Việc nghiên cứu thành công quá trình điều chỉnh cơ cấu để phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập ở Việt Nam sẽ giúp Chính phủ có một kế hoạch chủ động trong việc xây dựng chiến lược
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HI
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC
ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI
VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
MÃ SỐ: ĐTĐL2009G/33
Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Nguyễn Đình Hương
Cơ quan chủ trì: VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Hà Nội, 2010
Danh sách thành viên nhóm nghiên cứu
1 GS, TS Nguyễn Đình
2 GS, TS Mai Ngọc Cường Đại học Kinh tế Quốc dân Thư ký đề tài
3 TS Trần Đình Đàn Văn Phòng Quốc hội Thành viên đề tài
4 PGS, TS Đặng Văn Thanh Văn Phòng Quốc hội Thành viên đề tài
5 GS, TS Đinh Văn Sơn Đại học Thương Mại Thành viên đề tài
6 GS, TS Đỗ Đức Bình Đại học Kinh tế Quốc dân Thành viên đề tài
7 PGS, TS Nguyễn Văn Lịch Viện Nghiên cứu Thương
mại, Bộ Công Thương Thành viên đề tài
8 PGS, TS Phan Đăng Tuất
Viện Nghiên cứu Chiến lược Chính sách Công nghiệp, Bộ Công Thương
Thành viên đề tài
9 TS Bùi Hà Vụ Tổng hợp Kinh tế
Bộ Kế hoạch và Đầu tư Thành viên đề tài
10 PGS,TS Phạm Văn Đăng Bộ Tài Chính Thành viên đề tài
11 PGS, TS Nguyễn Đình Thọ Đại học Ngoại Thương Thành viên đề tài
12 PGS, TS Phan Thị Nhiệm Đại học Kinh tế Quốc dân Thành viên đề tài
13 PGS, TS Bùi Đức Triệu Đại học Kinh tế Quốc dân Thành viên đề tài
14 TS Lê Văn Luyện Học viện Ngân hàng Thành viên đề tài
15 TS Trần Thị Lương Bình Đại học Ngoại Thương Thành viên đề tài
16 TS Mai Thu Hiền Đại học Ngoại Thương Thành viên đề tài
17 TS Trần Thị Lương Bình Đại học Ngoại Thương Thành viên đề tài
18 ThS Dương Thị Hồng Vân Đại học Ngoại Thương Thành viên đề tài
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ ĐĂNG x
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI VỀ ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU KINH TẾ 7
1.1 Khái quát về tăng trưởng, phát triển và vai trò của Chính phủ trong điều chỉnh cơ cấu kinh tế 7
1.1.1 Kinh tế thị trường và vai trò của Chính phủ 7
1.1.2 Tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững 15
1.1.3 Vai trò của nền kinh tế tri thức trong phát triển nền kinh tế theo hướng hiện đại 22
1.2 Giới thiệu một số mô hình phát triển kinh tế và điều chỉnh cơ cấu 29
1.2.1 Thống nhất Washington và quan niệm về phát triển kinh tế và điều chỉnh cơ cấu của Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) 29
1.2.2 Quá trình hình thành các lý thuyết phát triển kinh tế và điều chỉnh cơ cấu 32
1.2.3 Những nhân tố cơ bản đối với điều chỉnh cơ cấu và phát triển kinh tế tại các nước đang phát triển 37
1.2.4 Điều chỉnh cơ cấu và trình tự hội nhập kinh tế quốc tế 42
1.2.5 Tầm quan trọng của điều chỉnh cân bằng cán cân thanh toán đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế 46
1.2.6 Điều chỉnh cơ cấu sử dụng quản lý chi tiêu NSNN phục vụ cho phát triển 57
1.3 Kinh nghiệm điều chỉnh cơ cấu kinh tế của một số nước Đông Á và Đông Nam Á 65
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 79
2.1 Tổng quan về quá trình điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi mới 79
2.1.1 Quá trình cải cách kinh tế và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam 79
2.1.2 Quá trình chuyển đổi cơ cấu thành phần kinh tế 88
2.1.3 Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 101
2.1.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng cùng với cơ cấu ngành kinh tế 115 2.1.5 Chính sách thúc đẩy xuất khẩu và ảnh hưởng của chính sách tỷ giá 116
2.2 Đánh giá các bất ổn kinh tế vĩ mô từ 2006 và sự cần thiết phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững 123 2.2.1 Mở cửa gia nhập WTO và sức ép lạm phát năm 2007 123
Trang 32.2.2 Chế độ tỷ giá ảnh hưởng tới lạm phát ở Việt Nam năm 2008130
2.2.3 Điều chỉnh cơ cấu sử dụng NSNN để ổn định kinh tế vĩ mô
trong bối cảnh khủng hoảng hiện nay 139
2.2.4 Tăng giá kép và tầm quan trọng của điều chỉnh cơ cấu nhằm
hạn chế tác động của biến động cán cân thanh toán 142
2.3 Yêu cầu điều chỉnh cơ cấu kinh tế để tăng trưởng và ổn
định kinh tế vĩ mô 149
2.3.1 Tình hình tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam
sau 25 năm đổi mới 150
2.3.2 Yêu cầu điều chỉnh kinh tế vĩ mô để tăng trưởng và phát triển
ổn định 153
CHƯƠNG 3 ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH
CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI VÀ PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM 159
3.1 Các quan điểm và định hướng về điều chỉnh cơ cấu kinh tế
theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở Việt Nam 159
3.1.1 Các quan điểm về điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện
đại và phát triển bền vững ở Việt Nam 159
3.1.2 Một số định hướng điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện
đại và phát triển bền vững ở Việt Nam 163
3.2 Kiến nghị hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường nhiều
thành phần để phát triển bền vững ở nước ta 166
3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế nhiều thành phần, đa hình
thức sở hữu với nhiều loại hình doanh nghiệp để phát triển bền
cơ cấu lại nền kinh tế 175 3.3.2 Một số chính sách tài chính, tiền tệ để điều chỉnh cơ cấu kinh
tế trong thời gian tới 176 3.3.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm xuất khẩu của nền kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa và xây dựng nền kinh tế tri thức.179 3.3.4 Tập trung đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là năng lực quản lý nền kinh tế 181
Kết luận 183
Tài liệu tham khảo 186
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1Trình tự hội nhập kinh tế 44
Bảng 2.1Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá thực tế chia theo thành phần kinh tế (%) 100
Bảng 2.2 Chỉ số lạm phát giá tiêu dùng và chỉ số lạm phát "cốt lõi" 136
Bảng 2.3 Chi phí gói kích thích kinh tế của Việt Nam theo % GDP 140
Bảng 2.4 Biến động cán cân thanh toán và tỷ lệ lạm phát 2001-2010 143
Bảng 2.5 Cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội tính theo % GDP 144
Bảng 2.6 Cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội tính theo % GDP 151
Bảng 2.7 Tỷ lệ lạm phát (%) 153
Bảng 2.8 Tăng trưởng cung tiền (%) 154
Bảng 2.9 Chi Ngân sách Nhà nước (% GDP) 154
Bảng 2.10 Thâm hụt Ngân sách Nhà nước (% GDP) 155
Bảng 2.11 Cán cân thương mại (triệu USD) 156
Bảng 2.12 Cán cân vãng lai (% GDP) 157
Bảng 2.13 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (triệu USD) 157
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Mô hình Mundell-Fleming trong chế độ tỷ giá cố định 53
Hình 1.2 Mô hình Mundell-Fleming trong chế độ tỷ giá thả nổi 55
Hình 2.1 Chỉ số cạnh tranh toàn cầu 83
Hình 2.2 Chỉ số về điểm tự do kinh tế 84
Hình 2.3 Chỉ số tự do hoá theo lĩnh vực 2011 85
Hình 2.4 Tác nghiệp kinh doanh năm 2011: Tạo việc làm 86
Hình 2.5 Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá thực tế chia theo thành phần kinh tế (%) 100
Hình 2.6 Cơ cấu nền kinh tế của Việt Nam so với một số nước trong khu vực năm 2008 102
Hình 2.7 Biểu đồ tăng trưởng kinh tế 103
Hình 2.8 Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước phân theo khu vực kinh tế 105
Hình 2.9 Tỷ giá danh nghĩa USD/VND 117
Hình 2.10 Tác động của tỷ giá hối đoái tới xuất khẩu hàng hóa 121
Hình 2.11 Lạm phát của Việt Nam và các nước trong khu vực 126
Hình 2.12 Dự trữ ngoại hối, lạm phát, tăng trưởng M2 127
Hình 2.13 Lạm phát của Việt Nam và các nước (% so với cùng kỳ năm trước) 132
Hình 2.14 Biến động tỷ giá danh nghĩa so với USD (1/2005=1) 134
Hình 2.15 Biến động giá lương thực tính theo nội tệ (1/2005=100) 135 Hình 2.16 Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam năm 2010 146
Hình 2.17 Cơ cấu thị trường nhập khẩu của Việt Nam năm 2010 147 Hình 2.18 Biến động tỷ giá VND so với USD và các nước khác (từ tháng 1-11/2010) 148
Hình 2.19 Tác động của tăng giá hàng hóa theo USD & mất giá VND 148
Hình 2.20 Biến động cán cân thanh toán (tỷ USD) và tỷ lệ lạm phát (%) 152
Trang 5DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
CCTM Cán cân thương mại
DNXNK Doanh nghiệp xuất nhập khẩu
ECB Ngân hàng Trung ương Châu Âu
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FII Đầu tư gián tiếp nước ngoài
KNXK Kim ngạch xuất khẩu
NEER Tỷ giá danh nghĩa trung bình
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng Trung ương
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
REER Tỷ giá thực trung bình
TKVL Tài khoản vãng lai
TTCK Thị trường chứng khoán
TTTTLNH Thị trường tiền tệ liên ngân hàng
WTO Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ ĐĂNG
1 A real devaluation and expansionary effect on the economy, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế “Fiscality and Public Policies”, 2010
2 Biến động cán cân thanh toán và vấn đề nhập khẩu lạm phát ở Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng, Số 2+3, 2011
3 Biến động tỷ giá hối đoái và ảnh hưởng tới xuất khẩu của Việt nam, Tạp chí Kinh tế và Phát triển , 2008
4 Chính sách tiền tệ và chế độ tỷ giá trong một nền kinh tế mở, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại, Số 30, 2008
5 Chống lạm phát ở Việt Nam: Tìm đúng nguyên nhân mới có giải pháp tích cực, Tạp chí Cộng Sản, Số 788, 2008; Được chọn lọc in trong sách tham khảo "An ninh kinh tế và nền kinh tế thị trường Việt Nam thời hội nhập", trang 84-93, Nhà Xuất Bản Công an Nhân dân,
2008, Giấy đăng ký KHXB số 739-2008/CXB/14-202/CAND
6 Điều chỉnh cơ cấu kinh tế để tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô, Tạp chí Ngân hàng, Số 6, 2011
7 Hội nhập tài chính quốc tế ở Việt Nam, Tạp chí Lý luận chính trị, Số
7, 2008
8 Mô hình quản lý chi tiêu ngân sách hiện đại, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế “Những vấn đề cơ bản về phân cấp chi NSNN - Kinh nghiệm của Pháp và thực tiễn ở Việt Nam”, 2010
9 Trade, Financial Crisis and Economic Growth in Vietnam, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế “East Asia’s Industrial Agglomeration - Current Issues and Policy Responses”, 2010
10 Xuất nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Tạp chí Cộng Sản
Số 798, 2009
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của nội dung nghiên cứu
Là một nước chuyển đổi, kém phát triển, nền kinh tế Việt Nam
còn tồn tại nhiều bất cấp làm hạn chế tốc độ phát triển kinh tế Điều
chỉnh cơ cấu kinh tế để phát triển bền vững là một đòi hỏi tất yếu ở các
nước kém phát triển Trong trường hợp của Việt Nam, đòi hỏi này càng
trở nên cấp bách hơn bao giờ hết Chuyển đổi từ một nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đã là một thách thức lớn
đối với nền kinh tế Việt Nam Quá trình chuyển đổi lại diễn ra trong bối
cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc tế gia tăng buộc Việt Nam phải
tiến hành song song quá trình chuyển đổi tự do hóa khu vực kinh tế trong
nước và tự do hóa khu vực kinh tế đối ngoại Việc nghiên cứu thành
công quá trình điều chỉnh cơ cấu để phát triển bền vững trong bối cảnh
hội nhập ở Việt Nam sẽ giúp Chính phủ có một kế hoạch chủ động trong
việc xây dựng chiến lược công nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế nhằm
thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh
Sau tiến trình chuẩn bị và đàm phán hơn 11 năm, ngày
07/11/2006, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã chính thức kết nạp
nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên của Tổ chức
này Do đòi hỏi giải phóng nguồn lực để phát triển kinh tế và theo các
điều kiện yêu cầu để Việt Nam có thể gia nhập WTO, Việt Nam đã bắt
đầu quá trình cải cách kinh tế từ năm 1986 Quá trình này tập trung vào
cải cách cơ chế quản lý kinh tế theo thị trường; tái cơ cấu để xây dựng
một nền kinh tế nhiều thành phần; cải cách hành chính, tiền tệ và tài
chính; và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại
Để có thể duy trì và tăng cường năng lực cạnh tranh trong bối
cảnh hội nhập WTO, Việt Nam cam kết đẩy mạnh cải cách kinh tế, điều
chỉnh cơ cấu để khắc phục các mất cân đối kinh tế vĩ mô và giải quyết
tình trạng thắt cổ chai do yếu kém về cơ sở hạ tầng, khung khổ pháp lý,
và trình độ quản lý kinh tế gây ra Tiếp tục cải điều chỉnh cơ cấu theo hướng trao quyền độc lập cho Ngân hàng Nhà nước trong điều hành chính sách tài chính - tiền tệ, hoàn thiện chính sách ngoại hối và thanh toán theo khuynh hướng hội nhập quốc tế, cải thiện môi trường đầu tư và chính sách công nghiệp, đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa và cải cách doanh nghiệp nhà nước, xóa bỏ dần dần cơ chế hỗ trợ và kiểm soát giá
cả thị trường, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và tự do hóa thương mại và đầu tư
Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO, công cuộc cải cách kinh
tế theo thị trường tiếp tục được đẩy mạnh Phát triển kinh tế dựa trên cạnh tranh thị trường có thể dẫn tới mất cân đối kinh tế lớn đặc biệt là các vấn đề liên quan tới xã hội và môi trường Chính vì thế, việc nghiên
cứu "Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở Việt Nam" là vấn đề có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực
tiễn
2 Các kết quả nghiên cứu trước đây
Lý luận và thực tiễn về điều chỉnh cơ cấu kinh tế để phát triển bền vững đã được nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới, đặc biệt trong chương trình viện trợ hỗ trợ điều chỉnh cơ cấu của Ngân hàng thế giới (WB) và Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF) Trong một thời gian dài từ những năm 1960-
1980, nghiên cứu về điều chỉnh cơ cấu kinh tế trên thế giới tập trung vào mục tiêu giải quyết mất cân đối kinh tế vĩ mô nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Với mục tiêu đó các nghiên cứu tập trung vào luận giải khái niệm tăng trưởng và phát triển, nhằm chỉ ra phạm vi và các mục tiêu kinh tế vĩ mô cần đạt được thông qua cải cách kinh tế, điều chỉnh cơ cấu, giải quyết mất cân đối vĩ mô Thành công của các nghiên cứu trong thời
kỳ này là đã chỉ ra khái niệm phát triển kinh tế bao trùm khái niệm tăng trưởng kinh tế hướng tới cả một số mục tiêu phát triển xã hội Đồng thời các nghiên cứu cũng chỉ ra được các nhân tố thúc đẩy hoặc cản trở tăng trưởng và phát triển kinh tế, trong đó giải quyết mất cân đối kinh tế vĩ
Trang 7mô như cơ cấu ngành, thâm hụt ngân sách nhà nước, thâm hụt cán cân
thương mại, cán cân thanh toán, song song với giải quyết các yếu tố thắt
cổ chai làm cản trở quá trình phát triển kinh tế như cơ chế kinh tế phi thị
trường bóp méo tín hiệu giá cả, cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ công
nghệ thấp, thiếu hụt lao động kỹ thuật cao
Trong giai đoạn từ 1990 tới nay, khái niệm phát triển bền vững trở
nên phổ biến và bao gồm không những các mục tiêu hẹp về tăng trưởng
kinh tế mà khái niệm chất lượng tăng trưởng được đặt lên hàng đầu theo
đó tăng trưởng bền vững không chỉ đề cập tới các mục tiêu kinh tế mà
còn bao trùm các mục tiêu về xã hội và môi trường Nghiên cứu về điều
chỉnh cơ cấu kinh tế trong thời kỳ này tập trung vào vấn đề xóa đói, giảm
nghèo Các chính sách kinh tế "khắc khổ" để ổn định kinh tế vĩ mô trong
thời kỳ trước được nghiên cứu lại nhằm hạn chế các giải pháp ngắn hạn
mà hướng tới mục tiêu chất lượng tăng trưởng nhằm đảm bảo phát triển
bền vững trong dài hạn, theo đó xóa đói, giảm nghèo là một trong những
mục tiêu quan trọng hàng đầu nhằm đảm bảo cơ hội phát triển bình đẳng
cho tất cả mọi người thông qua đảm bảo các nhân tố về dinh dưỡng, sức
khỏe và giáo dục
Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu liên quan tới lĩnh vực
nghiên cứu của đề tài Ví dụ là đề tài "Chuyển dịch cơ cấu ngành trong
quá trình CNH, HĐH" của TS Bùi Tất Thắng, Viện Kinh tế học (Đề tài
KX.02.05) Nội dung nghiên cứu của đề tài này tập trung vào xác định
luận cứ khoa học của mô hình tăng trưởng hiện đại và xu hướng chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ngành trong giai đoạn CNH, HĐH Nghiên cứu đã
đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
ngành theo hướng tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững trên cơ
sở phân tích và chỉ ra định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành nhằm đáp
ứng các yêu cầu của mô hình CNH, HĐH ở Việt Nam Tuy nhiên,
nghiên cứu của tác giả Bùi Tất Thắng chỉ giới hạn trong phạm vi chuyển
dịch cơ cấu ngành mà chưa nghiên cứu tổng thể toàn bộ nền kinh tế với
một hệ thống chính sách điều chỉnh kinh tế vĩ mô
Nghiên cứu "Phát triển kinh tế vùng trong quá trình CNH, HĐH" của TS Nguyễn Xuân Thu, Viện chiến lược Phát triển (Đề tài KX.02.06)
đã xây dựng được các nguyên tắc, quan điểm phát huy tiềm năng, lợi thế
so sánh của mỗi vùng lãnh thổ theo hướng có trọng điểm nhằm phát huy vai trò của mỗi vùng để thực hiện CNH, HĐH ở Việt Nam Đề tài của tác giả Nguyễn Xuân Thu tập trung nghiên cứu phát triển kinh tế vùng, theo đó tác giả chưa chỉ ra việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo ngành và quá trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo thị trường trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Nghiên cứu "Luận cứ xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách
và giải pháp kinh tế tài chính nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam" của GS TSKH Tào Hữu Phùng, Ủy ban Kinh tế-Ngân sách của Quốc hội năm 2003 đã làm rõ một số vấn đề lý luận, nội dung cơ bản, các tiêu chí đánh giá, các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào một số chính sách và giải pháp kinh tế - tài chính chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam mà chưa nghiên cứu đến vấn đề điều chỉnh cơ cấu kinh tế, đặc biệt khi Việt Nam gia nhập WTO
Đề tài chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, vùng lãnh thổ cũng đã có nhiều luận án tiến sĩ đề cập đến ở một phạm vi nhất định Những đề tài luận án đã thực hiện mới đề cập đến việc chuyển dịch kinh tế ngành, kinh tế vùng hoặc một vài chính sách chuyển dịch kinh tế để ổn định kinh tế vĩ mô, chưa có đề tài nào nghiên cứu đầy đủ cơ sở khoa học của chính sách điều chỉnh kinh tế vĩ mô trong điều kiện mới khi Việt Nam gia nhập WTO, cũng chưa có những đề tài, chương trình khoa học nghiên cứu để chủ động ứng phó với yêu cầu hội nhập
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững;
Trang 8- Phân tích thực trạng cơ cấu kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới và tác động của hệ thống chính sách điều chỉnh kinh tế đến chất
lượng tăng trưởng và phát triển bền vững;
- Kiến nghị các quan điểm, chính sách, lộ trình điều chỉnh cơ cấu
kinh tế Việt Nam theo hướng hiện đại và phát triển bền vững
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống chính sách và thể chế
điều chỉnh cơ cấu kinh tế Đây là một lĩnh vực nghiên cứu rộng và có
nhiều cách hiểu và phương pháp tiếp cận khác nhau Đề tài giới hạn
phạm vi nghiên cứu ở Việt Nam, có tham khảo kinh nghiệm của thế giới
Khi nói tới điều chỉnh cơ cấu kinh tế, đề tài tập trung vào hệ thống chính
sách và thể chế liên quan tới các mất cân đối kinh tế vĩ mô là trọng tâm
của các gợi ý chính sách của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế
cho các nước trên thế giới trong điều chỉnh cơ cấu kinh tế để cân đối các
chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, nhằm bình ổn nền kinh tế và phát triển theo hướng
phát triển bền vững và hiện đại
Đề tài tập trung nghiên cứu kết quả chuyển dịch cơ cấu sau 25
năm đổi mới từ 1986-2010 và thực tiễn diễn biến kinh tế vĩ mô trong giai
đoạn khủng hoảng kinh tế 2006-2010 Ở giai đoạn 2006-2010, đề tài tập
trung vào các chính sách tiền tệ, tài khóa và tỷ giá hối đoái và các mất
cân đối kinh tế vĩ mô đe dọa sự phát triển ổn định, bền vững của nền
kinh tế
5 Phương pháp nghiên cứu
Là đề tài thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, đề tài áp dụng các
phương pháp truyền thống, như sử dụng các phương pháp nghiên cứu
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, công cụ trừu tượng
hoá trong nghiên cứu, kết hợp lý luận với thực tiễn, tiếp cận các phương
pháp mới, so sánh, phân tích, dự báo kinh tế, logic với lịch sử để làm
sáng tỏ vấn đề trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình, tài liệu đã công bố trong nước có liên quan đến chủ đề nghiên cứu
Để có cơ sở khoa học cho việc đánh giá thực trạng nguồn lực và chính sách phát triển bền vững, đề tài tổ chức khảo sát và phỏng vấn xã hội học những vấn đề có liên quan và phỏng vấn các nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý kinh tế-xã hội Trung ương và địa phương, các nhà nghiên cứu, các nhà doanh nghiệp và người lao động theo các mục tiêu nghiên cứu
6 Bố cục của nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nghiên cứu được bố cục thành 3 chương :
Chương 1: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm của thế giới về điều chỉnh cơ cấu kinh tế
Chương 2: Đánh giá hệ thống chính sách điều chỉnh cơ cấu và phát triển kinh tế ở việt nam trong thời kỳ đổi mới
Chương 3: Đổi mới hệ thống chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh
tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam
Đề tài là tổng hợp kết quả nghiên cứu của một tập thể tác giả là các nhà khoa học và chuyên gia đến từ các bộ, ngành trực tiếp xây dựng
và thực thi chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Do đóng góp vào kết quả nghiên cứu là của một tập thể lớn các tác giả, trong quá trình tổng hợp kết quả nghiên cứu, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, chưa nhất quán trong ngôn từ và logic tổng thể, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học và các chuyên gia để kết quả nghiên cứu cuối cùng có ý nghĩa khoa học và tham khảo tốt hơn
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM
CỦA THẾ GIỚI VỀ ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU KINH TẾ
1.1 Khái quát về tăng trưởng, phát triển và vai trò của Chính phủ
trong điều chỉnh cơ cấu kinh tế
1.1.1 Kinh tế thị trường và vai trò của Chính phủ
Kinh tế học nghiên cứu sự lựa chọn việc sử dụng các nguồn lực
khan hiếm một cách hiệu quả nhất nhằm theo đuổi một số mục tiêu nhất
định Các chủ thể kinh tế bao gồm Chính phủ, nhà cung cấp, và người
tiêu dùng, tìm cách đạt được mục tiêu của mình trên cơ sở tối ưu hóa sự
lựa chọn việc sử dụng các nguồn lực của mình để có thể đạt được hiệu
quả cao nhất, nghĩa là đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất
Lý thuyết về thị trường tự do đặc biệt được các nhà kinh tế học
Pháp ủng hộ Các nhà kinh tế ủng hộ lý thuyết về thị trường tự do được
gọi là những người theo trường phái trọng thương Trong tác phẩm Của
cải của các dân tộc (1776), ông tổ của kinh tế học hiện đại đã đưa ra lý
thuyết về bàn tay vô hình, theo đó lực vô hình của thị trường sẽ chi phối
toàn bộ quá trình từ sản xuất tới tiêu dùng theo một cách tốt nhất thông
qua tín hiệu của thị trường là giá cả
Lý thuyết về bàn tay vô hình của Adam Smith có ảnh hưởng lớn
tới Chính phủ và các nhà kinh tế học của thế kỷ thứ 19 như John Stuart
Mill và Nassau Senior Tuy nhiên, cũng trong thế kỷ thứ 19, thất nghiệp
và bất bình đẳng kinh tế nghiêm trọng giữa người giàu và người nghèo
đã làm cho các nhà xã hội học như Karl Marx và Robert Owen phải đề
xướng các phương pháp cải cách xã hội Theo Karl Marx, sở hữu tư bản
là nguyên nhân của bất bình đẳng và thất nghiệp Theo đó, ông đề xuất
Chính phủ phải nắm giữ phương tiện sản xuất Tư tưởng của Marx đã có
ảnh hưởng lớn tới Chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ 20,
dẫn tới sự ra đời của các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trong hệ
thống các nước xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung là một hình thái kinh tế gần với nền kinh tế mệnh lệnh
Khủng hoảng kinh tế năm 1929-1933 đã làm cho lý thuyết về thất bại thị trường lan rộng Trong bối cảnh đó, nhà kinh tế học vĩ đại Anh John Maynard Keynes đã cho rằng không thể vỗ tay bằng một bàn tay Ông đề cao vai trò của Chính phủ và lập luận Chính phủ có thể và cần phải can thiệp để giải quyết các thất bại của thị trường Ngày nay, các nhà kinh tế học đều thừa nhận vai trò của cả thị trường và Chính phủ và cho rằng cần phải đạt được một sự cân đối giữa thị trường và can thiệp của Chính phủ Để tìm ra sự cân đối này, các nhà kinh tế thường dựa vào kinh tế học phúc lợi để nghiên cứu các vấn đề thuộc về kinh tế học chuẩn tắc nhằm đưa ra các khuyến nghị để có thể tổ chức nền kinh tế một cách tốt nhất
Trong một nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh hoàn hảo, người
ta không cần quan tâm tới các vấn đề về kinh tế học phúc lợi bởi lẽ lực thị trường đã giải quyết tất cả các vấn đề về tổ chức nền kinh tế Tuy nhiên, một khi có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, những can thiệp đó sẽ làm thay đổi cách thức xã hội tổ chức nền kinh tế Kinh tế học phúc lợi giúp định hướng cách thức Chính phủ điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế Hầu hết các nền kinh tế trên thế giới hiện nay là kinh tế hỗn hợp, nghĩa là Chính phủ tham gia vào định hướng cách thức tổ chức nền kinh tế cùng với bàn tay vô hình của thị trường Tùy thuộc vào mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế xã hội của mỗi Chính phủ, các nhà kinh tế học phúc lợi đưa ra các khuyến nghị để có thể theo đuổi các mục tiêu đó một cách tốt nhất
Hiệu quả Pareto1 là một chỉ tiêu hiệu quả được các nhà kinh tế học
sử dụng phổ biến nhất Nền kinh tế sẽ đạt được hiệu quả Pareto nếu cách phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế đó đảm bảo không ai có thể thay đổi cách phân bổ đó để làm một người giàu lên mà không làm cho một
1 Vilfredo Pareto (1848-1923) là một nhà kinh tế xã hội học nổi tiếng người Ý
Trang 10người khác nghèo đi Phân bổ nguồn lực đạt hiệu quả Pareto hay nền
kinh tế đạt hiệu quả Pareto gắn với sản xuất đạt hiệu quả Pareto, theo đó
với mỗi lượng nguồn lực đầu vào nhất định, nền kinh tế không thể tăng
lượng sản xuất một mặt hàng mà không làm giảm lượng sản xuất một
mặt hàng khác Một sự cải thiện Pareto là một sự thay đổi theo đó người
ta có thể làm một người giàu lên mà không làm người khác nghèo đi hay
làm tăng sản lượng một mặt hàng mà không làm giảm sản lượng một
mặt hàng khác Các nhà kinh tế học luôn tìm kiếm cơ hội để có thể thực
hiện một sự cải thiện Pareto
Kinh tế học phúc lợi khẳng định rằng trong điều kiện cạnh tranh lý
tưởng, tất cả các nền kinh tế cạnh tranh có hiệu quả Pareto Vấn đề đặt ra
là hiệu quả Pareto quan tâm tới sự phân bổ nguồn lực của toàn bộ nền
kinh tế và kết quả kinh tế thu được cho toàn xã hội từ việc sử dụng các
nguồn lực được phân bổ đó Các nhà kinh tế học luôn luôn tìm kiếm cơ
hội để tạo ra một sự cải thiện Pareto nhằm làm tăng tổng sản lượng của
toàn xã hội Dựa theo tiêu chuẩn là hiệu quả Pareto, các nhà kinh tế học
sẽ đề xuất bất kỳ phương án tổ chức nền kinh tế nào đem lại một sự cải
thiện Pareto, ngay cả trong trường hợp sự cải thiện Pareto đó sẽ làm
người giàu giàu lên nhanh hơn người nghèo
Ngược lại, các nhà xã hội học sẽ chú ý nhiều hơn tới vấn đề bất
bình đẳng thu nhập, khoảng cách giàu nghèo gia tăng và những hậu quả
về mặt xã hội đi theo Vấn đề gia tăng khoảng cách giàu nghèo đặc biệt
nghiêm trọng ở các nước đang phát triển như Việt Nam Trong những
năm trước Đổi mới kinh tế năm 1986, đời sống kinh tế của nhân dân cả
nước ta ở mức thấp, nhưng khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp
dân cư không lớn, mọi người nghèo như nhau Kể từ khi Đổi mới kinh tế
bắt đầu cuối năm 1986, tăng trưởng kinh tế được nâng cao, đời sống của
tất cả các tầng lớp nhân dân được tăng lên và rõ ràng có một sự cải thiện
Pareto, mọi người đều được lợi Tuy nhiên, Đổi mới kinh tế cũng làm
cho một bộ phận dân cư giàu lên nhanh hơn các bộ phận khác khiến bất
bình đẳng gia tăng, và khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn Cái giá
phải trả cho hiệu quả là bất bình đẳng Trong điều kiện đó, để đảm bảo
có thể duy trì tổ chức nền kinh tế một cách hiệu quả, Chính phủ có vai trò rất lớn trong việc tái phân phối thu thập
Kinh tế học phúc lợi cho rằng sau khi phân phối lại thu nhập ban đầu, hiệu quả Pareto có thể đạt được thông qua cơ chế thị trường cạnh tranh Nghĩa là, sau khi thu nhập được phân phối lại theo cách thức mà Chính phủ mong muốn, hiệu quả Pareto lại có thể đạt được thông qua thị trường cạnh tranh Hay nói cách khác, hiệu quả Pareto có thể đạt được
mà không cần phải có một cơ quan kế hoạch hóa tập trung, Chính phủ chỉ cần phân phối lại thu nhập một lần sau đó để việc phân bổ nguồn lực khan hiếm của xã hội cho thị trường cạnh tranh Tuy nhiên, hiệu quả Pareto chỉ có thể đạt được trong điều kiện cạnh tranh lý tưởng Vậy trong những trường hợp nào thì thị trường cạnh tranh không đạt được điều kiện lý tưởng
Vào những năm đầu thế kỷ XX, khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp
là hiện tượng kinh tế phổ biến trong nền kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa Cuộc đại khủng hoảng 1929-1933 đã chứng tỏ các học thuyết kinh
tế thị trường tự do không còn hiệu nghiệm "Thị trường thất bại" và Chính phủ bị gây áp lực mạnh cần phải làm một điều gì đó để khắc phục thất bại của thị trường Lý thuyết về sự thất bại của thị trường là cơ sở để giải thích cho sự cần thiết phải có can thiệp của nhà nước vào hoạt động của thị trường cạnh tranh
Thất bại của thị trường nảy sinh do có sự tồn tại của các tác nhân cản trở sự hoạt động của một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, làm cho nền kinh tế không đạt được hiệu quả Pareto Các tác nhân đó có thể là thị trường độc quyền (monopoly), hàng hoá công cộng (public goods), ngoại ứng (externalities), thị trường chưa hoàn chỉnh (incomplete market), thông tin không hoàn hảo (imperfect information)
Cạnh tranh là điều kiện để thị trường tự do có thể hoạt động hiệu quả Thị trường cạnh tranh hoàn hảo, theo đó cả người mua và người bán đều không thể tác động đến giá cả thị trường, là điều kiện cạnh tranh lý tưởng để có thể phân bổ nguồn lực đạt hiệu quả Pareto Một trong những
Trang 11điều kiện để có thị trường cạnh tranh là phải có nhiều người mua và
nhiều người bán trên thị trường Độc quyền và thị trường cạnh tranh
không hoàn hảo là những tình huống làm cho thị trường mất tính cạnh
tranh và vì thế không đạt được hiệu quả Pareto trong phân bổ nguồn lực
khan hiếm Độc quyền là tình huống mà thị trường chỉ có một người
cung cấp duy nhất Cạnh tranh không hoàn hảo là các tình huống nằm
giữa hai thái cực cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền, ví dụ, thị trường có
thể có một số ít người bán hoặc người mua có khả năng cấu kết với
nhau Hậu quả của độc quyền là giá cả bị tăng lên và sản lượng bị giảm
xuống so với trường hợp cạnh tranh Đây là trường hợp sụt giảm sản
lượng do cạnh tranh không hoàn hảo và làm nền kinh tế không đạt được
hiệu quả Pareto
Hàng hóa công cộng là những hàng hóa mà sự tiêu dùng của một
người không ảnh hưởng tới sự tiêu dùng của những người khác
(non-rival consumption) hay nói cách khác chi phí biên để tăng thêm một
người sử dụng hàng hóa công cộng là bằng không Hơn nữa, khó có thể
loại trừ (ngăn cấm) một người nào đó sử dụng hàng hóa công cộng Môi
trường trong sạch, quốc phòng, đường xá là những thí dụ điển hình về
hàng hóa công cộng Mọi người đều có nhu cầu sống trong một môi
trường trong sạch, nhưng chi phí để duy trì môi trường trong sạch không
tăng lên khi có thêm một người sử dụng Hơn nữa, nếu một cộng đồng
có môi trường trong sạch, khó có thể ngăn cản một thành viên nào của
cộng đồng đó sử dụng môi trường trong sạch Do tính chất không thể
loại trừ (non-exclusion) của hàng hóa công cộng có một số người trong
cộng đồng sẽ tìm cách sử dụng hàng hóa công cộng mà không trả tiền
(free-rider problem) Thị trường tư nhân thường không cung cấp hàng
hóa công cộng hoặc nếu có cung cấp thì không cung cấp đầy đủ Đây là
một thất bại quan trọng nữa của thị trường khiến cạnh tranh không đem
lại hiệu quả Pareto Để khắc phục hạn chế này của thị trường cạnh tranh,
Chính phủ phải đứng ra xác định số lượng hàng hóa công cộng cần thiết
cho toàn xã hội và tổ chức cung cấp hàng hóa đó trên cơ sở đóng góp của
toàn xã hội thông qua thuế hoặc phí sử dụng
Ngoại ứng (externalities) nảy sinh khi hành động của một người hoặc một doanh nghiệp làm ảnh hưởng tới chi phí hoặc lợi ích của những người khác hoặc các doanh nghiệp khác Ngoại ứng tiêu cực (negative externalities) là ngoại ứng xảy ra khi một người làm tăng chi phí sản xuất hoặc tiêu dùng của một người khác mà không bồi thường cho họ Ngoại ứng tích cực (positive externalities) là ngoại ứng xảy ra khi một người trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng của mình đem lại lợi ích cho một người khác mà không nhận được sự đền đáp từ người được hưởng lợi ích Ngoại ứng không thể được giải quyết thông qua thị trường cạnh tranh và là nhân tố cản trở thị trường cạnh tranh đem lại hiệu quả Pareto trong việc phân bổ nguồn lực Ngoại ứng là một thất bại quan trọng của thị trường có nhiều ứng dụng trong kinh tế học môi trường nói chung và kinh tế chất thải nói riêng
Thị trường chưa hoàn chỉnh (incomplete markets) là các thị trường không có khả năng cung cấp một hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó ngay cả trong trường hợp chi phí để cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ đó thấp hơn giá cả mà thị trường sẵn sàng chi trả để mua hàng hóa hoặc dịch vụ đó Một số thí dụ về thị trường chưa hoàn chỉnh phổ biến ở các nước là thị trường vốn và thị trường bảo hiểm
Một trong những nguyên nhân khiến thị trường vốn và thị trường tài chính không hoàn chỉnh là do hệ quả của hiện tượng thông tin bất đối xứng (asymmetric information) Thông tin bất đối xứng xảy ra khi các bên tham gia vào một giao dịch hay hợp đồng không có thông tin giống như nhau - người mua người bán không có cùng một lượng thông tin giống nhau về sản phẩm giao dịch Ví dụ người bảo hiểm và ngân hàng không có thông tin đầy đủ về người được bảo hiểm hay người đi vay vốn như bản thân những người đó Hai hiện tượng phổ biến xảy ra trong trường hợp thông tin bất đối xứng là sự lựa chọn bất lợi (adverse selection) và hiểm họa đạo đức (moral hazard)
Thí dụ, trong lĩnh vực bảo hiểm, hiểm họa đạo đức xảy ra khi người được bảo hiểm trở nên thiếu cẩn trọng hơn trong việc bảo vệ đối
Trang 12tượng được bảo hiểm Sự bất cẩn của người được bảo hiểm làm rủi ro
của công ty bảo hiểm tăng lên Trên thị trường vốn, ngân hàng phải đối
mặt với sự lựa chọn bất lợi khi họ phải lựa chọn các nhà đầu tư mà
không rõ về rủi ro của các dự án đầu tư của các nhà đầu tư đó Chỉ có
nhà đầu tư trực tiếp mới có thể hiểu được tất cả các rủi ro liên quan tới
dự án đầu tư của mình Trong kinh doanh, lợi nhuận cao thường đi kèm
với rủi ro cao Vì không có thông tin đầy đủ như các nhà đầu tư, trong
một nhóm các nhà đầu tư giống nhau nhìn từ phía ngân hàng, ngân hàng
không thể phân biệt được ai là nhà đầu tư mạo hiểm, ai là nhà đầu tư an
toàn Nếu ngân hàng đặt lãi suất quá cao, chỉ có các nhà đầu tư mạo
hiểm mới có thể vay nợ để đầu tư Kết quả là, nếu các dự án đầu tư mạo
hiểm phá sản, ngân hàng sẽ không có khả năng thu hồi vốn Để thu hút
các nhà đầu tư với các dự án có chất lượng tốt hơn, ngân hàng buộc phải
hạ lãi suất để cho các dự án đầu tư an toàn hơn nhưng có lợi nhuận thấp
hơn có thể vay tiền Tuy nhiên, với lãi suất thấp ngân hàng không thể
đáp ứng được nhu cầu của tất cả các nhà đầu tư bao gồm cả các nhà đầu
tư an toàn và các nhà đầu tư mạo hiểm Trong số những nhà đầu tư xin
vay nợ, ngân hàng chỉ có thể xét duyệt cho một số nhà đầu tư được vay
Kết quả là tín dụng bị chia sẻ, giữa các nhà đầu tư và có một số nhà đầu
tư sẵn sàng trả lãi suất cao hơn để vay vốn cũng không được ngân hàng
đáp ứng Lý do các thị trường không tồn tại hoặc tồn tại chưa hoàn chỉnh
là lý do để nhà nước can thiệp vào nhằm cải thiện hiệu quả của thị
trường Tuy nhiên, bản thân nhà nước cũng sẽ phải đối phó với các vấn
đề như thông tin bất đối xứng nêu trên
Người tiêu dùng và các hãng sản xuất có thể có những hành động
đi ngược lại lợi ích của chính họ nếu họ không có đầy đủ thông tin về
hàng hóa được giao dịch Rất nhiều hoạt động can thiệp của Chính phủ
vào thị trường là nhằm bảo vệ người tiêu dùng và các nhà đầu tư, đảm
bảo cho người tiêu dùng và các nhà đầu tư có được đầy đủ lượng thông
tin cần thiết để ra quyết định mua bán hoặc sản xuất hàng hóa hoặc dịch
vụ Yêu cầu của Chính phủ nhằm buộc các công ty dược phẩm và các
công ty thực phẩm phải in rõ thông tin về sản phẩm của mình để cung
cấp cho khách hàng là một trong những nỗ lực làm giảm tác động tiêu cực của thông tin không hoàn hảo tới phân bổ nguồn lực hiệu quả Mặc dù một trong các giả định về điều kiện cạnh tranh lý tưởng để
có hiệu quả Pareto là thông tin phải hoàn hảo, thông tin bất đối xứng là một hiện tượng khá phổ biến Và vì vậy, rất nhiều hoạt động kinh tế trên thực tế là để thu thập thông tin, ngân hàng tìm kiếm thông tin xem ai là nhà đầu tư an toàn, nhà đầu tư tìm thông tin về cơ hội đầu tư tốt, công ty bảo hiểm tìm kiếm thông tin về khách hàng
Thất bại cuối cùng của thị trường mà chúng ta nghiên cứu là các vấn đề liên quan tới kinh tế vĩ mô Điều kiện để có thể đạt được hiệu quả Pareto là thị trường phải cạnh tranh hoàn hảo, nói một cách khác tất cả các thị trường bao gồm cả thị trường tư liệu sản xuất và thị trường hàng hóa tiêu dùng phải tiêu thụ hết hàng hóa Tuy nhiên, thất nghiệp kinh niên là một bằng chứng rõ nét nhất về sự không hoàn hảo của thị trường lao động và được coi là thất bại lớn nhất của thị trường Lạm phát có nguyên nhân xuất phát từ Chính phủ và là nhân tố làm trầm trọng thêm những thất bại sẵn có của thị trường
Chu kỳ kinh doanh thể hiện sự cần thiết phải có sự can thiệp của Chính phủ để rút ngắn thời gian suy thoái và kéo dài thời kỳ tăng trưởng Trước khi xuất hiện học thuyết kinh tế của Keynes về vai trò của Chính phủ, cái vòng luẩn quẩn của suy thoái kinh tế đã đẩy nền kinh tế các nước theo chủ nghĩa thị trường tự do tới hết cuộc khủng hoảng kinh tế này tới cuộc khủng hoảng kinh tế khác mà đỉnh điểm là đại khủng hoảng kinh tế 1929-1933
Ngày nay, hầu hết các nhà kinh tế học đều nhất trí thị trường có thất bại và sự can thiệp của Chính phủ để giải quyết các thất bại của thị trường là cần thiết Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế học vẫn thấy cần hạn chế sự can thiệp của Chính phủ bởi lẽ họ cho rằng giới hạn thông tin của Chính phủ, thủ tục hành chính quan liêu, thủ tục chính trị phức tạp và khả năng hạn chế trong việc kiểm soát phản ứng của khu vực tư nhân là
Trang 13những trở ngại lớn ngăn cản khả năng can thiệp giải quyết thất bại thị
trường của Chính phủ
1.1.2 Tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc gia hay thu nhập
quốc dân theo đầu người trong một khoảng thời gian nhất định Mặc dù
đôi khi khái niệm tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế có thể được sử
dụng thay thế cho nhau, phát triển kinh tế là một khái niệm rộng hơn
tăng trưởng kinh tế Trong khi khái niệm tăng trưởng kinh tế là một khái
niệm khá rõ ràng và ít gây tranh cãi, khái niệm phát triển luôn luôn là
một khái niệm gây tranh cãi cho tất cả các nhà kinh tế học Điều này
không có nghĩa là các nhà khoa học không chú ý nghiên cứu về phát
triển Trái lại, phát triển luôn là mối quan tâm nghiên cứu hàng đầu của
các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế học và của các nhà xã hội
học trên khắp thế giới
Trong một thời gian dài kể từ sau Chiến tranh Thế giới II, khái
niệm phát triển đã được gắn liền với các thước đo về sản lượng và thu
nhập quốc dân hay nói cách khác là gắn liền với tăng trưởng kinh tế
Trong thời gian này, mặc dù các nhà kinh tế có đề cập tới các vấn đề xã
hội cần lưu ý trong phát triển, tăng trưởng kinh tế được đặc biệt coi trọng
và tăng trưởng vốn đầu tư được coi là phương tiện để có thể thực hiện
mục tiêu phát triển Tỷ lệ tăng trưởng thu nhập bình quân theo đầu người
được coi là thước đo phát triển duy nhất Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
và tổng sản phẩm quốc dân (GNP) trở thành những thước đo phát triển
tin cậy nhất Khi GNP trở thành mục tiêu của phát triển vào những năm
1950 và 1960, vấn đề phúc lợi xã hội không được chú ý Người ta cho
rằng phúc lợi xã hội là cái tất nhiên theo sau tăng trưởng kinh tế Mối
quan hệ giữa thu nhập và chất lượng cuộc sống được thể hiện qua thu
nhập theo đầu người
Vào những năm 1960 thực tế ở các nước đang phát triển đã chứng
tỏ tăng trưởng thu nhập tự nó không giải quyết được tất cả các vấn đề
phát triển Phát triển kinh tế hiểu theo một nghĩa chung nhất phải bao
hàm sự nâng cao không ngừng chất lượng cuộc sống của con người Với
ý nghĩa đó, mặc dù tăng trưởng kinh tế vẫn là điều kiện cần để có thể phát triển, cùng với tăng trưởng kinh tế, phát triển phải bao hàm cả một quá trình chuyển dịch cơ cấu, theo đó tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp
và giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc gia Phát triển còn bao hàm cả quá trình đô thị hóa và thay đổi cơ cấu dân số theo hướng tăng dân số sống ở thành phố và giảm dân số sống ở nông thôn Đi kèm với phát triển là sự sụt giảm nhanh chóng tốc độ tăng trưởng dân số và nâng cao tuổi thọ do chất lượng dịch vụ y tế và giáo dục được nâng cao Phát triển kinh tế làm thay đổi cả cơ cấu tiêu dùng của đại bộ phận dân số Mọi người không còn sử dụng toàn bộ thu nhập của họ cho các đồ dùng thiết yếu mà bắt đầu mua sắm các đồ dùng lâu bền và tiến tới sử dụng ngày càng nhiều các sản phẩm và dịch vụ giải trí Phát triển còn đòi hỏi sự trực tiếp tham gia vào quá trình phát triển của tất cả mọi người nhằm tự mình sản xuất ra những kết quả của sự phát triển và tự mình hưởng thụ những lợi ích do tăng trưởng đem lại Theo định nghĩa của Ủy ban Brundtland (Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển 1987) phát triển bền vững là một sự phát triển đảm bảo đáp ứng các nhu cầu cuộc sống của thế hệ hiện tại mà không làm thay đổi khả năng đáp ứng nhu cầu cuộc sống của thế hệ mai sau Mặc
dù định nghĩa của Ủy ban Brundtland là một tuyên bố có ý nghĩa rất lớn trong việc kêu gọi mọi người chú ý tới sự ứng xử công bằng giữa các thế
hệ trong việc chia sẻ việc sử dụng các nguồn lực hữu hạn của thế giới, định nghĩa này quá tổng quát và các nhà kinh tế học, xã hội học và sinh thái học có thể giải thích theo rất nhiều cách khác nhau
Phát triển bền vững về bản chất chỉ là một sự mở rộng khái niệm phát triển qua phạm vi thời gian, bao gồm cả các thế hệ khác nhau Theo
đó phát triển bền vững đòi hỏi trách nhiệm của thế hệ hôm nay đối với
sự phát triển của thế hệ mai sau thông qua việc bảo vệ môi trường và gìn giữ tài nguyên thế giới cho thế hệ tương lai Nói một cách khác Phát triển bền vững bao hàm việc lồng ghép vấn đề môi trường vào khái niệm phát triển thông thường Cộng đồng thế giới bắt đầu quan tâm tới vấn đề
Trang 14suy giảm chất lượng môi trường từ hơn 30 năm trước và đã cùng nhau
thỏa thuận tại Stockholm về sự cần thiết phải đối phó với sự suy giảm
chất lượng môi trường năm 19721 Năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh về
Trái đất tại Rio de Janeiro đã thông qua Chương trình Nghị sự 21 và ra
Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển Hội nghị Liên hiệp quốc về
Môi trường và Phát triển tại Rio de Janeiro năm 1992 là nền tảng đánh
dấu nỗ lực của toàn thể nhân loại vì một thế giới phát triển bền vững
Mười năm sau đó, cộng đồng thế giới lại nhóm họp một lần nữa tại
Johannesburg, Nam Phi để khẳng định quyết tâm của mình vì một thế
giới phát triển bền vững Hội nghị Thượng đỉnh về Phát triển Bền vững
tại Johannesburg năm 2002 là nỗ lực của cộng đồng thế giới nhằm tìm ra
những giải pháp để gỡ bỏ những trở ngại ngăn cản việc theo đuổi mục
tiêu phát triển bền vững thông qua việc thực thi Chương trình Nghị sự
21
Việc lồng ghép vấn đề môi trường vào khái niệm phát triển truyền
thống không làm thay đổi bản chất của sự phát triển đó là lấy con người
làm trung tâm và là mục tiêu của phát triển Nguyên tắc thứ nhất của
Tuyên bố Rio khẳng định "Con người là trung tâm của các vấn đề liên
quan tới phát triển bền vững Con người có quyền sống một cuộc sống
lành mạnh và hữu ích trong mối quan hệ hài hòa với tự nhiên"
Với ý nghĩa đó, phát triển bền vững bao gồm ba bộ phận chính:
phát triển kinh tế, phát triển xã hội, và bảo vệ môi trường Phát triển kinh
tế bao hàm việc sử dụng một cách tối ưu và hiệu quả các tài nguyên thiên
nhiên để có thể làm giàu tối đa cho xã hội đồng thời xóa nghèo trên
phạm vi toàn thế giới Phát triển xã hội đòi hỏi giảm bất bình đẳng, nâng
cao phúc lợi xã hội, nâng cao chất lượng y tế và giáo dục cho cộng đồng,
đảm bảo an ninh cho cộng đồng, tôn trọng quyền con người của mỗi cá
nhân, đồng thời phát triển các nền văn hóa đa dạng và lấy dân chủ tại
gốc làm cơ sở cho các quyết định ảnh hưởng tới cuộc sống của nhân dân
1 Báo cáo của Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trường Con người, 5-16/06/1972, Chương 1
Bảo vệ môi trường đòi hỏi phải quan tâm tới việc gìn giữ và làm giàu các
cơ sở tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái
Để có thể phát triển bền vững vấn đề sống còn là khả năng đánh giá đúng mức và quản lý hợp lý mỗi quan hệ qua lại phức tạp giữa các mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường Ví dụ, có một sự đánh đổi giữa các mục tiêu kinh tế và các mục tiêu môi trường Tăng trưởng kinh
tế là kết quả của hoạt động sáng tạo không ngừng của con người nhằm chế ngự thiên nhiên và chuyển hóa các tài nguyên thiên nhiên thành hàng hóa và dịch vụ phục vụ cuộc sống con người Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả thu được từ tăng trưởng kinh tế, con người cũng phải trả giá cho những hành động của mình Tài nguyên thiên nhiên bị tiêu hao, môi trường tự nhiên bị suy giảm chất lượng do tác động của ô nhiễm khí quyển, ô nhiễm nguồn nước, thay đổi khí hậu và biến động bất thường đối với đa dạng sinh học
Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đã nhận ra tầm quan trọng của việc hiểu một cách thấu đáo thế nào là phát triển bền vững Từ Stockholm năm 1972, tới Rio de Janeiro năm 1992 và Johannesburg năm
2002, khái niệm phát triển bền vững đã phát triển theo thời gian Từ việc chỉ tập trung vào khía cạnh môi trường đến nay phát triển bền vững đã được coi là cả một quá trình phức tạp trong đó các mục tiêu về kinh tế,
xã hội và môi trường được lồng ghép với nhau để tạo nên một kết quả hài hòa theo đó phải đảm bảo một tương lai tươi sáng cho thế giới mai sau trong khi vẫn đảm bảo chất lượng cuộc sống con người cho thế giới hôm nay trên cơ sở khai thác và sử dụng hợp lý và có trách nhiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Sự đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tạo ra một thách thức lớn cho các nhà hoạch định chính sách trong việc đưa ra các lựa chọn chính sách đảm bảo cân đối được các mục tiêu kinh tế cũng như môi trường Tăng trưởng mang lại lợi ích kinh tế cho các nhóm dân
cư khác nhau, khác nhau theo không gian, thời gian, và nguồn gốc của các nhóm dân cư đó Việc quyết định thời gian và địa điểm đầu tư cho
Trang 15tăng trưởng kinh tế là những lựa chọn khó khăn của các nhà hoạch định
chính sách Mỗi một sự lựa chọn, một quyết định chính sách sẽ đem lại
những hậu quả tiêu cực và tích cực đối với kinh tế, xã hội và môi trường
Để có được những bước đi cẩn trọng và chắc chắn trong việc thực
hiện phát triển bền vững, cần phải có các đánh giá thấu đáo về cả tác
động tiêu cực lẫn tích cực đối với kinh tế, xã hội và môi trường trước khi
đưa ra các lựa chọn chính sách Các nhà hoạch định chính sách cần phải
chỉ ra được những sự đánh đổi giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi
trường (khi lợi ích thu được cho lĩnh vực này lại gây thiệt hại cho lĩnh
vực khác) để đề ra những biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của
mỗi một lựa chọn chính sách của mình
Phát triển bền vững đòi hỏi sự phối hợp nỗ lực quốc gia và quốc
tế Trên bình diện quốc gia, phát triển bền vững đòi hỏi một sự thay đổi
thể chế, chính sách sao cho sự phối hợp thực hiện các mục tiêu phát triển
bền vững phải được thực hiện thông suốt ở tất cả các ngành các cấp Phát
triển bền vững phải được xây dựng trên cơ sở nền tảng cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thượng tầng sẵn có ở mỗi quốc gia Phát triển bền vững vừa là
mục tiêu cuối cùng vừa là bản thân quá trình theo đuổi mục tiêu đó Phát
triển bền vững không phải là việc có thể để lại để thực hiện trong dài hạn
mà phát triển bền vững bao gồm tất cả những hoạt động kinh tế ngắn
hạn, trung hạn để giải quyết các vấn đề hiện tại song song với việc chú ý
giải quyết các vấn đề dài hạn hơn Trên bình diện quốc tế, phát triển bền
vững đòi hỏi sự nỗ lực chính sách của tất cả các nước vì một mục đích
chung đó là xây dựng thế giới hôm nay một cách có trách nhiệm cho sự
phát triển của thế giới mai sau
Chương trình Nghị sự 21 kêu gọi các nước sử dụng Chiến lược
Phát triển Bền vững Quốc gia làm cơ sở cho việc chuyển hóa các mục
tiêu phát triển bền vững thành những chính sách và hành động cụ thể của
mỗi quốc gia Chiến lược Phát triển Bền vững Quốc gia (NSDS -
National Sustainable Development Strategy) được Ủy ban Liên hiệp
quốc về Phát triển Bền Vững định nghĩa là một quá trình xử lý phối hợp
liên tục và dân chủ các tư tưởng và hành động ở cấp độ quốc gia cũng như cấp độ ngành và các địa phương để có thể lồng ghép một cách cân đối các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia Thông qua chiến lược phát triển bền vững quốc gia, các nước có thể thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững ở cấp địa phương, quốc gia cũng như khu vực Chiến lược phát triển bền vững quốc gia bao gồm quá trình việc phân tích hiện trạng, soạn lập chính sách và kế hoạch hành động, thực hiện, giám sát và kiểm tra định
kỳ Chiến lược phát triển bền vững quốc gia với ý nghĩa là một quá trình lặp liên tục và có tính định kỳ đặt trọng tâm vào cả quá trình quản lý thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững chứ không chú trọng tới bản thân việc xây dựng nên một văn kiện chiến lược
Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, lịch sử,
và môi trường của mỗi nước, các nước khác nhau sẽ có các chiến lược phát triển bền vững quốc gia khác nhau Một định hướng thống nhất và bao trùm cho tất cả các chiến lược quốc gia là phải lồng ghép các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường một cách cân đối Chiến lược phát triển bền vững là công cụ cung cấp thông tin để các quốc gia có thể đưa
ra các quyết định chính sách Chiến lược cần phải thể chế hóa quá trình tham vấn, đối thoại, và hòa giải các xung đột về mục tiêu phát triển giữa các nhóm có lợi ích khác nhau
Tất cả các nước đều thu được lợi ích từ quá trình soạn lập chiến lược phát triển bền vững Một chiến lược phát triển bền vững sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình ra quyết định của Chính phủ thông qua việc chỉ rõ các mục tiêu, mục đích, và chính sách để thực hiện phát triển bền vững Bên cạnh việc phân tích lồng ghép các vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường một cách toàn diện chiến lược cũng chỉ ra và đánh giá đầy đủ tác động của các lựa chọn chính sách
Hơn nữa, chiến lược phát triển bền vững sẽ giúp các quốc gia huy động các nguồn lực trong nước và quốc tế để phục vụ phát triển thông qua việc cung cấp thông tin cho dân chúng và cộng đồng các nhà tài trợ
Trang 16Chiến lược cũng góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực thông
qua việc chỉ ra các ưu tiên, mục tiêu và chương trình phát triển trên cơ sở
tham vấn tất cả các nhóm chia sẻ lợi ích Ngoài ra, chiến lược phát triển
bền vững còn góp phần giải quyết các xung đột lợi ích thông qua đối
thoại và hòa giải đồng thời xây dựng thể chế và nguồn lực con người để
duy trì tăng trưởng bền vững và cải cách xã hội
Để chiến lược phát triển bền vững phát huy tác dụng phải có một
hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả phát triển bền vững để có thể kiểm
tra, theo dõi, giám sát quá trình thực hiện chiến lược Ủy ban Phát triển
Bền vững Liên hiệp quốc đã ban hành một hệ thống các chỉ số cơ bản để
các nước có thể sử dụng phát triển riêng một hệ thống chỉ số, chỉ báo cho
riêng mình Để phục vụ cho việc xây dựng chiến lược phát triển bền
vững cần phải thiết kế một hệ thống điều hòa các chính sách kinh tế, xã
hội và môi trường Hệ thống này có thể được xây dựng trên cơ sở các ma
trận chỉ rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong việc thực thi từng
chính sách cụ thể đối với ba lĩnh vực là kinh tế, xã hội và môi trường
Một hệ thống như vậy sẽ tạo điều kiện cho các nước hạn chế các chính
sách trái ngược nhau và đảm bảo một môi trường chính sách có khả năng
hỗ trợ lẫn nhau trên cả ba lĩnh vực
Chiến lược phát triển bền vững phải chú trọng tới việc lên kế
hoạch hành động và lập dự toán ngân sách Mặc dù chiến lược phát triển
bền vững được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp tiếp cận vĩ mô
nhưng chiến lược lại phải đáp ứng yêu cầu chỉ ra được những hành động
cụ thể ở tầm vi mô để có thể thực hiện được mục tiêu của chiến lược
Ngân sách là một công cụ quan trọng để Chính phủ có thể sử dụng
nguồn lực công nhằm phục vụ các mục tiêu chung trên cơ sở thực hiện
các mục tiêu của phát triển bền vững
Chiến lược phát triển bền vững không chỉ chú trọng tới một lĩnh
vực cụ thể nào mà được xây dựng cho tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế
Tuy nhiên chiến lược phải chỉ ra được những lĩnh vực ưu tiên hành động
Sáng kiến WEHAB (Water and sanitation, Energy, Health, Agriculture,
and Biodiversity protection and ecosystem management) của Liên hiệp quốc chỉ ra các lĩnh vực phải ưu tiên hành động hiện nay là nước uông
và vệ sinh, năng lượng, y tế, nông nghiệp, và bảo vệ đa dạng sinh học cũng như quản lý hệ sinh thái)
Kể từ trước và sau Hội nghị Thượng đỉnh về Phát triển Bền vững tại Johannesburg năm 2002, các nước trên thế giới đã bắt đầu quá trình xây dựng các chiến lược phát triển bền vững quốc gia cho mình Chiến lược phát triển bền vững quốc gia đã, đang và sẽ là kim chỉ nam cho hành động của cộng đồng quốc tế vì một sự nghiệp chung: phát triển cho thế giới hôm nay và bảo vệ môi trường cho thế giới mai sau Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, lịch sử, và môi trường của mỗi nước, các nước khác nhau sẽ có các chiến lược phát triển bền vững quốc gia khác nhau Tất cả các nước đều thu được lợi ích từ quá trình soạn lập chiến lược phát triển bền vững Để phục vụ cho việc xây dựng chiến lược phát triển bền vững cần phải thiết kế một hệ thống điều hòa các chính sách kinh tế, xã hội và môi trường
1.1.3 Vai trò của nền kinh tế tri thức trong phát triển nền kinh tế theo hướng hiện đại
Kinh tế thị trường đã phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử Trong thế kỷ 20, nhiều quốc gia trên thế giới đã thành công nhờ hiện đại hóa nền kinh tế công nghiệp, lấy mô hình và cơ cấu kinh tế công nghiệp làm trọng tâm Khi Khoa học và công nghệ phát triển trở thành lực lượng sản xuất, thì kinh tế tri thức trở nên quan trọng
Fritz Machlup và Peter Drucker là những người đâu tiên đưa ra khái niệm nền kinh tế tri thức vào những năm 1960 Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ trên toàn thế giới, kinh tế tri thức đã trở thành một trong những định hướng chiến lược phát triển quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới Các nước phát triển và đang phát triển đều ý thức được tầm quan trọng đặc biệt của nền kinh tế tri thức Tuy nhiên, khó có thể định nghĩa chính xác kinh tế tri thức bởi tùy cách
Trang 17tiếp cận các nhà khoa học, kinh tế, và phát triển xã hội sẽ hiểu theo các
cách khác nhau
Kinh tế tri thức được hiểu “Là nền kinh tế sử dụng hiệu quả tri
thức cho sự phát triển kinh tế và xã hội, bao gồm việc thu nhận và khai
thác nguồn tri thức toàn cầu cũng như thích ứng và sáng tạo tri thức để
dùng cho các nhu cầu riêng.” (Ngân hàng Thế giới, World Bank); hay
kinh tế tri thức “Là nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc tạo ra, phân phối
và sử dụng tri thức và thông tin.” (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế,
OECD), và kinh tế tri thức “Là nền kinh tế trong đó việc tạo ra, truyền
bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu của sự tăng trưởng, của quá
trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế.” (Tổ chức
Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương, APEC)
Kinh tế tri thức có thể được gọi bằng nhiều tên gọi khác như kinh
tế dựa trên tri thức (knowledge-based economy) hay kinh tế được điều
hành bởi tri thức (knowledge-driven economy) Trong nền kinh tế tri
thức, việc phát triển và ứng dụng thành tựu của khoa học và công nghệ
hiện đại, như khoa học về sự sống, công nghệ thông tin và truyền thông,
công nghệ sinh học, công nghệ nano, đóng một vai trò quyết định với
sự vận hành và phát triển của nền kinh tế
Trong nền kinh tế tri thức, chính phủ đặt trọng tâm vào phát triển
các nền tảng của tri thức và ứng dụng vào hoàn cảnh kinh tế thực tế
Nguồn lực của nền kinh tế được tập trung để phát triển tri thức và khoa
học ứng dụng Hệ thống giáo dục phổ thông, các trường đại học, các viện
nghiên cứu được xây dựng gắn kết để tạo thành một chuỗi cung cấp tri
thức Một hệ thống giáo dục hữu hiệu có khả năng khuyến khích khả
năng sáng tạo của con người và hướng tới những phát minh, sáng chế có
khả năng ứng dụng thực tiễn là nền tảng để phát triển kinh tế tri thức
Chương trình giảng dạy đại học phải đảm bảo gắn kết giữa giảng dạy với
nghiên cứu khoa học và gắn kết giữa giảng dạy với thực tiễn
Tri thức là một hàng hóa công cộng Một khi tri thức được sáng
tạo, nó trở thành sản phẩm của nhân loại Chính vì vậy để nuôi dưỡng và
phát triển tri thức Chính phủ cần phải đầu tư giống như xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ kinh tế Chính phủ cần tập trung đầu tư vào
hệ thống giáo dục và y tế để đảm bảo có một nguồn nhân lực có sức khỏe và trí tuệ để tiếp thu và phát triển các thành tựu của khoa học kỹ thuật vào cuộc sống Bên cạnh đó phát triển các trường đại học, các viện nghiên cứu ứng dụng cao cấp là điều kiển để chuyển giao tri thức thành các sản phẩm kinh tế có ý nghĩa Chính phủ cần có chính sách bảo hộ cho các sản phẩm trí tuệ, tạo điều kiện cho những người phát triển các sản phẩm trí tuệ có điều kiện thu hồi vốn để tiếp tục phát triển tri thức Tuy nhiên, sự nỗ lực của Chính phủ là chưa đủ Trong nền kinh tế tri thức, các chủ thể tham gia vào quá trình tạo ra tri thức ý thức được tầm quan trọng của tất cả các thành viên trong chuỗi cung cấp tri thức Các doanh nghiệp là nơi tạo ra sản phẩm cuối cùng có khả năng tạo ra thu nhập là kết quả của quá trình sáng tạo tri thức hiểu được sự cần thiết phải sử dụng nguồn lực từ các trường đại học, các viện nghiên cứu làm đầu vào nòng cốt cho quá trình nghiên cứu và phát triển sản phẩm của mình Chính vì vậy, doanh nghiệp sẵn lòng sử dụng nguồn lực của mình
để nuôi dưỡng và phát triển tri thức tại các trường đại học và các viện nghiên cứu thông qua trao đổi thường xuyên nhu cầu của doanh nghiệp
và khả năng vận động và điều chỉnh linh hoạt của hệ thống sáng tạo và phát triển tri thức nhằm đáp ứng nhu cầu thay đổi thường xuyên của doanh nghiệp và xã hội
Phát triển kinh tế tri thức cũng như mọi hoạt động kinh tế khác đòi hỏi phải nằm trong một kế hoạch tổng thể nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế hôm nay không làm suy giảm nguồn lực để phát triển kinh tế trong tương lai Hay nói một cách khác quy hoạch phát triển các ngành kinh tế phải dựa trên việc sử dụng tri thức trong một môi trường toàn cầu hóa Phát triển kinh tế tri thức tạo điều kiện để thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Thực vậy, vì để cho nền kinh tế tri thức có thể phát triển buộc phải quan tâm đúng mức tới phát triển các mục tiêu xã hội như y tế và giáo dục Bên cạnh đó, một nền kinh tế tri thức là một nền kinh tế ít sử dụng tài nguyên Sản phẩm sáng tạo là sản
Trang 18phẩm có hàm lượng công nghệ cao và sử dụng ít nguyên nhiên vật liệu
thô Chính vì vậy kinh tế tri thức có thể được phát triển hài hòa với sự
phát triển xã hội và bảo vệ môi trường
Kinh tế tri thức không đồng nhất với nền kinh tế của các công
nghệ cao Kinh tế tri thức gắn với ứng dụng tri thức vào tất cả các mặt
của đời sống kinh tế, xã hội Sản xuất nông nghiệp cũng có mặt trong
nền kinh tế tri thức khi những người tham gia vào quá trình sản xuất
nông nghiệp có ý thức và có khả năng vận dụng tri thức vào quá trình
sản xuất để tạo ra sản phẩm có hàm lượng tri thức cao Kinh tế tri thức
đòi hỏi quá trình sáng tạo không ngừng và liên tục ứng dụng những
thành tựu của khoa học công nghệ vào quá trình sản xuất nông nghiệp
Quá trình công nghiệp hóa nông thôn và nâng cao hàm lượng tri thức
trong giá trị sản phẩm nông nghiệp là những biểu hiện của vận dụng kinh
tế tri thức vào trong sản xuất nông nghiệp Với cách hiểu như vậy, mọi
quốc gia đều có thể có định hướng phù hợp để phát triển kinh tế tri thức,
không phụ thuộc vào trình độ phát triển
Trong những năm qua, Liên hiệp quốc, Ngân hàng Thế giới, Tổ
chức Phát triển Hợp tác Kinh tế đã có nhiều báo cáo về việc định hình và
xây dựng chiến lược phát triển kinh tế tri thức ở các nước phát triển và
đang phát triển trên phạm vi toàn cầu Việc xây dựng một nền kinh tế tri
thức có tác dụng cải biến cơ cấu kinh tế của một nước, chuyển các nền
kinh tế từ lệ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên và môi trường toàn cầu
sang một nền kinh tế sản xuất có hàm lượng tri thức cao
Điều chỉnh kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững đòi
hỏi phải gắn kết phát triển và tăng trưởng kinh tế với một nền kinh tế tri
thức Kinh tế tri thức phản ánh trình độ phát triển cao của lực lượng sản
xuất xã hội, theo đó, trong từng sản phẩm và trong tổng sản phẩm quốc
dân thì hàm lượng giá trị tạo ra bởi nguyên nhiên vật liêu, thiết bị máy
móc giảm đi rất nhiều so với hàm lượng lao động sử dụng tri thức Phát
triển nền kinh tế tri thức đòi hỏi phải phát triển chuỗi cung cấp và mạng
lưới các ngành công nghiệp phụ trợ với những doanh nghiệp vừa và nhỏ
có khả năng tập trung vào sản xuất những mặt hàng chuyên biệt, có giá trị cao Giá trị hàm lượng tri thức trong các sản phẩm cần được thể hiện thông qua những đặc tính ưu việt của sản phẩm Những sản phẩm này hấp dẫn được người tiêu dùng bởi những tính năng vượt trội, thể hiện sự sáng tạo của con người và ý thức cao độ của nhà sản xuất trong việc tìm kiếm những sản phẩm có những tính năng hấp dẫn, có giá trị gia tăng cao với hàm lượng tri thức lớn Những ngành kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào những thành tựu mới nhất của khoa học, công nghệ là những ngành
có tác động to lớn tới sự phát triển kinh tế của đất nước
Kinh tế tri thức gắn liền với nguồn vốn trí thức và sáng tạo vô tận với những đặc trưng cơ bản sau đây:
- Vốn quý nhất trong nền kinh tế tri thức là tri thức Tri thức là nguồn gốc của giá trị, tri thức là nguồn lực quan trọng tạo nên tốc độ tăng trưởng cao và bền vững của nền kinh tế; của cải của xã hội được tạo
ra dựa vào tri thức nhiều hơn dựa vào tài nguyên thiên nhiên và sức lao động phổ thông Công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ tự động hóa và công nghê thông tin được ứng dụng rộng rãi trong công tác dự báo, lên
kế hoạch, vận hành , triển khai thực hiện và giám sát quá trình sản xuất Khoa học và công nghệ trở thành yếu tố sản xuất quan trọng và là lực lượng sản xuất trực tiếp Tổng sản phẩm xã hội cần tăng nhanh hơn tổng tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, và nhân trong khu vực sản xuất hàng hóa
- Sự sáng tạo, đổi mới và phát minh liên tục là động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội Kinh tế tri thức phát triển dựa trên sáng tạo, đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm Quá trình phát triển kinh tế là quá trình sáng tạo và phát triển khoa học và công nghệ mới Quá trình tiếp nhận, kế thừa, sáng tạo và sản xuất tri thức là quá trình quan trọng để hình thành một nền kinh tế tri thức Các sản phẩm hàng hóa tạo ra để đáp ứng nhu cầu của con người, các sản phẩm luôn cập nhật và tiếp thu những ứng dụng khoa học, công nghệ mới nhất của loài người
Trang 19- Kinh tế tri thức là nền kinh tế đặt trọng tâm vào quá trình học tập
và giáo dục của các thành viên trong nền kinh tế Giáo dục và đào tạo
phải tạo lập được cho con người một nền tảng kiến thức và khả năng vận
dụng kiến thức thu được để tạo ra kiến thức mới Muốn vậy, hệ thống
giáo dục cần đặt trọng tâm vào phát huy khả năng tự học tập và sáng tạo
của con người Quá trình học tập không chỉ là quá trình thu nhận tri thức
mà còn là quá trình tạo ra tri thức Quá trình học tập, lấy người học làm
trung tâm được coi là chủ đạo trong nền kinh tế tri thức Học tập cả đời
là nguyên lý và đạo tạo thường xuyên được coi là triết lý của phát triển
giáo dục Giao dục cần được coi là trọng tâm ưu tiên đầu tư hàng đầu
trong nền kinh tế Tiếp cận tới các dịch vụ giáo dục là quyền con người,
phát triển tri thức là nhu cầu và cũng là đòi hỏi bắt buộc của con người,
nâng cao kỹ năng làm việc, phát triển sức sáng tạo, thúc đẩy đổi mới
kinh tế, xã hội là nền tảng của phát triển Xã hội học tập là nền tảng của
kinh tế tri thức
- Nền kinh tế tri thức đặt trọng tâm vào ứng dụng khoa học công
nghệ, đặc biệt là công nghệ tự động hóa và công nghệ thông tin trong
mọi lĩnh vực Công nghệ tự động hóa giúp giảm lao động giản đơn để
tập trung nguồn lực vào phát triển các sản phẩm trí tuệ Công nghệ thông
tin và trí tuệ nhân tạo là nền tảng để nâng cao hiệu quả sản xuất Công
nghệ thông tin đã thay đổi cách thức liên lạc, trao đổi tương tác, và cách
thức làm việc nhóm trên thế giới Công nghệ thông tin cho phép quá
trình cung cấp dịch vụ có thể được thực hiện bên ngoài phạm vi của một
quốc gia Những dịch vụ hỗ trợ khách hàng của các doanh nghiệp phải
sử dụng một lực lượng lớn nhân công làm việc nhiều ca, nay đã có thể
thực hiện phục vụ 24 giờ với các nhóm làm việc ở các địa điểm khác
nhau trên thế giới Nhân viên ở Ấn Độ có thể phục vụ khách hàng ở Mỹ
vào buổi tối Mạng thông tin trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng bậc nhất
trong nền kinh tế
- Kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu hóa Quá trình phát triển
kinh tế tri thức đi liền với quá trình kinh tế thị trường, phát triển thương
mại thế giới và quá trình toàn cầu hóa Nền kinh tế tri thức kế thừa kiến
thức và kinh nghiệm của toàn thế giới Quá trình sáng tạo tri thức là quá trình kế thừa và tạo ra các sản phẩm tri thức mới Sự phát triển của internet đã tạo điều kiện cho kiến thức, tri thức được phổ biến trên phạm
vi toàn cầu
- Kinh tế tri thức là nền kinh tế phát triển bền vững Kinh tế tri thức khuyến khích và tạo điều kiện cho các công nghệ sạch, tiêu hao ít nguyên liệu, năng lượng, chất thải công nghiệp ít hơn, hạn chế ảnh hưởng làm ô nhiễm môi trường Vì vậy, kinh tế tri thức không những đảm bảo cho thế giới phát triển hôm nay mà còn đảm bảo bảo tồn nguồn lực cho thế giới phát triển mai sau
Kinh tế thị trường phát triển bền vững với cơ cấu kinh tế mới chỉ thực hiện được dựa trên nền tảng kinh tế tri thức Vì vậy điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại phải gắn với chiến lược xây dựng kinh
tế tri thức
Kinh tế tri thức đã ra đời và phát triển cho thấy kinh tế tri thức có những ưu việt vượt trội so với kinh tế công nghiệp Kinh tế tri thức đưa lại năng suất lao động cao, và thúc đẩy sự phát triển của xã hội đồng thời chú trọng việc bảo vệ môi trường Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo mô hình phát triển bền vững dựa trên kinh tế tri thức sẽ kéo theo sự thay đổi
về cơ cấu xã hội dân cư, thông qua sự thay đổi về cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trong xã hội
Chúng ta đều biết, lịch sử phát triển kinh tế thị trường gắn liền với quá trình phát triển phân công lao động xã hội, làm cho cơ cấu xã hội, dân cư không ngừng thay đổi, do đó mức sống và lối sống cũng như dân trí thay đổi Sự phát triển phân công lao động xã hội luôn dựa trên sự phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, thúc đẩy nền văn hoá mới ra đời Chính vì vậy, điều chỉnh cơ cấu kinh tế phải đi đôi với những cải cách cơ bản trong giáo dục và đào tạo, trong khoa học và công nghệ Điều chỉnh cơ cấu kinh tế phải gắn chặt với nền kinh tế tri thức Điều chỉnh cơ cấu kinh tế phải gắn với phát triển giáo dục và đào tạo nhằm tạo động lực để thúc đẩy tiến bộ xã hội thông qua thúc đẩy tiến bộ
Trang 20khoa học và công nghệ Nền kinh tế tri thức đòi hỏi một xã hội tri thức
Một xã hội sống có trách nhiệm với bản thân và với mọi người xung
quanh Một xã hội trong đó mỗi cá nhân, mỗi gia đình và mỗi doanh
nghiệp đều thực hiện trách nhiệm xã hội của mình để đem lại một cuộc
sống văn minh cho tất cả mọi người
1.2 Giới thiệu một số mô hình phát triển kinh tế và điều chỉnh cơ
cấu
1.2.1 Thống nhất Washington và quan niệm về phát triển kinh tế và
điều chỉnh cơ cấu của Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc
tế (IMF)
Khái niệm về sự phát triển là một khái niệm rất rộng Nhìn chung,
phát triển bao gồm việc không ngừng nâng cao chất lượng sống trên tất
cả các mặt kinh tế, chính trị và xã hội Với ý nghĩa như vậy, quá trình
phát triển liên quan tới việc phát triển của con người trên tất cả các mặt
của đời sông kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa Trong phạm vi thảo
luận của đề tài này, chúng ta sẽ chỉ tập trung vào một khía cạnh đó là
phát triển kinh tế Tuy nhiên, chúng ta sẽ không giới hạn phạm vi nghiên
cứu trong một phạm vi hẹp liên quan tới tăng trưởng kinh tế ngắn hạn,
mà sẽ nghiên cứu một khái niệm rộng hơn, phát triển kinh tế, với ý nghĩa
là một quá trình tăng trưởng lâu dài, ổn định, bền vững, công bằng và
dân chủ
Nhìn chung, các trường phái kinh tế khác nhau có thể khác nhau
về phương pháp tiếp cận và cách nhìn nhận khác nhau về vấn đề phát
triển kinh tế Tuy nhiên, đến nay hầu hết các nhà kinh tế trên thế giới đều
thừa nhận vai trò của nhà nước trong việc khuyến khích tăng trưởng kinh
tế và phát triển thông qua việc cung cấp các hàng hoá công cộng, khắc
phục các khiếm khuyết của thị trường, kích thích tiết kiệm và đầu tư,
nâng cao mức sống, giảm bớt sự mất công bằng
Từ lâu giữa các nhà kinh tế đã tồn tại một sự thống nhất, được biết đến với tên gọi “Thống nhất Washington”1 Trong số những nhà hoạch định chính sách ủng hộ sự thống nhất này có Quĩ Tiền tệ Quốc tế (IMF)
và Ngân hàng Thế giới (World Bank) Các nhà kinh tế ủng hộ sự thống nhất này đều nhất trí sử dụng một số công cụ chính sách để đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế thông qua các chương trình ổn định hoá, và điều chỉnh cơ cấu (stabilisation and adjustment programmes) nhằm tư nhân hoá, tự do hoá thương mại, duy trì tỷ lệ lạm phát thấp, hạn chế thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân thương mại
Các nhà kinh tế ủng hộ "Thống nhất Washington" nhấn mạnh vai trò của tăng trưởng trong phát triển kinh tế, mà bỏ qua các yếu tố phát triển nguồn nhân lực để phát triển bền vững và đảm bảo công bằng xã hội lâu dài Họ yêu cầu Chính phủ thi hành chính sách tài chính và tiền tệ thắt chặt, thực hiện chính sách khắc khổ để đảm bảo các chỉ tiêu tài chính về lạm phát và thâm hụt ngân sách do Quĩ tiền tệ quốc tế đặt ra Chính sách này đã làm cho nguồn nhân lực của nhiều nước bị suy thoái nghiêm trọng cộng với bất bình đẳng trong xã hội gia tăng do tốc độ tư nhân hoá và tự do hoá thương mại diễn ra quá nhanh
Để khắc phục những khiếm khuyết của "Thống nhất Washington", hiện nay, các nhà kinh tế đã đi tới một thống nhất mới, được biết tới với tên gọi là “Thống nhất hậu Washington” Theo “Thống nhất hậu Washington”, khái niệm phát triển kinh tế đã được xác định rộng hơn không chỉ bao gồm tăng trưởng ngắn hạn mà bao gồm cả phát triển lâu dài, ổn định, bền vững, công bằng và dân chủ Nhà nước không chỉ giới hạn tới các mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn mà còn mong muốn duy trì phát triển lâu dài, ổn định và bền vững thông qua nâng cao đời sống về mặt sức khoẻ và giáo dục, và bảo vệ tài nguyên, thiên nhiên, môi trường chứ không chỉ tăng trưởng GDP Đồng thời họ cũng mong muốn có một
sự phát triển bình đẳng, nghĩa là đảm bảo tất cả mọi người đều được
1 Washington Consensus
Trang 21hưởng thành quả của sự phát triển Và cuối cùng, họ mong muốn quá
trình phát triển là một quá trình dân chủ, nghĩa là tạo điều kiện để tất cả
mọi người có thể tham gia vào quá trình ra các quyết định có ảnh hưởng
tới cuộc sống của họ bằng nhiều con đường khác nhau1
Thống nhất mới này là một thắng lợi lớn cho các nước đang phát
triển Dưới hệ thống quản lý cũ, Chính phủ các nước đang phát triển
thường bị áp lực bởi các tổ chức cho vay nợ quốc tế như Ngân hàng thế
giới và Quĩ tiền tệ quốc tế theo đuổi chính sách tiết kiệm và hạn chế chi
tiêu nhằm tập trung nguồn lực hạn hẹp cho mục đích tăng trưởng kinh tế
để có thể đạt được mục tiêu thịnh vượng kinh tế trong dài hạn
Thống nhất Washinton tồn tại những thiếu sót cơ bản Thứ nhất,
đó là nguồn lực con người của đất nước liên quan có thể bị hao mòn
đáng kể do thời gian bởi thiếu dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và giáo dục
Lực lượng lao động cũ này không thể theo kịp tốc độ của quá trình tăng
trưởng và kết quả cuối cùng dẫn đến sự suy thoái kinh tế Thứ hai, việc
cổ phần hoá và tự do hoá thương mại đòi hỏi phải tăng hiệu quả bằng
việc điều chỉnh cơ cấu theo hướng tăng cường tác động của thị trường
dưới tác động của “bàn tay vô hình” Thống nhất hậu Washington đã giải
quyết những tồn tại này thông qua việc Chính phủ cung cấp hàng hoá
công cộng như phát triển hạ tầng, nâng cao chất lương hệ thống chăm
sóc sức khoẻ và dịch vụ giáo dục, vừa đảm bảo thúc đẩy quá trình phát
triển vừa nâng cao chất lượng cuộc sống Những mục tiêu này có thể có
những đặc tính bổ sung và đối ngược nhau, đòi hỏi các nhà hoạch định
chính sách nỗ lực phân bổ một cách có hiệu quả các nguồn lực có hạn
cho các mục tiêu cạnh tranh nhau
Việt Nam đang phải đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại
nền kinh tế đảm bảo vừa ổn định kinh tế vĩ mô, vừa cải cách cơ cấu
doanh nghiệp nhà nước, vừa mở cửa kinh tế, tự do hóa thương mại, đầu
1 Stiglitz, Joseph E More Instrument and Broader Goals: Moving toward the Post- Washington
Consensus Viện nghiên cứu kinh tế phát triển thế giới, bài phát biểu hàng năm: 1998
tư nên việc nghiên cứu các chính sách hậu Washington có ý nghĩa thực tiễn hiện nay
1.2.2 Quá trình hình thành các lý thuyết phát triển kinh tế và điều chỉnh cơ cấu
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, chúng ta đã chứng kiến sự ra đời của hàng loạt các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển Mô hình tăng trưởng cân đối ổn định (steady state balanced growth) của Harrod-Domar đã chỉ ra con đường phát triển mà tất cả các nước phải trải qua Tăng trưởng trong mô hình của Harrod-Domar được đảm bảo bởi tỷ lệ tỷ
lệ đảm bảo tăng trưởng (warranted rate of growth), (s/v)1 Tỷ lệ này được
đo bằng tỷ số giữa mức tiết kiệm (saving rate-S/Y), s, và tỷ lệ không đổi giữa vốn và sản lượng (constant capital-output-ratio-I/Y), v Mô hình tiết kiệm Kaldor (Kaldor saving model) cho rằng cơ cấu phân bổ thu nhập ảnh hưởng đến tỷ lệ tiết kiệm trong nước, và vì thế ảnh hưởng tới tỷ lệ đầu tư và tăng trưởng kinh tế2 “Một cú hích mạnh” (A "big push") của Rosenstein hoặc “Nỗ lực tối thiểu tới hạn” (Critical Minimum Effort) của Leibenstein được coi là điều kiện cần thiết để vượt ra khỏi “cái bẫy cân bằng ở mức thấp”3 (low level equilibrium trap) Robert Solow đưa ra
mô hình tăng trưởng nội sinh tân cổ điển có thể giải thích tác động của việc tích luỹ vốn, tăng dân số, tiến bộ kỹ thuật, và tỷ lệ tiết kiệm trong tăng trưởng kinh tế4
Nhìn chung, có hai phương pháp tiếp cận chính để giải thích các lý thuyết về phát triển kinh tế có ảnh hưởng tới cách suy nghĩ của các nhà hoạch định chính sách trong việc lập kế hoạch đầu tư, điều chỉnh cơ cấu
Trang 22và theo đuổi các mục tiêu phát triển Đó là tân cổ điển (neoclassical) và
cơ cấu (structural) Quan điểm phát triển của chủ nghĩa cơ cấu
(structuralism) dựa trên lý thuyết "số lượng giới hạn" (quantity
constrainted) và phủ nhận thuyết "giá cả được điều chỉnh" (price
adjusted), chiếm ưu thế từ những năm 1940 cho đến tận đầu những năm
1960 ở các nước đang phát triển Lý thuyết này được đặc trưng bởi quá
trình dồn tích những cứng nhắc (rigidity) ăn sâu trong văn hoá, xã hội, và
thể chế của các nước kém phát triển Sự cứng nhắc về văn hoá, xã hội và
thể chế này đã gây trở ngại hoặc ngăn cản bất kỳ một sự thay đổi, điều
chỉnh nào Sự cứng nhắc làm cho việc di chuyển vốn đầu tư giữa các
vùng hay các lĩnh vực kinh tế khác nhau rất khó thực hiện và đòi hỏi
phải có những quyết định rất kiên quyết của Chính phủ thì mới có thể tái
phân bổ nguồn lực nhằm phục vụ cho hiện đại hoá và phát triển1
Quan điểm của trường phái tân cổ điển giả định quá trình điều
chỉnh giá linh hoạt theo nguyên tắc nhà sản xuất và người tiêu dùng hành
động theo những tín hiệu giá cả của thị trường Nhà sản xuất muốn tối đa
hoá lợi nhuận trong khi người tiêu dùng mong muốn tối đa hoá độ thoả
dụng Những mục tiêu quyền lợi đối lập nhau này chỉ có thể đạt được khi
hai bên tiến được tới một sự thoả hiệp thông qua cơ chế điều chỉnh giá
bằng "bàn tay" tác động của thị trường Các nhà kinh tế học cổ điển cho
rằng số lượng có thể thay đổi linh hoạt và các nguồn lực có thể di chuyển
một cách lưu động
Tuy nhiên sự khác nhau quan trọng nhất của hai trường phái này
chủ yếu là ở các giả thuyết của chúng chứ không phải ở các thành phần
cấu tạo nên chúng Quan điểm tân cổ điển giả định rằng người bán và
người mua luôn cạnh tranh để điều chỉnh nền kinh tế cân bằng ở điểm
hiệu quả Pareto Việc tái phân bổ chỉ xuất hiện khi mà nền kinh tế bùng
nổ trong dài hạn, còn ở bất cứ thời điểm nào việc chuyển đổi giữa lao
động và vốn từ một lĩnh vực này sang lĩnh vực khác không thể tăng tổng
1 Baum, Warren C and Tolbert, Stokes M Investing in Development, đã dẫn, trang 21
đầu ra Các nhà cơ cấu cho rằng việc phân bổ nguồn lực thì không thể hoàn toàn là tối ưu Do đó việc sử dụng các yếu tố sản xuất theo các cách thức khác nhau có thể sẽ tạo ra các kết quả khác nhau
Các nhà kinh tế tân cổ điển cho rằng miễn là giả thuyết về cân bằng cạnh tranh được chấp nhận thì đầu vào sẽ luôn được xác định ở mức năng suất biên Vì vậy, tăng trưởng ở mức sản lượng cân bằng luôn
có thể đạt được trong dài hạn Các nhà cơ cấu khẳng định rằng tăng trưởng không cân bằng là đặc trưng cố hữu của bất cứ hệ thống kinh tế nào và điều này có thể thấy rõ ở các nước đang phát triển Sở dĩ như vậy
là do có sự tồn tại của các khiếm khuyết của thị trường và nền kinh tế không biến đổi linh hoạt Việc thiếu vốn và thừa lao động vẫn tồn tại ở các nước đang phát triển
Tư tưởng của hai quan điểm về tăng trưởng và phát triển được thể hiện ở hầu hết các chính sách đầu tư công cộng nhằm điều chỉnh cơ cấu của nhiều nước Ngoài phần lý thuyết cơ bản ra, các chính sách cũng được kết hợp với các kinh nghiệm tích luỹ thông qua các đặc tính của các nước đang phát triển
Trong những năm 1940 và 1950 quan điểm tân cổ điển dường như không phản ánh đúng thực tế ở nhiều nước đang phát triển Tính hai mặt của thị trường lao động vẫn còn tồn tại ở các nước đang phát triển bởi tốc độ tăng dân số quá nhanh Năng lực của nền kinh tế không cho phép thu hút một tỷ lệ lớn lao động trong các lĩnh vực năng suất cao và kết quả là việc cung lao động trình độ thấp luôn ở mức co dãn cao và tập trung chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ Thị trường không
có khả năng điều chỉnh linh hoạt nhằm tái phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả để làm giảm đi thâm hụt cán cân thanh toán kinh niên thông qua tăng cường xuất khẩu và thay thế hàng nhập khẩu Do đó cần thiết phải
có sự can thiệp của thị trường Quan điểm của các nhà cơ cấu được hầu hết các nhà hoạch định chính sách chấp nhận một cách rộng rãi trong thời kỳ này
Trang 23Tuy nhiên, trong những năm 1950 và 1960, các kế hoạch đầu tư
chi tiết và toàn diện được xây dựng trên cơ sở phương pháp tiếp cận cơ
cấu phải trải qua một cuộc kiểm nghiệm khó khăn, và đã không đạt được
kết quả mong đợi1 Chính sách phát triển nhấn mạnh vào tối đa hoá tốc
độ tăng trưởng GNP thông qua tích luỹ vốn và công nghiệp hoá dựa trên
chính sách thay thế hàng nhập khẩu Chính phủ cho rằng thị trường là
không hoàn hảo và tin rằng thị trường có thất bại Vì vậy, Chính phủ
nhấn mạnh đầu tư mới có kế hoạch, sử dụng nguồn dự trữ dư thừa lao
động, thông qua chính sách công nghiệp hoá thay thế hàng nhập khẩu
Tuy nhiên các dự án trong lĩnh vực công lớn cùng với sự chỉ đạo hành
chính nặng nề trong việc đầu tư lĩnh vực tư nhân đã tiêu tốn rất nhiều
nguồn lực để quản lý và thực thi
Vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, chính sách
kinh tế tập trung vào xoá đói giảm nghèo và giảm bất công bằng Ngân
hàng thế giới kêu gọi các nước tăng cường hoạt động phân phối lại để
đảm bảo tăng trưởng công bằng Tổ chức lao động thế giới nhấn mạnh
tới nhu cầu cơ bản của con người Xu hướng đẩy mạnh tăng trưởng
chuyển theo chiều hướng từ phát triển công nghiệp sang phát triển nông
thôn2
Trong những năm 1970 đến 1980, các nguyên lý tân cổ điển trở
thành một tư tưởng kinh tế "phục hưng" Ngày càng có nhiều người chỉ
trích các chính sách của Chính phủ làm bóp méo thị trường và sự xuất
hiện của các thất bại phi thị trường liên quan tới việc thực thi các chính
sách công mở đường cho sự sống lại của các nhà kinh tế tân cổ điển Sự
bóp méo giá cả cần phải được xoá bỏ và chính sách đầu tư công cộng
cần theo chiều hướng thị trường, giá cả và cơ chế khuyến khích Các
chiến lược phát triển vì thế được xây dựng trên cơ sở cải cách nông
nghiệp, tự do hoá thương mại và khuyến khích xuất khẩu Vấn đề tư
1 Baum, Warren C and Tolbert, Stokes M Investing in Development
2 Meier, Gerald M Leading Issues in Economic Development, đã dẫn, trang 82-87
nhân hoá thu hút sự quan tâm của tất cả các nhà hoạch định chính sách
và các tổ chức kinh tế quốc tế
Kinh nghiệm cho thấy chỉ riêng phương pháp tiếp cận cơ cấu hay riêng phương pháp tiếp cận tân cổ điển thì đều không đủ để định hướng chính sách đầu tư phát triển Hai quan điểm trái ngược nhau này cần thiết phải đi cùng với nhau, để cái nọ hỗ trợ cho cái kia Trường phái cơ cấu ủng hộ việc can thiệp chỉ đạo trực tiếp nền kinh tế Quan điểm tân cổ điển dựa vào thị trường và cơ chế giá1 Nhà nước cần phải đứng giữa hai thái cực này
Các nhà kinh tế đều nhất trí rằng, điểu chỉnh cơ cấu để tối đa hoá đầu ra thì nguồn lực khan hiếm cần được phân bổ theo chi phí cơ hội Trên lý thuyết, công tác kế hoạch hoá tập trung một cực là do phân bổ hành chính và cơ chế thị trường là ở một cực khác Trên thực tế, không một Chính phủ nào có thể trông chờ hoàn toàn vào thị trường tự do, cũng như là không một cơ quan kế hoạch nào có thể quản lý việc điều chỉnh
cơ cấu, phân bổ tất cả các hàng hoá và dịch vụ Ngân hàng thế giới nhận
ra rằng các nước sử dụng kế hoạch hoá tập trung cao độ (như Ấn độ, Băng la đét, Thổ Nhĩ kỳ, Êtiopia và Sri Lanka) cũng như các nước có năng lực quản lý kế hoạch yếu kém (như Nigêria, Xênêgan, Áchentina, Ghana, và Jamaica) đều không thành công trong việc điều chỉnh cơ cấu
và điều hành nền kinh tế của họ Các nước theo khuynh hướng trung lập (như Hàn quốc, Malawi, Malaixia, Colombia và Kenia) thì nhấn mạnh vào việc sử dụng cơ cấu giá và khuyến khích theo để chỉ đạo và định hướng cả hoạt động của khu vực công cộng và tư nhân thông qua một chương trình đầu tư công cộng phù hợp Như vậy, thì quá trình phát triển đòi hỏi hai bàn tay, bàn tay can thiệp của Nhà nước và “bàn tay vô hình” của thị trường để có thể vỗ tay Điều chỉnh cơ cấu kinh tế đòi hỏi sự nỗ lực của Chính phủ và thị trường trong việc phân bổ và sử dụng nguồn lực có hiệu quả, đảm bảo công bằng, ổn định và tăng trưởng bền vững
1 Baum, Warren C and Tolbert, Stokes M Investing in Development, đã dẫn, trang 22
Trang 241.2.3 Những nhân tố cơ bản đối với điều chỉnh cơ cấu và phát triển
kinh tế tại các nước đang phát triển
1.2.3.1 Nét đặc trưng của các nước đang phát triển
Mặc dù mỗi nước có đặc trưng khác nhau giữa các nước khác
nhau, nhưng các nhà kinh tế đã phải thừa nhận những nước này có
những đặc điểm chung sau:
Mức thu nhập trên đầu người thấp: theo số liệu năm 1986 khoảng
40 nước đang phát triển được phân loại vào nhóm có mức thu nhập thấp
dưới 500 đô la/đầu người Khoảng 4 nghìn tỷ người ở các nước này có
thu nhập trung bình là 624 đô la/năm, trong khi 700 triệu người ở các
nước phát triển có thu nhập bình quân là 13.360 đô la/năm1 Với con số
này có thể hiểu được rằng hầu hết các gia đình ở các nước đang phát
triển đang sống dưới mức đủ sống
Giới hạn về vốn: Tỷ lệ mất cân đối giữa việc thiếu vốn và quá tải
lực lượng lao động vẫn đang tồn tại ở các nước đang phát triển, kết quả
dẫn đến sự kéo dài về năng suất thấp Năng suất theo đầu người thấp hơn
rất nhiều so với các nước phát triển Do thu nhập chỉ ở mức năng suất
cận biên ở mức đủ sống, tỷ lệ tiết kiệm trên thu nhập (S/Y) rất thấp, dẫn
đến tỷ lệ tích luỹ vốn thấp Phương pháp sản xuất thủ công vẫn chiếm ưu
thế trong các ngành nông nghiệp và một số lĩnh vực dùng sức thủ công
Chủ yếu dựa vào nông nghiệp: Tỷ lệ dân số cao trong lĩnh vực sản
xuất nông nghiệp trong khi lĩnh vực thương mại và công nghiệp trong
nền kinh tế lại quá thấp Nền kinh tế nông nghiệp chậm tiến không cho
phép những nước này xuất khẩu được hàng hoá đã qua chế biến đến
khâu cuối cùng hoặc ít nhất là sản phẩm đã được qua chế biến, những
sản phẩm mà có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn là sản phẩm thô ban
đầu
1 Nafziger, E Wayne The Economics of Developing Countries Prentice Hall International Editions
Second Edition: 1990, trang 11-22
Mức giáo dục và sức khoẻ tương đối thấp: Nạn mù chữ vẫn tồn
tại, giáo dục chính thức rất hạn chế, chương trình đào tạo công nhân kỹ thuật cao thì vẫn nghèo nàn Nguồn lực đầu tư có hạn không cho phép đảm bảo chất lượng chăm sóc sức khoẻ Các bệnh dịch thì vẫn lan truyền, suy dinh dưỡng vẫn tồn tại, làm ảnh hưởng nghiêm trọng chất lượng làm việc của lực lượng lao động
Đặc trưng chung của các nước đang phát triển là thiếu nguồn lực
để phát triển Nếu không tập trung huy động được nguồn lực của bản thân và bên ngoài thì vòng luẩn quẩn của đói nghèo vẫn tiếp diễn
1.2.3.2 Các biện pháp để thúc đẩy các nguồn lực phát triển
Khi nghiên cứu những đặc trưng của các nước đang phát triển nêu trên và các tài liệu phát triển liên quan, chúng ta có thể nhận thấy một vài nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới quá trình phát triển mà chính sách đầu tư Nhà nước để điều chỉnh cơ cấu cần phải tính đến khi thiết lập các chiến lược dài hạn và chương trình hành động ngắn hạn
Sự phân tích chính xác vai trò chính sách đầu tư Nhà nước để điều chỉnh cơ cấu, hướng tới một chiến lược phát triển cụ thể đòi hỏi phải sử dụng các mô hình kinh tế lượng cụ thể dành riêng cho các nước đang phát triển Mô hình kinh tế lượng áp dụng cho các nước phát triển thường chẳng có ích gì Hơn nữa, do thiếu dữ liệu có hệ thống, các kết quả định lượng về tác động của các chính sách khác nhau không có tác dụng thực tiễn Vì thế, các nỗ lực sử dụng thực nghiệm thống kê để tìm
ra các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển kinh tế thường không đem lại kết quả có ý nghĩa Dưới đây chúng ta chỉ liệt kê các yếu tố cơ bản có vẻ ảnh hưởng tới tăng trưởng và phát triển kinh tế Những nhân tố này bao gồm:
Sự hình thành vốn: Tỷ lệ tiềm năng của việc hình thành vốn phụ
thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm trên thu nhập (S/Y) tại điểm toàn dụng nhân công, hỗ trợ nước ngoài và đầu tư Mức thực tế, hay mức đầu tư mong muốn không thể vượt quá mức tiềm năng, và là một hàm số phụ thuộc vào thu nhập hiện tại (present value) của khoản đầu tư thêm, rủi ro liên
Trang 25quan tới đầu tư, và khả năng huy động nguồn tiền mặt của người muốn
đầu tư Xem xét về tình hình kinh tế hiện tại ở các nước đang phát triển,
việc hình thành nguồn vốn căng thẳng hơn vấn đề ở các nước phát triển
nơi nguồn vốn khá dư thừa
Chính phủ có thể tiết kiệm từ các hoạt động thường xuyên để tăng
tỷ lệ vốn sử dụng cho đầu tư công cộng nhằm thúc đẩy mức hình thành
vốn Chính phủ có thể chi cho việc cải thiện cơ sở hạ tầng cũng như hệ
thống giao thông và thông tin có thể làm tăng tỷ lệ hoàn vốn biên và
khuyến khích các nhà đầu tư giữ được nhiều lợi nhuận để tái đầu tư
nhiều hơn là phân bổ nguồn thu nhập để tiêu dùng
Tỷ lệ gia tăng vốn sản lượng (ICOR): Đây là tỷ lệ một đơn vị vốn
tăng thêm cần thiết để sản xuất thêm một đơn vị đầu ra trong một khoảng
thời gian nhất định Trên thực tế tỷ lệ này được tính toán thô trên cơ sở
tổng nguồn vốn đầu tư vào thời điểm đầu năm và sự khác nhau giữa tổng
GDP của năm này so với năm trước Tỷ số ICOR càng thấp, thì lượng
đầu ra tăng thêm trên một đơn vị đầu tư tăng thêm càng cao và tốc độ
tăng sản lượng so với một mức đầu tư nhất định càng cao
Việc đầu tư vào nguồn lực con người của Chính phủ (khuyến
khích dịch vụ sức khoẻ, và dịch vụ giáo dục) và trang bị kỹ thuật cao để
nâng cao năng suất của nền kinh tế và vì thế làm giảm ICOR là nằm
ngoài khả năng của doanh nghiệp tư nhân Mặc dù phát triển cơ sở hạ
tầng thì có ít lợi nhuận trong ngắn hạn, nếu không muốn nói là không,
phát triển cơ sở hạ tầng là nhân tố chính để nâng cao hiệu quả trong dài
hạn
Tăng trưởng lực lượng lao động: tăng trưởng lực lượng lao động
được xác định bằng việc tăng cả chất lượng và số lượng của lực lượng
lao động Các nước đang phát triển đông dân coi trọng việc tăng chất
lượng hơn số lượng Việc tăng số lượng công nhân nghĩa là đầu ra cần
được phân chia thành nhiều phần hơn Thiếu sự chăm sóc sức khoẻ, dịch
vụ giáo dục, tăng mức bất bình đẳng, công tác xoá đói giảm nghèo
không hiệu quả làm suy thoái chất lượng của lực lượng lao động
Điều chỉnh cơ cấu nhằm phát triển nguồn nhân lực là yếu tố chính dẫn đến thành công của các nước phát triển bởi chỉ có lực lượng lao động mạnh thì có thể đối mặt với nền kinh tế thế giới cạnh tranh trong tương lai Sự không chú ý đến lĩnh vực này sẽ làm suy thoái lực lượng lao động và kết quả những nước này là không đủ trình độ để duy trì sự phát triển Việc chi tiêu của Chính phủ trong lĩnh vực sức khoẻ và giáo dục là hành động đúng đắn sẽ chứng tỏ tính chính xác trong tương lai, do
đó việc chi tiêu giáo dục và sức khoẻ cần được đưa vào trong chương trình đầu tư công cộng
Khả năng nhập khẩu: Các nước đang phát triển thường không thể
sản xuất những thiết bị sản xuất phức tạp và thường lệ thuộc vào các nguồn ngoại hối sẵn có Đáng tiếc là các nguồn ngoại hối này lại phụ thuộc vào việc xuất khẩu, vay nợ nước ngoài và nguồn tài trợ trong khi khuynh hướng nhập khẩu hàng tiêu dùng vẫn ở mức cao
Chính sách điều chỉnh cơ cấu có thể tăng cao khả năng nhập khẩu bằng nhiều con đường khác nhau Hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu bằng việc chi một khoản tiền nhất định của Chính phủ là một ví dụ Tiếp tục chính sách thay thế hàng nhập khẩu cũng là một biện pháp tốt để giảm nhập khẩu hàng tiêu dùng Củng cố cơ sở hạ tầng cũng sẽ giúp thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài hơn, để có thể giảm sự thiếu hụt cán cân thanh toán trực tiếp
Thay đổi công nghệ: Công nghệ đóng vai trò rất quan trọng trong
việc tăng năng suất, tiếp đến là ICOR Tỷ lệ thay đổi công nghệ phụ thuộc vào khả năng nghiên cứu, nhưng quan trọng hơn là có thể tăng khả năng nhập khẩu thiết bị công nghệ cao
Công nghệ là một loại hàng hoá công cộng Nếu công nghệ được phát triển bởi Chính phủ, nó sẽ không bị điều chỉnh bởi quyền sở hữu trí tuệ, và tất cả mọi người đều có thể sử dụng mà không làm giảm lợi ích của người khác (không có sự cạnh tranh-nonrivalry) và không ai bị loại trừ ra khỏi việc sử dụng công nghệ (không bị loại trừ-nonexcludable) Đối với trang thiết bị sản xuất phức tạp ngoài năng lực của khu vực tư
Trang 26nhân, Chính phủ có thể đầu tư cho chính họ, hoạt động trong một thời
gian và sau đó chuyển giao cho khu vực tư nhân Chính phủ có thể tiến
hành các chương trình khác nhau để hỗ trợ khu vực tư nhân củng cố
năng lực thực hiện các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) Các
nước đang phát triển tự mình có thể phát triển một vài loại công nghệ
của họ Ví dụ như, trong lĩnh vực nông nghiệp với tỷ lệ lớn dân số lớn
trong lĩnh vực này Chính phủ có thể giúp đỡ tăng nhiều vụ mùa và vật
nuôi mới qua các thí nghiệm về khí hậu của mình và điều kiện sinh thái
Môi trường: Bảo vệ môi trường bao gồm vẻ đẹp tự nhiên, sinh thái
học và nguồn tự nhiên thực sự quan trọng cho một sự phát triển bền
vững Nhiều nước thì thường bỏ qua không quan tâm đến vấn đề này họ
thường đánh giá thấp chi phí huỷ hoại môi trường coi nó không quá quan
trọng trong ngắn hạn, nhưng những nước không ý thức được điều này sẽ
phải trả một giá đắt trong tương lai
Tăng chi tiêu của Chính phủ trong việc bảo vệ môi trường đảm
bảo cho quá trình phát triển bền vững ở những nước này Sự khai thác
đúng đắn tài nguyên thiên nhiên, sử dụng kỹ thuật sản xuất lành mạnh,
hàng hoá sạch phù hợp với môi trường là điều mà Chính phủ cần theo
đuổi Việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên cần phải được kiểm soát
Những tài nguyên có thể phục hồi (như đất, rừng và nghề cá) cần được
khai thác cẩn thận để đảm bảo quá trình khôi phục lại Các tài nguyên
không thể tái tạo lại được (như mỏ than, lĩnh vực dầu, và các nguồn
khoáng sản khác) cần được khai thác ở mức độ vừa phải, các nước đang
phát triển thường xuất khẩu những tài nguyên có giá trị dưới dạng
nguyên liệu thô với giá rất thấp Phát triển trong tương lai sẽ cho phép họ
xuất khẩu những sản phẩm bán thành phẩm hoặc sản phẩm cuối cùng từ
những nguồn khoáng sản này
Giảm nghèo và thu hẹp khoảng cách mất công bằng: Việc phát
triển cần đảm bảo nâng cao chất lượng cuộc sống trong đại đa số dân số
Tất cả mọi người đều có quyền hưởng những thành quả của sự phát
triển Nhu cầu cơ bản (như nhà ở, giáo dục và y tế) cần phải được dành
cho người nghèo Việc cung cấp những dịch vụ này cho người nghèo có thể hướng một phần tiền đáng kể để sử dụng cho việc đầu tư khác Tuy nhiên với nội dung chính sách quốc tế hiện nay, thì đây là một hành động quan trọng của Chính phủ nhằm tới mục tiêu phát triển lành mạnh Giảm khoảng cách mất công bằng cũng là một mục tiêu quan trọng của cộng đồng quốc tế Hơn nữa, Chính phủ cũng cần chú ý hỗ trợ cho người nghèo bằng việc cung cấp nhà ở, giáo dục và y tế là việc đầu tư cho tương lai
Ổn định kinh tế vĩ mô: Việc ổn định các biến số kinh tế vĩ mô là
rất quan trọng cho các nước để giữ được tốc độ tăng trưởng, giảm chu kỳ khủng hoảng kinh tế và giữ vòng quay kinh doanh cho giai đoạn phát triển dài Ổn định kinh tế vĩ mô làm thuận tiện công việc của toàn bộ nền kinh tế Việc quản lý chi tiêu công đúng đắn sẽ giữ được sự ổn định kinh
tế vĩ mô và ngược lại sự ổn định kinh tế vĩ mô lại tạo điều kiện thành công cho công tác quản lý chi tiêu công
Các biện pháp thúc đẩy các nguồn lực phát triển là những căn cứ
để các nhà hoạch định chính sách cần quan tâm khi đưa ra các chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế
1.2.4 Điều chỉnh cơ cấu và trình tự hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế là sự tự do hoá ở mức độ cao, theo đó hàng hoá
và các yếu tố sản xuất có khả năng và được phép di chuyển một cách tự
do giữa các quốc gia Chính vì thế hội nhập kinh tế liên quan tới hầu hết các yếu tố đại diện cho khả năng cạnh tranh của một quốc gia Ví dụ, sự phát triển về cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện để thông thương hàng hoá giữa các quốc gia do hàng hoá có thể di chuyển một cách dễ dàng giữa các khu vực địa lý khác nhau Một lực lượng lao động linh hoạt và năng động cũng là cơ sở để di chuyển yếu tố sản xuất sức lao động có thể thực hiện được giữa các quốc gia Chính sách quản lý của Chính phủ cũng có vai trò đặc biệt trong việc thúc đẩy hoặc làm chậm lại quá trình hội nhập như là chính sách Nhà nước khuyến khích hoạt động hiệu quả của khu vực tư nhân có thể làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và
Trang 27hàng hoá sản xuất ra bởi doanh nghiệp đó và vì thế có thể xuất khẩu
được
Gibson và Tsakalotos (1994) đã nghiên cứu quá trình điều chỉnh
cơ cấu kinh tế để hội nhập quốc tế của các nước và chỉ ra rằng một quốc
gia phải điều chỉnh cơ cấu bốn khu vực với những trình tự khác nhau
Bốn khu vực đó là: Khu vực sản xuất vật chất trong nước, Khu vực sản
xuất vật chất đối ngoại, Khu vực tài chính trong nước và Khu vực tài
chính đối ngoại Mỗi khu vực này có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau
Các chính sách tác động lên một khu vực này sẽ dẫn tới những tác động
nhất định ở một khu vực khác Do đó cần thiết phải đưa ra một lịch trình
hợp lý để tiến hành điều chỉnh cơ cấu các khu vực một cách đồng bộ sao
cho việc hội nhập vào nền kinh tế thế giới sẽ có tác động tích cực để cải
thiện tình hình kinh tế của nước nghiên cứu và nâng cao sức cạnh tranh
quốc gia của quốc gia đó
Gibson và Tsakalotos cho rằng quá trình hội nhập kinh tế là một
quá trình phức tạp và phải được tiến hành theo những trình tự nhất định
Mặc dù chúng ta đều khẳng định rằng hội nhập thương mại và hội nhập
tài chính là cái đích cuối cùng phải đạt được Nhưng tốc độ hội nhập và
cách thức tiến hành hội nhập như thế nào thì lại còn rất nhiều tranh cãi
và phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia Qua nghiên cứu
kinh nghiệm của các nước thì một điều rõ ràng hai ông nhận thấy là tự
do hoá tài chính trong nước phải được tiến hành sau tự do hoá khu vực
sản xuất vật chất và trước tự do hoá tài chính đối ngoại Nghĩa là, Chính
phủ cần phải thi hành chính sách tư nhân hoá và tạo những tiền đề cần
thiết để các doanh nghiệp có thể hoạt động trong một môi trường cạnh
tranh lành mạnh và sân chơi bình đẳng Có như vậy các doanh nghiệp
trong nước mới có cơ hội để trưởng thành và cạnh tranh với các đối thủ
ngoại quốc Khi khu vực sản xuất vật chất trong nước đã đi vào hoạt
động thì cũng là lúc thị trường tài chính phải được hình thành và phát
triển đầy đủ cùng với những cải cách hệ thống ngân hàng để nâng cao
khả năng cạnh tranh của các định chế tài chính trung gian Thị trường tài
chính trong nước phải đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn
- Cổ phần hoá
- Xây dựng khu chế xuất, tham gia vào các khu vực mậu dịch tự do
- Xoá bỏ hàng rào mậu dịch nghĩa là cho phép hàng hoá và dịch vụ di chuyển tự do
Tài chính
- Cải cách hệ thống ngân hàng trong nước
- Tự do hóa lãi suất, bỏ quản lý hành chính, tự
do hóa thị trường tài chính trong nước
Cho phép nội tệ tự do chuyển đổi, xoá bỏ quản lý ngoại hối, nghĩa là cho phép vốn ngắn hạn di chuyển tự
do giữa các nước
Nguồn: Gibson và Tsakalotos (1994), tr 592
Vấn đề liệu một nước có nên tự do hoá thị trường tài chính trong nước trước khi tự do hoá khu vực sản xuất vật chất đối ngoại hay không thì không được khẳng định Một mặt, nếu một nước tự do hoá khu vực tài chính trong nước trước tự do hoá khu vực sản xuất đối ngoại, thì nguồn vốn huy động được sẽ dồn vào khu vực xuất khẩu được trợ cấp, hoặc sản xuất hàng thay thế nhập khẩu có lãi suất cao chủ yếu là nhờ hàng rào thuế quan và vì thế nguồn vốn không được đầu tư cho sản xuất
và nâng cao sức cạnh tranh của các hãng trong nước Như ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ giữa kim ngạch xuất nhập khẩu và GDP là khá cao, trong khi khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất trong nước còn rất thấp là một điều đáng lo ngại về tương lai phát triển lâu dài Mặt khác, nếu khu vực tài chính chỉ được tự do hoá sau khi tự do hoá thương mại được thực hiện thì có thể sẽ hạn chế việc huy động vốn cho khu vực
Trang 28sản xuất trong nước để cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài Đầu tư sẽ
thiếu vì hệ thống định chế tài chính trung gian hoạt động kém hiệu quả
Và cuối cùng tự do hoá tài chính đối ngoại phải được thực hiện
sau tự do hoá tài chính trong nước Nếu tự do hoá tài chính đối ngoại
được thực hiện trước trong khi lãi suất trong nước vẫn thấp hơn mức của
thế giới do quy định lãi suất trần của Chính phủ chẳng hạn, một lượng
vốn lớn sẽ di chuyển ra nước ngoài làm giảm đầu tư trong nước Hơn
nữa các ngân hàng trong nước sẽ rất khó cạnh tranh với các ngân hàng
nước ngoài do họ vẫn phải chịu sự điều tiết của các quy định trong nước
trong khi các ngân hàng nước ngoài thì không Vì thế một điều chắc
chắn là tự do hoá tài chính trong nước phải được thực hiện trước khi tự
do hoá tài chính đối ngoại và hội nhập quốc tế Tự do hoá tài chính trong
nước cùng với sự hình thành hoàn chỉnh các thị trường tài chính trong
nước sẽ là cơ sở tiền đề để các định chế tài chính trong nước nâng dần
khả năng cạnh tranh của họ lên để đến khi hội nhập tài chính quốc tế
được thực hiện họ có khả năng đứng vững
Trình tự hội nhập tài chính và thương mại quốc tế tuy được đề
xuất như trên, nhưng không nhất thiết phải xảy ra đúng hoàn toàn như
vậy, mà có thể đan xen với nhau Bước này có thể được thực hiện khi
bước trước đó chưa kết thúc Tất cả quá trình đó là một quá trình thống
nhất và cần được tiến hành một cách có kế hoạch tính tới hoàn cảnh của
từng quốc gia cụ thể Tất cả phấn đấu vì một mục tiêu cuối cùng là nâng
cao hiệu quả kinh tế của đất nước và đảm bảo được tăng trưởng kinh tế
nhanh chóng và bền vững cũng như nâng cao sức cạnh tranh quốc gia
của nước mình
Tính phức tạp của hệ thống chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế
tăng lên gấp bội trong quá trình hội nhập quốc tế Do các nguồn lực phát
triển trong quá trình hội nhập thay đổi cả qui mô và cơ cấu, đòi hỏi các
nhà hoạch định chính sách phải tính toán và chọn lựa các phương án tối
ưu khi điều chỉnh cơ cấu kinh tế Từng bước thực hiện quá trình tự do
hóa trong nước theo thể chế thị trường và tự do hóa khu vực đối ngoại
bao gồm cả thương mại và đầu tư sẽ giúp nền kinh tế từng bước hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu Điều chỉnh cơ cấu kinh tế để đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm và đầu tư, thu và chi của Chính phủ, xuất khẩu và nhập khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế ổn định trong dài hạn
1.2.5 Tầm quan trọng của điều chỉnh cân bằng cán cân thanh toán đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
1.2.5.1 Khái niệm cán cân thanh toán quốc tế
Cán cân thanh toán quốc tế (CCTTQT) là bảng đối chiếu giữa những khoản tiền mà nước ngoài trả cho một nước và những khoản tiền
mà nước đó trả cho nước ngoài trong một thời kỳ nhất định Để xác định khoản tiền của một nước trả cho một nước khác, luật pháp các nước thường căn cứ vào đặc điểm của các chủ thể tham gia vào hoạt động thanh toán quốc tế trên cơ sở xét xem các chủ thể đó thường xuyên cư trú ở đâu Theo cách này, có thể định nghĩa, cán cân thanh toán quốc tế
là bảng tổng hợp có hệ thống toàn bộ các chỉ tiêu về giao dịch kinh tế giữa Người cư trú và Người không cư trú trong một thời kỳ nhất định Giao dịch kinh tế được hiểu là toàn bộ các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ, thu nhập của người lao động, thu nhập về đầu tư chuyển giao vãng lai một chiều, chuyển giao vốn một chiều, chuyển vốn vào và ra khỏi một nước trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp, đầu tư vào giấy tờ có giá, vay và trả nợ nước ngoài, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài, các hình thức đầu tư khác và các giao dịch khác làm tăng hoặc giảm tài sản có hoặc tài sản nợ giữa Người cư trú với Người không cư trú
Người cư trú có thể là tổ chức hoặc cá nhân Các tổ chức bao gồm các pháp nhân trong nước hoặc nước ngoài tiến hoạt động, kinh doanh ở một nước, các cơ quan đại diện ngoại giao, văn phòng đại diện của các doanh nghiệp của một nước ở nước ngoài Các cá nhân bao gồm công dân của một nước, công dân của nước khác cư trú trên một khoảng thời gian xác định (thường là 12 tháng) ở nước sở tại Người không cứ trú
Trang 29cũng có thể là tổ chức hoặc cá nhân Các tổ chức bao gồm pháp nhân
trong nước hoặc nước ngoài tiến hoạt động, kinh doanh ở nước ngoài,
các cơ quan đại diện ngoại giao, văn phòng đại diện của các doanh
nghiệp của một nước khác Các cá nhân không cư trú bao gồm các công
dân nước ngoài không cư trú quá một thời gian nhất định (thường là 12
tháng) ở nước sở tại và các công dân của nước sở tại cư trú ở nước ngoài
trên một thời gian nhất định (thường là 12 tháng)
1.2.5.2 Kết cấu của cán cân thanh toán quốc tế
Kết cấu của cán cân thanh toán quốc tế thường bao gồm các cán
cân sau đây: i) Cán cân vãng lai; ii) Cán cân vốn và tài chính; iii) Cán
cân tổng thể; iv) Phần bù đắp chính thức Ngoài ra, để đảm bảo cán cân
thanh toán cân bằng, các sai sót thống kê trong thu thập và tổng hợp số
liệu được đưa vào hạng mục sai sót thống kê
Cán cân vãng lai được tổng hợp toàn bộ các chỉ tiêu về giao dịch
kinh tế giữa Người cư trú và Người không cư trú về hàng hóa, dịch vụ,
thu nhập của người lao động, thu nhập từ đầu tư trực tiếp, thu nhập từ
đầu tư vào giấy tờ có giá, lãi vay và lãi tiền gửi nước ngoài, chuyển giao
vãng lai một chiều và các giao dịch khác theo quy định của pháp luật
Cán cân vốn và tài chính được tổng hợp toàn bộ các chỉ tiêu về
giao dịch kinh tế giữa Người cư trú với Người không cư trú về chuyển
vốn từ nước ngoài vào Việt Nam và chuyển vốn từ Việt Nam ra nước
ngoài trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp, đầu tư vào giấy tờ có giá, vay và trả
nợ nước ngoài, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài, chuyển giao vốn một
chiều, các hình thức đầu tư khác và các giao dịch khác theo quy định của
pháp luật Việt Nam làm tăng hoặc giảm tài sản có hoặc tài sản nợ
Cán cân tổng thể là tổng hợp của cán cân vãng lai và cán cân vốn
và tài chính Cán cân tổng thể được sử dụng để xem xét xem cán cân
thanh toán của một nước cân bằng, thặng dư, hay thâm hụt
Phần bù đắp chính thức được tổng hợp trên cơ sở những thay đổi trong tài sản có ngoại tệ ròng, thay đổi về nợ quá hạn và các nguồn tài trợ khác
Nội dung kết cấu chi tiết của cán cân thanh toán của các nước khác nhau, có thể khác nhau đôi chút tùy thuộc vào qui định thống kê và tổng hợp số liệu của mỗi nước, nhưng nhìn chung, các nước đều thống nhất với nhau về các nội dung cơ bản
Việc ghi chép các khoản tiền trên cán cân thanh toán quốc tế được thực hiện trên cơ sở bút toán kép Với mỗi một giao dịch kinh tế làm phát sinh một dòng tiền chảy vào một nước thì được ghi có (tăng) và mỗi một giao dịch làm phát sinh một dòng tiền chảy ra khỏi một nước thì được ghi nợ (giảm) Tổng hợp cán cân thanh toán sau khi đã bao gồm cả các khoản bù đắp chính thức bao giờ cũng bằng không Vì vậy, khi nói cán cân thanh toán của một nước cân bằng, thặng dư, hay thâm hụt là chúng ta nói tới cán cân tổng thể
Cán cân thanh toán của một nước cân bằng, thặng dư, hay thâm hụt sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cung, cầu về ngoại hối trên thị trường và ảnh hưởng tới sự biến động của tỷ giá hối đoái Nếu một nước thi hành chính sách thả nổi tỷ giá hối đoái hoàn toàn, nghĩa là nhà nước hoàn toàn không can thiệp vào thị trường ngoại hối, tỷ giá hối đoái sẽ luôn luôn biến động để đảm bảo cán cân thanh toán luôn được duy trì ở vị trí cân bằng Vì vậy, cán cân vãng lai và cán cân vốn thường có dấu ngược chiều nhau Khi cán cân vãng lai thặng dư thì cán cân vốn thâm hụt Khi cán cân vốn thâm hụt, thì cán cân vãng lai thặng dư
1.2.5.3 Điều chỉnh cơ cấu theo mô hình tổng cầu của Keynes trong một nền kinh tế mở
Thương mại quốc tế, hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả sự di chuyển hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố sản xuất bao gồm lao động, vốn
và công nghệ qua biên giới của một quốc gia Với ý nghĩa như vậy, hoạt động thương mại quốc tế bao trùm hầu hết các luồng tiền di chuyển giữa
Trang 30các quốc gia cho mục đích thương mại và đầu tư, chỉ không bao gồm các
luồng tiền di chuyển một chiều (như kiều hối không phát sinh từ xuất
khẩu lao động)
Trong mô hình tổng cầu của Keynes cho một nền kinh tế mở, tổng
sản lượng của một nền kinh tế (GDP), Y, được xác định trên cơ sở lấy
tổng tiêu dùng trong nước, C, cộng với chi đầu tư, I, cộng chi tiêu của
Chính phủ, G, cộng xuất khẩu ròng, được đo bằng xuất khẩu, X, trừ đi
nhập khẩu, M, chúng ta có:
Y = C + I + G + X - M
Trong đó:
Tiêu dùng được xác định bằng khuynh hướng tiêu dùng nhân với
thu nhập khả dụng của khu vực tư nhân, được xác định trên cơ sở lấy
tổng thu nhập của khu vực tư nhân trừ đi thuế nộp cho Chính phủ với
thuế suất, t, C = cY(1-t)
Tiết kiệm của khu vực tư nhân được xác định bằng hiệu số giữa
thu nhập khả dụng và chi tiêu S=Y(1-t)-C;
Tiền thuế được xác định bằng tổng thu nhập nhân với thuế suất,
trên thực tế có thể được xác định bằng phần trăm thu ngân sách so với
GDP nhân với GDP, T=Yt Hiệu số giữa T và G là phần thâm hụt ngân
cả tiết kiệm của Chính phủ và tiết kiệm của tư nhân sẽ được đo bằng xuất khẩu ròng, là phần dự trự của một nước để tiêu dùng trong tương lai hoặc để thanh toán nợ trong quá khứ Thâm hụt giữa tiết kiệm và đầu tư,
và thâm hụt ngân sách Chính phủ sẽ buộc phải được bù đắp bằng nhập khẩu ròng từ nước ngoài, là khoản một nước chi dùng trước của cải do nước khác tạo ra Khoản này sẽ được thanh toán bằng số tiền tiết kiệm trong quá khứ hay sẽ phải sản xuất nhiều hơn để trả nợ trong tương lai
1.2.5.4 Mối liên hệ giữ mô hình tổng cầu của Keynes trong một nền kinh
tế mở và cán cân thanh toán quốc tế
Như chúng ta đã biết, cán cân thanh toán sau khi được bù đắp chính thức luôn luôn ở vị trí cân bằng:
CA + KA = BP = -OFB Trong đó, CA là cán cân vãng lai, KA là cán cân vốn, BP là cán cân thanh toán tổng thể, OFB là phần bù đắp chính thức Cán cân thanh toán tổng thể, BP, được xác định là tổng cán cân vãng lai, CA, cộng với cán cân vốn, KA Ở trạng thái cân bằng, nếu một nước thi hành chính sách tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn, nước đó sẽ không cần phải can thiệp vào thị trường ngoại hối thông qua việc mua vào và bán ra ngoại tệ
và vì vậy không làm thay đổi dự trữ ngoại hối chính thức của mình, chúng ta có:
CA + KA = BP = -OFB = 0 Giả sử cán cân vãng lai chủ yếu bao gồm xuất khẩu và dịch vụ hàng hóa và dịch vụ, công thức xác định BP có thể được biến đổi thảnh
Trang 31BP = NX + KA Khi BP > 0 chúng ta nói cán cân thanh toán thặng dư, số
ngoại tệ chảy vào một nước nhiều hơn số ngoại tệ chảy ra, làm cho cung
ngoại tệ tăng lên gây áp lực giảm giá ngoại tệ Khi BP < 0 chúng ta nói
cán cân thanh toán thâm hụt, số ngoại tệ chảy vào một nước ít hơn số
ngoại tệ chảy ra, làm cho cầu ngoại tệ tăng lên gây áp lực tăng giá ngoại
tệ BP = 0 là cán cân thanh toán cân bằng, tỷ giá ngoại tệ ổn định, không
cần có sự can thiệp của Chính phủ
Ở trạng thái cân bằng NX = - KA, thặng dư thương mại (trong mô
hình của Keynes) cân bằng với thặng dư tiết kiệm trong nước sẽ được sử
dụng để tài trợ cho các khoản đầu tư ra nước ngoài hoặc cho vay nợ làm
cho cán cân vốn biến đổi nghịch chiều Thâm hụt giữa tiết kiệm và đầu
tư trong nước và thâm hụt ngân sách Chính phủ sẽ phải được tài trợ bằng
luồng tiền từ nước ngoài chảy vào Xuất khẩu ròng là một hàm số phụ
thuộc vào tổng sản lượng GDP, NX = X – mY Khi thu nhập tăng thêm,
giả sử tỷ trọng tiêu dùng hàng nhập khẩu và hàng trong nước là không
đổi, nhu cầu nhập khẩu sẽ tăng lên tỷ lệ thuận với tốc độ tăng thu nhập
Thu nhập của một nước tăng lên, không làm thay đổi tiêu dùng của một
nước khác, nên xuất khẩu, X, không phụ thuộc vào GDP
Nếu một nước thi hành chính sách thả nổi tỷ giá hoàn toàn, khi BP
> 0, luồng tiền chảy vào một nước lớn hơn luồng tiền chảy ra gây áp lực
làm giảm giá ngoại tệ Ngoại tệ giảm giá sẽ làm cho hàng hóa nước
ngoài rẻ đi tương đối so với hàng hóa trong nước, sức mua của đồng nội
tệ tăng lên, vì vậy nhập khẩu tăng lên đồng thời đầu tư ra nước ngoài
tăng lên làm cho ngoại tệ đổi chiều chảy ra nước ngoài đưa BP trở về vị
trí cân bằng Ngược lại, khi BP < 0, luồng tiền chảy vào một nước nhỏ
hơn luồng tiền chảy ra gây áp lực làm tăng giá ngoại tệ Ngoại tệ tăng
giá sẽ làm cho hàng hóa trong nước rẻ đi tương đối so với hàng hóa nước
ngoài, sức mua của đồng ngoại tệ đối với hàng trong nước tăng lên, vì
vậy xuất khẩu tăng lên đồng thời đầu tư nước ngoài vào trong nước cũng
tăng lên làm cho ngoại tệ đổi chiều chảy vào trong nước đưa BP trở về vị
trí cân bằng
1.2.5.5 Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế
1.2.5.5.1 Mô hình Mundell-Fleming trong chế độ tỷ giá cố định Trong chế độ tỷ giá cố định, ngân hàng nhà nước sẽ can thiệp vào thị trường ngoại hối thông qua hoạt động của thị trường mở để mua toàn
bộ số ngoại tệ dư thừa trong trường hợp cán cân thanh toán thặng dư, và bán bớt một phần dự trữ ngoại hối trong trường hợp cán cân thanh toán thâm hụt Ngân hàng nhà nước cũng có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối thông qua công cụ lãi suất Ngân hàng sẽ tiến hành các chính sách tiền tệ để nâng lãi suất, thu hút ngoại tệ chảy vào trong trường hợp cán cân thanh toán thâm hụt và giảm lãi suất trong trường hợp cán cân thanh toán thặng dư
Giả sử nền kinh tế hiện tại đang nằm ở dưới mức sản lượng tiềm năng, và mục tiêu của Chính phủ là điều chỉnh cán cân thanh toán và đưa sản lượng về mức sản lượng tiềm năng Trong chế độ tỷ giá cố định, việc Chính phủ thi hành chính sách tài khóa sẽ đưa lại hiệu quả tối đa, và việc
áp dụng chính sách tiền tệ sẽ không hiệu quả
Hình 1.1 mô tả đồ thị cân bằng IS-LM trong một nền kinh tế mở
IS là tập hợp các điểm cân bằng của thị trường hàng hóa Một chính sách
mở rộng tài khóa sẽ làm đường IS dịch chuyển sang bên phải, và ngược lại một chính sách thu hẹp tài khóa sẽ làm đường IS dịch chuyển sang bên trái Chính phủ có thể tác động vào đường IS thông qua tăng thuế hoặc giảm chi tiêu Chính phủ để thu hẹp tài khóa Một cách khác, Chính phủ cũng có thể thi hành chính sách thương mại thông qua tăng thuế quan hoặc các hàng rào phi thuế quan để giảm nhập khẩu hoặc trợ cấp để thúc đẩy xuất khẩu nhằm thi hành chính sách mở rộng tài khóa LM là tập hợp các điểm cân bằng của thị trường tiền tệ Một chính sách mở rộng tiền tệ sẽ làm đường LM dịch chuyển sang bên phải, và ngược lại một chính sách thu hẹp tiền tệ sẽ làm đường LM dịch chuyển sang bên trái
Chính phủ có thể sử dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu,
Trang 32hoặc hoạt động của thị trường mở để làm tăng giảm lượng cung ứng tiền
tệ và vì vậy làm mở rộng hoặc thu hẹp lượng tiền lưu thông trên thị
trường Hoạt động mua ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước sẽ làm tăng
lượng nội tệ lưu thông trên thị trường và dịch chuyên đường LM sang
bên phải Hoạt động bán ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước sẽ làm giảm
lượng nội tệ lưu thông trên thị trường và dịch chuyên đường LM sang
bên trái
Hình 1.1 Mô hình Mundell-Fleming trong chế độ tỷ giá cố định
BP là tập hợp các điểm làm cho đường BP cân bằng ở vị trí BP =
NX + KA = 0 Tất cả các điểm ở trên đường BP là các điểm có lãi suất
cao hơn lãi suất cân bằng, vì vậy sẽ thu hút ngoại tệ chảy vào, và có
khuynh hướng làm cho BP thặng dư Tất cả các điểm ở dưới đường BP
là các điểm có lãi suất thấp hơn lãi suất cân bằng, vì vậy sẽ khuyến khích
ngoại tệ chảy ra, và có khuynh hướng làm cho BP thâm hụt
Giả sử nền kinh tế đang đạt cân bằng ở điểm E, có mức sản lượng
dưới mức tiềm năng, là điểm cân bằng của thị trường hàng hóa và thị
trường tiền tệ (BP = 0) Mục tiêu của Chính phủ là đưa nền kinh tế quay
trở lại điểm sản lượng tiềm năng H Chúng ta sẽ chứng minh, chính sách tiền tệ không hiệu quả, trong khi chính sách tài khóa đạt hiệu quả tối đa trong trường hợp một nước thi hành chính sách tỷ giá cố định
Giả sử Chính phủ tăng lượng cung ứng nội tệ làm đường LM dịch chuyển tới LM', tới điểm cân bằng mới tại F Do F nằm dưới đường BP, làm cho lãi suất r giảm xuống, ngoại tệ có xu hướng chảy ra nước ngoài
Để duy trì tỷ giá hối đoái cố định, Chính phủ phải bán bớt một lượng dự trữ ngoại hối và thu lại nội tệ làm giảm lượng cung ứng nội tệ và LM' dịch chuyển trở lại điểm cân bằng ban đầu, E Tại E, BP = 0 và nền kinh
tế đạt sản lượng cân bằng cho cả thị trường hàng hóa và thị trường tiền
tệ Chính sách tiền tệ không làm thay đổi sản lượng, và vì vậy không hiệu quả
Bây giờ chúng ta hãy giả định Chính phủ sử dụng chính sách tài khóa, ví dụ thi hành chính sách thuế quan và phi thuế quan để hạn chế nhập khẩu, nhằm làm tăng xuất khẩu ròng Giả sử Chính phủ có thể làm dịch chuyển đường IS tới IS', tới điểm cân bằng mới tại G Do G nằm trên đường BP, làm cho lãi suất r tăng lên, ngoại tệ có xu hướng chảy vào trong nước Để duy trì tỷ giá hối đoái cố định, Chính phủ phải mua bớt một lượng ngoại hối trong lưu thông và làm tăng nội tệ dẫn tới tăng lượng cung ứng nội tệ và LM dịch chuyển tới LM', tới điểm cân bằng mới, H Tại H, BP = 0 và nền kinh tế đạt sản lượng cân bằng cho cả thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ Chính sách tài khóa có hiệu quả tối
đa
1.2.5.5.2 Mô hình Mundell-Fleming trong chế độ tỷ giá thả nổi Trong chế độ tỷ giá thả nổi, ngân hàng nhà nước sẽ không can thiệp vào thị trường ngoại hối thông qua hoạt động của thị trường mở Cung cầu về ngoại hối trên thị trường sẽ điều chỉnh cán cân thanh toán ở
vị trí cân bằng
Trong chế độ tỷ giá thả nổi, chính sách tiền tệ sẽ có hiệu quả tối
đa, trong khi chính sách tài khóa không hiệu quả bằng chính sách tiền tệ
Trang 33Giả sử nền kinh tế đang đạt cân bằng ở điểm E, có mức sản lượng
dưới mức tiềm năng, là điểm cân bằng của thị trường hàng hóa và thị
trường tiền tệ (BP = 0) Mục tiêu của Chính phủ là cân bằng cán cân
thanh toán và đưa nền kinh tế quay trở lại điểm sản lượng tiềm năng YJ*
Chúng ta sẽ chứng minh, chính sách tiền tệ có hiệu quả tối đa, trong khi
chính sách tài khóa đạt hiệu quả kém hơn khi một nước thi hành chính
sách tỷ giá thả nổi
Hình 1.2 Mô hình Mundell-Fleming trong chế độ tỷ giá thả nổi
Giả sử Chính phủ tăng lượng cung ứng nội tệ làm đường LM dịch
chuyển tới LM', tới điểm cân bằng mới tại F Do F nằm dưới đường BP,
làm cho lãi suất r giảm xuống, ngoại tệ có xu hướng chảy ra nước ngoài,
gây áp lực làm lên giá ngoại tệ Ngoại tệ lên giá làm xuất khẩu ròng tăng
lên do xuất khẩu tăng lên và nhập khẩu giảm xuống, làm tăng thu ngoại
tệ Để cán cân thanh toán cân bằng, thì cần khuyến khích ngoại tệ chảy
ra nước ngoài bằng cách giảm lãi suất ứng với tất cả mức sản lượng cần
bằng và BP dịch chuyển sang trái tới BP' Nền kinh tế đạt được điểm cân
bằng mới tại J (BP' = 0) Chính sách tiền tệ đạt hiệu quả tối đa
Bây giờ chúng ta hãy giả định Chính phủ sử dụng chính sách tài khóa, ví dụ thi hành chính sách thuế quan và phi thuế quan để hạn chế nhập khẩu, nhằm làm tăng xuất khẩu ròng Giả sử Chính phủ có thể làm dịch chuyển đường IS tới IS', tới điểm cân bằng mới tại G Do G nằm trên đường BP, làm cho lãi suất r tăng lên, ngoại tệ có xu hướng chảy vào trong nước, gây áp lực mất giá ngoại tệ Ngoại tệ mất giá làm xuất khẩu ròng giảm xuống do xuất khẩu giảm và nhập khẩu tăng lên, làm tăng lượng ngoại tệ chảy ra Để cán cân thanh toán cân bằng, thì cần khuyến khích ngoại tệ chảy vào trong nước bằng cách tăng lãi suất ứng với tất cả mức sản lượng cần bằng và BP dịch chuyển sang phải tới BP'' Nền kinh tế đạt được điểm cân bằng mới tại K (BP'' = 0) Chính sách tài khóa không hiệu quả như chính sách tiền tệ
Frankel (1999) chỉ ra rằng Chính phủ các nước sẽ bị ràng buộc bởi
bộ ba mục tiêu chính sách không thể đồng thời đạt được "The Impossible Trinity": i) ổn định tỷ giá hối đoái: giá trị của nội tệ được giữ cố định với các ngoại tệ chủ yếu để các doanh nghiệp và các nhà đầu tư có thể yên tâm sản xuất, kinh doanh và đầu tư trong một khoảng thời gian nhất định; ii) hội nhập tài chính hoàn toàn: vốn được tự do di chuyển giữa các quốc gia; iii) độc lập về chính sách tiền tệ
Chính phủ chỉ có thể đạt được tối đa hai trong số ba mục tiêu chính sách trên và buộc phải hy sinh mục tiêu còn lại Nghĩa là nếu Chính phủ lựa chọn chế độ tỷ giá cố định và vẫn muốn có thể sử dụng chính sách tiền tệ một cách độc lập, Chính phủ buộc phải hạn chế tự do
di chuyển ngoại hối Nếu Chính phủ lựa chọn tự do di chuyển ngoại hối
và có thể sử dụng chính sách tiền tệ một cách độc lập, Chính phủ buộc phải chuyển sang chế độ tỷ giá thả nổi và để cho tỷ giá thay đổi theo cung cầu trên thị trường Thực thi chính sách tỷ giá cố định trong bối cảnh một nền kinh tế mở buộc Chính phủ phải hy sinh chính sách tiền tệ
Trang 341.2.6 Điều chỉnh cơ cấu sử dụng quản lý chi tiêu NSNN phục vụ cho
phát triển
Cơ sở lý thuyết về vai trò của quản lý chi tiêu NSNN đối với phát
triển được xây dựng trên cơ sở các lý thuyết về kinh tế học phúc lợi liên
quan tới vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế nhằm tối đa hoá phúc
lợi kinh tế xã hội Các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển ủng hộ cho
một thị trường phi điều tiết Các thất bại của thị trường, đặc biệt là đại
khủng hoảng kinh tế 1929-1933, đã dẫn tới sự ra đời của học thuyết
Keynes đề cao vai trò của Chính phủ trong những năm 1930 và 1960
Các thất bại của Chính phủ trong những năm 1970 và 1980 làm nảy sinh
lý thuyết về sự cân bằng giữa vai trò của Chính phủ và thị trường trong
lý thuyết chính sách quản lý chi tiêu NSNN hiện đại Trong thực tế, nhà
nước có thể can thiệp vào điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế thông qua việc
điều chỉnh cả chính sách thu (thuế, lệ phí, ) và chi NSNN
1.2.6.1 Trường phái cổ điển, tân cổ điển và lý thuyết về sự tự do hoá thị
trường
Quan điểm về một nền kinh tế tự do với sự điều tiết tối thiểu của
Chính phủ chiếm ưu thế nổi bật trong thế kỷ 18, đặc biệt là giữa các nhà
kinh tế học đại diện cho trường phái trọng thương (mercantilists) như các
nhà kinh tế học William Pety (1623-1687), Boisguilbeft (1646-1714),
Franscois Quesnay (1699-1774), Anne Robest Jacoues Targot
(1727-1781) Đỉnh cao của sự phát triển kinh tế học cổ điển là học thuyết kinh
tế của Adam Smith (1723-1790), người được coi là ông tổ của kinh tế
học hiện đại Trong tác phẩm nổi tiếng “Của cải của các dân tộc” (1776),
Adam Smith chỉ ra nguyên lý “bàn tay vô hình” của thị trường, theo đó
các cá nhân, theo đuổi lợi ích riêng của mình, sẽ cạnh tranh lẫn nhau, để
cung cấp các loại hàng hoá mà người khác có nhu cầu sử dụng Bàn tay
vô hình sẽ điều chỉnh nền kinh tế sản xuất ra các loại hàng hoá mong
muốn theo cách thức hiệu quả nhất (Stiglitz 2000) Do vậy theo ông Nhà
nước không nên can thiệp vào điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế và hoạt
động kinh tế do các qui luật khách quan chi phối, do quan hệ cung cầu và
sự biến đổi tự phát của giá cả hàng hoá trên thị trường quyết định Học thuyết của Adam Smith đã có ảnh hưởng sâu sắc tới chính sách của Chính phủ và các nhà kinh tế học trong thế kỷ 19 như các nhà kinh tế học người Anh John Stuart Mill và Nassau Senior Các nhà kinh
tế học này ủng hộ mạnh mẽ cho học thuyết tự do hoá thị trường (laissez faire), và chỉ công nhận vai trò can thiệp điều chỉnh cơ cấu tối thiểu của Chính phủ Chính phủ chỉ có vai trò bôi trơn cho các hoạt động thị trường, như thiết lập trật tự xã hội, thiết lập và củng cố quyền sở hữu tư sản, và bảo vệ các bên tham gia vào hoạt động của thị trường khỏi bị trộm cắp, lừa gạt, hay cưỡng chế thực hiện hợp đồng v.v
Như vậy, với học thuyết bàn tay vô hình, mọi hoạt động kinh tế đều do các qui luật tự phát khách quan chi phối cho nên quan hệ cung cầu và sự biến đổi tự phát của giá cả hàng hoá đều do thị trường quyết định Nhà nước chỉ là một công cụ cần thiết để duy trì trật tự xã hội, chống thù trong, giặc ngoài bảo vệ đất nước, không tác động vào nền kinh tế Trong thời kỳ này A Smith khẳng định: “Ngân sách tốt nhất là ngân sách cân bằng”
1.2.6.2 Lý thuyết về sự thất bại của thị trường và điều chỉnh cơ cấu trong học thuyết của Keynes
Thị trường thất bại là nền tảng cho sự ra đời của lý thuyết về một nền kinh tế thị trường có điều tiết của nhà nước John Maynard Keynes (1884-1945) đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong việc xây dựng một phương pháp tiếp cận mới là nền tảng cho sự xuất hiện của kinh tế học vĩ mô với vai trò tích cực của nhà nước nhằm điều chỉnh cơ cấu, xây dựng và thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô Các tư tưởng cơ bản của các học thuyết kinh tế của Keynes là phê phán chính sách kinh tế cổ điển
và tân cổ điển dựa trên các học thuyết “bàn tay vô hình”, bác bỏ “lý thuyết tự điều chỉnh” của nền kinh tế dựa trên cơ chế thị trường linh hoạt Qua đó chứng minh sự cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước
Trang 35vào quá trình kinh tế để khắc phục suy thoái, khủng hoảng, hạn chế thất
nghiệp và lạm phát, ổn định tăng trưởng kinh tế
Thông qua mô hình số nhân, Keynes cho rằng, trong thời kỳ
khủng hoảng, sản lượng giảm và thất nghiệp tràn lan, một sự gia tăng
tổng cầu thông qua tăng đầu tư của tư nhân hay Chính phủ sẽ làm tăng
sản lượng và việc làm theo cấp số nhân Từ đó, mỗi sự gia tăng của đầu
tư kéo theo sự gia tăng của cầu bổ sung công nhân và cầu về tư liệu sản
xuất Tăng việc làm sẽ tạo ra thu nhập bổ xung dẫn tới tăng cầu tiêu
dùng Tăng cầu tiêu dùng sẽ làm tăng giá cả hàng hoá, khuyến khích
cung, thúc đẩy sản xuất và tăng công ăn việc làm Điều này sẽ làm cho
thu nhập tăng lên Và nhờ đó tăng thu nhập sẽ là tiền đề của việc tăng
đầu tư mới Tác động của mô hình số nhân được thực hiện dưới hình
thức tác động dây chuyền đưa nền kinh tế quay trở lại trạng thái cân
bằng tổng thể, ở mức toàn dụng nhân công
Keynes cho rằng tác động tương tự của mô hình số nhân cũng xảy
ra trong trường hợp kinh tế suy thoái Kinh tế suy thoái, thất nghiệp gia
tăng làm giảm thu nhập, do đó làm giảm chi tiêu, và tổng cầu bị suy
giảm theo cấp số nhân, dẫn đến giảm giá cả hàng hoá, chủ doanh nghiệp
thu hẹp sản xuất, sa thải công nhân, và lại làm tình hình nghiêm trọng
hơn, và nền kinh tế cứ thế bị xoay vòng trong cái vòng luẩn quẩn
Keynes kết luận, trong thời kỳ khủng hoảng, nhà nước phải chịu trách
nhiệm tạo ra cú huých đầu tiên để kéo nền kinh tế ra khỏi cái vòng luẩn
quẩn đó Thị trường thất bại, "bàn tay vô hình" bất lực và cần phải có
bàn tay can thiệp của Nhà nước vào quá trình kinh tế để tăng cầu có hiệu
quả, kích thích tiêu dùng, sản xuất và đầu tư để đảm bảo việc làm và
tăng thu nhập Do vậy Nhà nước phải duy trì cầu đầu tư bằng các chính
sách tài khóa để kích thích đầu tư
Trọng tâm của lý thuyết của Keynes nhằm sử dụng NSNN như
một công cụ quan trọng nhằm điều chỉnh cơ cấu, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, tập trung vào việc khuyến khích đầu tư thông qua tiết kiệm và
tốc độ tạo vốn cho nền kinh tế (capital formation) Lý thuyết này đã là
nền tảng cho các nhà hoạch định đề xuất chính sách cho các nước đang phát triển trong mấy thập kỷ qua Họ cho rằng ở các nước đang phát triển, nếu chỉ trông chờ vào khu vực tư nhân, thì nền kinh tế sẽ không huy động đủ tiết kiệm, và vì thế không đầu tư đủ cho tăng trưởng Trong khi ở các nước phát triển, họ khuyến khích tiêu dùng, thì ở các nước đang phát triển, họ khuyến khích tiết kiệm Một trong những lý do để cho rằng các nước đang phát triển tiết kiệm không đủ cho đầu tư là thu nhập ở các nước đang phát triển quá thấp để khu vực tư nhân có thể giảm chi tiêu hơn nữa
Vì thế trong một thời gian dài, các nhà kinh tế học thuộc trường phái Keynes đã yêu cầu các nước kém phát triển tăng tiết kiệm từ ngân sách thông qua tăng gánh nặng thuế và hạn chế chi tiêu thường xuyên Bên cạnh đó, họ cũng khuyến khích Chính phủ các nước đang phát triển tăng đầu tư công cộng tài trợ bởi nợ nước ngoài Những chính sách này,
là những chính sách được sử dụng phổ biến trong các thập kỷ 60, 70 và
80 ở các nước đang phát triển
Tuy nhiên các đề xuất chính sách này cũng bộc lộ nhiều nhược điểm nghiêm trọng Chúng xem xét mối quan hệ giữa các biến số kinh tế
vĩ mô một cách quá chung chung, đơn giản, và ngờ nghệch về mặt chính trị, bỏ qua các yếu tố cơ bản của một chính sách tài khoá như phân bổ hiệu quả, phân phối công bằng và ổn định lâu dài, mà tập trung vào mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn Thứ nhất, khi đề xuất tăng thuế, các chính sách này đã không chỉ ra được tăng bao nhiêu và để mặc cho các chính trị gia quyết định Bên cạnh đó, các bóp méo và tác động không khuyến khích sản xuất của các chính sách thuế không được tính tới, đôi khi làm bóp méo cơ cấu công nghiệp, và xuất nhập khẩu, và có hại cho tăng trưởng lâu dài Hơn nữa, việc yêu cầu tăng thuế ở các nước đang phát triển, trong khi không tính tới mức độ phức tạp do trình độ quản lý hành chính hạn chế ở những nước này, có thể dẫn đến việc các nước này thay
vì việc thu những khoản thuế hiệu quả có lợi cho tăng trưởng, sẽ tìm cách thu những khoản thuế kém hiệu quả có hại cho tăng trưởng Thứ hai, việc quá chú ý tới số lượng mà không chú ý tới chất lượng, có thể
Trang 36làm cho việc tăng mức tạo vốn (capital formation) không có ý nghĩa
bằng việc tăng hiệu quả sử dụng vốn Thứ ba, Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF)
và Ngân hàng Thế giới (WB) cũng như các nhà tài trợ quốc tế khác cho
rằng mục tiêu chính của chính sách tài khoá phải là ổn định các chỉ tiêu
kinh tế vĩ mô, chứ không phải thúc đẩy kinh tế phát triển quá nhanh
1.2.6.3 Lý thuyết về điều chỉnh cơ cấu sử dụng chính sách quản lý chi
tiêu NSNN của Musgrave 1
Nếu như các học thuyết của Keynes ra đời là nền tảng cho chính
sách quản lý chi tiêu NSNN của Chính phủ nhằm ổn định kinh tế và thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế ngắn hạn, khắc phục các thất bại của thị trường
nhằm duy trì nền kinh tế ổn định ở mức "toàn dụng nhân công", thì
Musgrave đóng một vai trò quan trọng trong việc mở rộng vai trò của
Chính phủ và chính sách quản lý chi tiêu NSNN qua khỏi mục tiêu bó
hẹp này Musgrave được coi là một trong những nhà kinh tế học lão
thành nhất đại diện cho phương pháp tiếp cận của Keynes, phương pháp
tiếp cận được sử dụng phổ biến nhất ở châu Âu trong những năm 1930
và sau thời kỳ hậu Thế chiến II Mặc dù lý thuyết của Keynes về một
Chính phủ năng động không còn được ủng hộ ở các nước phát triển
trong những năm 1970-1980, nó vẫn tiếp tục được sử dụng rộng rãi ở các
nước đang phát triển và các nước chuyển đổi
Trong tác phẩm cổ điển về tài chính công "Tài chính công- Lý
thuyết và Chính sách" (1976), Musgrave đã liên hệ giữa lý thuyết về sự
điều tiết của Chính phủ và lý thuyết về sự thất bại của thị trường, và còn
đi ra ngoài phạm vi những lý thuyết này để làm cơ sở lập luận cho chính
sách tài khoá của Chính phủ Musgrave mặc nhiên cho rằng ngoài ảnh
hưởng của thất bại thị trường, Chính phủ còn chịu tác động của những tư
tưởng chính trị và xã hội trong việc đề ra chính sách
1 Richard Musgrave là một trong những nhà kinh tế học về tài chính công vĩ đại nhất của thế kỷ hai
mươi, người mở rộng vai trò của Chính phủ trong việc sử dụng chính sách tài khoá để đảm bảo các
mục tiêu ổn định, phân phối bình đẳng, và phân bổ nguồn lực hiệu quả
Vì thế ngoài lý do thất bại thị trường làm cho nền kinh tế không đạt được hiệu quả Pareto, Musgrave cho rằng: i) Trước hết, Chính phủ cần phải có những công cụ chính sách để thực hiện sứ mệnh tăng cường bình đẳng về cơ hội làm việc, phát triển cũng như thu nhập Ví dụ, Chính phủ mong muốn tạo cơ hội cho những nhóm người vì một lý do lịch sử nào đó đã không nhận được ưu tiên đầy đủ về cơ hội cũng như phúc lợi trong quá khứ; ii) Thứ hai, cơ chế thị trường, tự bản thân nó, không đủ sức để đạt được sản lượng tiềm năng và lạm phát thấp Các cú sốc kinh
tế và các sự kiện bất thường có thể đòi hỏi Chính phủ phải can thiệp để duy trì ổn định kinh tế
Trên cơ sở phân tích đó, Musgrave đề xuất ba chức năng của quản
lý chi tiêu NSNN:
• Chức năng phân bổ nguồn lực: cung cấp hàng hoá công cộng (public
goods) và hàng hoá hữu ích (merit goods) và khắc phục các thất bại của thị trường thông qua việc sử dụng các công cụ thuế và chi tiêu của Chính phủ
• Chức năng phân phối: điều chỉnh phân phối thu nhập và tài sản phù
hợp với nguyện vọng của quần chúng về hợp lý và công bằng
• Chức năng ổn định: sử dụng các công cụ chi tiêu để duy trì mức việc
làm cao, ổn định giá cả hợp lý, và ổn định cán cân thanh toán
1.2.6.4 Điều chỉnh cơ cấu và quản lý chi tiêu NSNN theo học thuyết của Mác
Các lý thuyết thuộc trường phái chính thống (mainstream) trên đây hầu hết đều lấy hiệu quả Pareto làm trung tâm, để từ đó đề ra các công cụ chính sách quản lý chi tiêu NSNN để bổ xung cho cơ chế thị trường nhằm thúc đẩy thị trường đạt tới hiệu quả Pareto Tuy nhiên có một học thuyết đi ra khỏi quĩ đạo chính thống này, đó là học thuyết của Mác
Trang 37Trên thực tế, Mác chưa bao giờ thực sự xây dựng một lý thuyết về
điều chỉnh cơ cấu và chính sách quản lý chi tiêu NSNN hoàn chỉnh Tuy
nhiên, nhà nước và vai trò của nhà nước trong xã hội tư bản là trung tâm
của các học thuyết phê phán của Mác đối với các học thuyết kinh tế học
chính thống Khác với các lý thuyết chính thống đề ra chỉ có mối quan hệ
giữa người sản xuất và người tiêu thụ trong nền kinh tế thị trường, Mác
chỉ ra mối quan hệ quyền lực giữa tư bản và người lao động, và nhà nước
tư bản là công cụ để thể hiện quyền lực đó Quan hệ giữa tư bản và
người lao động được mô tả là quan hệ đối kháng và nhà nước một lần
nữa lại là công cụ để kiểm soát và điều chỉnh đối kháng phục vụ quyền
lợi của các nhà tư bản Từ đó Mác chỉ ra tính quy luật tất yếu của sự vận
động xã hội tới một hình thái sản xuất mới công bằng hơn, bình đẳng
hơn, và không cần tới sự tồn tại của nhà nước
Các quan điểm của Karl Marx ủng hộ cho một phương thức sản
xuất được xác lập trên cơ sở “qui luật phát triển có kế hoạch”, cơ chế kế
hoạch hoá tập trung, cơ chế mệnh lệnh Và đây chính là một thái cực
tương phản với một nền kinh tế tự do hoàn toàn theo kiểu Adam Smith,
một nền kinh tế mệnh lệnh, nền kinh tế trong đó Chính phủ ra mọi quyết
định từ sản xuất tới lưu thông, phân phối và tiêu dùng Cơ quan kế hoạch
hoá của Chính phủ quyết định sẽ sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, và
sản xuất cho ai Sau đó kế hoạch điều chỉnh cơ cấu và những hướng dẫn
cụ thể sẽ được phổ biến tới các gia đình, các hãng và công nhân
1.2.6.5 Điều chỉnh cơ cấu và chính sách tài khoá theo lý thuyết kinh tế
học hiện đại
Trong các phân tích trên đây, chúng ta đã nghiên cứu các lý thuyết
về điều chỉnh cơ cấu và quản lý chi tiêu NSNN thông qua việc phân tích
vai trò của Chính phủ từ các góc nhìn khác nhau Chúng ta đã đi từ mô
hình kinh tế tự do hoàn toàn của Adam Smith, tới một nền kinh tế có
điều tiết với sự can thiệp tăng dần của nhà nước theo các lý thuyết của
Keynes và Musgrave, cho tới một thái cực khác là một nền kinh tế mệnh
lệnh, theo đó nhà nước can thiệp vào mọi quyết định sản xuất và tiêu
dùng Trong phần này, chúng ta sẽ đề xuất một mô hình kinh tế tối ưu theo đó sự can thiệp giữa vai trò của nhà nước và thị trường giữ ở mức cân đối theo hướng đem lại hiệu quả phúc lợi kinh tế lớn nhất cho toàn
bộ xã hội
Trong khi các lý thuyết về thất bại của thị trường đã dẫn tới việc hình thành các chương trình chi tiêu lớn của Chính phủ nhằm điều chỉnh
cơ cấu trong khuôn khổ chính sách tài khoá trong những năm 1930 và
1960, trong thập kỷ 1970 và 1980 những nhược điểm của các chương trình chi tiêu của Chính phủ bắt đầu xuất hiện, buộc các nhà kinh tế và chính trị học phải nghiên cứu tìm hiểu các thất bại của Chính phủ Vậy là thị trường rất hay thất bại, nhưng Chính phủ cũng không mấy thành công trong việc khắc phục các thất bại của thị trường Một số nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự thất bại của Chính phủ đó là: thông tin hạn chế, khả năng kiểm soát hạn chế đối với khu vực tư nhân, quan liêu, hạn chế của quá trình hiệp thương chính trị dẫn đến việc chậm trễ trong ban hành và thực thi chính sách (Stiglitz 2000)
Một nền kinh tế hỗn hợp với vai trò cân đối của nhà nước và thị trường là mô hình tối ưu Với mô hình kinh tế "thị trường xác định giá cả
và sản lượng, Chính phủ điều tiết thị trường bằng các chương trình thuế, chi tiêu và luật lệ" Cả 2 yếu tố: thị trường và Chính phủ đều có tính quyết định Điều hành nền kinh tế mà không có cả Chính phủ lẫn thị trường cũng như định vỗ tay bằng một bàn tay Kinh tế thị trường nâng cao hiệu quả sản xuất và phân phối hàng hoá nhưng cũng có những khuyết tật của nó, cần phải có bàn tay của Chính phủ để đảm bảo hiệu quả, công bằng và ổn định
Chính sách điều chỉnh cơ cấu và quản lý chi tiêu NSNN của Nhà nước phải làm sao vừa có nguồn thu cho Nhà nước để đảm bảo các hoạt động điều hành của xã hội, vừa phải khuyến khích để cho sản xuất phát triển, và đảm bảo công bằng cho toàn xã hội Chính sách chi NSNN được sử dụng như một công cụ nhằm phát huy sức mạnh của nền kinh tế thị trường, đồng thời khắc phục những khuyết tật của thị trường bằng
Trang 38việc đầu tư phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội Như đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, đầu tư vốn cho ngành nghề, lĩnh vực
kinh tế then chốt, đầu tư để phân bố lại sản xuất, thực hiện các chính
sách xã hội đảm bảo công bằng, giải quyết việc làm
Với mô hình này thì điều chỉnh cơ cấu và chính sách quản lý chi
tiêu NSNN trở thành một công cụ quan trọng và được Nhà nước sử dụng
như một công cụ điều chỉnh một các khoa học và linh hoạt Chính sách
điều chỉnh cơ cấu và quản lý chi tiêu NSNN được dựa trên học thuyết
Keynes nhưng được hoàn chỉnh hợp lý hơn, kết hợp hài hoà giữa “bàn
tay vô hình” của thị trường và “bàn tay hữu hình” của Nhà nước Thu
ngân sách với thuế suất bao nhiêu để vừa đảm bảo công bằng vừa đạt
được tỷ lệ động viên cao nhất, chi ngân sách ở mức độ hợp lý để chống
lại những khuyết tật của thị trường, phát huy thế mạnh của thị trường
Quan điểm về cân đối thu chi ngân sách được đặt trong thể động và linh
hoạt hơn
Các mô hình phát triển kinh tế và điều chỉnh cơ cấu nêu trên có ý
nghĩa cả lý luận và thực tiễn đối với Việt Nam trong quá trình hoạch
định chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế hiện nay
1.3 Kinh nghiệm điều chỉnh cơ cấu kinh tế của một số nước Đông Á
và Đông Nam Á
Trong lịch sử kinh tế học phát triển của các nước đang phát triển
điều chỉnh cơ cấu hay còn gọi là cải cách cơ cấu không phải là phạm trù
mới mẻ Trong suốt hai thập kỷ 1980 và 1990, 68 chương trình cải cách
cơ cấu đã được thực hiện trong nhiều năm ở 36 nền kinh tế có thu nhập
thấp trên thế giới trong đó có 22 nước châu Phi, 4 nước chưa chuyển đổi
ở Nam Á, 4 nước ở Tây bán cầu và 6 nền kinh tế chuyển đổi (gồm
Campuchia và 5 nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu) Sau khủng hoảng
tài chính 1997-1998 ở các nước Đông và Đông Nam Á, điều chỉnh cơ
cấu kinh tế đã được thực hiện nhằm mục đích khắc phục những nhược
điểm trong quản lý kinh tế vĩ mô và vi mô, tập trung vào ổn định kinh tế
vĩ mô và chuyển hóa các nền kinh tế khu vực theo hướng hoạt động hiệu
quả hơn, có sức cạnh tranh tốt hơn với các đối thủ cạnh tranh tiềm năng, tao điều kiện để các nước vừa trải qua khủng hoảng có khả năng đối phó lại các thách thức thời kỳ hậu khủng hoảng và xây dựng một thể chế kinh
tế đảm bảo giám sát khủng hoảng tài chính và thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững trong hiện tại và tương lai
Công nghiệp hóa nói chung và công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của các nước Đông và Đông Nam Á nói riêng đòi hỏi một quá trình đầu tư lớn cần phải có một nguồn tài chính lớn để tài trợ cho các hoạt động đầu tư Các nguồn tài chính phục vụ cho quá trình đầu tư thường có nguồn gốc từ ba nguồn chính: 1) nguồn tiết kiệm trong nước; 2) nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài; 3) nguồn đầu tư gián tiếp (đầu tư theo danh mục đầu tư) được thể hiện dưới dạng cổ phiếu, trái phiếu và các khoản vay ngân hàng Mặc dù tỷ lệ tiết kiệm trong nước của nhóm các quốc gia Đông và Đông Nam Á ở vào hạng cao trên thế giới (trung bình từ 25% đến 30% GDP trong những năm 1980-1990), nhưng vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu đầu tư tăng nhanh từ nửa sau những năm 1980 Thị trường tài chính vì vậy ngày càng trở nên đóng vai trò quan trọng trong việc huy động nguồn vốn tài trợ cho quá trình công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu ở các nước Đông và Đông Nam Á
So với thị trường hàng hóa và dịch vụ phi tài chính thị trường tài chính có những đặc điểm riêng đặc trưng Thứ nhất, chi phí giao dịch trên thị trường tài chính thường rất thấp và tốc độ lưu chuyển tài chính rất cao; 2) niềm tin thị trường, kỳ vọng của nhà đầu tư, hiệu ứng đám đông và thông tin đồn đại trên thị trường có ảnh hưởng lớn tới biến động của thị trường; 3) thông tin bất cân xứng, đặc biệt là giữa người vay và cho vay cản trở hoạt động bình thường và quá trình phát triển của thị trường; 4) sự lựa chọn bất lợi và hiểm họa đạo đức là những nhân tố gây khó khăn cho hoạt động của thị trường; và 5) trung gian tài chính đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển thị trường Trung gian tài chính là nơi nắm giữ phần lớn phương tiện kinh doanh và do vậy, các trung gian này có sức mạnh gần như tuyệt đối Với những đặc trưng riêng biệt như thế, khả năng và hoạt động của các tổ chức tài chính trung
Trang 39gian này sẽ có ảnh hưởng quyết định đến động thái chung của nền kinh
tế Kinh nghiệm cho thấy đối với một quốc gia đang phát triển, sự sụp đổ
kinh tế là kết quả qua lại giữa khủng hoảng tài chính với khủng hoảng
tiền tệ Sự sụp đổ kinh tế của nhiều nước trong khu vực cũng đã cho thấy
ở đây có quá nhiều vấn đề nghiêm trọng thuộc về cơ cấu Khi chính sách
điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ cũng như khung pháp lý cho kinh
tế thị trường còn tồn tại quá nhiều bất cập thì các tổ chức tài chính khó
có thể duy trì hoạt động lành mạnh theo hướng tự bảo vệ uy tín lâu dài
của họ và của họ và coi trọng sự ổn định kinh tế vĩ mô của quốc gia
Những rắc rối của các nước Đông và Đông Nam Á bắt đầu chính từ ở
đây
Khác với chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế đề cập tới điều chỉnh
tổng cung sản xuất tập trung vào ba bộ phận chính của nền kinh tế là:
công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, điều chỉnh cơ cấu kinh tế không
phải chỉ là tập hợp các giải pháp điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế mà là
một cuộc cải cách kinh tế toàn diện tác động đến tất cả các cân đối lớn
của nền kinh tế, bao gồm các cân đối kinh tế vĩ mô liên quan tới tổng cầu
đầu tư trong nước và tiêu dùng trong toàn xã hội, nhằm tạo ra một cấu
trúc kinh tế mới trong đó tập trung vào hoạt động huy động, phân bổ và
sử dụng các nguồn lực vốn khan hiếm vào những khu vực hiệu quả nhất
nhằm nâng cao hiệu suất kinh tế, nâng cao năng suất sử dụng vốn và
hướng tới mục tiêu chất lượng tăng trưởng để đảm bảo phát triển bền
vững
Mục tiêu của quá trình điều chỉnh kinh tế vĩ mô tại các nước Đông
và Đông Nam Á là nhằm ổn định hóa nền kinh tế và thúc đẩy tăng
trưởng Với ý nghĩa đó, chương trình điều chỉnh cơ cấu tập trung điều
chỉnh những mất cân đối kinh tế vĩ mô quan trọng bao gồm: hạ thấp mức
thâm hụt ngân sách kinh niên, kiềm chế lạm phát ở mức thấp, kiểm soát
tiền tệ để tránh tình trạng gia tăng tín dụng với tốc độ cao, và đảm bảo
cân bằng trong cán cân thanh toán quốc tế Chương trình điều chỉnh cơ
cấu kinh tế này đòi hỏi nỗ lực lớn và đồng bộ các công cụ chính sách
kinh tế tổng thể gồm chính sách tài khóa, tiền tệ và chính sách tỷ giá hối
đoái tập trung vào các biện pháp tăng thuế, tăng lãi xuất, giảm trợ cấp, hạ thấp tốc độ tăng lương, và phá giá tiền tệ
Cũng cần phải lưu ý rằng, kế hoạch khắc phục mất cân đối kinh tế
vĩ mô khắc khổ này cần được thực hiện trên cơ sở đồng thuận giữa bên vay tín dụng là các nước trải qua khủng hoảng kinh tế như Hàn Quốc và Thái Lan và bên cấp tín dụng là IMF, một thể chế tài chính quốc tế có vai trò quan trọng trong quá trình điều chỉnh cơ cấu ở các nước đang phát triển gặp khó khăn do khủng hoảng kinh tế tạo ra bởi các mất cân đối kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế Đối với khu vực Đông và Đông Nam
Á, chương trình điều chỉnh cơ cấu không chỉ bắt nguồn từ những vấn đề tương tự như nhiều trường hợp buộc phải cải cách kinh tế điều chỉnh cân đối vĩ mô trước đây mà còn bắt nguồn từ những vấn đề cấp bách ở từng nước trong quá trình tăng trưởng nóng trước đây ở khu vực Đông và Đông Nam Á
Trước hết, sức ép điều chỉnh ngay những vấn đề tồn tại và yếu kém trong quản lý vĩ mô đã bộc lộ ngay từ trước khi diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính 1997-1998, bao gồm:
- Khắc phục sớm tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai kinh niên
ở mức độ cao đã dẫn đến ngưỡng gây bất lợi cho tăng trưởng kinh tế, thâm hụt tài khoản vãng lai đồng nghĩa với việc tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ do nước ngoài sản xuất nhiều hơn khối lượng hàng hóa sản xuất trong nước Thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai kéo dài sẽ dẫn tới tích
tụ nợ nước ngoài quá cao so với khả năng thanh toán của nền kinh tế và tất cả các công ty sản xuất và kinh doanh trong nền kinh tế
- Thực hiện điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo cơ chế thị trường Cần phải để thị trường thực hiện vai trò điều chỉnh tỷ giá hối đoái dựa trên quan hệ cung cầu giữa các đồng tiền, chấm dứt nỗ lực ổn định tỷ giá đồng bản tệ với đồng đôla Mỹ (hay nói cách khác là cố định tỷ giá đồng tiền bản địa với đồng đôla Mỹ) Trước thời kỳ khủng hoảng kinh tế ở các nước Đông và Đông Nam Á, chính sách tỷ giá của một số nước trong khu vực là tương đối bảo thủ, trì trệ Nhóm nước này có quan hệ thương
Trang 40mại chặt chẽ với Nhật Bản, khi đồng yên sụt giá so với đồng đôla Mỹ, vô
hình chung, các đồng nội tệ trong vùng đáng lẽ cũng giảm giá tương
ứng Song vì nỗ lực ổn định đồng bản tệ so với đồng đôla Mỹ, nên tỷ giá
hối đoái đã đứng ở mức cao, không phản ánh đúng giá trị thực tế của nó;
kéo theo đó là việc làm giảm sút sức cạnh tranh của các sản phẩm xuất
khẩu từ nhiều nước thuộc nhóm Các công ty Nhật Bản đã thâu tóm thị
trường xuất khẩu của Hàn Quốc, hàng hóa của Trung Quốc tấn công thị
trường của Thái Lan Vấn đề lớn nhất đối với những nước lâm vào
khủng hoảng là họ đã duy trì chính sách kiểm soát tỷ giá trong khi cho
phép tự do hóa lãi xuất trong nước, tự do hóa tài khoản vốn nhằm hỗ trợ
cho chính sách tự do hóa tài chính, thương mại và đầu tư Kết quả là
những nỗ lực tự do hóa không đồng bộ đã khiến cho dòng vốn đầu tư đi
chệch mục tiêu, hiệu quả sử dụng vốn thấp, dễ bị các lực lượng đầu cơ
tiền tệ quốc tế tấn công, các nền kinh tế này cuối cùng đã phải gánh chịu
hậu quả là cuộc khủng hoảng tài chính
- Chính phủ các nước Đông và Đông Nam Á chưa có đủ cơ chế
giám sát, quá trình phát hiện sai phạm chậm, không xử lý thích đáng các
vi phạm nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh doanh (như vay ngắn
hạn để đầu tư vào những công trình bất động sản dài hạn, hoặc đầu tư
vào những hạng mục có nhiều rủi ro, hoặc các quyết định cho vay vốn
đầu tư dựa trên cơ sở thân hữu, vụ lợi hơn là trên cơ sở hứa hẹn khả năng
thu hồi vốn, v.v ) Thực tiễn diễn ra ở các nước Đông và Đông Nam Á
cho thấy khi hệ thống sản xuất khép kín và chịu sự thao túng của một
nhóm tư bản thân hữu thì nguy cơ xâm phạm các nguyên tắc và quy luật
vận hành kinh tế thị trường trở thành hiện hữu; lợi ích cộng đồng có thể
sẵn sang bị bỏ qua vì lợi ích riêng của một nhóm người có thế lực tài
chính và thế lực chính trị Tiến trình thị trường hóa các nền kinh tế và
xây dựng thể chế trong khu vực này đã không được tiến hành song song
với quá trình dân chủ hóa xã hội và vì vậy tiến trình này không được
nhân dân giám sát đầy đủ Một tiến trình như vậy thường sẽ khuyến
khích tham nhũng phát triển Vì vậy, điều chỉnh cơ cấu chính là đòi hỏi
cấp bách để khắc phục những biểu hiện sẵn có của cái gọi là “chủ nghĩa
tư bản thân hữu”
Thứ hai, cần phải tăng cường khả năng cạnh tranh của công ty, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Cuộc khủng hoảng cho thấy mô hình quản trị doanh nghiệp theo kiểu các thành viên gia đình kiểm soát ở khu vực Đông và Đông Nam Á (đặc biệt là Hàn Quốc và Inđônêxia) bôc
lộ nhiều nhược điểm Cả bên có dự án đầu tư lẫn bên cấp vốn vay đều trong cùng một tập đoàn, trong cùng gia đình, cho nên, các quyết định cho vay chủ yếu dựa trên tín chấp hơn là thế chấp theo luật định cũng như việc phân tích chất lượng tín dụng một cách cẩn thận đã bị bỏ qua
Mô hình quản lý doanh nghiệp kiểu này thường là dựa nhiều vào vốn vay hơn là dựa vào vốn huy động thông qua thị trường chứng khoán – nơi chịu áp lực giám sát chặt chẽ của các cổ đông và nhờ đó, những sai phạm trong kinh doanh có thể được khắc phục sớm Vô hình trung, dòng vốn bị định hướng sai địa chỉ, hiệu quả sử dụng vốn thấp, khả năng cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ bị xói mòn; điều đáng buồn là chỉ khi nền kinh tế có xu hướng đình trệ thì người ta mới nhận ra các khoản đầu tư tiền bạc đã không mang lại kết quả mong đợi, và mọi sự đã quá muộn để
mà sửa chữa Điều chỉnh cơ cấu kinh tế, trong đó cải cách công ty, chính
là trọng tâm hành động nhằm lấy lại sức mạnh cho các doanh nghiệp Thứ ba, nhu cầu bức thiết phải thay đổi căn bản phương cách tiếp cận, chuyển từ phản ứng chính sách riêng lẻ sang tổng thể các giải pháp phát triển trong môi trường kinh tế mở và tính quốc tế hóa ngày càng cao Những nhược điểm cơ cấu bộc lộ trong khủng hoảng đã cho thấy các chính sách tự do hóa thương mại, đầu tư, tài chính không đạt được sự hài hòa tương thích, nới lỏng những hạn chế đối với tài khoản vốn nước ngoài trong khi chưa sẵn sàng giảm bớt điều tiết trong nước, thị trường vốn trong nước chưa đủ độ lớn mạnh thì đã vội vã thúc đẩy thu hút vốn nước ngoài thông qua kênh đầu tư gián tiếp, hoặc khuyến khích vay nước ngoài hơn là thu hút dòng đầu tư trực tiếp, do vậy, vô số khoản vay ngắn hạn đã bị sử dụng vào mục tiêu đầu tư dài hạn và làm tăng thêm sức ép đối với khả năng thanh khoản của các thể chế tài chính Điều này