườn quốc gia Ba Bể

4 Đóng góp của luận văn

Giảm nghèo là một vấn đề được cả xã hội quan tâm, với giảm nghèo

vùng dân tộc thiểu số thì hiện nay vẫn là vấn đề được nhiều nhà khoa học, nhà

hoạch định chính sách quan tâm và tập trung nghiên cứu Luận văn là công

trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về chính sách giảm nghèo bền

vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số nghèo tại Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh

Bắc Kạn Luận văn là tư liệu phục vụ quá trình hoạch định các chính sách

phát triển kinh tế, xã hội của huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận nội dung luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo bền vững cho

đồng bào dân tộc thiểu số

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc

thiểu số Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

Chương 4: Một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân

tộc thiểu số Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.1 Cơ sở lý luận về giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số

1.1.1 Khái niệm khái niệm về đói nghèo, nguyên nhân và chuẩn nghèo tại Việt Nam

1.1.1.1 Khái niệm về đói nghèo

Khái niệm về đói nghèo ở Việt Nam tương đồng với những khái niệm

về đói nghèo được thừa nhận rộng rãi trên thế giới Hiện nay, Việt Nam đã

thừa nhận khái niệm chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được

xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập

quán của địa phương” [10] Thực tế cho thấy có sự không thống nhất về quan

điểm, khái niệm và đối với từng quốc gia khác nhau sẽ có chuẩn mực đánh giá khác nhau Vì thế, trên cơ sở thống nhất chung về mặt định tính, cần phải xác định thước đo mức nghèo đói của mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương Đói nghèo ở Việt Nam không chỉ được nhìn nhận ở phương diện thiếu thốn những nhu cầu vật chất tối thiểu như ăn mặc, giáo dục, y tế mà ở cả phương diện thu nhập hạn chế, thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới người

có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định

1.1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói ở Việt Nam [26]

- Nguyên nhân có tính lịch sử

+ Việt Nam xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu, lại phải trải

qua nhiều cuộc chiến tranh lâu dài và gian khổ, những tổn thất về con người,

về vật chất và tinh thần do chiến tranh để lại là trở ngại ảnh hưởng lớn đến

việc phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam

+ Sau khi thống nhất, Nhà nước Việt Nam đã thực thi một số chính

sách kinh tế không thành công đã để lại tác động xấu đến nền kinh tế làm suy

kiệt nguồn lực của Nhà nước và Nhân dân

+ Các ngành sản xuất ở Việt Nam xuất phát điểm là yếu kém, cụ thể:

sản xuất nông nghiệp đơn điệu, sản xuất công nghiệp thiếu hiệu quả, nền

thương nghiệp tư nhân không phát triển, nền thương nghiệp quốc doanh

không đủ sức cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho nhu cầu xã hội

+ Một bộ phận lao động dư thừa ở nông thôn không được đào tạo,

không được khuyến khích ra thành thị lao động Thất nghiệp tăng cao trong

thời gian trước đổi mới

- Nguyên nhân từ thực tiễn

+ Do Chính phủ thường xuyên điều chỉnh mức chuẩn nghèo cho tiếp

cận với mức chuẩn nghèo thế giới, đối với các nước đang phát triển hiện nay

ở mức là 1USD/người/ngày

+ Số lượng dân cư sống ở các vùng nông thôn cao 67,86% (năm 2014),

trong khi đó tổng sản phẩm quốc dân ở khu vực nông thôn rất thấp Hệ số

Gini là 0,434 và hệ số chênh lệch thu nhập giữa các nhóm thu nhập là 9,35

nên sự bất bình đẳng cao

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Người dân, đặc biệt là nông dân chịu nhiều rủi ro, thiên tai, dịch

bệnh, thất nghiệp, giá cả tăng cao, chính sách thay đổi, hệ thống hành chính kém minh bạch, quan liêu, tham nhũng, do đó nguy cơ tái nghèo cao

+ Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nhưng chưa nhanh và không

đảm bảo tính bền vững Liên tục xảy ra sự không ổn định nguy cơ lạm phát và giảm phát cao, tình trạng thất nghiệp có xu hướng gia tăng

+ Có sự chênh lệch lớn về điều kiện kinh tế xã hội giữa các vùng miền,

giữa thành thị và nông thôn, giữa các dân tộc

+ Môi trường bị phá hoại ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, trong

khi đa số người nghèo lại sống nhờ vào nông nghiệp Tình trạng lạm dụng sử dụng hoá chất trong sản xuất nông nghiệp còn khá phổ biến, còn sử dụng các

kỹ thuật canh tác không phù hợp với việc bảo vệ môi trường, thảm thực vật bị phá hoại, tỉ lệ che phủ rừng bị giảm do tình trạng phá rừng Những việc làm

đó tác động đến chất lượng của môi trường đất, nước và tài nguyên sinh vật

- Nguyên nhân đói nghèo của hộ người dân tộc thiểu số + Về nhân khẩu: Các hộ người dân tộc thiểu số đa số là các hộ có nhiều

con do ảnh hưởng quan điểm, tập tục lạc hậu và không có thói quen thực hiện

kế hoạch hoá gia đình Một số trường hợp mới tách hộ, con nhỏ không có điều kiện về sinh kế

+ Về lao động và việc làm: Các hộ người dân tộc thiểu số nghèo do

hoàn cảnh thiếu lao động hoặc thiếu việc làm trong khi đó sinh kế của gia đình chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và coi cây lúa là sản phẩm chủ yếu, sản xuất chỉ với mục đích tự cung tự cấp là chính

+ Về đất đai: Đối với các hộ nghèo một số không nhỏ là nguyên nhân

thiếu đất, đất đai có chất lượng thấp dẫn đến năng suất cây trồng thấp, diện tích đất dốc nhiều khó canh tác, đất thường xuyên bị ngập úng hoặc khô hạn làm cho năng suất thấp có khi mất trắng Bên cạnh đó có thể do nguyên nhân

Trang 9

sử dụng đất không hiệu quả, không có hiểu biết khoa học kỹ thuật hoặc không

sử dụng được các công nghệ tiên tiến

+ Về tài sản: Do điều kiện thiếu tài sản, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất,

đầu tư chăn nuôi gia súc ít thậm chí không có chăn nuôi, đầu tư cho lâm

nghiệp thấp, không tạo ra được sản phẩm hàng hoá cũng dẫn đến nghèo

+ Về vốn con người: Ở đây chúng ta nói đến sự thiếu hiểu biết, trình độ

văn hoá thấp, nhất là trong nhóm các dân tộc thiểu số Thậm chí còn có

trường hợp chưa hiểu tiếng Việt, không tiếp thu được kiến thức khoa học kỹ

thuật, không có ý thức học hỏi do đó năng lực sản xuất kém dẫn đến nghèo

+ Về độ gắn kết với bên ngoài: Nguyên nhân này phổ biến trong nhóm

đồng bào các dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó

khăn, không có điều kiện tiếp cận với bên ngoài, thiếu thông tin về mọi mặt

nhất là thông tin về giá cả thị trường, không có cơ hội tạo dựng sinh kế, thu

nhập thấp dẫn đến nghèo

+ Về vốn thể chế: Các hộ nghèo người dân tộc thiểu số do hạn chế sự

tiếp cận với các chính sách của Nhà nước, thiếu hiểu biết về pháp luật dễ bị

phải tiêu dùng những sản phẩm dịch vụ với giá cao, nhưng chỉ bán được sản

phẩm với giá thấp hơn giá thị trường, bị lợi dụng

+ Về vốn xã hội: Nguyên nhân này thể hiện sự thiếu hiểu biết về xã hội,

lạc hậu, duy trì và tồn tại các tai tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, ma tuý

còn xảy ra trong một bộ phận người nghèo [2]

1.1.1.3 Chuẩn nghèo tại Việt Nam

Để xác định được ngưỡng đói nghèo thì điểm mấu chốt của vấn đề phải

xác định được chuẩn đói nghèo Chuẩn đói nghèo biến động theo thời gian và

không gian, nên không thể đưa ra được một chuẩn mực chung cho đói nghèo

để áp dụng trong công tác xoá đói giảm nghèo, mà cần phải có chỉ tiêu, tiêu

chí riêng cho từng vùng, miền ở từng thời kỳ lịch sử Nó là một khái niệm

động, do vậy phải căn cứ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính

và qua điều tra, khảo sát, nghiên cứu nước ta đã đưa ra mức chuẩn về đói nghèo phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam trong từng giai đoạn Hiện nay, ở Việt Nam chủ yếu vẫn xác định chuẩn nghèo theo chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người theo tháng hoặc theo năm Chỉ tiêu này được tính bằng giá trị hoặc bằng hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực quy thóc

để đánh giá Ngoài ra còn một số chỉ tiêu chế độ dinh dưỡng (calo/người), mức chi nhà ở, chi ăn mặc, chi tư liệu sản xuất, điều kiện học tập, điều kiện chữa bệnh, đi lại Các tiêu chí đánh giá nghèo khác như HDI, HPI cũng đã được sử dụng, nhưng chủ yếu là sử dụng trong các công trình nghiên cứu kinh

tế xã hội hoặc tính toán trên phạm vi quốc gia để xác định mức độ phát triển trong so sánh với các nước khác trên thế giới

Tại Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện việc điều tra, khảo sát các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, nghiên cứu và đề xuất với Chính phủ, căn cứ vào đề xuất đó Chính phủ công bố mức chuẩn nghèo cho từng giai đoạn cụ thể [16]

Bảng 1.1: Chuẩn nghèo của Việt Nam đƣợc xác định qua các thời kỳ

Giai đoạn Đơn vị tính Hộ đói Hộ nghèo

2 Giai đoạn 1995-1997

- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo kg gạo/người/tháng 13 15

- Vùng nông thôn đồng bằng, trung du kg gạo/người/tháng 13 20

3 Giai đoạn 1998-2000

- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo đồng/người/tháng 45.000 55.000

- Vùng nông thôn đồng bằng, trung du đồng/người/tháng 45.000 70.000

- Vùng thành thị đồng/người/tháng 45.000 90.000

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

4 Giai đoạn 2001-2005

- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo đồng/người/tháng 80.000

- Vùng nông thôn đồng bằng, trung du đồng/người/tháng 100.000

(Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)

Căn cứ vào mức sống thực tế các địa phương, trình độ phát triển kinh tế

xã hội, từ năm 1993 đến nay Việt Nam đã có 6 lần thay đổi chuẩn nghèo, các

tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo thay đổi theo thời gian cùng với sự thay đổi

mặt bằng thu nhập quốc gia, ở các giai đoạn đầu chúng ta sử dụng mức chuẩn

nghèo theo thu nhập bình quân đầu người trên tháng nhưng được tính quy đổi

bằng gạo (kg/người/tháng), đến giai đoạn nước ta về cơ bản đã xoá được tình

trạng đói, do đó mức chuẩn nghèo vẫn được tính theo thu nhập bình quân

đầu người trên tháng nhưng được tính bằng giá trị (đồng/người/tháng)

Giai đoạn gần đây nhất theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ

tướng Chính phủ ngày 30/01/2011 đã ban hành tiêu chuẩn nghèo giai đoạn

2011-2015 Theo đó, mức chuẩn hộ nghèo trong giai đoạn 2011-2015 là hộ có

mức thu nhập bình quân đến 400.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn

và đến 500.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị Chuẩn hộ cận nghèo

là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng

ở khu vực nông thôn và từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng ở

khu vực thành thị

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Sự thay đổi từ việc lấy mức chuẩn nghèo bằng hiện vật (gạo) sang chuẩn nghèo bằng giá trị (tiền) đã cho thấy công cuộc giảm nghèo của Việt Nam có một bước tiến mới, thể hiện sự tiến bộ trong tiêu chuẩn đánh giá đói nghèo Mặt khác, chuẩn nghèo Việt Nam thường xuyên được nâng lên nhằm tiếp cận với chuẩn nghèo thế giới khẳng định quyết tâm xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước Việt Nam Trong những năm gần đây, Chính phủ thường công bố thay đổi tăng mức chuẩn nghèo 5 năm một lần và trước kỳ Đại hội Đảng toàn quốc và bầu cử Quốc hội là một căn cứ quan trọng cho các định hướng và giải pháp giảm nghèo trong từng giai đoạn của Việt Nam Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của xã hội và hội nhập quốc tế Việt Nam cũng đang tiếp cận đến vấn đề nghèo đa chiều trong chuẩn nghèo của Việt Nam

1.1.2 Khái niệm về dân tộc thiểu số

“Dân tộc thiểu số” là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây

là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng

ý nghĩa “dân tộc thiểu số” với “dân tộc lạc hậu”, “dân tộc chậm tiến”,

“dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm phát triển”… Có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong mỗi quốc gia Trên thực tế, khái niệm “dân tộc thiểu số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc Đối với Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, với khoảng trên 90 triệu người, trong đó dân tộc Việt (Kinh) chiếm khoảng 86% dân số, được quan niệm là “dân tộc đa số”, 53 dân tộc còn lại được quan niệm là “dân tộc thiểu số” trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Khái niệm “dân tộc thiểu số”, có lúc, có nơi, nhất là trong những năm

Trang 11

trước đây còn được gọi là “dân tộc ít người” Mặc dù hiện nay đã có qui

định thống nhất gọi là “dân tộc thiểu số”, nhưng cách gọi “dân tộc ít

người” vẫn không bị hiểu khác đi về nội dung

Như vậy, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có

số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số

trong một quốc gia đa dân tộc Khái niệm “dân tộc thiểu số” cũng không có

ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc

trên phạm vi khu vực và thế giới Một dân tộc có thể được quan niệm là

“đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ở quốc gia

khác Chẳng hạn người Việt (Kinh) được coi là “dân tộc đa số” ở Việt

Nam, nhưng lại được coi là “dân tộc thiểu số” ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm

tỉ lệ 1/55 dân tộc thiểu số của Trung Quốc); ngược lại người Hoa (Hán),

được coi là “dân tộc đa số” ở Trung Quốc, nhưng lại là dân tộc thiểu số ở

Việt Nam (người Hoa chiếm tỉ lệ 1/53 dân tộc thiểu số của Việt Nam) Rõ

ràng, quan niệm về “dân tộc thiểu số” và “dân tộc đa số” cũng như nội hàm

của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất và nó cũng được

vận dụng xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tuỳ theo quan

niệm và mối quan hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia dân tộc Song,

những nội dung được quan niệm như đã phân tích ở phần trên về cơ bản là

tương đối thống nhất không chỉ ở nước ta mà trong cả giới nghiên cứu dân

tộc học trên thế giới

1.1.3 Khái niệm về giảm nghèo bền vững

Giảm nghèo bền vững là một khái niệm mới và trong thời gian gần đây

được đưa vào sử dụng trên các diễn đàn, trên các hội nghị, hội thảo và các

chính sách vĩ mô về công tác xoá đói giảm nghèo Tuy nhiên, đến nay chúng ta

vẫn chưa có một khái niệm cụ thể nào về thuật ngữ này Do vậy, để tìm hiểu

khái niệm về giảm nghèo bền vững chúng ta cần phải tìm hiểu rộng hơn về các

vấn đề này, nó bao gồm các nội dung về giảm nghèo và phát triển bền vững Trước khi bàn về giảm nghèo và phát triển bền vững, cần tìm hiểu một số thuật ngữ hay sử dụng như nghèo kinh niên, thoát nghèo, tái nghèo, rơi xuống nghèo

và thoát nghèo bền vững

Nghèo kinh niên: Một hộ được coi là nghèo kinh niên là hộ chưa bao

giờ có thu nhập bình quân đầu người cao hơn mức nghèo theo chuẩn nghèo cho từng khu vực và trong từng giai đoạn khác nhau

Thoát nghèo: Một hộ được coi là thoát nghèo khi hộ đang là hộ nghèo

theo chuẩn nghèo, đã có được thu nhập bình quân đầu người cao hơn mức nghèo theo chuẩn nghèo cho từng khu vực và trong từng giai đoạn khác nhau Trong giai đoạn 2011-2015 hộ thoát nghèo là những hộ đang là hộ nghèo vươn lên hộ

có mức thu nhập trên 400.000 đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn và

trên 500.000 đồng/người/tháng đối với thành thị được coi là hộ thoát nghèo Tái nghèo: Một hộ được gọi là tái nghèo khi hộ đó đã thoát nghèo

nhưng vì nguyên nhân nào đó đã không còn đủ khả năng ứng phó với những bất lợi trong cuộc sống dẫn đến đói nghèo, tức là có mức thu nhập thấp hơn mức chuẩn nghèo cho từng khu vực và trong từng giai đoạn Hiện tượng này xảy ra khá phổ biến khi có các tác động của thiên tai, rủi ro, bệnh tật hoặc do

chuẩn nghèo thay đổi lên mức cao hơn

Rơi xuống nghèo: Một hộ được gọi là rơi xuống nghèo nếu là hộ thường

xuyên có thu nhập ở trên mức nghèo theo chuẩn nghèo cho từng khu vực và trong từng giai đoạn khác nhau, nhưng vì một lý do nào đó hộ không còn đủ cơ hội để ứng phó với những bất lợi trong cuộc sống hoặc có thu nhập của hộ chỉ

thấp hơn mức chuẩn nghèo cho từng khu vực và trong từng giai đoạn

Thoát nghèo bền vững: Một hộ được gọi là thoát nghèo bền vững nếu

đang là hộ nghèo đã có thu nhập ổn định và phát triển có mức thu nhập trên

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

mức chuẩn nghèo cho từng khu vực, trong từng giai đoạn (kể cả việc tăng

mức chuẩn nghèo), họ không bị tái nghèo và có các kỹ năng, đủ năng lực để

ứng phó với những bất lợi xảy ra

Vấn đề giảm nghèo bền vững nói chung và giảm nghèo bền vững ở Việt

Nam nói riêng vẫn chưa được kết luận dưới góc độ là một khoa học từ khái

niệm, nội dung và các yếu tố cấu thành Trước khi tìm hiểu các vấn đề về giảm

nghèo bền vững, chúng ta tìm những yếu tố có liên quan đến nội dung này

Trước hết, thuật ngữ phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa

một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát

triển trong tương lai xa Thuật ngữ “phát triển bền vững” được Hiệp hội Bảo tồn

Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN sử dụng lần đầu tiên

vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới với nội dung: “Sự

phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn

phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường

sinh thái học” Khái niệm này được sử dụng phổ biến hơn vào năm 1987 trong

báo cáo của Uỷ ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED, trong báo cáo

đã nêu rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được nhu cầu hiện tại

mà không ảnh hưởng đến những khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thế hệ

tương lai” Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển

kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ

- Kinh tế bền vững: có ý nghĩa quyết định trong phát triển bền vững

Đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế cần tạo điều kiện thuận lợi trong

việc phát triển xã hội bền vững và môi trường bền vững

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Xã hội bền vững: đòi hỏi sự phát triển sự công bằng và xã hội phải

chú trọng cho phát triển con người, tạo điều kiện cho tất cả mọi người có cơ hội phát triển tiềm năng và có điều kiện sống ngày càng tốt hơn

- Môi trường bền vững: phải đảm bảo sự cân bằng giữa yêu cầu bảo vệ

môi trường với nhu cầu khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ sự phát triển xã hội và lợi ích của con người

Trong tuyên bố chung của Hội nghị thưởng đỉnh Rio+20 (12/2012)

đã khẳng định: “không thể phát triển bền vững chừng nào thế giới còn đói nghèo và cùng khổ” Tuyên bố này đồng nghĩa với việc chúng ta thực

hiện phát triển bền vững đồng thời với việc xoá đói giảm nghèo Quan điểm của Nhà nước ta là không thể giúp người nghèo thoát nghèo bằng cách tặng nhà, tặng phương tiện sống, v.v Đây là cách xoá nghèo nhanh

nhưng chỉ tức thời, không bền vững Như vậy, muốn giảm nghèo bền

vững, Nhà nước, cơ quan chức năng trong thực hiện các chương trình giảm nghèo cần quan tâm đến việc phải cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới, để họ có thể tiếp cận và duy trì Bên cạnh đó cần quan tâm đến sự hỗ trợ, ngăn ngừa và loại trừ các yếu tố gây rủi ro chứ không để xảy ra rủi ro sau đó đi khắc phục hậu quả Đặc biệt, sự hỗ trợ giảm nghèo cần được ưu tiên cho các vùng có khả năng, điều kiện thoát nghèo nhanh và có thể lan toả sang các vùng lân cận

Như vậy, tuy chưa có một khái niệm chung, đầy đủ cho “giảm nghèo bền vững”, nhưng có thể hiểu là để giảm nghèo bền vững cần phải kết hợp và

thoả mãn cả hai yêu cầu, đó là giảm nghèo và phát triển bền vững, điều đó thể

hiện trên các khía cạnh tạo cơ hội cho người nghèo thoát nghèo, ổn định và không ngừng tăng thu nhập để không bị tái nghèo khi có các tác động bất lợi của tự nhiên và xã hội Việc giảm nghèo phải đảm bảo được sự phát triển bền vững trên các mặt kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế Như vậy, có thể hiểu

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

“giảm nghèo bền vững” là quá trình giảm nghèo đảm bảo được sự cải thiện

đồng thời của sự bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường của một đất nước,

một địa phương, một cộng đồng dân cư hay của một hộ gia đình

1.1.4 Nội dung của giảm nghèo bền vững

Trên góc độ lý thuyết như đã trình bày ở các nội dung trên cho thấy

vấn đề giảm nghèo bền vững phải được xây dựng trên nền tảng mối quan

hệ biện chứng giữa phát triển bền vững và giảm nghèo Về Vấn đề phát

triển bền vững, đây là mục tiêu bao trùm, xuyên suốt và là mục tiêu trọng

tâm của sự phát triển nền kinh tế xã hội nói chung và của việc giảm nghèo

bền vững nói riêng, trong đó sự phát triển bền vững phải đảm bảo 3 yếu tố

là bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường; Về

vấn đề giảm nghèo, đây là mục tiêu cụ thể, là nội dung quan trọng có tính

then chốt của giảm nghèo bền vững

Bản chất của giảm nghèo bền vững là sự thoát nghèo được dựa trên nền

tảng của sự người nghèo được trang bị và có đầy đủ nội lực tự vươn lên thoát

nghèo, đủ sức để đề phòng và chống chịu với các tác động bất lợi đến các mặt

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Sơ đồ 1.1 Nội dung về giảm nghèo bền vững 1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững

Để thực hiện giảm nghèo bền vững nói chung và giảm nghèo bền vững cho các hộ người dân tộc thiểu số nói riêng cần xác định nội dung và mối quan hệ của 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng, đó là:

- Nhà nước: Nhà nước Việt Nam là nhà nước xã hội chủ nghĩa, quyền

lực của nhà nước là quyền lực của dân, dân là người chủ tối cao của quyền lực

nhà nước Theo quan điểm lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam “Nhà nước

là của dân, do dân và vì dân”, nhà nước phải là công cụ của dân, phục vụ cho dân Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đang phấn đấu vì mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Để đạt được mục tiêu đó,

việc thực hiện giảm nghèo và giảm nghèo bền vững phải được quan tâm hàng đầu mà trong đó Nhà nước là nhân tố quan trọng, quyết định Nhà nước đóng vai trò chủ đạo từ việc xây dựng chủ trương, ban hành các chính sách, xây dựng cơ chế điều hành, tạo nguồn vốn và tổ chức thực hiện Nhà nước sử dụng nguồn lực của đất nước như: các chính sách thuế, phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ để hỗ trợ giảm nghèo cho các hộ dân

- Cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế - xã hội: Trong lịch

sử phát triển xã hội, các thành phần kinh tế ngày càng khẳng định tính tất yếu về sự tồn tại của nó trong đời sống kinh tế Để giảm nghèo và giảm nghèo bền vững thì vai trò của cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức kinh

tế - xã hội là nhân tố không thể thiếu, nó được thể hiện sự chia sẻ nguồn lực,

hỗ trợ các hộ nghèo trên các mặt hoạt động như vốn, tạo thị trường, tạo việc làm, đào tạo lao động hoặc liên doanh liên kết nhằm tạo cơ hội và thúc đẩy

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

hộ nghèo vươn lên thoát nghèo Trong đó, các doanh nghiệp có vị trí nòng

cốt, doanh nghiệp phải coi đây là nhiệm vụ và là trách nhiệm của mình theo

quan điểm giúp người nghèo thoát nghèo là con đường để phát triển doanh

nghiệp, doanh nghiệp phát triển mạng lưới doanh nghiệp, đưa công nghiệp,

thương mại, dịch vụ về nông thôn

- Bản thân hộ nghèo: Hộ nghèo và người nghèo nói chung vừa là chủ

thể và là khách thể của quá trình giảm nghèo, đòi hỏi bản thân hộ nghèo và

cộng đồng người nghèo phải ý thức được ý nghĩa then chốt, tầm quan trọng

cũng như nội dung của việc thoát nghèo Từ sự hỗ trợ của Nhà nước, của cộng

đồng cần phải có sự chủ động, tính tích cực của hộ nghèo được thể hiện thông

qua ý thức vươn lên tự thoát nghèo của họ Nếu không có sự chủ động này thì

mọi sự hỗ trợ từ bên ngoài cho giảm nghèo sẽ không đạt hiệu quả, thậm chí

còn có tác dụng tiêu cực đó là tạo ra tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ,

thụ động trong vươn lên thoát nghèo

Tuy nhiên, do đặc điểm các hộ nông dân nghèo thường tập trung ở

những vùng sâu, vùng khó khăn, lại mang nhiều tư tưởng cổ hủ, lạc hậu,

chậm đổi mới nên để họ tự giác ý thức trong việc giảm nghèo là rất khó khăn

và lâu dài Do vậy, cần phải có những chính sách phù hợp, kết hợp với việc

tuyên truyền, vận động các hộ nông dân nghèo tập trung các nguồn lực của

bản thân bao gồm đất đai, lao động, tiền vốn và các yếu tố khác như các

phong tục, tập quán, bản sắc văn hoá, v.v., chủ động tiếp nhận và sử dụng

hiệu quả sự hỗ trợ của Nhà nước, của cộng đồng để tạo ra nội lực vươn lên

thoát nghèo, không bị tái nghèo

1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân

tộc thiểu số

1.1.6.1 Cơ chế chính sách của địa phương, nhà nước

Để thực hiện giảm nghèo bền vững đòi hỏi Nhà nước phải có các chính

sách thiết thực, phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương Những

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

chính sách như chính sách giảm nghèo, chính sách vốn… sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thực hiện giảm nghèo bền vững cho các địa phương, nhất là nơi tập trung nhiều đồng bào dân tộc thiểu số

Tình hình thực hiện Nghị quyết 30a, Chương trình 134, 135 và các chương trình, chính sách đặc thù khác cho vùng đồng bào dân tộc và miền núi cho rằng: trong điều kiện giao thông, kinh tế của địa phương, lãnh đạo huyện, cán bộ chủ chốt trước mắt phải hướng dẫn để bà con thoát đói nghèo, bằng cách vận động bà con tự túc lương thực, cải thiện được cuộc sống Đó là những việc không hề đơn giản mà cán bộ phải xắn tay áo hướng dẫn, làm cùng nhân dân Với cách tính đơn giản, có thể thấy, nếu chăm chỉ làm ăn, thì mỗi người dân không phải lo thu nhập chỉ 400.000 đồng/tháng/người mà còn cao hơn nhiều Bài học rút ra là, những chính sách, hỗ trợ của các cấp, các ngành mới là điều kiện đủ, điều kiện cần để xoá đói giảm nghèo bền vững chính là sự nỗ lực của bản thân mỗi người dân

Bên cạnh sự nỗ lực của các cấp ủy, chính quyền và toàn xã hội trong triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách về xóa đói, giảm nghèo thông qua nhiều chương trình hỗ trợ vốn, giống, ngày công, hướng dẫn áp dụng khoa học kỹ thuật, bản thân một số người nghèo ở một số địa phương vẫn còn

tư tưởng trông chờ, ỷ lại, thiếu ý thức vươn lên Việc được Đảng, Nhà nước

“bao cấp” (giáp hạt, thiếu đói đã có gạo Nhà nước, không có tiền ăn Tết cũng

có Nhà nước, nhà cửa xuống cấp, hư hỏng, rồi không có nhà cũng có Nhà nước cấp tiền để làm mới,v.v ) ít nhiều đã ăn sâu vào suy nghĩ của một bộ phận người nghèo Tình trạng có đất mà không chịu trồng lúa, trồng ngô; có trâu, bò mà không chịu chăm sóc, để cho gầy còm, ốm yếu rồi xẻ thịt, uống rượu; thậm chí có người nghèo được vay tiền từ Ngân hàng Chính sách xã hội (CSXH) mà không biết tổ chức sản xuất, để ăn dần vào cả gốc, v.v là những chuyện không phải khó tìm

Trang 15

1.1.6.2 Sự phối hợp đa ngành và ở tất cả các cấp trong tổ chức thực hiện

giảm nghèo bền vững

Giảm nghèo bền vững là một hoạt động liên quan đến nhiều cơ quan, tổ

chức và đoàn thể ở tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương Để thực hiện

thành công nhiệm vụ giảm nghèo, không chỉ dựa vào nỗ lực của từng cơ quan

riêng lẻ hoặc từng cấp riêng lẻ mà nó đòi hỏi phải có sự phối hợp một cách

hài hòa, nhịp nhàng và hiệu quả giữa các ngành, các cấp trong địa phương

Thủ tướng Chính phủ đã giao các Bộ, ngành liên quan rà soát và hoàn

thiện các chính sách đặc thù hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số và vùng đặc biệt

khó khăn Thủ tướng yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Dân tộc và các

Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, đề xuất điều chỉnh, bổ sung cơ chế, chính

sách mới, bảo đảm thiết thực, hiệu quả

Trong đó, Thủ tướng yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu sửa

đổi cơ chế quản lý và điều hành các Chương trình mục tiêu quốc gia theo

hướng đồng bộ hóa tổ chức quản lý, gắn Chương trình mục tiêu quốc gia với

kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội; thể chế hóa quy trình lập và triển khai kế

hoạch đầu tư cấp xã có sự tham gia của người dân thuộc Chương trình mục

tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và Xây dựng nông thôn mới

Bộ Tài chính nghiên cứu, xây dựng cơ chế tài chính chung để thực hiện

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Giảm nghèo bền

vững, tạo điều kiện cho việc lồng ghép nguồn lực được thuận lợi và nghiên cứu,

đề xuất tăng định mức xây dựng chính sách nói chung và chính sách giảm nghèo

nói riêng theo nguyên tắc tính đúng, tính đủ chi phí xây dựng chính sách

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sửa đổi Chương trình mục tiêu

quốc gia giảm nghèo bền vững nhằm đồng bộ hóa, tập trung nguồn lực, theo

hướng: Phân nhóm, gồm chính sách hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng và chính

sách hỗ trợ phát triển sinh kế; thực hiện chính sách dựa vào cộng đồng, gắn

sản xuất với thị trường nhằm tăng cường giám sát nội bộ, khuyến khích tự

vươn lên thoát nghèo bền vững; giao nhiệm vụ cho bộ, ngành đúng đắn, đảm bảo không trùng lặp về nội dung và địa bàn

1.1.6.3 Nguồn lực xóa đói giảm nghèo

Nguồn lực đóng vai trò quan trọng có tính quyết định đến việc thực hiện thành công hay không mục tiêu giảm nghèo bền vững Nguồn lực được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, từ sự đầu tư của chính phủ, của các đơn

vị tài trợ, cũng như từ chính cộng đồng Việc huy động đủ, kịp thời nguồn lực

sẽ góp phần đẩy nhanh công cuộc giảm nghèo bền vững ở các địa phương Có

7 chính sách cơ bản góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững:

 Chính sách tín dụng

Các chính sách tín dụng trực tiếp cho hộ nghèo được thực hiện chủ yếu thông qua Ngân hàng chính sách xã hội gồm 15 chương trình tín dụng dành cho người nghèo với mức lãi suất thấp Bên cạnh các chương trình tín dụng trực tiếp cho giảm nghèo, các chương trình tín dụng khác phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn cũng đã góp phần thúc đẩy quá trình giảm nghèo; Chương trình vay vốn tín dụng ưu đãi đầu tư kiên cố hóa kênh mương, đường giao thông nông thôn, hạ tầng nuôi trồng thủy sản, làng nghề

 Đào tạo dạy nghề, tạo việc làm

Thực hiện tốt chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nhất là lao động nghèo; ưu tiên nguồn lực đầu tư cơ sở trường, lớp học, thiết bị, đào tạo giáo viên dạy nghề; gắn dạy nghề với tạo việc làm đối với lao động nghèo

Mở rộng diện áp dụng chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động đối với lao động nghèo trên cả nước

 Về chính sách y tế, chăm sóc sức khỏe

Ngân sách nhà nước đã thực hiện hỗ trợ khám chữa bệnh đối với người nghèo thông qua Quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo Luật bảo hiểm y tế

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

quy định Nhà nước hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho người nghèo, người cận

nghèo, trong đó hỗ trợ 100% cho người nghèo, 50% cho người cận nghèo

 Về chính sách trợ giúp pháp lý và hỗ trợ thông tin

Chính quyền địa phương cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho các đối

tượng thụ hưởng chính sách theo các hình thức trợ giúp pháp lý như: Tư vấn

pháp luật; Tham gia tố tụng; Đại diện ngoài tố tụng và các hình thức khác theo

quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý Tổ chức các đợt trợ giúp pháp lý lưu

động về các xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn Thành lập, củng cố và tổ

chức sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý Thông tin, truyền thông, phổ biến các

chế độ, chính sách, quy định của pháp luật đến với người nghèo, đồng bào dân

tộc thiểu số và các chương trình, chính sách giảm nghèo bền vững

Tăng cường năng lực cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực

hiện trợ giúp pháp lý, thành viên Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý

1.1.6.4 Ý thức vươn lên thoát nghèo

Giảm nghèo bền vững chỉ thực sự thành công nếu xuất phát từ nhu cầu và

ý thức thoát nghèo của chính người nghèo Những tác động từ bên ngoài chỉ

mang tính hỗ trợ và sẽ không thành công nếu người nghèo thiếu ý chí vươn lên

Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, hàng loạt các chính sách ưu đãi,

các chương trình, dự án được đầu tư để cải thiện đời sống của đồng bào dân tộc

thiểu số, đồng bào vùng cao là động lực, cơ hội để người dân vươn lên xóa đói

giảm nghèo Tuy nhiên, ý thức của người dân lại là vấn đề quyết định Theo quy

định mới về tiêu chí hộ nghèo, mỗi người có thu nhập không dưới 400.000

đồng/người/tháng (đối với lao động nông thôn) là đã thoát nghèo Nhìn từ yếu tố

nội lực, bà con ở vùng dân tộc thiểu số có tư liệu sản xuất từ ruộng, nương, có

thể trồng lúa, trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia cầm, gia súc nếu tận dụng hết quỹ

đất sẵn có thì nông dân không thể không thoát nghèo

Thoát nghèo, quan trọng nhất là khơi dậy ý thức tự vươn lên của mỗi hộ

nông dân Bởi khi người dân không có khát vọng làm giàu, tinh thần quyết tâm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

học hỏi thì sự hỗ trợ, đầu tư bên ngoài cũng khó phát huy tác dụng.Mặc dù đã được các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể tuyên truyền giáo dục, nhưng vẫn còn những hộ nghèo mang nặng tư tưởng thụ động, dựa dẫm

1.1.7 Các thách thức trong giảm nghèo bền vững ở Việt Nam

Vấn đề giảm nghèo ở Việt Nam được cộng đồng thế giới ghi nhận, nhưng Việt Nam cũng đang đứng trước những thách thức lớn trong giảm nghèo bền vững, đó là vấn đề tái nghèo, cận nghèo và giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số Hiện nay tỉ lệ tái nghèo vẫn chiếm từ 7% đến 10% trong tổng số thoát nghèo hằng năm Theo đó, để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững ở Việt Nam chúng ta đang đứng trước 5 thách thức đó là:

- Vấn đề tái nghèo và cận nghèo

Mặc dù trong những năm qua, Việt Nam là một trong những quốc gia thực hiện khá thành công công cuộc giảm nghèo được thế giới ghi nhận và đánh giá cao Trên cơ sở triển khai đồng bộ có hiệu quả các chính sách, chương trình giảm nghèo, đến cuối năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 1,8-2%/năm (từ 7,8% xuống còn 5,8-6%); riêng tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm bình quân 5%/năm (từ 38,20% năm 2013 xuống còn 33,20% năm 2014) Tuy nhiên vấn đề tái nghèo vẫn còn khá phổ biến và tỉ lệ hộ cận nghèo còn rất cao Theo Báo cáo trước Ban chỉ đạo Trung ương về giảm nghèo bền vững tháng 2 năm 2014, Bộ trưởng Lao động, Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền thì cứ 3 hộ thoát nghèo thì có 1 hộ tái nghèo hoặc nghèo mới Bên cạnh đó, trong những năm gần đây tỷ lệ hộ cận nghèo còn khá cao, thường xuyên chiếm bằng 1/2 tỉ lệ hộ nghèo

- Xu hướng nghèo tập trung vào đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa

Hộ nghèo ở nước ta tập trung vào đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số

và khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa Năm 2014, số hộ nghèo tập trung ở

Trang 17

một số vùng chiếm tỷ lệ cao như khu vực miền núi Đông Bắc chiếm 21,01%;

Khu vực miền núi Tây Bắc chiếm 26,78%; Khu vực Tây Nguyên chiếm 14,82%

- Vấn đề giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội

Giảm nghèo là vấn đề có tính xã hội rất cao, nó phụ thuộc vào nhiều

yếu tố như: Vai trò chủ đạo của Nhà nước; sự chia sẻ của cộng đồng và khả

năng tự vươn lên của bản thân người nghèo và cộng đồng người nghèo Mặt

khác, khi chúng ta quan tâm đến vấn đề giảm nghèo phải gắn liền với việc

thực hiện công bằng xã hội Đây là một vấn đề khó xử lý và có tính nhạy cảm

rất cao, bởi vì các quyền lợi giữa các nhóm hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ

trung bình khá có sự khác biệt rất lớn Nhưng khi xét tiêu chí hộ nghèo theo

thu nhập như hiện nay thì ranh giới để phân nhóm hộ nhiều khi rất mong

manh chỉ chênh lệch nhau chỉ có 1000 VNĐ

- Khả năng phát sinh các hình thức nghèo mới

Hiện nay, chúng ta đang sử dụng tiêu chí xét chuẩn nghèo theo thu nhập

bình quân/người/tháng Trên thực tế hiện nay đã xuất hiện nhiều hình thức nghèo

mới như: nghèo về giáo dục, nghèo về y tế, nghèo về các khía cạnh của chất

lượng cuộc sống Do đó chúng ta cần thiết phải quan tâm đến vấn đề “nghèo đa

chiều” đã và đang xuất hiện trong đời sống dân cư, nhất là dân cư đô thị

- Hiệu quả giảm nghèo và tiếp cận chuẩn quốc tế

Trong thời gian qua Đảng, Nhà nước và cộng đồng đã quan tâm đầu tư

rất lớn trên nhiều phương diện cho công tác giảm nghèo Tuy nhiên hiệu quả

giảm nghèo chưa cao, tỉ lệ hộ cận nghèo còn cao, số hộ tái nghèo và nghèo

mới vẫn ở mức cao Mặt khác, mức chuẩn nghèo của Việt Nam còn rất thấp

so với chuẩn nghèo quốc tế (hiện nay là từ 1,25 đến 2 USD/người/ngày) Ở

Việt Nam mới chỉ có Thành phố Hồ Chí Minh đang tiếp cận đến chuẩn nghèo

quốc tế trong giai đoạn 2014-2015 chuẩn nghèo của Thành phố là dưới 16

triệu đồng/người/năm, chuẩn cận nghèo là trên 16 triệu đồng đến 21 triệu đồng/người/năm cao hơn 3 lần so với chuẩn nghèo quốc gia

1.2 Cơ sở thực tiễn về giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.1 Kinh nghiệm của thế giới và bài học đối với Việt Nam

1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Sau khi cách mạng thành công (1949), có thể chia quá trình phát triển kinh tế ở Trung Quốc làm hai giai đoạn: từ năm 1949 - 1977 là thời kỳ xây dựng CNXH theo mô hình kế hoạch hoá tập trung và từ năm 1977 đến nay thực thiện cải cách kinh tế theo hướng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước So với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, tuy ở Trung Quốc sự chênh lệch thu nhập giữa các nhóm giàu nghèo không lớn nhưng số dân đói nghèo rất cao Từ năm 1985 - 1988, chênh lệch thu nhập giữa nhóm dân cư giàu nhất với nhóm dân cư nghèo nhất chỉ 6,5 lần và hệ số Gini chỉ là 0,3 Nếu theo mức chuẩn nghèo của Cục Thống kê Trung ương Trung Quốc

là người có thu nhập 100 nhân dân tệ/người/ năm, thì số người nghèo ở nông thôn năm 1978 là 250 triệu người (chiếm 30% dân số), đến năm 1985 chỉ còn

125 triệu người và năm 1998 chỉ còn 43 triệu người Trung Quốc đã thực hiện nhiều biện pháp để hạn chế phân hoá giàu nghèo và thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo Có thể phân loại các biện pháp được thực hiện xoá đói giảm nghèo ở Trung Quốc thành 2 nhóm: nhóm các biện pháp chung và nhóm các biện pháp trực tiếp xoá đói giảm nghèo

+ Nhóm các biện pháp chung: Trung Quốc đã được thực hiện rất phong

phú và thay đổi từng thời kỳ, cụ thể như: duy trì sự ổn định về chính trị - xã hội; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhằm tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho mọi người; điều tiết hợp lý giữa thu nhập và phân phối; tạo việc làm thông qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là cơ cấu kinh tế nông thôn, chú

ý thích đáng đến phát triển đều ở các vùng

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Nhóm các biện pháp trực tiếp: xây dựng các mô hình, chỉ đạo làm

điểm cho từng vùng, từng địa phương để làm hình mẫu, làm đầu tàu lan toả,

huy động mọi nguồn lực cho XĐGN; chuyển nền kinh tế nông nghiệp từ sản

xuất tập trung sang sản xuất tư nhân với mô hình kinh tế hộ gia đình và giao

quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân; hỗ trợ chuyển giao công nghệ và

ứng dụng khoa học kỹ thuật vào các vùng nông thôn; hỗ trợ tích cực về truyền

thông, giáo dục, y tế, nhà ở cho các hộ nghèo và vùng khó khăn Hiện nay

Trung Quốc là nước có tỉ lệ số người ở mức nghèo khổ thấp nhất [27]

1.2.1.2 Kinh nghiệm của Indonesia

Indonesia là quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, có số dân đông

nhất khu vực, lãnh thổ có hơn 7 ngàn hòn đảo, rất đa dạng về điều kiện tự

nhiên, sinh thái, đa dân tộc, có sự chia cắt lớn về địa hình, nên việc phát

triển kinh tế và thực hiện xóa đói giảm nghèo là công việc phức tạp Trong

thời kỳ đầu đất nước Indonesia có nền kinh tế khó khăn, tốc độ tăng trưởng

kinh tế chậm, tỉ lệ hộ nghèo cao Xuất phát từ thực trạng đó Nhà nước có

hàng loạt các biện pháp nhằm khôi phục và phát triển kinh tế Thực hiện

chiến lược mở cửa, tăng xuất khẩu, nhất là xuất khẩu khoáng sản, sản phẩm

nông - lâm - thuỷ sản Nhờ nhận thức được tác hại của sự phân hoá giàu

nghèo và cuộc sống khó khăn của người nghèo, nên trong suốt thập kỷ 80 và

nửa đầu thập kỷ 90, Indonesia đã thực hiện nhiều biện pháp xóa đói giảm

nghèo, đưa mục tiêu xóa đói giảm nghèo thành mục tiêu quốc gia Chính

phủ đã trợ cấp ngân sách tín dụng cho người nghèo khuyến khích phát triển

các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn, mở rộng và củng cố hệ thống hợp

tác xã của những người kinh doanh nhỏ, nhờ những biện pháp tích cực, nên

số người nghèo của Indonesia giảm liên tục.Những năm qua, Chính phủ

Indonesia ban bố hàng loạt chính sách đầu tư cho người nghèo có trọng tâm

đem lại hiệu quả cao Vì thế, bất chấp nền kinh tế thế giới gặp nhiều khó

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

khăn, tỷ lệ nghèo đói tại Indonesia từng bước được cải thiện Thống kê của

Bộ Điều phối phúc lợi xã hội Indonesia cho thấy, nếu như năm 2004, tỷ lệ người nghèo của Indonesia là 16,66% thì đến năm 2013, số người nghèo giảm còn 11,37% Indonesia đặt mục tiêu giảm tỷ lệ nghèo còn 7 - 8% (trong tổng số hơn 230 triệu dân) vào năm 2015, bằng nhiều chính sách an sinh xã hội như đầu tư có trọng tâm để xóa vòng luẩn quẩn nghèo đói tại xứ nghìn đảo này Nhờ vào thành công trong việc giảm đáng kể tỷ lệ người bị đói và suy dinh dưỡng, cùng với nhiều quốc gia khác, Indonesia được Tổ chức Lương Nông Liên hiệp quốc (FAO) trao giải thưởng “Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ” năm 2015, được tổ chức hồi tháng 6 vừa qua [27]

1.2.1.3 Kinh nghiệm của Ấn Độ

Từ năm 1991, Ấn Độ đã mở cửa thị trường, cải cách kinh tế và đạt nhiều thành tựu đáng kể Tuy nhiên, hiện nay, nghèo đói vẫn là một vấn đề nghiêm trọng, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, làm chậm bước tiến của đất nước này trong nhiều lĩnh vực Tại Ấn Độ, người nghèo tập trung chủ yếu là các hộ nông dân ở vùng nông thôn Do đó, khi nông nghiệp gặp khó khăn thì đời sống nông dân cũng sẽ khó khăn Như vậy, nguyên nhân làm cho nông nghiệp chậm phát triển cũng chính là nguyên nhân làm cho nông thôn nghèo đói

- Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói ở Ấn Độ

+ Ấn Độ đã có nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo, nhưng các chương trình này không sát thực tế, quá trình thực hiện chưa tốt, thiếu sự hợp tác, phối hợp giữa các tổ chức Mặt khác, tình trạng quan liêu, tham nhũng, thiếu sự tham gia đầy đủ của người dân đã làm cho các chương trình trên kém hiệu quả, thậm chí thất bại Trong khi đó, đầu tư phát triển nhân lực chưa thỏa đáng Chính vì vậy, tăng trưởng kinh tế cao, nhưng tác động đến cuộc sống của đa số người dân còn thấp

Trang 19

+ Dân số Ấn Độ quá đông, tỷ lệ sinh thô của Ấn Độ hiện nay là 2,3%

Dân số đông dẫn đến thiếu việc làm và số lượng nông dân ra thành phố tìm

việc làm ngày càng tăng, khiến đời sống thêm khó khăn Đồng thời, sự tồn tại

của một xã hội truyền thống với những thói quen, tập tục lạc hậu, mê tín,

thậm chí trái pháp luật đã cản trở sự phát triển kinh tế, làm trầm trọng thêm

tình trạng nghèo khổ

+ Chính sách của Chính phủ còn nhiều điểm chưa phù hợp Chẳng hạn,

hiện nay, giá cả nông sản tại Ấn Độ đang thấp hơn thế giới, nhưng do áp

đặt Quata xuất khẩu, nên nông dân chưa thể khai thác được lợi thế này Họ

chỉ được hưởng từ 24% đến 58% giá bán cuối cùng nên đời sống vốn đã khó

khăn, lại càng thêm khó khăn

+ Một khó khăn khác là nông dân Ấn Độ rất thiếu đất canh tác: 41,5%

nông hộ không có đất Tháng 10-2007, hàng nghìn nông dân đã biểu tình vì

không có đất canh tác Ấn Độ chiếm 16,7% dân số thế giới, nhưng chỉ chiếm

2,42% diện tích đất đai của thế giới

+ Kết cấu hạ tầng nghèo nàn đã hạn chế sự tăng trưởng trong nông

nghiệp của Ấn Độ Do thiếu cơ sở vật chất nên tổn thất sau thu hoạch rau quả

của Ấn Độ đã lên tới 3 tỉ USD/năm Ấn Độ có thể vượt Bra-xin, trở thành

nước sản xuất đường lớn nhất thế giới, nhưng do thiếu kho dự trữ, thiếu

phương tiện vận chuyển, nên phải xuất khẩu với giá thấp Ấn Độ sản xuất

11% rau và 15% quả của thế giới, nhưng chỉ chiếm 1,7% và 0,5% xuất khẩu

của thế giới, cũng do thiếu kết cấu hạ tầng phục vụ xuất khẩu, chi phí vận

chuyển còn cao

- Giải pháp xóa đói, giảm nghèo

+ Để giải quyết cơ bản vấn đề nghèo đói, trước mắt, Ấn Độ đã tăng đầu

tư cho nông nghiệp Năm 1995-1996 Ấn Độ chi 4,1 tỉ USD cho nông nghiệp nhưng năm 2006-2007 tăng lên 19,5 tỉ USD Đây là mức tăng đáng kể dành cho nông nghiệp Từ năm 2007 đến năm 2010, Ngân hàng trung ương Ấn Độ

sẽ cho nông nghiệp vay gấp 2 lần Ngân hàng lớn nhất là SBI sẽ mở thêm từ 5.000 đến 6.000 chi nhánh tại nông thôn, để vừa mở rộng kinh doanh, vừa thực hiện chủ trương tăng cường đầu tư cho nông nghiệp Phát triển nông nghiệp, tăng cường sản xuất lương thực là một nhiệm vụ trọng tâm của kinh

tế Ấn Độ Để đạt chỉ tiêu 175 kg ngũ cốc/người, 11 kg đỗ/người vào năm

2012, Chính phủ Ấn Độ đã chi 1,2 tỉ USD cho Ủy ban An ninh lương thực, để tăng sản xuất gạo, đậu đỗ, lúa mì và tiến hành kế hoạch chăn nuôi, nâng cấp đàn gia súc nhằm tăng lượng sữa, trứng, thịt

+ Cải thiện kết cấu hạ tầng nông thôn Ấn Độ đã tăng vốn để phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn từ 3 tỉ USD năm 2007 lên 3,5 tỉ USD năm

2008 Bộ Tài chính cũng tăng tín dụng phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp từ 56,25 tỉ USD năm 2007-2008 lên 62,5 tỉ USD năm 2008-2009 Ngân hàng phát triển nông nghiệp Ấn Độ sẽ cung cấp 6,7 triệu USD cho quỹ phát triển

cơ sở hạ tầng nông thôn Cũng về cơ sở hạ tầng, để giúp nông dân giảm bớt khó khăn, Ấn Độ đang thúc đẩy thành lập 31 đặc khu nông nghiệp, 12 khu xuất khẩu nông sản (AEZ), một trung tâm trưng bày nông sản với chi phí hơn

5 tỉ USD và 30 công viên lương thực lớn (chi phí khoảng 4 tỉ USD) Các khu này sẽ tăng cường quản lý sau thu hoạch, cất trữ, kết nối sản xuất với các sân bay, bến cảng để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp

+ Về thủy lợi, Ấn Độ có kế hoạch liên kết 14 sông lớn ở vùng Himalaya với 17 sông ở phía Nam, để phân bổ lại khoảng 173 tỉ m3 khối nước/năm, từ đó, đưa sản lượng lương thực của Ấn Độ từ hơn 200 triệu tấn hiện nay lên 450 triệu tấn vào năm 2050 Kết quả này sẽ góp phần quan trọng vào công cuộc xoá đói giảm nghèo Đồng thời, Chính phủ đã chi 3,3 tỉ USD cho 300 dự án, chương trình chống lũ lụt ngắn hạn, trung hạn và dài hạn

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Về năng lượng, Ấn Độ thực hiện ưu tiên điện khí hoá nông thôn và

đang xây dựng hệ thống năng lượng cho khu vực này Trọng tâm là khai thác

năng lượng tái sinh như khí sinh học, năng lượng mặt trời, gió, thuỷ điện nhỏ,

để trong 5 năm tới sẽ cung cấp điện cho 75 triệu nông hộ

+ Ấn Độ cũng đã tăng chi cho xóa đói giảm nghèo và coi đây là mục

tiêu quan trọng, là chương trình lớn trong các kế hoạch dài hạn Ngày

15-8-1995, Ấn Độ đã đưa ra Kế hoạch quốc gia về hỗ trợ xã hội cho những người

sống dưới mức nghèo khổ: những người nghèo trên 65 tuổi sẽ được trợ cấp 2

USD/tháng; hỗ trợ từ 130 đến 250 USD cho những gia đình nghèo có người

chết; hỗ trợ 10 USD cho những phụ nữ trên 19 tuổi trong 2 lần sinh đầu Từ

năm 1999, Ấn Độ đã thực hiện hỗ trợ 10 kg lương thực cho những người già

không có lương hưu Gần đây, chương trình này đã mở rộng cho cả những

người có lương hưu Ngày 25-9-2001, Ấn Độ đưa ra chương trình bảo đảm

lương thực và việc làm cho nông thôn, chương trình nhà ở, chương trình bảo

đảm lợi ích người lao động trong khu vực nông nghiệp… Năm 2006, Chính

phủ đã đầu tư 800 triệu USD vào những vùng lạc hậu; năm 2007, lập quỹ 700

triệu USD giúp những vùng nông thôn lạc hậu Trong kế hoạch lần thứ XI, Ấn

Độ sẽ đưa ra chương trình đặc biệt để phát triển kinh tế cho 75 nhóm lạc hậu

đang sống trong những điều kiện hết sức nghèo nàn Cũng trong kế hoạch lần

này, Ấn Độ sẽ chi 1 tỉ USD để xóa bỏ tình trạng lao động trẻ em

+ Tạo việc làm là một trong những biện pháp quan trọng để xóa đói

giảm nghèo Chính vì thế, chương trình việc làm luôn luôn là một nội dung

quan trọng trong các kế hoạch của Chính phủ Tháng 8-2005, Ấn Độ thông

qua Luật Bảo đảm việc làm cho nông dân - một trong những văn bản pháp lý

bảo đảm về pháp lý để mỗi nông dân có đủ 100 ngày có việc làm/năm, với

mức lương 1,5 USD/ngày Nếu không có việc làm, nông dân sẽ nhận được

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

một khoản trợ cấp thất nghiệp Giai đoạn đầu, chương trình này sẽ áp dụng trong 200 huyện; 4 năm tiếp theo sẽ mở rộng ra toàn Ấn Độ Theo nhiều đánh giá, chương trình này được coi là có nhiều kì vọng nhất trên thế giới để xóa đói giảm nghèo Triển khai Luật trên, năm 2005-2006 Ấn Độ đã chi 3 tỉ USD, năm 2006-2007 là 2,7 tỉ USD và năm 2007-2008 là 2,8 tỉ USD cho chương trình việc làm nông thôn

- Những thành tựu cơ bản

Nhờ những cố gắng trên, nghèo đói ở Ấn Độ đã giảm nhiều Các chỉ số

xã hội như thu nhập, giáo dục, y tế, giao thông, điện, nước uống… ở hầu hết những vùng nông thôn nghèo đã được cải thiện đáng kể từ năm 1991 Tỷ lệ nghèo ở nông thôn đã giảm từ 45,76% trong năm 1983 xuống 37,26% trong năm 1994 và 29,18% trong năm 2005 Số lượng người nghèo tương ứng với các thời điểm trên là 252,05 triệu; 247,8 triệu và 232,16 triệu Đa số nông dân

đã có đủ lương thực, với tỷ lệ đủ ăn tăng từ 94,5% (năm 1994-1995) lên 97,1% (năm 2004-2005) Những thành tựu nông nghiệp đã giúp Chính phủ cung cấp lương thực cho những người nghèo nhất Phân phối lương thực đã tăng từ 10 kg, lên 20 kg và đến tháng 7-2001 là 25 kg/gia đình/tháng Chính phủ cũng đã bỏ ra hàng triệu tấn lương thực để cứu trợ những vùng bị thiên tai Việc phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn đã giải quyết nhiều việc làm cho nông dân, qua đó, giúp họ cải thiện, ổn định đời sống [27]

Bài học kinh nghiệm để giảm nghèo bền vững đối với Việt Nam

Qua nghiên cứu kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của một số nước trên thế giới, chúng ta có thể rút ra những bài học bổ ích cho Việt Nam trong công tác giảm nghèo bền vững Đó là:

- Thứ nhất, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn, coi đây là khu

vực và là đối tượng ưu tiên trọng điểm Trong đó nông nghiệp đóng vai trò quan trọng thúc đẩy tăng trưởng trong thời kỳ đầu của sự phát triển Do vậy,

Trang 21

cần có chính sách đất đai phù hợp, đầu tư kết cấu hạ tầng cho nông thôn góp

phần phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống

nhân dân, xoá đói giảm nghèo

- Thứ hai, đầu tư vào con người, đây là yếu tố quyết định đến giảm

nghèo bền vững Cần tạo cho mỗi người có cơ hội ngang nhau để có việc làm

và thu nhập ổn định Nhà nước quan tâm hỗ trợ trong việc học tập, đào tạo

nghề, trang bị kiến thức, chăm sóc y tế

- Thứ ba, nhà nước cần áp dụng các chính sách phù hợp, bảo đảm gắn

tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội, như chính sách thuế thu nhập,

bảo trợ xã hội, trợ giá nông nghiệp

- Thứ tư, xã hội hoá công tác giảm nghèo, cùng với Nhà nước cần phải

có sự tham gia của các tổ chức quốc tế, các tổ chức đoàn thể, của cộng đồng

và đặc biệt là sự cố gắng vươn lên của bản thân người nghèo

- Thứ năm, mô hình hoá công tác giảm nghèo, xây dựng mô hình sản

xuất, kinh doanh hiệu quả và nhân rộng các mô hình để người nghèo và cộng

đồng nâng cao thu nhập

- Thứ sáu, lựa chọn phương pháp tiếp cận thích hợp, nhà nước không

nên can thiệp trực tiếp tới hộ nghèo, mà chỉ thông qua các chính sách vĩ mô

tạo môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi để bản thân hộ nghèo tự phấn đấu

vượt qua đói nghèo

1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước và bài học rút ra cho

huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

1.2.2.1 Kinh nghiệm tỉnh Tuyên Quang

Tái thành lập tỉnh từ năm 1991, Tuyên Quang là một tỉnh có tỉ lệ hộ

nghèo khá cao, số hộ nghèo là người dân tộc thiểu số chiếm trên 70%, có

những xã tỉ lệ hộ nghèo còn trên 80% Năm 2005, số hộ nghèo trên địa bàn

toàn tỉnh là 55.447 hộ, chiếm 35,6% trên tổng dân số, năm 2010 Tuyên Quang

đã giảm số hộ nghèo xuống còn 16,65%, bình quân giảm 7,1%/năm Quán triệt

và thực hiện chủ trương của Đảng, Nghị quyết của tỉnh về xóa đói, giảm nghèo, trong những năm qua, Tuyên Quang tập trung các nguồn lực, thực hiện nhiều chính sách, giải pháp xóa đói, giảm nghèo, xóa nhà ở tạm trên địa bàn, đem lại nhiều kết quả quan trọng, bảo đảm kinh tế - xã hội của địa phương phát triển theo hướng bền vững Qua quá trình thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo, tỉnh Tuyên Quang rút ra được một số bài học kinh nghiệm sau:

- Thứ nhất, phải xác định xóa đói, giảm nghèo là một trong những

chính sách ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, là mục tiêu hàng đầu Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo phải hướng vào những vùng còn tỷ lệ hộ nghèo cao như vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với tinh thần: về chủ trương phải đúng trọng tâm, đúng trọng điểm; về chỉ đạo phải quyết liệt, biết khối lượng công việc, lực lượng thực hiện, thời hạn hoàn thành; về chủ trì phải gương mẫu, tận tụy, sâu sát, dân chủ, sáng tạo nhưng đúng pháp luật của Nhà nước

- Thứ hai, xây dựng lộ trình thực hiện các chính sách, cơ chế đặc thù,

các biện pháp đột phá, nhằm thực hiện có hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn Đi đôi với công tác này, phải tích cực giải quyết việc làm cho người lao động, gắn với đào tạo nguồn nhân lực, nhất là đào tạo nghề ngắn hạn cho người lao động ở nông thôn trong lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp nhằm nâng cao kiến thức tay nghề, đủ điều kiện tham gia thị trường lao động

- Thứ ba, xã hội hóa các hoạt động xóa đói, giảm nghèo, phát động

phong trào quần chúng sâu rộng trong toàn tỉnh Tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và hỗ trợ phát triển các làng nghề truyền thống Phấn đấu thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững thông qua việc đẩy mạnh các chương trình đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nông thôn, các chương trình hỗ trợ về sản xuất và đời sống cho đồng bào dân

tộc thiểu số, các xã đặc biệt khó khăn kết hợp và lồng ghép với các chương

trình phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bàn và dựa trên cơ sở đề xuất của

nhân dân cho phù hợp; đồng thời, xem việc xóa nhà ở tạm là nội dung quan

trọng trong chương trình xóa đói, giảm nghèo của địa phương

- Thứ tư, thiết lập cơ chế phân bổ ngân sách công bằng, minh bạch và

có tính khuyến khích cao, tạo điều kiện cho các địa phương chủ động trong

việc huy động nguồn lực tại chỗ cũng như lồng ghép với các nguồn khác, góp

phần nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình Tăng cường kiểm tra, giám

sát việc sử dụng nguồn lực, bảo đảm đúng mục tiêu, đúng đối tượng, không

thất thoát; kiên quyết xử lý các tổ chức, cá nhân sử dụng nguồn kinh phí của

chương trình không đúng mục đích, không có hiệu quả

- Thứ năm, hằng năm, tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết để đánh giá, rút

kinh nghiệm quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chương trình xóa

đói, giảm nghèo và xóa nhà ở tạm; kịp thời khen thưởng để động viên nhân tố

tích cực, khắc phục những yếu kém, tồn tại để tổ chức thực hiện chương trình

tốt hơn cho những năm tiếp theo

Trên cơ sở những kết quả và bài học kinh nghiệm, thời gian tới, Đảng

bộ và nhân dân Tuyên Quang quyết tâm vượt qua khó khăn, khắc phục những

tồn tại, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, thực hành tiết kiệm, tương thân

tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và đời sống, thực hiện có hiệu quả

chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2011 - 2015, góp phần

thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, giải quyết tốt các vấn đề an sinh

xã hội, hoàn thành các chỉ tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra

* Kinh nghiệm của huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chiêm Hóa là một huyện miền núi của tỉnh Tuyên Quang, cách trung tâm tỉnh lỵ 67 km về phía Bắc Huyện có diện tích tự nhiên 1.278,82km2, dân số trên 126 nghìn người, có 25 xã và 01 thị trấn và 18 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 80% tổng dân số toàn huyện Mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán, ngôn ngữ, trang phục, lễ hội, những làn điệu dân ca, dân vũ riêng biệt mang đậm nét văn hóa đặc trưng của miền sơn cuớc, có nhiều dãy núi cao giữa các vùng đồi núi là những thung lũng, đất đai màu mỡ Sông suối có

độ dốc cao, lớn nhất là sông Gâm chảy qua Na Hang đến Chiêm Hoá với

độ dài 40 km Là đường thuỷ duy nhất nối huyện với tỉnh và các tỉnh trung du của Đồng Bằng bắc bộ

Giao thông đường bộ có các tuyến: đường quốc lộ 279 dài 20,2 km

từ Hà Giang qua huyện Chiêm Hoá đi huyện Na Hang, đường tỉnh có 134

km gồm các tuyến: ĐT 190 từ km 31 chạy qua huyện chiêm Hoá lên huyện Na Hang, đường ĐT 185 từ đầu cầu Chiêm Hoá (phía đông bắc) thị trấn Vĩnh Lộc đi Vinh Quang, Kim Bình đến Kiến Thiết huyện Yên Sơn; đường ĐT 187 từ xã Yên Lập sang huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn; đường huyện: 127 km; đường đô thị 5,5 km

Điều kiện tự nhiên mang lại cho Chiêm Hoá nhiều lợi thế quan trọng trong việc xây dựng an toàn khu, khu vực phòng thủ, là nơi căn cứ địa cách mạng an toàn vững chắc trong thời kỳ kháng chiến, và các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Bằng nhiều giải pháp đồng bộ, Chiêm Hóa là một trong những địa phương làm tốt công tác giảm nghèo, hỗ trợ hiệu quả

để người dân thoát nghèo bền vững Đầu năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo của huyện là 49,78% đến cuối năm 2014 giảm còn 22,21%, ước thực hiện đến

Trang 23

cuối năm 2015 giảm xuống còn 17,79%; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân

trên 6%/năm

Công tác giảm nghèo được cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm,

chỉ đạo sát sao Các cơ chế, chính sách của Nhà nước ưu tiên cho công tác

giảm nghèo tại địa phương, các chính sách an sinh xã hội cho người

nghèo được các đơn vị, cơ quan, cơ sở trên địa bàn huyện thực hiện đầy

đủ, kịp thời, đúng đối tượng như chương trình cho vay vốn hộ nghèo, hộ

cận nghèo kết hợp với khuyến nông, lâm ngư Phần lớn các hộ nghèo, hộ

cận nghèo đã phát huy được hiệu quả về đồng vốn phục vụ cho sản xuất,

ổn định đời sống và đã có quyết tâm vươn lên thoát nghèo, năm 2014 trên

địa bàn huyện Chiêm Hóa đã có 324 hộ với 1.221 nhân khẩu tự nguyện

thoát nghèo Xã có số hộ tự nguyện thoát nghèo nhiều như Hà Lang có 80

hộ, xã Trung Hà có 38 hộ, xã Tân Mỹ có 28 hộ Kết quả trên cho thấy,

nhiều hộ nghèo trên địa bàn huyện đã ý thức vươn lên, vượt qua khó khăn

để ổn định cuộc sống

Để tiếp tục duy trì thành quả giảm nghèo một cách bền vững,

nhiều giải pháp đã được UBND huyện Chiêm Hóa thực hiện, nổi bật như

tạo điều kiện cho hộ nghèo vay vốn phát triển kinh tế Trong 6 tháng đầu

năm 2015, có 1.242 lượt hộ nghèo được vay vốn với tổng doanh số cho

vay 16.279 triệu đồng; 548 lượt hộ cận nghèo được vay 14.598 triệu

đồng Công tác dạy nghề miễn phí cho người nghèo gắn với việc làm

được tổ chức liên tục từ đầu năm đến nay Có 38 học viên là người

nghèo tham gia các lớp học về vận hành máy nông nghiệp, chăn nuôi thú

y, trồng cây công nghiệp

Một trong những thành công đáng kể trong công tác giảm nghèo ở

Chiêm Hóa trong những năm qua là việc giúp đỡ các hộ gia đình chính

sách, gia đình có công với cách mạng là hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn vươn lên thoát nghèo, ổn định cuộc sống Trong 6 tháng năm 2015, Quỹ Đền ơn đáp nghĩa huyện đã hỗ trợ cho 10 hộ có hoàn cảnh khó khăn

có nguy cơ tái nghèo với tổng số tiền 100 triệu đồng (mức hỗ trợ 10 triệu đồng/hộ) để phát triển sản xuất kinh tế, đảm bảo ổn định cuộc sống Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thường trực Huyện ủy, UBND huyện đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, ngành phụ trách xã, thị trấn; UBND các xã, thị trấn rà soát và xây dựng kế hoạch nhận giúp đỡ hộ nghèo thoát nghèo Tính đến hết tháng 6 năm 2015 các cơ quan, ngành phụ trách xã, thị trấn và UBND các xã, thị trấn đã rà soát, xây dựng kế hoạch nhận giúp đỡ 299 hộ nghèo

Huyện Chiêm Hóa cũng đã thực hiện có hiệu quả các chính sách về

an sinh xã hội, hỗ trợ về nhà ở, hỗ trợ người nghèo về trợ giúp pháp lý, dịch vụ y tế, giáo dục Qua đó đã góp phần quan trọng thực hiện có hiệu quả chương trình giảm nghèo của địa phương để hoàn thành mục tiêu toàn huyện còn dưới 18% hộ nghèo vào cuối năm 2015

1.2.2.2 Kinh nghiệm tỉnh Hà Giang

Hà Giang là tỉnh nằm ở cực Bắc Tổ quốc với gần 700 ngàn người, bao gồm 22 dân tộc, trong đó người Mông chiếm tỷ lệ lớn nhất với tỷ lệ 31,15% Năm 2010, toàn tỉnh có tới 6 huyện nghèo nhất cả nước và 112/195 xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn Khoảng những năm 2000, tỷ lệ đói nghèo của Hà Giang lên tới hơn 70%, trong đó số hộ nghèo rơi vào tình trạng thiếu ăn từ 1 -

3 tháng, thậm chí tới 5 tháng chiếm gần 50% Mỗi năm ngân sách của tỉnh phải trợ cấp cứu đói cho trên 6 ngàn hộ dân và trên 26.000 hộ phải sống trong những căn nhà tạm bợ Bên cạnh đó, diện tích đất sản xuất của các hộ nghèo

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

chỉ chiếm 8,35% trong tổng số diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh, hơn 50%

số hộ nghèo chưa được sử dụng điện lưới quốc gia

Làm sao để phát triển kinh tế, tìm lối thoát nghèo luôn là mối quan tâm,

trăn trở và nỗ lực rất lớn của Đảng bộ, chính quyền và mỗi người dân Hà

Giang Đồng thời, Hà Giang cũng nhận được sự quan tâm đặc biệt của lãnh

đạo Đảng, Nhà nước và sự giúp đỡ của các bộ, ngành trung ương, nhờ vậy

công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Hà Giang đã đạt được nhiều kết quả đáng

khích lệ Chỉ tính trong 3 năm từ 2008-2010, Hà Giang đã có hơn 21.000 hộ

thoát nghèo, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ hơn 50% năm 2007 xuống còn trên 27%

năm 2008 và trên 22% năm 2010, thu nhập bình quân đầu người của tỉnh đạt

6,3% triệu đồng/năm Diện mạo cả một vùng biên cương rộng lớn của Tổ

quốc đã có nhiều khởi sắc, gần 80% số hộ trong tỉnh được sử dụng điện, 65%

số hộ được xem truyền hình, phần lớn các thôn, bản có đường xe cơ giới Hệ

thống trường, trạm y tế từng bước được hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu học tập

và chăm sóc sức khỏe của người dân

Nguyên nhân thành công, bài học kinh nghiệm

- Thứ nhất, trước hết là việc nâng cao nhận thức và kiến thức để người

nghèo vươn lên, có cơ hội tiếp cận với khoa học - kỹ thuật, các dịch vụ sản

xuất và dịch vụ xã hội Với phương châm “Đảng viên đi trước, làng nước theo

sau”, mỗi cán bộ, đảng viên ở từng cấp ủy, chính quyền ở Hà Giang đã tự

nguyện nhận từ một đến hai gia đình nghèo để hướng dẫn, giúp đỡ họ thoát

nghèo Từ đó, tuyên truyền, vận động các hộ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật

nuôi, áp dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi, nâng cao nhận

thức chính trị, hiểu biết xã hội, tích cực tìm kiếm các nguồn lực, phương pháp

sản xuất phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cho địa phương

- Hai là, các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo

trên địa bàn như Chương trình 135, 134, 120, Dự án bảo vệ rừng hỗ trợ lương

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thực cho dân và đặc biệt là Nghị quyết 30a của Chính phủ về giảm nghèo nhanh và bền vững cùng với dạy nghề cho nông dân và đồng bào dân tộc thiểu số, hỗ trợ về y tế, giáo dục, cho vay phát triển sản xuất, nâng cao năng lực quản lý của cán bộ cơ sở được chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả và đúng mục tiêu, đúng đối tượng Đến nay, bằng các chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo từ nguồn ngân sách của Nhà nước cũng như khai thác từ nội lực, Hà Giang đã có gần 13.000 hộ nghèo được xóa nhà tạm; hơn 30.000 bể nước ăn gia đình được xây dựng; gần 600 công trình cơ sở

hạ tầng nông thôn được hoàn thành và đưa vào sử dụng, hơn 160 tuyến đường dân sinh, gần 800km đường giao thông nông thôn được mở, gần 1.300 ha đất được khai hoang, nương xếp đá chuyển thành nương ruộng; hơn 50.000 hộ nghèo và cận nghèo được nhận hoặc vay vốn phát triển sản xuất, chăn nuôi; hơn 5.000 ha đất nương sản xuất có hiệu quả kinh tế thấp được chuyển đổi sang trồng cây có giá trị kinh tế cao (thảo quả, trồng cỏ chăn nuôi )

- Ba là, thực tiễn cho thấy, muốn xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững,

nhất thiết phải thực hiện tốt xã hội hóa công tác xóa đói, giảm nghèo Mỗi năm ngoài kinh phí do trung ương cấp, Hà Giang còn huy động được hơn 1 tỉ đồng

do nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể trên địa bàn đóng góp Một

số mô hình xóa đói giảm nghèo như “bể nước, mái nhà, con bò”, “hạ sơn cho đồng bào vùng cao”, mô hình hỗ trợ lương thực cho các hộ nhận khoán rừng Xóa nhà tạm với phương châm “Cứng nền, bền mái, vững khung” với phong trào “Mái ấm tình thương”, “Mái ấm cho hộ nghèo nơi biên giới” của Hội phụ

nữ, của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Bộ đội Biên phòng; phong trào giúp đỡ giống trâu, bò, dê; phản nằm và màn của các tổ chức và cán bộ, đảng viên đã được thực hiện thành công và trở thành phong trào phổ biến trong toàn tỉnh

* Kinh nghiệm của huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang:

Vị Xuyên là huyện miền núi biên giới nằm bao quanh thành phố Hà Giang, trung tâm huyện lị Vị Xuyên cách thành phố Hà Giang 20km, địa hình

Trang 25

khá phức tạp, xen kẽ những thung lũng tạo thành những cánh đồng tương đối

rộng cùng với hệ thống những sông suối, ao hồ, thích hợp cho việc phát triển

nông nghiệp, có sông Lô chảy qua địa phận huyện, có quốc lộ 4C và quốc lộ 2

chạy qua, tạo điều kiện cho thông thương và giao lưu hàng hoá với các vùng

miền Diện tích tự nhiên của huyện là 1.451,8 km2, với dân số khoảng 10 vạn

người, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số Trong những năm qua, công tác

xóa đói, giảm nghèo luôn được huyện Vị Xuyên quan tâm và tập trung nhiều

nguồn lực với mục tiêu giảm nghèo một các bền vững với nhiều chính sách xã

hội đến với người nghèo vùng khó khăn trên địa bàn Với quyết tâm đó, công

tác XĐGN bền vững của huyện đã đạt được nhiều kết quả rõ rệt, số hộ nghèo

giảm nhanh qua các năm, đến năm 2014 tỷ lệ hộ nghèo còn 19% (giảm

15,56% so với năm 2010), riêng trong năm 2014, huyện Vị Xuyên có 1.000

hộ thoát nghèo, tỷ lệ giảm 3% so với năm 2013, hỗ trợ 290 triệu đồng cho 27

hộ nghèo làm nhà ở Để đạt được kết quả trên, trong những năm qua, huyện

Vị Xuyên đã triển khai nhiều mô hình, dự án phát triển kinh tế cho hộ nghèo

có hiệu quả Đặc biệt chú trọng thực hiện phát triển ở những xã khó khăn và

đặc biệt khó khăn, cùng với việc triển khai nhiều chính sách tín dụng ưu đãi

cho hộ nghèo từ Ngân hàng Chính sách, nguồn vốn vay theo Nghị quyết 47,

nguồn vốn sự nghiệp Chương trình 135 để hỗ trợ đồng bào đã giúp cho

người nghèo có điều kiện để phát triển sản xuất Nhiều mô hình mang lại hiệu

quả đặt nền móng cho công cuộc XĐGN bền vững ở những vùng khó khăn

như: Nuôi bò nhốt, trâu sinh sản, phát triển vùng chè (xã Thượng Sơn) với

tổng kinh phí trên 700 triệu đồng Ngoài ra, huyện còn thực hiện chính sách

hỗ trợ đất sản xuất cho hộ nghèo, chăm lo đời sống đối với những hộ dân tộc

thiểu số vùng đặc biệt khó khăn với nguồn vốn hỗ trợ trong năm 2014 lên đến

trên 2 tỷ đồng cho 4.911 hộ nghèo Hỗ trợ đất sản xuất cho người dân tại các

điểm quy tụ dân cư để người nghèo ổn định cuộc sống và phát triển kinh tế

Bước sang năm 2015, với mục tiêu: Đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo huyện Vị Xuyên tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp bằng cách nâng cao hệ số sử dụng đất, tăng cường canh tác cây trồng

vụ Xuân và vụ Đông trong năm Tiếp tục nhân rộng các mô hình sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao tạo nên thế mạnh của từng vùng như mở rộng

Dự án liên kết thu mua nông sản chè và thảo quả cho vùng biên giới xã Lao Chải, phát triển chăn nuôi tại vùng khó khăn xã Minh Tân Bên cạnh đó, với công tác giáo dục đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực và liên kết giải quyết việc làm là nhân tố quan trọng trong giảm nghèo bền vững vì vậy huyện

đã chỉ đạo cho Trung tâm Dạy nghề huyện Vị Xuyên liên kết chặt chẽ với các đơn vị đào tạo một số ngành mũi nhọn theo nhu cầu thị trường và chủ trương đào tạo những nghề nghiệp theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Chỉ tính riêng năm 2014, Trung tâm Dạy nghề huyện đã đào tạo được 33 lớp dạy nghề ngắn hạn cho 1.032 học viên được đào tạo những nghề phục vụ trong sản xuất công nghiệp cung cấp lao động cho nhiều công ty, doanh nghiệp ở các tỉnh Nhiều lớp học nghề theo các đề án phát triển của huyện đã thu hút nhiều học viên tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện và phát triển các Đề án thiết thực tại địa phương điển hình như: Nuôi và phòng trừ bệnh cho lợn, gà, trâu, bò; trồng rau an toàn; trồng và nhân giống nấm Cấp ủy, chính quyền địa phương xác định công tác giảm nghèo là nhiệm vụ trọng tâm trong sự phát triển của huyện Vì vậy để thực hiện được chủ trương giảm nghèo bền vững thì trước hết cán bộ, lãnh đạo địa phương cần rà soát đánh giá

hộ nghèo một cách chính xác nhất và nắm rõ tình hình, nhu cầu sau đó thực hiện các chính sách hỗ trợ phù hợp để hộ nghèo để tăng gia sản xuất từ đó vươn lên thoát nghèo Đồng thời đào tạo nghề thực tiễn cho con em trên địa bàn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đảm bảo kỹ năng và trình độ nhằm thực hiện các Đề án phát triển kinh tế có hiệu quả Như thế mới có thể giúp cho hộ thoát nghèo nhưng không để tái nghèo

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.2.2.3 Bài học kinh nghiệm cho giảm nghèo bền vững huyện Ba Bể, tỉnh

Bắc Kạn

Thứ nhất, cần xã hội hoá công tác giảm nghèo, nhằm huy động tối đa

các nguồn vốn tăng cường đầu tư cho địa phương, các vùng có điều kiện khó

khăn, kinh tế chưa phát triển, hỗ trợ cho người nghèo, nhằm tạo điều kiện các

địa phương, các vùng khắc phục khó khăn thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tạo

tiền đề cho các hộ nghèo cải thiện đời sống vươn lên tự thoát nghèo

Thứ hai, cần có những cơ chế chính sách đặc thù nhằm sử dụng một

cách hợp lý, hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, ưu tiên đầu tư cho kết cấu hạ

tầng, khoa học - công nghệ, sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường

Thứ ba, quan tâm đầu tư cho giáo dục - đào tạo, đặc biệt là đào tạo

nghề cho người lao động Điều này có tác dụng nâng cao chất lượng lao động,

phát triển nguồn nhân lực, tăng năng suất lao động

Thứ tư, cần có cơ chế, chính sách và kinh phí hợp lý, nhằm phát huy

hiệu quả công tác khuyến nông, khuyến lâm tăng cường nâng cao hiểu biết

của người dân trong sản xuất nông lâm nghiệp

Thứ năm, cần mở rộng hình thức hỗ trợ trực tiếp cho người dân nhằm

đảm bảo nguồn vốn hỗ trợ của Chính phủ đến được tận tay những người

nghèo, tránh thất thoát lãng phí

Thứ sáu, trong công tác giảm nghèo Nhà nước đóng vai trò quan trọng,

nhưng phải coi đây là nhiệm vụ của xã hội, mà trước hết là của chính những

người dân nghèo phải tự giác vươn lên Cần phải làm tốt công tác tuyên

truyền, giáo dục cho người dân hiểu rõ vấn đề, hiểu rõ trách nhiệm của mình

tránh tình trạng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ cộng đồng, của Nhà nước

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Câu hỏi nghiên cứu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Để giải quyết được vấn đề nghiên cứu cần trả lời các câu hỏi:

Thứ nhất, thực trạng giảm nghèo và giảm nghèo bền vững cho đồng

bào dân tộc thiểu số tại Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn như thế nào?

Thứ hai, những yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững cho đồng

bào dân tộc thiểu số tại Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn là gì?

Thứ ba, để thực hiện giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc

thiểu số tại Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn cần thực hiện những giải pháp chủ yếu nào?

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Chọn địa điểm nghiên cứu

Vườn quốc gia Ba Bể thuộc địa bàn huyện Ba Bể, Vườn thành lập theo Quyết định số 83/QĐ-TTg ngày 10/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ, thuộc hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam và chịu sự quản lý trực tiếp của UBND tỉnh Bắc Kạn Khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể có tổng diện tích 44.750ha, trong đó: vùng lõi 10.048ha, vùng đệm 34.702ha Vùng lõi gồm địa bàn của 3 xã: Nam Mẫu, Khang Ninh, Quảng Khê với dân số hơn 10 nghìn người, trong đó có tới 98% là đồng bào dân tộc thiểu

số Thống kê năm 2014 cho biết, số hộ nghèo của 3 xã là 526 hộ/2.197 hộ chiếm 23,94%, trong đó số hộ nghèo là người dân tộc thiểu số chiếm 99,34% tổng số hộ nghèo (522 hộ) Việc giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn không chỉ góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào, góp phần thực hiện an sinh xã hội mà còn có tác dụng bảo tồn Vườn Quốc gia, giữ gìn cảnh quan, môi trường và phát triển du lịch sinh thái

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập số liệu thứ cấp

Trang 27

Số liệu thứ cấp được khai thác từ các nguồn: các Chỉ thị, Nghị quyết

của Đảng, của Nhà nước, các Bộ, các Ngành của Trung ương, của tỉnh Bắc

Kạn; các tài liệu về xóa đói, giảm nghèo, các chế độ chính sách thực hiện

công tác xóa đói, giảm nghèo; số liệu báo cáo của các phòng, ban, ngành của

huyện, của Vườn Quốc gia Ba Bể, Niên giám thống kê huyện Ba Bể

- Thu thập số liệu sơ cấp

+ Phương pháp chọn mẫu điều tra

Với mục tiêu nghiên cứu, đề tài lựa chọn 150 hộ gia đình để tiến hành điều

tra khảo sát: 50 hộ tại xã Quảng Khê, 50 hộ tại xã Nam Mẫu và 50 hộ tại xã

Khang Ninh Đối tượng điều tra bao gồm những hộ gia đình là người dân tộc thiểu

số và bao gồm cả hộ nghèo và các hộ không thuộc hộ nghèo Bởi vì khi lựa chọn

như vậy sẽ có cơ sở để so sánh và đánh giá trình độ phát triển của hộ nghèo và các

hộ không thuộc hộ nghèo Việc lựa chọn hộ hoàn toàn ngẫu nhiên, trên cơ sở tính

toán thu nhập bình quân của hộ mới chia thành nhóm hộ nghèo và không nghèo

+ Sau khi tiến hành xác định được số lượng mẫu cần điều tra và địa

điểm điều tra, bước tiếp theo là xây dựng phiếu điều tra tình hình kinh tế và

đói nghèo của hộ

+ Thu thập tình hình của hộ bằng phiếu điều tra xây dựng trước Qua

phiếu điều tra này sẽ cho phép thu thập được các thông tin định tính và định

lượng về vấn đề liên quan đến sản xuất và nguyên nhân nghèo đói của hộ

2.2.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu

- Đối với thông tin thứ cấp

Sau khi thu thập được các thông tin thứ cấp, tiến hành phân loại, sắp

xếp thông tin theo thứ tự ưu tiên về độ quan trọng của thông tin Đối với các

thông tin là số liệu thì tiến hành lập nên các bảng biểu

- Đối với thông tin sơ cấp

Phiếu điều tra sau khi hoàn thành sẽ được kiểm tra và nhập vào máy

-Đây là phương pháp chủ yếu dùng trong phân tích các chính sách thực hiện giảm nghèo để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích Để tiến hành được cần xác định số gốc để so sánh, xác định điều kiện để so sánh, mục tiêu để so sánh

- Phương pháp thống kê, mô tả

Thống kê mô tả được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau Thống kê mô tả và thống kê suy luận cùng cung cấp những tóm tắt đơn giản

về mẫu và các thước đo Cùng với phân tích đồ họa đơn giản, chúng tạo ra nền tảng của mọi phân tích định lượng về số liệu Để hiểu được các hiện

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tượng và ra quyết định đúng đắn, cần nắm được các phương pháp cơ bản của

mô tả dữ liệu Có rất nhiều kỹ thuật hay được sử dụng Có thể phân loại các

kỹ thuật này như sau:

+ Biểu diễn dữ liệu bằng đồ họa trong đó các đồ thị mô tả dữ liệu hoặc

giúp so sánh dữ liệu;

+ Biểu diễn dữ liệu thành các bảng số liệu tóm tắt về dữ liệu;

+ Thống kê tóm tắt (dưới dạng các giá trị thống kê đơn nhất) mô tả

dữ liệu

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

- Quy mô và đặc điểm của hộ nghèo người dân tộc thiểu số

- Mức sống của hộ nghèo người dân tộc thiểu số

- Tăng thu nhập bình quân hộ nghèo: thu nhập tăng qua các năm, tỷ lệ %

- Tăng số hộ thoát nghèo: số lượng, quy mô, cơ cấu %

- Giảm tỷ lệ hộ tái nghèo: cơ cấu, tỷ lệ % so sánh với tổng dân số vùng

nghiên cứu

- Các tiêu chí khác: tình trạng việc làm, tình trạng cải thiện nhà ở và

sinh hoạt, chăm sóc sức khỏe, y tế…

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 3 THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VƯỜN QUỐC GIA

BA BỂ, BẮC KẠN 3.1 Khái quát về vườn quốc gia Ba Bể

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Lịch sử hình thành VQG Ba Bể được tính từ năm 1977 theo Quyết định

số 41/QĐ- TTg ngày 24/1/1977 của Thủ tướng Chính phủ chính thức công nhận Ba Bể là khu văn hoá lịch sử Quan điểm trên được tái khẳng định trong Nghị định 194/NĐ-CP, ngày 9/8/1986 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng giao cho Bộ Lâm Nghiệp và các cơ quan chức năng tiến hành khảo sát và xây dựng

dự án đầu tư cho Ba Bể thành VQG Năm 1992, Viện Điều tra quy hoạch rừng đã hoàn thành việc xây dựng dự án đầu tư thành lập VQG Ba Bể Dự án

đã được Chính phủ phê duyệt và Vườn Quốc gia Ba Bể được chính thức thành lập từ 10/11/1992 theo quyết định số 83/TTg của Thủ tướng Chính phủ Chức năng nhiệm vụ của Vườn là: bảo tồn các nguồn gen động, thực vật, các

hệ sinh thái, cảnh quan môi trường; tổ chức, quản lý, phục vụ nghiên cứu khoa học, du lịch dịch vụ Vườn Quốc gia Ba Bể nằm ở phía Tây Bắc huyện

Ba Bể, cách thành phố Bắc Kạn 70km theo hướng Tây Bắc và cách thủ đô Hà Nội 250km về phía Bắc

VQG Ba Bể gồm các xã Nam Mẫu, Khang Ninh, Cao Thượng, Cao Trĩ, Quảng Khê, Hoàng Trĩ - huyện Ba Bể, Nam Cường - huyện Chợ Đồn Khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể có tổng diện tích 44.750ha, trong đó: Vùng lõi 10.048ha, vùng đệm 34.702ha Vùng lõi bao gồm: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 4.488,3ha; phân khu phục hồi sinh thái 5.519,7ha; phân khu hành chính dịch vụ 40,0 ha Vườn có tọa độ địa lý từ 220

06’12” đến 220 08’14” Vĩ độ Bắc;

Trang 29

từ 1050

09’07” đến 1050 12’22” Kinh độ Đông Vườn quốc gia Ba Bể có ranh

giới như sau: Có ranh giới hành chính:

Phía Bắc giáp phần còn lại của xã Cao Thượng, huyện Ba Bể;

Phía Nam giáp huyện Chợ Đồn, phần còn lại xã Quảng Khê, Hoàng Trĩ

huyện Ba Bể;

Phía Đông giáp phần còn lại xã Khang Ninh, Cao Trĩ huyện Ba Bể;

Phía Tây giáp huyện Chợ Đồn và tỉnh Tuyên Quang

3.1.1.2 Địa hình, địa thế

Địa hình Vườn quốc gia Ba Bể mang đặc điểm điển hình của dạng địa

hình Kast do núi đá vôi bị phong hóa qua nhiều thời kỳ tạo lên Có thể chia

địa hình Vườn quốc gia Ba Bể thành 5 kiểu chính sau:

- Kiểu địa hình Kast: Chiếm 23,6% tổng diện tích tự nhiên Núi đá thuộc

kiểu địa hình này bị chia cắt thành nhiều khối có dạng lởm chởm, sườn thẳng

đứng, cao tới 700 - 800 m Hầu hết núi đá trong vùng đều có các dạng Caxtơ

trên mặt và Caxtơ ngầm tạo ra các hang động, sông, suối ngầm Giữa các núi

đá vôi là các bồn địa được phủ lên trên một lớp đất trầm tích màu đỏ vàng

- Kiểu địa hình núi trung bình: Chiếm 23% tổng diện tích tự nhiên,

phân bố chủ yếu ở phía Đông và phía Nam của Vườn, độ cao trung bình 1000

m, độ dốc > 35o Bao gồm dãy núi Phia-Bjoóc có độ cao trên 1.000 m chạy

dài từ đỉnh Đồn Đèn theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đến núi Hoa Sơn với

đỉnh cao nhất là Phia-Bjoóc (1.502 m), tiếp theo dãy Pia Đông Phouc và Pou

Loung Vai với các đỉnh cao trung bình 1.000 m

- Kiểu địa hình núi thấp: Có độ cao biến động trong khoảng từ 300 m đến

700 m, chiếm 43,7% tổng diện tích tự nhiên, bao gồm toàn bộ các đỉnh núi thấp

dưới 700 m và các sườn núi cao trung bình phía Bắc và Nam hồ Ba Bể Độ dốc

trung bình từ 26o

đến 35o, tương đối thuận lợi cho việc phục hồi, phát triển rừng

- Kiểu địa hình vùng đồi: Có độ cao dưới 300 m, chiếm 3,2% tổng diện

tích tự nhiên Phân bố rải rác xung quanh khu vực lòng hồ và hai bên bờ sông

Chợ Lèng Hiện nay trên phần lớn diện tích chỉ còn lại các trảng cỏ, trảng cây bụi thứ sinh Tuy nhiên tầng đất khá dày, vẫn còn nhiều khả năng để tái tạo lại thảm thực vật và khôi phục lại hệ sinh thái rừng trong khu vực này

- Kiểu địa hình hồ và thung lũng: chiếm 6,5% tổng diện tích tự nhiên,

phân bố rải rác giữa các dãy núi, ven sông, suối Hồ Ba Bể nằm ở trung tâm Vườn quốc gia, có diện tích mặt nước hơn 311 ha Đây là hồ tự nhiên trên núi lớn nhất Việt Nam và là 1 trong 20 hồ tự nhiên nước ngọt đặc biệt của thế giới cần được bảo vệ Hồ Ba Bể vừa là thắng cảnh nổi tiếng vừa là môi trường sinh sống thuận lợi của nhiều loài động, thực vật thủy sinh

3.1.1.3 Khí hậu - thủy văn

- Vườn quốc gia Ba Bể nằm trong tiểu vùng khí hậu của vùng Đông Bắc Việt Nam Một năm chia làm 2 mùa rõ rệt (mùa mưa và mùa khô) Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Trung tâm của Vườn là hồ Ba Bể với diện tích 450 ha Sự bốc hơi liên tục tạo nên khí hậu vùng hồ mát mẻ, giảm bớt sự khắc nghiệt của các mùa (mùa hè không quá nóng, mùa đông không quá lạnh)

+ Nhiệt độ trung bình năm: 220

C + Độ ẩm tương đối trung bình năm: 83,3%

+ Lượng mưa trung bình năm: 1.378mm + Số ngày mưa phùn trung bình trong năm: 33,3 ngày + Số ngày có dông, mưa trung bình năm tại chợ Rã: 41,2 ngày Điều kiện khí hậu trong lành mát mẻ rất tốt cho sức khoẻ con người nên có thể mở rộng khai thác du lịch theo loại hình nghỉ ngơi, an dưỡng, nghỉ cuối tuần Hồ Ba Bể được bao bọc bởi những vách núi đá vôi với nhiều hang ngầm khi ẩn khi hiện và được ca ngợi là hồ nước ngọt tự nhiên đẹp nhất Việt Nam, được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2012 có sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch Diện tích mặt hồ lớn và mực nước

ổn định quanh năm tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động du lịch trên

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

hồ thăm các đảo, hang động, danh lam thắng cảnh khác Ngoài ra, còn có

thể phát triển thêm một số trò thể thao nước

- Hệ thống thủy văn của Vườn Quốc gia Ba Bể bao gồm các sông, suối:

Chợ Lèng, Bó Lù, Tà Han, sông Năng và hồ Ba Bể Hồ Ba Bể nhận nước từ

các sông Tà Han, Bó Lù và Chợ Lèng ở phía Nam của Vườn Quốc gia với

tổng diện tích lưu vực là 420km2 Ba con sông, suối này đổ nước vào hồ, sau

khi được điều tiết, một phần nước hợp lưu với sông Năng ở phía Bắc hồ, tiếp

tục chảy về sông Gâm Sông Năng là thượng nguồn của sông Hồng, chảy theo

hướng Đông Tây Tổng diện tích lưu vực sông Năng là 1.420km2 Vào mùa

lũ, ngoài 3 con sông, suối ở phía Nam, nước từ sông Năng có thể chảy vào hồ

và mực nước ở hồ có thể dâng lên từ 2 - 3m Khi nước lũ sông năng giảm

xuống, nước trong hồ lại tiếp tục chảy vào sông Năng Hồ Ba Bể nằm ở độ

cao 150m so với mặt biển, độ sâu trung bình của hồ Ba Bể là 17m đến 23m,

chỗ sâu nhất đạt đến 29m Hồ Ba Bể có vai trò rất quan trọng trong việc điều

tiết nguồn nước trong khu vực: Mùa cạn nước từ hồ đổ ra sông Năng ở phía

bắc, khi lũ lớn nước sông Năng dâng cao chảy vào hồ làm cho nước hồ ứ lại

Hồ Ba Bể có khả năng điều tiết hơn 40 triệu m3 nước cho sông Năng và sông

Gâm Hồ Ba Bể là hồ tự nhiên trên núi duy nhất có ý nghĩa đặc biệt quan

trọng ở Việt Nam, là một hồ kiến tạo tự nhiên lớn Do cơ chế kiến tạo địa chất

và thủy văn đặc biệt nằm trong vùng đá vôi, nhưng hồ Ba Bể không bị mất

nước và đây chính là điều kỳ thú độc đáo của hồ Ba Bể

3.1.1.4 Địa chất - thổ nhưỡng

VQG Ba Bể nằm trong vùng caxtơ chợ Rã Ba Bể - Chợ Đồn, hai khối

này là khối đá vôi Givet (kỷ đề vôn giữa) nằm trên phiến đá Protezol, bên

cạnh hai khối đá hoa cương Tuổi tuyệt đối của khối đá vôi này đã trải qua

chế độ lục địa khoảng 200 triệu năm Điều này nói nên sự già nua các địa hình

caxtơ ở đây khác với các nơi khác Độ cao trung bình của núi đá vôi là 800 -

900 m so với mặt nước biển

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Dạng địa hình caxtơ điển hình tạo thành nhiều hệ thống hang động, núi

đá vôi đẹp mà tiêu biểu là hệ thống các hang động kỳ vĩ như Động Puông, Động Tiên, Động Nả Phòng, Động Ba Cửa, Hang Sơn Dương Diện tích trong lòng hang động lên tới hàng trăm hàng nghìn m2 với các loại nhũ đá, cột đá hình thù sinh động độc đáo Địa hình khu vực cũng tạo nên hồ Ba Bể, một trong những di sản thiên nhiên độc đáo và đẹp bậc nhất nước ta Hồ Ba Bể nằm kẹp giữa hai dãy núi lớn ở Việt Bắc là cánh cung Sông Gâm và cánh cung Ngân Sơn với nhữnh đỉnh núi cao trên 1.000 m Bao bọc quanh hồ là các vách núi đá vôi dựng đứng, hiểm trở với vẻ đẹp hùng vĩ và nhiều cánh rừng nguyên sinh, những dòng sông suối ngầm khi ẩn khi hiện Hồ được cắt khúc thành ba

hồ nhỏ: Pé Lầm, Pé Lù, Pé Lèng chạy theo hướng Bắc - Nam Trong lòng hồ

có các đảo nhỏ gắn liền với truyền thuyết vùng hồ, là những nơi có nhiều loài phong lan và chim muông sinh sống Hồ nằm trong hệ tự nhiên của VQG Ba

Bể một di sản thiên nhiên quý giá có diện tích 7.610 ha Đây là một hệ thống rừng nguyên sinh trên núi đá vôi với sự đa dạng lớn về tài nguyên động thực vật, là tiềm năng lớn cho hoạt động phát triển loại hình du lịch sinh thái Đặc điểm cấu tạo địa chất tạo nên địa hình khu vực đa dạng, hấp dẫn, độc đáo cho phát triển du lịch sinh thái dưới các loại hình tìm hiểu và tham quan các danh lam thắng cảnh, các hang động, các đảo gắn liền vối truyền thuyết về Hồ Ba Bể và lịch sử hào hùng của dân tộc Ngoài ra, với điều kiện địa hình như vậy, việc mở rộng loại hình du lịch mạo hiểm có thể là một hướng đi mới cần được lưu ý

Trang 31

2 Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp (>700 m) 909,1

3 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp (<700 m) 4.484,6

4 Kiểu phụ rừng hỗn giao tre nứa - cây lá rộng 61,5

(Nguồn: Ban quản lý Vườn quốc gia Ba Bể)

Thảm thực vật của VQG Ba Bể có thể xếp vào các kiểu rừng và thảm

tươi như sau:

+ Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp, thường phân bố ở

độ cao dưới 700 m Diện tích 4.484,6 ha, loài ưu thế gồm: Đinh, Lát, Sấu, Hu,

Trám, Sồi

+ Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp, thường phân bố

ở độ cao trên 700 m Diện tích 909,1 ha, cấu trúc 2 tầng, loài ưu thế gồm các

cây họ Dẻ, Re, Mộc Lan như: Cà ổi, Giổi, Bời lời, Màng tang, Sồi không

rụng lá vào mùa đông nhưng vỏ cây thường sù sì, có nhiều địa y

+ Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi: Diện tích

2.186,2 ha, phân bố rộng khắp VQG Ba Bể, đặc biệt quanh Hồ Cấu trúc 2-3

tầng, loài ưu thế gồm: Nghiến, Trai, Đinh, Lát Hoa, Dẻ, Trám trắng, Thung,

+ Ngoài ra còn một số kiểu phụ: Rừng hỗn giao tre nứa - cây lá rộng,

kiểu phụ rừng tre nứa, kiểu phụ thứ sinh rừng trồng

+ Thảm tươi, cây bụi, cây gỗ rải rác: Đa phần cây gỗ tạp như Thôi ba,

Thôi chanh, Hồng bì rừng, Cò ke, Tổ kén , tổng diện tích 1.301,2 ha

- Hiện trạng sử dụng đất

Vườn quốc gia Ba Bể được quy hoạch ban đầu có diện tích là 7.610 ha

(theo Quyết định số 83/QĐ-TTg ngày 10/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ)

Năm 2004, theo Dự án rà soát và đầu tư xây dựng VQG Ba Bể giai đoạn 2005

- 2010, được UBND tỉnh Bắc Kạn phê duyệt tại Quyết định số 2766/QĐ-UB ngày 26/11/2004 diện tích vườn là 10.048 ha

Căn cứ vào phạm vi ranh giới đóng mốc ngoài thực địa, ranh giới các phân khu chức năng do Ban quản lý VQG Ba Bể cung cấp; kết quả kiểm kê rừng huyện Ba Bể, Chợ Đồn của Viện Điều tra Quy hoạch rừng năm 2011 và kết quả phúc tra hiện trạng của Phân viện ĐTQH rừng Đông Bắc bộ tháng 7 năm 2012, diện tích tính lại của các phân khu chức năng như sau: Bảo vệ nghiêm ngặt 4.488,3 ha, phục hồi sinh thái 5.519,7 ha, hành chính - dịch vụ 40,0 ha, hiện trạng tài nguyên và sử dụng đất VQG Ba Bể thể hiện ở bảng số 3.2

Theo kết quả bảng trên, diện tích đất có rừng trên địa bàn VQG là 7.724,8 ha, chủ yếu là rừng tự nhiên (99,6% đất có rừng), độ che phủ rừng đạt 75,6% Chất lượng rừng còn khá tốt, rừng tự nhiên trung bình trở lên chiếm 61,8% đất có rừng, rừng trên núi đá chiếm 28,3% đất có rừng, còn lại là rừng hỗn giao, rừng tre nứa, rừng phục hồi, rừng nghèo chiếm 10,0% đất có rừng

Bảng 3.2: Hiện trạng tài nguyên và tình hình sử dụng đất VQG Ba Bể

Hành chính Diện tích tự nhiên 10.048,0 4.488,3 5.519,7 40,0

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

II Đất ngoài lâm nghiệp 1.022,0 626,0 379,6 16,4

(Nguồn: Ban quản lý Vườn quốc gia Ba Bể)

- Diện tích rừng trồng là 28,1 ha, chiếm 0,4% đất có rừng, chủ yếu là

cây bản địa: Lát hoa, Lim xanh, Quế, v.v., trồng trong phân khu phục hồi sinh

thái Do đặc thù VQG có dân cư sinh sống trong vùng lõi nên một số hộ gia

đình cũng tiến hành trồng rừng trên đất nương rẫy thoái hóa trong phân khu

bảo vệ nghiêm ngặt

- Diện tích đất chưa có rừng trong Vườn quốc gia còn 1.301,2 ha, chiếm

12,9% diện tích Vườn Trong đó, nương rẫy không cố định là 725,7 ha; đất

trống có cây gỗ rải rác (IC) 332,1 ha; đất trống trảng cỏ, cây bụi 51,7 ha; núi đá

không có rừng 183,1 ha Diện tích nương không cố định còn nhiều, do trong

Vườn hiện có 15 thôn, bản với hơn 3000 dân đang định cư hoặc có đất canh tác

trong Vùng lõi (Nam Mẫu 9 thôn, Quảng Khê 3 thôn, Khang Ninh 3 thôn)

- Đất ngoài lâm nghiệp là 1.022,0 ha gồm: 497,9 ha đất sản xuất nông

nghiệp, 524,1 ha đất phi nông nghiệp

3.1.1.6 Hệ động vật, thực vật của Vườn quốc gia Ba Bể

- Tài nguyên thực vật rừng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Khu hệ thực vật VQG Ba Bể bao gồm 4 yếu tố: thực vật bản địa Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa, thực vật di cư India - Myanma, thực vật quý hiếm và thực vật đặc hữu của vùng

Bảng 3.3: Tổng hợp tài nguyên thực vật Vườn quốc gia Ba Bể

(Nguồn: Ban quản lý Vườn quốc gia Ba Bể)

Trên cơ sở số liệu kế thừa trước đây và kết quả phúc tra của Viện Nghiên Cứu Khoa học Tây Bắc phối hợp với Phân viện ĐTQH rừng Đông Bắc bộ, Vườn quốc gia Ba Bể có 909 loài thực vật trên cạn thuộc 517 chi, 149 họ, 5 ngành Trên địa bàn Vườn quốc gia Ba Bể có 26 loài quí hiếm thuộc 24 chi,

20 họ Trong đó có 16 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam 2007 gồm: cấp

EN (nguy cấp) có 6 loài, cấp VU (cấp sẽ bị nguy cấp) có 10 loài Có 9 loài được ghi trong danh lục đỏ của IUCN 2009, gồm cấp EN (nguy cấp) có 3 loài, cấp VU (sắp nguy cấp) có 2 loài, cấp NT (sắp bị đe dọa) có 1 loài cấp

LC (ít được biết đến) có 3 loài Có 11 loài thuộc Nghị định 32 CP/2006, trong

đó nhóm IA có 1 loài, còn lại 10 loài thuộc nhóm IIA

Ngày đăng: 02/08/2016, 21:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Chuẩn nghèo của Việt Nam đƣợc xác định qua các thời kỳ - Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
Bảng 1.1 Chuẩn nghèo của Việt Nam đƣợc xác định qua các thời kỳ (Trang 9)
Sơ đồ 1.1. Nội dung về giảm nghèo bền vững  1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững - Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
Sơ đồ 1.1. Nội dung về giảm nghèo bền vững 1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững (Trang 13)
Bảng 3.2: Hiện trạng tài nguyên và tình hình sử dụng đất VQG Ba Bể - Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.2 Hiện trạng tài nguyên và tình hình sử dụng đất VQG Ba Bể (Trang 31)
Bảng 3.4: Thống kê các lớp động vật Vườn quốc gia Ba Bể - Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.4 Thống kê các lớp động vật Vườn quốc gia Ba Bể (Trang 32)
Bảng 3.5: Dân số các xã vùng đệm và vùng lõi VQG Ba Bể năm 2014 - Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.5 Dân số các xã vùng đệm và vùng lõi VQG Ba Bể năm 2014 (Trang 35)
Bảng 3.7: Tình hình hộ nghèo tại xã Quảng Khê giai đoạn 2012-2014 - Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.7 Tình hình hộ nghèo tại xã Quảng Khê giai đoạn 2012-2014 (Trang 36)
Bảng 3.6 cho thấy số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo có xu hướng giảm qua - Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.6 cho thấy số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo có xu hướng giảm qua (Trang 36)
Bảng 3.9: Tình hình hộ nghèo tại xã Khang Ninh giai đoạn 2012-2014 - Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.9 Tình hình hộ nghèo tại xã Khang Ninh giai đoạn 2012-2014 (Trang 37)
Bảng 3.10: Chính sách giảm nghèo tại xã Quảng Khê giai đoạn 2012-2014 - Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.10 Chính sách giảm nghèo tại xã Quảng Khê giai đoạn 2012-2014 (Trang 38)
Bảng 3.11: Chính sách giảm nghèo tại xã Nam Mẫu giai đoạn 2012-2014 - Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.11 Chính sách giảm nghèo tại xã Nam Mẫu giai đoạn 2012-2014 (Trang 39)
Bảng 3.12: Chính sách giảm nghèo tại xã Khang Ninh - Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.12 Chính sách giảm nghèo tại xã Khang Ninh (Trang 40)
Bảng 3.13: Tình hình chung của nhóm hộ điều tra - Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.13 Tình hình chung của nhóm hộ điều tra (Trang 42)
Bảng 3.16: Tình hình vay vốn của hộ nghèo DTTS - Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.16 Tình hình vay vốn của hộ nghèo DTTS (Trang 45)
Bảng 3.20: Tổng hợp nguyện vọng của hộ nghèo - Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.20 Tổng hợp nguyện vọng của hộ nghèo (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w