1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định hướng vận dụng giá trị hợp lý trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế

71 531 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận văn NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ Họ tên học viên: PHẠM THỊ LÝ Giới tính: Nữ Ngày, tháng, năm sinh: 25/10/1982 Nơi sinh: Hải Dương Chuyên ngành: Kế toán MSH

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM

-

PHẠM THỊ LÝ

ĐỊNH HƯỚNG VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ

TRONG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH

NGHIỆP TP.HCM THEO CHUẨN MỰC BÁO CÁO

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM

-

PHẠM THỊ LÝ

ĐỊNH HƯỚNG VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TP.HCM THEO CHUẨN MỰC BÁO CÁO

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS MAI THỊ HOÀNG MINH

Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công Nghệ TP.HCM ngày 19

tháng 04 năm 2015

Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận văn sau khi Luận văn đã được sửa chữa

Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận văn

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: PHẠM THỊ LÝ Giới tính: Nữ Ngày, tháng, năm sinh: 25/10/1982 Nơi sinh: Hải Dương Chuyên ngành: Kế toán MSHV: 1341850027

I-Tên đề tài: Định hướng vận dụng giá trị hợp lý trong công tác kế toán tại các doanh

nghiệp Tp.HCM theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế

II- Nhiệm vụ và nội dung:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về giá trị hợp lý theo các chuẩn mực kế toán quốc tế theo IFRS 13

- Phân tích những quan điểm ủng hộ và những quan điểm phản đối giá trị hợp lý

- Phân tích và đánh giá thực trạng nhận thức về sự cần thiết của việc áp dụng IFRS 13

“Đo lường giá trị hợp lý” tại các doanh nghiệp tại Tp.HCM hiện nay

- So sánh việc ghi nhận giá trị hợp lý theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 13

- Nhận diện các nhân tố tác động đến việc vận dụng GTHL vào các doanh nghiệp tại

Trang 3

IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: ngày 15 tháng 03 năm 2015

V- Cán bộ hướng dẫn khoa học : PGS.TS MAI THỊ HOÀNG MINH

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Học viên thực hiện Luận văn

Phạm Thị Lý

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập nghiên cứu tại trường cũng như quá trình làm luận văn, em

đã tích lũy được nhiều kiến thức bổ ích cho công tác hiện tại cũng như trong tương lai

Lời đầu tiên, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tập thể giảng viên Khoa Kế Toán

trường Đại Học Công Nghệ Tp.HCM đã hết lòng dìu dắt em trong suốt hai năm qua Các

thầy cô đã cung cấp cho em những nền tảng lý thuyết và thực hành vững chắc để em làm

hành trang phục vụ cho công việc trong hiện tại và cả tương lai Đặc biệt em xin gửi lời

cảm ơn đến Cô PGS TS Mai Thị Hoàng Minh đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời

gian hoàn thành luận văn

Em xin gửi lời cảm ơn tới 10 chuyên gia đã cho ý kiến để em xây dựng bảng câu hỏi

vả 140 công ty đã tham gia trả lời bảng câu hỏi để em có thể hoàn thành Luận văn này

Mong rằng, kết quả của Luận văn sẽ là một nguồn tài liệu bổ ích để giúp cho các doanh

nghiệp trong việc vận dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế về giá trị hợp lý trong

Luận văn gồm 5 chương với mục tiêu nghiên cứu là hệ thống hóa lý luận về giá trị hợp lý trong chuẩn mực Quốc tế và thực trạng áp dụng trên thế giới, khảo sát đánh giá thực trạng nhận thức về IFRS 13 “Đo lường giá trị hợp lý” tại các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, tìm hiểu các nhân tố tác động đến việc việc vận dụng GTHL vào các doanh nghiệp tại Tp Hồ Chí Minh và đề xuất giải pháp nhằm áp dụng thước đo giá trị hợp lý của Chuẩn mực kế toán Quốc tế vào các doanh nghiệp tại Tp.HCM Về phương pháp nghiên cứu tác giả sử dụng 2 phương pháp chính là phương pháp định tính và phương pháp định lượng Trong phương pháp định tính, tác giả sử dụng phương pháp so sánh và đối chiếu, phương pháp phỏng vấn trực tiếp, phương pháp phân tích và tổng hợp Trong phương pháp định lượng, tác giả sử dụng phần mềm SPSS để thực hiện phân tích thống kê mô tả và phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA Kết quả phân tích từ dữ liệu thông qua phần mềm SPSS chỉ ra rằng mô hình khả năng vận dụng giá trị hợp lý vào công tác kế toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn Tp.HCM bị phụ thuộc vào 5 yếu tố bao gồm nhu cầu thông tin, môi trường văn hóa xã hội, môi trường giáo dục, môi trường chuyên nghiệp và mức độ hội nhập, trong đó môi trường giáo dục là nhân tố tác động mạnh nhất lên mô hình Theo số liệu được phân tích từ phần mềm SPSS, mô hình với 5 yếu tố nêu trên giải thích được 60,3%, phần còn lại là các yếu

tố khác chưa được khám phá

Trong Luận văn tác giả có đề nghị những giải pháp nhằm thúc đẩy năm yếu tố trên đồng thời cũng đưa ra một số các kiến nghị dành cho Chính phủ, Quốc Hội, Bộ Tài Chính, các Hiệp hội nghề nghiệp, các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp tại Tp.HCM

Trang 5

ABSTRACT

Even though fair value is a new term in accounting comparing to other evaluation

system, it is considered as a new way of evaluation in accouting As a result, a study

about applying fair value in accounting work in enterprises in Ho Chi Minh City that

complies with international financial reporting standards plays a very important role for

them

The thesis consists of five chapters with the goal of research is to systematize

theoretical fair value in the international financial reporting standards and status quo of

worldwide applications It also assesses the current cognition of IFRS 13 “Fair value

measurement” and finds out elements affecting to the application of fair value on

companies located in Ho Chi Minh City Moreover, it suggests the solutions of applying

fair value complying with international financial reporting standards to firms in Ho Chi

Minh City Regarding research methodology authors used two main methods are

qualitative methods and quantitative methods In qualitative methods, the authors use the

method to compare and contrast, direct interviews, analysis and synthesis In quantitative

methods, the authors use SPSS software to perform descriptive statistical analysis and

exploratory factor analysis (EFA)

Results from data analysis through SPSS software models indicate that the ability to

apply fair value accounting in the business in Ho Chi Minh City depending on five

factors including the need for information, social and cultural environment, educational

environement, professional environment and the level of integration According to the

results, educational environement is the factor affected the greatest level on the model

The data analysis software from SPSS provides that the model explaining 60.3% and the

rest are other factors yet to be discovered

The author suggests several solutions to foster the above mentioned five factors and

also provides suggestions for government, congress, ministry of finance, professional

associations, institutions and firms in Ho Chi Minh City

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 IFRS: Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế

2 IASB: Ủy ban Chuẩn mực Kế Toán Quốc tế

3 IFRS 13: Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế số 13 về “Đo lường giá trị hợp lý”

4 TPP: Hiệp định kinh tế xuyên Thái Bình Dương

5 GTHL: Giá trị hợp lý

6 EFA: Phương pháp phân tích nhân tố khám phá

7 IAS: Chuẩn mực kế toán quốc tế

8 VN: Việt Nam

9 Tp.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

10 ARBs: Ủy ban Thủ Tục Kế Toán

11 APBs: Ủy Ban Nguyên Tắc Kế Toán

12 AICPA: Viện kế toán viên công chứng Mỹ

13 FASB: Ủy Ban Chuẩn Mực Kế Toán Tài Chính Hoa Kỳ

14 IFAC: Liên đoàn kế toán quốc tế

15 IOSCO: Ủy Ban Chứng Khoán Quốc Tế

16 KPMG: Công ty kiểm toán KPMG

17 SAC: Hội đồng cố vấn chuẩn mực

18 IFRIC: Ủy ban hướng dẫn các chuẩn mực báo cáo tài chính

19 US GAAP: Chuẩn mực kế toán chung được thừa nhận tại Mỹ

20 VAS: Chuẩn mực kế toán Việt Nam

21 TĐGVN 07: Hệ Thống Tiêu Chuẩn Thẩm Định Giá Việt Nam - Tiêu chuẩn số 07

22 TĐGVN 08: Hệ Thống Tiêu Chuẩn Thẩm Định Giá Việt Nam - Tiêu chuẩn số 08

23 TĐGVN 09: Hệ Thống Tiêu Chuẩn Thẩm Định Giá Việt Nam - Tiêu chuẩn số 09

24 TĐGVN 10: Hệ Thống Tiêu Chuẩn Thẩm Định Giá Việt Nam - Tiêu chuẩn số 10

25 TĐGVN 11: Hệ Thống Tiêu Chuẩn Thẩm Định Giá Việt Nam - Tiêu chuẩn số 11

26 CMKT: Chuẩn mực kế toán

Trang 6

2 Bảng 2.2: Một vài ví dụ về dữ liệu đầu vào cấp 2 37

3 Bảng 2.3: Một vài ví dụ về dữ liệu đầu vào cấp 3 38

4 Bảng 3.1: Định nghĩa giá trị hợp lý trong các chuẩn mực kế toán

Việt Nam

48

5 Bảng 3.2: Phạm vi áp dụng giá trị hợp lý trong các chuẩn mực

kế toán Việt Nam

50

6 Bảng 3.3: Nhận thức về lợi ích của việc áp dụng GTHL vào

công tác kế toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn Tp.HCM

62

7 Bảng 3.4: Nhận thức về các khó khăn khi áp dụng GTHL vào

công tác kế toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn Tp.HCM

10 Bảng 4.2: Kiểm định KMO và Barlett’s Test cho biến độc lập 75

11 Bảng 4.3: Bảng tổng phương sai được giải thích cho biến độc 76

lập

12 Bảng 4.4: Ma trận xoay nhân tố của biến độc lập 77

13 Bảng 4.5: Kiểm định KMO và Barlett’s Test cho biến phụ thuộc 78

14 Bảng 4.6: Bảng tổng phương sai được giải thích cho biến phụ thuộc

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH

3 Hình 2.1: Sơ đồ xác định mức độ sử dụng cao nhất và tốt nhất

đối với

42

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ……… ii

Tóm tắt ……… iii

Abstract……… iv

Danh mục các từ viết tắt ……… v

Danh mục các bảng ………vi

Danh mục các biểu đồ, đồ thị, sơ đồ, hình ảnh ………viii

Mục lục ……… ix

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 GIỚI THIỆU: 1

1.1.1Đặt vấn đề 1

1.1.2 Tính cấp thiết của đề tài 2

1.2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 3

1.2.1Mục tiêu đề tài 3

1.2.2 Nội dung nghiên cứu 3

1.2.3 Phương pháp nghiên cứu 4

1.3 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 5

1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 5

1.5 KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 6

1.6 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7

1.6.1 Đối tượng nghiên cứu: 7

1.6.2 Phạm vi nghiên cứu: 7

1.7 Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 7

1.8 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 7

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 9

Trang 8

CHƯƠNG 2:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ 10

2.1 LỊCH SỬ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG KẾ TOÁN 10

2.2.1Vài nét về Ủy Ban Chuẩn Mực Kế Toán Tài Chính Hoa Kỳ (FASB) và Ủy Ban Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế (IASB) 10

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển giá trị hợp lý 12

2.2 TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT NỀN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 14

2.2.1 Xu hướng và phương pháp hội nhập vào chuẩn mực kế toán báo cáo tài chính quốc tế……… 14

2.2.2 Các nhân tố tác động đến việc hệ thống kế toán của quốc gia khi hội nhập vào chuẩn mực kế toán báo cáo tài chính quốc tế 16

2.3 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 20

2.3.1Các nghiên cứu trên thế giới 20

2.3.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 23

2.4 NHẬN XÉT VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 26

2.4.1 Nhận xét về các nghiên cứu trước 26

2.4.2 Xác định vấn đề nghiên cứu 27

2.5 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ IFRS 13 28

2.5.1 Mục tiêu IFRS 13 28

2.5.2 Nội dung chính trong IFRS 13 28

2.6 NỘI DUNG VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ THEO IFRS 13 29

2.6.1 Khái niệm và một số các thuật ngữ được sử dụng trong giá trị hợp lý: 29

2.6.2 Phạm vi áp dụng của giá trị hợp lý đối với các chuẩn mực kế toán quốc tế/chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế 31

2.6.3 Phương pháp đo lường giá trị hợp lý 35

2.6.4 Phương thức ghi nhận giá trị hợp lý trong một số trường hợp 40

2.7 CÁC QUAN ĐIỂM TRANH LUẬN VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ 43

2.8 VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 45

2.8.1 Việc vận dụng giá trị hợp lý tại Úc 45

2.8.2 Vận dụng giá trị hợp lý tại Singapore 46

2.8.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 46

KÊT LUẬN CHƯƠNG 2 48

CHƯƠNG 3: 49

THỰC TRẠNG KẾ TOÁN GIÁ TRỊ HỢP LÝ ĐƯỢC ÁP DỤNG TRONG HỆ THỐNG KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 49

3.1 LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH CÁC QUY ĐỊNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN GIÁ TRỊ HỢP LÝ TẠI VIỆT NAM 49

3.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ ĐANG ĐƯỢC ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM 55 3.2.1 Phương pháp so sánh 55

3.2.2 Phương pháp chi phí 56

3.2.3 Phương pháp thu nhập 57

3.2.4 Phương pháp thặng dư 59

3.2.5 Phương pháp lợi nhuận 60

3.3 THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ÁP DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ THEO IFRS13 VÀO CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM 61

3.3.1 Phương pháp tiến hành 62

3.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 62

3.3.3 Tổng hợp kết quả và nhận xét 62

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 66

CHƯƠNG 4: 67

Trang 9

XÂY DỰNG MÔ HÌNH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG GIÁ TRỊ

HỢP LÝ THEO IFRS13 VÀO CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP

TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM 67

4.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 67

4.1.1 Phương pháp định tính 67

4.1.2 Phương pháp định lượng 68

4.2 XÂY DỰNG MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ VÀO CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM 70

4.2.1 Mô hình kinh tế lượng để phân tích tác động của các nhân tố đến việc vận dụng giá trị hợp lý vào công tác kế toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn Tp.HCM 70

4.2.2 Xây dựng thang đo 71

4.2.3Các thông số quan trọng trong mô hình xây dựng thang đo 72

4.2.4Kết quả nghiên cứu 73

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 83

CHƯƠNG 5: 84

MỘT SỐ CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ TRONG VIỆC VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ VÀO CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM 84

5.1 CÁC GIẢI PHÁP VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ VÀO CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 84

5.1.1 Nhóm giải pháp nhằm nâng cao nhu cầu thông tin của doanh nghiệp 84

5.1.2 Nhóm giải pháp nhằm nâng cao môi trường văn hóa, xã hội 87

5.1.3 Nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng môi trường giáo dục 88

5.1.4 Nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng môi trường chuyên nghiệp 89

5.1.5 Nhóm giải pháp nâng cao mức độ hội nhập quốc tế 90

5.2 MỘT SỐ CÁC KIẾN NGHỊ 91

5.2 1 Đối với Chính phủ, Quốc Hội và Bộ Tài Chính 91

5.2.2 Đối với các Hiệp hội nghề nghiệp 92

5.2.3 Đối với các cơ sở đào tạo 92

5.2.4 Đối với các doanh nghiệp trên địa bàn Tp.HCM 92

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 94

KẾT LUẬN CHUNG 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO ………96

Trang 10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 GIỚI THIỆU:

1.1.1 Đặt vấn đề

Sau khi cả thế giới thực hiện Hiệp ước Basel II và chứng nhận Chuẩn mực báo cáo tài

chính quốc tế (IFRS) của Ủy ban Chuẩn mực Kế Toán Quốc tế (IASB), kế toán theo giá

trị hợp lý đã trở thành xu hướng chủ đạo của những người lập ra Chuẩn mực kiểm toán

và kế toán Theo rất nhiều nghiên cứu trên thế giới, giá trị hợp lý mang lại rất nhiều lợi

ích cho doanh nghiệp như giúp tăng độ minh bạch của các thông tin được sử dụng trong

báo cáo tài chính, từ đó làm tăng độ tin cậy và thích hợp cho các thông tin này Ngoài ra,

việc sử dụng sâu rộng giá trị hợp lý còn giúp tăng số lượng thông tin cho các chủ thể

trong nền kinh tế, nhờ đó mà việc phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế trở nên hiệu quả

hơn

Hiện nay tại Việt Nam, tuy phương pháp giá gốc vẫn là phương pháp chủ đạo được sử

dụng trong hầu hết các chuẩn mực kế toán hiện tại trong việc định giá và đo lường các

đối tượng kế toán, song với việc hội nhập vào thị trường thế giới và hội tụ vào các chuẩn

mực và quy ước chung trên thế giới thì việc các nhà chính sách, các nhà nghiên cứu,

những người làm kế toán và kiểm toán tại Việt Nam bắt đầu chú trọng hơn vào giá trị hợp

lý cũng là một điều hợp lý Tuy nhiên, do sự khác biệt về lịch sử, kinh tế, văn hóa, pháp

luật tại mỗi quốc gia, tiến trình hội nhập và hội tụ vào các chuẩn mực báo cáo tài chính

quốc tế là khá khác nhau, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam [16]

Điều này đã làm cho quá trình hội tụ tại Việt Nam vào các chuẩn mực báo cáo tài chính

quốc tế, chẳng hạn như IFRS13 “Đo lường giá trị hợp lý”, gặp phải nhiều khó khăn và

thách thức

Tuy vẫn còn nhiều tranh luận về vai trò và tầm quan trọng của giá trị hợp lý, đặc biệt

là tại các thị trường đang phát triển, nhưng với sự ra đời của IFRS 13 với việc áp dụng ở

rất nhiều các nước trên thế giới, đã cho thấy rằng định hướng sử dụng giá trị hợp lý là

bước đi phát triển và là một xu thế không thể thay đổi

1.1.2 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, nền kinh tế thế giới đã và đang phát triển theo xu hướng toàn cầu hóa Đây là xu hướng phát triển tất yếu của thế giới trong giai đoạn hiện nay và

cả trong tương lai Chính vì vậy, các hoạt động kinh doanh không còn chỉ diễn ra trong phạm vi từng quốc gia mà đã phát triển theo hướng hội nhập vào nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, do đặc điểm lịch sử, kinh tế, luật pháp và thậm chí là cả văn hóa giữa các quốc gia mà các chuẩn mực và thông lệ của từng quốc gia thường có sự khác biệt rất lớn, đặc biệt là về thông tin tài chính được cung cấp trên báo cáo tài chính

Với việc tham gia vào Tổ chức Thương Mại Thế giới và Hiệp định kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), Việt Nam đã, đang và sẽ thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và có cơ hội vươn mình ra thế giới Để tham gia vào sân chơi chung Việt Nam tất yếu phải tiến tới việc hòa hợp và tiệm cận với các chuẩn mực kế toán quốc tế Mặc dù Chế độ kế toán tại Việt Nam hiện nay đã có nhiều thay đổi nhằm tiến sát với quốc tế, song rõ ràng để có thể xây dựng các điều luật phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế là một điều không dễ dàng, nhất là trong điều kiện Việt Nam chưa phát triển ngang bằng với các quốc gia tiên tiến khác để có thể áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế một cách trọn vẹn Cụ thể, tại Việt Nam phương pháp giá gốc vẫn là phương pháp cốt lõi được sử dụng để định giá và đo lường các đối tượng kế toán được trình bày trong báo cáo tài chính và chỉ có một số các quy định nhỏ có đề cập đến khía cạnh giá trị hợp lý Trong khi đó, giá trị hợp lý đã được áp dụng ở khá nhiều nước trên thế giới và đã được chuẩn hóa thông qua việc ra đời của chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế IFRS 13 Điều này có thể làm cho thông tin tài chính trên báo cáo tài chính giữa Việt Nam và một

số nước trên thế giới không còn có thể đạt được yêu cầu có thể so sánh được và làm giảm tính hữu ích của việc sử dụng các thông tin cho các đối tượng sử dụng

Để giúp cho các đối tượng sử dụng có được các thông tin tài chính hữu ích, là nền tảng để phát triển thị trường vốn, cũng như cung cấp cho các doanh nghiệp các phương pháp hữu hiệu trong việc áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế về giá trị hợp lý trong việc đo lường các đối tượng kế toán trên báo cáo tài chính, tác giả quyết định lựa chọn đề

Trang 11

tài “Định hướng vận dụng giá trị hợp lý trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp

Tp.HCM theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế” Có thể nói, đề tài là một vấn đề

rất mới tại Việt nam, mang tính chất thời sự và thực sự rất cần thiết trong bối cảnh Việt

Nam vẫn đang dựa trên nguyên tắc giá gốc và chưa có bất kỳ hướng dẫn cụ thể nào về

các phương pháp đo lường giá trị hợp lý cho các đối tượng kế toán

1.2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

1.2.1 Mục tiêu đề tài

a Mục tiêu tổng quát:

Nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề lý luận liên quan đến Chuẩn mực kế

toán quốc tế về giá trị hợp lý và định hướng áp dụng giá trị hợp lý cho các doanh nghiệp

Đề xuất giải pháp nhằm áp dụng thước đo giá trị hợp lý của Chuẩn mực kế toán Quốc

tế vào các doanh nghiệp tại Tp.HCM

1.2.2 Nội dung nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về giá trị hợp lý theo các chuẩn mực kế toán quốc tế theo

IFRS 13

Phân tích những quan điểm ủng hộ và những quan điểm phản đối giá trị hợp lý

Phân tích và đánh giá thực trạng nhận thức về sự cần thiết của việc áp dụng IFRS 13

“Đo lường giá trị hợp lý” tại các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn Tp.HCM hiện nay

So sánh việc ghi nhận giá trị hợp lý theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 13

Nhận diện các nhân tố tác động đến việc vận dụng GTHL vào các doanh nghiệp tại

Tp Hồ Chí Minh

Đề xuất các giải pháp mang tính định hướng để có thể áp dụng chuẩn mực quốc tế về giá trị hợp lý vào các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh

1.2.3 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài trên tác giả sử dụng kết hợp 2 phương pháp định tính và định lượng

1.2.3.1 Phương pháp định tính

Phương pháp so sánh và đối chiếu: được sử dụng để nghiên cứu, tìm hiểu các quy định theo IFRS 13 và chuẩn mực kế toán Việt Nam về hệ thống ghi nhận giá trị hợp lý Trên cơ sở đó tác giả phân tích tổng hợp, đánh giá, so sánh để tìm ra những ưu điểm và hạn chế của kế toán theo giá trị hợp lý so với phương pháp giá gốc và sự khác biệt trong

sự ghi nhận các khoản mục theo giá trị hợp lý giữa các quốc gia khác nhau

Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Tác giả sẽ có cuộc phỏng vấn đối với những người quản lý, người sử dụng thông tin kế toán, chuyên gia là kế toán, giảng viên, nhà nghiên cứu kế toán trong và ngoài nước, các kế toán chuyên mảng hệ thống chuẩn mực, thông tin khảo sát tập trung vào phương pháp giá trị hợp lý

Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sau khi đã có được nguồn dữ liệu từ các phương pháp so sánh, đối chiếu, khảo sát thực nghiệm, phỏng vấn trực tiếp Tác giả lập bảng phân tích, tổng hợp các dữ liệu trên

1.2.3.2 Phương pháp định lượng

Phương pháp thống kê mô tả: Tác giả xây dựng bảng câu hỏi rộng rãi cho tất cả các

Trang 12

đối tượng làm việc, nghiên cứu liên quan đến công tác kế toán để đo lường nhận thức của

họ về IFRS 13 “Đo lường giá trị hợp lý” và thực hiện việc thống kê khảo sát vào phần

mềm SPSS để đưa ra các kết quả thống kê dạng đơn giản

Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA: Tác giả sử dụng phần mềm SPSS để

tính ma trận các mối liên quan cho tất cả các biến, rút trích các biến, xoay các biến và

cuối cùng quyết định các nhân tố cần giữ lại thực sự có tác động đến việc xây dựng và

triển khai giá trị hợp lý tại Việt Nam

1.3 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiên cứu

1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Để thực hiện mục tiêu đã nêu, luận văn cần giải quyết các câu hỏi sau:

Câu hỏi nghiên cứu 1: Phương pháp ghi nhận giá trị hợp lý theo IFRS 13 là gì? Việc

ghi nhận giá trị hợp lý theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế

khác biệt nhau ở những điểm nào?

Câu hỏi nghiên cứu 2: Thực trạng nhận thức về sự cần thiết của việc áp dụng IFRS 13

“Đo lường giá trị hợp lý” tại Tp.Hồ Chí Minh hiện nay là như thế nào?

Lý thuyết về giá trị hợp lý theo

Xây dựng mô hình các nhân tố tác động đến việc triển khai giá trị hợp lý vào các doanh nghiệp tại Tp.Hồ Chí Minh

Định tinh

Định lượng

Câu hỏi nghiên cứu 3: Nhân tố tác động đến việc xây dựng và triển khai giá trị hợp lý vào các doanh nghiệp tại Tp.Hồ Chí Minh? Mô hình các nhân tố tác động đến việc vận dụng giá trị hợp lý vào các doanh nghiệp tại Tp.Hồ Chí Minh?

1.5 KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Quan điểm của những đối tượng lập và sử dụng thông tin trên BCTC về việc áp dụng giá trị hợp lý và xác định các nhân tố tác động đến việc áp dụng GTHL vào

các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp định tính: thiết kế nghiên cứu dựa trên việc tổng hợp các cơ sở lý thuyết

Phương pháp định lượng: xác định các nhân tố dựa vào phân tích nhân tố khám phá EFA

Kết quả nghiên cứu

Xây dựng được mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL vào công

tác kế toán tại các doanh nghiệp tại Tp Hồ Chí Minh

Trang 13

1.6 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.6.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là IFRS13 và việc áp dụng chuẩn mực trên trong điều

kiện kinh tế Việt Nam

1.6.2 Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu việc áp dụng Chuẩn mực quốc tế về giá

trị hợp lý tại các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh

+ Về thời gian: Các số liệu trong Luận văn được tác giả thực hiện khảo sát trong

khoảng thời gian từ tháng 10/2014 đến tháng 01/2015

1.7 Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Luận văn đã khái quát những vấn đề lý luận chung về giá trị hợp lý trong kế toán,

tổng kết các kinh nghiệm về sử dụng giá trị hợp lý trong kế toán quốc tế, giúp người đọc

có cái nhìn tổng quan về giá trị hợp lý trong kế toán

Trên cơ sở nghiên cứu và khảo sát thực trạng nhận thức về IFRS 13 “Đo lường giá trị

hợp lý” tại Việt Nam hiện nay, nhu cầu và mong muốn của các chủ thể trong nền kinh tế

trong việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế về giá trị hợp lý cho các doanh nghiệp Việt

Nam, tác giả đề ra mô hình các nhân tố tác động đến việc triển khai giá trị hợp lý tại Việt

Nam Đây là một đóng góp quan trọng trong việc đưa giá trị hợp lý theo Chuẩn mực kế

toán quốc tế IFRS 13 vào thực tiễn và các điều kiện tại Việt Nam

1.8 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Luận văn gồm99trangcó kết cấu như sau:

+ Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

+ Chương 2: Cơ sở lý luận về giá trị hợp lý

+ Chương 3: Thực trạng giá trị hợp lý được áp dụng trong hệ thống kế toán doanh

nghiệp Việt Nam

+ Chương 4: Xây dựng mô hình các nhân tố tác động đến việc vận dụng giá trị

hợp lý vào doanh nghiệp tại Việt Nam

+ Chương 5: Một số giải pháp và kiến nghị để triển khai giá trị hợp lý trong kế

toán doanh nghiệp Việt Nam

+ Kết luận + Tài liệu tham khảo + Phụ lục

Trang 14

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 của Luận Văn đề cập đến tổng quan các vấn đề cần nghiên cứu, trong đó

bao gồm tính cấp thiết, mục tiêu, nội dung, phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên

cứu, câu hỏi nghiên cứu, khung nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu Mục tiêu của đề tài nghiên cứu là xây dựng được mô

hình các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL vào các doanh nghiệp tại Tp Hồ

Chí Minh bằng việc áp dụng các phương pháp định tính và định lượng

CHƯƠNG 2:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ

2.1 LỊCH SỬ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG KẾ TOÁN

2.1.1 Vài nét về Ủy Ban Chuẩn Mực Kế Toán Tài Chính Hoa Kỳ (FASB) và Ủy Ban

Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế (IASB)

a Ủy Ban Chuẩn Mực Kế Toán Tài Chính Hoa Kỳ (FASB)

Trước khi FASB được thành lập, các chuẩn mực kế toán và các hướng dẫn liên quan đến các vấn đề kế toán hiện hành được ban hành bởi Ủy Ban Thủ Tục Kế Toán (ARBs) được thành lập năm 1938 và sau đó bởi Ủy Ban Nguyên Tắc Kế Toán (Accounting Principle Board - APBs), một tổ chức do Viện kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA) thành lập năm 1959 Năm 1970, APBs bị nhiều chỉ trích về việc ban hành các chuẩn mực thiếu khách quan do không có sự tham gia của các tổ chức khác bên ngoài AICPA Ngoài

ra Ủy Ban này cũng không đưa ra các mục tiêu và nguyên tắc có thể chấp nhận rộng rãi

Vì thế AICPA đã lập ra 03 Ủy ban để xét duyệt lại các vấn đề bị chỉ trích và thành lập một Ủy ban độc lập hơn, đó chính là Ủy Ban Chuẩn Mực Kế Toán Tài Chính Hoa Kỳ, gọi tắt là FASB

FASB là một tổ chức hoạt động độc lập được thành lập năm 1972 bao gồm 07 thành viên đến từ khu vực kế toán công, ngành nghề tư nhân, khu vực hàn lâm và cơ quan giám sát FASB được chỉ định xét duyệt, cải tiến các chuẩn mực cũ, ban hành thêm các chuẩn mực kế toán tài chính và các hướng dẫn cũng như khuôn mẫu lý thuyết cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính trong khu vực kinh tế tư nhân FASB có 02 tổ chức hỗ trợ: + Hội đồng tư vấn chuẩn mực kế toán tài chính (FASAC) có nhiệm vụ tư vấn về các vấn đề kỹ thuật cần được FASB quan tâm và các vấn đề khác

+ Ban xử lý các vấn đề phát sinh (EITF) có nhiệm vụ ban hành các trích yếu EITF

về các vấn đề hiện có hay vừa phát sinh, những vướng mắc trong thi hành và các vấn đề thảo luận nhằm hướng dẫn việc áp dụng các tuyên bố kế toán có liên quan

Trang 15

b Ủy Ban Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế (IASB)

Cơ quan đầu tiên xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế là Ủy

ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) Đây là một tổ chức độc lập thành lập năm 1973,

bao gồm đại diện của 13 nước thành viên trực thuộc Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC),

đại diện của 03 tập đoàn kinh tế lớn và một số quan sát viên độc lập đến từ Ủy Ban Châu

Âu, Trung Quốc, Ủy Ban Chứng Khoán Quốc Tế (IOSCO), Ủy Ban Chuẩn Mực Kế Toán

Tài Chính Hoa Kỳ (FASB)

Đến năm 1977, IASC nhận thấy xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giới đòi hỏi cần

phải tập trung sức mạnh từ các hệ thống kế toán quốc gia để xây dựng một hệ thống

chuẩn mực kế toán quốc tế hoàn thiện hơn Do đó, IASC quyết định cơ cấu lại tổ chức

của mình Tháng 12/1999, IASC đã chỉ định một Ủy Ban lựa chọn và thành lập Hội đồng

thành viên (Trustees) gồm 22 thành viên đến từ các khu vực địa lý, lĩnh vực chuyên môn

khác nhau, trong đó có 06 người đến từ Bắc Mỹ, 06 người đến từ Châu Âu, 06 người đến

từ khu vực Châu Á Thái Bình Dương và 04 người còn lại đến từ các quốc gia, khu vực

khác Nhiệm vụ của Trustees là bổ nhiệm các thành viên IASC, Hội đồng cố vấn chuẩn

mực (SAC) và Ủy ban hướng dẫn các chuẩn mực báo cáo tài chính (IFRIC), giám sát

hiệu quả hoạt động của IASC, tìm kiếm, phê duyệt và soát xét nguồn tài chính của IASC

Để thực hiện chức năng của mình, vào tháng 02/2001, Hội đồng thành viên (Trustees)

đã thiết lập nên Ủy ban sáng lập chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC Foundation) Ủy ban

này bao gồm 03 tổ chức chính là Ủy Ban Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế (IASB), Hội

đồng cố vấn chuẩn mực (SAC) và Ủy ban hướng dẫn các chuẩn mực báo cáo tài chính

(IFRIC)

IASB: Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế, là tổ chức độc lập thuộc khu vực tư nhân

bắt đầu hoạt động vào ngày 01/04/2001 dưới sự giám sát của IASC Foundation, bao gồm

14 thành viên trong đó có 12 thành viên chuyên trách Mục tiêu hoạt động chính của

IASB là:

+ Phát triển các chuẩn mực kế toán có chất lượng cao, thống nhất, dễ hiểu và có tính chất khả thi cao cho toàn thế giới trên quan điểm phục vụ lợi ích của công chúng + Tăng cường tính minh bạch, có thể so sánh được của thông tin trong báo cáo tài chính và các báo cáo liên quan đến tài chính, kế toán khác, giúp những thành viên tham gia thị trường vốn thế giới và những người sử dụng báo cáo tài chính đưa ra các quyết định kinh tế

+ Xúc tiến việc sử dụng và ứng dụng nghiêm ngặt các IASs

+ Cung cấp những giải pháp có chất lượng cao cho sự hòa hợp giữa hệ thống chuẩn mực kế toán quốc gia và các chuẩn mực kế toán quốc tế

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển giá trị hợp lý

GTHL là một thuật ngữ mới trong lĩnh vực kế toán Cơ sở hình thành của nó xuất phát

từ nhu cầu sử dụng thông tin của xã hội cũng như những hạn chế của các phương pháp kế toán trước đó Quá trình hình thành và phát triển của GTHL có thể chia làm các giai đoạn như sau:

Giai đoạn từ 1960 đến 1990: Giá trị hợp lý bắt đầu xuất hiện và mở rộng phạm vi sử

dụng

Trên thế giới giá trị hợp lý xuất hiện lần đầu tại Mỹ được đề cập trong báo cáo của Ủy ban nguyên tắc (APB) Sự hình thành giá trị hợp lý là một quá trình lâu dài:

Từ năm 1962 – 1969: là giai đoạn tiền đề, trong giai đoạn này giá thị trường được sử

dụng nhưng trong một số trường hợp không có thị trường hoạt động để có thể xác định được giá thị trường

Đến năm 1970: giá trị hợp lý chính thức xuất hiện được đề cập trong Ý kiến của Ủy

ban nguyên tắc số 16 và 17 ghi nhận lợi thế thương mại và giá trị của tài sản hợp nhất: + APB Opinion 16 – Hợp nhất doanh nghiệp “Tất cả tài sản, nợ phải trả có được trong hợp nhất doanh nghiệp nên được ghi nhận theo giá trị hợp lý của chúng tại ngày mua” + APB Opinion 17 - Tài sản vô hình “Sự khác nhau giữa giá trị hợp lý và chi phí sẽ được coi như lợi thế thương mại”

Trang 16

Sau khi xuất hiện, giá trị hợp lý tiếp tục được thừa nhận và phạm vi sử dụng của giá

trị hợp lý dần dần được mở rộng Giá trị hợp lý bắt đầu nhận được sự quan tâm và áp

dụng của nhiều nước cũng như Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) được sử dụng

trong nhiều lĩnh vực: ngân hàng, viễn thông … và cũng xuất hiện những hướng dẫn hạn

chế về cách xác định và trình bày giá trị hợp lý trên báo cáo tài chính

Năm 1982: văn bản đầu tiên của hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) đề cập

đến định nghĩa giá trị hợp lý là chuẩn mực kế toán quốc tế số 16 “Bất động sản, Nhà

xưởng và Máy móc thiết bị” (IAS 16) đã được ban hành Theo chuẩn mực kế toán này,

“giá trị hợp lý là giá trị tài sản có thể đem trao đổi giữa các bên có thể hiểu biết, thiện chí

trong một giao dịch trao đổi ngang giá”

Định nghĩa giá trị hợp lý được bổ sung trong chuẩn mực kế toán quốc tế số 17 “Thuê

tài sản” (IAS 17) ban hành năm 1982 Theo chuẩn mực kế toán này, “giá trị hợp lý là giá

trị tài sản có thể đem trao đổi, hay nợ phải trả được thanh toán giữa các bên có hiểu biết,

có thiện chí trong một giao dịch trao đổi ngang giá” IAS 17 đề cập đến giá trị hợp lý của

cả tài sản và nợ phải trả

Giai đoạn từ 1991 đến nay: Giá trị hợp lý phát triển mạnh mẽ được khẳng định qua

2 giai đoạn:

Từ năm 1991 – 2000: được đánh dấu bằng hàng loạt chuẩn mực của Mỹ: FASB

Statement 107 (1991) - giá trị hợp lý của công cụ tài chính, FASB Statement 104 – hợp

nhất doanh nghiệp, FASB Statement 142 – lợi thế thương mại và tài sản vô hình… các

chuẩn mực đã đưa ra những hướng dẫn rõ ràng hơn về giá trị hợp lý

Trong giai đoạn này chuẩn mực Mỹ cũng như quốc tế đã bắt đầu sử dụng giá trị hợp

lý cho việc đánh giá sau ghi nhận ban đầu Giá trị hợp lý được áp dụng rộng rãi trong

nhiều ngành, trong nhiều khoản mục làm xuất hiện sự lo lắng về khả năng của giá trị hợp

lý do những hướng dẫn về giá trị hợp lý vẫn chưa đạt được sự thống nhất chung và có

nhiều mâu thuẫn trong các công bố

Từ năm 2000 đến nay: Để giải quyết những lo lắng về giá trị hợp lý FASB và IASB

đã bắt tay vào nghiên cứu sâu hơn về lý thuyết của giá trị hợp lý

Năm 2004, dự án hội tụ kế toán IASB – FASB được tiến hành trong đó có dự án về giá trị hợp lý trong kế toán

Tháng 5/2005, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) công bố “Văn bản thảo luận về các phương pháp đo lường có sử dụng giá trị hợp lý” Theo văn bản này, sự nhất quán giá trị hợp lý là giá trị trao đổi được các thành viên IASB ủng hộ Văn bản có đề cập đến định nghĩa “giá trị hợp lý là giá trị của tài sản hay nợ phải trả có thể trao đổi giữa các bên có hiểu biết, có thiện chí trong một giao dịch trao đổi ngang giá”

Tháng 11/2006, IASB và FASB tiến hành thảo luận các vấn đề liên quan đến đo lường giá trị hợp lý

Tháng 9/2010, IASB công bố dự thảo và đầu tháng 5/2011, phát hành IFRS 13 (Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế số 13) – Đo lường giá trị hợp lý (Fair Value Measurement) có hiệu lực từ ngày 01/1/2013 FASB cũng đã cập nhật chủ đề số 820 (báo cáo số 157 đo lường giá trị hợp lý – ban hành năm 2006 trước đây của FASB) về giá trị hợp lý, hoàn thành dự án lớn cải thiện IFRS (Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế) và

US GAAP (các nguyên tắc kế toán được thừa nhận ở Mỹ) mang lại sự hội tụ giữa chúng

2.2 TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT NỀN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 2.2.1 Xu hướng và phương pháp hội nhập vào chuẩn mực kế toán báo cáo tài chính quốc tế

Toàn cầu hóa đang dần trở thành một xu hướng chủ đạo đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trên toàn thế giới Điều đó đã dẫn đến yêu cầu cấp bách của việc hội tụ chuẩn mực kế toán quốc gia vào chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS) nhằm giúp cho các chủ thể trong nền kinh tế có thông tin kinh tế tài chính tốt hơn và mang tính so sánh hơn Theo khảo sát của IASB năm 2014 tính tới thời điểm hiện tại đã có hơn 130 nước trên thế giới đã áp dụng hoặc đang trong quá trình áp dụng IAS/IFRS Điều này cho thấy hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kế toán là xu hướng không thể thay đổi và là xu hướng phát triển tất yếu cho cả các nước phát triển và đang phát triển

Trang 17

Tuy nhiên, quá trình hội nhập vào IAS/IFRS ở các quốc gia không giống nhau Chuẩn

mực kế toán tại các quốc gia đang phát triển thường có sự khác biệt khá lớn với

IAS/IFRS do sự khác biệt về đặc điểm kinh tế, lịch sử, văn hóa và pháp luật Kết quả là

các quốc gia đang phát triển thường có triết lý kế toán rất khác biệt và các chuẩn mực của

các quốc gia này thường dựa trên các điều luật nhiều hơn là hướng tới thị trường vốn và

các nhà đầu tư Nghiên cứu của Shil và các đồng nghiệp (2009) [42] đã cho kết quả rằng

các quốc gia đang phát triển thường phải đối mặt với nhiều thách thức hơn, tốn nhiều thời

gian và công sức hơn trong quá trình hội tụ vào IAS/IFRS

Thông thường quá trình hội tụ vào IAS/IFRS có thể diễn ra theo một trong ba phương

pháp sau:

+ Phương pháp 1: Áp dụng toàn bộ hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế, gần như

không sửa đổi Đại diện cho mô hình này là Nigieria, Malaysia, Singapore Ở Hồng

Kông và Indonesia, IAS/IFRS có ảnh hưởng rất đáng kể trong việc thiết lập chuẩn mực

kế toán Ở các quốc gia này, các chuẩn mực BCTC quốc tế được hiệu chỉnh tối thiểu khi

thiết lập hệ thống chuẩn mực kế toán quốc gia

+ Phương pháp 2: Các quốc gia vừa mới chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập

trung sang nền kinh tế thị trường (như Trung Quốc, Đông Âu), hay các quốc gia như

Phillipine, Lào… đã sử dụng hệ thống chuẩn mực BCTC quốc tế làm cơ sở chủ yếu để

xây dựng hệ thống chuẩn mực cho mình Ảnh hưởng của IAS/IFRS cũng tương tự như

các quốc gia theo phương pháp 1, tuy nhiên, các quốc gia này không vận dụng toàn bộ

mà chỉ vận dụng một phần có sửa đổi để xây dựng và hoàn thiện hệ thống chuẩn mực của

riêng mình

+ Phương pháp 3: Áp dụng tại các quốc gia mà hệ thống chuẩn mực kế toán của họ ra

đời trước khi có sự ra đời của IAS, nên họ chỉ cần sửa đổi để hòa hợp với chuẩn mực

quốc tế Đây là trường hợp của các quốc gia đã phát triển, có nền kế toán lâu đời, thuộc

trường phái Anglo – Saxon và Châu Âu lục địa

2.2.2 Các nhân tố tác động đến việc hệ thống kế toán của quốc gia khi hội nhập vào chuẩn mực kế toán báo cáo tài chính quốc tế

2.2.2.1 Quan điểm của Christopher Nobes [26]

Theo Christopher Nobes, việc hệ thống kế toán quốc gia hội nhập vào chuẩn mực kế toán quốc tế IAS/IFRS sẽ bị tác động bởi các nhân tố sau:

a Hệ thống pháp luật

Tùy theo đặc điểm và quá trình hình thành mà mỗi quốc gia tự hình thành nên một hệ thống pháp luật cho chính mình Nhìn chung, hệ thống pháp luật của các quốc gia được chia thành 2 trường phái chính: trường phái Luật Thông Dụng (Common Law) và Luật Roman (Roman Law)

Các quốc gia có hệ thống pháp luật theo trường phái Luật Thông Dụng thường không đưa ra quá nhiều các quy định khắt khe và chặt chẽ Do đó hệ thống kế toán tại các quốc gia này thường có độ “mở” nhất định khi không đưa ra các quy tắc cụ thể và chi tiết trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính

Ngược lại, các quốc gia có hệ thống pháp luật theo trường phái Luật Roman, hệ thống

kế toán bị tác động rất nhiều từ các quy định cụ thể, tỉ mỉ và chi tiết từ nhà nước

b Nguồn tài chính

Tại các quốc gia có thị trường tài chính phát triển, yêu cầu trung thực, hợp lý, tính đầy

đủ và thích hợp rất được chú trọng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính Đồng thời, với mục tiêu là tăng cường tính trung thực và hợp lý của các thông tin được công

bố, nguyên tắc “nội dung quan trọng hơn hình thức” cũng rất được chú trọng

Ngược lại, các quốc gia mà nguồn tài chính được cung cấp chủ yếu bởi Nhà nước, yêu cầu trung thực và hợp lý của các thông tin được công bố trong báo cáo tài chính thường ít hơn so với các quốc gia có thị trường tài chính phát triển Thông thường, tại các quốc gia này, một trong điều được chú trọng chính là sự tuân thủ các luật định

c Chính sách thuế

Trang 18

Một trong những nhân tố quan trọng khác tác động đến việc hội nhập vào chuẩn mực

kế toán quốc tế là chính sách thuế của từng quốc gia

Tại những quốc gia có hệ thống chuẩn mực kế toán do khu vực tư nhân thiết lập, hệ

thống kế toán vận hành khá tự do, những ràng buộc pháp lý khá lỏng lẻo, chính sách thuế

không có ảnh hưởng đáng kể đến hệ thống kế toán Đây cũng chính là xu hướng phổ biến

của quốc tế hiện nay Các doanh nghiệp ghi chép và lập báo cáo tài chính theo các

nguyên tắc, phương pháp được quy định trong chuẩn mực Mục đích giúp cho các doanh

nghiệp phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính của đơn vị mình, và số liệu này

có thể có sự khác biệt với tờ khai thuế Sau đó, khi lập tờ khai thuế, doanh nghiệp sẽ phải

điều chỉnh lại những khoản chi phí hay thu nhập mà Luật thuế không chấp nhận, từ đó

phát sinh sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và lợi nhuận theo thuế

Ngược lại, tại những quốc gia mà chuẩn mực kế toán chịu nhiều sự chi phối của nhà

nước, do nhà nước công bố và ban hành thì hệ thống kế toán phải phù hợp và tuân thủ các

quy định của luật thuế Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không phản

ánh được sự trung thực và hợp lý Các kế toán viên chỉ quan tâm đến việc làm sao ghi

chép và lập báo cáo tài chính tuân thủ theo các quy định của Luật thuế

d Vai trò của các tổ chức nghề nghiệp

Việc hội nhập vào các chuẩn mực kế toán quốc tế tại các quốc gia chịu tác động bởi

vai trò của các tổ chức nghề nghiệp

Tại một số quốc gia, quá trình xây dựng và ban hành các chuẩn mực kế toán phụ

thuộc nhiều vào các tổ chức nghề nghiệp hơn là Nhà nước Ngược lại, tại một số quốc

gia, tổ chức nghề nghiệp không có vai trò nhiều mà Nhà nước giữ vai trò quyết định

trong những vấn đề về kế toán

e Lạm phát

Lạm phát cũng được xem là một nhân tố có ảnh hưởng khá lớn đến việc hội nhập vào

chuẩn mực kế toán của một quốc gia

Tại những nước có tình hình lạm phát lớn, khái niệm bảo tồn vốn trở nên quan trọng

và một số phương pháp kế toán cần được sử dụng để loại trừ ảnh hưởng sai lệch của sự

biến động giá cả đến báo cáo tài chính

f Các biến cố ngẫu nhiên

Một số các biến cố ngẫu nhiên nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn đến việc hội nhập vào chuẩn mực kế toán của quốc gia Chẳng hạn, các cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ đòi hỏi kế toán cung cấp các thông tin trung thực và hợp lý hơn là việc tuân thủ Luật thuế

2.2.2.2 Quan điểm của Geert Hofstede [35]

Geert Hofstede là tác giả đầu tiên nghiên cứu về ảnh hưởng của văn hóa đến hệ thống

kế toán của quốc gia, từ đó làm nền tảng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc hệ thống quốc gia hội nhập vào chuẩn mực kế toán quốc tế

Lý thuyết của Hofstede đưa ra các yếu tố văn hóa quan trọng có ảnh hưởng đến việc hội nhập vào chuẩn mực kế toán quốc tế bao gồm: Khoảng cách quyền lực (Power Distance), Chủ nghĩa cá nhân (Individualism), Sự tránh né những vấn đề chưa rõ (Uncertainty-Avoidance) và Tính nam tính (Masculinity) Trong đó, các khái nhiệm được ông giải thích như sau:

+ Khoảng cách quyền lực: liên quan đến mức độ xã hội có thể chấp nhận sự bất bình đẳng bên trong các định chế (gia đình, trường học, cộng đồng,…) và tổ chức (nơi con người làm việc) Điều này ảnh hưởng đến hành vi của các cá nhân có sức mạnh ít và sức mạnh nhiều trong xã hội Các cá nhân trong xã hội có khoảng cách quyền lực rộng chấp nhận một trật tự có thứ bậc, trong khi các cá nhân trong xã hội có quyền lực hẹp thường

cố gắng đấu tranh và tìm kiếm sự công bằng thông qua nhiều hình thức khác nhau + Chủ nghĩa cá nhân: liên quan đến mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân trong một

xã hội Đối với các nền văn hóa thiên về chủ nghĩa cá nhân, các cá nhân trong một xã hội

tự quan tâm, chăm lo cho bản thân và gia đình của mình Ngược lại, những nền văn hóa

có thiên hướng đi vào chủ nghĩa tập thể, các cá nhân có xu hướng quan tâm nhiền hơn đến những người xung quanh và lợi ích của tập thể nói chung hơn là mối quan tâm đến chính bản thân mình

+ Sự né tránh những vấn đề chưa rõ: liên quan đến mức độ mà xã hội cảm thấy bị đe dọa bởi những tình huống không rõ ràng, thể hiện qua nhu cầu cần phải có những dự

Trang 19

đoán trước mọi tình huống trong luật lệ, quy định Những xã hội có xu hướng theo sự né

tránh những điều chưa rõ mạnh thường duy trì luật lệ một cách nghiêm ngặt Ngược lại

những xã hội có xu hướng theo sự né tránh những điều chưa rõ yếu thì thường duy trì một

môi trường linh hoạt, thông thoáng hơn và dễ dàng chấp nhận sự thay đổi hơn

+ Tính nam tính: Những quốc gia có tính nam tính thường chú trọng vào thành quả và

sự thành công trong khi những quốc gia có tính nữ tính thường chú trọng đến việc quan

tâm đến các thành viên trong xã hội và chất lượng của cuộc sống

2.2.2.3 Quan điểm của Branson và các đồng nghiệp [22]

Theo quan điểm của Branson và các đồng nghiệp, các nhân tố tác động đến hệ thống

kế toán quốc gia khi hội nhập vào các chuẩn mực kế toán quốc tế bao gồm: môi trường

kinh tế, môi trường chính trị, môi trường pháp lý và thuế, môi trường kinh doanh, môi

trường chuyên nghiệp, môi trường văn hóa, môi trường giáo dục và môi trường quốc tế

+ Môi trường kinh tế: bao gồm các yếu tố cơ bản là sự tư nhân hóa, mức độ mở của

nền kinh tế, sự phát triển của nền kinh tế và thương mại quốc tế của quốc gia

+ Môi trường chính trị: bao gồm các yếu tố cơ bản: sự ổn định của chính trị, trách

nhiệm giải trình và nền dân chủ

+ Môi trường pháp lý và thuế:

Về môi trường pháp lý: Theo Branson và các đồng nghiệp hệ thống pháp luật của

các quốc gia được chia thành 2 hệ thống chính: hệ thống Luật Thông Dụng (Common

Law) và hệ thống Luật theo Luật Định (Code Law) Khuôn khổ đối với báo cáo tài chính

tại các quốc gia theo hệ thống Luật Thông Dụng thường có xu hướng chú trọng vào giá

trị trung thực, tính minh bạch và việc trình bày thông tin một cách đầy đủ nhất Việc ban

hành các chuẩn mực và thi hành các chuẩn mực chủ yếu là chức năng của khối tư nhân

Sự can thiệp của chính quyền là rất hạn chế Thị trường chứng khoán là nơi cung cấp

nguồn vốn chủ yếu cho các doanh nghiệp Do đó, khuôn khổ pháp lý thường nhấn mạnh

đến quyền của các cổ đông Ngược lại, tại các nước theo hệ thống Luật Định, chính

quyền là nơi ban hành các chuẩn mực kế toán quốc gia, thường bị ảnh hưởng bởi các

nhóm mang tính chất chính trị như: liên đoàn lao động, ngân hàng và các hội liên hiệp doanh nghiệp Ngân hàng và chính quyền là nguồn cung cấp tài chính chính trong nền kinh tế Do đó, báo cáo tài chính chú trọng đến việc bảo vệ các chủ nợ Báo cáo tài chính tại các quốc gia này có đặc tính không yêu cầu nhiều về việc trình bày, song có tính liên kết lớn với luật doanh nghiệp và thuế

Về môi trường thuế: Branson và các đồng nghiệp hoàn toàn đồng ý với quan điểm của tác giả Nobes

+ Môi trường chuyên nghiệp: bao gồm các yếu tố cơ bản: sự đầy đủ của các chuẩn mực kế toán, sự tồn tại và tầm quan trọng của các tổ chức nghề nghiệp, năng lực của những người làm kế toán, sự sẵn sàng hỗ trợ về mặt pháp lý

+ Môi trường kinh doanh: bao gồm các yếu tố cơ bản: đặc điểm của doanh nghiệp, mức độ phát triển của thị trường vốn, các dạng hệ thống tài chính phổ biến

+ Môi trường văn hóa: Branson và các đồng nghiệp sử dụng 4 nhân tố do Geert Hofstede đưa ra

+ Môi trường giáo dục + Môi trường quốc tế: bao gồm các yếu tố cơ bản: tầm quan trọng của các công ty đa quốc gia, tầm ảnh hưởng của các định chế tài chính trên thế giới như World Bank hoặc IMF, tầm ảnh hưởng của việc bị thuộc địa, việc ảnh hưởng khi trở thành thành viên của

Tổ chức thương mại thế giới WTO hoặc các Hiệp định hợp tác kinh tế

2.3 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 2.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới

(1) Laux, C & Leuz, C (2010) Did financial accounting contribute to the financial

crisis Journal of Economic Perspectives [39] Hai tác giả tiến hành phân tích và nghiên

cứu các quan điểm về giá trị hợp lý trong việc tác động của nó đến khủng hoảng tài chính

Trang 20

năm 2008 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khó có khả năng giá trị hợp lý tác động đến

việc định giá tài sản trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008

(2) Branson, J., & Alia, M., J (2011) The Effect of Environmental Factors on

Accounting Diversity – A Literature Review (March 7, 2011) [22] Hai tác giả trên đã tìm

ra 8 nhân tố ảnh hưởng lớn đến sự đa dạng kế toán của một quốc gia là: sự phát triển của

nền kinh tế, yếu tố chính trị, yếu tố pháp lý và thuế, môi trường kinh doanh, yếu tố về

tính chuyên nghiệp, môi trường văn hóa, học vấn và môi trường quốc tế

Mô hình nghiên cứu do Branson và Alia được minh họa như sau:

Pi = α0 + α1 X1 + α2 X2 + α3 ¬X3 + α4 X4 + α5 X5 + α6 X6 + α7X7 + α8 X8 + ε

Trong đó:

Pi: Sự đa dạng kế toán trong 1 quốc gia

X1: sự phát triển của nền kinh tế

(3) Chea, A C (2011) Fair Value Accounting: Its Impacts on Financial Reporting and

How It Can Be Enhanced to Provide More Clarity and Reliability of Information for

Users of Financial Statements International Journal of Business and Social Science, Vol

2 No 20; November 2011 [23] Tác giả đã tổng hợp sự phát triển của giá trị hợp lý theo

FAS 157 và ảnh hưởng của nó lên báo cáo tài chính trên các khía cạnh tính thích hợp và

độ tin cậy, tính xác thực và việc trình bày trên báo cáo tài chính Ngoài ra tác giả cũng trình bày các quan điểm xung quanh việc sử dụng giá trị hợp lý Cuối cùng, tác giả đưa ra các kiến nghị trong việc nâng cao sự hữu ích của việc sử dụng giá trị hợp lý

(4) Alexander, D., Bonaci, C., G., Mustata, R.V (2012) Fair value in financial reporting Procedia Economics and Finance 3, 84 -90 [19] Tác giả đã tổng hợp các nghiên cứu về việc áp dụng giá trị hợp lý cho báo cáo tài chính Ngoài ra tác giả cũng đưa

ra quy trình đo lường giá trị hợp lý cho quốc tế và cho các thị trường mới nổi Cuối cùng, tác giả tập trung vào quan điểm về việc đo lường giá trị hợp lý tại các doanh nghiệp Rumani

(5) Phan, T H D., Mascitelli, B., & Barut, M (2013) Perceptions of Accounting Professionals towards International Financial Reporting Standards (IFRS) in Developing Country: Evidence from Vietnam Proceedings of 3rd Global Accounting, Finance and Economics Conference 5 - 7 May, 2013, Rydges Melbourne, Australia [41] Các tác giả

đã đưa ra việc khảo sát nhận thức của các chuyên gia trong lĩnh vực kế toán trong việc áp dụng IFRS vào Việt Nam trên khía cạnh ưu điểm và nhược điểm Cụ thể, các tác giả của nghiên cứu trên đã sử dụng 10 yếu tố để đo lường nhận thức về ưu điểm của việc áp dụng IFRS vào Việt Nam bao gồm: độ tin cậy của thông tin, sự tin tưởng của nhà đầu tư, tính

so sánh được, tiếp cận với thị trường thế giới, tiếng tăm của công ty, mức độ thu hút nguồn lực bên ngoài, chất lượng cao hơn so với sử dụng phương pháp giá gốc, mối quan

hệ với các chủ nợ và tính dễ hiểu Để đo lường nhận thức về khuyết điểm của việc áp dụng IFRS vào Việt Nam, các tác giả đã sử dụng 12 yếu tố bao gồm: tính phức tạp, thời gian để có thể áp dụng từ lý thuyết vào thực tiễn, tính khó hiểu, khả năng không thể tiếp cận với các chuẩn mực kế toán quốc tế, khả năng chưa được chấp nhận toàn cầu, tính chủ quan của người sử dụng khi đặt ra các giả định được dùng trong giá trị hợp lý, sự can thiệp của hệ thống pháp luật/chính trị, Việt Nam chưa hòa nhập nhiều thị trường quốc tế, thiếu các hướng dẫn chi tiết, những rủi ro có thể xảy ra khi áp dụng, các thỏa hiệp ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia và chi phí chuyển đồi từ phương pháp giá gốc sang giá trị hợp

Trang 21

2.3.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

(1) ThS Ngô Thị Thùy Trang (2012), “Phương hướng và giải pháp vận dụng giá trị

hợp lý trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại Học Kinh

tế Tp.HCM [9] Tác giả đã khái quát được cơ sở lý luận về vấn đề định giá và cũng như

những vấn đề cơ bản chung về giá trị hợp lý như quá trình hình thành và phát triển, phân

chia cấp bậc, các phương pháp định giá và vai trò của giá trị hợp lý trong giai đoạn hiện

nay Tác giả cũng đã khái quát được kinh nghiệm sử dụng giá trị hợp lý theo chuẩn mực

kế toán Mỹ và chuẩn mực kế toán quốc tế Trong đề tài, tác giả đã nêu ra được các

phương pháp định giá thực tế đang được áp dụng tại Việt Nam bao gồm phương pháp so

sánh, phương pháp chi phí, phương pháp thu nhập (bao gồm phương pháp vốn hóa trực

tiếp và phương pháp dòng tiền chiết khấu), phương pháp thặng dư, phương pháp lợi

nhuận Tác giả đã tiến hành khảo sát các công ty thẩm định giá về phương pháp họ sử

dụng khi thẩm định các khoản mục tài sản (bao gồm: bất động sản: nhà cửa, nhà xưởng,

đất đai,… và tài sản bao gồm hàng tồn kho, công cụ - dụng cụ, máy móc, thiết bị,…, tuy

nhiên không bao gồm các tài sản cố định vô hình) Trong phần giải pháp và kiến nghị, tác

giả cho rằng nên có các biện pháp tiếp tục hoàn thiện quy định pháp lý về thẩm định giá

và ban hành các thông tư hướng dẫn liên quan đến giá trị hợp lý, xây dựng lộ trình trình

bổ sung điều chỉnh Luật kế toán và chuẩn mực chung, nâng cao vai trò của nhà trường và

các tổ chức nghề nghiệp

(2) ThS Trần Thị Phương Thanh (2012), “Các giải pháp mang tính định hướng cho

việc xác lập khung pháp lý về giá trị hợp lý áp dụng trong hệ thống kế toán doanh nghiệp

tại Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM [14] Tác giả đã khái

quát cơ sở lý luận về đo lường giá trị hợp lý bao gồm đối tượng, mục đích, các lý thuyết

về đo lường, khái niệm về đo lường, các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề đo lường, lịch sử

hình thành, phạm vi áp dụng, các phương pháp ghi nhận giá trị hợp lý, việc trình bày và

công bố giá tri hợp lý Đồng thời tác giả cũng đưa ra các tranh luận xoay quanh đề tài về

giá trị hợp lý, kinh nghiệm áp dụng giá tri hợp lý tại Trung quốc và bài học kinh nghiệm

cho Việt Nam Tác giả đã tiến hành khảo sát việc ghi nhận giá trị hợp lý tại các doanh

nghiệp Việt Nam đối với ghi nhận ban đầu và ghi nhận sau ban đầu của một số các khoản mục như tài sản cố định mua trả góp, tài sản cố định thuê tài chính, tài sản nhận biếu tặng hoặc góp vốn, doanh thu bán trả góp, công cụ tài chính và các chứng khoán đầu tư cũng như khảo sát về phương pháp xác định giá trị hợp lý Từ đó tác giả phân tích 3 nguyên nhân giá trị hợp lý chưa được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam: do đặc thù Việt Nam, do đặc thù của việc ban hành các chuẩn mực kế toán và về phía người hành nghề kế toán Dựa trên các nguyên nhân đã phân tích, tác giả đề ra 4 nhóm giải pháp cơ bản chính bao gồm nâng cao nhận thức về việc hiểu và áp dụng giá tri hợp lý, điều chỉnh luật kế toán và chuẩn mực chung, ban hành chuẩn mực đo lường giá trị hợp lý, xây dựng và hoàn thiện

hệ thống cơ sở hạ tầng làm nền tảng cho việc định giá

(3) ThS Huỳnh Thị Xuân Thùy (2013), “Giải pháp vận dụng giá trị hợp lý để thực hiện đo lường các khoản đầu tư chứng khoán tại các Công ty cổ phần niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM [2] Tác giả đã khái quát các lý thuyết về các khoản đầu tư chứng khoán theo giá trị hợp

lý bao gồm khái niệm, các thang đo được sử dụng (thang đo danh nghĩa, thứ tự, khoảng cách, tỷ số), các cơ sở đo lường (giá đầu vào, đầu ra), các mô hình đo lường trong kế toán (giá gốc, mức giá chung, giá hiện hành, giá đầu ra) và các lý luận cơ bản về giá trị hợp lý theo IFRS13 Ngoài ra tác giả còn đề cập lý thuyết về việc đo lường các khoản đầu tư vào chứng khoán trên cơ sở chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) Tác giả dựa vào báo cáo tài chính của một số các công ty cổ phần niêm yết trên HOSE để đo lường việc ghi nhận ban đầu đối với các khoản đầu tư tài chính và việc đo lường sau khi ghi nhận ban đầu Từ đó, tác giả đưa ra các kiến nghị về đo lường đối với các khoản đầu tư tài chính khi ghi nhận ban đầu và sau khi ghi nhận ban đầu (4) ThS Lê Thị Mộng Loan (2013), “Giá trị hợp lý ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa

độ tin cậy và thích hợp các thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty tại Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM [4] Tác giả đã khái quát các vấn đề

cơ bản về các mô hình định giá (theo giá gốc, theo mức giá chung, giá hiện hành, giá đầu ra) và cơ sở lý luận về giá trị hợp lý như đối tượng định giá, thị trường giao dịch, các bên

Trang 22

tham gia thị trường, dữ liệu đầu vào, các phương pháp định giá Đồng thời tác giả còn

nêu ra lý thuyết về thông tin bất cân xứng và kinh nghiệm áp dụng giá trị hợp lý của Mỹ

và Malaysia nhằm làm nền tảng cho bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Tác giả cũng đã

khảo sát độ tin cậy và tính thích hợp của thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính

theo mô hình của McCaslin &Stanga (1983) theo 11 khoản mục: lợi nhuận, doanh thu,

giá vốn hàng bán (theo phương pháp FIFO), chi phí khấu hao (theo phương pháp đường

thẳng/phương pháp tổng sản lượng, hàng tồn kho (theo phương pháp FIFO/LIFO), bất

động sản đầu tư – nhà xưởng – máy móc, tài sản thuần cuối năm, thu nhập trên mỗi cổ

phiếu Từ kết quả cuộc khảo sát, tác giả đề ra một số kiến nghị như sửa đổi Luật kế toán,

giáo dục về nhận thức, giải thích rõ các thuật ngữ liên quan đến giá trị hợp lý, công bố

thông tin về giá trị hợp lý, bổ sung giá trị hợp lý vào chuẩn mực chung, điều chỉnh các

chuẩn mực hiện hành, ban hành chuẩn mực về công cụ tài chính, hoàn thiện chuẩn mực

về bất động sản đầu tư, ban hành chuẩn mực kế toán đo lường giá trị hợp lý

(5) ThS Lê Thị Kim Dương (2013), “Vận dụng giá trị hợp lý để trình bày thông tin

trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại

học Kinh tế TP.HCM [3] Tác giả đã khái quát một số vấn đề về giá trị hợp lý như lịch

sử, quan điểm, phạm vi, cách xác định cũng như sự hữu ích của giá trị hợp lý trong việc

cung cấp thông tin qua báo cáo tài chính Tác giả đã khảo sát việc lập và trình bày báo

cáo tài chính đối với các doanh nghiệp Việt Nam đứng trên vai trò đơn vị lập báo cáo tài

chính, đơn vị sử dụng thông tin từ báo cáo tài chính và đơn vị làm công tác nghiên cứu,

giảng dạy Từ kết quả cuộc khảo sát, tác giả đã đánh giá về các ưu điểm và hạn chế trong

việc cung cấp thông tin trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp tại Việt Nam hiện

nay và cũng đã phân tích các nguyên nhân của những hạn chế trên Tác giả cũng cho rằng

phải có lộ trình áp dụng giá trị hợp lý cho các khoản mục và trong giai đoạn hiện nay chỉ

nên áp dụng cho các công ty cổ phần có nhu cầu hoặc cần niêm yết Tác giả cũng đề nghị

một số các đối tượng kế toán cần sử dụng giá trị hợp lý để định giá và trình bày trên báo

cáo tài chính như đầu tư tài chính và bất động sản đầu tư và phải điều chỉnh một số các

khái niệm giá gốc thành giá trị hợp lý trong VAS01, VAS05, VAS18 Một số các giải

pháp mà tác giả nêu ra bao gồm kết hợp giá trị hợp lý và giá gốc, từng bước tiếp cận chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 40 và IFRS9 và hoàn thiện chuẩn mực kế toán Việt Nam theo hướng hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế

(6) ThS Nguyễn Thanh Tùng (2014), “Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM [9] Trong bài nghiên cứu của mình, tác giả đã tập hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước, từ đó xác định lỗ hổng nghiên cứu còn thiếu là “các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam” Từ đó, bằng các phương pháp định lượng thông qua phần mềm SPSS, tác giả

đã đề ra các nhân tố bao gồm môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh, môi trường văn hóa xã hội, vai trò của các tổ chức – hội nghề nghiệp kế toán và mức độ đánh giá chung của doanh nghiệp

2.4 NHẬN XÉT VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU

2.4.1 Nhận xét về các nghiên cứu trước

Sau khi thực hiện phần tổng quan nghiên cứu của các nghiên cứu trong và ngoài nước đối với đề tài có liên quan, tác giả đưa ra một số nhận xét như sau:

a Đối với các công trình nghiên cứu ngoài nước

Các nghiên cứu tại nước ngoài đã phân tích khá kỹ các quan điểm về giá trị hợp lý bao gồm cả các quan điểm ủng hộ và các quan điểm không ủng hộ Đồng thời, các tác giả nước ngoài cũng chú trọng vào việc nghiên cứu ảnh hưởng của việc áp dụng GTHL lên báo cáo tài chính trên các khía cạnh tính thích hợp và độ tin cậy, tính xác thực và việc trình bày trên báo cáo tài chính, thậm chí cả các ảnh hưởng của việc sử dụng GTHL đến các cuộc khủng hoảng tài chính, ví dụ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 Đồng thời các tác giả nước ngoài cũng phân tích các nhân tố tác động đến sự đa dạng kế toán của một quốc gia, từ đó làm nền tảng cho sự phân tích các nhân tố tác động đến việc vận

Trang 23

dụng các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế cho các quốc gia Và cuối cùng các tác giả

nước ngoài đã đo lường các ưu điểm và nhược điểm của việc áp dụng chuẩn mực báo cáo

tài chính quốc tế vào Việt Nam

b Đối với các công trình nghiên cứu trong nước

Các tác giả trong nước đã làm rõ những vấn đề cơ bản về giá trị hợp lý theo IFRS13

trên các khía cạnh về quá trình hình thành và phát triển, sự phân chia cấp bậc, các phương

pháp định giá và vai trò của giá trị hợp lý trong giai đoạn hiện nay Ngoài ra các tác giả

cũng đã khái quát được kinh nghiệm sử dụng giá trị hợp lý tại các nước như Mỹ, Trung

Quốc, Malaysia Các tác giả trong nước cũng đã khảo sát được độ tin cậy và tính thích

hợp của thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính và đã phân tích cũng như đưa ra

giải pháp cho việc trình bày các thông tin trên báo cáo tài chính sao cho trung thực và

hợp lý dựa trên nguyên tắc trình bày thông tin về GTHL theo IFRS13

2.4.2 Xác định vấn đề nghiên cứu

Với tổng thể những nghiên cứu trong và ngoài nước như trên, tác giả nhận thấy một

số vấn đề còn chưa được các tác giả trong và ngoài nước đề cập:

+ Các tác giả nước ngoài đã đưa ra được các nhân tố đo lường ưu và nhược điểm khi

áp dụng các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế vào Việt Nam, tuy nhiên đối với một

chuẩn mực báo cáo tài chính cụ thể là IFRS13 thì lại chưa có nghiên cứu nào về nhận

thức của các nhà đầu tư, các chuyên gia trên lĩnh vực kế toán – kiểm toán, các nhà nghiên

cứu, các nhà hoạch định chính sách về tác động của việc hội nhập vào chuẩn mực báo cáo

tài chính quốc tế về GTHL

 Vấn đề nghiên cứu: Nhận thức của công chúng (nhà đầu tư, các chuyên gia, các

nhà nghiên cứu,…) về ưu điểm và nhược điểm trong việc vận dụng GTHL IFRS13

vào các doanh nghiệp tại Tp.HCM

+ Các tác giả nước ngoài đã phân tích và đưa ra mô hình các nhân tố tác động đến sự

đa dạng kế toán giữa các quốc gia, từ đó làm nền tảng để phân tích tác động đến nhân tố

tác động đến việc áp dụng GTHL, tuy nhiên các nhân tố trên được phân tích tại các nước

phát triển, chưa có bất kỳ nghiên cứu nào tại các nước đang phát triển, đặc biệt là tại Việt Nam Các tác giả trong nước đã đề ra mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL vào các doanh nghiệp tại Việt Nam, tuy nhiên các nhân tố được đề ra còn mang nhiều tính chất chủ quan, chưa dựa vào các mô hình của các nghiên cứu trước đó trên thế giới, do đó ít nhiều ảnh hưởng đến độ tin cậy của các nhân tố được lựa chọn

 Vấn đề nghiên cứu: Xây dựng mô hình các nhân tố tác động đến việc vận dụng

GTHL vào các doanh nghiệp tại VN dựa trên mô hình các yếu tố do Branson và các đồng nghiệp đề ra

2.5 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ IFRS 13 2.5.1 Mục tiêu IFRS 13

Để giảm độ phức tạp và cải thiện tính thống nhất trong ứng dụng đo lường giá trị hợp

lý quốc tế, tạo ra một bộ nguyên tắc duy nhất các yêu cầu cho việc đo lường giá trị hợp

Làm rõ các định nghĩa trong giá trị hợp lý

Để cải thiện tính minh bạch tăng cường việc công bố thông tin về công tác đo lường giá trị hợp lý IFRS 13 sẽ giúp tăng tính minh bạch khi các doanh nghiệp sử dụng các mô hình để đo lường giá trị hợp lý, đặc biệt là khi người dùng cần thêm thông tin về đo lường không chắc chắn, chẳng hạn như khi thị trường (cho một tài sản hoặc một khoản nợ phải trả) đã trở nên ít hoạt động hơn

Tăng sự hội tụ giữa IFRS và US GAAP

2.5.2 Nội dung chính trong IFRS 13

Xác định giá trị hợp lý

Đặt ra một khuôn khổ duy nhất để đo lường giá trị hợp lý

Yêu cầu trình bày thông tin về đo lường giá trị hợp lý trong báo cáo tài chính

Trang 24

IFRS 13 được áp dụng khi IFRS khác có yêu cầu hoặc cho phép đo lường hay có yêu cầu

trình bày thông tin về đo lường giá trị hợp lý

2.6 NỘI DUNG VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ THEO IFRS 13

2.6.1 Khái niệm và một số các thuật ngữ được sử dụng trong giá trị hợp lý:

IFRS 13 đã đưa ra định nghĩa về giá trị hợp lý như sau :

“Giá trị hợp lý là giá mà có thể nhận được khi bán một tài sản hoặc phải trả để thanh

toán một khoản nợ phải trả trong giao dịch thông thường giữa các bên tham gia thị trường

tại ngày đo lường.”

Một số các thuật ngữ và giả định được sử dụng trong khái niệm về giá tri hợp lý

trong IFRS13 được hiểu như sau:

1 Tài sản hay công nợ: Việc xác định giá trị hợp lý được áp dụng cho tài sản hoặc

công nợ cụ thể Nghĩa là, khi xác định giá trị hợp lý, doanh nghiệp nên xét đến các đặc

tính của tài sản hoặc công nợ nếu các bên tham gia thị trường có cân nhắc đến những

đặc điểm này khi định giá tài sản hay công nợ tại thời điểm định giá Những đặc tính

này bao gồm:

a Điều kiện hiện tại và vị trí của tài sản; và

b Hạn chế, nếu có, đối với việc mua bán hay sử dụng tài sản đó

Ảnh hưởng của những đặc tính của tài sản đến việc xác định giá trị hợp lý sẽ khác

nhau tùy thuộc vào cách thức mà các bên tham gia thị trường xem xét các đặc tính đó khi

(b) Một nhóm tài sản hoặc một nhóm công nợ hoặc một nhóm tài sản và công nợ

Cho mục đích ghi nhận và thuyết minh trên báo cáo tài chính, việc tài sản hay công nợ

là một tài sản hay công nợ độc lập, một nhóm tài sản hay công nợ hoặc một nhóm tài sản

và công nợ đều phụ thuộc vào đơn vị khoản mục của chúng

2 Những người tham gia thị trường: [theo IFRS 13 đoạn 22A]: bao gồm người mua

và người bán trong thị trường chính (hoặc thị trường thuận lợi nhất), cần đáp ứng đủ yêu cầu sau:

+ Không có mối quan hệ với nhau + Có đầy đủ sự hiểu biết: những người tham gia giao dịch phải có trình độ chung của sự hiểu biết về những nhân tố, những đặc điểm của tài sản và nợ phải trả đang giao dịch, có sự hiểu biết về giao dịch

+ Có thể để tham gia vào giao dịch cho tài sản hay trách nhiệm pháp lý + Sẵn sàng tham gia giao dịch một cách tự nguyện: Có khả năng tài chính và khả năng pháp luật để thực hiện giao dịch, tự nguyện tham gia giao dịch, không có sự ép buộc

Theo tài liệu hướng dẫn GTHL do KPMG phát hành năm 2012 trang 34 thì giả định

cơ bản nằm trong thuật ngữ chính là những người tham gia thị trường sẽ hành động dựa trên nguyên tắc “ mang lại lợi ích cho họ nhiều nhất ” khi định giá các tài sản và các khoản nợ phải trả Tuy nhiên, do những người tham gia thị trường bao gồm nhiều thành phần khác nhau, do đó việc xác định giá trị hợp lý cho các tài sản và các khoản nợ phải trả theo giả định “ mang lại lợi ích nhiều nhất ” có thể sẽ khác nhau khi tính cho từng đối tượng

3 Giá được sử dụng trong việc tính giá trị hợp lý: Theo định nghĩa về GTHL trong

IFRS 13, giá được sử dụng là giá đầu ra, không phải giá đầu vào Theo tài liệu hướng dẫn

về GTHL do KPMG phát hành năm 2012 trang 15 chỉ ra rằng giá đầu ra được áp dụng ngay cả trong trường hợp doanh nghiệp không có ý định bán hoặc thanh toán một khoản

nợ tại ngày đo lường Cụ thể giá đầu ra không được điều chỉnh bởi các chi phí giao dịch (ví dụ: các chi phí giao dịch phát sinh để có được tài sản không được cộng vào để tính giá

Trang 25

trị hợp lý và các chi phí giao dịch phát sinh để bán được tài sản không được trừ ra khỏi

giá được dùng để tính giá trị hợp lý) Lý giải cho điều này, tài liệu do KPMG tại trang 52

chỉ ra rằng chi phí giao dịch không phải là đặc tính của tài sản mà là đặc tính của nghiệp

vụ Ngoài ra, IFRS13 đoạn 26A còn nhấn mạnh rằng chi phí giao dịch không bao gồm

chi phí vận chuyển Tuy nhiên, nếu địa điểm được xem là đặc tính của tài sản thì lúc đó

giá được dùng để tính giá trị hợp lý phải được điều chỉnh theo khoản chi phí này

4 Thị trường được sử dụng trong việc tính giá trị hợp lý: Giá trị hợp lý theo Phụ Lục

A trong IFRS 13 giả định rằng các nghiệp vụ bán tài sản hoặc thanh toán các khoản nợ

phải được thực hiện ở hoặc là thị trường chính hoặc là nếu không có thị trường chính thì

sử dụng thị trường có nhiều thuận lợi nhất

+ Thị trường chính (principle market): là thị trường mà hàng hóa và mức độ hoạt

động của doanh nghiệp đạt đến mức cao nhất

+ Thị trường có nhiều thuận lợi nhất (most advantagerous market): là thị trường mà ở

đó các doanh nghiệp có thể tối đa hóa số tiền nhận được khi bán một tài sản và tối thiểu

hóa số tiền phải trả về các khoản nợ, sau khi xem về các chi phí giao dịch và chi phí vận

chuyển

5 Giao dịch được sử dụng trong việc tính giá trị hợp lý (orderly transactions): là

giao dịch xảy ra trên thị trường trước một khoảng thời gian của ngày đo lường trong đó

các hoạt động marketing diễn ra một cách bình thường cho các nghiệp vụ liên quan đến

tài sản và nợ phải trả Đó không phải là các nghiệp vụ chịu áp lực thanh khoản hoặc phải

bán tài sản theo hình thức tịch biên tài sản

2.6.2 Phạm vi áp dụng của giá trị hợp lý đối với các chuẩn mực kế toán quốc

tế/chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế

Bảng 2.1: Phạm vi áp dụng giá trị hợp lý trong các chuẩn mực kế toán quốc tế [10]

Chuẩn mực quốc tế Khái quát các quy định về sử dụng giá trị hợp lý

Các khoản thanh toán - Các giao dịch thanh toán trên cơ sở cổ phiếu phải được ghi nhận

bằng cổ phiếu (IFRS 2)

trên cơ sở giá trị hợp lý

- Nếu hàng hóa, dịch vụ nhận được từ giao dịch trao đổi cho công

cụ vốn thì ghi nhận theo giá trị hợp lý của hàng hóa, dịch vụ

- Trường hợp không thể xác định giá trị hợp lý của hàng hóa, dịch

vụ thì ghi nhận theo giá trị hợp lý của công cụ vốn được phát hành

Hợp nhất kinh doanh (IFRS 3)

- Giá phí hợp nhất kinh doanh được xác định trên cơ sở giá trị hợp

lý của các tài sản dùng để trao đổi

- Tài sản, nợ phải trả của công ty con hợp nhất được đánh giá theo giá trị hợp lý tại thời điểm hợp nhất

- Trên cơ sở giá phí hợp nhất kinh doanh và phân bổ giá phí để xác định và ghi nhận lợi thế thương mại (nếu có)

Tài sản cố định nắm giữ

để bán và các hoạt động

bị ngừng (IFRS 5)

Tài sản cố định hoặc tổ hợp tài sản chờ thanh lý đơn vị nắm giữ để bán được phản ánh theo giá thấp hơn giữa:

- Giá trị ghi sổ

- Giá trị hợp lý trừ chi phí bán ước tính

Nhà xưởng, máy móc thiết bị

(IAS 16)

- Giá trị hợp lý được sử dụng để đánh giá tài sản khi ghi nhận ban đầu trong trường hợp tài sản hình thành không qua giao dịch mua hoặc không do đơn vị sản xuất ra (Giá trị hợp lý là giá gốc trong các trường hợp này)

- Giá trị hợp lý được sử dụng để đánh giá sau ghi nhận ban đầu của phương pháp đánh giá lại Theo đó, nhà xưởng, máy móc thiết bị được xác định bằng giá trị hợp lý trừ khấu hao và các khoản giảm giá

- Sự biến động về giá trị đánh giá lại do giá trị hợp lý thay đổi

Trang 26

được ghi nhận vào vốn chủ sở hữu hoặc một phần ghi nhận vào báo cáo kết quả kinh doanh

Thuê tài sản

(IAS 17)

- Nguyên giá của tài sản thuê được ghi nhận ban đầu là giá thấp hơn giữa giá trị hợp lý của tài sản thuê và giá trị hiện tại của các khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu

- Giá trị hợp lý của tài sản

- Giá trị thu được từ sử dụng tài sản (Value in use)

Tài sản vô hình

(IAS 38)

- Giá trị hợp lý được sử dụng để ghi nhận ban đầu tài sản vô hình (Giá trị hợp lý là giá gốc khi ghi nhận ban đầu) trong các trường hợp tài sản vô hình hình thành không qua giao dịch mua, hoặc không hình thành từ nội bộ

- Trong trường hợp tài sản vô hình có giá niêm yết trên thị trường hoạt động (Điều kiện này ít khi xảy ra), tài sản vô hình được ghi nhận theo mô hình đánh giá lại Theo đó, giá trị đánh giá lại được xác định bằng giá trị hợp lý của tài sản trừ khấu hao và khoản giảm giá

Công cụ tài chính: Ghi

nhận và đo lường

(IAS 39)

- Ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý tại thời điểm đầu tư hoặc phát hành công cụ tài chính

- Sau ghi nhận ban đầu, các công cụ tài chính được ghi nhận tuỳ

theo từng loại công cụ cụ thể Tài sản tài chính được chia thành 4 loại:

(1) Nợ phải thu và cho vay (2) Khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn (3) Tài sản tài chính ghi nhận theo giá trị hợp lý qua báo cáo kết quả kinh doanh

(4) Tài sản tài chính sẵn sàng để bán Trong đó, tài sản tài chính thuộc nhóm (3) được ghi nhận theo giá trị hợp lý, sự thay đổi về giá trị hợp lý được ghi nhận vào thu nhập hoặc chi phí trên báo cáo lãi, lỗ Tài sản tài chính thuộc nhóm (4) được ghi nhận theo giá trị hợp lý với sự biến động giá trị hợp lý được ghi nhận vào vốn chủ sở hữu…

Bất động sản đầu tư (IAS 40)

Ghi nhận theo mô hình giá trị hợp lý hoặc mô hình giá gốc Theo

mô hình giá trị hợp lý, bất động sản đầu tư được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý Sau ghi nhận ban đầu, sự biến động giá trị hợp

lý được ghi nhận vào thu nhập hoặc chi phí trên báo cáo lãi, lỗ

Nông nghiệp (IAS 41)

- Tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý

- Sau ghi nhận ban đầu, tài sản sinh học được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ chi phí ước tính để bán khi thu hoạch Giá trị hợp lý thay đổi được ghi nhận vào thu nhập hoặc chi phí trên báo cáo lãi

lỗ

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

Trang 27

2.6.3 Phương pháp đo lường giá trị hợp lý

Để có thể đưa ra phương pháp định giá kỹ thuật thích hợp, người định giá cần xem xét

những vấn đề sau:

a Cấp độ xác định giá trị hợp lý

IFRS 13 tìm cách để tăng tính thống nhất và có thể so sánh được trong các phép đo

giá trị hợp lý, liên quan đến việc công bố thông qua một hệ thống phân cấp giá trị hợp lý

Hệ thống phân cấp phân loại các yếu tố đầu vào được sử dụng trong xác định giá trị kỹ

thuật thành ba cấp độ Hệ thống phân cấp cho các ưu tiên cao nhất (chưa điều chỉnh) giá

niêm yết tại các thị trường hoạt động đối với tài sản hoặc khoản nợ phải trả giống hệt

nhau và ưu tiên thấp nhất cho đầu vào không quan sát được [IFRS 13- đoạn 72]

Căn cứ vào những thông tin và những giả định đang có, người định giá sẽ xem xét

xem có thể xác định giá trị hợp lý ở cấp độ nào Cấp độ càng cao thì ước tính càng đáng

tin cậy IFRS 13 đã đưa ra ba cấp độ (trong đó cấp độ 1 là cấp độ cao nhất):

+ Cấp độ 1:

Dữ liệu đầu vào cấp độ 1 là giá niêm yết (không phải điều chỉnh) trên thị trường hoạt

động của tài sản hay nợ phải trả đồng nhất mà đơn vị báo cáo có đủ năng lực để tiếp cận

vào ngày đo lường [IFRS 13 – đoạn 76]

Trong cấp độ 1, một số thuật ngữ được hiểu như sau:

 “ Đồng nhất ” có nghĩa là: Đối với tài sản: có cùng đặc điểm, cùng tính chất, cùng

tình trạng cũ - mới, cùng nước sản xuất, cùng năm sản xuất Đối với nợ phải trả: có cùng

những điều khoản trong hợp đồng, cùng thời gian, số tiền, sự đánh giá tình trạng tín

dụng…

 “ Thị trường hoạt động “ (active market): là thị trường mà ở đó các giao dịch cho

tài sản hay nợ phải trả xảy ra đủ thường xuyên và đủ số lượng để cung cấp thông tin định

giá xảy ra

Cấp độ 1, thông thường liên quan đến các công cụ tài chính, chẳng hạn như các cổ

phiếu được giao dịch trên thị trường chứng khoán Thông thường, một doanh nghiệp sẽ

không điều chỉnh dữ liệu đầu vào cho cấp độ 1, ngoại trừ trong những tình huống như sau: [IFRS 13 – đoạn 79]

(a) Nếu doanh nghiệp nắm giữ một số lớn các tài sản, nợ phải trả tương tự (không phải là đồng nhất) mà được yêu cầu đo lường theo giá trị hợp lý, thì giá niêm yết trên thị trường hoạt động có thể sẵn có nhưng không dễ dàng tiếp cận được đối với từng loại tài sản hay nợ phải trả cụ thể, khi đó phương pháp thiết thực nhất để tính giá trị hợp lý là sử dụng các phương pháp định giá khác thay vì chỉ dựa trên giá niêm yết trên thị trường (ví

dụ như định giá theo dạng ma trận) Tuy nhiên, việc sử dụng các phương pháp khác trong việc đo lường giá trị hợp lý sẽ cho kết quả thấp nhất trong hệ thống xác định giá trị hợp

(b) Khi giá niêm yết trên thị trường không phản ánh giá trị hợp lý tại ngày đo lường

Đó có thể là trường hợp, những sự kiện quan trọng xảy ra sau khi thị trường đóng cửa nhưng trước ngày đo lường Doanh nghiệp phải thiết lập và áp dụng một chính sách đồng nhất trong việc xác định những sự kiện có thể ảnh hưởng đến việc đo lường giá trị hợp lý Tuy nhiên nếu giá niêm yết được điều chỉnh bởi thông tin mới thì việc điều chỉnh này sẽ làm cho việc đo lường giá trị hợp lý sẽ cho kết quả thấp nhất trong hệ thống xác định giá trị hợp lý

(c) Khi đo lường giá trị hợp lý của một khoản nợ hoặc công cụ vốn của một doanh nghiệp có sử dụng giá niêm yết cho các sản phẩm đồng nhất được giao dịch như một tài sản trên thị trường hoạt động và giá niêm yết trên thị trường được điều chỉnh theo yếu tố

cụ thể cho từng tài sản hoặc sản phẩm cụ thể Nếu không có sự điều chỉnh về giá niêm yết, kết quả của việc đo lường giá trị hợp lý sẽ nằm ở cấp độ 1 Tuy nhiên nếu có bất kỳ

sự điều chỉnh nào trong giá niêm yết về tài sản thì kết quả của việc đo lường giá trị hợp lý

sẽ cho kết quả thấp nhất trong hệ thống xác định giá trị hợp lý

+ Cấp độ 2

Dữ liệu đầu vào cấp độ 2 là các dữ liệu khác với giá niêm yết bao gồm trong cấp độ 1

mà quan sát được đối với tài sản hay nợ phải trả, cho dù trực tiếp hay gián tiếp Nếu tài sản hay nợ phải trả có điều khoản hợp đồng cụ thể, thì dữ liệu đầu vào cấp độ 2 là dữ liệu

Trang 28

có thể thu thập của tất cả điều khoản thiết yếu có liên quan tài sản hay nợ phải trả Dữ

liệu đầu vào mức 2 bao gồm: [IFRS – đoạn 82]

+ Giá niêm yết của các tài sản, nợ phải trả tương tự trên thị trường hoạt động

+ Giá niêm yết của các tài sản, nợ phải trả đồng nhất không được giao dịch trên thị

trường hoạt động

+ Dữ liệu tham chiếu, khác giá niêm yết, có thể thu thập liên quan đến tài sản hay nợ

phải trả như lãi suất, biến động lợi nhuận, tính thanh khoản, mức độ rủi ro, rủi ro thanh

toán, rủi ro tín dụng,

+ Dữ liệu được cung cấp thêm bởi thị trường

Việc điều chỉnh dữ liệu đầu vào cho cấp độ 2 phụ thuộc vào nhiều yếu tố đặc trưng

gắn liền cho từng tài sản hoặc nợ phải trả Những yếu tố này bao gồm: [IFRS – đoạn 83]

+ Điều kiện hoặc vị trí của tài sản

+ Mức độ dữ liệu đầu vào có liên quan đến các khoản mục có tính chất như là các

tài sản hoặc các khoản nợ

+ Mức độ của các hoạt động trên thị trường mà các dữ liệu đầu vào được quan sát

Bảng 2.2: Một vài ví dụ về dữ liệu đầu vào cấp 2

Hợp đồng cấp phép

(Licensing arrangement)

Đối với hợp đồng cấp phép có được thông qua hợp nhất kinh doanh thì dữ liệu đầu vào cấp 2 chính là số tiền phải trả cho việc cấp phép được thể hiện trên hợp đồng tại ngày bắt đầu của hợp đồng

Thành phẩm tại các cửa

hàng bán lẻ

Đối với thành phẩm được bán tại các cửa hàng bán lẻ có được thông qua việc hợp nhất kinh doanh, dữ liệu đầu vào cấp độ 2 có thể hoặc là giá bán cho các khách hàng tại các

cửa hàng bán lẻ hoặc giá cho các cửa hàng bán lẻ từ hệ thống bán sỉ, có điều chỉnh sự khác biệt giữa điều kiện và địa điểm của các loại hàng tồn kho và những loại hàng tương tự Về mặt lý thuyết, giá trị hợp lý đo lường sẽ là giống nhau, nghĩa là sẽ điều chỉnh giá bán lẻ giảm xuống và giá bán sỉ tăng lên Thông thường, giá trị hợp lý sẽ là giá có

sự điều chỉnh bởi những yếu tố chủ quan ít nhất

(Nguồn: Tài liệu hướng dẫn GTHL của KPMG 2012) [38]

+ Cấp độ 3: [IFRS 13 – đoạn 86, 87, 89]

Dữ liệu tham chiếu không có sẵn tại ngày đo lường, doanh nghiệp phải phát triển các

dữ liệu tham chiếu bằng cách sử dụng các thông tin tốt nhất đã có, có thể bao gồm dữ liệu riêng của doanh nghiệp Trong việc phát triển dữ liệu đầu vào cấp độ 3, doanh nghiệp có thể bắt đầu bằng dữ liệu của riêng mình, nhưng các doanh nghiệp có thể điều chỉnh dữ liệu nếu các thông tin sẵn có chỉ ra rằng những đối tượng tham gia thị trường có thể sử dụng nguồn dữ liệu khác hoặc có những nguồn dữ liệu cụ thể của công ty nhưng những đối tượng tham gia trên thị trường không thể tiếp cận Một doanh nghiệp không cần phải

sử dụng cạn kiệt nguồn lực của mình trong việc xác định các thông tin để xác định các giả định những đối tượng tham gia thị trường sử dụng Tuy nhiên, các doanh nghiệp phải tính tới tất cả các yếu tố và các giả định của những đối tượng tham gia thị trường sử dụng theo các nguồn thông tin hiện có một cách hợp lý nhất Tóm lại, các dữ liệu được tham chiếu ở cấp độ 3 phải phản ánh giả định mà các đối tượng tham gia thị trường sẽ sử dụng

để định giá tài sản hay nợ phải trả, bao gồm cả các giả định về rủi ro

Bảng 2.3: Một vài ví dụ về dữ liệu đầu vào cấp 3

Giao dịch hoán đổi tiền tệ dài hạn (Long-dated currency swap)

Tỷ lệ lãi suất đối với một loại tiền cụ thể mà không thể quan sát hoặc chứng thực bằng các bằng chứng khác trên thị

Trang 29

trường tại những khoảng thời gian thông thường được dùng

để công bố thông tin trên thị trường Trong trường hợp này

tỷ lệ lãi suất sẽ được tính tương ứng với tỷ lệ lãi của thị trường (countries’ yield curves)

Quyền chọn mua cổ phiếu có thể

trao đổi và giao dịch trên thị

(Nguồn: Tài liệu hướng dẫn GTHL của KPMG 2012) [38]

b Các phương pháp đo lường giá trị hợp lý

b.1 Phương pháp thị trường

Phương pháp thị trường sử dụng các giá và thông tin liên quan được phát sinh bởi các

giao dịch trên thị trường bao gồm các tài sản hay nợ phải trả đồng nhất hay so sánh được

(bao gồm cả cơ sở kinh doanh) Ví dụ, các kỹ thuật định giá thích hợp với phương pháp

thị trường thường sử dụng thị trường đa dạng để so sánh Những thị trường đa dạng được

sử dụng trong phương pháp này được sắp xếp với từng loại khác nhau để so sánh Sự lựa

chọn trong số những thị trường đó được yêu cầu quyết định cùng với xem xét các nhân tố

cụ thể cho việc đo lường (số lượng và chất lượng) Các kỹ thuật định giá với phương

pháp thị trường là định giá ma trận Định giá ma trận là thuật toán được sử dụng chủ yếu

cho định giá chứng khoán nợ mà không phụ thuộc vào giá niêm yết đối với các chứng

khoán nợ cũng như không phụ thuộc vào mối quan hệ của chứng khoán với các chứng

khoán chuẩn niêm yết khác

b.2 Phương pháp thu nhập

Phương pháp thu nhập sử dụng kỹ thuật định giá để chuyển đổi các giá trị tương lai

(ví dụ các luồng tiền hay thu nhập) về giá trị hiện tại (chiết khấu) Đo lường này dựa trên

cơ sở kỳ vọng của thị trường hiện tại vào các giá trị tương lai Những kỹ thuật định giá này bao gồm kỹ thuật giá trị hiện tại; các mô hình lựa chọn định giá như công thức Black- Scholes-Metron (a closed-form model) và mô hình nhị thức (a lattice model) mà không sáp nhập với các kỹ thuật giá trị hiện tại; và phương pháp thu nhập dư ra của nhiều

kỳ (excess earning) mà nó được sử dụng để đo lường giá trị hợp lý của các tài sản vô hình nào đó

Các yếu tố đầu vào được xem xét khi tính hiện giá theo IFRS 13: Ước tính dòng tiền tương lai; Khả năng biến thiên của dòng tiền tương lai; Giá trị theo thời gian của dòng tiền; Mức chiết khấu phụ trội đủ bù đắp rủi ro,…

b.3 Phương pháp chi phí

Phương pháp chi phí dựa trên giá trị mà hiện tại có thể được yêu cầu để thay thế khả năng cung cấp của tài sản (thường quy cho giá thay thế hiện hành) Từ góc độ của bên tham gia thị trường (người bán), giá có thể nhận được từ tài sản được xác định dựa vào chi phí đối với bên tham gia thị trường (người mua) để mua được hay xây dựng tài sản thay thế của lợi ích so sánh được và được điều chỉnh cho tài sản bị loại bỏ Tài sản bị loại

bỏ bao gồm sự hư hỏng về vật chất, lỗi thời về kỹ thuật và bị loại bỏ vì tính kinh tế Các yếu tố đầu vào được xem xét khi áp dụng phương pháp này theo IFRS 13: Hao mòn thực tế: giá trị hao mòn do sử dụng; Hao mòn do công nghệ: giá trị hao mòn do sự phát triển của công nghệ mới làm sụt giảm giá trị tài sản theo công nghệ cũ; Hao mòn do kinh tế: giá trị hao mòn những yếu tố bên ngoài (ví dụ: tác động của cung cầu,…)

2.6.4 Phương thức ghi nhận giá trị hợp lý trong một số trường hợp

GTHL khi sử dụng trong hệ thống IFRS 13 được xem xét trong các trường hợp sau:

a GTHL được sử dụng khi đo lường cho các nghiệp vụ phát sinh ban đầu:

Theo IFRS13 đoạn 57, 58 thì khi một tài sản được mua hoặc một khoản nợ được thừa nhận, thì giá giao dịch để có được tài sản hoặc khoản nợ thường phản ánh giá đầu vào Tuy nhiên giá trị hợp lý theo IFRS13 lại dựa trên giá đầu ra Về mặt khái niệm, giá đầu

Trang 30

vào và đầu ra khi nghiệp vụ phát sinh ban đầu là bằng nhau và do đó việc đo lường giá trị

hợp lý cho các nghiệp vụ phát sinh ban đầu sẽ chính là bằng giá trị của giao dịch

Tuy nhiên theo IFRS13 đoạn B4, doanh nghiệp có trách nhiệm xem xét tất cả các yếu

tố cụ thể cho các giao dịch, tài sản hay khoản nợ mà có thể dẫn đến giá trị của giao dịch

và giá trị hợp lý cho việc ghi nhận các nghiệp vụ phát sinh ban đầu là khác nhau Những

yếu tố này có thể bao gồm:

o Giao dịch là do các bên liên quan có quan hệ với nhau;

o Giao dịch xảy ra vì bị cưỡng ép, chẳng hạn như người bán đang gặp khó khăn về

tài chính

o Thị trường mà trong đó giao dịch xảy ra khác với thị trường chính hoặc thị trường

thuận lợi nhất

Tuy nhiên, IFRS13 đoạn BC133 cũng nhấn mạnh rằng việc xuất hiện một hoặc nhiều

các yếu tố trên không nhất thiết sẽ dẫn đến kết quả là giá trị hợp lý sẽ khác biệt với giá trị

của giao dịch

Theo nghiên cứu của David Cairnsm (2006) thì giá trị hợp lý được ghi nhận cho các

nghiệp vụ phát sinh ban đầu xuất hiện trong các chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực

báo cáo tài chính quốc tế như sau: IAS 16, IAS 17, IAS 18, IAS 20, IAS 38, IAS 39, IAS

41, IFRS1, IFRS2, IFRS3

b GTHL đối với các tài sản phi tài chính

Theo IFRS13 đoạn 27 và 28 chỉ ra rằng việc đo lường giá trị hợp lý sẽ xem xét khả

năng của những người tham gia thị trường về khả năng tạo ra lợi ích kinh tế cao nhất

bằng cách sử dụng các tài sản phi tài chính hoặc bán các tài sản này cho những người

khác cũng tham gia thị trường – những người sẽ sử dụng các tài sản này ở mức độ cao

nhất và tốt nhất (highest and best use)

Mức độ sử dụng cao nhất và tốt nhất của một tài sản phải tính tới các yếu tố về thực

thể của tài sản (physically possible), yếu tố pháp lý (legally permissible) và tính khả thi

về mặt tài chính (financially feasible) như sau:

(a) Yếu tố về thực thể của tài sản: cần tính tới các yếu tố về đặc tính hình thể của tài sản mà những người tham gia thị trường sẽ tính tới khi xác định trị giá của tài sản (chằng hạn như vị trí hoặc độ lớn của tài sản)

(b) Yếu tố pháp lý: cần xem xét tới các yếu tố về khả năng hạn chế pháp lý trong việc

sử dụng tài sản mà những người tham gia thị trường sẽ tính tới khi xác định trị giá của tài sản (chằng hạn như các quy định của từng vùng về việc sử dụng tài sản)

(c) Tính khả thi về mặt tài chính: sẽ kết hợp các yếu tố về thực thể của tài sản và yếu

tố pháp lý để xem xét khả năng tạo ra thu nhập và dòng tiền như là một khoản lợi ích của những người tham gia thị trường khi họ đầu tư vào tài sản và đưa tài sản vào sử dụng Một điều cần lưu ý rằng “ mức độ sử dụng cao nhất và tốt nhất ” có thể khác với mức

độ sử dụng hiện tại của tài sản (current use) Chẳng hạn, những người tham gia thị trường

có thể đánh giá mức độ sử dụng cao nhất và tốt nhất của một mảnh đất là khi được sử dụng làm khu dân cư, trong khi mảnh đất này hiện tại đang được sử dụng làm nơi sản xuất

Thuật ngữ “ mức độ sử dụng cao nhất và tốt nhất (highest and best use) ” được diễn đạt thông qua sơ đồ sau:

(Nguồn: Tài liệu hướng dẫn GTHL của KPMG 2011) [37] Hình 2.1: Sơ đồ xác định mức độ sử dụng cao nhất và tốt nhất đối với

các tài sản phi tài chính

Tóm lại: Đo lường giá trị hợp lý là một quy trình khá phức tạp, đòi hỏi phải xem xét

đến nhiều khía cạnh và yếu tố nhưng nhìn chung sẽ được đo lường theo quy trình như

sau:

Trang 31

(Nguồn: Tài liệu hướng dẫn GTHL của KPMG 2012) [38]

Hình 2.2: Quy trình đo lường giá trị hợp lý

2.7 CÁC QUAN ĐIỂM TRANH LUẬN VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ

Tính tới thời điểm hiện nay, có rất nhiều quan điểm về vai trò và tầm quan trọng về

giá trị hợp lý trong việc nâng cao chất lượng của báo cáo tài chính Về mặt lý thuyết, khi

ban hành phương pháp giá trị hợp lý, các cơ quan như IASB và FASB đều cho rằng giá

trị hợp lý sẽ mang lại các thông tin có tính hữu ích và tính thích hợp cao hơn cho các đối

tượng sử dụng Quan điểm này được ủng hộ bởi rất nhiều các nghiên cứu trên thế giới

Cụ thể, đối với các báo cáo tài chính ở lĩnh vực tư nhân, các nghiên cứu của Clark &

Jordon (1994) [25], Wampler & Phillips (1994) [44] và Shim & Larkin (1998) [43] đều

cho thấy giá trị hợp lý cung cấp thông tin mang tính thích hợp hơn so với phương pháp

giá gốc Kết quả này cũng được đồng tình bởi một số các nhà nghiên cứu Việt Nam như

Nguyễn Thế Lộc (2010) [11], [12], Mai Ngọc Anh (2010, 2011) [5], [6] và Trần Văn

Tùng (2013) [15] Đối với các công cụ tài chính, nghiên cứu của Hancock (1996) [32] chỉ

ra rằng đo lường theo giá trị hợp lý sẽ cho kết quả thực tế hơn và phương pháp này có thể

loại bỏ những vấn đề phát sinh khi sử dụng phương pháp giá gốc Tương tự như vậy,

nghiên cứu của Hassan và các đồng nghiệp (2006) [33] cũng cho rằng khi áp dụng giá trị

hợp lý cho các công cụ tài chính trong các công ty trong ngành công nghiệp khai khoáng

thì các công cụ này phản ánh giá trị thị trường vốn của công ty tốt hợn so với phương

pháp giá gốc Đối với các khoản tài sản dài hạn (như máy móc thiết bị, nhà xưởng), Herrmann và các đồng nghiệp (2006) [34] đã cung cấp những bằng chứng vững chắc về việc giá trị hợp lý thực sự ưu việt hơn so với phương pháp giá gốc nếu xét trên khía cạnh tính so sánh và tính nhất quán Đối với vấn đề quản trị lợi nhuận (earning management), nghiên cứu của Emerson và các đồng nghiệp (2010) [28] đã đưa ra kết quả rằng kế toán theo giá trị hợp lý có thể loại bỏ động cơ thúc đẩy các nhà quản lý thực hiện việc “ phù phép lợi nhuận ” Tuy sự ưu việt của phương pháp giá trị hợp lý so với phương pháp giá gốc đã được đề cập trong rất nhiều các nghiên cứu như đã đề cập ở trên, thực sự vẫn có rất nhiều lo ngại về tính hiệu quả của phương pháp này, đặc biệt trong các thị trường không năng động và thiếu tính thanh khoản (inactive and illiquid markets) Trong khi nghiên cứu của Ahmad (2000) [20] cho kết quả thông tin được đo lường bằng giá trị hợp

lý có độ tin cậy thấp so với việc đo lường bằng phương pháp giá gốc thì nghiên cứu của Abdel-Khalik (2008) [17] lại chỉ trích việc đo lường giá trị hợp lý sẽ thiếu nhất quán khi

đo lường các khoản mục trên báo cáo tài chính và điều đó có thể tạo ra rào cản cho các nhà đầu tư trong quá trình đánh giá về tình hình tài chính của doanh nghiệp Quan trọng hơn, nhiều học giả còn cho rằng giá trị hợp lý chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng tài chính (theo nghiên cứu Laux and Leuz (2009) [39], Khan (2010) [36]) Theo nghiên cứu của Duhovnik (2007) [27], Abullatif &Al-Khadash (2009) [18], việc sử dụng giá trị hợp lý tại các thị trường đang phát triển có thể dẫn đến những hiểu lầm trong nhận thức của các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính của công ty và việc áp dụng khó có thể dẫn đến thành công

Những kết quả nghiên cứu về tác động của việc ứng dụng kế toán giá trị hợp lý tại các quốc gia khác nhau cho những kết quả khá khác nhau đã làm dấy lên câu hỏi về tính

ưu việt của việc áp dụng giá trị hợp lý, đặc biệt là cho các nước đang phát triển (Chen and Chan, 2009 [24])

Trang 32

2.8 VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ

BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

2.8.1 Việc vận dụng giá trị hợp lý tại Úc

Chuẩn mực kế toán Úc về đo lường giá trị hợp lý (AASB13: Fair value measurement)

được ban hành vào tháng 9 năm 2011 ngay sau sự ra đời của IFRS13 Chuẩn mực này bắt

đầu được áp dụng cho các báo cáo tài chính từ ngày 1/1/2013 Về cơ bản, AASB13 cũng

khá tương tự như IFRS13, cũng bao gồm các phần như định nghĩa về giá trị hợp lý, cách

thức đo lường giá trị hợp lý cho tài sản các khoản nợ phải trả, các cấp độ dữ liệu đầu vào,

phương pháp đo lường, cách thức trình bày trong báo cáo tài chính và các phụ lục (định

nghĩa các thuật ngữ, hướng dẫn cách áp dụng và ngày có hiệu lực) Việc ra đời AASB13

có sự khác biệt với IFRS13 chính là việc ban hành thêm 1 chuẩn mực phụ AASB 2012-1

vào tháng 3/2012 có tên “Điều chỉnh các chuẩn mực kế toán Úc – Liên quan đến vấn đề

giá trị hợp lý – Việc giảm thiểu các yêu cầu trình bày về giá trị hợp lý” (Amendments to

Australian Accounting Standards – Fair Value Measurement – Reduced Disclosure

Requirements), trong đó yêu cầu về việc trình bày giá trị hợp lý đối với các chuẩn mực cũ

của Úc được giảm bớt một số nội dung, cụ thể như sau:

+ Đối với AASB 3 về “Hợp nhất kinh doanh” (AASB 3 “Business Combination”):

Toàn bộ đoạn 64 ở (ii) không áp dụng Cụ thể, bỏ đoạn “ trong quá trình hợp nhất kinh

doanh mà trong đó bên mua nắm giữ 100% vốn của bên bán thì khi đó lợi ích của cổ

đông thiểu số sẽ phải đo lường theo giá trị hợp lý ”

+ Đối với AASB 7 về “Việc trình bày các công cụ tài chính” (AASB 7 “Financial

Instruments: Disclosures”), toàn bộ đoạn 27A và 27B đều được bỏ Cụ thể, những điều

khoản được bỏ bao gồm các cấp độ dữ liệu đầu vào đối với các công cụ tài chính và một

số các cách thức đo lường giá trị hợp lý đối với các công cụ tài chính được trình bày trên

bảng cân đối kế toán

+ Đối với AASB 140 “ Tài sản đầu tư ” (AASB 140 “Investment Property”), đoạn

1.6(b) được bỏ Cụ thể bỏ đoạn “các doanh nghiệp phải trình bày các phương pháp và các

giả định quan trọng trong việc xác định giá trị hợp lý đối với tài sản đầu tư, bao gồm cả các tài sản được định giá khi có những bằng chứng chắc chắn trên thị trường hoặc phải dựa vào các yếu tố khác để xác định giá trị hợp lý do bản chất của tài sản hoặc thiếu các

dữ liệu trên thị trường”

+ Đối với AASB 141 “ Nông nghiệp ” (AASB “Agriculture”), đoạn 48 được loại bỏ

Cụ thể bỏ đoạn “ các doanh nghiệp không phải trình bày phương pháp và các giả định quan trọng được áp dụng trong việc xác định giá trị hợp lý cho từng nhóm tài sản nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch hoặc cho từng nhóm tài sản sinh học ”

2.8.2 Vận dụng giá trị hợp lý tại Singapore

Tại Singapore, chuẩn mực kế toán về giá trị hợp lý (SFRS113 “Fair value measurement”) được ban hành vào tháng 5 năm 2011 và bắt đầu có hiệu lực vào tháng 1 năm 2013 Song, thực tế các công ty Singapore được phép bắt đầu áp dụng chính thức cho các báo cáo tài chính từ ngày 1/1/2014 Theo sự so sánh được thực hiện bởi công ty Pricewaterhouse Cooper vào năm 2012 thì nội dung của SFRS113 phù hợp với IFRS13 ở tất cả các khía cạnh trọng yếu Tuy nhiên SFRS113 không được áp dụng cho các nghiệp

vụ trong phạm vi chuẩn mực kế toán số 102 của Singapore về “Phân chia cổ phiếu” (SFRS 102 “Share-based payment”) hoặc chuẩn mực kế toán số 17 về “Hợp đồng thuê” (SFRS 7 “Lease”) hoặc đối với các phương pháp đo lường khác do các chuẩn mực khác yêu cầu mà không phải là giá trị hợp lý (chẳng hạn giá trị đo lường được sử dụng trong chuẩn mực kế toán số 36 về “Sự suy giảm giá trị của tài sản” – SFRS 36 “Impairment of assets” hay chuẩn mực kế toán số 2 vể “Hàng tồn kho” – SFRS 2 “Inventories”)

2.8.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Dựa trên kết quả nghiên cứu quá trình vận dụng GTHL ở các quốc gia trên, tác giả đã rút ra một số bài học kinh nghiệm cho việc vận dụng GTHL ở Việt Nam như sau: + Một là cần xác định một lộ trình cho việc hội tụ với chuẩn mực kế toán quốc tế IAS/IFRS và xem đây là một hướng đi tất yếu Trên cơ sở đó đề ra các bước đi cụ thể cho từng giai đoạn

Trang 33

+ Hai là lựa chọn thời điểm phù hợp để triển khai, khi đã có các yếu tố thuận lợi như:

sự đòi hỏi cấp thiết của nền kinh tế, sự thay đổi tư tưởng của các nhà lãnh đạo đất nước,

áp lực của các cơ quan quốc tế, sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế về nguồn lực tài chính,

kinh nghiệm, kỹ thuật

+ Ba là quá trình tích lũy các yếu tố về môi trường kinh doanh, chính trị, văn hóa,

nguồn nhân lực, phải song song với việc xây dựng một hệ thống chuẩn mực BCTC mới

trên cơ sở kế thừa những thành quả của hệ thống chuẩn mực hiện hành, phù hợp với các

đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước và hội tụ với CMKT quốc tế

+ Bốn là bước đầu chỉ yêu cầu vận dụng đối với một nhóm hoặc toàn bộ các

doanh nghiệp niêm yết trên hai Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và TPHCM nhằm đúc

rút kinh nghiệm, các doanh nghiệp còn lại vẫn được vận dụng theo CMKT hiện hành

KÊT LUẬN CHƯƠNG 2

Trong chương 2, tác giả đã trình bày khái quát được những lý luận cơ bản liên quan đến giá trị hợp lý bao gồm khái niệm, các thuật ngữ, cấp độ các dữ liệu đầu vào và các phương pháp được sử dụng trong giá trị hợp lý Đồng thời tại chương 2, tác giả cũng đã khái quát được các tranh luận xung quanh vấn đề giá trị hợp lý theo cách nhìn và đánh giá của các học giả ngoài nước, kinh nghiệm sử dụng giá trị hợp lý tại một số nước trên thế giới từ đó làm nền tảng cho việc rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Trang 34

CHƯƠNG 3:

THỰC TRẠNG KẾ TOÁN GIÁ TRỊ HỢP LÝ ĐƯỢC ÁP DỤNG

TRONG HỆ THỐNG KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

3.1 LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH CÁC QUY ĐỊNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN GIÁ TRỊ

HỢP LÝ TẠI VIỆT NAM

Tại Việt Nam giá trị hợp lý được đề cập đầu tiên trong các chuẩn mực kế toán Việt

Nam ban hành theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001, được sử dụng để

ghi nhận ban đầu cho các trao đổi phi tiền tệ và ghi nhận doanh thu Kể từ đó cho đến

nay, giá trị hợp lý tiếp tục được phát triển thể hiện trong các thông tư hướng dẫn chuẩn

mực (thông tư 89/2002/TT-BTC, thông tư 105/2003/TT-BTC, thông tư

23/2005/TT-BTC, thông tư 210/2009/TT-BTC) và các quyết định ban hành chuẩn mực vào các năm

tiếp theo (quyết định 165/2002/QĐ-BTC, quyết định 234/2003/QĐ-BTC, quyết định

100/2005/QĐ-BTC ngày 28/12/2005) cũng đã mở rộng phạm vi sử dụng giá trị hợp lý

cho các khoản mục khác: thuê tài sản, ngoại tệ, hợp nhất kinh doanh Ngoài ra thông tư

200/2014/TT-BTC cũng đã đề cập đến giá trị hợp lý tại một số khoản như chứng khoán

kinh doanh, thanh toán bằng hàng, mua hàng nhận thêm phụ tùng, hàng hóa thay thế,

phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng, trao đổi tài sản, v.v…

Bảng 3.1: Định nghĩa giá trị hợp lý trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam

149/2001/

QĐ-BTC

VAS 14 “Doanh thu và thu nhập khác”

Giá trị hợp lý: Là giá trị tài sản có thể trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá

165/2002/

QĐ-BTC

VAS 06 “Thuê tài sản”

Giá trị hợp lý: Là giá trị tài sản có thể được trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách

tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá

165/2002/

QĐ-BTC

VAS 10 “Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái”

Giá trị hợp lý: Là giá trị tài sản có thể được trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách

tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá

100/2005/

QĐ-BTC

VAS 11

”Hợp nhất kinh doanh”

Giá trị hợp lý: Là giá trị tài sản có thể được trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách

tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết và sẵn sàng trong sự trao đổi ngang giá

210/2009/

TT-BTC

IAS 32 ”Trình bày công cụ tài chính” và IFRS 07

”Thuyết minh công cụ tài chính”

Giá trị hợp lý: Là giá trị mà một tài sản có thể được

trao đổi, hoặc một khoản nợ phải trả có thể được thanh toán giữa các bên có đầy đủ hiểu biết, mong muốn giao dịch, trong một giao dịch trao đổi ngang giá

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các chuẩn mực kế toán Việt Nam

Trang 35

Qua bảng trên, ta thấy khái niệm về giá trị hợp lý trong các chuẩn mực kế toán là

khác nhau, không thống nhất, nhìn chung các định nghĩa đều không đầy đủ, rõ ràng, chưa

giải thích được các thuật ngữ sử dụng, như vậy sẽ rất khó cho người sử dụng áp dụng khi

phát sinh các nghiệp vụ liên quan đến giá trị hợp lý

So với định nghĩa của IFRS 13 thì định nghĩa về giá trị hợp lý trình bày trong VAS

11 “Hợp nhất kinh doanh” và thông tư số 210/2009/TT-BTC là tương đối đầy đủ, tuy

nhiên vẫn chưa giải thích được các thuật ngữ “tự nguyện”, “các bên có đầy đủ hiểu biết”

Hiện nay, Bộ Tài chính chưa ban hành chuẩn mực kế toán cũng như thông tư liên

quan đến giá trị hợp lý Giá trị hợp lý chỉ được đề cập rải rác trong một số chuẩn mực để

ghi nhận nghiệp vụ phát sinh ban đầu trong các trường hợp không thể xác định giá gốc

Hệ thống kế toán Việt Nam là hệ thống kế toán theo giá gốc Cụ thể, trong luật kế

toán Việt Nam 2003, tại điều 7 của nguyên tắc kế toán trình bày: “giá trị của tài sản được

tính theo giá gốc”; trong VAS 01 “Chuẩn mực chung”, tài sản được ghi nhận theo giá

gốc, trong trường hợp không xác định được giá gốc thì giá trị hợp lý mới được sử dụng

để ghi nhận tài sản

Bảng 3.2: Phạm vi áp dụng giá trị hợp lý trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam [1]

TSCĐ hữu hình

tăng từ các nguồn

Nguyên giá TSCĐ hữu hình được tài trợ, được biếu tặng, được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp

khác lý ban đầu Trường hợp không ghi nhận theo giá

trị hợp lý ban đầu thì doanh nghiệp ghi nhận theo giá trị danh nghĩa cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng

VAS 04 “Tài sản cố định vô hình”

TSCĐ vô hình hình thành từ việc trao đổi chứng từ liên quan đến quyền sở hữu vốn của đơn vị

Nếu TSCĐ vô hình hình thành từ việc trao đổi thanh toán bằng chứng từ liên quan đến quyền sở hữu vốn của đơn vị, nguyên giá TSCĐ vô hình là giá trị hợp lý của các chứng từ được phát hành liên quan đến quyền sở hữu vốn

TSCĐ vô hình hình thành trong quá trình sáp nhập

Nguyên giá TSCĐ vô hình hình thành trong quá trình sáp nhập doanh nghiệp có tính chất mua lại là giá trị hợp lý của tài sản đó vào ngày mua (ngày sáp nhập doanh nghiệp) Giá trị hợp lý có thể là:

- Giá niêm yết tại thị trường hoạt động;

- Giá của nghiệp vụ mua bán TSCĐ vô hình tương

tự

TSCĐ vô hình được nhà nước cấp, hoặc được biếu, tặng

Nguyên giá TSCĐ vô hình được nhà nước cấp hoặc được tặng, biếu, được xác định theo giá trị hợp lý ban đầu cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào sử dụng theo dự tính

TSCĐ vô hình mua dưới hình

Nguyên giá TSCĐ vô hình mua dưới hình thức trao đổi với một TSCĐ vô hình không tương tự

Ngày đăng: 02/08/2016, 19:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiên cứu - Định hướng vận dụng giá trị hợp lý trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Sơ đồ 1.1 Quy trình nghiên cứu (Trang 12)
Bảng 2.1: Phạm vi áp dụng giá trị hợp lý trong các chuẩn mực kế toán quốc tế [10] - Định hướng vận dụng giá trị hợp lý trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Bảng 2.1 Phạm vi áp dụng giá trị hợp lý trong các chuẩn mực kế toán quốc tế [10] (Trang 25)
Hình 2.2: Quy trình đo lường giá trị hợp lý - Định hướng vận dụng giá trị hợp lý trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Hình 2.2 Quy trình đo lường giá trị hợp lý (Trang 31)
Bảng 3.1: Định nghĩa giá trị hợp lý trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam - Định hướng vận dụng giá trị hợp lý trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Bảng 3.1 Định nghĩa giá trị hợp lý trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam (Trang 34)
Bảng 3.2: Phạm vi áp dụng giá trị hợp lý trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam [1] - Định hướng vận dụng giá trị hợp lý trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Bảng 3.2 Phạm vi áp dụng giá trị hợp lý trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam [1] (Trang 35)
Bảng 3.3: Nhận thức về lợi ích của việc áp dụng GTHL vào công tác kế toán tại các doanh - Định hướng vận dụng giá trị hợp lý trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Bảng 3.3 Nhận thức về lợi ích của việc áp dụng GTHL vào công tác kế toán tại các doanh (Trang 41)
Bảng 3.5 chỉ ra rằng đào tạo đội ngũ nhân viên kế toán và quản lý (với giá trị mean = - Định hướng vận dụng giá trị hợp lý trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Bảng 3.5 chỉ ra rằng đào tạo đội ngũ nhân viên kế toán và quản lý (với giá trị mean = (Trang 41)
Bảng 3.5: Nhận thức về các thách thức mà các doanh nghiệp trên địa bàn Tp.HCM sẽ gặp phải - Định hướng vận dụng giá trị hợp lý trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Bảng 3.5 Nhận thức về các thách thức mà các doanh nghiệp trên địa bàn Tp.HCM sẽ gặp phải (Trang 42)
Hình  các  yếu  tố  ảnh  hưởng  đến  việc  vận  dụng  GTHL  vào  công  tác  kế  toán  các  doanh - Định hướng vận dụng giá trị hợp lý trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
nh các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL vào công tác kế toán các doanh (Trang 43)
Hình có ý nghĩa càng cao khi R 2   đã  điều  chỉnh  càng  tiến  gần  1  (0<Adjusted  R 2 <1),  các - Định hướng vận dụng giá trị hợp lý trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Hình c ó ý nghĩa càng cao khi R 2 đã điều chỉnh càng tiến gần 1 (0<Adjusted R 2 <1), các (Trang 46)
Bảng 4.1: Kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronback Alpha - Định hướng vận dụng giá trị hợp lý trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Bảng 4.1 Kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronback Alpha (Trang 46)
Bảng 4.2: Kiểm định KMO và Barlett’s Test cho biến độc lập  Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy - Định hướng vận dụng giá trị hợp lý trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Bảng 4.2 Kiểm định KMO và Barlett’s Test cho biến độc lập Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy (Trang 47)
Bảng 4.3: Bảng tổng phương sai được giải thích cho biến độc lập - Định hướng vận dụng giá trị hợp lý trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Bảng 4.3 Bảng tổng phương sai được giải thích cho biến độc lập (Trang 48)
Bảng 4.10: Bảng đánh giá mức độ giải thích các biến độc lập trong mô hình - Định hướng vận dụng giá trị hợp lý trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Bảng 4.10 Bảng đánh giá mức độ giải thích các biến độc lập trong mô hình (Trang 50)
BẢNG YẾU TỐ VĂN HÓA CỦA GREY - Định hướng vận dụng giá trị hợp lý trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
BẢNG YẾU TỐ VĂN HÓA CỦA GREY (Trang 71)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm