1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về báo cáo kiểm toán và một số kiến nghị liên quan

52 376 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Luật các công ty Ontario năm 1897 thì khi kiểm toán, kiểm toán viên có nhiệm vụ sau: “Kiểm toán viên sẽ ký ở cuối Bảng cân đối kế toán về việc liệu các yêu cầu đối với các kiểm toán

Trang 1

MỤC LỤC Mở đầu 3

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BÁO CÁO KIỂM TOÁN 5

1.1 Sự hình thành và phát triển của báo cáo kiểm toán 5

1.1.1 Sự hình thành của báo cáo kiểm t 5

1.1.2 Các giai đoạn phát triển của báo cáo kiểm to 5

1.2 Các yếu tố cơ bản của báo cáo kiểm toán 13

1.2.1 Nội dung của báo cáo kiểm to 13

1.2.2 Các ý kiến của kiểm toán vi 18

1.3 Khoảng cách thông tin 23

1.4 Mối quan hệ giữa các chuẩn mực kế toán và báo cáo kiểm toán 27

1.4.1 Sự thay đổi chính sách kế to 28

1.4.2 Các tình huống chưa rõ rà 29

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ NỘI DUNG VÀ VIỆC VẬN DỤNG VSA 700-BÁO CÁO KIỂM TOÁN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH 32

2.1 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700 - Báo cáo kiểm toán về báo cáo 32

tài chính 32

2.1.1 Hoàn cảnh ra đời, định nghĩa, vai trò và ý nghĩa của báo cáo kiểm to 32

2.1.2 Nội dung chuẩn m 33

2.1.3 So sánh VSA 700 và các chuẩn mực quốc tế hiện hà 37

2.2 Đánh giá tính hệ thống của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700 39

2.2.1 VSA 700 trong mối quan hệ với các chuẩn mực kiểm toán hiện hà 39

2.2.2 VSA 700 trong mối quan hệ với các chuẩn mực kế toán hiện hà 42

2.3 Khảo sát việc vận dụng VSA 700 trong thực tế ở Việt Nam 43

2.3.2 Phương pháp thực hi 43

2.3.3 Kết quả khảo s 44

2.3.4 Đánh giá kết quả khảo sát và nhận xét của người vi 56

2.4 Khảo sát về khoảng cách thông tin trên báo cáo kiểm toán của các đối tượng 58

liên quan 58

2.4.1 Mục đí 58

2.4.2 Phương pháp thực hi 59

2.4.3 Kết quả khảo s 60

2.4.4 Đánh giá kết quả khảo s 68

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ TRÊN CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ VSA 700 73

3.1 Mục đích của các kiến nghị về VSA 700 73

3.1.1 Góp phần tăng cường chất lượng báo cáo kiểm toán, giảm thiểu rủi ro 73

trong hoạt động đầu tư và tín dụng 73

3.1.2 Đảm bảo tính hệ thống của hệ thống chuẩn mực kế toán và kiểm toán 73

Việt Nam 73

3.1.3 Phù hợp với các thông lệ quốc 74

3.2 Nội dung các kiến nghị 74

3.2.1 Quy định pháp lý về xử phạt khi vi phạm chuẩn m 74

3.2.2 Thay đổi tiêu đề báo cáo kiểm toán thành “Báo cáo của kiểm toán viên 75

độc lập” 75

3.2.3 Nêu rõ trong đoạn mở đầu của báo cáo kiểm toán về giới hạn chuẩn 76

mực/quy định kế toán áp dụng cho hệ thống báo cáo tài chính 76

3.2.4 Phân chia trách nhiệm của Ban giám đốc ra thành một đoạn riêng biệt 76

trên báo cáo kiểm toán 76

3.2.5 Chỉnh sửa đoạn “Phạm vi kiểm toán” trên báo cáo kiểm toán, bao gồm trách 77

nhiệm của kiểm toán viên và đổi tên thành “Trách nhiệm của kiểm toán viên” 77

3.2.6 Định nghĩa thuật ngữ “đảm bảo hợp lý” trên chuẩn mực về báo cáo kiểm toán 79

3.2.7 Sửa đổi nội dung ý kiến kiểm toán không phải là chấp nhận toàn ph 81

Trang 2

3.2.8 Sửa đổi nội dung ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần có đoạn nhấn mạnh 84

AICPA: American Institute of Certified Public Accountants Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ

ASB: Accounting Standards Board Hội đồng chuẩn mực kế toán

CAR: Commission on Auditors’ Responsibilities

Ủy ban trách nhiệm của kiểm toán viên

IAG: International Auditing Guideline Hướng dẫn kiểm toán quốc tế

IASB: International Accounting Standards Board Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế

IFAC: International Federation of Accountants Liên đoàn kế toán quốc tế

ISA: International Standard on Auditing Chuẩn mực kiểm toán quốc tế

GAAS: Generally Accepted Auditing Standards

Trang 3

NYSE: New York Stock Exchange

Sở giao dịch chứng khoán New York

SAP: Statements on Auditing Practices

Thông báo về các thông lệ kiểm toán

SAS: Statements on Auditing Standards

Thông báo về chuẩn mực kiểm toán

VSA: Vietnamese Standard on Auditing

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 1.1: Các nghiên cứu về khoảng cách thông tin đối với báo cáo kiểm toán dạng ngắn 25

Bảng 1.2: Các nghiên cứu về khoảng cách thông tin đối với báo cáo kiểm toán theo SAS 58 26

Bảng 1.3: Mối quan hệ giữa báo cáo kiểm toán và các chuẩn mực kế toán qua các chuẩn mực kiểm toán 28

Bảng 2.1: Sự khác nhau của các yếu tố trên báo cáo kiểm toán giữa ISA 700 và VSA 700 39

Bảng 2.2: Khảo sát ý kiến trên báo cáo kiểm toán năm 2009 của 100 công ty 46

Bảng 2.3: Minh họa các ý kiến ngoại trừ chưa đầy đủ trên báo cáo kiểm toán năm 2009 49

Bảng 2.4: Minh họa các ý kiến kiểm toán chưa chính xác trên báo cáo kiểm toán năm 2009 53

Bảng 2.5: Thống kê mô tả đánh giá của những người tham gia khảo sát về tổng quan ý nghĩa của báo cáo kiểm toán 62

Bảng 2.6: So sánh đánh giá của những người tham gia khảo sát về tổng quan ý nghĩa của báo cáo kiểm toán 64

Bảng 2.7: Thống kê mô tả đánh giá của những người tham gia khảo sát về các thuật ngữ trên báo cáo kiểm toán 66

Bảng 2.8: So sánh đánh giá của những người tham gia khảo sát về các thuật ngữ trên báo cáo kiểm toán 68

Bảng 3.1: Phân loại ý kiến trên báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên 82

Bảng 3.2: Vị trí của đoạn nhấn mạnh trên báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên 85

Trang 4

- 1 -

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết khách quan của đề tài

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và thúc đẩy quá trình kêu gọi đầu tư vào

Việt Nam, nước ta đã cố gắng hòa nhập với thế giới về các quy định, các luật lệ; cố gắng

đơn giản hóa các thủ tục hành chính nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc thu hút

đầu tư Và với mục đích này, việc minh bạch và đảm bảo độ tin cậy của các thông tin tài

chính của các doanh nghiệp cũng được đặt ra hàng đầu khi Bộ Tài Chính đã ban hành

một loạt các chuẩn mực kế toán và chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, và hầu hết các chuẩn

mực này được lập trên cơ sở của các chuẩn mực quốc tế Đây cũng là một bước tất yếu

khi Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO, việc hòa hợp với thế giới là một bước

hòa mình vào dòng phát triển của nhân loại

Bên cạnh đó, với sự phát triển mạnh của thị trường chứng khoán Việt Nam trong

những năm gần đây và cùng với xu thế chung của nền kinh tế, hàng loạt các doanh nghiệp

tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn tham gia vào quá trình thực hiện chuyển đổi sang

hình thức công ty cổ phần nhằm đa dạng hóa sở hữu cũng như tăng tính thanh khoản trên

thị trường Đây là một xu thế tất yếu và phù hợp Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là: “Ai đảm

bảo cho giá trị thực của những công ty này?”, “Liệu các công ty kiểm toán có làm được

điều này hay không?”, hay “Báo cáo tài chính sau khi khoác lên mình chiếc áo “Đã kiểm

toán” thì đã hoàn toàn là trung thực và hợp lý?”

Tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động sau các vụ sụp đổ của các tập đoàn

lớn trên thế giới như Enron năm 2001 và của Lehman Brothers năm 2008 dẫn đến cuộc

khủng hoảng kinh tế trên toàn thế giới với nguyên nhân sâu xa là từ báo cáo tài chính

Việc các báo cáo tài chính đã kiểm toán nhưng vẫn còn thiếu trung thực và hợp lý dẫn

đến các cuộc phá sản các tập đoàn kéo theo các cuộc khủng hoảng kinh tế đã cho thấy

việc kiểm toán báo cáo tài chính ngày càng trở nên cần thiết Người sử dụng báo cáo tài

chính mong đợi rất nhiều nhưng thực tế báo cáo tài chính hiện nay không thể đáp ứng

được các mong đợi đó Với mục tiêu là rút ngắn khoảng cách giữa mong đợi của người

và sự thay đổi theo sự phát triển của chuẩn mực quốc tế là điều cần thiết Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố trên báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính là hết sức cần thiết, từ

đó có thể rút ra những khoảng cách trong thông tin về báo cáo kiểm toán để có thể đưa ra các kiến nghị cần thiết để hoàn thiện báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính cho Việt Nam nhằm đạt mục tiêu và đáp ứng quá trình phát triển khách quan và hội nhập toàn cầu

Vì lý do này mà tôi đã chọn đề tài “Đánh giá chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về báo cáo kiểm toán và một số kiến nghị liên quan” làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của chuẩn mực về báo cáo kiểm toán trên thế giới, chuẩn mực hiện hành của Việt Nam, cũng như thực tế hiểu và sử dụng báo cáo kiểm toán ở Việt Nam hiện nay của các đối tượng có liên quan đến báo cáo kiểm toán

để đánh giá mức độ cần cải thiện của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về báo cáo kiểm toán, từ đó, đưa ra các kiến nghị nhằm cải thiện chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về báo cáo kiểm toán Các kiến nghị đưa ra để xem xét như: quy định pháp lý về xử phạt các vi phạm chuẩn mực, tách biệt trách nhiệm của Ban giám đốc và của kiểm toán viên, chỉnh sửa đoạn phạm vi kiểm toán, giải thích thuật ngữ “đảm bảo hợp lý” trên VSA 700, và các quy định cụ thể cần hoàn thiện đối với từng loại ý kiến của kiểm toán viên trên báo cáo kiểm toán

Trang 5

- 3 -

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn này chỉ được nghiên cứu về góc độ kiểm toán và cũng chỉ đi vào phân

tích về một chuẩn mực kiểm toán duy nhất, Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 700

– “Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính” với mục đích cải tiến chuẩn mực kiểm toán

Việt Nam cho phù hợp với xu thế quốc tế và thực tế mong đợi của người sử dụng ở Việt

Nam hiện nay Luận văn chỉ thực hiện khảo sát tổng quát về quá trình hình thành và phát

triển của chuẩn mực về báo cáo kiểm toán trong một số giai đoạn nổi bật có ảnh hưởng

đáng kể đến việc hình thành Chuẩn mực kiểm toán quốc tế hiện nay và tiến hành khảo

sát mong đợi của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, các nhà cho vay và kể cả

của kiểm toán viên khi sử dụng báo cáo kiểm toán, không đề cập đến mong đợi của những

người sử dụng báo cáo kiểm toán khác như: chủ của doanh nghiệp, chủ nợ, con nợ, khách

hàng (hiện tại và tiềm năng), cơ quan thuế…

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được viết trên cơ sở sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, nghiên

cứu vấn đề trong mối quan hệ vận động và phát triển, đi từ quá khứ, đến hiện tại và dự

đoán cho tương lai Bên cạnh đó, luận văn còn được sử dụng phương pháp phân tích và

tổng hợp, phương pháp đối chiếu và so sánh, phương pháp phân tích định lượng để giải

quyết vấn đề trong mục tiêu nghiên cứu

5 Kết cấu luận văn

Luận văn có kết cấu như sau:

Trang 6

- 5 -

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BÁO CÁO

KIỂM TOÁN

1.1 Sự hình thành và phát triển của báo cáo kiểm toán

1.1.1 Sự hình thành của báo cáo kiểm toán

Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, kiểm toán ra đời vào đầu thế kỷ thứ

III TCN, gắn liền với nền văn minh của Ai Cập và La Mã cổ đại Ở thời kỳ đầu, kiểm

toán chỉ hình thành ở mức độ sơ khai với biểu hiện là những người làm công việc ghi

chép kế toán đọc to lên những số liệu, tài liệu kế toán cho một bên độc lập nghe và sau

đó chứng thực Từ thế kỷ XVI trở đi, cùng với sự xuất hiện của kế toán kép do nhà toán

học người Ý Luca Paciola, các phương pháp kế toán và kỹ thuật thông tin đã phát triển

liên tục và ngày càng tinh vi hơn Tuy nhiên, việc kiểm toán cũng chỉ dừng lại ở việc đọc

to lên số liệu và chứng thực, báo cáo kiểm toán chưa ra đời và do đó, kiểm toán chưa theo

kịp sự phát triển nhanh và mạnh của kế toán kép thời bấy giờ

Vào năm 1844, ở Anh, Luật các Công ty Cổ phần (Anh) ra đời đòi hỏi phải có

kiểm toán bắt buộc và vào năm 1856, Báo cáo kiểm toán bắt buộc lần đầu tiên được giới

thiệu ở Bắc Mỹ, một thời gian ngắn sau khi Luật năm 1844 được ban hành Vậy là báo

cáo kiểm toán ra đời, đánh dấu một bước phát triển của ngành nghề kiểm toán nhằm theo

kịp sự phát triển không ngừng của kế toán

Báo cáo kiểm toán đầu tiên được quy định về nội dung và ý kiến kiểm toán đối với

kiểm toán viên như “Các kiểm toán viên sẽ làm một báo cáo…phải nêu ý kiến của mình…

và trong trường hợp kiểm toán viên yêu cầu được giải thích hay cung cấp thông tin từ

Giám đốc, thì…” (Murphy, 1988: 10)

1.1.2 Các giai đoạn phát triển của báo cáo kiểm toán

Sau khi xuất hiện lần đầu tiên năm 1856, báo cáo kiểm toán đã trãi qua các giai

đoạn phát triển từ thấp đến cao, ngày càng hoàn thiện và đáp ứng sự phát triển của kế

toán như sau:

-

1.1.2.1 Giai đoạn sơ khai: Báo cáo kiểm toán dạng cực ngắn

Ở giai đoạn sơ khai, báo cáo tài chính cũng chỉ bao gồm Bảng cân đối kế toán, việc kiểm toán thời kỳ bấy giờ cũng chủ yếu là kiểm tra sổ sách kế toán mà thôi Theo Luật các công ty Ontario năm 1897 thì khi kiểm toán, kiểm toán viên có nhiệm vụ sau:

“Kiểm toán viên sẽ ký ở cuối Bảng cân đối kế toán về việc liệu các yêu cầu đối với các kiểm toán viên có được tuân thủ hay không, và sẽ làm một báo cáo đến các cổ đông trên những tài khoản họ kiểm tra và trên mỗi Bảng cân đối kế toán trước khi Công ty mang

ra trong cuộc họp chung; và trên mỗi báo cáo, kiểm toán viên sẽ chỉ ra rằng theo ý kiến của mình, Bảng cân đối kế toán được đề cập trong báo cáo có phản ánh chính xác tình hình của công ty như trong sổ sách của công ty hay không.” (Murphy, 1988: 11)

Sau đó, các Luật ở một số nước đều có quy định việc kiểm toán và trách nhiệm của kiểm toán viên, như: Luật các công ty Anh năm 1900, Luật các công ty Ontario 1907, Luật Canada 1917 Tuy nhiên, dù có quy định kiểm toán và trách nhiệm của kiểm toán viên nhưng nội dung và hình thức của báo cáo kiểm toán lại chưa được Luật nào đề cập đến, do đó, mỗi kiểm toán viên hoặc mỗi công ty kiểm toán dùng ngôn ngữ riêng của mình thể hiện trên báo cáo kiểm toán (Flesher & Flesher, 1980), làm cho báo cáo kiểm

toán thay đổi liên tục vào những năm 1900, có khi cực kỳ ngắn như “đã kiểm toán và

thấy chính xác” hoặc “đã kiểm tra và thấy chính xác” (Gordon, 1961); hay “được lập chính xác”, “mô tả trung thực và hợp lý”, “ghi chép chính xác các điều kiện” và “thể hiện đúng tình hình tài chính” (Flesher & Flesher, 1980) Hay có khi, kiểm toán viên chỉ

cần đơn giản ký trên Bảng cân đối kế toán để xác nhận cho việc đã kiểm toán là hoàn thành nghĩa vụ của mình (Lee, 1970)

1.1.2.2 Báo cáo kiểm toán dạng dài, lạm dụng cụm từ “Tùy thuộc vào”

Vào những năm đầu thế kỷ XX, kiểm toán lại bao gồm luôn những kiểm tra chi tiết về tính chính xác của việc ghi chép và của các chứng từ bằng chứng có liên quan Đây là thông lệ thời bấy giờ để có một báo cáo dài ở Canada (Mower, Barltrop, và Vance, 1979; Hopkins, 1984) Ví dụ cho loại báo cáo này:

Trang 7

- 7 -

Báo cáo kiểm toán của The Dominion Textile Company Limited năm 1906

“Chúng tôi trân trọng báo cáo là chúng tôi đã hoàn thành việc kiểm toán các nghiệp vụ

tài chính của Quý Công ty cho năm tài chính kết thúc ngày 31 tháng 3 năm 1906 Trong

suốt năm, việc kiểm toán của chúng tôi được thực hiện hằng tháng và mỗi kỳ chúng tôi

đều thực hiện báo cáo với Ban giám đốc

Các nghiệp vụ tài chính đã được ghi chép một cách cẩn thận và chính xác vào Sổ kế toán;

các khoản thanh toán và mua hàng đều có chứng từ chứng minh

Các sổ phụ tiền hằng tháng dưới đồng Mill đều được chứng minh đầy đủ bằng các chứng

từ, và được ghi nhận chính xác vào báo cáo tài chính

Số dư tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và các khoản vay được kiểm tra định kỳ và cuối cùng

được xác nhận với các Ngân hàng

Số dư hàng tồn kho về cotton thô, hàng hóa đang giữ và sản phẩm dở dang, theo dõi dưới

đồng Mill, được lập chi tiết, bảng tổng hợp được phê duyệt bởi Tổng Giám đốc Báo cáo

tài chính hằng năm bao gồm các nghiệp vụ mua công ty con và các nghiệp vụ đi thuê đã

được ghi nhận chính xác vào Sổ kế toán và chúng tôi cũng đã đánh dấu theo thứ tự các

nghiệp vụ này

Các công việc ghi chép trong suốt năm đã được thực hiện tốt và hệ thống kế toán

được điều chỉnh nhằm đáp ứng các yêu cầu của Công ty để phản ánh các khoản cho viên

chức và nhân viên của Công ty vay.” (Murphy, 1988: 14)

Ngoài ra, trong giai đoạn này, báo cáo kiểm toán còn có xu hướng lạm dụng cụm

từ “tùy thuộc vào” và cụm từ “ngoại trừ” khi các kiểm toán viên đưa ra ý kiến trên báo

cáo của mình Cụm từ “tùy thuộc vào này được kiểm toán viên sử dụng khi có một hay

một số vấn đề nào đó chưa rõ ràng liên quan tới số liệu trên báo cáo tài chính; và cụm từ

“ngoại trừ” được dùng khi kiểm toán viên phát hiện ra có vấn đề sai phạm trên báo cáo

tài chính của một hay một số khoản mục nào đó Nguyên nhân của việc lạm dụng trên là

do kiểm toán viên nhận thấy rằng các chuẩn mực kế toán, kiểm toán chuẩn chưa được

ban hành nên các công cụ hỗ trợ cho công việc của kiểm toán viên chưa đầy đủ Do đó,

để bảo vệ chính mình, kiểm toán viên bắt đầu đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần trên báo

- cáo của mình bằng cách lạm dụng cụm từ “Tùy thuộc vào” hay “Ngoại trừ” Việc quá lạm dụng các cụm từ này cũng dẫn đến một sự hiểu nhầm đối với người sử dụng báo cáo kiểm toán và làm giảm đi giá trị của báo cáo kiểm toán

ty cho Fred vay không thu được nợ và đã kiện Touche, người ban hành báo cáo kiểm toán

để thu hồi lại khoản thiệt hại này Và trong tuyên bố nổi tiếng của mình, Judge Benjamin

N Cardozo, đã mở rộng trách nhiệm của kiểm toán viên đối với các bên tin tưởng vào báo cáo tài chính là không thể thấy trước được (trách nhiệm pháp lý đối với bên thứ ba) Trong khi trước vụ kiện này, kiểm toán viên không có bất kỳ nghĩa vụ gì đối với bên thứ

ba Kết quả của vụ kiện này không chỉ ảnh hưởng ở Mỹ mà còn ở Canada, Anh và các nơi khác khi kết luận của vụ kiện Ultramares được đem ra tham chiếu Việc này đã làm ảnh hưởng nhiều đến công việc của các kiểm toán viên trong việc lập báo cáo kiểm toán

là cần chú ý đến trách nhiệm đối với bên thứ ba và cần quan tâm nhiều đến các từ ngữ khi lập báo cáo kiểm toán để có thể bảo vệ chính các kiểm toán viên

Bên cạnh đó, cho đến giai đoạn này, các từ ngữ trên báo cáo kiểm toán đều phụ thuộc vào từng kiểm toán viên, điều này làm cho người đọc báo cáo bị bối rối vì cùng một vấn đề nhưng có quá nhiều cách diễn đạt khác nhau Do đó, chỉ có báo cáo chuẩn mới giúp giải quyết được vấn đề này, vì báo cáo chuẩn sẽ giúp người đọc hiểu được các vấn đề trên báo cáo tài chính

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đối với một báo cáo chuẩn về từ ngữ, vào năm 1934, AIA và NYSE, sau hai năm bàn thảo đã đồng ý ban hành báo cáo kiểm toán chuẩn hai đoạn, đánh dấu sự ra đời của báo cáo chuẩn đầu tiên Nội dung của báo cáo chuẩn này như sau:

Trang 8

- 9 -

“Chúng tôi đã tiến hành kiểm tra Bảng cân đối kế toán của Công ty XYZ tại ngày 31

tháng 12 năm 1933, và báo cáo kết quả kinh doanh cho năm tài chính 1933 Theo đó,

chúng tôi đã kiểm tra và thử nghiệm các ghi chép kế toán của công ty và các bằng chứng

hỗ trợ khác; thu thập thông tin và các giải thích từ các viên chức và nhân viên Công ty;

chúng tôi cũng tiến hành kiểm soát tổng quát các phương pháp kế toán và các tài khoản

về hoạt động và thu nhập của công ty trong năm, nhưng chúng tôi không tiến hành kiểm

tra chi tiết các nghiệp vụ

Theo ý kiến chúng tôi, căn cứ vào những kiểm tra trên, Bảng cân đối kế toán và Báo cáo

kết quả hoạt động kinh doanh đính kèm được trình bày hợp lý về tình hình tài chính tại

ngày 31 tháng 12 năm 1933, cũng như kết quả hoạt động kinh doanh trong năm, phù hợp

với các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung và được công ty áp dụng nhất quán

trong suốt năm kiểm tra.”

Báo cáo chuẩn này gồm một đoạn phạm vi kiểm toán và một đoạn ý kiến kiểm

toán, những từ như “xác nhận” và “chính xác” mà trước đây rất thường dùng đã không

còn được sử dụng trong báo cáo chuẩn này nữa

Năm 1948, SAP (Statement on Auditing Practice) số 24 – “Chỉnh sửa Báo cáo

ngắn về kế toán hay Giấy chứng nhận” được ban hành với nội dung như sau:

“Chúng tôi đã tiến hành kiểm tra Bảng cân đối kế toán của Công ty X tại ngày 31 tháng

12 năm 19 , và báo cáo kết quả kinh doanh cho năm tài chính này Công việc kiểm tra

của chúng tôi được thực hiện theo các chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận chung, bao

gồm các kiểm tra ghi chép kế toán và những thủ tục kiểm toán này được xem là cần thiết

trong trường hợp này

Theo ý kiến chúng tôi, Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

đính kèm trình bày hợp lý về tình hình tài chính của Công ty X tại ngày 31 tháng 12 năm

19 , cũng như kết quả hoạt động kinh doanh trong năm, và phù hợp với các nguyên tắc

kế toán được chấp nhận chung trên cở sở áp dụng nhất quán với năm trước”

1.1.2.4 Sự hình thành báo cáo chuẩn ba đoạn:

10 - Tại Mỹ, vào những năm 1970, Ủy ban về Trách nhiệm của Kiểm toán viên (CAR) hay là Ủy ban Cohen đã kết luận rằng đối với khoảng cách mong đợi (“Expectation gap”) (khác biệt giữa những gì kiểm toán viên thực hiện và mong đợi của cộng đồng), cho dù mong đợi của người sử dụng nhìn chung là hợp lý thì người sử dụng báo cáo dường như vẫn còn hiểu nhầm vai trò và trách nhiệm của kiểm toán viên Do đó, Ủy ban Cohen đề nghị thay đổi trong cấu trúc báo cáo kiểm toán để cải thiện vấn đề này, nghĩa là báo cáo kiểm toán nên có thêm đoạn mô tả rõ ràng chức năng kiểm toán ASB của AICPA đã phát hành bản thảo báo cáo kiểm toán chỉnh sửa gồm đặc điểm của kiểm toán và mức độ

trách nhiệm của kiểm toán viên (AICPA, 1980)

Đến năm 1987, AICPA ban hành bản thảo báo cáo kiểm toán đã chỉnh sửa tương

tự như bản thảo năm 1980, và báo cáo kiểm toán ba đoạn đầu tiên ra đời (gồm đoạn giới thiệu, đoạn phạm vi và đoạn ý kiến) và được sử dụng lần đầu ở Mỹ ngày 1/1/1989 Báo cáo kiểm toán này được ban hành theo Chuẩn mực kiểm toán của Mỹ - SAS (Statement

on Auditing Standard) 58 – “Reporting on Audited Financial Statements” (“Báo cáo về báo cáo tài chính đã kiểm toán”) với nội dung như sau:

“Báo cáo của kiểm toán viên độc lập

Chúng tôi đã kiểm toán Bảng cân đối kế toán của Công ty X tại ngày 31 tháng 12 năm 19XX, và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, lợi nhuận giữ lại cũng như Báo cáo lưu chuyển tiền tệ kèm theo cho năm tài chính này Việc lập báo cáo tài chính này là trách nhiệm của Nhà quản lý Công ty Trách nhiệm của chúng tôi là đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính dựa vào cuộc kiểm toán của mình

Chúng tôi đã thực hiện công việc kiểm toán theo các chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận chung Các chuẩn mực này yêu cầu chúng tôi lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán

để có sự đảm bảo hợp lý rằng báo cáo tài chính không còn chứa đựng những sai sót trọng yếu Một cuộc kiểm toán bao gồm các kiểm tra trên cơ sở chọn mẫu các bằng chứng chứng minh cho các số liệu và các trình bày trên báo cáo tài chính Kiểm toán cũng bao gồm việc đánh giá các quy định kế toán sử dụng và các ước tính quan trọng của Người quản lý, cũng như là đánh giá cách trình bày tổng quát các báo cáo tài chính Chúng tôi

Trang 9

- 11 -

cho rằng công việc kiểm toán của chúng tôi đã đưa ra những cơ sở hợp lý để làm căn cứ

cho ý kiến của chúng tôi

Theo ý kiến của chúng tôi, các báo cáo tài chính đã liệt kê ở trên đã phản ánh trung thực

và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của công ty X tại ngày 31 tháng

12 năm 19XX, cũng như kết quả kinh doanh và các luồng lưu chuyển tiền tệ trong năm

tài chính kết thúc cùng ngày, phù hợp với các quy định kế toán được chấp nhận chung”

Việc báo cáo kiểm toán mới theo SAS 58 ra đời được đa số xem là một bước tiến

hiệu quả trong việc rút ngắn khoảng cách mong đợi (“Expectation gap”) với nhận xét:

“Báo cáo kiểm toán mới là kết quả hữu hình nhất của một nỗ lực toàn diện để cải thiện

hiểu biết của cộng đồng về vai trò của kiểm toán viên” (Roussey, Eyck, và Blanco-Best,

1988)

1.1.2.5 Sự hình thành của chuẩn mực kiểm toán quốc tế về báo cáo kiểm toán

SAS 58 mặc dù đã được ban hành nhưng nó chỉ có hiệu lực ở Mỹ, do đó, đòi hỏi

phải có một chuẩn mực tương tự mang tính quốc tế IFAC, một tổ chức quốc tế về kế toán

cũng quan tâm đến vấn đề này Tháng 10 năm 1983, IFAC ban hành IAG (International

Auditing Guidelines) 13 “The Auditor’s Report on Financial Statements” (“Báo cáo kiểm

toán về báo cáo tài chính”) nhằm mục đích “hướng dẫn cho các kiểm toán viên hình thức

và nội dung của báo cáo kiểm toán phát hành cho một cuộc kiểm toán độc lập về báo cáo

tài chính của một công ty” (theo IFAC, 1983) Qua nhiều năm thay đổi theo chiều hướng

cải thiện không ngừng, IAG 13 đã được đổi thành chuẩn mực ISA 700 “The Auditor’s

Report on Financial Statements”, ban hành năm 1994 bởi IFAC Như vậy, từ IAG 13 chỉ

mang tính hướng dẫn cho đến ISA 700 đã đem tính bắt buộc áp dụng vào các quy định

này cho thấy tầm quan trọng của báo cáo kiểm toán đã được nâng lên đáng kể Về cơ bản,

báo cáo kiểm toán theo ISA 700 năm 1994 tương tự như SAS 58, chỉ quy định cụ thể hơn

về các yếu tố trên báo cáo kiểm toán ngoài ba đoạn chính của SAS 58, như tiêu đề, người

nhận, ngày báo cáo kiểm toán, địa chỉ và chữ ký của kiểm toán viên

12 - Đến năm 2005, ISA 700 được sửa đổi nhằm tương thích với sự thay đổi của các chuẩn mực kiểm toán ISA 200 “Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính”, ISA 210 “Hợp đồng kiểm toán”, ISA 560 “Các sự kiện phát sinh sau ngày khoá sổ kế toán lập báo cáo tài chính”, ISA 701 “Chỉnh sửa báo cáo của kiểm toán viên độc lập”, và ISA 800 “Báo cáo kiểm toán về những công việc kiểm toán đặc biệt” Sau khi sửa đổi chuẩn mực về báo cáo kiểm toán được chia thành hai chuẩn mực riêng biệt là ISA 700 (sửa đổi) “Báo cáo của kiểm toán viên độc lập về một bộ báo cáo tài chính theo mục đích chung” chỉ đề cập đến ý kiến chấp nhận toàn phần và ISA 701 “Chỉnh sửa báo cáo của kiểm toán viên độc lập” về các loại ý kiến khác (ý kiến chấp nhận toàn phần có đoạn nhấn mạnh, ý kiến chấp nhận từng phần, ý kiến không chấp nhận, ý kiến từ chối); đồng thời, tên của chuẩn mực cũng được sửa đổi theo

Tuy nhiên, đến năm 2009, sau khi nhận được nhiều phản hồi cho ISA 700 và 701 năm 2005 từ các bộ phận thành viên của IFAC, các tổ chức nghề nghiệp và các nhà làm luật, cũng như để đáp ứng sự thay đổi của ISA 800 “Báo cáo kiểm toán về những công việc kiểm toán đặc biệt” lúc bấy giờ, IFAC tiếp tục ban hành chuẩn mực ISA 700 (chỉnh sửa), ISA 705 và ISA 706 để thay thế cho ISA 700 và ISA 701 năm 2005 Các chuẩn mực mới ra đời với sự thay đổi đáng kể trong tiêu đề của chuẩn mực như: ISA 700 “Ý kiến và báo cáo về báo cáo tài chính”, ISA “Ý kiến chỉnh sửa trong báo cáo của kiểm toán viên độc lập” và ISA 706 “Đoạn về vấn đề nhấn mạnh và vấn đề khác trên báo cáo của kiểm toán viên độc lập” nhằm giúp cho các tiêu đề thể hiện được nội dung chủ yếu của các chuẩn mực Và việc tách biệt ra thành ba chuẩn mực khác nhau nhằm hướng dẫn rõ ràng

và cụ thể cho từng loại ý kiến: ISA 700-ý kiến chấp nhận toàn phần, ISA 705: ý kiến không phải là chấp nhận toàn phần và ISA 706-ý kiến chấp nhận toàn phần nhưng có thêm đoạn nhấn mạnh

Trang 10

- 13 -

1.2 Các yếu tố cơ bản của báo cáo kiểm toán

1.2.1 Nội dung của báo cáo kiểm toán

1.2.1.1 Mục đích và ý nghĩa của báo cáo kiểm toán

Theo SAS 58, báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính thể hiện sự thông báo về các

phát hiện của kiểm toán viên trên báo cáo tài chính cho người sử dụng (AICPA, SAS 58,

1988) Thông tin mà kiểm toán viên cung cấp cho người sử dụng là liệu rằng báo cáo tài

chính được kiểm toán có được lập phù hợp với các chuẩn mực báo cáo được quy định

trên các khía cạnh trọng yếu hay không; nghĩa là kiểm toán viên sẽ xem xét các yêu cầu

sau đây đối với báo cáo tài chính1:

(a) Báo cáo tài chính trình bày đầy đủ các phương pháp kế toán chủ yếu được chọn

và áp dụng;

(b) Các phương pháp kế toán được chọn và áp dụng phải phù hợp với chuẩn mực báo

cáo được quy định và thích hợp với đơn vị;

(c) Các ước tính kế toán của đơn vị là hợp lý;

(d) Các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính là phù hợp, đáng tin cập, có thể so

sánh được và có thể hiểu được;

(e) Báo cáo tài chính cung cấp đầy đủ thông tin để đảm bảo rằng người sử dụng mong

đợi sẽ hiểu được ảnh hưởng của các nghiệp vụ và sự kiện trọng yếu đối với thông

tin muốn truyền đạt của báo cáo tài chính;

(f) Các thuật ngữ dùng trong báo cáo tài chính, bao gồm các tiêu đề của mỗi báo cáo

tài chính là thích hợp;

Với mục đích của báo cáo kiểm toán như trên đã cho thấy báo cáo kiểm toán có ý

nghĩa rất quan trọng đối với người sử dụng báo cáo tài chính và đối với chính hoạt động

kiểm toán

Đối với người sử dụng báo cáo tài chính: báo cáo kiểm toán giúp cho người sử

dụng đánh giá được độ tin cậy của các thông tin trên báo cáo tài chính; trên cơ sở đó mà

14 - đưa ra các quyết định kinh tế đúng đắn, hiệu quả trong mối quan hệ kinh tế với đơn vị có báo cáo tài chính

Đối với hoạt động kiểm toán: báo cáo kiểm toán được phát hành cũng là lúc quá trình thực hiện cuộc kiểm toán báo cáo tài chính kết thúc Kiểm toán viên sẽ thể hiện kết quả công việc của mình qua ý kiến trên báo cáo kiểm toán và hoàn thành nghĩa vụ đối với hợp đồng kiểm toán

1.2.1.2 Các yếu tố của báo cáo kiểm toán

Theo ISA 700 (2009), báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính có các yếu tố cơ bản

và được trình bày theo thứ tự sau đây:

- Tiêu đề của báo cáo

- Người nhận báo cáo

- Đoạn giới thiệu

- Trách nhiệm của Người quản lý đối với báo cáo tài chính

- Trách nhiệm của kiểm toán viên

- Ý kiến của kiểm toán viên

- Các trách nhiệm báo cáo khác (nếu có)

- Chữ ký của kiểm toán viên

- Ngày của báo cáo kiểm toán

- Địa chỉ của kiểm toán viên Các yếu tố trên được quy định cụ thể như sau:

(a) Tiêu đề của báo cáo

Báo cáo kiểm toán phải có một tiêu đề rõ ràng cho thấy rằng đó là báo cáo của kiểm toán viên độc lập

(b) Người nhận báo cáo

Báo cáo kiểm toán phải gửi đến cho các đối tượng theo yêu cầu trong hợp đồng kiểm toán

Trang 11

- 15 -

(c) Đoạn giới thiệu

Đoạn giới thiệu trong báo cáo kiểm toán phải:

- Chỉ ra đơn vị có báo cáo tài chính đã được kiểm toán;

- Nói rằng các báo cáo tài chính đã được kiểm toán;

- Chỉ ra các tiêu đề của từng báo cáo trong báo cáo tài chính;

- Tham chiếu đến phần tóm tắt các chính sách kế toán quan trọng và các

thông tin giải thích khác; và

- Ghi rõ ngày tháng hoặc thời gian báo cáo của mỗi báo cáo bao gồm trong

báo cáo tài chính

(d) Trách nhiệm của Người quản lý đối với báo cáo tài chính

Phần này của báo cáo kiểm toán mô tả các trách nhiệm của những người trong đơn

vị có trách nhiệm lập các báo cáo tài chính Báo cáo của kiểm toán viên không cần phải

nói đến từ "quản lý", nhưng phải sử dụng thuật ngữ nào cho phù hợp với người có thẩm

quyền quy định của pháp luật Trong một số trường hợp về luật pháp, đối tượng thích hợp

có thể là Hội đồng quản trị

Báo cáo kiểm toán phải bao gồm một phần là tiêu đề "Trách nhiệm của Người

quản lý (hoặc từ thích hợp khác) đối với báo cáo tài chính"

Báo cáo kiểm toán phải mô tả trách nhiệm của người quản lý trong việc lập các

báo cáo tài chính Phần mô tả phải giải thích rằng nhà quản lý chịu trách nhiệm về việc

lập Báo cáo tài chính theo các chuẩn mực báo cáo được quy định, và việc thiết lập các

thủ tục kiểm soát nội bộ được xác định là cần thiết để giúp cho việc lập báo cáo tài chính

không có các sai phạm trọng yếu, do gian lận hoặc sai sót

(e) Trách nhiệm của kiểm toán viên

Báo cáo kiểm toán phải bao gồm một phần với tiêu đề "Trách nhiệm của kiểm toán

viên"

Báo cáo kiểm toán phải nêu rằng trách nhiệm của kiểm toán viên là đưa ra ý kiến

về các báo cáo tài chính dựa trên kiểm toán

16 - Báo cáo kiểm toán sẽ nêu rằng kiểm toán được thực hiện theo quy định của các chuẩn mực kiểm toán quốc tế Báo cáo kiểm toán cũng phải giải thích rằng các chuẩn mực này yêu cầu kiểm toán viên phải tuân thủ đạo đức nghề nghiệp được yêu cầu, phải lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán để đạt được mức tin cậy hợp lý về việc các báo cáo tài chính không có các sai phạm trọng yếu

Báo cáo kiểm toán viên phải mô tả một cuộc kiểm toán bằng cách nói rằng: - Kiểm toán liên quan đến việc thực hiện các thủ tục để có được bằng chứng kiểm toán về các số liệu và thuyết minh trong báo cáo tài chính;

- Các thủ tục lựa chọn phụ thuộc vào xét đoán của kiểm toán viên, bao gồm

cả việc đánh giá rủi ro sai sót trọng yếu của báo cáo tài chính, do gian lận hoặc sai sót Khi đưa ra những nguy cơ đánh giá, kiểm toán viên xem xét các thủ tục kiểm soát nội bộ liên quan đến đơn vị lập báo cáo tài chính để thiết

kế thủ tục kiểm toán thích hợp với từng trường hợp, nhưng không phải với mục đích đưa ra ý kiến về tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị Trong trường hợp khi kiểm toán viên còn có trách nhiệm thể hiện ý kiến về tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ kết hợp với việc kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán sẽ bỏ qua cụm từ “kiểm toán viên xem xét

hệ thống kiểm soát nội bộ không phải với mục đích đưa ra ý kiến về hiệu quả của kiểm soát nội bộ”; và

- Công việc kiểm toán cũng bao gồm việc đánh giá sự phù hợp của các chính sách kế toán được sử dụng và tính hợp lý của các ước tính kế toán được thực hiện bởi Nhà quản lý, cũng như sự trình bày tổng thể của báo cáo tài chính Báo cáo kiểm toán phải nêu lên rằng “kiểm toán viên tin rằng các bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên đã thu thập đầy đủ và thích hợp để cung cấp cơ sở cho ý kiến của kiểm toán viên”

(f) Ý kiến của kiểm toán viên

Báo cáo kiểm toán phải bao gồm một phần với tiêu đề "Ý kiến"

Khi đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần về báo cáo tài chính được lập theo các chuẩn mực báo cáo quy định, trừ trường hợp được yêu cầu bởi luật pháp hoặc các quy

Trang 12

- 17 -

định khác, ý kiến của kiểm toán viên phải bao gồm một trong những cụm từ sau đây và

chúng là tương đương nhau:

- Báo cáo tài chính đã phản ánh, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với (các

chuẩn mực báo cáo quy định), hoặc

- Báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý phù hợp với (các chuẩn mực

báo cáo quy định)

Khi đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần về báo cáo tài chính được lập theo một

khuôn khổ quy định, ý kiến của kiểm toán viên sẽ là báo cáo tài chính được lập, trên các

khía cạnh trọng yếu, phù hợp với (Khuôn khổ báo cáo tài chính áp dụng)

(g) Các trách nhiệm báo cáo khác (nếu có)

Nếu kiểm toán viên phải nêu các trách nhiệm khác trong báo cáo kiểm toán về báo

cáo tài chính, bên cạnh trách nhiệm của kiểm toán viên theo các Chuẩn mực kiểm toán

quốc tế trên báo cáo tài chính, thì báo cáo về các trách nhiệm khác phải được đặt trong

một mục riêng trên báo cáo kiểm toán và sẽ có một tiêu đề phụ "Báo cáo các yêu cầu về

vấn đề pháp lý và pháp quy khác", hay nói cách khác là phù hợp với nội dung của phần

này

Nếu báo cáo kiểm toán có một phần riêng về báo cáo các trách nhiệm khác, các

tiêu đề, các báo cáo và các giải trình nêu trên báo cáo kiểm toán sẽ được đặt dưới tiêu đề

phụ "Báo cáo về báo cáo tài chính " "Báo cáo các yêu cầu về vấn đề pháp lý và pháp quy

khác" phải được đặt sau "Báo cáo về báo cáo tài chính."

(h) Chữ ký của kiểm toán viên

Báo cáo kiểm toán phải được ký bởi kiểm toán viên

(i) Ngày của báo cáo kiểm toán

Báo cáo kiểm toán viên phải có ngày không sớm hơn ngày mà các kiểm toán viên

đã thu thập đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp mà trên cơ sở đó, các kiểm toán viên

cho ý kiến về báo cáo tài chính, bao gồm bằng chứng cho thấy:

(j) Địa chỉ của kiểm toán viên

Báo cáo kiểm toán viên phải có tên có thẩm quyền của công ty mà kiểm toán viên làm việc

1.2.2 Các ý kiến của kiểm toán viên

Khi thực hiện công việc kiểm toán, kiểm toán viên sẽ đưa ra ý kiến của mình về báo cáo tài chính sau khi công việc kiểm toán đã hoàn tất Có hai loại ý kiến chủ yếu sau đây

1.2.2.1 Ý kiến không chỉnh sửa

Ý kiến không chỉnh sửa (unmodified opinion) trên báo cáo kiểm toán có nghĩa là kiểm toán viên nhận thấy rằng báo cáo tài chính được lập bởi đơn vị là trung thực và hợp

lý, không cần bất kỳ một điều chỉnh nào bởi kiểm toán viên Ý kiến không chỉnh sửa cũng thường được hiểu là ý kiến chấp nhận toàn phần (unqualified opinion) của kiểm toán viên đối với báo cáo tài chính

Theo ISA 700 (IFAC, 2009) quy định kiểm toán viên sẽ thể hiện trên báo cáo kiểm toán của mình một ý kiến không chỉnh sửa khi kiểm toán viên kết luận rằng báo cáo tài chính được lập, trên các khía cạnh trọng yếu và phù hợp với các chuẩn mực báo cáo được quy định

1.2.2.2 Ý kiến chỉnh sửa

Ý kiến chỉnh sửa (modified opinion) của kiểm toán viên trên báo cáo kiểm toán được quy định rõ ràng và cụ thể trong ISA 705 (IFAC, 2009), theo đó, kiểm toán viên sẽ chỉnh sửa ý kiến của mình (đưa ra ý kiến không phải là chấp nhận toàn phần) trên báo cáo kiểm toán khi:

Trang 13

- 19 -

- Kiểm toán viên kết luận rằng, căn cứ trên các bằng chứng kiểm toán thu

thập được, báo cáo tài chính về mặt tổng thể có các sai phạm trọng yếu; hoặc

- Kiểm toán viên không thể thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích

hợp để đưa ra kết luận rằng báo cáo tài chính về mặt tổng thể không có các

sai phạm trọng yếu

Có ba loại ý kiến chỉnh sửa và hai trường hợp cần chú ý khi đưa ra ý kiến chỉnh

sửa như sau:

(a) Ý kiến ngoại trừ

Kiểm toán viên đưa ra ý kiến ngoại trừ (qualified opinion) khi:

- Sau khi đã thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp, kiểm toán

viên kết luận rằng các sai phạm, riêng lẻ hoặc kết hợp thì trọng yếu, nhưng

chưa ảnh hưởng lan tỏa đến tổng thể báo cáo tài chính; hay - Kiểm toán viên

không thể thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở cho

ý kiến của mình, nhưng kiểm toán viên kết luận rằng ảnh hưởng trên báo cáo

tài chính của các sai phạm không bị phát hiện, nếu có, có thể là trọng yếu

nhưng không lan tỏa đến tổng thể báo cáo tài chính

(b) Ý kiến trái ngược

Kiểm toán viên đưa ra ý kiến trái ngược (adverse opinion) khi kiểm toán viên, đã

thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp, kết luận rằng các sai phạm, riêng lẻ

hoặc tổng thể, là trọng yếu và ảnh hưởng lan tỏa đến tổng thể báo cáo tài chính

(c) Ý kiến từ chối

Các kiểm toán viên đưa ra ý kiến từ chối khi kiểm toán viên không thể thu thập

đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp trên cơ sở đó để cho ý kiến, và kiểm toán

viên kết luận rằng có thể có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính từ những sai phạm không

bị phát hiện, nếu có, có thể là trọng yếu và đồng thời lan tỏa đến tổng thể báo cáo tài

chính

20 - Các kiểm toán viên đưa ra ý kiến từ chối đối với một số trường hợp rất hiếm liên quan đến những tình huống chưa rõ ràng tồn tại đồng thời Lúc này, kiểm toán viên kết luận rằng, dù có thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về mỗi tình huống chưa rõ ràng, thì cũng không thể hình thành ý kiến về báo cáo tài chính do có sự tương tác tiềm tàng của các tình huống chưa rõ ràng và những ảnh hưởng tổng hợp của chúng đến báo cáo tài chính

(d) Khi không có khả năng thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp

do một giới hạn từ phía nhà quản lý sau khi kiểm toán viên đã chấp nhận hợp đồng kiểm toán

Nếu sau khi chấp nhận hợp đồng, kiểm toán viên nhận thấy nhà quản lý đã áp đặt một giới hạn về phạm vi kiểm toán mà kiểm toán viên cho rằng có khả năng phải đưa ra

ý kiến ngoại trừ hoặc ý kiến từ chối về các báo cáo tài chính, thì kiểm toán viên phải yêu cầu nhà quản lý loại bỏ các giới hạn này

Nếu nhà quản lý từ chối loại bỏ các giới hạn nêu trên, các kiểm toán viên phải thông báo vấn đề này với Hội đồng quản trị, trừ khi toàn bộ Hội đồng quản trị đều tham gia quản lý công ty, và xác định xem liệu có thể thực hiện các thủ tục thay thế để có được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp hay không

Nếu kiểm toán viên không thể thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp, kiểm toán viên phải xác định những trường hợp sau:

- Nếu kiểm toán viên kết luận rằng những sai sót không phát hiện có khả năng ảnh hưởng đến báo cáo tài chính, nếu có, có thể trọng yếu nhưng chưa lan tỏa đến tổng thể báo cáo tài chính, các kiểm toán viên sẽ đưa ra ý kiến ngoại trừ, hoặc

- Nếu kiểm toán viên kết luận rằng những sai sót không phát hiện có khả năng ảnh hưởng đến báo cáo tài chính, nếu có, có thể trọng yếu và lan tỏa đến tổng thể mà ý kiến ngoại trừ sẽ là không đủ để thể hiện tình trạng này, các kiểm toán viên sẽ:

+ Rút khỏi cuộc kiểm toán, theo thực tế và các thông lệ của pháp luật hoặc các quy định khác; hay

Trang 14

- 21 -

+ Nếu rút khỏi cuộc kiểm toán trước khi phát hành báo cáo kiểm toán là

không thể thực hiện được thì có thể đưa ra ý kiến từ chối về báo cáo tài

chính

Nếu pháp luật cho phép kiểm toán viên rút khỏi cuộc kiểm toán, trước khi rút khỏi,

các kiểm toán viên phải thông báo với Hội đồng quản trị về các vấn đề liên quan đến các

sai phạm phát hiện được trong quá trình kiểm toán, và chúng sẽ dẫn đến một ý kiến chỉnh

sửa trên báo cáo kiểm toán

(e) Những vấn đề khác cần lưu ý liên quan đến ý kiến trái ngược hoặc ý kiến từ

chối

Khi kiểm toán viên xét thấy cần thiết đưa ra ý kiến trái ngược hoặc ý kiến từ chối

về tổng thể báo cáo tài chính, thì khi đó báo cáo kiểm toán sẽ không thể thể hiện một ý

kiến chấp nhận toàn phần của từng báo cáo tài chính đơn lẻ hay về một hoặc nhiều các

yếu tố, tài khoản hay hạng mục trên báo cáo tài chính dựa trên cùng một cơ sở lập báo

cáo tài chính Do đó, việc đem ý kiến chấp nhận vào cùng một báo cáo kiểm toán trong

những trường hợp này sẽ gây mâu thuẫn với ý kiến trái ngược hay ý kiến từ chối của kiểm

toán viên đối với tổng thể báo cáo tài chính2

Trong một số trường hợp, mặc dù đơn vị không có bất kỳ một sai sót trọng yếu

nào và kiểm toán viên chấp nhận báo cáo tài chính của đơn vị, nhưng kiểm toán viên lại

muốn người sử dụng lưu ý đến một vấn đề nào đó trên báo cáo tài chính vì kiểm toán viên

tin rằng thông tin này là quan trọng đối với người sử dụng báo cáo Khi đó, kiểm toán

viên không thể vận dụng ISA 700 và ISA 705 để thể hiện ý kiến trên báo cáo kiểm toán

Do đó, để đáp ứng các trường hợp đa dạng của báo cáo kiểm toán, IFAC cũng ban hành

thêm ISA 706 trong năm 2009 về “Ý kiến có đoạn nhấn mạnh hoặc đoạn về vấn đề khác

trên báo cáo kiểm toán” với các quy định cụ thể như sau:

2 ISA 705 cho phép có thể đưa ra ý kiến trái ngược hay từ chối cho tổng thể báo cáo tài chính đồng thời đưa ra ý

kiến không điều chỉnh cho một báo cáo tài chính riêng lẻ hay một bộ phận của báo cáo tài chính nếu các ý kiến

này dựa trên các cơ sở lập báo cáo tài chính khác nhau (thí dụ tổng thể báo cáo tài chính không phù hợp với chuẩn

mực kế toán nhưng khoản mục doanh thu được lập phù hợp với cơ sở thuế) ISA 705 cũng cho phép trong trường

hợp kiểm toán năm đầu tiên, kiểm toán viên có thể đưa ra ý kiến từ chối đối với kết quả kinh doanh và lưu chuyển

22 -

- Đoạn nhấn mạnh về một vấn đề trên Báo cáo kiểm toán

Nếu theo đánh giá của mình, kiểm toán viên cho là cần thiết phải thu hút sự chú ý của người sử dụng báo cáo kiểm toán về một vấn đề trình bày hoặc công bố trong báo cáo tài chính, và việc này góp phần quan trọng, là nền tảng cho sự hiểu biết của người sử dụng đối với báo cáo tài chính, thì kiểm toán viên sẽ thêm một đoạn nhấn mạnh các vấn

đề trong Báo cáo kiểm toán cho thấy rằng các kiểm toán viên đã thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp cho thấy vấn đề không phải là sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính Đoạn nhấn mạnh như thế này chỉ để tham khảo thông tin trình bày hoặc công

bố trong Báo cáo tài chính

Khi kiểm toán viên thêm một đoạn nhấn mạnh các vấn đề trong báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên sẽ:

- Đặt nó ngay sau đoạn ý kiến trong báo cáo kiểm toán;

- Sử dụng tiêu đề "Vấn đề cần nhấn mạnh", hoặc các từ ngữ thích hợp khác;

- Thể hiện rõ ràng về vấn đề cần nhấn mạnh, có tham chiếu đến vị trí mà vấn đề này được công bố trên báo cáo tài chính Và mô tả đầy đủ về vấn đề này phải có trên báo cáo tài chính; và

- Chỉ ra rằng ý kiến của kiểm toán viên vẫn không chỉnh sửa (vẫn là chấp nhận toàn phần) mặc dù vẫn tôn trọng vấn đề nhấn mạnh

- Đoạn về các vấn đề khác trong Báo cáo kiểm toán

Nếu theo đánh giá của mình, kiểm toán viên cho là cần thiết phải thông tin về một vấn đề khác với những gì đã được trình bày hoặc công bố trong báo cáo tài chính, có liên quan đến sự hiểu biết của người sử dụng kiểm toán, đến các trách nhiệm của kiểm toán viên hoặc báo cáo kiểm toán và điều này pháp luật và các quy định cho phép, thì kiểm toán viên sẽ đề cập vấn đề này trong một đoạn trong báo cáo kiểm toán, với tiêu đề "Các vấn đề khác", hoặc một tiêu đề thích hợp khác Kiểm toán viên phải đặt đoạn này ngay sau đoạn ý kiến và bất cứ đoạn vấn đề cần nhấn mạnh nào, hoặc ở nơi nào đó khác trong báo cáo kiểm toán nếu nội dung của đoạn vấn đề khác có liên quan đến phần về các Trách nhiệm báo cáo khác

Trang 15

- 23 -

1.3 Khoảng cách thông tin

Như đã trình bày ở trên, báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính thể hiện sự thông

báo về những phát hiện của kiểm toán viên trên báo cáo tài chính cho người sử dụng

(AICPA, SAS 58, 1988) Tuy nhiên, sự thông báo này có hai chiều và tính hiệu quả của

nó phụ thuộc vào phạm vi mà người thông báo và người nhận thông báo có chia sẻ ý

nghĩa của các khái niệm với nhau hay không (Ducan và Moriarty, 1988) Nếu không có

sự chia sẻ ý nghĩa, sẽ dẫn đến việc hiểu sai và bất kỳ một sự hiểu sai nào cũng dẫn đến

những việc đầu tư không theo mong muốn, phân bổ nguồn lực không đúng, những tranh

chấp không cần thiết, và sự mất lòng tin vào kiểm toán

Sự khác biệt giữa những gì kiểm toán viên muốn truyền đạt và những gì mà người

sử dụng báo cáo kiểm toán hiểu được gọi là khoảng cách thông tin Do tính quan trọng

của tính chính xác trong thông tin mà kiểm toán viên mang đến nên việc xác định, hiểu

và bất kỳ khi nào có thể, rút ngắn khoảng cách thông tin trọng yếu giữa kiểm toán viên

và người sử dụng báo cáo kiểm toán là rất quan trọng vì báo cáo kiểm toán là phương tiện

cơ bản mà kiểm toán viên thông báo những phát hiện của mình đến người sử dụng và bất

kỳ một khoảng cách thông tin không chủ đích nào cũng đều làm suy yếu giá trị của báo

cáo kiểm toán

Năm 1974, AICPA đã chỉ định Ủy ban Cohen (hay CAR) điều tra xem liệu khoảng

cách thông tin có còn tồn tại ở Mỹ hay không Nhiều nghiên cứu về khoảng cách thông

tin đối với báo cáo kiểm toán dạng ngắn đã được tiến hành Kết quả của các nghiên cứu

này hầu hết chỉ ra rằng khoảng cách thông tin vẫn tồn tại (Bảng 1.1) Và CAR kết luận

rằng báo cáo kiểm toán “dạng ngắn” tạo ra nhiều rắc rối trong quan hệ trách nhiệm của

Nhà quản lý và kiểm toán viên, báo cáo không phân biệt rõ ràng mục tiêu và giới hạn cơ

bản của kiểm toán (ví dụ: người sử dụng đánh đồng báo cáo kiểm toán với sự đảm bảo

về tài chính) và báo cáo kiểm toán sử dụng các ngôn ngữ kỹ thuật rất dễ bị giải thích sai

(ví dụ: trình bày hợp lý) Do đó, CAR đã kêu gọi phải cải thiện báo cáo kiểm toán và làm

mất đi các ngôn từ kỹ thuật gây nhầm lẫn Để đáp ứng vấn đề này, ASB sau đó ban hành

24 - SAS 58 (1988), trong đó, báo cáo kiểm toán có thêm một đoạn giải thích làm rõ quan hệ trách nhiệm của Ban giám đốc và kiểm toán viên, và đoạn phạm vi nêu ra bản chất và giới hạn của kiểm toán Tuy nhiên, các thuật ngữ “trình bày hợp lý… phù hợp với các các quy định được chấp nhận chung” vẫn còn tồn tại

Bảng 1.1: Các nghiên cứu về khoảng cách thông tin đối với báo cáo kiểm toán dạng ngắn Nhà nghiên

cứu

Khoảng cách thông tin

Khoảng cách thông tin

McEnroe and Martens (2001)

X Các nhà đầu tư và

kiểm toán viên

Hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty được kiểm toán có hiệu quả, các kiểm toán viên

đã thực hiện một chức năng giám sát công chúng, các báo cáo tài chính không có gian lận của quản lý và nhân viên, và không có hoạt động bất hợp pháp nào được thực hiện bởi khách hàng

Trang 16

- 25 -

tích và kiểm toán viên

Việc phòng ngừa gian lận, đảm bảo tính chính xác của các báo cáo tài chính, và hiệu quả quản lý

Trách nhiệm của kiểm toán viên trong việc phát hiện gian lận, đảm bảo các hồ sơ kế toán, và duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ hợp lý

Sau khi SAS 58 được ban hành, các nhà nghiên cứu lại tiếp tục xem xét liệu khoảng

cách thông tin có còn tồn tại sau khi báo cáo kiểm toán chuẩn ba đoạn được áp dụng hay

không và nếu có, làm thế nào để xóa bỏ khoảng cách này Và kết quả của các nghiên cứu

đều cho thấy mặc dù báo cáo kiểm toán đã thay đổi theo chiều hướng tiến bộ hơn nhưng

khoảng cách thông tin vẫn tiếp tục tồn tại (Bảng 1.2)

26 - Miller et al

(1990)

So sánh giữa các ngân hàng

Phạm vi, bản chất và giới hạn của kiểm toán

Không đề cập

Nair và Rittenberg (1987)

Các ngân hàng

và kế toán viên công chứng

Các ngân hàng đặt nhiều trách nhiệm về báo cáo tài chính lên kiểm toán viên hơn

Không đề cập

Asare và Wright (2009)

Các nhà đầu tư, kiểm toán viên

và những người cho vay

- Về vai trò và trách nhiệm trong chức năng kiểm toán

có thể mang đến sự khác biệt trong cách giải thích

về báo cáo kiểm toán (được goị là khác biệt vĩ

- Có thể thay đổi từ ngữ trên báo cáo kiểm toán để làm rõ vai trò và giới hạn của kiểm toán, và/hoặc giúp cho nghề nghiệp kiểm toán có thêm các chương trình và thông

mô)

- Cách giải thích các thuật ngữ hay các khái niệm mang tính kỹ thuật trên báo cáo kiểm toán (được gọi là khác biệt vi mô)

tin giáo dục cho người sử dụng

- Nên sửa đổi chuẩn mực để giải thích rõ một số thuật ngữ trong chuẩn mực của báo cáo kiểm toán chứ không phải ở một chuẩn mực riêng rẽ; và nên tổ chức các chương trình giáo dục mục tiêu cho các nhóm người sử dụng đối với phần lớn các thuật ngữ còn lại

Sau SAS 58 là sự ra đời của các chuẩn mực về báo cáo kiểm toán như ISA 700, ISA 705 và ISA 706 hiện nay; tuy nhiên, nội dung chính của các chuẩn mực kiểm toán quốc tế hiện hành vẫn là báo cáo kiểm toán có ba đoạn tương tự như SAS 58 Do đó, căn

cứ vào những nghiên cứu ở trên đối với SAS 58, có thể nhận thấy rằng, hiện nay, khoảng

Trang 17

- 27 -

cách thông tin vẫn tồn tại và việc tiếp tục tìm ra các giải pháp để rút ngắn khoảng cách

này là rất quan trọng và cần thiết nhằm giúp cho thông điệp mà báo cáo kiểm toán định

mang đến cho người sử dụng được chính xác hơn

1.4 Mối quan hệ giữa các chuẩn mực kế toán và báo cáo kiểm toán

Với mục đích của báo cáo kiểm toán là thể hiện một ý kiến về báo cáo tài chính có

được lập dựa trên các cơ sở lập báo cáo tài chính hay không (theo IAS) hoặc có được lập

phù hợp với các quy định được chấp nhận chung hay không (theo US GAAS), cho thấy

báo cáo kiểm toán và các chuẩn mực kế toán có quan hệ rất mật thiết với nhau và mối

quan hệ này thể hiện thông qua các chuẩn mực kiểm toán khi các chuẩn mực kiểm toán

luôn được thiết lập cho phù hợp với các chuẩn mực kế toán Khi các chuẩn mực kế toán

chưa quy định rõ ràng về một vấn đề nào đó thì báo cáo kiểm toán phải làm rõ vấn đề

này, nghĩa là kiểm toán viên sẽ phải đề cập và thể hiện rõ vấn đề trên báo cáo kiểm toán

của mình; nhưng một khi vấn đề này đã được làm rõ trong một chuẩn mực kế toán nào

đó thì trên báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên không cần đề cập đến vấn đề này nữa

mà chỉ đơn giản là nhận xét chung về báo cáo tài chính của đơn vị có trung thực và hợp

lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không Bảng 1.3 bên dưới thể hiện mối quan hệ giữa

các chuẩn mực kế toán và báo cáo kiểm toán thông qua nội dung của các chuẩn mực kiểm

SAS 50 Áp dụng các nguyên tắc kế toán SAS 57 Các ước tính kế toán

SAS 59, SAS 77 Đáng giá khả năng hoạt động liên tục của đơn vị để xác định liệu

nguyên tắc dồn tích của kế toán có còn hợp lý SAS 101 Đánh giá các công bố và các đo lường hợp lý trên báo cáo tài

chính

Dưới đây, ta sẽ đi vào phân tích mối quan hệ giữa báo cáo kiểm toán với các chuẩn mực kế toán thông qua sự thay đổi hai quy định về kế toán nổi bật: thay đổi chính sách

kế toán và quy định về các tình huống chưa rõ ràng

1.4.1 Sự thay đổi chính sách kế toán

Từ trước năm 1978, khi chuẩn mực kế toán chưa ban hành về việc áp dụng không nhất quán các quy định được chấp nhận chung Và nếu việc thay đổi các chính sách kế toán có ảnh hưởng trọng yếu đến tính so sánh trên báo cáo tài chính thì báo cáo kiểm toán

“dạng ngắn” sẽ có ý kiến chấp nhận từng phần với cụm từ “ngoại trừ” và ý kiến ngoại trừ này là phù hợp vì kiểm toán viên không có cơ sở về mặt kế toán để chứng minh rằng việc thay đổi các chính sách kế toán vẫn đảm bảo tính so sánh của báo cáo tài chính (do không

có quy định về kế toán về vấn đề này)

Tuy nhiên, đến năm 1978, lần đầu tiên chuẩn mực kế toán quốc tế về thay đổi chính sách kế toán được giới thiệu IAS 8 “Accounting policies, Changes in Accounting Estimates and Errors” ra đời với các hướng dẫn cụ thể cho việc trình bày những thay đổi trong chính sách kế toán trên báo cáo tài chính của đơn vị Lúc này, báo cáo kiểm toán

“dạng ngắn” với ý kiến “ngoại trừ” đã không còn thích hợp nữa vì báo cáo tài chính đã trình bày sự thay đổi chính sách kế toán và kiểm toán viên có trách nhiệm đưa ra ý kiến

về báo cáo tài chính này Do đó, vào năm 1987, AICPA ban hành SAS 58 nhằm cải thiện

ý kiến kiểm toán đối với trường hợp này cho phù hợp hơn với sự ra đời của chuẩn mực

Trang 18

- 29 -

kế toán quốc tế IAS 8 SAS 58 được ban hành với quy định rằng, khi đơn vị thay đổi

chính sách kế toán, ý kiến của kiểm toán viên sẽ không còn là ý kiến “ngoại trừ” nữa mà

sẽ vẫn là ý kiến chấp nhận toàn phần với một đoạn nhấn mạnh trong phần ý kiến kiểm

toán để mô tả thêm về các thay đổi kế toán

1.4.2 Các tình huống chưa rõ ràng

Các tình huống chưa rõ ràng được chia ra thành hai loại, chưa rõ ràng về khả năng

hoạt động liên tục của đơn vị và các tình huống chưa rõ ràng khác

1.4.2.1 Về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị

Ngay từ giai đoạn báo cáo kiểm toán ra đời, vấn đề về khả năng hoạt động cũng

đã được đề cập đến trong báo cáo kiểm toán, nhưng dưới dạng ý kiến chấp nhận từng

phần với cụm từ “tùy thuộc vào” Bất kỳ khi nào kiểm toán viên có nghi ngờ liên quan

đến khả năng hoạt động liên tục của đơn vị, kiểm toán viên không cần thiết phải tiến hành

thêm bất kỳ thủ tục đánh giá nào về đơn vị, về các công ty có liên quan của đơn vị, về

ngành nghề kinh doanh, về nền kinh tế nói chung…để đưa ra kết luận về khả năng hoạt

động liên tục Nguyên nhân để kiểm toán viên có rất ít trách nhiệm về vấn đề này là vì

thứ nhất, chuẩn mực kế toán chưa có quy định nào về vấn đề này phải trình bày trên báo

cáo tài chính, thứ hai, các quy định về kế toán cũng chưa yêu cầu trách nhiệm của kiểm

toán viên về vấn đề này Đến năm 1975, chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 1 “Presentation

of Financial Statements” (“Trình bày báo cáo tài chính”) được ban hành bởi IASB với

quy định cụ thể về trình bày về vấn đề hoạt động liên tục trên thuyết minh báo cáo tài

chính và các thay đổi đối với cơ sở lập báo cáo trên báo cáo tài chính của đơn vị nếu khả

năng hoạt động liên tục của đơn vị đã không còn Khi IAS 1 ra đời, kiểm toán viên không

thể tiếp tục sử dụng ý kiến chấp nhận từng phần “tùy thuộc vào” được nữa và do đó,

ngành nghề kiểm toán đòi hỏi phải có một quy định mới cho phù hợp với vấn đề này

Để đáp ứng sự thay đổi trong chuẩn mực kế toán, năm 1988, AICPA ban hành

SAS 59 “The Auditor's Consideration of an Entity's Ability to Continue as a Going

30 - Concern” (“Xem xét của kiểm toán viên về khả năng hoạt động liên tục của đơn vị”) với quy định cho ngành nghề kiểm toán về vấn đề này SAS 59 có quy định trách nhiệm của kiểm toán viên đối với khả năng hoạt động liên tục của công ty được kiểm toán và các thủ tục cần thiết để kiểm toán viên có thể xem xét và đưa ra kết luận về vấn đề này Do báo cáo tài chính của đơn vị đã được lập theo IAS 1, nghĩa là trong trường hợp có nghi ngờ về khả năng này thì nhà quản lý phải công bố đầy đủ và rõ ràng trên báo cáo tài chính

và cơ sở lập báo cáo tài chính khác không phải dồn tích; nên theo SAS 59, công việc của kiểm toán viên lúc này chỉ là xem xét, đánh giá và đưa ra ý kiến rằng nhà quản lý có thực hiện tốt nghĩa vụ này hay chưa và liệu đánh giá của nhà quản lý về khả năng hoạt động liên tục có hợp lý hay không và báo cáo kiểm toán chỉ cần có thêm một đoạn giải thích

về vấn đề này sau đoạn ý kiến của kiểm toán viên nếu có nghi ngờ về khả năng hoạt động trong thời gian còn lại của công ty; ngoài ra, không có thay đổi nào được yêu cầu trong đoạn mở đầu, phạm vi và đoạn ý kiến kiểm toán cho trường hợp này

1.4.2.2 Các tình huống chưa rõ ràng khác

Đối với các tình huống chưa rõ ràng khác, như là các vấn đề chưa rõ ràng về các

sự kiện sau ngày kết thúc niên độ kế toán, trước khi có chuẩn mực kế toán liên quan được ban hành thì báo cáo kiểm toán cũng là ý kiến chấp nhận từng phần sử dụng cụm từ “tùy thuộc vào” cho vấn đề này Vào năm 1978, chuẩn mực kế toán quốc tế về kế toán các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ được giới thiệu IAS 10 “Events after Reporting period” (“Các sự kiện sau ngày báo cáo”) ra đời với các hướng dẫn cụ thể cho việc kế toán và trình bày những sự kiện phát sinh sau niên độ; do đó, việc kiểm toán viên đưa ra

ý kiến “tùy thuộc vào” khi chưa chắc chắn về ảnh hưởng của những sự kiện này đối với báo cáo tài chính như trước kia là không còn phù hợp nữa Đến năm 1987, SAS 58 về báo cáo kiểm toán ra đời đã đáp ứng được sự thay đổi của chuẩn mực kế toán này SAS

58 quy định, trong trường hợp đơn vị có bất kỳ một sự kiện phát sinh sau niên độ, kiểm toán viên phải xem xét trình bày của đơn vị về vấn đề này trên báo cáo tài chính đã hợp

lý chưa (sự kiện nào nên điều chỉnh, sự kiện nào nên thuyết minh và sự kiện nào không liên quan đến năm tài chính kiểm toán) và đưa ra ý kiến chấp nhận hay không về tổng thể

Trang 19

- 31 -

báo cáo tài chính Tuy nhiên, bên cạnh trình bày ý kiến của mình như thường lệ, đối với

vấn đề này, SAS 58 quy định báo cáo kiểm toán phải có thêm đoạn giải thích tùy vào khả

năng bị mất tiền và liệu có ước tính hợp lý được số tiền hay không

Qua các trường hợp trên, rõ ràng ta thấy có sự thay đổi đáng kể trên báo cáo kiểm

toán khi các quy định kế toán ban hành để làm rõ cho những vấn đề trên báo cáo tài chính

mà trước đây chưa có Tuy nhiên, liệu những quy định hiện tại về những vấn đề trên được

nêu trong đoạn giải thích của báo cáo kiểm toán có thực sự cấn thiết hay không, hay chỉ

đơn giản là kiểm toán viên chỉ cần đánh giá là liệu những vấn đề này đã được doanh

nghiệp trình bày đầy đủ và chính xác trong báo cáo tài chính hay chưa để ra ý kiến chung

về báo cáo tài chính “trung thực và hợp lý” là đủ Ta sẽ tiếp tục xem xét vấn đề này qua

khảo sát thực tế trong chương tiếp theo của chuyên đề nghiên cứu

2.1.1 Hoàn cảnh ra đời, định nghĩa, vai trò và ý nghĩa của báo cáo kiểm toán

2.1.1.1 Hoàn cảnh ra đời chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700

Tháng 1 năm 1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 07/CP ngày 29/1/1994 về Quy chế kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân Ngành nghề kiểm toán độc lập tại Việt Nam ra đời; tuy nhiên, lúc bấy giờ, vẫn chưa có bất kỳ một hướng dẫn nào về công việc kiểm toán độc lập hay kể cả việc kiểm toán cần phải báo cáo như thế nào cả Đến tháng 9 năm 1999, cùng với Quyết định số 120/1999/QĐ-BTC ngày 27 tháng 9 năm 1999, bốn chuẩn mực kiểm toán đầu tiên được ban hành nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, tài chính, nâng cao chất lượng của kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân; và kiểm tra, kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập, lành mạnh hoá thông tin tài chính trong nền kinh tế quốc dân Và chuẩn mực kiểm toán số 700 (VSA 700)-Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính là một trong bốn chuẩn mực đầu tiên này, nhằm quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản đối với nội dung và hình thức của báo cáo kiểm toán do kiểm toán viên và công ty kiểm toán công bố sau khi thực hiện công việc kiểm toán báo cáo tài chính của một đơn vị

2.1.1.2 Định nghĩa về báo cáo kiểm toán

Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính là loại báo cáo bằng văn bản do kiểm toán viên lập và công bố để nêu rõ ý kiến chính thức của mình về báo cáo tài chính của một đơn vị (tổ chức hoặc doanh nghiệp) đã được kiểm toán

2.1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của báo cáo kiểm toán

Đối với hoạt động kiểm toán: báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính là khâu cuối cùng trong quá trình thực hiện cuộc kiểm toán báo cáo tài chính để trình bày kết quả của

Trang 20

- 33 -

cuộc kiểm toán bằng những ý kiến đánh giá của kiểm toán viên về thông tin định lượng

và trình bày báo cáo tài chính theo quy định của chuẩn mực hoặc chế độ kế toán hiện

hành

Đối với người sử dụng báo cáo tài chính: giúp cho người sử dụng đánh giá được

độ tin cậy của các thông tin định lượng trên báo cáo tài chính trên cơ sở đó mà đưa ra các

quyết định kinh tế đúng đắn, hiệu quả trong mối quan hệ kinh tế với tổ chức hoặc doanh

nghiệp có báo cáo tài chính

2.1.2 Nội dung chuẩn mực

2.1.2.1 Các yếu tố cơ bản của báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính gồm các yếu tố cơ bản và được trình bày

theo thứ tự sau đây:

(a) Tên và địa chỉ công ty kiểm toán;

(b) Số hiệu báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính;

(c) Tiêu đề báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính;

(d) Người nhận báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính;

(e) Mở đầu của báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính;

(f) Phạm vi và căn cứ thực hiện cuộc kiểm toán;

(g) Ý kiến của kiểm toán viên và công ty kiểm toán về các báo cáo tài chính đã

được kiểm toán;

(h) Địa điểm và thời gian lập báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính; (i) Chữ

(b) Số hiệu báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

Là số hiệu phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính của công ty kiểm toán Số hiệu này cần phải đăng kí chính thức trên hệ thống văn bản của công ty kiểm toán

(c) Tiêu đề báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

Tiêu đề phải rõ ràng, thích hợp để phân biệt với các loại báo cáo khác

(d) Người nhận báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

Là người kí hợp đồng với người thực hiện kiểm toán.Người nhận báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính có thể là Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc các cổ đông của đơn

vị được kiểm toán

(e) Mở đầu của báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

Phải ghi rõ các báo cáo tài chính là đối tượng của cuộc kiểm toán, ghi rõ ngày, niên độ lập báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

(f) Phạm vi và căn cứ thực hiện cuộc kiểm toán

- Chuẩn mực kiểm toán và kế hoạch kiểm toán đã áp dụng trong cuộc kiểm toán

- Phải nêu những công việc và thủ tục kiểm toán mà kiểm toán viên đã thực hiện

(g) Ý kiến của kiểm toán viên trình bày trên báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

- Có bốn loại ý kiến tuỳ thuộc vào kết quả cuộc kiểm toán:

+ Ý kiến chấp nhận toàn phần + Ý kiến chấp nhận từng phần + Ý kiến từ chối

+ Ý kiến không chấp nhận (ý kiến trái ngược) - Thư quản lý:

Trang 21

- 35 -

Kiểm toán viên gửi thư quản lý cho giám đốc đơn vị kiểm toán hoặc gửi cho Hội

đồng quản trị để giúp doanh nghiệp chấn chỉnh công tác quản lý tài chính, kế toán và

hoàn thiện hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ

- Phụ lục báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

Để bổ sung thêm về kết quả của cuộc kiểm toán đã được trình bày trên báo cáo

kiểm toán về báo cáo tài chính

(h) Địa điểm và thời gian lập báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

- Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính phải ghi rõ ngày tháng, năm kết thúc toàn

bộ cuộc kiểm toán;

-Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính phải ghi rõ địa điểm của công ty hoặc chi

nhánh công ty kiểm toán chịu trách nhiệm phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài

chính

(i) Chữ ký và đóng dấu

- Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính phải ký rõ tên của kiểm toán viên

là người chịu trách nhiệm kiểm toán, và ghi rõ tên của Giám đốc hoặc người được uỷ

quyền của công ty kiểm toán chịu trách nhiệm phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo

tài chính;

- Dưới mỗi chữ ký phải ghi rõ họ tên, trên chữ ký của Giám đốc phải đóng

dấu của công ty chịu trách nhiệm phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính;

- Giữa các trang của báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính phải được đóng

dấu giáp lai;

- Phù hợp với thông lệ chung của Quốc tế, Giám đốc được phép ký bằng tên

của mình và đóng dấu công ty kiểm toán

2.1.2.3 Các loại ý kiến của kiểm toán viên về báo cáo tài chính

Căn cứ kết quả kiểm toán, kiểm toán viên đưa ra một trong các loại ý kiến về báo

cáo tài chính, như sau:

và chế độ kế toán được chấp nhận Ý kiến chấp nhận toàn phần cũng có hàm ý rằng tất

cả các thay đổi về nguyên tắc kế toán và các tác động của chúng đã được xem xét, đánh giá một cách đầy đủ và đã được đơn vị nêu rõ trong phần thuyết minh báo cáo tài chính

Ý kiến chấp nhận toàn phần được áp dụng cho cả trường hợp báo cáo tài chính được kiểm toán có những sai sót nhưng đã được kiểm toán viên phát hiện và đơn vị đã điều chỉnh theo ý kiến của kiểm toán viên

Ý kiến này còn được áp dụng cho cả trường hợp báo cáo kiểm toán có một đoạn nhận xét để làm sáng tỏ một số yếu tố ảnh hưởng không trọng yếu đến báo cáo tài chính, nhưng không có ảnh hưởng đến báo cáo kiểm toán Đoạn này thường được gọi là đoạn nhấn mạnh trên báo cáo kiểm toán

Ý kiến chấp nhận toàn phần không có nghĩa là báo cáo tài chính được kiểm toán hoàn toàn đúng, mà có thể có sai sót nhưng sai sót đó là không trọng yếu

- Ý kiến chấp nhận từng phần

Khi kiểm toán viên và công ty kiểm toán cho rằng báo cáo tài chính chỉ phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị, nếu không bị ảnh hưởng bởi yếu tố ngoại trừ mà kiểm toán viên đã nêu ra trong báo cáo tài chính

Yếu tố ngoại trừ là yếu tố trọng yếu nhưng không chắc chắn, như các vấn đề liên quan đến tính liên tục hoạt động kinh doanh của đơn vị, hoặc một khoản doanh thu có thể không được công nhận làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của đơn vị Yếu tố này

Trang 22

- 37 -

thường liên quan đến các sự kiện có thể xảy ra trong tương lai, nằm ngoài khả năng kiểm

soát của đơn vị và kiểm toán viên

Ý kiến chấp nhận từng phần còn có thể xuất phát từ việc kiểm toán viên không

đồng ý với Giám đốc hay công việc kiểm toán bị giới hạn một phần nào đó, mà phần này

là quan trọng nhưng lại không liên quan tới một số lượng lớn các khoản mục tới mức có

thể dẫn đến ý kiến từ chối hoặc ý kiến không chấp nhận

- Ý kiến từ chối (hoặc không thể đưa ra ý kiến)

Ý kiến từ chối (hoặc không thể đưa ra ý kiến) được đưa ra trong trường hợp hậu

quả của việc giới hạn phạm vi kiểm toán là nghiêm trọng hoặc thiếu thông tin liên quan

đến một số lượng lớn các khoản mục tới mức mà kiểm toán viên không thể thu thập đầy

đủ và thích hợp các bằng chứng kiểm toán để có thể cho ý kiến về báo cáo tài chính

- Ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược)

Ý kiến này được đưa ra trong trường hợp các vấn đề không thống nhất với Giám

đốc là quan trọng hoặc liên quan đến một số lượng lớn các khoản mục đến mức mà kiểm

toán viên cho rằng ý kiến chấp nhận từng phần là chưa đủ để thể hiện tính chất và mức

độ sai sót trọng yếu của báo cáo tài chính

Mỗi khi kiểm toán viên đưa ra ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần (ý

kiến chấp nhận từng phần, ý kiến từ chối hoặc ý kiến không chấp nhận) thì phải mô tả rõ

ràng trong báo cáo kiểm toán tất cả những lý do chủ yếu dẫn đến ý kiến đó và định lượng,

nếu được, những ảnh hưởng của nó đến báo cáo tài chính Những thông tin này được ghi

trong một đoạn riêng nằm trước đoạn đưa ra ý kiến của kiểm toán viên, và có thể tham

chiếu đến một đoạn thuyết minh chi tiết hơn trong báo cáo tài chính (nếu có)

2.1.3 So sánh VSA 700 và các chuẩn mực quốc tế hiện hành

Nhìn chung, cả Chuẩn mực kiểm toán quốc tế 700 (ISA 700) và VSA 700 đều quy

định Báo cáo kiểm toán phải có các yếu tố cơ bản như đã đề cập ở phần 2.1.2 Tuy nhiên,

cách bố trí về hình thức báo cáo kiểm toán, như: các tiêu đề và các yếu tố lại có một số

điểm khác nhau giữa ISA 700 và VSA 700 (Bảng 2.1); cụ thể như sau:

38 -

Bảng 2.1: Sự khác nhau của các yếu tố trên báo cáo kiểm toán giữa ISA 700 và VSA 700

Tiêu đề của báo cáo

“Báo cáo của kiểm toán viên độc lập” “Báo cáo kiểm

toán”

Đoạn mở đầu Chỉ bao gồm đoạn mở đầu

Bao gồm đoạn mở đầu và trách nhiệm của Ban giám đốc Trách nhiệm

của Ban giám đốc

Được tách biệt thành một đoạn riêng trên báo cáo kiểm toán và được đặt tiêu đề là “Trách nhiệm của Ban giám đốc đối với báo cáo tài chính”

Gộp chung vào phần mở đầu và không đặt tiêu đề Trách nhiệm

của kiểm toán viên

- Tiêu đề: “Trách nhiệm của kiểm toán viên”

- Cụ thể và yêu cầu đầy đủ hơn trong việc

mô tả công việc của kiểm toán viên, như: giải thích cụ thể là các chuẩn mực kiểm toán quốc tế yêu cầu các kiểm toán viên tuân thủ với các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp, các thủ tục của kiểm toán viên dựa trên phán đoán của kiểm toán viên, bao gồm việc đánh giá rủi ro các sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính do gian lận hay sai sót Để

có được đánh giá này, kiểm toán viên phải xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị liên

- Tiêu đề:

“Cơ sở ý kiến”

rằng kiểm toán viên đã sử dụng phương pháp chọn mẫu và áp dụng các thử nghiệm cần thiết để kiểm tra

quan tới việc lập báo cáo tài chính để thiết kế các thủ tục kiểm toán cho phù hợp, nhưng không nhằm mục đích nêu ra ý kiến về tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát của đơn vị

Trang 23

- Các loại ý kiến khác với ý kiến chấp nhận

toàn phần, như: ý kiến chấp nhận từng phần, ý kiến

từ chối hoặc ý kiến không chấp nhận được đề cập

riêng rẽ trong chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 705

(ISA 705) – Thay đổi ý kiến trên báo cáo kiểm

toán độc lập Không đề cập đến ý kiến tùy thuộc

vào

- Ngoài ra, các quy định về đoạn nhấn mạnh

và những đoạn về các vấn đề khác trên báo cáo

kiểm toán độc lập cũng được quy định riêng ở

chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 706 (ISA 706) –

Đoạn nhấn mạnh và các vấn đề khác trên báo cáo

kiểm toán độc lập

Bao gồm các loại

ý kiến:

• Ý kiến chấp nhận toàn phần (bao gồm luôn

cả đoạn nhấn mạnh, nếu có)

• Ý kiến chấp nhận từng phần (bao gồm cả ý kiến tùy thuộc vào)

• Ý kiến từ chối (hoặc không thể đưa ra ý kiến)

• Ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược)

2.2 Đánh giá tính hệ thống của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700

2.2.1 VSA 700 trong mối quan hệ với các chuẩn mực kiểm toán hiện hành

VSA 700 được ban hành từ năm 1999, là một trong bốn chuẩn mực kiểm toán đầu

tiên của Việt Nam Từ năm 1999 cho đến nay đã có thêm 33 chuẩn mực kiểm toán khác

40 - nhau được ban hành Do đó, xét về mặt thời gian, VSA 700 đã lạc hậu so với các chuẩn mực kiểm toán có liên quan khác; xét về mặt logic, thì các thuật ngữ trong VSA 700 chưa đúng và lập luận lại không nhất quán với các chuẩn mực kiểm toán khác ban hành sau này

Trong VSA 700 có quy định, chỉ có hai tình huống dẫn đến ý kiến kiểm toán không phải là chấp nhận toàn phần, đó là:

- Phạm vi công việc kiểm toán bị giới hạn (bao gồm: do khách hàng áp đặt, do hoàn cảnh thực tế: tài liệu kế toán không đủ, kiểm toán viên không thể thực hiện các thủ tục kiểm toán cần thiết);

- Không nhất trí với Giám đốc đơn vị được kiểm toán về việc lựa chọn và áp dụng chuẩn mực và chế độ kế toán, hoặc sự không phù hợp của các thông tin ghi trong báo cáo tài chính hoặc thuyết minh báo cáo tài chính

Tuy nhiên, trong một số các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam ban hành sau này, đã

có nhiều quy định dẫn đến ý kiến không phải là chấp nhận toàn phần, như sau:

2.2.1.1 Đối với VSA 250 “Xem xét tính tuân thủ pháp luật và các qui định trong kiểm toán báo cáo tài chính”, ban hành năm 2000

Từ đoạn 28 đến đoạn 37 trong VSA 250 có quy định về việc ý kiến kiểm toán phải như thế nào khi kiểm toán viên nghi ngờ đơn vị được kiểm toán có hành vi không tuân thủ luật pháp Theo VSA 250, nếu kiểm toán viên không thể thu thập được đầy đủ thông tin để xoá bỏ nghi ngờ về hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định, thì kiểm toán viên “phải xem xét ảnh hưởng của việc thiếu bằng chứng và phải trình bày điều đó trong báo cáo kiểm toán.” (đoạn 28, VSA 250) ; nếu vấn đề này làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính nhưng chưa được trình bày trong báo cáo tài chính theo yêu cầu của kiểm toán viên thì “ý kiến chấp nhận từng phần, hoặc ý kiến không chấp nhận” (đoạn 33, VSA 250) là hợp lý Trong VSA 700, các trường hợp ý kiến kiểm toán chưa đề cập đến những vấn đề về việc tuân thủ luật pháp

Đặc biệt, ở VSA 250, có một vấn đề lần đầu tiên được nhắc đến đó là việc công ty kiểm toán được phép chấm dứt hợp đồng kiểm toán sau khi đã chấp nhận hợp đồng, mà

Trang 24

- 41 -

điều này, ta không thể tìm thấy trong VSA 700 Đoạn 37 trong VSA 250 có quy định

“Khi xét thấy đơn vị được kiểm toán không có biện pháp cần thiết để xử lý các hành vi,

hoặc những biểu hiện không tuân thủ pháp luật và các quy định, kể cả những hành vi

không ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, thì công ty kiểm toán được phép chấm

dứt hợp đồng kiểm toán Công ty kiểm toán phải cân nhắc kỹ lưỡng và trao đổi với chuyên

gia tư vấn pháp luật trước khi đưa ra quyết định này”

2.2.1.2 Đối với VSA 240 “Gian lận và sai sót”, ban hành năm 2001

Năm 2001, sau khi VSA 240 được ban hành, ý kiến của kiểm toán viên trên báo

cáo kiểm toán lại có những quy định mà VSA 700 chưa thể hiện; cụ thể, trong đoạn 22

của VSA 240, có quy định “Nếu kiểm toán viên và công ty kiểm toán kết luận rằng có

gian lận hoặc sai sót làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính nhưng gian lận hoặc

sai sót này không được đơn vị sửa chữa hoặc không được phản ảnh đầy đủ trong báo cáo

tài chính, thì kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần

hoặc ý kiến không chấp nhận”, và “Trường hợp có gian lận hoặc sai sót có thể làm ảnh

hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính mặc dù đã phản ánh đầy đủ trong báo cáo tài chính

nhưng kiểm toán viên và công ty kiểm toán vẫn phải chỉ rõ ra trong Báo cáo kiểm toán”

Và đến đoạn 26, kiểm toán viên lại được cho phép chấm dứt hợp đồng kiểm toán

nếu thấy đơn vị “không có biện pháp cần thiết để xử lý đối với gian lận mà kiểm toán

viên cho là cần thiết trong hoàn cảnh cụ thể, kể cả các gian lận không ảnh hưởng trọng

yếu đến báo cáo tài chính”

2.2.1.3 Đối với VSA 560 “Các sự kiện phát sinh sau ngày khoá sổ kế toán lập báo

cáo tài chính” và VSA 570 “Hoạt động liên tục”

Trong các chuẩn mực kiểm toán này có quy định các trường hợp kiểm toán viên

được đưa ra ý kiến không phải là chấp nhận toàn phần mà VSA 700 không đề cập, như

sau:

42 -

- VSA 560, đoạn 17 chỉ ra rằng, trong trường hợp kiểm toán viên yêu cầu nhưng Giám đốc đơn vị được kiểm toán không chấp nhận sửa đổi báo cáo tài chính đối với sự kiện phát sinh sau niên độ, và báo cáo kiểm toán chưa được gửi đến đơn vị được kiểm toán thì “kiểm toán viên và công ty kiểm toán sẽ lập lại báo cáo kiểm toán với ý kiến chấp nhận từng phần hoặc ý kiến không chấp nhận”;

- Trong chuẩn mực về hoạt động liên tục VSA 570 quy định khi báo cáo tài chính đơn vị không trình bày đầy đủ về sự tồn tại yếu tố không chắc chắn trọng yếu thì kiểm toán viên “phải đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần hoặc ý kiến trái ngược tuỳ theo từng trường hợp cụ thể” Còn nếu theo đánh giá của kiểm toán viên là đơn vị chắc chắn không thể tiếp tục hoạt động được nữa hay sau khi tiến hành các thủ tục kiểm toán bổ sung, kiểm toán viên đánh giá là đơn vị sẽ không thể tiếp tục hoạt động (dù trong báo cáo tài chính đơn vị có trình bày vấn đề này hay không), kiểm toán viên “phải đưa ra ý kiến không chấp nhận (ý kiến trái ngược) nếu báo cáo tài chính vẫn được lập trên giả định hoạt động liên tục”

2.2.2 VSA 700 trong mối quan hệ với các chuẩn mực kế toán hiện hành

Trong VSA 700, có quy định kiểm toán viên sẽ đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần được trình bày trong trường hợp kiểm toán viên và công ty kiểm toán cho rằng báo cáo tài chính chỉ phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị, nếu không bị ảnh hưởng bởi yếu tố tuỳ thuộc (hoặc ngoại trừ) mà kiểm toán viên đã nêu ra trong báo cáo kiểm toán Yếu tố tuỳ thuộc là yếu tố trọng yếu nhưng không chắc chắn, như các vấn đề liên quan đến tính liên tục hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hoặc các tình huống chưa rõ ràng khác Yếu tố tuỳ thuộc do kiểm toán viên nêu ra thường liên quan đến các sự kiện có thể xảy ra trong tương lai, nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị và kiểm toán viên Việc đưa ra yếu tố tuỳ thuộc cho phép kiểm toán viên hoàn thành trách nhiệm kiểm toán của mình nhưng cũng làm cho người đọc báo cáo tài chính phải lưu ý và tiếp tục theo dõi khi sự kiện có thể xảy ra

Quy định này của VSA 700 chỉ đúng khi chuẩn mực kế toán chưa quy định về các vấn đề này Sau khi Bộ tài chính ban hành Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) số 1

Trang 25

- 43 -

“Chuẩn mực chung” với quy định về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp trong

Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 và VAS số 18 “Các khoản

dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng” theo Quyết định số 100/2005/QĐ-BTC ngày 28 tháng

12 năm 2005, thì ý kiến chấp nhận từng phần với yếu tố tùy thuộc (ngoại trừ) không còn

phù hợp nữa vì một khi chuẩn mực kế toán đã quy định các vấn đề này thì bắt buộc doanh

nghiệp phải trình bày những vấn đề này trên báo cáo tài chính do chính doanh nghiệp

chịu trách nhiệm lập Ví dụ: trong trường hợp có nghi ngờ về khả năng này thì nhà quản

lý phải công bố đầy đủ và rõ ràng trên báo cáo tài chính và cơ sở lập báo cáo tài chính

khác không phải dồn tích; hay khi có tình huống chưa rõ ràng nào đó, nhà quản lý phải

đánh giá khả năng xảy ra tổn thất và khả năng ước tính hợp lý tổn thất đó để xem xét trình

bày cụ thể trong phần thuyết minh báo cáo tài chính của đơn vị mình Khi đó, trách nhiệm

của kiểm toán viên là xem liệu rằng doanh nghiệp có trình bày những vấn đề này trên báo

cáo tài chính theo các chuẩn mực kế toán đã đầy đủ và hợp lý hay chưa và kiểm toán viên

sẽ có nhận xét về vấn đề này trên nhận xét về toàn thể báo cáo tài chính của doanh nghiệp

2.3 Khảo sát việc vận dụng VSA 700 trong thực tế ở Việt Nam

2.3.1 Mục đích

Cuộc khảo sát của người viết nhằm:

- Tìm hiểu xem phần lớn các báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính

hiện nay của các công ty đang niêm yết có ý kiến kiểm toán gì;

- Báo cáo kiểm toán có tuân theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số

700 hay không?

2.3.2 Phương pháp thực hiện

Để tiến hành cuộc khảo sát này, người viết đã dùng phương pháp khảo sát thực tế

thông qua việc tập hợp và thống kê kết quả

44 -

2.3.2.1 Thành phần được khảo sát

Người viết tiến hành khảo sát đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Với mục đích đề ra ở trên và giới hạn phạm vi của cuộc khảo sát nên người viết chỉ chọn các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh,

và chọn chỉ 100 công ty bằng cách chọn ngẫu nhiên các công ty niêm yết với mã chứng khoán theo thứ tự A, B, C trên HOSE tại ngày 11 tháng 10 năm 2010, người viết chọn theo thứ tự từ công ty đầu tiên với mã cổ phiếu AAM cho đến khi có đủ 100 báo cáo tài chính đã kiểm toán của năm 2009 để khảo sát

2.3.2.2 Việc tập hợp và thống kê kết quả

Người viết đã tiến hành lấy báo cáo tài chính đã kiểm toán năm 2009 của 100 công

ty đang niêm yết trên HOSE tại ngày 11 tháng 10 năm 2010 Sau đó, sử dụng báo cáo kiểm toán của các công ty này để thống kê về loại ý kiến kiểm toán và công ty kiểm toán nào đã ban hành các báo cáo này Như vậy, trong việc khảo sát của người viết có bốn giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Chọn 100 công ty niêm yết trên HOSE theo thứ tự mã

Trang 26

Số lượng Vấn đề dẫn đến ý kiến không phải

chấp nhận toàn phần

Công ty kiểm toán

Chấp nhận toàn

phần

ACAGroup, E&Y, AISC, VietValues, AASCN, CPA Việt Nam, CA&A, A&C, AAC, AISC, AASCS, BDO, Deloitte, UHY, DTL, PWC, AIS, AASS, Đất Việt, AVA, KPMG, ASNAF, VAE Chấp nhận toàn

phần có đoạn nhấn mạnh

9/100 - Một số thay đổi trong kế toán so

với năm trước, không trọng yếu, chỉ muốn nhấn mạnh;

- Một số vấn đề mà kiểm toán viên cho rằng không thường xuất hiện, cần người đọc báo cáo lưu ý;

- Thay đổi chính sách kế toán về

15/100 - Chưa thống nhất với Ban giám

đốc về một khoản chi phí được vốn hóa; - Chưa thống nhất với Ban giám đốc về một khoản chi phí ghi nhận không đúng kỳ kế toán;

- Giới hạn về phạm vi kiểm toán trong việc thu thập bằng chứng thích hợp cho kiểm toán;

- Vấn đề chưa chắc chắn tồn tại liên quan đến báo cáo tài chính;

- Giới hạn về phạm vi kiểm toán:

báo cáo công ty mẹ dùng để hợp nhất chưa được kiểm toán;

- Chưa thống nhất với Ban giám đốc

Ngày đăng: 02/08/2016, 19:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ môn Kiểm toán, Khoa Kế toán-Kiểm toán, Trường Đại học Kinh Tế TP. HCM, Kiểm toán, NXB Thống Kê, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm toán
Nhà XB: NXB Thống Kê
3. Theo Saga (2009), “Như thế nào là “trung thực và hợp lý””, http://www.webketoan.vn/news/ (ngày truy cập 06/07/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Như thế nào là “trung thực và hợp lý”
Tác giả: Theo Saga
Năm: 2009
4. Tuấn Linh (2008), “”Đã kiểm toán” cũng phải thận trọng!”, http://www.webketoan.vn/news/ (ngày truy cập 01/07/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Đã kiểm toán” cũng phải thận trọng
Tác giả: Tuấn Linh
Năm: 2008
5. Vũ Hữu Đức (2008), Chuyên đề: Báo cáo kiểm toán, Trường Đại học Kinh Tế Tp. Hồ Chí MinhTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề: Báo cáo kiểm toán
Tác giả: Vũ Hữu Đức
Năm: 2008
6. Aguilar et. al. (2003), “Do Spanish Firms Change Auditor to Avoid a Qualified Audit Report”, International Journal of Auditing, No. 7, p. 37-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Do Spanish Firms Change Auditor to Avoid a Qualified Audit Report”, "International Journal of Auditing
Tác giả: Aguilar et. al
Năm: 2003
7. Asare et. al. (2009), “Investors’, Auditors’, And Lenders’ Understanding Of The Message Conveyed By The Standard Audit Report”, http://www.ifac.org (ngày truy cập 05/09/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Investors’, Auditors’, And Lenders’ Understanding Of The Message Conveyed By The Standard Audit Report
Tác giả: Asare et. al
Năm: 2009
8. Bailey et. al. (1983), “Effects of Audit Report Wording Changes on Perceived Message”, Journal of Accounting Research, Vol. 21, No. 2 Autumn 1983, p. 355- 370 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of Audit Report Wording Changes on Perceived Message”, "Journal of Accounting Research
Tác giả: Bailey et. al
Năm: 1983
9. Beattie et. al. (2000), “Behind the Audit Report: A Descriptive Study of Discussions and Negotiations Between Auditors and Directors”, International Journal of Auditing, No. 4, p. 107-202 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Behind the Audit Report: A Descriptive Study of Discussions and Negotiations Between Auditors and Directors"”, International Journal of Auditing
Tác giả: Beattie et. al
Năm: 2000
10. Berollary et. al. (2006), “Weighing the Public Interest - Is the Going Concern Opinion Still Relevant?”, The CPA Journal (online), 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Weighing the Public Interest - Is the Going Concern Opinion Still Relevant?”," The CPA Journal
Tác giả: Berollary et. al
Năm: 2006
11. Epstein et. al. (1994), “Investor Views of Audit Assurance: Recent Evidence of The Expectation Gap”, Journal of Accountancy, January 1994, p. 60-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Investor Views of Audit Assurance: Recent Evidence of The Expectation Gap”, "Journal of Accountancy
Tác giả: Epstein et. al
Năm: 1994
12. Fadzly et. al. (2004), “Audit expectation gap-The case of Malaysia”, Managerial Auditing Journal, Vol. 19, No. 7, p. 897-915 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Audit expectation gap-The case of Malaysia”, "Managerial Auditing Journal
Tác giả: Fadzly et. al
Năm: 2004
13. Gómez (2003), “The usefulness of the audit report in investment and financing decisions”, Managerial Auditing Journal, 18/6/7 (2003), p. 549-559 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The usefulness of the audit report in investment and financing decisions”, "Managerial Auditing Journal
Tác giả: Gómez (2003), “The usefulness of the audit report in investment and financing decisions”, Managerial Auditing Journal, 18/6/7
Năm: 2003
14. IFAC, ISA 700 “Forming an opinion and reporting on financial statements”, Handbook 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ISA 700 “Forming an opinion and reporting on financial statements”
15. IFAC, ISA 705 “Modifications To The Opinion In The Independent Auditor’s Report”, Handbook 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ISA 705 “Modifications To The Opinion In The Independent Auditor’s Report”
16. IFAC, ISA 706 “Emphasis Of Matter Paragraphs And Other Matter Paragraphs In The Independent Auditor’s Report”, Handbook 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ISA 706 “Emphasis Of Matter Paragraphs And Other Matter Paragraphs In The Independent Auditor’s Report”
17. International Federation of Accountants, International Standards on Auditing, 2010, http://www.ifac.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Standards on Auditing
18. Joseph et. al. (2000), “Audit Committee Composition and Auditor Reporting”, The Accounting Review, Vol. 75, No. 4, p. 453-467 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Audit Committee Composition and Auditor Reporting”, "The Accounting Review
Tác giả: Joseph et. al
Năm: 2000
19. Marshall A. Geiger (1994), “The New Auditor’s Report-Have the Benefits of Wording Changes Been Acknowledged Outside the CPA Profession?”, Journal of Accountancy, November 1994, p. 59-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The New Auditor’s Report-Have the Benefits of Wording Changes Been Acknowledged Outside the CPA Profession?”, "Journal of Accountancy
Tác giả: Marshall A. Geiger
Năm: 1994
20. Micheal Firth (1978), “Qualified Audit Reports: Their Impact on Investment Decisions”, The Accounting Review, Vol. 53, No. 3, p. 642-650 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qualified Audit Reports: Their Impact on Investment Decisions”, "The Accounting Review
Tác giả: Micheal Firth
Năm: 1978
21. Michael Maingot (2006), “The Evolution of the Standard Unqualified Auditor’s Report in Canada”, Canadian Accounting Perspectives, Vol.5, No. 1, p. 19-36 22. Robert R. Davis (2004), “Using Disclaimers in Audit Reports - Discerning BetweenShades of Opinion”, The CPA Journal (online), 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Evolution of the Standard Unqualified Auditor’s Report in Canada”, "Canadian Accounting Perspectives", Vol.5, No. 1, p. 19-36 22. Robert R. Davis (2004), “Using Disclaimers in Audit Reports - Discerning Between Shades of Opinion”, "The CPA Journal
Tác giả: Michael Maingot (2006), “The Evolution of the Standard Unqualified Auditor’s Report in Canada”, Canadian Accounting Perspectives, Vol.5, No. 1, p. 19-36 22. Robert R. Davis
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1.1: Các nghiên cứu về khoảng cách thông tin đối với báo cáo kiểm toán dạng ngắn - Đánh giá chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về báo cáo kiểm toán và một số kiến nghị liên quan
ng 1.1: Các nghiên cứu về khoảng cách thông tin đối với báo cáo kiểm toán dạng ngắn (Trang 15)
Bảng 1.2: Các nghiên cứu về khoảng cách thông tin đối với báo cáo kiểm toán theo SAS - Đánh giá chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về báo cáo kiểm toán và một số kiến nghị liên quan
Bảng 1.2 Các nghiên cứu về khoảng cách thông tin đối với báo cáo kiểm toán theo SAS (Trang 16)
Bảng 1.3: Mối quan hệ giữa báo cáo kiểm toán và các chuẩn mực kế toán qua các chuẩn - Đánh giá chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về báo cáo kiểm toán và một số kiến nghị liên quan
Bảng 1.3 Mối quan hệ giữa báo cáo kiểm toán và các chuẩn mực kế toán qua các chuẩn (Trang 17)
Bảng 2.1: Sự khác nhau của các yếu tố trên báo cáo kiểm toán giữa ISA 700 và VSA 700 - Đánh giá chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về báo cáo kiểm toán và một số kiến nghị liên quan
Bảng 2.1 Sự khác nhau của các yếu tố trên báo cáo kiểm toán giữa ISA 700 và VSA 700 (Trang 22)
Bảng 2.2: Khảo sát ý kiến trên báo cáo kiểm toán năm 2009 của 100 công ty - Đánh giá chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về báo cáo kiểm toán và một số kiến nghị liên quan
Bảng 2.2 Khảo sát ý kiến trên báo cáo kiểm toán năm 2009 của 100 công ty (Trang 26)
Bảng 2.3: Minh họa các ý kiến ngoại trừ chưa đầy đủ trên báo cáo kiểm toán năm 2009   Đơn vị   Công  ty - Đánh giá chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về báo cáo kiểm toán và một số kiến nghị liên quan
Bảng 2.3 Minh họa các ý kiến ngoại trừ chưa đầy đủ trên báo cáo kiểm toán năm 2009 Đơn vị Công ty (Trang 27)
Bảng 2.6: So sánh đánh giá của những người tham gia khảo sát về tổng quan ý nghĩa của - Đánh giá chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về báo cáo kiểm toán và một số kiến nghị liên quan
Bảng 2.6 So sánh đánh giá của những người tham gia khảo sát về tổng quan ý nghĩa của (Trang 35)
Bảng 2.7: Thống kê mô tả đánh giá của những người tham gia khảo sát về các thuật ngữ - Đánh giá chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về báo cáo kiểm toán và một số kiến nghị liên quan
Bảng 2.7 Thống kê mô tả đánh giá của những người tham gia khảo sát về các thuật ngữ (Trang 36)
Bảng 2.8: So sánh đánh giá của những người tham gia khảo sát về các thuật ngữ trên báo - Đánh giá chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về báo cáo kiểm toán và một số kiến nghị liên quan
Bảng 2.8 So sánh đánh giá của những người tham gia khảo sát về các thuật ngữ trên báo (Trang 37)
Bảng 3.1: Phân loại ý kiến trên báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên - Đánh giá chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về báo cáo kiểm toán và một số kiến nghị liên quan
Bảng 3.1 Phân loại ý kiến trên báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên (Trang 44)
Bảng 3.2: Vị trí của đoạn nhấn mạnh trên báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên - Đánh giá chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về báo cáo kiểm toán và một số kiến nghị liên quan
Bảng 3.2 Vị trí của đoạn nhấn mạnh trên báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên (Trang 46)
BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT KHOẢNG CÁCH THÔNG TIN - Đánh giá chuẩn mực kiểm toán Việt Nam về báo cáo kiểm toán và một số kiến nghị liên quan
BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT KHOẢNG CÁCH THÔNG TIN (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w