Là người con của quê hương cách mạng, và là giáo viên một trường phổ thông mang tên địa danh lịch sử Tân Trào, tôi rất yêu thích và có nhiều cảm xúc đối với thơ Tố Hữu, đặc biệt là tập t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - o0o -
NGUYỄN THỊ MỸ
GIÁ TRỊ VÀ VỊ TRÍ TẬP THƠ "VIỆT BẮC"
TRONG HÀNH TRÌNH THƠ TỐ HỮU
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ : 60.22.34 :
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
m· sè : 60 22 34
Người hướng dẫn khoa học: GS Phong Lê
Người hướng dẫn khoa học: GS Phong Lê
Thái Nguyên - 2009
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến GS Phong Lê, thầy đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn, cùng gia đình, bạn bè người thân đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2009
Nguyễn Thị Mỹ
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
2.1 Những bài nghiên cứu về thơ Tố Hữu nói chung 2
2.2 Những bài nghiên cứu về các tập thơ của Tố Hữu 3
2.3 Xung quanh tập thơ "Việt Bắc" 4
2.4 Khảo sát văn bản tập thơ Việt Bắc 6
3 Mục đích nghiên cứu 10
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
6 Phương pháp nghiên cứu 10
7 Cấu trúc của luận văn 10
Chương 1: "VIỆT BẮC" TRONG NỀN THƠ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN 1954 11
1.1 Tổng quan về thơ Việt Nam 1945 đến 1954 11
1.2 Con đường thơ Tố Hữu từ tập thơ Từ ấy sang tập thơ Việt Bắc 18
1.2.1 Từ tập thơ "Từ ấy" 18
1.2.2 đến tập thơ "Việt Bắc" 21
Chương 2: GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA TẬP THƠ“ VIỆT BẮC” 25
2.1 Khát vọng và niềm vui giải phóng Đất nước qua các chặng đường 25
2.1.1 Cách mạng Tháng Tám năm 1945 25
2.1.2 Kháng chiến chín năm 27
2.1.3 Chiến thắng Điện Biên phủ 29
2.2 Cái "tôi" tác giả gắn với cái "ta"quần chúng trong bức tranh nhân dân kháng chiến 31
2.2.1 Hình ảnh người lính 31
2.2.2 Hình ảnh người phụ nữ 45
2.3 Tình yêu quê hương đất nước 53
2.4 Tình cảm gắn bó với lãnh tụ và quê hương cách mạng 59
Chương 3: GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA TẬP THƠ “ VIỆT BẮC” 72
3.1 Sự gắn bó khăng khít giữa tính dân tộc và tính đại chúng 72
3.1.1 Thể thơ, câu thơ 72
3.1.2 Nhạc điệu 78
3.1.3 Ngôn ngữ, hình ảnh 88
3.1.4 Niêm luật và vần 92
3.2 Sự kết hợp giữa tính dân tộc và âm hưởng hiện đại 96
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tố Hữu là tác gia có vị trí đặc biệt trong nền thơ ca cách mạng Việt
Nam thế kỷ 20 Trong hơn nửa thế kỷ qua, thơ ông gắn liền với các giai đoạn, các
mục tiêu của cuộc đấu tranh cách mạng, có sức cổ vũ to lớn với đông đảo quần
chúng và thu hút sự quan tâm sâu sắc của giới phê bình, nghiên cứu văn học ở
Việt Nam Bộ tuyển tập Tố Hữu - Về tác giả và tác phẩm, do Nhà xuất bản Giáo
dục in năm 2003 gồm 929 trang, thuộc loại lớn nhất, đã tuyển chọn những bài
viết, những công trình nghiên cứu về giá trị tư tưởng, giá trị giáo dục và giá trị
nghệ thuật trong thơ ông
Thế nhưng sau khi chiến tranh kết thúc (1975), cho đến khi đất nước bước
sang thời kỳ đổi mới dường như thơ Tố Hữu có nhạt dần đi vị trí và vai trò của
mình trong nền thơ ca dân tộc Từ tập thơ Một tiếng đờn (1992), cho đến Ta với
ta (2000) trong đời sống học đường hầu như không có một luận văn nào nghiên
cứu về thơ ông Các tác phẩm trước đó trong hành trình sáng tác của ông cũng ít
được nhắc tới Để bù đắp vào chỗ trống thiếu đó chúng tôi muốn góp một phần
nhỏ bé để nhìn nhận lại giá trị của thơ Tố Hữu nói chung và tập thơ Việt Bắc nói
riêng trong nền thơ ca dân tộc
1.2.Trong hành trình thơ Tố Hữu, tập thơ Việt Bắc (1954) và tập thơ Từ ấy
lúc tái bản lần thứ nhất (1959), đã tạo nên hai cuộc tranh luận sôi nổi trong giới
sáng tác và phê bình Đáng chú ý là cuộc tranh luận về tập thơ Việt Bắc diễn ra
ngay sau 1954, với những ý kiến nghiêng về phủ định nhằm hạ thấp giá trị thơ Tố
Hữu, trên vấn đề đánh giá giá trị hiện thực, tính giai cấp, tính đảng của tập thơ, và
cũng có nhiều ý kiến khẳng định giá trị cơ bản của tập Việt Bắc theo chiều hướng
ngược lại Do vậy chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu để định lại giá trị của tập thơ với
tiêu đề: Giá trị và vị trí của tập thơ" Việt Bắc" trong hành trình thơ Tố Hữu
1.3 Tôi được sinh ra và lớn lên ở chiếc nôi quê hương cách mạng, gắn với cảnh quan thiên nhiên, và những con người bình dị đã làm nên lịch sử Đó
là mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào; là rừng cọ, đồi chè, bến nước Bình Ca…những địa danh in đậm dấu ấn lịch sử của dân tộc ta trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp Lịch sử nơi đây đã trở thành kỷ niệm gắn
bó sâu nặng với Tố Hữu, và được kết đọng lại trong các vần thơ của ông, trước
hết là tập thơ Việt Bắc
Là người con của quê hương cách mạng, và là giáo viên một trường phổ thông mang tên địa danh lịch sử Tân Trào, tôi rất yêu thích và có nhiều cảm xúc
đối với thơ Tố Hữu, đặc biệt là tập thơ Việt Bắc, bởi ông đã ghi lại một cách chân
thực những nét đẹp mộc mạc, giản dị của con người và cảnh quan thiên nhiên một miền sơn cước - nơi tôi sống và công tác Vì vậy nếu đề tài được thực hiện thành
công, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần để tác phẩm Việt Bắc mãi mãi nhận được
sự đón đợi và mến mộ của đông đảo bạn đọc, trong đó có người đọc là các thế hệ
trẻ của quê hương tôi
2 Lịch sử vấn đề
Trong hơn năm thập kỷ qua, thơ Tố Hữu đã trở thành một đối tượng nghiên cứu lớn của giới học thuật, thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu, phê bình tên tuổi
2.1 Những bài nghiên cứu về thơ Tố Hữu nói chung
Ngay từ khi thơ Tố Hữu mới xuất hiện rải rác trên báo chí cách mạng vào những năm cuối thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương, cùng với sự đón nhận nồng nhiệt của công chúng, giới văn học cách mạng đã đánh giá cao thơ ông
Trong bài viết đầu tiên giới thiệu về thơ Tố Hữu ( báo Mới, số 1, ngày 1-5-1939)
tác giả K và T đã khẳng định:“ Thơ Tố Hữu là cả một nguồn sinh lực đem phụng
sự cho lý tưởng”, “ Với Tố Hữu, chúng ta có một nhà thơ cách mạng có tài”, “nhà thơ chiến sĩ”, “ nhà thơ của tương lai”…
Trang 4Từ sau 1954 cho đến sau 1975, có rất nhiều bài viết về thơ Tố Hữu Đặc
biệt có ba công trình biên khảo chuyên sâu về thơ ông Đó là: Thơ Tố Hữu của Lê
Đình Kỵ (1979), Thơ Tố Hữu, tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí của
Nguyễn Văn Hạnh (1985) và Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử (1987) Hai
công trình đầu tiếp cận thơ Tố Hữu theo phương pháp truyền thống, kết hợp khảo
cứu công phu, khoa học với cảm thụ nghệ thuật tinh tế Hai tác giả đã lần đầu tiên
nghiên cứu thơ Tố Hữu như một chỉnh thể toàn vẹn, có hệ thống, với nhiều phát
hiện và đánh giá quý báu theo phương pháp nghiên cứu mác xít
Công trình Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử tiếp cận thơ Tố Hữu
theo hướng thi pháp học đem đến những cảm nhận và đánh giá mới mẻ về thơ Tố
Hữu khác với cách phân tích truyền thống
Hà Minh Đức, cũng là một người bền bỉ, chuyên tâm nghiên cứu về thơ
Tố Hữu qua hai Lời giới thiệu công phu cho hai Tuyển tập thơ Tố Hữu vào các
năm 1979 (Nxb Văn học) và 1995 ( Nxb Giáo dục)
Ngoài ra còn có rất nhiều bài nghiên cứu về thơ Tố Hữu ở trong và ngoài
nước, tiêu biểu như của Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Hoàng Trung Thông,
Nguyễn Đăng Mạnh, Vũ Đức Phúc, Nhìn chung các bài nghiên cứu đều có sự
nhìn nhận đánh giá những giá trị cơ bản và nổi bật của thơ Tố Hữu
2.2 Những bài nghiên cứu về các tập thơ của Tố Hữu
Từ tập thơ đầu tay Từ ấy, đến các tập Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và
Hoa,…đã có hàng trăm bài viết, công trình nghiên cứu phê bình phong phú, đa
dạng dọc theo đời thơ Tố Hữu suốt nửa thế kỷ qua
Tập thơ Từ ấy có các bài viết tiêu biểu của Đặng Thai Mai, Phan Cự Đệ,
Vũ Đức Phúc, Hoài Thanh,…
Tập thơ Việt Bắc có các bài viết tiêu biểu của Vũ Đức Phúc, Hoài Thanh,
Hoàng Trung Thông,
Tập thơ Gió lộng có các bài viết tiêu biểu của Hoài Thanh, Lê Đình Kỵ,
Nguyễn Văn Long, Hà Xuân Trường…
Các tập thơ khác có các bài viết của Hà Minh Đức, Nguyễn Văn Hạnh, Hoài Thanh, …
2.3 Xung quanh tập thơ "Việt Bắc"
Có nhiều bài phê bình, đánh giá về tập Việt Bắc, đặc biệt xuất hiện tập
trung trong cuộc tranh luận diễn ra vào năm 1954- 1955 với hai luồng cảm hứng Luồng cảm hứng phủ định với những bài viết của Hoàng Yến, Hoàng Cầm, Lê
Đạt… Hoàng Yến phủ định“chủ nghĩa hiện thực trong tập thơ Việt Bắc" Nhận xét về bài thơ Bắn Hoàng Yến viết:“ Tác giả đã tổng kết sự việc trên tài liệu chứ
chưa kinh qua thực tế của cuộc sống để tổng kết chất thơ” “ Khi Tố Hữu nói về
cái Việt Bắc oai hùng, cái đất thần thánh, thiêng liêng của cách mạng thì hơi thơ
đuối, khí thơ đoản, cái nhiệt tình nóng cháy trên kia tưởng như giảm sút đi”
Cũng như Hoàng Yến, Hoàng Cầm nhận xét:“ Tập thơ Việt Bắc thiếu chất sống
thực tế”, là“ thùng nước loãng”, là“ không hiện thực”, cụ thể khi nhận xét về bài
Cá nước Hoàng Cầm viết: “Tình cảm gặp gỡ giữa anh cán bộ và anh bộ đội cũng
chỉ nhẹ nhàng lớt phớt” Ở bài Bắn“ Bài thơ tuy có vẻ sôi nổi giục bắn, mà thực ra
bàng quan lạnh lùng”… Lê Đạt nhận xét:“ Tính chất tiểu tư sản và xa thực tế là hai khuyết điểm căn bản nó cản trở khả năng hiện thực của Tố Hữu Nó là nguyên nhân của cái buồn, cái công thức, cái hời hợt rải rác trong tập thơ"
Bác lại các ý kiến trên là những bài viết khẳng định giá trị cơ bản và nổi
bật của tập thơ Việt Bắc, như của Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Vũ Đức Phúc, Xuân Diệu,… cùng một số bạn đọc Vũ Đức Phúc nhận xét về tập thơ Việt Bắc,
cụ thể bài thơ Em bé Triều Tiên “những dòng thơ của Tố Hữu, ngoài việc tả
những cảnh thảm thiết, điển hình, có thực, cũng không có một chữ nào nói quá đi
để làm cho người đọc ghê rợn” Hoài Thanh khẳng định “Cả tập thơ Việt Bắc xây
dựng trên một tình yêu lớn: tình yêu nước Giá trị tập thơ, tác dụng tập thơ là ở
Trang 5đó” Nguyễn Đình Thi cũng đánh giá cao thơ Tố Hữu“ Thơ Tố Hữu đi vào thực
tế quần chúng” Xuân Diệu rất nhạy cảm để chỉ ra nét riêng của thơ Tố Hữu là“
Tiếng thơ của tình thương mến” làm nên“ hương vị của thơ Tố Hữu” và là nét
chủ đạo trong phong cách nghệ thuật của ông
Cuộc thảo luận kết thúc với bài tổng kết của Hoàng Trung Thông về tập
thơ Việt Bắc ( Báo Nhân dân, 11-1955)
Năm 2005, Lại Nguyên Ân tập hợp những bài viết trong cuộc thảo luận,
thành một ấn phẩm sưu tầm và biên soạn có tên: Tư liệu thảo luận 1955 về tập
thơ" Việt Bắc"
Nhìn chung, trong quan niệm văn học và cách phê bình lúc này, tính chất
xã hội học là nét khá đậm, ở cả những ý kiến đề cao lẫn những ý kiến hạ thấp giá
trị tập thơ Qua hai luồng cảm hứng phủ định và khẳng định giá trị cơ bản của tập
thơ, ta thấy những bài viết mang quan điểm phủ định quy chiếu tác phẩm văn học
vào các nội dung xã hội, chính trị, đồng nhất văn học với chính trị, vận dụng quan
điểm giai cấp một cách máy móc để phân tích văn học Thậm chí đôi khi còn
cường điệu, không nói đúng những gì tác phẩm vốn có, dẫn đến nhận định mang
tính chủ quan cho rằng thơ Tố Hữu là“ bản chất tiểu tư sản cách mạng, chủ nghĩa
ái quốc trong tập thơ Việt Bắc là chủ nghĩa ái quốc lãng mạn tiểu tư sản”
Trong cuộc thảo luận này ngoài hai luồng ý kiến ngược nhau như trên,
cũng đã có nhiều bài phê bình thực sự có giá trị, khám phá và phân tích những giá
trị nổi bật của tập thơ Việt Bắc Để nhìn nhận đúng giá trị, vị trí của tập thơ, ta
phải đặt tập thơ trong hoàn cảnh lịch sử xã hội lúc đó Cụ thể là trong thời kỳ
kháng chiến chống thực dân Pháp (1946- 1954), thơ Tố Hữu giữ một vị trí quan
trọng trong thơ kháng chiến, và được phổ biến rộng rãi, bởi thơ ông đáp ứng được
sớm nhất và tốt nhất cho hai yêu cầu cơ bản của văn học cách mạng và kháng
chiến- đó là dân tộc hoá và đại chúng hoá như đã được đặt ra trong Đề cương về
văn hoá Việt Nam 1943; và hai phương châm: Cách mạng hoá tư tưởng và quần
chúng hoá sinh hoạt, trong những năm sau đó khi cả dân tộc bước vào cuộc
kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp Trong nền thơ kháng chiến chống Pháp không có một tên tuổi nhà thơ nào có được vị trí xứng đáng như nhà thơ Tố Hữu Các tác giả khác tên tuổi họ thường chỉ gắn với một hoặc vài bài thơ như
Hoàng Lộc với Viếng bạn, Hồng Nguyên với Nhớ, Tân Sắc với Lên Cấm Sơn, Trần Hữu Thung với Thăm lúa, Hồ Vi với Lời quê, Quang Dũng với Tây
tiến…Riêng Tố Hữu là sự xuất hiện liên tục, đều đặn những bài thơ được quần
chúng yêu mến, cho đến bài thơ dài Việt Bắc được chọn làm tên chung cho tập
thơ gồm 37 bài được ấn hành ngay sau hoà bình lặp lại 1954
2.4 Khảo sát văn bản tập thơ Việt Bắc
Tìm hiểu giá trị tập thơ Việt Bắc, trên từng bài riêng lẻ, hoặc chung cho cả
tập thơ, chúng ta không thể không kháo sát quá trình nhà thơ sửa chữa trên từng bài, và thêm bớt qua mỗi lần tái bản; qua đó thấy nhà thơ đã dụng công như thế
nào để cho Việt Bắc luôn luôn đạt được sự hoàn thiện tối ưu trong tiếp nhận và
cảm xúc thẩm mỹ của người đọc Chưa có điều kiện khảo sát kỹ tất cả các bài; ở đây chúng tôi mới chỉ nêu hai trường hợp ghi nhận sự sửa chữa cẩn trọng của tác
giả, từ khi in báo, và được đưa vào sách- đó là bài Lên Tây Bắc và bài Lượm
● Bài Lên Tây Bắc, đăng lần đầu trên Tạp chí Văn nghệ (số 8, 9 ), tháng 1,
2 năm 1949; với mở đầu:
Các anh đi trước, tôi đi sau Cũng lá che lưng lá lợp đầu
Bỡ ngỡ anh trông người lính lạ Theo anh không biết để đi đâu
Sáng nay ra trận lên Tây Bắc Hai đứa ta cùng đi đánh giặc Tay anh cắp súng vai đeo dao
Trang 6Tôi có gì đâu, chỉ cái xắc Tôi đi như đứa trẻ thơ ngây Được mẹ cho theo dự cỗ đầy
Khi đưa vào tập thơ Việt Bắc, theo văn bản in xong ngày 15.4.1955 bốn
câu thơ đầu đã bị lược bỏ và sáu câu thơ sau rút lại còn bốn câu thơ:
Sáng nay ra trận lên Tây Bắc Hai đứa ta cùng đi đánh giặc Tay dao tay súng, gạo đầy bao Chân cứng đạp rừng gai đá sắc
● Bài Lượm, đăng lần đầu trên báo Cứu quốc ngày 15.4.1948, với đoạn mở
đầu như sau:
Cháu Nha Trang ra Gặp chú ở Huế Chú hỏi : Còn ba?
Cháu rằng: Mặc kệ ! Cháu không thương ba?
Rồi Huế đổ máu
Khi đưa vào tập Việt Bắc theo văn bản in xong ngày 15.4.1955, thì 12 câu
thơ đầu được cắt bỏ và bài thơ được bắt đầu từ câu thơ:
Ngày Huế đổ máu Chú Hà Nội về Tình cờ chú cháu Gặp nhau Hàng Bè
Phần cuối bài Lượm in xong ngày 15.4.1948 như sau:
Thư đề "thượng khẩn"
Chú ngã : Ruột phèo Chú đã chết Chết
Chết thật rồi
Lượm ơi!
A chú cười Híp mí Chú đồng chí Chắc bây giờ Chú nửa ngờ Chú chưa biết Chú chết
Chú bé loắt choắt
Phần cuối bài Lượm in xong ngày 15.4.1955 được thay bằng một đoạn thơ khác:
Vụt qua mặt trận Đạn bay vèo vèo Thư đề" Thượng khẩn"
Sợ chi hiểm nghèo!
Đường quê vắng vẻ Lúa trổ đòng đòng
Trang 7Ca- lô chú bé Nhấp nhô trên đồng
Bỗng loè chớp đỏ Thôi rồ, Lượm ơi!
Chú đồng chí nhỏ Một dòng máu tươi!
Cháu nằm trên lúa Tay nắm chặt bông Lúa thơm mùi sữa Hồn bay giữa đồng
Lượm ơi còn không?
● Số lượng bài của Việt Bắc từ lần in đầu đến các lần in sau cũng có thay đổi
* Văn bản in xong ngày 15.4.1955, gồm 24 bài thơ
* Văn bản in xong tháng 12 năm 1998, gồm 27 bài thơ
- Thêm: 7 bài thơ ( Đêm xanh, Tình khoai sắn, Trường tôi, Lạnh lạt, Sợ, Bà
bủ, Mưa rơi)
- Bỏ : 4 bài thơ ( Em bé Triều Tiên, Bao giờ hết giặc, Bài ca tháng Mười,
Đời đời nhớ Ông)
Nhìn vào sự thay đổi này, chúng ta cũng có thể thấy những biến động lớn
của thời cuộc đã quy định chặt chẽ giá trị của tác phẩm như thế nào
Trên đây là khảo sát bước đầu của chúng tôi (chưa thật đầy đủ) về văn bản
tập thơ Việt Bắc đã được in và sửa chữa ở những thời gian khác nhau Khi nghiên
cứu chúng tôi dựa theo văn bản in xong tháng 12 năm 1998
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm chỉ rõ những giá trị về nội dung và nghệ thuật của tập
thơ Việt Bắc, đồng thời khẳng định vai trò của tập thơ Việt Bắc trong nền thơ
ca kháng chiến chống Pháp và rộng ra là nền thơ ca hiện đại Việt Nam
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, chúng tôi đã được tham khảo và nghiên cứu các tài liệu sau
- Toàn bộ thơ ca kháng chiến chống Pháp (1945- 1954)
- Tập thơ Việt Bắc từ văn bản 1 đến văn bản cuối cùng
- Trong khi tập trung khảo sát tập thơ Việt Bắc, chúng tôi chú ý hai tập thơ
có mối liên hệ kề cận là tập thơ Từ ấy và tập thơ Gió lộng
- Các công trình, bài viết xung quanh giá trị tập thơ Việt Bắc và về thơ Tố
Hữu nói chung
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn chỉ ra những giá trị nội dung và nghệ thuật của tập thơ Việt Bắc
- Khẳng định vị trí của tập thơ trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp so sánh- đối chiếu
- Phương pháp phân tích- tổng hợp
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1: Việt Bắc trong nền thơ Việt Nam từ 1945->1954
Chương 2: Giá trị nội dung của tập thơ Việt Bắc
Chương 3: Giá trị nghệ thuật của tập thơ Việt Bắc
Trang 8CHƯƠNG I
"VIỆT BẮC" TRONG NỀN THƠ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN 1954
1.1 Tổng quan về thơ Việt Nam 1945 đến 1954
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chấm dứt ngót tám mươi năm nô lệ
dưới ách chủ nghĩa thực dân Pháp, mở ra một kỷ nguyên mới- kỷ nguyên Độc lập
Tự do cho dân tộc Đồng thời giải phóng cho văn học thoát khỏi những quẩn
quanh, bế tắc, chán chường, tuyệt vọng, đem lại một nguồn cảm hứng sáng tạo
lớn lao cho thơ ca Trước hết đó là nguồn cảm hứng giải phóng, hồi sinh Trong
bầu không khí những ngày đầu cách mạng, hầu hết các nhà thơ từ các xu hướng
nghệ thuật khác nhau đã tập hợp dưới ngọn cờ cách mạng Chưa nhiều ý thức
nhưng lại rất nhiều cảm xúc, bằng sự nhạy cảm của người nghệ sĩ, các nhà thơ đã
nhanh chóng nhận ra ý nghĩa lớn lao của thời điểm lịch sử đánh dấu sự hồi sinh dân
tộc trong độc lập tự do
Cảm hứng nổi bật và bao trùm thơ ca thời kỳ này là niềm vui sướng, tự hào
đến mức say mê, nồng nhiệt trước cuộc“ tái sinh mầu nhiệm”( chữ dùng của Hoài
Thanh) của đất nước và con người Việt Nam Nguồn sống của thời đại mới khơi
dậy sức sáng tạo cho các nhà thơ Với hai khúc tráng ca Ngọn quốc kỳ, Hội nghị
non sông, Xuân Diệu đã mở ra chặng đường thơ cách mạng trong sự nghiệp sáng
tác của mình Với Tố Hữu, nhà thơ hàng đầu của nền thơ cách mạng, thì thắng lợi
của Cách mạng Tháng Tám là một luồng gió lớn cuốn mạnh hồn thơ lên đỉnh cao
của cảm hứng lãng mạn sôi trào Hơn bất cứ nhà thơ nào khác, ở tác giả Từ ấy, đó
là niềm vui lớn như được dồn tụ vào một điểm hẹn không gian và thời gian: Huế
Tháng Tám (1945) Một năm sau, hòa trong dòng người cuồn cuộn của đêm hội
hoa đăng giữa lòng Hà Nội chào đón một năm ngày độc lập, Tố Hữu lại tràn ngập
một niềm Vui bất tuyệt (1946) Trần Mai Ninh cũng là một cây bút tài năng, giàu
nhiệt huyết từ thời kỳ Mặt trận Dân chủ Nhà thơ da diết những cảm xúc về Tổ
quốc trong Tình sông núi, dữ dội trong Nhớ máu."Trần Mai Ninh người đón trước
và làm kết đọng hai tình cảm lớn của dân tộc, cũng là người đi đầu và sớm nhất trong việc tự do hóa và làm mới câu thơ "( Lưu Khánh Thơ )
Đứng trước sự đe dọa của thù trong giặc ngoài, nền thơ ca mới đã thể hiện
rõ nhiệt tình yêu nước chiến đấu, cổ động toàn dân tham gia vào công cuộc dựng nước và giữ nước, đả kích các thế lực tay sai phản động đang điên cuồng tấn công chính quyền cách mạng Nền thơ kháng chiến đã thực sự bắt đầu cùng với khí thế giết giặc cứu nước và phong trào Nam tiến sôi nổi ngay sau khi thực dân Pháp quay lại xâm lược Miền Nam Theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, cả nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp Trên chặng đường chín năm ấy, thơ ca đã góp phần tích cực vào công cuộc kháng chiến của dân tộc và xây dựng nên nền móng vững chắc và hết sức cơ bản cho sự phát triển của nền thơ ca hiện đại
Trong nền thơ ca kháng chiến, thơ Hồ Chủ tịch có vị trí và ý nghĩa tiêu biểu Thơ Bác hướng tới mọi tầng lớp quần chúng nhân dân, khơi dậy sức mạnh của toàn thể dân tộc Trong lời kêu gọi của vị lãnh tụ như đã vang vọng lời đáp của nhân dân Những bài thơ trữ tình của Bác trong kháng chiến, kết thành chùm thơ đặc sắc, mở ra một thế giới phong phú, những xúc động tâm tình của vị lãnh
tụ cách mạng, của nhà thơ trong một bối cảnh không gian và lịch sử rộng lớn: đất nước kháng chiến, thiên thiên đất nước hiện lên đẹp đẽ với những rung cảm trữ tình, nhưng trung tâm của khung cảnh vẫn là con người, là hình ảnh cuộc kháng chiến: một tiếng chuông báo tin thắng trận, đội quân du kích đánh giặc trở về, tin báo tiệp dập dồn chân ngựa Thơ Bác là sự kết tinh cao nhất hiện thực kháng chiến, tinh thần kháng chiến
Cả dân tộc bước vào cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện suốt chín năm
để giành lại và bảo vệ chủ quyền, độc lập của dân tộc Cũng như mọi lĩnh vực hoạt động văn hóa tinh thần khác, thơ ca đã được huy động vào cuộc chiến đấu
Trang 9của nhân dân, trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của
con người Việt Nam kháng chiến Hoài Thanh nhận xét:" Con người kháng chiến
lo lắng, hồi hộp, chờ đợi, hy vọng, phấn khởi, sống dồn trong một hai năm nhiều
hơn những cuộc sống nhạt kéo dài trong hàng thế kỉ Do đó thấy cần phải có thơ
Các nhà thơ làm thơ, anh cán bộ chính trị, anh thông tin, anh đội viên binh nhì,
các chị phụ nữ, các em thiếu nhi, hết thẩy đều làm thơ Hầu hết những con người
mang ba lô lặng lẽ đi trên các nẻo đường kháng chiến, trong một cuốn sổ tay nào
đó cũng có ít bài thơ, trong các buổi họp mặt, các buổi liên hoan trên báo tay,
báo tường, thơ có khi lại còn nhiều hơn văn xuôi và thơ cũng là phần được công
chúng những tờ báo ấy đọc nhiều hơn cả Trong cuộc chiến tranh nhân dân của
chúng ta, tiếng súng, tiếng nhạc, tiếng thơ, cùng hòa điệu"
Phong trào sáng tác thơ, ca dao, hò, vè của quần chúng phát triển sôi nổi và
rộng khắp: Có thơ của từng giới, từng ngành; có thơ bộ đội, thơ dân công, thơ
quân giới, thơ nông binh…; thơ kết thành từng mảng đề tài: thơ phát động, thơ
trong chiến dịch sông Thao, thơ chiến dịch Điện Biên Phủ… Phong trào thơ quần
chúng là cái nền vững chắc của thơ kháng chiến, là điểm tựa vạm vỡ nâng đỡ cho
mọi tìm tòi của nhà thơ Hướng đi của thơ kháng chiến là nhằm theo cái hướng
sống chắc nịch được thể hiện giản dị và lành mạnh trong thơ ca quần chúng
Trong phong trào thơ ca quần chúng nổi bật lên vai trò thơ bộ đội, thơ
“đội viên”, thơ của những người lính thực sự Thơ trở thành một công cụ tự nhận
thức, tự giáo dục, trở thành một hình thức tuyên truyền đầy sức mạnh, khi người
đội viên, chiến sĩ, chủ yếu là những người lính nông dân ý thức được bản thân
mình, cũng ý thức được quyền làm chủ của mình Và trong sinh hoạt, thơ bộ đội
đã diễn ra sự giao thoa và đan kết kỳ lạ giữa cuộc sống và văn thơ, giữa ý thức tự
giác và bản năng sáng tạo hồn nhiên, giữa chức năng giáo dục và chức năng giải
trí, giữa yêu cầu kháng chiến hóa văn hóa và yêu cầu văn hóa hóa kháng chiến mà
Hồ Chủ tịch đã đúc kết thành phương châm Trong những năm đầu của nền thơ
ca dân chủ cộng hòa trẻ tuổi, thơ bộ đội, thơ của người lính là một phong trào thơ sôi nổi mạnh mẽ, đóng vai trò khai phá, xung kích của nền thơ kháng chiến
Phương châm dân tộc hoá, đại chúng hóa là xu hướng mà nhiều nhà thơ
đã tìm đến ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến và nó sớm trở thành khuynh hướng chủ đạo trong thơ ca giai đoạn này, đã thu hút nhiều cây bút thuộc nhiều thế hệ khác nhau
Thế hệ nhà thơ trước Cách mạng Tháng Tám cũng chuyển hẳn sang viết
những bài thơ theo lối thơ đại chúng Xuân Diệu có Bà cụ mù lòa, Tặng làng
Còng và tập thơ Mẹ con được viết trong thời gian đi tham gia phát động quần
chúng ở Thanh Hóa Chế Lan Viên viết Bữa cơm thường trong bản nhỏ, Nhớ lấy
để trả thù Lưu Trọng Lư dựa trên các điệu dân ca hát giặm, để viết những bài O tiếp tế, Tiếng hát tăng gia, Ngò cải đơm hoa Nguyễn Bính ở Nam Bộ có hai bài
thơ dài Đồng Tháp Mười và Ông lão mài gươm Tế Hanh kể chuyện Người đàn
bà Ninh Thuận…Ở thế hệ nhà thơ này diễn ra bước ngoặt chuyển biến với rất
nhiều dằn vặt đớn đau của một qúa trình “lột xác” Mỗi nhà thơ đều gánh vác những công tác kháng chiến với tinh thần công dân tích cực Những chuyến đi cùng dân công, cùng bộ đội, những đợt tham gia đấu tranh giảm tô và cải cách ruộng đất, phương châm “cách mạng hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt” được hưởng ứng một cách tự giác, đã từng bước làm chuyển biến tư tưởng và tình cảm nhà thơ, tuy nhanh chậm khác nhau Nhìn chung, ở lớp nhà thơ này, quá trình nghiền ngẫm tìm tòi để đổi mới hồn thơ còn kéo dài trên suốt chặng hành trình kháng chiến, có người viết nhiều, viết khỏe nhưng chưa thật nhuần nhuyễn;
có người viết còn cầu kỳ, rắc rối; có người viết rất ít, hoặc gần như im lặng Điều nhận ra ở đây là thơ của họ đã đến với cuộc sống, phản ánh tâm tư nguyện vọng của quần chúng một cách chân thành Tuy thành quả chưa nhiều, nhưng mỗi nhà thơ đều có những bài thơ có ý nghĩa đánh dấu sự chuyển biến của nhận thức, xúc cảm và bút pháp, góp phần vào thành tựu chung của thơ ca cách mạng
Trang 10Bộ phận các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến sớm từng bước
khẳng định sức sáng tạo của mình Họ đã đến được với tiếng nói trữ tình của quần
chúng và đóng góp cho thơ kháng chiến nhiều tác phẩm tiêu biểu Hoàng Trung
Thông với tập Quê hương chiến đấu, Trần Hữu Thung với Đồng tháng năm và
Dặn con, Minh Huệ với bài Đêm nay Bác không ngủ, Hồng Nguyên với Nhớ, Hồ
Vi với Lời quê Các nhà thơ dân tộc thiểu số như Nông Quốc Chấn, Bàn tài
Đoàn, và nhiều nhà thơ khác đã đem đến cho thơ kháng chiến tiếng thơ độc đáo,
hồn nhiên, mang bản sắc riêng của mỗi dân tộc Phần lớn trong số họ được rèn
luyện và trưởng thành từ công tác kháng chiến, từ phong trào văn nghệ quần
chúng Thực tế lớn lao của kháng chiến, vẻ đẹp lớn lao của những con người đánh
giặc là cảm hứng chủ đạo, thôi thúc họ cầm bút với những trang viết tràn đầy cảm
xúc về tình đồng chí, đồng đội, lòng yêu quê hương, tinh thần chiến đấu, trách
nhiệm công dân và lòng trung thành với Tổ quốc
Thơ kháng chiến tập trung biểu hiện những tình cảm cộng đồng và tinh
thần công dân mà bao trùm là tình yêu nước, với những biểu hiện phong phú,
thấm sâu vào mọi mặt trong đời sống của con người kháng chiến Thế giới của
cái"tôi" trở nên chật hẹp, thậm chí bị coi là lạc lõng, vô nghĩa khi nó không hòa
nhập vào cái "ta" cộng đồng Con người kháng chiến sống với những biến cố dữ
dội, những sự kiện lịch sử, những rung động mạnh mẽ và mới lạ, họ chỉ thực sự
tìm thấy sức mạnh, niềm vui và niềm tin tưởng ở trong đội ngũ đông đảo của tập
thể, của giai cấp và dân tộc
Cách mạng không chỉ giải phóng cho đông đảo quần chúng nhân dân mà
còn phải dựa hẳn vào lực lượng quần chúng, phát huy sức mạnh vĩ đại và tiềm
năng cách mạng của quần chúng để thực hiện những sự nghiệp lớn Quần chúng
nhân dân, mà trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp chủ yếu là công nông binh,
đã trở thành nhân vật chính yếu của lịch sử, do đó trở thành những nhân vật chủ
chốt và tiêu biểu của nền văn học mới Trong thơ kháng chiến, hình ảnh con
người quần chúng đã xuất hiện ngay từ buổi đầu và ngày càng đông đảo, đa dạng, chân thực Làm biến đổi hẳn các dạng thức của cái "tôi" trữ tình và nhân vật trữ tình trong thơ lãng mạn trước đây
Cách mạng và kháng chiến đưa thơ trở về với hiện thực cuộc sống của đất nước và nhân dân Giúp các nhà thơ tìm thấy chất thơ trong cuộc sống hàng ngày, trong sinh hoạt, lao động và đấu tranh của quần chúng Con đường đi của phong
trào thơ mới trước Cách mạng là con đường thoát ly thực tại, tìm đến cảnh tiên
hay tìm về quá khứ vàng son và còn bao nhiêu những lối thoát ly khác nữa, trong tình và mộng, trong vũ trụ siêu hình, hoặc trong cái "tôi" cô đơn, cô độc Nhà thơ của thời đại mới trước hết là một công dân, một cán bộ, hay chiến sĩ, sống với cuộc đời thực, với mọi gian khổ, buồn vui, lo lắng, hy vọng của con người kháng chiến, cùng với đông đảo mọi người Đời sống như vậy đã tác động và làm biến đổi cách nhìn, cách nghĩ, điệu cảm xúc của người làm thơ
Các nhà thơ Việt Nam thời kỳ này tề tựu đông đủ trở thành một lực lượng mạnh, tràn đầy khí thế sôi nổi, đem hết tâm hồn và nghị lực của mình hòa chung vào dòng thác lớn thời đại, cố gắng nắm bắt hiện thực mới Họ đã xây dựng nhiều hình ảnh đẹp về anh bộ đội, những người lính giản dị mà vô cùng anh dũng; về những người mẹ, người phụ nữ cần cù chịu khó và giàu lòng yêu thương; về những em bé gan dạ, quên mình vì kháng chiến; về lòng biết ơn sâu sắc với Chủ tịch Hồ Chí Minh; về những tên đất, tên làng, những trận đánh được phản ánh khá chi tiết; về những sự việc, chính sách, đường lối kháng chiến được thể hiện khá nhuần nhị, làm nên diện mạo mới cho nền thơ ca kháng chiến
Trong nền thơ kháng chiến, tập thơ Việt Bắc là thành công lớn nhất, tiêu
biểu nhất." Chỉ có nhà thơ lớn mới có thể hiểu thấu chất thơ của thời đại mình vì chất thơ của mọi thời đại trước đó bao giờ cũng dễ hiểu hơn"( H Hainơ) Tố Hữu
là nhà thơ lớn trước hết theo ý nghĩa ấy Vậy điều gì đã khiến nhà thơ có được sự thành công Đó là: Ông tiếp thu truyền thống thơ ca dân gian, cổ điển của dân tộc,
Trang 11một sự tiếp nhận sâu và đa diện, tiếp nhận một cách sáng tạo đầy bản lĩnh những
tinh hoa của thơ ca truyền thống, để góp phần diễn tả một cách sinh động những
tư tưởng, tình cảm mới của thời đại Những sự kiện lịch sử, cảm xúc rất mới đã
được ghi lại trong tập thơ Việt Bắc với ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, tự nhiên, chứa
đựng lối nói, lối nghĩ của quần chúng
Ngòi bút của Tố Hữu tiến lên nối tiếp truyền thống của các nhà thi hào cổ
điển ở bút pháp hết sức tinh tế, chất trữ tình tha thiết, khêu gợi nhiều hơn diễn tả,
chữ đúc lại với nhau Là nhà thơ tiếp thu những tinh hoa của các thế hệ nhà thơ
nổi tiếng từ trước 1945 như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Xuân Diệu, Huy
Cận, Lưu Trọng Lư và thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến như
Chính Hữu, Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung Ông là người có tư cách
cùng lúc đại diện cho cả hai thế hệ nhà thơ trong sự gắn bó những gì ưu tú nhất
Sự kế tục dòng thơ cách mạng của các chiến sĩ cộng sản, nhưng đã được
đổi mới trên cơ sở vận dụng những thành tựu hiện đại hoá thơ ca đương thời, đem
đến cho văn học cách mạng một tiếng thơ mới mẻ Âm hưởng hùng tráng, trong
không khí lạc quan hừng hực đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng, hình ảnh,
ngôn ngữ, nhịp điệu câu thơ đều thể hiện tình cảm thiết tha gắn bó với non sông
đất nước và lòng căm thù giặc Thơ giàu chất liệu hiện thực, cuộc sống đời
thường tràn vào thơ, và làm cho lời thơ gần gũi với tiếng nói hàng ngày, ở giọng
thơ tâm tình, ngôn ngữ giản dị của bản thân hiện thực Những con người thật đi
vào thơ ông như những nguyên mẫu nhưng vẫn lung linh những nét sáng tạo của
riêng Tố Hữu Nhà thơ học cách viết lấy người thực, việc thực làm hạt nhân tìm
tứ thơ trong đời sống của nhân dân
Tố Hữu sử dụng những vần thơ 5 tiếng, 7 tiếng, các loại thơ tự do, cùng
với việc sử dụng vần liên tục Tố Hữu đã nói: "Ở họ, Thế Lữ, Xuân Diệu, Chế
Lan Viên, Huy Cận, tôi đã học những sinh lực mới, những hình thức mới để biểu
hiện, những hình thức diễn đạt mới, một ngôn ngữ trực tiếp hơn, thơ hơn, nhân
tình hơn, uyển chuyển hơn" Nhưng cái khác là ở Tố Hữu còn có những nét mạnh
dạn, những điều đặc sắc mà người khác không thấy Tác giả nhìn thẳng vào thực
tế, để tâm hồn mình rung cảm sâu sắc với thực tế, rồi nói lên cảm xúc ấy bằng những lời tự nhiên, không kiểu cách, đầy sức mạnh của sự thật để diễn tả đúng nguyện vọng, tâm tình của nhân dân
Tố Hữu đã thực sự nắm bắt được chất thơ của thời đại và điều quan trọng
đã thể hiện được nó bằng nghệ thuật, thông qua sự sáng tạo riêng mình Chất thơ của hiện thực kháng chiến, Tố Hữu đã lĩnh hội được sớm nhất, nói lên được một cách giản dị và thấm thía nhất Xuân Diệu đã nói cảm tưởng của mình khi đọc bài
thơ Cá nước của Tố Hữu:" Tôi còn nhớ cái cảm tưởng đầu tiên của tôi khi đọc bài thơ Cá nước trong số 1 này, một chất gì đó đã sinh ra, cái chất đó chỉ có thể sinh
ra được do tâm hồn người:" Tôi ở Vĩnh Yên lên- Anh trên Sơn Cốt xuống- Gặp
nhau lưng đèo Nhe- Bóng tre trùm mát rượi" Đó là chân thành, chân thành Đó là
Tố Hữu, Tố Hữu Chúng tôi, một số thi sĩ đã viết thơ từ trước Cách mạng Tháng Tám, không phải là chúng tôi không biết sào nấu cho thơm điếc mũi lên, nhưng
chúng tôi đứng lặng trước cái chất tình người này: "Một thoáng lặng nhìn nhau-
Mắt đã tìm hỏi chuyện- Đôi bộ quần áo nâu- Đã âm thầm thương mến " Tố
Hữu còn tìm đến một tâm thế trữ tình mới hướng vào khẳng định, ngợi ca nhân vật quần chúng bằng cách sáng tạo kiểu trữ tình nhập vai hoặc để cái“ tôi” nhà thơ lùi lại phía sau làm nổi bật hình ảnh quần chúng"
Vì vậy, Tố Hữu là nhà thơ thời sự thành công nhất trong nền thơ Cách mạng, có sự khởi đầu tuyệt đẹp từ sau 1945 Chuyện đời vào thơ với tất cả vẻ tươi tắn, vừa đậm tính dân tộc vừa hiện đại đã truyền cảm trực tiếp vào hàng triệu trái
tim Điều đó được ghi nhận trong tập thơ Việt Bắc như một bước phát triển mới sau Từ ấy
1.2 Con đường thơ Tố Hữu từ tập thơ Từ ấy sang tập thơ Việt Bắc
1.2.1 Từ tập thơ "Từ ấy"
Từ ấy (1937- 1946) là chặng đầu mười năm thơ Tố Hữu cũng là mười năm
hoạt động sôi nổi, say mê từ giác ngộ qua thử thách đến trưởng thành của một người thanh niên cách mạng trong một giai đoạn lịch sử sôi động của xã hội Việt Nam Toàn bộ tập thơ thể hiện cuộc đời của một chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi lao vào
Trang 12cuộc đấu tranh cách mạng với tất cả tâm hồn và bầu nhiệt huyết của mình Là sự
biểu hiện một cách chân thực cái " tôi” hết sức trong sáng, hồn nhiên của một thế
hệ thanh niên khát khao lý tưởng, tự ca hát niềm vui lớn của mình khi bắt gặp lý
tưởng cộng sản chủ nghĩa Nhà thơ hình dung đó là" mặt trời chân lý" và nguyện
được chiến đấu hy sinh cho lý tưởng ấy:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim
( Từ ấy, 1938)
Ánh sáng lý tưởng chiếu rọi vào tâm hồn trẻ làm bừng nở một thế giới đầy
hương sắc, tràn trề sức sống và niềm vui Sự giác ngộ lý tưởng ấy tạo nên một
cái“ tôi” trữ tình kiểu mới trong thơ: cái“ tôi” gắn bó với muôn người, ở giữa mọi
người" Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn
tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời" Niềm vui tràn trề của
một tâm hồn trong trạng thái bừng ngộ, hòa vào niềm hân hoan của cả một thế hệ
thanh niên cách mạng tạo nên một cảm xúc ngây ngất say mê:
Ồ vui quá! Rộn ràng trên vạn nẻo
Bốn phương trời vào theo dấu muôn chân
Cũng như tôi, tất cả tuổi đương xuân
Chen bước nhẹ trong gió đầy ánh sáng
( Hy vọng, 1938 )
Những bài thơ đầu của Tố Hữu đã bộc lộ một tâm hồn giàu cảm thông, sẵn
sàng chia sẻ với cảnh ngộ và số phận những con người nhỏ bé Nhà thơ xúc động
trước cảnh khổ của nhân dân, từ em bé đến cụ già đều phải sống trong cực nhục,
trong đêm tăm tối Nhờ giác ngộ lý tưởng, nên Tố Hữu nhìn rõ thực trạng bất
công, ngang trái của xã hội Nhà thơ không dừng lại ở sự cảm thông chia sẻ mà
còn muốn thức tỉnh ở những con người lao khổ ấy lòng căm hận, ý chí đấu tranh
và niềm tin ở ngày mai
Trong những năm tháng bị giam cầm, người thanh niên ấy luôn thấm thía
nỗi cô đơn vì phải xa phong trào, xa những người đồng chí Với Từ ấy, ta được
thấy tâm hồn nhạy cảm của ông khi đang nằm lắng nghe sau tầng tầng cửa sắt những tiếng dội thưa thớt của đời sống hằng ngày bên ngoài:" Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về”; khi nhà thơ gửi gắm những lời tâm huyết với người bạn tù“ đồng chí”; khi bâng khuâng“ nhớ người” và “ nhớ đồng”; hoặc khi thét lên cái ý chí đấu tranh trong những ngày tuyệt thực… Tất cả đều cháy bỏng nỗi khát khao tự do để được hoạt động
Suốt ba năm bị giam cầm đày ải trong các nhà tù thực dân, nếm trải nhiều gian nguy, có lúc đã cận kề bên cái chết, tinh thần và ý chí của người thanh niên
cách mạng được tôi rèn để càng trở nên vững vàng, kiên định Con cá chột nưa
thể hiện chân thực cuộc đấu tranh nội tâm của người tù để giữ vững khí tiết cách mạng, được trình bày như một màn kịch với sự xung đột giữa một bên là“ cái bụng” với một bên là lương tâm của người chiến sĩ, cho dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào thì người chiến sĩ vẫn phải giữ cho được ý chí, phẩm chất của người cách mạng Trải qua cảnh tù đầy khắc nghiệt, tâm hồn người cách mạng trẻ tuổi vẫn nguyên vẹn sự nhạy cảm, tinh tế, giàu tình thương và luôn tha thiết với cuộc sống Nằm trong xà lim Quy Nhơn, tâm hồn nhạy cảm của ông luôn hướng vào cuộc sống bên ngoài nhà tù, lắng nghe và đón nhận những âm thanh của cuộc sống, thiên nhiên và con người, từ một tiếng dơi chiều đập cánh, tiếng guốc đi về, một tiếng rao đêm .lọt vào qua cánh cửa nhà tù Niềm căm hận kiếp tù đày, khát vọng tự do và ham muốn được hoạt động, tất cả đã dồn tụ để thổi bùng lên một
quyết tâm hành động vượt ngục:
Núi hỡi! Từ đây băng xuống đó Chừng bao nhiêu dặm, mấy đêm trường?
( Tiếng hát đi đày, 1942)
Sau khi thoát tù, nhà thơ kêu gọi lứa tuổi trẻ hãy mạnh dạn dấn thân vào cuộc đấu tranh trong thời điểm mà khí thế cách mạng đang sục sôi
Trang 13Đi, bạn ơi, đi! Sống đủ đầy
Sống trào sinh lực, bốc men say
Sống tung sóng gió thanh cao mới
Sống mạnh, dù trong một phút giây
( Đi, 1944 )
Trong những ngày sôi sục của Cách mạng Tháng Tám và trong niềm vui
tưng bừng của độc lập tự do, hồn thơ Tố Hữu như được chắp cánh bay bổng trong
cảm hứng lãng mạn say sưa với niềm vui lớn của dân tộc Huế tháng Tám ghi lại
hình ảnh kinh thành Huế trong giờ phút lịch sử trọng đại ngày 23- 8-1945, khi
chính quyền về tay nhân dân, một hình ảnh thật lớn lao, bay bổng" Ngực lép bốn
nghìn năm, trưa nay cơn gió lạnh, Thổi phồng lên, tim bỗng hóa mặt trời"
Ở Từ ấy Tố Hữu đặt ra nhiều vấn đề trước cuộc đời Người thanh niên trí
thức, khi tâm hồn bừng sáng lý tưởng cách mạng, đã nhìn cuộc đời từ nhiều phía,
trong tầm xa và chiều sâu, trong quan hệ giữa sự sống và cái chết, cái riêng và cái
chung; dân tộc và thời đại,… Từ ấy mang theo hơi thở và máu thịt của cuộc đời
chung, nhưng trước hết là của tác giả: sôi nổi, trẻ trung và thanh khiết, cái đẹp, cái
cao cả của lý tưởng, của cuộc đời đang đẩy lùi mọi cái xấu xa, vẩn đục Từ ấy có
phần là tiếng hát, có phần là nỗi niềm tâm sự và có cả tiếng nói quyết tâm của ý
chí trên con đường đấu tranh Cái“ tôi” của người cộng sản trẻ tuổi ghi dấu ấn
đậm nét Nói như Hoài Thanh Từ ấy là“ Tiếng ca của một thanh niên, một người
cộng sản”
1.2.2 đến tập thơ "Việt Bắc"
Tập thơ Việt Bắc (1946-1954) thể hiện sự chuyển biến mạnh mẽ của thơ
Tố Hữu theo hướng dân tộc và đại chúng, phù hợp với phương châm của nền văn
nghệ mới, như được ghi trong Đề cương về văn hoá Việt Nam- 1943
Nếu như ở Từ ấy nổi bật và kết tinh giá trị của tập thơ là hình tượng cái
"tôi" trữ tình tác giả - người thanh niên cộng sản, thì đến Việt Bắc là bước chuyển
từ cái "tôi" sang cái "ta" chung của dân tộc, của giai cấp Là bản hợp ca của một dân tộc anh hùng không chịu khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào, trước bất cứ khó khăn, gian khổ nào để dành cho được độc lập, tự do Bản hợp ca đó được xây dựng trên một nền trữ tình phong phú, nổi bật là hình tượng quần chúng nhân dân
kháng chiến Có thể nói tập thơ Việt Bắc là hình ảnh, tâm tình, tiếng nói của quần
chúng kháng chiến Nhà thơ tập trung thể hiện hình ảnh những con người đại diện cho quần chúng với những chi tiết chân thực mà bình dị của đời sống, trong mọi hoạt động kháng chiến với tâm tình, ý nghĩ và tiếng nói của họ Đó là anh Vệ
quốc quân đã làm nên chiến thắng Việt Bắc vang dội:
Giọt giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ Anh Vệ quốc quân ơi Sao mà yêu anh thế!
Em cũng theo chồng đi phá đường quan
Mưa đêm mưa tự chiến khu mưa về…
( Bà bủ, 1948)
Trang 14Là em bé liên lạc hồn nhiên, anh dũng ngã xuống trên cánh đồng quê tháng
mười dưới làn đạn giặc mà linh hồn và hình ảnh của em vẫn còn mãi với quê
hương đất nước:
Cháu nằm trên lúa Tay nắm chặt bông Lúa thơm mùi sữa Hồn bay giữa đồng…
(Lượm, 1949)
Trong Việt Bắc, cái "tôi” trữ tình nhà thơ đã hóa thân vào các nhân vật
quần chúng hoặc có hiện diện cũng chỉ là đường viền làm nổi bật hình ảnh những
con người quần chúng Những con người bình thường, cụ thể đó bỗng được nâng
lên thành biểu tượng của Nhân dân, của Tổ quốc Lịch sử thơ ca Việt Nam từ cổ
điển đến hiện đại, có lẽ chưa đâu có những hình ảnh sinh động và thấm thía yêu
thương như thế về những con người bình thường mà làm nên lịch sử
Tình cảm bao trùm và sâu đậm nhất trong tập thơ Việt Bắc là lòng yêu quê
hương đất nước Tình cảm ấy được biểu hiện phong phú, sâu sắc trong nhiều
trạng thái đa dạng Đó là tình nghĩa gắn bó giữa hậu phương với tiền tuyến, là
mối tình gắn bó thân thiết giữa người miền xuôi với người miền ngược, là lòng
biết ơn sâu nặng của người cán bộ với đồng bào Việt Bắc, và trên hết là lòng
kính yêu của nhân dân với lãnh tụ Tất cả được thể hiện trong một mối tình
"cá nước" thắm thiết tình nghĩa, cùng hoà trong niềm tự hào dân tộc và niềm
vui chiến thắng
Thiên nhiên đất nước hiện lên với nhiều cảnh sắc đa dạng, phong phú khi
thì" hắt hiu lau xám đậm đà lòng son", khi lại "trăng lên đầu núi nắng chiều lưng
nương", khi lại có những cảnh rộn rã, tấp nập trong sinh hoạt kháng chiến của cơ
quan, những cảnh hào hùng của từng đoàn dân công, bộ đội đi chiến dịch tạo
nên bức tranh thật sinh động, phong phú
Việt Bắc, là chặng đường có vị trí quan trọng trên hành trình thơ Tố Hữu
Đến tập thơ này, cái"tôi” của nhà thơ đã thực sự hoà nhập vào đời sống nhân dân, thấu hiểu và gần gũi với cuộc đời, tâm tình, ước nguyện của quần chúng kháng chiến Thơ Tố Hữu đã bắt được vào nguồn mạch sâu xa và bền bỉ của truyền thống văn hóa dân tộc, đồng thời thể hiện được lý tưởng cách mạng, tinh thần của thời đại trong việc làm, hành động, ý thức và tinh thần của đông đảo quần chúng Cái"tôi” ấy hầu như mất hẳn cái riêng để trở thành cái "ta” của Đảng, của nhân dân và của dân tộc
Trang 15CHƯƠNG II
GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA TẬP THƠ“ VIỆT BẮC”
2.1 Khát vọng và niềm vui giải phóng Đất nước qua các chặng đường
2.1.1 Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc bùng nổ long trời lở đất, chấm
dứt ách đô hộ tám mười năm của thực dân Pháp, mở ra một thời đại vẻ vang cho
dân tộc: thời đại Hồ Chí Minh, thời đại của độc lập, tự do, và chủ nghĩa xã hội
Cách mạng Tháng Tám đã đáp ứng nguyện vọng sâu xa của toàn thể dân tộc, mở
ra trước mắt mọi người những chân trời bao la, niềm phấn khởi dâng trào, khí thế
của quần chúng thật là hào hùng quyết liệt khi nước nhà dành được chính quyền
Từ những bài thơ ra đời ngay sau ngày Cách mạng thành công cho đến
bài thơ cuối cùng: Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, chào đón hoà bình, từ biệt Việt
Bắc về xuôi, có thể nói Tố Hữu đã giương cao lá cờ chiến đấu của thơ, tô thắm
cho nó và giữ thắm cho nó trong suốt chín năm, để nói lên những tình cảm lớn
của con người cách mạng và kháng chiến; là tiếng thơ sớm nhất và lớn nhất nói
lên thấm thía những sự đổi đời của dân tộc
Một số bài thơ tiếp nối Từ ấy và Việt Bắc như: Huế tháng Tám (1945),
Xuân nhân loại (1946), Vui bất tuyệt (1946) là những bài được Tố Hữu viết trong
niềm vui chiến thắng khi nước nhà giành được chủ quyền dân tộc Sự ra đời của
tập thơ Việt Bắc tiếp nối cảm hứng giải phóng dân tộc của tập thơ Từ ấy Cái vui
của thơ Tố Hữu trong những ngày Tháng Tám vẫn lôi cuốn chúng ta rất mãnh
liệt, và cảm hứng giải phóng khi nước nhà độc lập được ghi lại sâu đậm trong
những vần thơ mới:
Đi, đi, đi ! ôi nhịp đời phơi phới
Trăng sáng, đường dài
Ta đều chân : Một ! Hai !
Ta đều ca Lời ca bất tuyệt
Ôi đất Việt Yêu dấu Ngàn năm…
(Đêm xanh, 1946)
Đó cũng là lời thiêng, là tình cảm kết đọng trong bản nhạc Diệt phát xít của
Nguyễn Đình Thi - "Ôi đất Việt yêu dấu ngàn năm"
Tiếp đó là những ngày toàn dân tộc hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chí Minh chống ba loại giặc: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm Ở khắp mọi nơi, toàn dân sôi nổi tham gia phong trào tăng gia sản xuất, những ngày khoai sắn mọc xanh khắp mọi nơi, con người vui say trong công việc, với tinh thần đoàn kết, thi đua lao động không biết mệt mỏi:
Rồi từ hôm đó, bọc hoàng cung Lớp lớp khoai xanh mượt vạn vồng Lòng đất kiêu kiêu nghe nặng củ Khách dừng âu yếm, ngẩn ngơ trông…
Chen vai mà học, rách lành sao đâu !
(Trường tôi, 1946)
Không đầy một tháng sau, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta Kháng chiến Nam Bộ, rồi toàn quốc kháng chiến bùng nổ Lời kêu gọi của Hồ chủ tịch
Trang 16vang dậy thấm sâu vào trái tim của mỗi người dân Việt Nam.“Chúng ta thà hy
sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô
lệ…Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm Không có gươm thì dùng
cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước… Dù phải
gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định
về dân tộc ta”
Trong những ngày đầu phòng ngự với chủ trương tiêu thổ những thành
phố, thị trấn, phá cầu đường để cản bước tiến công của giặc, một bài thơ được
truyền tụng đến thuộc lòng, là bài Phá đường ghi tạc không phai công sức của
nhân dân vào lịch sử:
Đêm nay gió rét trăng lu
Rộn nghe tiếng cuốc chiến khu phá đường
( Phá đường, 1948)
Vậy, chúng ta có thể nhận thấy đây là chặng đường đầu tiên, những ngày
đầu phòng ngự của của cuộc kháng chiến đã được Tố Hữu ghi lại bằng những vần
thơ hết sức chân thực Cùng với diễn biến lịch sử của dân tộc, thơ Tố Hữu luôn
theo sát cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc
2.1.2 Kháng chiến chín năm
Cuộc kháng chiến chống Pháp đã tỏ rõ sức mạnh và sức sáng tạo lớn lao
của quần chúng- cái sức mạnh trước kia còn ẩn tàng, mai phục, chưa có dịp bộc lộ
hết thì nay đã trở thành sự thật hiển nhiên, hàng ngày, đập vào tai mắt, vào suy
nghĩ và tưởng tượng của mỗi người Với Việt Bắc, thơ Tố Hữu đã thực sự chín và
ngang tầm với đề tài như được thể hiện qua bốn câu thơ đề từ:
Nhân dân là bể Văn nghệ là thuyền Thuyền xô sóng dậy Sóng đẩy thuyền lên
Cái bể nhân dân được cách mạng lay dậy tự đáy sâu, dâng lên cuồn cuộn
đã đẩy sáng tác thơ ca lên một trình độ cao Có một sự chuyển hướng rõ rệt trong sáng tác của Tố Hữu Cuộc kháng chiến bùng nổ, bài thơ xuất sắc đầu tiên
trong giai đoạn này của Tố Hữu là bài Cá nước không còn những câu thơ trực
tiếp trình bày ý nghĩ của tác giả mà là sự thâm nhập tự nhiên vào những suy tư, cảm nghĩ của quần chúng:
Tôi ở Vĩnh Yên lên Anh trên Sơn Cốt xuống Gặp nhau lưng đèo Nhe Bóng tre trùm mát rượi
(Cá nước, 1947)
Không cần giảng giải, thuyết lý, bài thơ có sự thuyết phục của cái hiện
thực trực tiếp, như thể tai nghe mắt thấy Với Việt Bắc, nhà thơ không còn tự nói
về mình, việc tự biểu hiện trực tiếp hầu như không còn nữa, thay vào những trữ tình riêng tư là sự thể hiện trực tiếp cảm nghĩ của quần chúng cách mạng Anh
Vệ quốc quân lần đầu xuất hiện trong thơ dễ thương đến lạ lùng; tiếp xúc với anh
ai mà không cùng đồng lòng thốt lên như Tố Hữu:
Anh Vệ quốc quân ơi
Sao mà yêu anh thế!
Trang 17Tố Hữu là nhà thơ của thời đại, hành trình thơ Tố Hữu luôn là sự vận động
không ngừng, phát triển Tác giả nhìn theo con mắt sử thi để thấy được tầm vóc to
lớn, trách nhiệm nặng nề của con người thời đại Do đó việc chuyển sang thể tài
sử thi đánh dấu một bước tiến trong tư duy nghệ thuật và tiếng thơ Tố Hữu Mặc
dù ở Từ ấy đã có yếu tố sử thi, như trong hình ảnh Mã Chiếm Sơn" buông cương
và ngẫm nghĩ", như hình ảnh" Những người không chết", nhưng sang Việt Bắc thì
chất liệu này mới chiếm địa vị chủ đạo Các vấn đề của thơ Tố Hữu thời kỳ này
bao giờ chủ yếu cũng là các vấn đề đặt ra giữa "ta" và "nó","chúng ta" và"chúng
nó" chứ không còn là vấn đề giữa" anh" và" em", giữa cá nhân này với cá nhân
khác Nếu có khi nhà thơ nêu vấn đề giữa" mình" và "ta" thì đó là"mình" và"ta"
với tầm vóc dân tộc
2.1.3 Chiến thắng Điện Biên phủ
Với chiến thắng Điện Biên phủ, hồn thơ Tố Hữu như được nâng bổng,
vươn xa trong cảm hứng sử thi hào hùng và tầm khái quát lịch sử Bài Hoan hô
chiến sĩ Điện Biên mang đậm tính thời sự, ghi lại một cách đậm nét khí thế của
thời đại trong bước ngoặt đi lên của lịch sử dân tộc
Kế tiếp, Tố Hữu viết Ta đi tới với khí thơ hùng mạnh, tương ứng với bước
đi không có gì ngăn nổi của dân tộc Những bước đi hào hùng từ “ Bắc Sơn, Đình
Cả, Thái Nguyên”, những chặng đường dài chín năm vượt mọi gian khổ hy sinh
để hôm nay đến được niềm vui lớn:
Ta đi giữa ban ngày
Trên đường cái, ung dung ta bước
Đường ta rộng thênh thang tám thước…
(Ta đi tới, 1954)
Trong không khí náo nức, hào hùng, càng tự hào về Tổ quốc và nhân dân,
ta càng yêu quê hương, đất nước:
Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi !
Rừng cọ đồi chè đồng xanh ngào ngạt Nắng chói Sông Lô, hò ô tiếng hát Chuyến phà dào dạt, bến nước Bình Ca
(Ta đi tới, 1954 )
Bài Việt Bắc mang tên chung của tập thơ là thi phẩm xuất sắc nhất của thơ
Tố Hữu thời kỳ kháng chiến chống Pháp và là một trong những bài thơ hay nhất
của thơ ca hiện đại Bài thơ là cuộc đối thoai giữa mình và ta, ta và mình, giữa người cán bộ về xuôi với Việt Bắc ở lại:
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
(Việt Bắc, 1954)
Mười lăm năm ấy với biết bao sự kiện, biết bao cảm xúc, bao kỷ niệm dạt
dào tình nghĩa Việt Bắc với sinh hoạt ở chiến khu, thời kỳ Việt Minh, kháng
Nhật, với mái đình HồngThái, cây đa Tân Trào, với biết bao địa danh không thể
nào quên Dưới ngòi bút của Tố Hữu, Việt Bắc hiện lên rất chân thực và xúc động
cùng với niềm tự hào đã chiến thắng kẻ thù xâm lược khép lại một trang sử vẻ
vang Đúng như Xuân Diệu nhận định:" Đến bài Việt Bắc, lại là đỉnh thơ cao nhất
mà Tố Hữu đã bước lên Với bài này, hồn thơ cũng như nghề thơ của Tố Hữu chín rộ ( ), không phải một cây bút trong tay Tố Hữu nữa, mà nhiều ngọn bút nở cùng một lúc, bút tả tình, bút tả cảnh, bút tả người Người ta thấy văn chương
cách mạng chí nghĩa, chí tình, cái văn chương nên thơ, nên nhạc.[33]
Nếu như ở phần đầu Việt Bắc cái"tôi" trữ tình của nhà thơ thường nhập vai
nhân vật quần chúng hoặc trực tiếp làm nổi bật những con người quần chúng, thì
ở những bài thơ viết vào giai đoạn cuối cuộc kháng chiến lại nổi bật cái "tôi" sử thi, mang tính khái quát và đại diện cho nhân dân, dân tộc, cách mạng; đi liền với cái "tôi' sử thi ấy là giọng hào sảng, kiêu hãnh và đầy tin tưởng
Trang 18Như vây, trên hành trình lịch sử của cách mạng, của dân tộc, hồn thơ của
Tố Hữu đều có những tiếng ngân vang xứng đáng, có sự vận động không ngừng
và luôn phát triển theo đà đi lên của cách mạng Đọc tập thơ Việt Bắc người đọc
có thể hình dung được bước đi của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến trường kỳ
đến với chiến thắng Điện Biên Phủ- chặng đường đầu tiên trong sự nghiệp
giải phóng đất nước kéo dài 30 năm( 1945-1975)
2.2 Cái "tôi" tác giả gắn với cái "ta"quần chúng trong bức tranh nhân dân
kháng chiến
Việt Bắc ra đời vừa như sự khởi đầu, vừa như là kết thúc chặng đường vẻ
vang 9 năm văn nghệ kháng chiến Cùng với thực tiễn cách mạng vĩ đại của dân
tộc, lý tưởng thẩm mỹ của nhà thơ đã có sự phát triển Nếu trước kia nhà thơ muốn
kêu to lên, muốn chia sẻ với mọi người cái mới lạ, cái đẹp của lý tưởng, thì giờ
đây lý tưởng ấy đã biến thành đời sống hằng ngày mà dân tộc, quần chúng đã thực
hiện, đã sống với lý tưởng đó một cách bình dị và thật cảm động Cái đẹp của lý
tưởng, của ước mơ đã biến thành cái đẹp của quần chúng kháng chiến, cái đẹp của
con người và cuộc sống thực
Tố Hữu đã thấy rõ những bước tiến của lịch sử, nhận thức đầy đủ quy luật
phát triển của dân tộc, của con người Việt Nam chiến đấu và trưởng thành Đó là
những người nông dân lao động, từ anh bộ đội nghỉ chân trên lưng đèo Nhe đến
anh pháo binh vác voi ra trận, từ bà mẹ trên nhà sàn Việt Bắc đến bà bủ nằm ổ
chuối khô, từ chị phụ nữ phá đường, đến em bé liên lạc, Tất cả góp phần làm hiện
lên toàn cảnh cuộc chiến tranh nhân dân với sự sống hồn nhiên, chân thực, có
chiều sâu của đời sống hiện thực, và đi vào lòng người
2.2.1 Hình ảnh người lính
1 Mở đầu Việt Bắc, ai cũng nhận thấy anh bộ đội cụ Hồ chiếm một vị trí
quan trọng trong tập thơ Kể từ Cách mạng Tháng Tám thành công cho đến những
năm đầu kháng chiến, hình ảnh anh bộ đội chưa xuất hiện trong thơ ca, hay chỉ
hiện ra một cách thấp thoáng, thì nay hình ảnh anh Vệ quốc kháng chiến được thể hiện rõ nét trong thơ, với tư cách là những người nông dân nghèo khổ:
Bữa đói bữa no
Chạy quanh chẳng đủ Ngày hai bát ngô Lên rừng đào củ
Bài thơ xuất sắc đầu tiên ở tập Việt Bắc viết về anh Vệ quốc quân kháng chiến là bài Cá nước Nhà thơ ghi lại cuộc gặp gỡ trò chuyện giữa" tôi" và anh Vệ
quốc quân:
Tôi ở Vĩnh Yên lên Anh trên Sơn Cốt xuống Gặp nhau lưng đèo Nhe Bóng tre trùm mát rượi
Trang 19Tròn một củ Hay những người gầy sắt lại Mặt rẹt một đường gươm Lạnh gáy
( Nhớ máu, 1946 )
Cũng tương tự là Quang Dũng trong Tây Tiến:
Tây Tiến, đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá giữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
( Tây Tiến, 1948 )
So với họ, Tố Hữu đã tiến một bước dài trong nhận thức cũng như trong
thể hiện chiến tranh Nhà thơ đã ghi lại thực tế quyết liệt của kháng chiến, những
cuộc hành quân vất vả của pháo binh, hay nỗi lo âu thắt ruột của bà mẹ chiến sĩ
Sự lay động đến gốc rễ tâm hồn người làm thơ và trách nhiệm sâu xa mà người
làm thơ cảm thấy nặng trên vai, khi nhìn vào những sống chết hàng ngày của
quần chúng, tất cả những cái đó đã giúp cho Tố Hữu không còn viết những câu
thơ lãng mạn cũ:
Nhân loại trườn lên trên biển máu Đang mơ xuân đến với môi cười
( Xuân, 1946 )
Mà sớm đến với những chất liệu mới có ngay trong hiện thực:
Tôi ở Vĩnh yên lên Anh trên Sơn Cốt xuống Gặp nhau lưng đèo Nhe Bóng tre trùm mát rượi
( Cá nước, 1947 )
Đi cùng pháo binh, Tố Hữu nhìn ngay bằng con mắt của anh pháo binh thân mật, chăm chút, mến thương với pháo:
Ta bế ta bồng Voi lên ta hát Vai ta vai sắt Chân ta chân đồng
Ta đi qua rừng Lau tre san sát Voi nghe ta hat Núi rội vang lừng
( Voi, 1948 )
Một bài thơ thật hay trong thơ ca Việt Nam Trong tiếng hát của anh pháo binh, chúng ta nghe như vang dội tiếng hò của người kéo gỗ Bài thơ vui đùa mà chắc nịch, thật lạc quan Nó đã đem đến cho thơ ca tiếng hát khoẻ mạnh và tự hào của quần chúng, trên hai âm hưởng, hai giai điệu, đó là lao động và chiến đấu
Tố Hữu đã từng mặc áo bộ đội, vai nặng ba lô, chân đạp rừng gai đá sắc, trèo đèo lội suối, cùng ăn cơm vắt thấm nước, dãi gió dầm sương với anh bộ đội
Tố Hữu đã giúp ta hiểu cách mạng, hiểu cuộc sống nơi rừng sâu của anh Vệ quốc Người lính ở rừng núi bị sốt rét dày vò Tố Hữu đã nói hộ tình cảm của nhân dân đối với anh:
Giọt giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ Anh Vệ quốc quân ơi Sao mà yêu anh thế !
(Cá nước, 1947)
Trang 20Với tư thế:
Tỳ tay trên mũi súng
(Cá nước, 1947)
Tố Hữu cho ta thấy- người lính đó là người nông dân mặc áo lính Anh bộ
đội của chúng ta là người đến từ ruộng đồng, là những người bạn hiền lành"
người lính trường chinh áo mỏng manh", những ngày đi của anh là những ngày
"vắt với sương":
Ngô bung xôi nhạt, nước lưng bương Đêm mưa rình giặc tai thao thức Mùa lại mùa qua, rét nhức xương
( Lên Tây Bắc, 1948 )
Thế mà qua anh, cuộc kháng chiến đã dành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác:
Trận chợ Đồn, chợ Rã
Ta đánh giặc chạy re Hai đứa cười ha hả
( Cá nước, 1947)
Cuộc gặp gỡ tình cờ, câu chuyện chiến thắng sôi nổi, dáng dấp hiền lành
của người chiến sĩ được ghi lại trong vần thơ Tố Hữu không khoa trương mà lắng
đọng, không xôn xao mà thấm thía; người thi sĩ cán bộ gặp anh Vệ quốc quân
trên lưng đèo Nhe, chưa nói với nhau lời nào mà đã hiểu, đã yêu Và cái tình cảm
âm thầm đằm thắm, cũng như cái miếng thuốc lào đã gắn bó họ lại với nhau
Trưa nay trên đèo Nhe
Ta say sưa vài phút Chia nhau điếu thuốc lào Nào anh hút tôi hút
( Cá nước, 1947 )
Những cử chỉ tưởng như là nhỏ nhặt, bình thường chẳng có gì đáng nhớ"; chia nhau điếu thuốc lào", mà ngụ một tình cảm thật thắm thiết, bao la Thơ Tố
Hữu thật tài tình và lý thú Ông lấy tên bài thơ là Cá nước, dựa theo cách nói quen
thuộc của Giải phóng quân Việt Nam trong thời kỳ bí mật" Dân là nước, du kích
là cá" Tố Hữu đã lấy sức mạnh của thơ làm cho tình "Cá nước" trở thành điển hình tình cảm mới của thời đại Đó là tình quân dân thắm thiết, nguồn gốc của tinh thần và sức mạnh của chiến tranh nhân dân
Viết về anh Vệ quốc, Chính Hữu cũng có những hình ảnh chân thực về
những người lính gặp gỡ nhau trong chiến tranh:
Tôi với anh đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau Súng bên súng đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ
( Đồng chí, 1948 )
Những người"tứ xứ" hôm qua còn xa lạ, hôm nay đã trở thành" tri kỷ" Cách mạng làm nảy sinh nhiều thứ tình cảm trước kia rất ít thấy: tình đồng đội, tình đồng chí, tình đại gia đình dân tộc gắn bó mọi người lại với nhau:
Gặp nhau mới lần đầu
Họ tên nào chẳng biết?
Anh người đâu, tôi đâu?
Gần nhau là thân thiết
Ta hò ta reo !
(Voi, 1948 )
Trang 21Nếu cuộc sống cực nhọc trước kia đè nặng lên con người và tâm hồn dân
tộc, thì bây giờ ý thức vì Tổ quốc mà vượt qua mọi khó khăn gian khổ Họ sẵn
sàng hy sinh tất cả, chính điều đó tạo nên vẻ đẹp riêng của anh bộ đội trên đường
lên Tây Bắc:
Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài lên đỉnh dốc cheo leo Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá nguỵ trang reo với gió đèo
( Lên Tây Bắc, 1948 )
Cái đẹp của anh bộ đội trong tư thế oai vệ, được nhìn qua cặp mắt của bà
mẹ nghèo:
Bộ nó rõ oai Vai thì đeo súng Ngực chéo hai quai
Áo thì thắt bụng
Đầu nó đội mũ
Có cái sao vàng Trước nó lam lũ Bây giờ thấy sang!
( Bà mẹ Việt Bắc, 1948)
Đi tới đâu," Người lính trường chinh áo mỏng manh" ấy cũng mang lại
nguồn vui cho nhân dân tới đó." Mỗi bước vàng theo đồng lúa chín- Lửa vui từng
mái nứa tươi xanh" Quân thù bị xua đuổi, cuộc sống lại yên vui:
Anh về cối lại vang rừng Chim reo quanh mái, gà mừng dưới sân Anh về sáo lại ái ân
Đêm trăng hò hẹn trong ngần tiếng ca
(Bà mẹ Việt Bắc, 1948)
"Cặp mắt đỏ nọc ấy" còn có tác dụng góp vào việc nâng cao ý chí chiến đấu không ngừng, không mỏi mệt của người chiến sĩ, và bằng mọi giá phải tiêu diệt hết quân xâm lược Cái căm thù ấy nổi bật trong lời của người chiến sĩ quyết tâm tiêu diệt giặc, bằng một lời thơ thật mạnh và rất" bộ đội":
Chúng bay chui xuống đất Chúng bay chạy đằng trời Trời không của chúng bay Đạn ta rào lưới sắt!
Đất không của chúng bay Đai thép ta thắt chặt!
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, 1954)
Người lính- anh bộ đội cụ Hổ trở thành nỗi kinh hoàng của kẻ thù, làm cho
kẻ thù phải khiếp sợ Nhưng tình cảm người bộ đội trong thơ Tố Hữu không phải máy móc, một chiều chỉ biết đạn lửa chiến trường, mà cũng da diết nhớ nhà, nhớ
Trang 22làng mạc, nhớ tất cả những cái gì làm nên cuộc sống cần cù, giản dị của nông
thôn Việt Nam, nơi anh và những người thân đã sinh ra và lớn lên, với biết bao kỷ
niệm thiết tha:
Chắc có lúc lòng anh Nhớ nhà anh nhớ lắm
Ôi người bạn hiền lành Mắt nhìn xa đăm đắm
( Cá nước, 1947 )
Tố Hữu thấu hiểu nỗi lòng người chiến sĩ Khi đi sâu vào tình cảm của
người "nông dân mặc áo lính", đi sâu vào cái nguồn bồi đắp tinh thần dồi dào, vô
tận của người chiến sĩ, cái tình gửi về hậu phương, nơi chôn nhau cắt rốn Ở đó có
người mẹ già tóc bạc hoa râm, thì câu thơ trở nên thắm thiết, ấm cúng lạ lùng
Không phải thơ Tố Hữu nữa mà là nỗi lòng nhớ thương của người chiến sĩ đang
thánh thót Tình cảm đó diễn ra sâu sắc trong bài Bầm ơi! chứa đựng tình yêu gia
đình, yêu đồng chí, yêu nước đã quyện lấy nhau Đó chính là tình cảm sâu sắc,
cao quý của người chiến sĩ Việt Nam, đã được nhà thơ nâng niu, thấu hiểu:
Bầm ơi có rét không bầm ? Heo heo gió núi lâm thâm mưa phùn Bầm ra ruộng cấy bầm run Chân lội dưới bùn tay cấy mạ non
Mạ non bầm cấy mấy đon Ruột gan bầm lại thương con mấy lần
Mưa phùn ướt áo tứ thân Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu !
( Bầm ơi, 1948 )
Những câu thơ thấu tận nhân tình, thật là thấm thía, có lẽ chưa ai viết được
như Tố Hữu Những câu thơ chảy nước mắt, cái nước mắt không bi thảm, mà là
cái nước mắt sung sướng của tâm hồn khi được nghệ thuật động tới chỗ cao sâu Cả bài thơ đi vào lòng người và ở luôn trong đó như một dòng suối ngọt
ngào Trên nguồn mạch tình cảm ấy bài Bầm ơi ! thật xứng đáng với tình mẹ
con muôn thuở
Viết về tình cảm của anh bộ đội dành cho mẹ, cho những bà bủ, bà bầm, tiếng thơ của nhà thơ Lê Đức Thọ cũng thật mến thương, nhưng ở đây là nỗi nhớ một bà mẹ bên một quán nghỉ chân dọc đường kháng chiến" miếng trầu bát nước tiễn đưa con" luôn sống mãi trong hoài niệm tác giả:
Hôm nay nhớ mảnh lòng vàng Nhớ người mẹ với muôn vàn yêu thương
( Người mẹ )
Anh bộ đội đối với mẹ già thì hiền lành, thủ thỉ như thế Nhưng đó chỉ là một góc lòng của anh, một khía cạnh của con người anh Khi ở chiến trường đối diện với quân giặc thì hình ảnh anh bộ đội càng nổi bật trong những hy sinh cao cả:
Những bàn tay xẻ núi lăn bom Nhất định mở đường cho xe ta tiến lên chiến trường tiếp viện
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, 1954)
Ý chí quyết chiến quyết thắng, nghị lực và tài trí của cả dân tộc, biết bao tấm gương kiên cường, anh dũng của quân và dân ta, của những ai có tên hoặc
Trang 23không tên, cuối cùng đã giành được thắng lợi quyết định làm rạng rỡ cho đất
nước, đưa Tổ quốc lên đỉnh vinh quang chói lọi:
Đêm lịch sử, Điện Biên sáng rực
Tên đất nước, như huân chương trên ngực
Dân tộc ta, dân tộc anh hùng !
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, 1954 )
Từ những người chiến sĩ chân đất, đầu trần những năm đầu chống Pháp,
đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, người chiến sĩ" bộ đội cụ Hồ" tiếp tục được Tố
Hữu miêu tả là con người mang vẻ đẹp thần thoại:
Anh đi, xuôi ngược tung hoành Bước dài như gió, lay thành chuyển non
Mái chéo một chiếc xuồng con
Mà sông nước dậy sóng cồn đại dương !
(Tiếng hát sang xuân, 1965)
Những vần thơ rất gợi cảm với những liên tưởng sáng tạo:
Ôi cái mũ vải mềm dễ thương như một bàn tay nhỏ
Chẳng làm đau một chiếc lá trên cành
Sáng trên đầu như một mảnh trời xanh
Mà xông xáo, mà tung hoành, ngang dọc
Mạnh hơn tất cả đạn bom, làm run sợ cả Lầu năm góc !
(Bài ca xuân 1968)
Những anh hùng trong thời đại chống Mỹ cứu nước, cũng được nhà thơ
xây dựng từ những con người có thật trong đời sống Nhưng ở họ mang vẻ đẹp
tượng trưng cho một thời đại, tiêu biểu như Nguyễn Văn Trỗi hoặc Mẹ Suốt, bà
mẹ Việt Nam anh hùng trong những năm chống Mỹ Tố Hữu đã từ cái riêng của
những cuộc đời cụ thể, khái quát lên thành cái chung của cả một lớp người, một
thế hệ
Trở lại anh bộ đội trong kháng chiến chống Pháp Họ là những người nông dân cầm súng, thật thà, chất phác, giản dị cả trong lời nói, cử chỉ và trong tư thế Nhà thơ viết về họ với bản chất vốn có, mà vẫn tiềm tàng ẩn chứa những nét đẹp đại diện cho thời đại Những con người kháng chiến và hiền lành ấy tiêu biểu cho toàn thể nhân dân lao động Việt Nam căm thù trước tội ác của giặc, đoàn kết yêu thương nhau trong một mối tình "cá nước", ra sức chiến đấu, bảo vệ cuộc sống, bảo vệ quê hương Họ là những người nông dân bình dị mà làm nên lịch sử vẻ vang cho dân tộc
2 Đặc trưng của chiến tranh nhân dân, chiến tranh chính nghĩa là ai cũng sẵn sàng ra trận Trẻ em cũng ra trận, cũng biết đảm nhận những công việc thích hợp nhất với lứa tuổi mình Lượm là hình ảnh được ghi nhận đầu tiên về em bé liên lạc trong thơ kháng chiến Tâm hồn em hồn nhiên, nhưng lòng em thấm sâu tình yêu nước, em là những chú" đồng chí nhỏ" làm nhiệm vụ giao thông vượt qua mặt trận, không sợ đạn của giặc, không sợ hiểm nghèo
Tố Hữu yêu chú bé liên lạc, điển hình của những con cháu trung dũng của Bác Hồ Ngay trong những nét phác tả chú bé ấy ta đã thấy thật mến yêu:
Chú bé loắt choắt Cái xắc xinh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh
(Lượm, 1947)
Chú bé làm công tác liên lạc, vai đeo xắc, đầu đội mũ bộ đội, vẫn trẻ con trong bước đi nhảy nhót của tuổi nhỏ, xa nhà nhưng em không thấy sợ, lại thấy" ở đồn Mang Cá Thích hơn ở nhà" Đó chính là niềm vui được ở trong đoàn thể, được sống bên cạnh các chú bộ đội, các chú cán bộ, được góp một phần nhỏ bé
của mình cho cách mạng Tố Hữu đã miêu tả em Lượm như một đồng chí nhỏ:
Trang 24Thôi chào đồng chí ! Cháu đi xa dần
Em Lượm trong Việt Bắc vẫn cứ là trẻ con như thường Em đi kháng chiến
với một tâm hồn trẻ thơ, hồn nhiên, nhí nhảnh là vậy, thế mà những viên đạn kẻ
thù đã cướp đi sự sống của em Nhà thơ đã dành cho em một lòng thương yêu đặc
biệt Khi em ngã xuống, không ai quên được chú Lượm của Tố Hữu, không ai
không thắt lòng khi Tố Hữu hạ xuống hai chữ:
Ra thế Lượm ơi !
( Lượm, 1949)
Kháng chiến có biết bao tấm gương hy sinh của những em nhỏ anh hùng
như thế Còn gì xúc động hơn cảnh ấy nữa Dường như nhà thơ của chúng ta đã
đau nhói tận tim và lặng đi không nói được khi biết tin em ngã xuống:
Lượm, em bé giao thông anh dũng đã hy sinh vì nhiệm vụ Thi sĩ lặng
người lại trước" một dòng máu tươi", và hình ảnh" chú bé loắt choắt, cái xắc xinh
xinh" cứ nhói mãi trong lòng chúng ta Lượm đã hy sinh, nhưng hình ảnh của em
thì còn lưu mãi trên đồng đất quê hương:
Cháu nằm trên lúa Tay nắm chặt bông Lúa thơm mùi sữa Hồn bay giữa đồng
( Lượm, 1949)
Đó là sự sống không tắt của Lượm, của cả một lớp thiếu nhi tham gia kháng chiến ngay từ những ngày đầu cả đất nước lên đường vào trận, theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ'' Cũng đồng thời là sự thể hiện sức sống của văn thơ, khi bằng sức mạnh của cảm xúc và ngôn từ, Tố Hữu đã làm cho một hình ảnh Lượm cá biệt bỗng sống hẳn lên và mang trong nó giá trị phổ quát, và nói lên được phẩm chất và gương mặt của cả một thế hệ
Nói tới các em bé liên lạc, nhiều nhà thơ cũng đã có những vần thơ thật xúc động Lê Đức Thọ cũng dành tình cảm mến yêu cho một em bé liên lạc, nhưng ở trong một hoàn cảnh khác không hẳn như em Lượm:
Mái lều xơ xác dăm ba lá gồi Gió lùa chi mấy gió ơi
Em đi trốn gió lại ngồi bên anh
( Em liên lạc )
Viết về các em nhỏ, từ tập thơ Từ ấy, Tố Hữu đã có những vần thơ về các
em, lời thơ có khi nghẹn ngào như muốn khóc:
Con chim non không đợi chờ cánh mọc
Cơ khổ em mới ngần ấy tuổi đầu!
( Hồn chiến sĩ, 1938 )
Trong kháng chiến cũng sớm có thơ của các em Em Nguyễn Bá Dậu, thiếu sinh quân, nhân ngày sinh nhật Bác đã làm một bài thơ gửi đến Bác Cả bài
Trang 25thơ là niềm tự hào của một em bé được" theo anh Vệ quốc", được đi cùng anh,
qua các địa danh rồi đây sẽ đi vào lịch sử:
Bác Hồ ơi!
Cháu là em bé phương xa Theo anh Vệ quốc xa nhà từ lâu Cháu qua Sông Đuống, Sông Cầu Phủ Thông, Đèo Khách, An Châu, Lũng Vài
Đến Lượm của Tố Hữu thì hình ảnh một thế hệ trẻ thơ gắn bó với sự
nghiệp kháng chiến mới được thể hiện trong những đường nét linh hoạt, sống
động và thật xúc động Có thể nói Lượm là bài thơ hiếm hoi để lại một ấn tượng
sâu sắc cho thiêú nhi Việt Nam qua bao thế hệ; có lẽ cũng là bài thơ dài đầu tiên
nói về sự hy sinh, cái chết của người lính trên chiến trường, trong một âm điệu
hào hùng, bi tráng và cũng đầy chất thơ
Hơn hai mươi năm sau, trong chống Mỹ, cũng Tố Hữu là người mở đầu
dựng một tượng đài thiếu nhi qua truyện thơ Em Hoà, kể chuyện Hoà, 15 tuổi,
quê ở Thừa Thiên, là dũng sĩ diệt Mỹ Từ Lượm đến Em Hoà vừa là một khoảng
cách, vừa là một bước tiến của dân tộc và thời đại Nếu Lượm là những nét trữ
tình bi tráng trong chống Pháp, thì Em Hoà là chất sống hiện thực sử thi của
những ngày đồng khởi chống Mỹ
Vậy là, trong cuộc chiến vĩ đại của dân tộc chống các thế lực ngoại xâm,
gần như luôn luôn, các thế hệ thiếu nhi Việt Nam đều để lại hình ảnh và dấu ấn
trong văn thơ
2.2.2 Hình ảnh người phụ nữ
1 Những bà mẹ lao động Việt Nam được Tố Hữu thể hiện với lòng mến
yêu đằm thắm Đó là những bà mẹ nông dân nghèo khổ, cần cù, chất phác, thắt
lưng buộc bụng nuôi con Những bà mẹ ở hậu phương luôn hướng về tiền tuyến,
theo dõi từng bước chân của những đứa con đi giết giặc Trong thơ Tố Hữu, họ là
bà mẹ Việt Bắc, là bà bầm, bà bủ Tuy không có bà mẹ nào nổi hẳn lên như Bà má
Hậu Giang trong Từ ấy hoặc Mẹ Suốt trong Gió lộng, nhưng họ đều là những hình
ảnh rất đẹp Một bà mẹ lo lắng nghĩ đến từng bước đi của đứa con trai và thương đồng đội của con:
Bà bủ không ngủ, bà nằm Càng lo, càng nghĩ, càng căm càng thù Ngoài phên gió núi ù ù
Mưa đêm mưa tự chiến khu mưa về
( Bà bủ, 1948 )
Tố Hữu đã ghi lại rất chân thực tình cảm của người mẹ có con đi đánh giặc cứu nước Người mẹ không buồn rầu, đau khổ mà người mẹ chỉ yêu thương, tình thương đó thật thấm thía sâu sắc, nhìn thấy những vật quen thuộc quanh mình, những miếng ngon, người mẹ không thể không nhớ đến việc để dành phần con Đó là phẩm chất "nhân văn" trong thơ Tố Hữu, và những hình ảnh bà mẹ nông dân nghèo khổ đã được vẽ lên bằng những nét đậm đà không thể phai nhạt:
Nó đi đánh giặc đêm nay
Bước run, bước ngã, bước lầy bước trơn Nhà còn ổ chuối lửa rơm
Nó đi đánh giặc đêm hôm sưởi gì?
(Bà bủ, 1948)
Tố Hữu đã mến yêu rất mực bà mẹ Việt Nam, bà mẹ đẻ những người Vệ quốc quân, bà mẹ nuôi các anh cán bộ Bà mẹ mà tấm lòng yêu thương như biển
cả, là nguồn an ủi động viên vô hạn cho các con Hình ảnh Bà mẹ Việt Bắc ngồi
kể" chuyện nhà chuyện cửa" bên bếp lửa, trên nhà sàn; "bà bủ nằm ổ chuối khô" nhớ con đi bộ đội đã trở thành những biểu tượng gần gũi và cao đẹp cho con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh:
Trang 26Năm xưa cơm củ ngon chi
Năm nay cơm gié nhà thì vắng con
( Bà bủ, 1948 )
Từ chỗ thương con, bủ thương tất cả bộ đội Hình ảnh con và hình ảnh toàn
thể bộ đội đã hoà làm một trong lòng bủ:
Đêm nay bộ đội rừng khe
Mưa ướt dầm dề, gió buốt chân tay
( Bà bủ, 1948 )
Thời đại đổi thay, các bà mẹ cũng khác xưa Mẹ Suốt với ý thức chống Mỹ
khác bà bủ nằm ổ chuối khô hồi kháng chiến chống Pháp:
Sợ chi sóng gió tàu bay
Tây kia mình đã thắng, Mỹ này ta chẳng thua !
Kể chi tuổi tác già nua
Chống chèo xin cứ thi đua đến cùng !
( Mẹ Suốt, 1965)
Mẹ Suốt, Bà mẹ Việt Nam anh hùng trong những năm kháng chiến chống
Mỹ, can trường, sẵn sàng làm công việc nguy hiểm đưa đò cho các anh bộ đội
qua sông Ở người mẹ này là sự quyện hoà giữa cái bình thường và cái vĩ đại,
giữa bản năng tự nhiên và phần giác ngộ sâu xa của ý thức Còn "Bà bủ" trước đó
20 năm thì đúng là một bà mẹ nông dân còn có một vẻ cũ kỹ, đêm đêm bà còn
"khấn thầm", nhưng cái hình thức mê tín ấy thể hiện một ước mơ thiết thực và
tiến bộ: bủ khấn thầm cho con: '' bao giờ hết giặc, về quê", bởi bủ thương con,
nhớ con Thương nhớ đến xót xa, nhưng "Càng lo càng nghĩ, càng căm, càng
thù" Đọc những vần thơ của Tố Hữu, càng thấy hay và thầm thía, bởi đó là thơ
chân thực, thơ của nội tâm con người Mỗi câu nói đơn sơ của Bà mẹ Việt Bắc
nhưng lại lắng đọng một ý nghĩa thật sâu xa, da diết đi vào lòng người đọc:
Tôi ôm lấy nó Tôi kể trước sau Nỗi nhà mất bố Nỗi anh chết tù Mắt nó đỏ nọc
Thoạt trông thấy nó Tôi chẳng biết ai
Nó cao hơn bố Tôi chỉ bằng vai Bộ nó rõ oai Trước nó lam lũ Bây giờ thấy sang
( Bà mẹ Việt Bắc, 1948)
Mỗi bà mẹ trong thơ Tố Hữu có một cảnh ngộ, tính cách và tâm trạng
riêng Bà mẹ Việt Bắc thì như vậy Còn Bà má Hậu Giang trước đó trong Từ ấy
lại có một vẻ cứng cỏi, hiên ngang đặc biệt Nam Bộ:
Má hét lớn tụi bay đồ chó Cướp nước tao, cắt cổ dân tao
Tao già không sức cầm dao Giết bay có các con tao trăm vùng
( Bà má Hậu Giang, 1941)
Trang 27Hay cuộc đời của bà mẹ Tơm sau này trong Gió lộng một cuộc đời lặng lẽ,
âm thầm mà rất đẹp:
Sống trong cát, chết vùi trong cát Những trái tim như ngọc sáng ngời
( Mẹ Tơm, 1961)
Có thể nói, với Việt Bắc và trước đó là Từ ấy và về sau là Gió lộng, Tố
Hữu là nhà thơ đầu tiên thể hiện rất đẹp hình ảnh người mẹ trong thơ hiện đại
Gắn với từng thời kỳ lịch sử, từng miền đất, từng cảnh ngộ khác nhau, tuy mang
những dấu ấn riêng, nhưng các mẹ đều có những đặc điểm chung của bà mẹ cách
mạng Việt Nam là: hy sinh, nhẫn nại, chịu đựng mọi gian khổ, can trường, yêu
thương cán bộ, bộ đội, một lòng vì đất nước
2 Bên cạnh những bà mẹ, Tố Hữu cũng ghi lại hình ảnh những cô gái"
phá đường" Những người phụ nữ nông thôn theo lời kêu gọi của Chính phủ, đi
phá đường để chặn xe cơ giới của địch Đó là chị phụ nữ Bắc Giang:
Nhà em phơi lúa chửa khô
Ngô chửa vào bồ, sắn thái chưa xong
Nhà em con bế con bồng
Em cũng theo chồng đi phá đường quan
( Phá đường, 1948)
Người phụ nữ nông thôn đó đã đấu tranh và giải quyết được mâu thuẫn
một cách vui vẻ giữa việc nước và việc nhà, và công tác với một tinh thần thi
đua phấn khởi Tố Hữu viết rất thực, đúng như những gì vốn có ở tinh thần, ý
chí của người phụ nữ
Hì hà hì hục Lục cục lào cào Anh cuốc em cuốc
Đá lở đất nhào !
( Phá đường, 1948)
Vĩ đại thay, cuộc kháng chiến đã làm cho họ lớn lên Trong công tác, phụ
nữ đã không thua nam giới Họ thách nhau" thử ai tài hơn ai" trong bất cứ nhiệm
vụ nào, nhằm góp sức cho kháng chiến:
Ta thi nhau thử, ai tài hơn ai?
Anh tài thì em cũng tài Đường dài ta xẻ, sức dai ngại gì!
Có hố này chờ chôn sống mày đây
Ớ anh ớ chị nhanh tay
Nhanh tay ta cuốc, chôn thây quân thù !
( Phá đường, 1948)
Công việc phá đường diễn ra vào thời gian đêm khuya gió rét, khiến ta càng cảm thấy nỗi gian nan, vất vả của các chị phụ nữ Nhưng không, thời tiết khắc nghiệt đó không làm các chị nản lòng, tiếng cuốc vẫn vang lên đều đều với một tinh thần lao động vui say:
Đêm nay gió rét trăng lu Rộn nghe tiếng cuốc chiến khu phá đường
( Phá đường, 1948)
Bài Phá đường là thành công hoàn hảo đầu tiên của thơ kháng chiến, thật là
mới, thật là trẻ, gân guốc thanh xuân, nhịp đi thoăn thoắt, lời thơ trong trẻo, điệu