1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sáng kiến kinh nghiệm. Mở rộng vốn từ. Lớp 2

18 2,6K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 147 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sáng kiến kinh nghiệm dạy tốt môn Tiếng Việt lớp 2, bài mở rộng vốn từ. Như chúng ta đã biết: Bản chất của ngôn ngữ không phải là đặc trưng về nòi giống, chủng tộc. Ngôn ngữ cũng không phải là một hiện tượng tự nhiên. Mà bản chất ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, một hiện tượng xã hội đặc biệt, nhưng chức năng của ngôn ngữ lại vô cùng quan trọng. Nó là phương tiện dùng để giao tiếp, là phương tiện dùng để tư duy và trọng tâm vấn đề này nó nằm trong môn Tiếng Việt.

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2

A ĐẶT VẤN ĐỀ

LỜI MỞ ĐẦU:

Như chúng ta đã biết: Bản chất của ngôn ngữ không phải là đặc trưng về nòi giống, chủng tộc Ngôn ngữ cũng không phải là một hiện tượng tự nhiên

Mà bản chất ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, một hiện tượng xã hội đặc biệt, nhưng chức năng của ngôn ngữ lại vô cùng quan trọng Nó là phương tiện dùng để giao tiếp, là phương tiện dùng để tư duy và trọng tâm vấn đề này nó nằm trong môn Tiếng Việt Bởi vì: Tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ, là tiếng nói chung của các dân tộc trên đất nước Việt Nam Học tốt môn Tiếng Việt nói chung sẽ giúp học sinh có một vốn từ phong phú, đa dạng, từ đó học sinh sẽ giao tiếp tốt hơn, tư duy tốt hơn Đó là cơ sở để các em học tốt tất cả các môn học khác, và cao hơn là cơ sở để các em phát triển toàn diện thành con người của thời đại mới Trong chương trình giảng dạy ở trường Tiểu học môn Tiếng Việt có một vị trí rất quan trọng Nó trang bị cho học sinh vốn từ ngữ, phương pháp sử dụng từ, đặt câu một cách chính xác để giúp các em diễn đạt được tư tưởng, tình cảm của mình một cách rõ ràng Việc dạy và học tốt môn Tiếng Việt sẽ góp phần giáo dục nhân cách và cung cấp cho các em kiến thức cơ bản

về vốn từ để hình thành kĩ năng sử dụng Tiếng Việt( nghe, nói, đọc, viết) đáp ứng với yêu cầu cuộc sống và nhu cầu giao tiếp bằng ngôn ngữ

Vậy làm thế nào để mở rộng vốn từ cho học sinh? Đặc biệt đối với học sinh lớp 2 vốn từ của các em chưa được bao nhiêu, còn ít và rất nghèo nàn Đó là một điều không dễ dàng gì mà có được trong ngày một, ngày hai

và là cả một quá trình nỗ lực rèn luyện của cả thầy trò, và của cả toàn xã hội Vì vậy, bản thân tôi, trong năm học 2014 - 2015 được nhận nhiệm vụ dạy lớp 2, tôi rất băn khoăn, lo lắng luôn trăn trở và đặt ra câu hỏi là tôi phải làm gì? Làm như thế nào? để học sinh lớp tôi có vốn từ phong phú Chính vì

vậy mà tôi chọn cho mình đề tài: “Một số biện pháp rèn kỹ năng mở rộng vốn từ” cho học sinh Lớp 2.

Trang 2

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I CƠ SỞ LÍ LUẬN:

Môn Tiếng Việt trước hết là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, điều đó nói lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh Học tốt môn Tiếng Việt sẽ có tác động tích cực đến kết quả học tập các môn học khác

Mục tiêu của môn Tiếng Việt trong trường tiểu học là nhằm đào tạo, cung cấp cho các những kiến thức để khi các em học xong có một trình độ dùng từ, đặt câu chính xác, nói được, viết được những gì muốn thể hiện theo đúng ngữ pháp Tiếng Việt Đó cũng chính là đào tạo ra con người biết giao tiếp trong đời sống

Môn Tiếng Việt còn giáo dục cho người học những tư tưởng tốt đẹp: yêu tiếng nói và chữ viết của dân tộc, yêu cái đẹp…

Trọng tâm của việc rèn kỹ năng sử dụng vốn từ cho học sinh là cung cấp cho các em những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt( nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi

Xác định dược vị trí và tầm quan trọng của việc sử dụng vốn từ của học sinh Qua thực tế giảng dạy tôi đã nghiên cứu và tìm ra một số biện pháp để tích cực hóa “ Mở rộng vốn từ” cho học sinh lớp 2

Trang 3

II THỰC TRẠNG, KẾT QUẢ THỰC TRẠNG:

1 Thực trạng:

Qua nhiều năm giảng dạy ở lớp 2, qua việc dự giờ, thăm lớp ở trường mình Tôi nhận thấy, vốn từ của học sinh còn rất nghèo nàn, do vậy mà các

em rất lúng túng, khó khăn trong diễn đạt, trong giao tiếp và tư duy Vấn đề này do cũng nhiều nguyên nhân: Nguyên nhân từ phía người học (ở lớp 1, các

em đang chú trọng về việc phát âm mà chưa đi sâu vào mở rộng vốn từ, một

số em còn hạn chế về việc nhận thức Bên cạnh đó, một số phụ huynh còn ỉ lại, họ xem việc học tập của con cái phụ thuộc hoàn toàn vào nhà trường mà chưa kèm cặp, kiểm tra việc học ở nhà cho học sinh); nguyên nhân từ phía giáo viên, trong thực tế giảng dạy trước đây, chúng tôi cũng chỉ mới chú trọng mở rộng vốn từ cho học sinh chủ yếu là phân môn luyện từ và câu mà chưa chú trọng nhiều vấn đề mở rộng vốn từ cho học sinh trong các môn học - các phân môn khác và cũng từ các nguyên nhân khác như điều kiện môi trường

2 Kết quả thực trạng:

Năm học 2014- 2015 tôi được phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 2D Qua việc giảng dạy trên lớp tôi đã nắm bắt được những thiếu hụt về sử dụng vốn từ của học sinh Để nắm bắt cụ thể tôi tiến hành khảo sát chất lượng, tôi phân thành 4 mức kết quả như sau:

Mức 1 3 10% -Vốn từ phong phú, kỹ năng sử dụng vốn

từ trong diễn đạt, kỹ năng giao tiếp tốt

- Vốn từ khá nhiều, đã biết lựa chọn vốn

từ phù hợp với mục đích, đối tượng giao tiếp

Mức 3 13 46% - Vốn từ ít, kĩ năng sử dụng vốn từ trong

diễn đạt, giao tiếp còn lúng túng

Mức 4 6 22% - Vốn từ quá ít, cách dùng từ, trong diễn

đạt, giao tiếp chưa hợp lý

Trang 4

Kết quả khảo sát cho thấy số lượng học sinh ở mức 3, mức 4 vốn từ của các em còn ít, quá ít, kĩ năng sử dụng vốn từ còn lúng túng, chưa biết cách diễn đạt Số lượng học sinh ở 2 mức này còn nhiều Từ những thực trạng trên

và qua thực tế giảng dạy tôi tìm ra một số giải pháp, biện pháp sau:

III CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:

1.Nghiên cứu kĩ nội dung chương trình của môn Tiếng Việt lớp 2,đầu

tư thời gian vào việc xây dựng kế hoạch bài học để giảng dạy trên lớp

2 Vận dụng phương pháp tích cực - đặc thù bộ môn - thể hiện tính tích hợp ( về nội dung ) và tính tích cực ( về phương pháp ) trong mỗi bài soạn

3.Cho học sinh tiếp thu kiến thức bằng nhiều cách, đặc biệt tập trung vào việc hướng đẫn học sinh thông qua trực quan rút ra kiến thức giúp các

em tự giác, hứng thú học tập Các em hiểu bài sâu không nhớ máy móc, linh hoạt trong khi làm bài

4 Xác định tình hình chung về khả năng nhận thức - khả năng mở rộng vốn từ của học sinh lớp mình

5.Tham khảo tài liệu có liên quan đến môn Tiếng Việt lớp 2

IV CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:

1 Xác định đúng cấu trúc chương trình Tiếng Việt lớp 2

Như chúng ta đã biết: Tiếng việt 2 được xây dựng theo 2 trục là chủ điểm và kỹ năng Trong đó chủ điểm được lấy làm khung cho cả cuốn sách, còn kỹ năng được lấy làm khung cho từng tuần, từng đơn vị học Cấu trúc của sách gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị gắn với một chủ điểm Các chủ điểm cùng nằm ở 4 mảng: gia đình, nhà trường, thiên nhiên và xã hội Mỗi chủ điểm được chia làm 4 chủ điểm nhỏ Ví dụ: chủ điểm nhà trường được tách thành 4 chủ điểm nhỏ: Em là học sinh; Bạn bè; Trường học; Thầy cô

Chủ điểm gia đình được chia nhỏ thành các chủ điểm: Ông bà; Cha mẹ; Anh em; Bạn trong nhà

Chủ điểm thiên nhiên gồm 5 chủ điểm nhỏ: Bốn mùa; Chim chóc; Muông thú; Sông biển; Cây cối

Trang 5

Còn chủ điểm xã hội ở lớp 2 mới chỉ đề cập đến 2 chủ điểm nhỏ: Bác Hồ; Nhân dân

Bên cạnh các tuần học theo từng chủ điểm, trong mỗi học kỳ còn có một tuần giữa và một tuần cuối dành ôn tập và kiểm tra

Về cấu trúc của đơn vị học: Mỗi đơn vị học gồm 2 tuần, trừ chủ điểm Nhân dân là nội dung khá rộng nên học trong 3 tuần Trong mỗi tuần học sinh học từng phân môn với thứ tự sau: Tập đọc (2 tiết); Kể chuyện (1 tiết); Chính

tả (1 tiết), Tập đọc (1 tiết), Luyện từ và câu (1 tiết), Tập viết (1 tiết); Chính tả (1 tiết) và Tập làm văn (1 tiết)

2.Xác định đúng mục tiêu, nội dung Tiếng việt 2 theo phương pháp mới như thế nào? (phải đọc kỹ sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu tập huấn và các tài liệu liên quan khác).

Ta thấy rằng: dựa trên cấu trúc Tiếng việt 2 được xây dựng qua những chủ điểm như trên Các chủ điểm, bài học trong từng chủ điểm gần gũi, quen thuộc, gắn bó hàng ngày với các em Nếu giáo viên vận dụng tốt mọi phương pháp dạy học sẽ giúp học sinh hệ thống, nắm nội dung bài, mở rộng vốn từ một cách dễ dàng Ngược lại sẽ không có hiệu quả sẽ gây sự nhàm chán cho học sinh, gây cho học sinh tính chủ quan, xem nhẹ vấn đề, xem nhẹ nội dung bài học trong trường hợp giáo viên không vận dụng tốt các phương pháp đó

Bằng việc nắm chủ điểm, tổ chức dạy học theo chủ điểm, giáo viên dẫn dắt học sinh đi dần vào các lĩnh vực của đời sống, qua đó tăng cường vốn từ, vốn diễn đạt của các em về nhà trường, gia đình và xã hội…

Mở rộng vốn từ cho học sinh phải chú trọng dạy Tiếng Việt theo nhiều quan điểm: giao tiếp, Tích hợp, Tích cực… phải xác định tầm quan trọng của việc kênh hình ở sách giáo khoa, việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong môn Tiếng Việt cũng như việc chuẩn bị của giáo viên

3 Xác định tình hình chung về khả năng nhận thức kỹ năng mở rộng vốn từ của học sinh lớp mình:

Trang 6

Giáo viên phải lập kế hoạch, bám sát, tìm hiểu tình hình chung về đặc điểm, khả năng nhận thức, khả năng mở rộng vốn từ, khả năng giao tiếp của học sinh lớp mình dạy … tôi nhận thấy điều kiện để trao đổi, học hỏi, sinh hoạt…của học sinh lớp tôi, trường tôi không thuận lợi như trường bạn, khả năng nhận thức chung của học sinh trong trường, trong lớp cũng không đồng đều, còn chênh lệch… Vì vậy mà việc dạy - học cũng gặp rất nhiều khó khăn

4 Tiến hành phân loại đối tượng học sinh:

Sau khi xác định được tình hình chung như trên, bắt đầu từ tuần học thứ hai, tôi tiến hành phân loại học sinh

Tổng số học sinh lớp là 28 em, tôi phân làm 4 nhóm, tương ứng với 4 mức như phần khảo sát

Sau khi đã phân loại học sinh theo 4 nhóm, tôi tiếp tục tìm hiểu, xác định nguyên nhân dẫn đến kết quả sử dụng vốn từ của mỗi nhóm, tôi rút ra được những nguyên nhân chủ yếu sau:

a Đối với nhóm được xếp ở mức 1: những em này, có tầm nhận thức

nhìn chung là tốt Ngoài ra các em là những học sinh mạnh dạn, sôi nổi, tự tin, tích cực phát biểu, xây dựng bài, hay đọc sách, đọc báo, hay tham gia vào các hoạt động tập thể

b Đối với nhóm học sinh được xếp ở mức 2:

Khả năng nhận thức, tiếp thu bài vào loại tương đối tốt, vốn từ khá phong phú, ý thức tự học tốt Song, các em chưa thật mạnh dạn, ít hoặc còn ngại tham gia vào các hoạt động tập thể, còn trầm, ít trao đổi với bạn bè, người lớn

c Đối với nhóm học sinh xếp ở mức 3:

thường, ý thức học tập chưa cao, trầm, không mạnh dạn, không tham gia vào các hoạt động tập thể

d Đối với nhóm xếp ở mức 4:

Trang 7

Ở đây, chủ yếu nằm trong số học sinh, gia đình thuộc hộ nghèo, bố

mẹ đi làm ăn ở với ông bà Vì vậy mà không những không có vốn từ mà nhiều em không còn muốn học Các em không có điều kiện học tập, giao tiếp, hoàn cảnh lại đặc biệt Các em rụt rè, thiếu tự tin còn mặc cảm với bạn bè mà thậm chí nhiều lúc cô gọi đọc bài các em còn ngại Nói chung, vốn từ của các em còn quá ít (chưa có vốn từ)

Sau khi đã nắm và xác định được đối tượng học sinh có nguyên nhân giống nhau, Giáo viên từ đó mà xác định được phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng tôi đã chọn phương pháp cụ thể hóa từng đối tượng học sinh

dụng ngôn ngữ tốt thì ngoài việc thực hiện mục tiêu của từng môn học, bài học (Trong môn Tiếng Việt), tôi có thể ra thêm nhiều bài tập các dạng khác nhau, đòi hỏi kỹ năng sử dụng vốn từ nhiều, khuyến khích các em đọc sách, báo viết chuyện (theo khả năng, lứa tuổi của mình) nhằm phát huy kỹ năng giao tiếp Hoặc đối với đối tượng học sinh mà vốn từ còn ít, quá ít như đối tượng học sinh dân tộc thì phải kiên trì, cần cung cấp dần những từ ngữ đầu tiên, sơ giản, để học sinh trước hết là có thể tiếp cận với hoạt động học,

vỡ vạc dần những tri thức được cung cấp Trong phạm vi dạy từ ngữ cho học sinh dân tộc không đơn thuần là dạy nghĩa từ mà phải bao gồm dạy nghe, dạy nói, dạy đọc, dạy viết, dạy nghĩa từ, dạy sử dụng từ ngữ, dạy sản sinh ngôn bản Tìm ra điểm thiếu hụt về sử dụng từ chung nhất của đối tượng học sinh này là gì (về đọc, viết, nói hay về diễn đạt ?)

Sau đó tiếp tục truy tìm ra nguyên nhân yếu điểm đó là do cái gì: do khả năng, do thói quen hay do điều kiện tiếp xúc, học hỏi…sau đó giáo viên tiếp tục tìm ra phương pháp dạy học, bồi dưỡng vốn từ cho học sinh: có thể cùng một lúc dạy luôn cả bốn kỹ năng: Nghe, đọc, nói, viết hay dạy từng bước, từng kỹ năng một hoặc kết hợp rèn hai kỹ năng một lúc với nhau Thậm chí trong nhóm học sinh này giáo viên phải một bước nữa tách nhỏ học sinh

Trang 8

trong nhóm để có kế hoạch phụ đạo, bổ sung vốn từ bằng các phương pháp khác nhau Tuy nhiên để làm được việc này không chỉ ngày một ngày hai mà giáo viên cần có thời gian, sự kiên trì, chịu khó trong một quá trình, trong cả giai đoạn, trong cả năm học, liên kết năm học này với năm học khác thì mới

có hiệu quả

Thông qua việc rèn luyện kỹ năng nghe, tức là dạy các em tiếp nhận âm thanh ngôn ngữ học sinh nghe giáo viên dùng từ, đặt câu, diễn đạt, thuyết trình

ở trên lớp Vì vậy, từ trong giọng đọc, trong lời nói của giáo viên phải dịu dàng, giáo viên phải nói, đọc đúng cường độ, tốc độ, cao độ sao cho phụ hợp với bài, phù hợp với trình độ tiếp thu của học sinh Để đạt được mục đích dạy từ ngữ, giáo viên cần đọc liền hơi các từ ghép, các cụm từ cố định, ngắt nghỉ hơi, nhấn giọng cần chính xác

Còn trong khi rèn luyện kỹ năng đọc, nói, viết, cần giúp các em đọc, nói, viết đúng từ ngữ Muốn vậy, giáo viên cần sử dụng nhiều phương pháp như: rèn luyện theo mẫu, chữa lỗi dựa vào cấu âm, phương pháp luyện tập tổng hợp và phân tích, phương pháp đi từ âm sai đến âm đúng qua âm trung gian

Trong đó việc rèn luyện theo mẫu (tức việc đọc mẫu của giáo viên) là cực kỳ quan trọng Nhưng hiện nay việc đọc mẫu của giáo viên cũng không phải là chuyện dễ dàng, không phải giáo viên nào cũng làm được vì việc xác định chỗ ngắt nhịp, ngắt nghỉ hơi trong câu văn, câu thơ nhiều lúc chúng ta còn lúng túng Ngắt nhịp sai sẽ dẫn đến mục tiêu dạy đọc, nghe, cảm thụ từ, ngữ, câu, bài sẽ không hiệu quả nếu không nói có khi sẽ lệch lạc nội dung bài Vì vậy giáo viên cần nắm được những căn cứ sau đây:

Khi dạy học sinh ngắt nhịp thơ, văn:

Cần bám sát ý nghĩa của câu văn, câu thơ, các cụm từ, hình ảnh, âm thanh các từ có mặt trong câu

Cần xác định đúng cấu trúc ngữ pháp của câu, của các cụm từ, các từ Cần bám sát cảm xúc, ý định của người viết cộng hưởng cảm xúc của người đọc

Trang 9

Đối với việc rèn luyện kỹ năng nói, giáo viên phải có hình thức chăm lo, uốn nắn các trường hợp dùng từ thiếu chính xác, có thể qua đó giáo viên cung cấp cho học sinh một số từ đồng nghĩa, trái nghĩa giáo viên hướng dẫn học sinh tìm nhiều dạng từ cùng dạng, từ có thể thay thế từ đã cho

Đặc biệt khi dạy học sinh các kỹ năng đọc, nói, thì yêu cầu quan trọng đầu tiên là học sinh phải đọc, nói to Bởi vì:

Đối với học sinh có kỹ năng đọc và nói tốt thì mỗi lần đọc, nói của học sinh được xem như một lần đọc mẫu, nói mẫu của giáo viên để học sinh khác học tập Không những thế mà còn tạo sự tập trung trong học tập của các em

Hơn nữa khi học sinh đọc, nói to thì giáo viên cũng như các bạn trong lớp mới có thể phát hiện chỗ chưa đúng và sửa chữa kịp thời Vì vậy đọc nói to

có tác dụng không chỉ với một em đó mà còn có tác dụng với các em khác khi biết chưa đúng và được giáo viên sửa chữa

Nói cách khác đọc và nói tốt không chỉ vốn từ được mở rộng mà còn sử dụng vốn từ một cách chính xác

Ngoài ra đối với học sinh chưa hoàn thành về kiến thức, kĩ năng, hàng ngày bằng sự nhiệt tình, nhẫn nại của mình giáo viên có thể kèm học sinh luyện đọc riêng (thêm) trong các giờ như sinh hoạt 15 phút, trong các giờ ra chơi hoặc có thể cho học sinh đọc tốt kèm những học sinh đọc chưa tốt Làm được thế chắc chắn kết quả đọc của những em đó sẽ được nâng lên rõ rệt, điều đó sẽ làm cho các em thuận lợi hơn trong giao tiếp trong kỹ năng đọc, viết và làm bài, kỹ năng mở rộng vốn từ, sử dụng vốn từ ngày càng hoàn thiện

Đối với việc dạy từ ngữ trong hoạt động viết là dạy học sinh phải viết đúng, viết hay, sử dụng từ trong văn bản phải đúng âm, đúng ý nghĩa, chú ý ở các dạng bài tập Thường xuyên cho học sinh mở rộng vốn từ phong phú trong một tiết Luyện từ và câu theo chủ đề Nếu có thời gian thì trong các tiết luyện tập giáo viên cần phân theo chủ đề hai tuần học như ở sách giáo khoa

để yêu cầu học sinh tìm từ hoặc có thể chia lớp ra thành các nhóm, mỗii nhóm

Trang 10

có nhiệm vụ sưu tầm các vốn từ thuộc chủ đề sau đó giáo viên thu, nhận xét

và sửa chữa để các em được mở rộng vốn từ nhiều hơn

Đối với dạy nghĩa từ cần chú ý: giảng từ trong đơn vị câu, trong ngữ cảnh; giảng từ gắn liền với hoạt động đọc, hoạt động viết, gắn liền với hành động, giảng từ trên cơ sở những hiểu biết về tiếng mẹ đẻ Ngoài ra, giáo viên còn có thể giúp đỡ, động viên các em bằng nhiều hình thức khác như: Không đặt yêu cầu học tập của các em như các đối tượng học sinh khác trong lớp, số lượng bài tập cũng như mức độ yêu cầu của bài tập thấp hơn để các em có thể làm bài, hoàn thành bài tốt Bên cạnh đó, giáo viên cũng phải chấm bài, nhận xét, sửa chữa kịp thời khen ngợi, động viên từ đó các em có thể tự tin,

có hứng thú hơn trong học tập rèn luyện, sinh hoạt Các em sẽ mạnh dạn hơn trong học tập, giao tiếp rồi trong các giờ sinh hoạt tập thể, những giờ ra chơi, giờ sinh hoạt sao Tôi luôn tạo cho các em được trò chuyện với cô giáo, với các bạn trong và ngoài lớp Từ đó học sinh được mở rộng vốn từ, rèn luyện được kỹ năng sử dụng vốn từ tốt hơn

5 Vận dụng tối đa phương pháp dạy học tích cực:

yêu cầu về kiến thức, kỹ năng của chương trình Tiếng Việt nói chung, chương trình sách giáo khoa lớp 2 nói riêng thì giáo viên phải năng động vận dụng tối

đa phương pháp dạy học theo hướng tích cực, để học sinh chủ động tìm tòi, sáng tạo, tự lĩnh hội tri thức một cách nhẹ nhàng, hiệu quả Giáo viên phải tìm tòi để có thể sử dụng một hoặc kết hợp nhiều phương pháp dạy học trong 1 tiết học

Thay bằng điều kiện, quan điểm và phương pháp dạy học trước đây (như đã nói ở phần đặt vấn đề) là chỉ tập trung, chú trọng mở rộng vốn từ cho học sinh chủ yếu trong phân môn luyện từ và câu, tập đọc thì giờ đây phải biết chú trọng dạy mở rộng vốn từ cho học sinh ở trong tất cả các môn học

Ngày đăng: 02/08/2016, 20:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w