1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIÊU CHỈNH CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WT

56 315 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 15,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nhiệm vụ nghiên cứu Đ ể đạt được mục đích trên, Luận vãn có nhiệm vụ trình bày và phân tích những qui định, nguyên tắc của WTO liên quan đến CSTM theo nghĩa rộng qua các Hiệp định chủ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G

Trang 2

Tôi xin cam đoan Luận văn này hoàn toàn là công trình nghiên cứu độc lập

của cá nhân tôi M ọ i tài liệu sử dụng cho việc thực hiện Luận văn đều được liệt kê

đẩy đủ trong Danh mục tài liệu tham khảo M ọ i ý kiến đánh giá không phải của cá

1.2 Những nội dung cơ bản trong Chính sách thương mại của WTO 9

1.2.1 Chính sách thương mại hàng hoa 10 1.2.2 Chính sách thương mại dịch vụ 22

Ì 2.3 Chính sách thương mại liên quan đến Quyền sỏ hữu trí tuệ 26

C H Ư Ơ N G 2 -THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH T H Ư Ơ N G MẠI CỦA VIỆT NAM 32

2.1 Đánh giá thực trạng Chính sách thương mại hàng hoa của Việt Nam 32 2.1.1 Những kết quả trong điều chỉnh Chính sách thương mại hàng hoa 32

2.2 Đánh giá thực trạng Chính sách thương mại dịch vụ của Việt Nam 50 2.2.1 Những kết quả trong điều chỉnh chính sách thương mại dịch vụ 50

2.3 Đánh giá thực trạng Chính sách thương mại liên quan đến Quyên sở 59

hữu trí tuệ của Việt Nam

2.3.1 Những kết quả trong điều chỉnh Chính sách thương mại liên 59

quan đến Quyền sở hữu trí tuệ

Trang 3

C H Ư Ơ N G 3 - P H Ư Ơ N G HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH

T H Ư Ơ N G MẠI CỦA VIỆT NAM SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

3.1 Việt Nam gia nhập WTO và phương hướng điều chỉnh Chính sách

thương mại

3.1.1 Tình hình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam

3.1.2 Phương hướng tiếp tục điều chỉnh Chính sách thương mại của

Việt Nam

3.2 Kinh nghiệm điều chỉnh Chính sách thương mại của Trung Quốc

3.3 Các giải pháp cụ thể điêu chỉnh Chính sách thương mại của Việt Nam

sau khi Việt Nam gia nhập WTO

3.3.1 Các giải pháp tiếp tục điều chình Chính sách thương mại

hàng hoa

3.3.2 Các giải pháp tiếp tục điều chỉnh Chính sách thương mại dịch vụ

3.3.3 Các giải pháp tiếp tục điều chỉnh Chính sách thương mại liên

quan đến Quyền sà hữu trí tuệ

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tên gọi

Chính sách thương mại Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền

sở hữu trí tuệ Hiệp định về các biện pháp Kiểm dịch động - thực vật Hiệp định hàng rào Kỹ thuật trong Thương mại Hiệp định vé Thương mại hàng Dệt và May mặc Hiệp định về thực thi điều V I của Hiệp định chung về Thuế quan

và Thương mại 1994

Hiệp định về thực hiện điểu vu của Hiệp định chung về Thuế

quan và Thương mại 1994 Hiệp định về Trợ cấp và Các biện pháp đối kháng Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung Quy chế Tối huệ quốc

Quy chế Đ ố i xớ Quốc gia Quyền sở hữu trí tuệ

Tổ chức Thương mại Thế giới

Chữ viết tắt CSTM

GATT

GATS TRIPS SPS TBT ATC ADP ACV SCM CEPT MFN

NT QSHTT WTO

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trở thành thành viên của WTO chắc chắn sẽ đem lại nhiều cơ hội cho Việt

Nam với các ưu đãi dành cho các nước thành viên nhưng chắc chắn cũng đem đến

những thách thức lớn Hơn thế nữa, Việt Nam mói là một nước đang phát triển ở

trình độ thấp và mới thực sự làm quen với kinh tế thị trường kể từ năm 1986 trở lại

đây Hệ thống CSTM tuy đã có nhiều cậi cách đáng kể từ khi mở cửa nền kinh tế

nhưng vẫn còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn kinh tế quốc tế hiện nay và

chắc chắn sẽ tiếp tục phậi điều chỉnh sau khi Việt Nam gia nhập WTO Trong khi

đó, những quy định của WTO đối với các nước thành viên là rất khắt khe, đòi hỏi

phậi có một hệ thống CSTM minh bạch, ổn định nhằm tạo điều kiện để Việt Nam

thực hiện tốt các cam kết quốc tế của mình và phát triển kinh tế đất nước

Trong thời gian qua, để chuẩn bị cho việc gia nhập WTO, Việt Nam đã điều

chỉnh nhiều chính sách của minh, đạc biệt là CSTM nhằm từng bước thích ứng với

các yêu cầu của WTO Tuy nhiên, vì lý do khách quan cũng như chủ quan, việc điều

chỉnh CSTM của Việt Nam trong thòi gian qua vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của

WTO, đặc biệt là các CSTM trong lĩnh vực dịch vụ và QSHTT Chuyến thăm chính

thức Hoa Kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khậi vào ngày 21/6/2005 đã mở ra triển vọng

tích cực cho việc gia nhập của Việt Nam vào WTO dự kiến là vào cuối năm 2005

này Gia nhập WTO và trở thành thành viên chính thức của WTO sẽ đạt ra cho

Chính phủ Việt Nam một trong những nhiệm vụ có tính chất bức xúc Đ ó là vẫn phậi

tiếp tục khẩn trương hơn nữa, hiệu quậ hơn nữa trong việc điều chỉnh CSTM của

Việt Nam Vấn đề là cần điểu chỉnh CSTM của Việt Nam theo hướng nào ? Điều

này đòi hỏi phậi có sựnghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống hơn Đ ó là lý do để

vấn đề điều chỉnh CSTM sau khi Việt Nam gia nhập WTO được lựa chọn làm đề tài

cho Luận văn Thạc sỹ kinh tế này

2 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về WTO và những vấn đề đặt ra

đối với Việt Nam như: Luận án Tiến sỹ "Điều chỉnh và hoàn thiện chính sách

thương mại hàng hoa của Việt Nam để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới

mo" của tác giậ Bùi Thị Lý - Đại học Ngoại Thương; Luận văn Thạc sỹ "Nghiên

cứu xu hướng tự do hoa thương mại dịch vụ trong WTO và những vấn đề đặt ra với Việt Nam " của tác giả Trịnh Mai Hương - Đại học Ngoại Thương; Luận vãn Thạc sỹ

"Tiếp tục hoàn thiện pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ đáp ứng nhu cầu Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế" của tác giả Đ ỗ Việt Dũng - Đ ạ i học Ngoại

Thương w

Tuy nhiên, những luận án hay luận văn thạc sỹ nói trên chỉ phân tích việc điều chỉnh CSTM ở góc độ hẹp hoặc chỉ phân tích CSTM Việt Nam trước khi gia nhập WTO

Đây là luận văn thạc sỹ kinh tế đứu tiên đề cập một cách toàn diện và đứy đủ

về phương hướng, giải pháp điều chỉnh CSTM của Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập WTO trên cả ba lĩnh vực lớn là thương mại hàng hoa, thương mại dịch vụ và thương mại liên quan đến QSHTT Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu nói trên

là những tài liệu tham khảo rất bổ ích để tác giả hoàn thiện bản luận văn thạc sỹ này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nắm vững những quy định, nguyên tắc của WTO liên quan đến CSTM và đánh giá thực trạng về những điều chỉnh đã thực hiện cũng như những bất cập trong CSTM của Việt Nam trước những yêu cứu của WTO, Luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp tiếp tục điều chỉnh CSTM sau khi Việt Nam đã gia nhập WTO để có thể chủ động tận dụng thời cơ và đủ sức đối đứu vói thách thức trong thương mại quốc tế nhằm thực hiện tốt các cam kết của mình sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO

- Nhiệm vụ nghiên cứu

Đ ể đạt được mục đích trên, Luận vãn có nhiệm vụ trình bày và phân tích những qui định, nguyên tắc của WTO liên quan đến CSTM theo nghĩa rộng qua các Hiệp định chủ yếu như Hiệp định GATT 1994, Hiệp định GATS, Hiệp định TRIPS; phân tích thực trạng CSTM hiện nay của Việt Nam về thương mại hàng hoa, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến QSHTT chủ yếu qua nghiên cứu hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực; nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc điều chỉnh CSTM sau khi nước này đã gia nhập WTO để từ đó rút ra bài học cho Việt Nam; đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản điều chỉnh CSTM của

Trang 5

Việt Nam trên ba lĩnh vực: thương mại hàng hoa, thương mại dịch vụ và thương mại

liên quan đến QSHTT

4 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu

- Đ ố i tượng nghiên cứu của Luận văn là CSTM của WTO cũng nhu CSTM

của Việt Nam Đ ố i tượng nghiên cứu của Luận văn còn bao gồm cả các quy định

liên quan đến CSTM của Việt Nam trong hệ thống văn bản pháp lý hiện hành

- CSTM là vấn đề rất rộng, vì vậy trong phạm vi của một luận văn thạc sỹ,

phạm vi nghiên cứu của Luận văn này chỉ giểi hạn ở việc phân tích CSTM hàng hoa,

CSTM dịch vụ, CSTM liên quan đến QSHTT Khi phân tích CSTM ở 3 lĩnh vực này,

Luận vãn cũng không đi sâu phân tích các mặt hàng hay lĩnh vực cụ thể m à chỉ lấy

một số mặt hàng hay lĩnh vực làm ví dụ để làm rõ vấn đề cần phân tích Những khía

cạnh liên quan đến đẩu tư không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, m à

nếu có thì chỉ trong trường hợp nó được lồng ghép vểi CSTM nói chung

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa M á c Lê nin về duy vật

biện chứng và duy vật lịch sử Các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát

triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay cũng như về hội nhập kinh tế quốc tế cũng là

phương pháp luận của Luận văn Ngoài ra, các phương pháp nghiên cứu tổng hợp

truyền thống cũng được áp dụng như diễn dịch, quy nạp, so sánh, thống kê phân tích

dẫn đến tổng hợp khái quát

6 Kết cấu của Luận văn

Ngoài lòi nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của Luận vãn gồm

3 chương:

Chương 1: Những nội dung cơ bản trong chính sách thương mại của WTO

Chương 2: Thực trạng chính sách thương mại của Việt Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp điều chỉnh chính sách thương mại

của Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập WTO

Chương Ì NHỮNG NỘI DUNG cơ BẢN TRONG CHÍNH SÁCH T H Ư Ơ N G MẠI CỦA WTO 1.1 WTO VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC cơ BẢN TRONG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦAVVTO

1.1.1 Vài nét về sự ra đời và chức năng hoạt động của WTO

1.1.1.1 Sự ra đời của WTO

WTO ra đời trên cơ sở kế thừa và phát triển từ Hiệp định chung về thuế quan

và thương mại (GATT) Bởi vậy tìm hiểu sự ra đời của WTO cũng bắt đầu từ sự ra đời và hoạt động của GATT và vì sao WTO đã ra đời chứ không phải GATT tiếp tục tổn tại

Do thương mại thế giới sa sút nghiêm trọng sau chiến tranh thế giới thứ n do

các chính sách bảo hộ thái quá, các nước có ý tưởng thành lập một tổ chức thứ ba phụ trách lĩnh vực thương mại và hợp tác kinh tế quốc tế là ITO Tuy nhiên việc thành lập ITO thất bại do không được một số nước phê chuẩn Vì vậy, điều khoản về CSTM trong Hiến chương La Havana đã được trích dẫn sáp nhập với các thoa thuận song phương về nhân nhượng thuế quan để hình thành một Hiệp định độc lập là GATT có hiệu lực từ 1948 và 23 quốc gia tham gia ký kết đó đã trở thành những thành viên sáng lập ra GATT GATT được coi là thể chế thương mại đa biên đầu tiên trong lịch sử thế giới gổm những quy định cơ bản về quản lý và duy trì trật tự thương mại quốc tế Hiệp định này đã xây dựng nền tảng cho việc điều tiết những mối quan hệ kinh tế thương mại thế giới và thúc đẩy tự do hoa thương mại

Với bản chất chỉ là một Hiệp định, trên thực tế GATT đã hoạt động như một

tổ chức tạm thời điều tiết toàn bộ hệ thống thương mại thế giới và đã có những tác động tích cực đối với việc đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và thương mại thế giới Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hoa nền kinh tế thế giới được đẩy nhanh, những đề tài mới vốn không thuộc diện điều tiết của GATT đã xuất hiện và ngày càng phức tạp Những lý do trên khiến cho các bên tham gia GATT nhận thấy sự cần thiết phải thành lập một tổ chức có cơ cấu chặt chẽ, vói đầy đủ quyền lực và công cụ điều tiết

để có thể đáp ứng những yêu cầu của một thời kỳ phát triển mới Vòng đàm phán

Trang 6

Uruguay (1986-1994) đã diễn ra trong một thời gian dài nhất trong lịch sử các vòng

đàm phán, đề cập hầu như toàn bộ các vấn đề về CSTM còn bỏ ngỏ đến thời điểm

bấy giờ Cuối cùng 123 nước đã ngã ngũ được nhiều vấn đề trong thương mại thế

giới và đặc biệt, đã cùng nhau ký tại Marrakesh (Marốc) Hiệp định thành lập Tự

chức Thương mại Thế giới Từ ngày 1/1/1995, WTO chính thức đi vào hoạt động

WTO ra đời là sự kế thừa của GATT nhưng nó khác GATT nhiều điểm về

mặt "chất" GATT không phải là một tự chức hoàn chỉnh mặc dù sự điều hành và vai

trò của GATT trong lịch sử làm người ta có cảm giác GATT giống như một tự chức

Còn WTO là một tự chức thực sự với cơ cấu chặt chẽ, có trụ sở chính, có tư cách

pháp nhân và có cơ quan giải quyết tranh chấp riêng Các nước tham gia GATT chỉ

được gọi là các bên ký kết (contracting parties) còn các nước tham gia WTO là

những nước thành viên (member) với những ràng buộc chặt chẽ hơn về quyền lợi,

nghĩa vụ và trách nhiệm Đồng thòi, phạm vi điều chỉnh của WTO rộng hơn nhiều

so vói GATT Do tính chất lịch sử, GATT chỉ điều chỉnh thương mại hàng hoa hữu

hình, còn WTO điều chỉnh cả thương mại hàng hoa, thương mại dịch vụ, thương mại

liên quan đến đầu tư, thương mại liên quan đến QSHTT Hơn nữa, quy trình và thủ

tục giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng chặt chẽ, giúp cho việc này được

thực hiện một cách nhanh hơn so vói hệ thống cũ của GATT [69]

Mặc dù WTO đã ra đời nhưng GATT vẫn hiện hữu là văn bản pháp lý quan

trọng mang tính công cụ của WTO để WTO có thể điều tiết một cách tựng thè hệ

thống thương mại thế giới Chỉ có điều GATT không còn là văn bản pháp lý duy

nhất nữa m à nó đã được chỉnh sửa, bự sung thêm nhiều văn bản pháp lý khác để đáp

ứng phạm vi ngày càng mở rộng của thương mại thế giới Chính vì vậy, CSTM của

WTO không chỉ bó hẹp trong GATT năm 1947 m à nó còn được qui định trong hệ

thống 13 Hiệp định đa biên và 3 Hiệp định nhiều bên trong đó đặc biệt là các CSTM

hàm chứa trong các hiệp định GATT 1994, GATS và TRIPS

1.1.1.2 Chức năng hoạt động của WTO

Một cách tựng quát, WTO có 6 chức năng hoạt động sau đây:

Quản lý việc thực hiện các Hiệp định thương mại của WTO

Tạo khuôn khự thể chế cho các vòng đàm phán thương mại

Giải quyết tranh chấp về thương mại giữa các nước thành viên

Giám sát CSTM của các nước thành viên

Hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo cho các nước đang phát triển Hợp tác với các tổ chức quốc tế khác [76]

Các CSTM của WTO được xây dựng để thực hiện 6 chức năng nói trên của WTO 6 chức năng này lại được triển khai dựa trôn 5 nguyên tắc cơ bản

1.1.2 Các nguyên tắc cơ bản trong chính sách thương mại của WTO

Các Hiệp định của WTO thưộng rất dài và phức tạp vì đó là những văn bản pháp lý quy định rất nhiều lĩnh vực hoạt động cũng như phạm v i điều tiết rất rộng mang tính toàn cầu song chúng vẫn có những nguyên tắc cơ bản làm k i m chỉ nam cho tất cả các CSTM trong mọi hoạt động của WTO và trở thành nền tảng của Hệ thống thương mại có tính toàn cáu Những nguyên tắc đó là:

1.1.2.1 Thương mại không phân biệt đối xử

Theo quy định của WTO, không một nước thành viên nào được có sự phân biệt đối xử giữa các đối tác của mình cũng như không được phân biệt đối xử giữa hàng hoa, dịch vụ, ngưội nước mình với hàng hoa, dịch vụ, ngưội nước ngoài Đ ể thực hiện nguyên tắc này, WTO đưa ra hai qui chế là qui chế Tối huệ quốc và qui chế Đãi ngộ quốc gia

Quy chế tối huệ quốc (MFN) là qui chế trọng tâm của nguyên tắc thương mại

không phân biệt đối xử của WTO theo đó, các nước thành viên không được có sự phân biệt đối xử giữa các đối tác khác nhau nếu họ cùng là thành viên của WTO Tuy nhiên, WTO cũng quy định những ngoại lệ của qui chế này bao gồm các CSTM về: mậu dịch biên giới; các thoa thuận ưu đãi khu vực; các thoa thuận thương mại tự do một chiều [69] Ngoài ra, một số nước có thể có quyền tạo cơ hội đặc biệt

để hàng hoa của các nước đang phát triển dề dàng tiếp cận thị trưộng nước mình Tương tự một nước cũng có thể tăng hàng rào (như tự vệ trong thương mại) đối với sản phẩm của nước m à họ cho rằng có sử dụng những biện pháp thương mại không bình đẳng (bán phá giá, trợ cấp xuất khẩu ) [Ì 14]

Quy chế Đãi ngộ Quốc gia (NT) còn gọi là đối xử quốc gia có thể hiểu một

cách vắn tắt là WTO yêu cầu các nước phải có sự đối xử bình đẳng giữa sản phẩm nội địa và sản phẩm nước ngoài nhập khẩu vào nước mình Qui chế Đãi ngộ Quốc gia chỉ được áp dụng khi một sản phẩm hàng hoa, dịch vụ hay một yếu tố sở hữu trí

Trang 7

tuệ đã gia nhập thị trường Do việc, việc đánh thuế nhập khẩu không vi phạm vào

nguyên tắc này ngay cả khi không có một loại thuế tương đương đươc nào đánh vào

sản phẩm nội địa

Tuy nhiên Qui chế NT trong WTO cũng có những ngoại lệ: không áp dụng

NT đối vói việc mua sắm của chính phủ; N T không ngăn cản việc trợ cấp đặc biệt

cho người sản xuất nội địa gằm cả khoản trợ cấp trích từ thuế thu nhập trong nước

và trợ cấp cho người sản xuất sản phẩm trong nước nhằm đáp ứng cho việc mua sắm

của chính phủ Thuế quan và các biện pháp mậu dịch biên giới khác cũng nằm ngoài

phạm vi điều chỉnh của NT

1.1.2.2 Tự do hoa thương mại từng bước và bằng con đường đàm phán

Thương mại thế giới chỉ có thể tăng trưởng nhờ việc dỡ bỏ các rào cản làm

cản trở tự do thương mại Điều không phải bàn cãi là tự do thương mại luôn mang

lại lợi ích cho các nước và vì vậy, sự điều tiết hệ thống thương mại thế giới của

WTO luôn dựa trên nguyên tắc thúc đẩy tự do hoa thương mại

Một trong những biện pháp nhằm khuyến khích thương mại là giảm bót các rào cản

thương mại như hàng rào thuế quan và các biện pháp phi thuế quan như hạn ngạch

nhập khẩu, cấm nhập khẩu hay hạn chế định lượng nhập khẩu Những vấn đề khác

như thủ tục hành chính rườm rà hay các chính sách hối đoái cũng được đưa ra xem

xét để tạo điều kiện cho thương mại quốc tế ngày càng thông thoáng Các cam kết

ràng buộc các nước thành viên về việc dỡ bỏ các rào cản nhằm thúc đẩy tự do

thương mại chỉ có được thông qua con đường đàm phán từng bước Vì vậy, tự do

hoa thương mại từng bước và bằng con đường đàm phán là một trong những nguyên

tắc quan trọng của WTO

Từ khi GATT ra đời năm 1948 đã diễn ra tám vòng đàm phán thương mại

Thời kỳ đầu, các vòng đàm phán xoay quanh vấn đề cắt giảm thuế áp dụng đối với

hàng hoa nhập khẩu Đến thập niên 1980, phạm vi đàm phán đã được mở rộng bao

trùm cả những vấn đề liên quan đến hàng rào bảo hộ phi thuế quan và các lĩnh vực

mói như thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ WTO ra đời kể từ 1/1/1995 đến nay

đã được hơn 10 năm M ư ờ i năm qua, WTO đã tổ chức được 5 kỳ họp của Hội đằng

Bộ trưởng WTO; các vấn đề liên quan đến CSTM trong lĩnh vực thương mại hàng

hoa, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến QSHTT vẫn đang được tiếp tục

đặt ra Bên cạnh đó, nhiều vấn đề về môi trường, vấn đề về chính sách cạnh tranh, vấn đề về phát triển bền vững cũng đang được đưa vào chương trình nghị sự của WTO Tuy nhiên, các cuộc đàm phán vẫn chưa đến hồi kết thúc

1.1.2.3 Dễ dự đoán nhờ ràng buộc cam kết cùng chính sách minh bạch

Đ ể tăng cường tính minh bạch, ổn định của trật tự thương mại thế giới, WTO

đã áp dỉng nhiều biện pháp m à một trong số đó là chỉ cho phép các nước thành viên bảo hộ sản xuất trong nước thông qua thuế quan, m à không ủng hộ các hàng rào phi thuế quan và các biện pháp hành chính Đây chính là nguyên tắc coi thuế quan là biện pháp bảo hộ duy nhất Rõ ràng thông qua thuế quan người ta có thể lượng hoa được mức độ bảo hộ của một mặt hàng hay nhóm hàng nào đó nhưng vẫn đảm bảo cho mặt hàng, ngành hàng này có cơ hội được cạnh tranh trên thị trường nước nhập khẩu và khiến cho những tín hiệu thị trường ít bị méo m ó hơn Các biện pháp quản

lý bằng hạn ngạch và hạn chế định lượng có thể làm gia tăng nạn quan liêu và nảy sinh tình trạng lạm dỉng các biên pháp phi thương mại không lành mạnh, bóp méo

cơ cấu cạnh ữanh thật sự của thị trường Nhiều Hiệp định của WTO yêu cầu chính phủ các quốc gia thành viên phải công bố trên phạm v i toàn quốc hoặc thông báo cho WTO những giải pháp và biện pháp đã được thông qua

Ngoài ra, việc thường xuyên giám sát CSTM của từng nước thành viên thông qua cơ chế rà soát chính sách thương mại (TPRM: Trade Policy Revievv Mechanism) cũng là một biện pháp để WTO tăng cường tính minh bạch về chính sách và hoạt động thương mại của các quốc gia thành viên

1.1.2.4 Thúc dẩy cạnh tranh bình đẳng

Thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng là một trong những nguyên tắc của WTO Việc đảm bảo cạnh tranh bình đẳng được thực hiện thòng qua những quy định liên quan đến nguyên tắc không phân biệt đối xử (quy chế M F N và NT) và những quy định về việc chống bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu Đ ố i với những vấn đề phức tạp này, các quy định của WTO giúp xác định trường hợp nào là bình đẳng và trường hợp nào là bất bình đẳng, cũng như là các biện pháp trả đũa m à một nước thành viên

có thể sử dỉng bằng cách thu thuế nhập khẩu phỉ thu để có thể bù đắp những tồn thất do các biện pháp thương mại không lành mạnh gây ra

1.1.2.5 Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế

Trang 8

Đây là nguyên tắc hướng về các nước đang phát triển Các nước đang phát

triển và các nước trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế chiếm hơn 2/3 số nước

thành viên của WTO Vì vậy hệ thống hoạt động của WTO cũng chính là góp phần

vào quá trình phát triển của các quốc gia này Do trình độ phát triển kinh tế còn

chênh lệch, các nước đang và kém phát triển cần có thời gian cũng như sự trợ giúp

đặc biệt để có thể dần thích nghi với xu hướng phát triển của kinh tế - thương mại

quốc tế và hoa nhập vào trào lưu phát triển chung thế giới Kết thúc vòng đàm phán

Uruguay, các nước đang phát triển đã được động viên đảm đương phần lớn nhỳng

nghĩa vụ thuộc phận sự của các nước phát triển trước đây Tuy nhiên, các Hiệp định

của WTO cũng đề ra một số thời hạn cho phép các nước đang phát triển đặc biệt là

các nước nghèo và chậm phát triển có thể thích nghi trong thời kỳ chuyển đổi với

nhỳng điều khoản không mấy phổ biến thông qua các biện pháp nhu cam kết của

các nước giàu cho phép hàng hoa của các nước đang và kém phát triển thâm nhập

thị trường nước mình, miễn thuế nhập khẩu hay trợ giúp kỹ thuật Vòng Doha về

phát triển của WTO rất quan tâm tới nhỳng vấn đề khó khăn m à các nước đang phát

triển gặp phải trong quá trình thực hiện nhỳng Nghị định đã ký kết tại các vòng đàm

phán Uruguay

1.2 NHỮNG NỘI DUNG c ơ BẢN TRONG CHÍNH SÁCH T H Ư Ơ N G MẠI CỦA WTO

Theo cuốn "Từ điển Kinh tế học "của tác giả Nguyễn Văn Ngọc - Đ ạ i học

Kinh tế Quốc dân: "CSTM là nhỳng chính sách của Chính phủ được hoạch định để

tác động vào hoạt động thương mại chẳng hạn là thuế quan và hạn ngạch Mục tiêu

của CSTM là điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu để đạt được mục tiêu kinh tế vĩ

m ô " [72,tr.788] Còn theo cuốn "Cải cách CSTM của Việt Nam": "CSTM là một hệ

thống nhỳng nguyên tắc và biện pháp thích hợp m à một nước áp dụng nhằm quản lý

hoạt động ngoại thương sao cho phù hợp với lợi ích chung của xã hội " [64, tr.8-9]

Như vậy mục tiêu nguyên thúy của CSTM là để tác động lên khối lượng và cơ cấu

hàng hoa xuất nhập khẩu nhưng đồng thời nó cũng có tác động đến nhiều mặt của

nền kinh tế xã hội

Cùng với sự mở rộng phạm vi của thương mại thế giới, CSTM không chỉ liên

quan đến việc quản lý khối lượng và cơ cấu hàng hoa xuất nhập khẩu hỳu hình m à

còn cả vấn đề thương mại các hoạt động dịch vụ đồng thời kèm theo đó là nhỳng

khía cạnh trong thương mại QSHTT Đây chính là những đối tượng chính m à Hệ thống các Hiệp định, quy định của WTO đang điều chỉnh thông qua ba Hiệp định nền tảng là GATT, GATS và TRIPS Những nội dung cơ bản trong CSTM của WTO nằm trong những nội dung cơ bản của các Hiệp định này Thực chất, đó chính là CSTM của WTO về thương mại hàng hoa, thương mại dịch vụ và thương mại liên quan đến QSHTT

1.2.1 Chính sách thương mại hàng hoa

CSTM hàng hoa của WTO được thể hiện thông qua những qui định của WTO

về thuế quan, về chính sách phi thuế quan, về CSTM đối với một số ngành hàng cụ thể và CSTM đối với các nước đang phát triển

1.2.1.1 Những quy định về thuế quan

- Nhăn nhượng thuế quan

Thuế quan là một hàng rào thương mại m à các nước sầ dụng trong quản lý hoạt động xuất nhập khẩu để thực hiện bảo hộ đối với sản xuất trong nước và cũng

là một nội dung chủ yếu của CSTM Đây cũng là vấn đề m à các quốc gia thành viên WTO quan tâm đầu tiên và xuyên suốt trong hầu hết các cuộc đàm phán thương mại

đa biên Mục tiêu của WTO là thiết lập một hệ thống thương mại tự do với những nỗ lực liên tục giảm thuế quan và tiến tới một hệ thống thương mại phi thuế quan Theo quy định của WTO, việc thu thuế xuất nhập khẩu và vấn đề giảm thuế được thực hiện trên cơ sở chế độ đãi ngộ tối huệ quốc giữa các quốc gia thành viên Mục đích của việc nhân nhượng thuế quan là giảm tổng mức thuế quan xuất nhập khẩu, đặc biệt là giảm mức thuế quan cao vốn là trở ngại chính của việc nhập khẩu Kết quả quan trọng nhất của Vòng đàm phán Uruguay chính là 22.500 trang danh mục cam kết của các nước đối với một số loại mặt hàng, gồm các cam kết giảm thuế và xác định mức thuế trần, trong một số trường hợp thuế quan còn được giảm xuống bằng 0 [Ì 14]

Một nước có thể phá bỏ hay thay đổi các kết thuế quan chẳng hạn như nâng thuế quan cao hơn mức thuế trần nhưng để làm được điều này, nước đó phải đàm phán với các nước có liên quan và có thể bị buộc phải bù đắp về cơ hội thương mại

m à các đối tác phải gánh chịu do việc nâng mức thuế quan đó

Trang 9

- Các biện pháp tự vệ trong thương mại

Xác định mức thuế quan trần và áp dụng chúng một cách bình đẳng giữa tất

cả các đối tác thương mại là nguyên tắc chỉ đạo trong CSTM hàng hoa của WTO

nhưng WTO vẫn đổng thòi cho phép các nưệc thành viên được áp dụng những hành

động tự vệ thông qua thuế quan trong các trường hợp đối tác có những hành động

thương mại không lành mạnh như bán phá giá, trợ cấp xuất khẩu gây tổn hại đến

ngành sản xuất trong nưệc Các quy tắc này thể hiện trong các Hiệp định sau:

+/ Hiệp định về việc thực hiện điều 6 của GATT1994 - ADP

Hiệp định này cho phép các nưệc thành viên có thể áp dụng biện pháp chống

bán phá giá khi ngành sản xuất trong nưệc thực sự bị thiệt hại do việc bán phá giá

của nưệc xuất khẩu Chính phủ nưệc có liên quan phải chứng minh được là có hành

vi bán phá giá, tính được quy m ô bán phá giá (giá xuất khẩu thấp hơn giá lưu hành

trên thị trường nội địa của nưệc xuất khẩu như thế nào) và chứng minh được rằng

việc bán phá giá đang gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất trong

nưệc Biện pháp chống phá giá thường là đánh thuế quan bổ sung lên sản phẩm bị

coi là bán phá giá nhằm đẩy giá của sản phẩm đó ngang bằng vệi "giá trị thông

thường" hoặc nhằm chấm dứt thiệt hại m à ngành sản xuất của nưệc nhập khẩu phải

chịu Hiệp định cho phép ba phương pháp tính toán "giá trị thông thường" của một

sản phẩm Phương pháp chính dựa trên mức giá được áp dụng trên thị trường của

nưệc xuất khẩu Nếu phương pháp này không áp dụng được thì có thể sử dụng hai

cách sau: hoặc dựa trên mức giá m à nhà xuất khẩu áp dụng tại một nưệc khác; hoặc

tính mức giá theo chi phí sản xuất, các chi phí khác và mức lợi nhuận thông thường

của nhà xuất khẩu

Trưệc khi áp dụng các biện pháp chống phá giá, nưệc nhập khẩu phải tiến

hành điều tra để đánh giá tất cả các yếu tố kinh tế cần thiết có ảnh hưởng tói tình

hình của ngành sản xuất bị thiệt hại Các cuộc điều tra chống phá giá phải chấm dứt

ngay lập tức nếu cơ quan có thẩm quyền xác định được rằng mức bán phá giá là quá

nhỏ (dưệi 2 % giá xuất khẩu) hoặc số lượng hàng nhập khẩu bán phá giá của một

nưệc nhỏ hơn 3 % tổng giá trị nhập khẩu của sản phẩm đó Tuy nhiên các cuộc điều

tra có thể được tiếp tục nếu tổng lượng hàng xuất khẩu bán phá giá của các nưệc

thuộc diện này chiếm ít nhất 7 % tổng giá trị nhập khẩu Các biện pháp chống phá

giá phải chấm dứt sau 5 năm kể từ ngày được đưa vào áp dụng trừ phi có một cuộc điều tra khác chứng minh rằng việc bãi bỏ biện pháp này có thể gây ra thiệt hại [22,

tr 189]

+/ Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp Đối kháng (SCM)

Hiệp định này quy định rằng một nước có thể áp dụng các thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO đòi nước khác phải chấm dứt trợ cấp hoặc loại bỏ nhổng hệ quả bất lợi của trợ cấp Nước đó có thể tự mở điều tra và trên cơ sở đó áp đặt một mức thuế bổ sung là gọi là "thuế đối kháng" đối với hàng nhập khẩu được trợ cấp

m à nước nhập khẩu cho rằng đã gây thiệt hại cho ngành sản xuất của nước mình Hiệp định xác định hai loại trợ cấp là trợ cấp bị cấm và trợ cấp có thể đối kháng

Các trợ cấp bị cấm là các khoản trợ cấp có kèm điều kiện buộc người hưởng trợ cấp phải đạt được một số mục tiêu về xuất khẩu hoặc ưu tiên sử dụng hàng sản xuất trong nước hơn là hàng nhập khẩu Trợ cấp loại này bị cấm vì chúng được sử dụng để bóp méo cạnh tranh trong thương mại quốc tế và do đó có nguy cơ gây thiệt hại cho thương mại của các nước khác Nếu các cơ quan giải quyết tranh chấp đi đến kết luận rằng đây là một loại trợ cấp bị cấm thì nước áp dụng phải dừng ngay trợ cấp nếu không sẽ phải chịu các biện pháp trả đũa của bên nguyên Nếu các nhà sản xuất trong nước bị thiệt hại do hàng nhập khẩu được trợ cấp thì nước nhập khẩu có thể áp dụng thuế đối kháng

Đ ố i với các trợ cấp có thể đối kháng, nước đệ đơn kiện phải chứng minh được rằng loại trợ cấp này có hậu quả xấu như gây tổn hại tới ngành sản xuất trong nước của một Thành viên khác, làm vô hiệu hay suy giảm nhổng quyền lợi m à Thành viên khác trực tiếp hoặc gián tiếp được hưởng từ Hiệp định G A T T 1994, gây tổn hại nghiêm trọng tới quyền lợi của một Thành viên khác [22, tr 306] Nếu cơ quan giải quyết tranh chấp xác định được rằng khoản trợ cấp thực sự gây hậu quả xấu thì nước trợ cấp phải chấm dứt trợ cấp hoặc khắc phục nhổng hậu quả xấu này Ngay cả trong trường hợp này, nếu nhà sản xuất trong nước phải chịu thiệt hại do hàng nhập khẩu được trợ cấp thì nước nhập khẩu có thể áp dụng thuế đối kháng

Trang 10

1.2.1.2 Một số quy định về các biện pháp phỉ thuế quan chủ yếu

Các biện pháp phi quan thuế là các biện pháp được áp dụng nhằm gây ảnh

hưởng đến mức độ và phương hướng xuất nhập khẩu đổ đạt được các mục tiêu đề ra

nhưng không thông qua thuế quan Các biện pháp đó là:

- Giấy phép nhập khẩu

Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu của WTO quy định rằng các cơ chế

này phải đơn giản, rõ ràng và minh bạch Chính phủ các nước phải công bờ thông tin

đầy đủ để người kinh doanh có thể biết vì sao cần xin giấy phép và xin như thế nào

Hiệp định cũng quy định rõ cách thức m à theo đó các nước phải thông báo cho

WTO biết việc xây dựng các cơ chế cấp phép cũng như những sửa đổi đời với các cơ

chế hiện hành Thủ tục nộp đơn xin cấp phép và gia hạn giấy phép phải đơn giản,

không gây phiền hà Người xin cấp phép chỉ phải nộp đơn cho một cơ quan hành

chính duy nhất Trong trường hợp phải tiếp cận nhiều cơ quan hành chính thì sờ cơ

quan này không được vượt quá 3 cơ quan Ngoài ra, các cơ quan không được phép từ

chời đơn xin cấp phép chỉ vì đơn đó có những lỗi nhỏ về tài liệu song không làm

thay đổi những sờ liệu cơ bản thể hiện trên tài liệu đó Các cơ quan hữu quan không

được xem xét một đơn xin cấp phép quá 30 ngày hoặc nếu tất cả các đơn được xét

cùng một lúc thì cũng không quá 60 ngày Đồng thời các cơ quan hữu quan của một

nước cũng không được từ chời hàng nhập khẩu đã được cấp phép nếu có sự khác biệt

nhỏ về giá trị, sờ lượng hay trọng lượng so với con sờ ghi trên giấy phép do sự chênh

lệch phát sinh trong quá trình giao hàng, do tính chất của việc bờc hàng rời và những

khác biệt nhỏ khác phù hợp với thực tiễn thương mại thông thường

Những quy định nêu trong Hiệp định nhằm mục tiêu sao cho các thủ tục hành

chính trong việc cấp phép nhập khẩu không trở thành các rào cản đời với thương

mại, giúp giảm thiểu gánh nặng m à các thủ tục xin cấp phép có thể gây ra đời với

nhà nhập khẩu để việc quản lý cơ chế cấp phép không tự nó góp phần hạn chế các

hoạt động nhập khẩu

Có hai trường hợp cấp phép nhập khẩu:

+ Cấp phép nhập khẩu tự động: WTO quy định giấy phép phải được xét

duyệt và chấp thuận ngay lập tức khi đơn xin cấp phép có đủ điều kiện Đơn xin cấp

phép không bị hạn chế khối lượng nhập khẩu trong phạm vi điều chỉnh và các nước thành viên cũng không được đặt ra các hạn chế khác đối với nhà nhập khẩu

+ Cấp phép nhập khẩu không tự động: Giấy phép nhập khẩu không tự động

được các chính phủ sử dụng nhằm hạn chế hàng nhập khẩu Vì vậy WTO quy định phữi giữm tối đa các trở ngại đối với người xin phép nhập khẩu m à chỉ giói hạn ở những gì hết sức cần thiết cho công tác quữn lý nhập khẩu Trường hợp đem xin cấp phép không được chấp nhận thì cơ quan hữu quan phữi có văn bữn trữ lời nêu rõ lý

do không cấp phép và người nộp đơn có quyền khiếu kiện và yêu cẩu xem xét lại

- Các quy định về xác định trị giá Hải quan đối với hàng hoa

Các quy định này thể hiện trong "Hiệp định về việc thực hiện Điều 7 của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994" gọi là Hiệp định định giá Hữi quan (ACV) và các quyết định cấp Bộ trưởng kèm theo, gồm: "Quyết định về các trường hợp Hữi quan có lý do để nghi ngờ tính xác thực hoặc chính xác của giá khai báo" và "Quyết định về các văn bữn quy định giá trị tối thiểu và hàng hoa nhập của các đại lý, cơ sở phân phối và nhà thầu độc quyền" ACV hướng tới mục tiêu xây dựng một hệ thống xác định trị giá hữi quan của hàng hoa một cách công bằng, thống nhất và khách quan, phù hợp vói các thực tiễn thương mại và ngăn cấm việc

sử dụng những mức giá tuy tiện hay giữ định Tôn chỉ của ACV là loại bỏ hoặc giữm bớt những ữnh hưỏng bất lợi của giá tính thuế hữi quan đến thương mại quốc tế, thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu của GATT Hiệp định này quy định sáu phương pháp tính giá theo trật tự ưu tiên sử dụng, chỉ khi nào không thể sử dụng phương pháp ở mức ưu tiên cao hơn thì mới sử dụng đến phương pháp tiếp theo Nhưng khi nhà nhập khẩu yêu cẩu thì có thể đữo trật tự của phương pháp 4 và 5 để sử dụng Các phương pháp quy định trong Hiệp định bao gồm:

+ Phương pháp giá giao dịch: Đây là phương pháp cơ bữn để xác định giá

tính thuế Hữi quan Giá giao dịch là giá mua hàng cộng thêm các chi phí về giao dịch hàng hoa để đưa hàng tói nơi đến ở nước nhập khẩu trước khi làm thủ tục thông quan như chi phí hoa hồng môi giới, chi phí bao bì đóng gói, chi phí vận tữi, bữo hiểm hàng hoa

+ Phương pháp giá giao dịch của sản phẩm cùng loại giống hệt: Nếu không

thể xác định được giá tính thuế Hữi quan theo phương pháp Ì thì sẽ lấy giá tính thuế

Trang 11

hải quan của hàng hoa cùng loại nhập khẩu vào cùng một nước trong cùng một hay

gần như cùng một thòi điểm làm giá tính thuế của hàng hoa

+ Phương pháp giá giao dịch của sản phẩm tương tự: Hàng hoa tương tự là

hàng hoa có chủng loại tương tự được nhập khẩu vào cùng hoặc gần như cùng một

thòi điểm vói hàng hoa cẩn tính giá

+ Phương pháp khấu trừ: Giá được quyết định thông qua việc khấu trừ ờ một

mức nhất định từ đơn giá của hàng hoa giống hệt hoặc tương tự trên thị trường nước

nhập khẩu phần giá trị tăng thêm sau khi nhập khẩu như thuế nhập khẩu, chi phí vận

chuyển, bảo hiểm, lãi và các chi phí khác phát sinh sau khi nhập khẩu

+ Phương pháp giá ước tính: Giá tính thuế hải quan là tổng của giá thành sản

xuất, lợi nhuận và các chi phí thông thường

Nếu sau k h i đã sử dụng các phương pháp trên m à không thể xác định được

giá tính thuế hải quan thì sẽ sử dụng phương pháp hợp lý phù hợp với nguyên tắc

của Hiệp định ACV và điều 7 của GATT tiến hành tính giá trên cơ sờ những thông

tin thu được ờ nước nhập khẩu [121, tr 117-118]

ACV đã mờ rộng quyền hạn và khả năng can thiệp của cả cơ quan Hải quan

và nhà nhập khẩu Trường hợp nhà nhập khẩu cố tình khai báo giá thấp để hường lợi

từ thuế nhập khẩu, ACV cho phép Hải quan từ chối chấp nhận giá hàng do thương

nhân khai báo khi có lý do nghi ngờ tính trung thực và đúng đắn của giá tri khai báo

và các chứng từ xuất trình liên quan đến trị giá tính thuế Ngược lại nhà nhập khẩu

có quyền giải thích chứng minh về tính trung thực chính xác của giá trị giao dịch do

mình khai báo khi cơ quan Hải quan bác bỏ giá trị giao dịch khai báo đó

- Kiểm định hàng hoa trước khi xuất khẩu

Kiểm định hàng hoa trước khi xuất khẩu là một thực tiễn thương mại trong đó

nước nhập khẩu yêu cầu các cơ quan độc lập kiểm định hàng hoa chủ yếu về giá cả,

chất lượng, số lượng trước khi xuất khẩu Hiệp định quy định vấn đề này được gọi là

Hiệp định về kiểm hoa trước khi xuất khẩu (PSI) Đ ố i tượng của Hiệp định là các

chính phủ sử dụng các dịch vụ kiểm hoa trước khi xuất khẩu

Hệ thống kiểm hoa trước khi xuất thường được chính phủ các nước đang phát

triển sử dụng N ó nhằm mục đích bảo vệ lợi ích tài chính quốc gia (chẳng hạn nhằm

ngăn chặn chảy vốn ra nước ngoài, gian lận thương mại và trốn thuế) hay nhập khẩu

vào nước mình các sản phẩm độc hại Chính phủ của nước nhập khẩu, thường được gọi là "người sử dụng dịch vụ kiểm hoa" phải để cho các cơ quan kiểm hoa độc lập tiến hành kiểm hoa một cách không phân biệt đối xử và minh bạch, bảo vệ được thông tin mật về thương mại, tránh nhởng chậm trễ không đáng có, tuân thủ nhởng chỉ thị cụ thể về kiểm tra giá cả và tránh xung đột lợi ích, gây cản trở đến hoạt động thương mại Các luật lệ của nước yêu cầu kiểm định cũng như thủ tục, tiêu chí kiểm định phải được công bố rõ ràng Nhờ đó, Hiệp định giúp cho việc giảm thiểu nhởng tranh chấp có thể phát sinh giởa nhà xuất khẩu và các cơ quan kiểm dịch, loại trừ nhởng đánh giá không chính xác của các cơ quan này [22, tr 264]

- Quy tắc xuất xứ (ROO)

Quy tắc xuất xứ là nhởng tiêu chuẩn để xác định sản phẩm được sản xuất ở đâu Đây là một bộ phận quan trọng trong việc xem xét CSTM, bởi vì các nước có thể sử dụng một số các chính sách liên quan đến quy chế xuất xứ nhằm phân biệt đối xử giởa các nhà xuất khẩu thông qua hạn ngạch, thuế quan ưu đãi, chống bán phá giá, đánh thuế đối kháng

Hiệp định về Quy tắc xuất xứ yêu cầu các nước thành viên WTO phải đảm bảo rằng các quy tắc xuất xứ của họ phải minh bạch rõ ràng và không gây ra nhởng ảnh hưởng nhằm hạn chế, bóp méo hay ngưng trệ đối vói hoạt động thương mại quốc tế đồng thời các quy tắc ấy phải được điều hành áp dụng một cách hợp lý, thống nhất công bằng đồng thời chúng phải được xây dựng trên cơ sở nhởng tiêu chí tích cực Hiệp định yêu cầu Giấy chứng nhận xuất xứ phải được cấp không chậm hơn 150 ngày kể từ ngày người xin cấp xuất trình đầy đủ chứng từ theo quy định [22, tr 276]

- Hàng rào kỹ thuật trong thương mại

Các quy định về mặt kỹ thuật và các tiêu chuẩn công nghiệp đóng một vai trò quan trọng nhưng mỗi nước lại có nhởng quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật khác nhau

và điều này thường gây khó khăn cho các nhà sản xuất và xuất khẩu Nếu như các tiêu chuẩn được quy định một cách tuy tiện thì chúng có thể được sử dụng như nhởng phương tiện bảo hộ và do đó trở thành rào cản đối với thương mại Vì vậy WTO đã xây dựng Hiệp định về nhởng rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT) với mục đích làm sao để các quy định pháp luật, tiêu chuẩn và quy trình thử nghiệm

Trang 12

và công nhận không gây ra những trở ngại không cần thiết đối với hoạt động thương

mại TBT thừa nhận quyền của các nước được đưa ra những chuẩn mực m à họ cho là

thích hợp để bảo vổ sức khoe, cuộc sống con người và động vật, bảo tổn động thực

vật, bảo vổ môi trường hay lợi ích của người tiêu dùng Tuy nhiên, để tránh có sự

chênh lổch quá lớn, Hiổp định khuyến khích các nước áp dụng các tiêu chuẩn quốc

tế TBT cũng quy định rằng các quy trình đánh giá liổu một sản phẩm có tuân thủ

các tiêu chuẩn của một nước hay không phải được tiến hành một cách công bằng và

thoa đáng; không áp dụng các phương pháp thiên vị đối vói các sản phẩm trong

nước (chẳng hạn, phương pháp kiểm tra và trình tự quản lý sản phẩm nhập khẩu

không quá phức tạp hay chậm chạp hơn so với các sản phẩm cùng loại của nước

mình; phí kiểm nghiổm đối với sản phẩm nhập khẩu không quá phức tạp hay chậm

chạp hơn so với sản phẩm cùng loại của nước mình, phí kiểm nghiổm đối vói sản

phẩm nhập khẩu phải bằng mức phí kiểm nghiổm đối với sản phẩm cùng loại trong

nước, giữ bí mật tài liổu kiểm nghiổm đối với sản phẩm nhập khẩu cũng như của sản

phẩm trong nước) Hiổp định cũng khuyến khích các nước công nhận các quy trình

kiểm nghiổm của nhau

- Các biện pháp vệ sinh dịch tễ(SPS)

Điều 20 của GATT cho phép các nước được can thiổp vào trao đổi hàng hoa

nhằm bảo vổ sức khoe và cuộc sống con người, bảo tồn các loài động thực vật nhưng

vói điều kiổn các nước không được phân biổt đối xử và không được lạm dụng nhằm

bảo hộ trá hình Các quy tắc nền tảng về vấn đề này được nêu ra trong một hiổp định

chuyên biổt về an toàn thực phẩm và các tiêu chuẩn vổ sinh dịch tễ đối với động thực

vật gọi là Hiổp định về các Biổn pháp Kiểm dịch Động thực vật (SPS) Hiổp định cho

phép các nước xây dựng cho mình những tiêu chuẩn riêng song cũng quy định rằng

các tiêu chuẩn này phải có căn cứ khoa học Các quy định về vổ sinh dịch tễ chỉ có

thể được áp dụng trong chừng mực cần thiết để bảo vổ sức khỏe con người và các

loài động thực vật Chúng cũng không được gây ra phân biổt đối xử tuy tiổn hoặc vô

căn cứ giữa các quốc gia có điều kiổn giống hổt nhau hoặc tương tự như nhau Các

nước thành viên WTO được khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn hoặc khuyên nghị

quốc tế san có nhưng các nước này vẫn cổ thể thông qua những biên pháp sử dung

những chuẩn cao hơn nếu họ có oíSMừíồẵ toọc H ọ cũng có thể xây dựng những

Hiệp định này cho phép các nước có thổ áp dụng những tiêu chuẩn khác nhau

và các phương pháp kiểm nghiệm khác nhau Nếu nước xuất khẩu chứng minh được rằng các biện pháp m à nước này áp dụng đối vói hàng hoa xuất khẩu có cùng mức

độ bảo vệ về vệ sinh dịch tễ vói nước nhập khẩu thì nước nhập khẩu về nguyên tắc phải chấp nhận các tiêu chuẩn và phương pháp m à nước xuất khẩu áp dụng [22, tr 78]

1.2.1.3 Một số quy định trong Chính sách thương mại của WTO đối với một số ngành cụ thể

- Chính sách Thương mại đối với sản phẩm Nông nghiệp

Nông nghiệp vốn là lĩnh vực nhạy cảm vì nó là ngành thu hút nhiều lao động, sản xuất phụ thuộc nhiều vào yếu tố thiên nhiên hơn nữa nó còn liên quan đến an ninh lương thực của mỗi quốc gia Các nước trên thế giói đều có khuynh hướng bảo

hộ cho nông nghiệp Tuy nhiên các chính sách được áp dụng lại thường rất tốn kém gây ra sản xuất dư thừa dẫn đến chiến tranh về trợ cấp xuất khẩu Nước nào ít có khả năng trợ cấp thì phải chịu thua thiệt

Vòng đàm phán Uruguay đã cho ra đời Hiệp định đa phương đầu tiên về lĩnh vực này là Hiệp định Nông nghiệp Mục tiêu của Hiệp định là cải cách thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp và củng cố vai trò của thị trường trong việc định hướng thực thi các chính sách nhằm giúp nâng cao khả năng phán đoán và mức độ an toàn của các nước nhập khẩu cũng như xuất khẩu

Hiệp định nêu ra nguyên tắc "chỉ sử dụng thuế quan" yêu cầu các nước phải thực hiện thuế hoa các hàng rào phi thuế quan theo đó thuế quan cho phép bảo đảm một mức độ bảo hộ tương đương Chẳng hạn nếu các biện pháp phi thuế trước đây làm tăng 7 5 % giá hàng hoa trên thị trường nội địa so với giá trên thị trường thế giới thì thuế suất mới có thể áp dụng lên đến 75% Đ ố i với những sản phẩm nông nghiệp trước kia bị hạn chế bằng hạn ngạch nay bị đánh thuế, các nước được phép áp dụng những biện pháp khẩn cấp đặc biệt gữi là "tự vệ đặc biệt" nhằm bảo vệ nông dân

Trang 13

trước việc giá cả sụt giảm đột ngột hay việc nhập khẩu tăng mạnh Tuy nhiên Hiệp

định cũng nêu rõ chỉ trong một số trường hợp hoặc điều kiện nhất định thì các biện

pháp này mới được áp dụng, chẳng hạn các biện pháp này không được áp dụng cho

hàng nhập khẩu theo chế độ hạn ngạch thuế quan

Về vấn đề hỏ trợ trong nước, Hiệp định Nông nghiệp phân biệt rõ các chương

trình hỏ trợ trong nước có tác dụng kích thích trực tiếp sản xuất với các chương trình

bị coi là không có tác động trực tiếp m à lại gây ra sản xuất dư thừa, đẩy lùi các sản

phẩm nông sản nhập khẩu ra khỏi thị trường nội địa một cách không lành mạnh Các

nước buộc phải giảm bót những biện pháp có tác động trực tiếp tới sản xuất và trao

đổi hàng hoa trong lĩnh vực nông nghiệp ("hộp vàng") Các nước thành viên WTO

ước tính mức hỏ trợ mỏi năm cho nông nghiệp dưới dạng này thông qua cách tính

toán "biện pháp hỏ trợ tổng thể": Aggregate Measures of Support hay "Total AMS"

vói giai đoạn lấy làm cơ sở là 1986-1988 [114]

Còn các biện pháp ít gây ảnh hưởng tới trao đổi hàng hoa ("hộp xanh") có thể

được tự do áp dụng bao gồm những dịch vụ được Nhà nước đảm bảo như nghiên cứu

khoa học, y tế công cộng, cơ sở hạ tầng và an ninh lương thực; những khoản bồi

thường được rót trực tiếp cho nông dân nhưng không nhằm mục đích khuyến khích

sản xuất như hỏ trợ thu nhập, trợ cấp cho việc tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp hay

những khoản chi trả trực tiếp trong khuôn khổ chương trình bảo vệ môi trường và hỏ

trợ phát triển các vùng Ngoài ra, có một số biện pháp được Hiệp định cho phép áp

dụng như một số khoản đền bù trực tiếp cho nông dân khi họ buộc phải hạn chế sản

xuất, một số chương trình trợ giúp của Nhà nước cho phát triển nông nghiệp và nông

thôn tại các nước đang phát triển và các biện pháp hỏ trợ khác có quy m ô khiêm tốn

so với tổng giá trị của sản phẩm hoặc các sản phẩm được trợ cấp (dưới 5% đối vói

các nước phát triển và dưới 1 0 % đối với các nước đang phát triển [22]

Về trợ cấp xuất khẩu, Hiệp định Nông nghiệp cấm việc trợ cấp cho xuất

khẩu nông sản trừ phi chúng được nêu rõ trong các danh mục cam kết của các nước

thành viên Vấn đề hạn chế trợ cấp xuất khẩu được tính trên cả 2 khứa cạnh là mức

trợ cấp và khối lượng hàng hoa xuất khẩu được trợ cấp

- Chính sách Thương mại đối với sản phẩm dệt may

Cũng như nông sản, dệt may luôn là một chủ đề nóng bỏng trên các bàn đàm

phán của GATT trước kia và của WTO hiện nay Trước vòng đàm phán Uruguay,

thương mại dệt may được điều chỉnh bởi Hiệp định đa sợi (Multi Fibre Aưangement

- M F A ) trong đó cho phép thiết lập hạn ngạch nhập khẩu trên cơ sở các thoa thuận song phương hoặc bằng các biện pháp đơn phương nhằm hạn chế nhập khẩu vào các nước m à ngành sản xuất có nguy cơ bị đình đốn do sự lan tràn của hàng nhập khẩu

Tử năm 1995, ATC đã thay thế cho MFA Theo Hiệp định, tử năm 1995 đến

2005, các nước phải xoa bỏ dần hạn ngạch và các nước nhập khẩu không được đối

xử phân biệt giữa các nước xuất khẩu Bản thân ATC cũng chấm dứt hiệu lực vào ngày 1/1/2005 Kể tử đây về mặt nguyên tắc, hạn ngạch dệt may trong thương mại giữa các nước thành viên WTO được dỡ bỏ ATC cũng là hiệp định duy nhất của WTO quy định về việc tự chấm dứt hiệu lực Tuy nhiên những hạn chế được các nước áp dụng đối với những nước không phải là thành viên của WTO thì vẫn có thể duy trì ngoài những định chế của Hiệp định

1.2.1.4 Chính sách thương mại được quy định dành riêng cho các nước đang phát triển và các nước có nên kinh tế chuyển đổi

Trong số 148 nước thành viên của WTO thì có đến 2/3 là những nước đang phát triển Tại WTO, các nước này đóng vai trò ngày càng quan trọng và tích cực nhờ số lượng đông đảo của mình, nhờ vị trí ngày càng lớn trong thương mại quốc tế

và các nuớc này đang coi thương mại là công cụ quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế của mình Vì vậy, WTO luôn nỗ lực để đáp ứng nhu cầu phát triển của nhóm nước này

WTO đã dành phần 4 về "Thương mại và phát triển" trong GATT 1994 quy định phải áp dụng nguyên tắc không đi có lại trong đàm phán thương mại giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển Cụ thể là, khi các nước phát triển chấp nhận nhân nhượng thương mại đối với các nước đang phát triển thì đổi lại họ không nên trông chờ vào các nước đang phát triển đưa ra các bản chào tương tự

GATT còn có điều khoản trao quyền, qui định các nước phát triển phải dành cho các nước đang phát triển những nhượng bộ đặc biệt chứ không phải dành cho mọi thành viên những nhượng bộ tương tự Đây được gọi là "những đãi ngộ đặc biệt

và khác biệt", bao gồm:

- Dành cho các nước đang phát triển thời hạn dài hơn để thực hiện các cam kết của mình Chẳng hạn trong Hiệp định Nông nghiệp, các nước đang phát triển

Trang 14

được thực hiện l ộ trình cắt giảm thuế quan và trợ cấp xuất khẩu cũng như hỗ trợ

trong nước trong 10 năm còn các nước phát triển thì chỉ được thực hiện trong 5 năm

Trợ cấp thường đóng vai trò quan trọng đối với các nước đang phát triển và

các nước đang trong quá trình chuyển đổi tậ nền kinh tế kế hoạch hoa sang nền kinh

tế thị trường vì vậy WTO quy định rằng những nước kém phát triển và đang phát

triển m à tổng thu nhập quốc dân trên đầu người thấp hơn 1.000 USD/năm không

phải chịu chế tài khi áp dụng các biện pháp trợ cấp xuất khẩu bị cấm Các nước có

nền kinh tế chuyển đổi là thành viên của WTO tại thòi điểm thành lập năm 1995

phải chấm dứt các loại trợ cấp bị cấm vào năm 2000 còn các nước đang phát triển

được gia hạn tậ năm 1995 tới năm 2003 phải chấm dứt các khoản trợ cấp xuất khẩu

Ngoài ra các nước đang phát triển vẫn được hưởng đối xử ưu đãi khi hàng xuất khẩu

của họ đang bị điều tra để áp dụng thuế đối kháng

- WTO cũng qui định rằng trong điều kiện công nghệ và kinh tế xã hội đặc

biệt của nước mình, các nước đang phát triển có thể không sử dụng các tiêu chuẩn

quốc tế (ví dụ những qui định trong TBT), m à được phép áp dụng các tiêu chuẩn,

quy định kỹ thuật cụ thể khác nhằm duy trì công nghệ trong nước hay các phương

thức phù hợp với nhu cầu phát triển và trình độ công nghệ của nước mình

- Ngoài ra WTO còn có những điều khoản quy định phương thức hỗ trợ các

nước đang phát triển như các phương thức giúp họ thực hiện các cam kết bảo đảm

các tiêu chuẩn về sức khoe động vật và bảo vệ thực vật, bảo đảm các tiêu chuẩn kỹ

thuật hay để phát triển lĩnh vực viễn thông của họ

Uy ban về Thương mại và phát triển của WTO là cơ quan tập trang chính các

công việc của WTO trong việc quan tâm đến các nước đang phát triển Trong số rất

nhiều vấn đề thuộc thẩm quyền của mình, Uy ban đã định ra bốn lĩnh vực ưu tiên là:

xem xét việc thực hiện các quy định dành cho các nước đang phát triển, đưa ra các

hướng chỉ đạo cho hợp tác kỹ thuật, tăng cường sự tham gia của các nước đang phát

triển vào hệ thống đa phương và quan tâm đến tình hình những nước kém phát triển

nhất Các nước thành viên cũng phải thông báo cho WTO những chương trình ưu đãi

thương mại đặc biệt m à họ dành cho hàng hoa của các nước đang phát triển cũng

như những thoa thuận khu vực được ký kết giữa các nước đang phát triển Ngoài ra,

trong Ban thư ký của WTO còn có các cố vấn pháp lý có nhiệm vụ trợ giúp tư vấn cho các nước đang phát triển trong các vụ tranh chấp tại WTO

Tuy vậy, trôn đây chỉ là những quy định có tính chất nguyên tắc Những ưu đãi cụ thể m à WTO dành cho các nước đang phát triển phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đàm phán đa phương và song phương và điều này luôn luôn không đơn giản chút nào Đ ó cũng chính là lý do vì sao dù đã hoạt động được hơn 10 năm m à WTO vừn chưa thống nhất được vấn đề về CSTM hàng hoa liên quan đến môi trường 1.2.2 Chính sách thương mại dịch vụ

CSTM dịch vụ của WTO thể hiện chủ yếu thông qua Hiệp định GATS Đây

là tập hợp đầu tiên và duy nhất những quy định điều chỉnh thương mại dịch vụ thế giói từ sau vòng đàm phán Uruguay cho đến nay

Về mặt cấu trúc, Hiệp định gồm 3 phần Phần thứ nhất là một thoa thuận khung bao gồm những nghĩa vụ cơ bản áp dụng cho mọi thành viên Phần thứ hai là

lộ trình các cam kết cụ thể của các nước nhằm đảm bảo mở cửa thị trường nội địa

và tự do hoa kể cả những chỉ dừn đối với các nước từ bỏ nguyên tắc không phân biệt đối xử Phần thứ ba là một số phụ lục gồm các quy định áp dụng cho những khu vực dịch vụ riêng rẽ Nội dung chủ yếu trong CSTM của GATS là:

1.2.2.1 Về các phương thức trao đổi dịch vụ

Hiệp định đưa ra định nghĩa về bốn phương thức trao đổi dịch vụ như sau:

- Phương thức cung ứng dịch vụ qua biên giới (cross-border supply) tức là dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của nước này sang lãnh thổ của nước khác (ví dụ gọi điện thoại quốc tế)

- Phương thức tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài (consumption abroad) tức là người tiêu dùng hay doanh nghiệp của nước này sử dụng dịch vụ tại một nước khác (ví dụ dịch vụ du lịch quốc tế)

- Phương thức hiện diện thương mại (commercial presence) nghĩa là một công ty nước ngoài thành lập các công ty con hoặc chi nhánh để cung cấp dịch vụ tại một nước khác (ví dụ các ngân hàng nước ngoài thành lập chi nhánh hoạt động ở nước khác)

Trang 15

- Phương thức hiện diện của thể nhân (presence of natural persons) có nghĩa

là các cá nhân di chuyển từ nước họ sang cung ứng dịch vụ ở nước khác (ví dụ dịch

vụ người mẫu hay dịch vụ các nhà tư vấn)

1.2.2.2 Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN)

Trong GATS, nguyên tắc M F N yêu cầu tất cả các nước thành viên phải đưằc

đối xử công bằng, theo đúng nguyên tắc không phân biệt đối xử khi cung cấp dịch

vụ theo 4 phương thức nói trên Nguyên tắc này quy định mỗi thành viên phải ngay

lập tức và vô điều kiện dành cho dịch vụ và các nhà cung ứng dịch vụ của nước

thành viên khác những đối xử không kém ưu đãi hơn những đối xử đã dành cho

những dịch vụ và nhà cung ứng dịch vụ tương tự của một nước khác Nguyên tắc này

đưằc áp dụng ngay cả khi một nước không đưa ra cam kết cụ thể nào về mở cửa thị

trường của mình cho các công ty nước ngoài trong khuôn khổ WTO

M F N đưằc áp dụng cho tất cả các loại dịch vụ nhưng các nước đưằc phép tạm

thời miễn áp dụng điều khoản này đối với một số ngành đặc biệt Đ ể bảo vệ MFN,

các nước đã quyết định ngoại lệ chỉ đưằc chấp nhận một lần duy nhất và không đưằc

bổ sung thêm Các ngoại lệ này cũng đưằc coi như một phần của Hiệp định GATS

Chúng đưằc xem xét lại và năm 2000 và thông thường sẽ kéo dài không quá 10 năm

1.2.2.3 Vấn đề cam kết mở cửa thị trường và Đãi ngộ Quốc gia

Quy chế Đãi ngộ Quốc gia đòi hỏi có sự đối xử công bằng giữa các nhà cung

ứng dịch vụ trong nước và nước ngoài Trong GATT và TRIPS, đó là một nguyên tắc

áp dụng vô điều kiện Nhưng trong khuôn khổ của GATS, nó chỉ áp dụng khi một

nước có cam kết cụ thể về việc này Thậm chí kể cả trong những lĩnh vực đã cam

kết, GATS vẫn cho phép có một số hạn chế trong đối xử quốc gia

Cam kết của các nước về mở cửa thị trường nội địa và mức độ mở cửa trong

các lĩnh vục cụ thể chính là kết quả của các cuộc đàm phán Các cam kết này đưằc

liệt kê trong những danh mục các ngành sẽ đưằc mở cửa, mức độ mở cửa đối với

mỗi ngành (chẳng hạn những hạn chế đối với sự tham gia của các đối tác nước ngoài

đưằc nêu rõ nếu cần) và các hạn chế có thể có đối với nguyên tắc đãi ngộ quốc gia

(tức là khi một số ưu đãi đưằc dành cho các công ty trong nước nhưng không đành

cho các công ty nước ngoài) Chẳng hạn, nếu cho phép các Ngân hàng nước ngoài

đưằc hoạt động trên thị trường nội địa thì chính phủ nước đó đã đưa cam kết về mở

cửa thị trường Nếu Chính phủ đó hạn chế số lượng giấy phép được cấp thì đó chính

là hạn chế mở cửa thị trường Còn nếu Chính phủ đó tuyên bố các ngân hàng nước ngoài chỉ có thể lập một chi nhánh duy nhất trong khi các Ngân hàng trong nước được mở nhiều chi nhánh thì đó được coi là một ngoại lệ của nguyên tắc đãi ngộ quốc gia

Nhổng cam kết về vấn đề mở cửa thị trường và đãi ngộ quốc gia được quy định rõ ràng và được ràng buộc cũng như sự ràng buộc thuế quan Các cam kết trong thương mại dịch vụ chỉ có thể được thay đổi sau khi đã thương lượng với các bên liên quan Do rất khó bị phá vỡ, các cam kết này chính là sự bảo đảm đối vói điều kiện hoạt động của các nhà xuất khẩu dịch vụ nước ngoài và các nhà nhập khẩu dịch

Theo GATS, đối với các cam kết, các nước thành viên không bị buộc phải đưa ra cam kết về tất cả các ngành dịch vụ Một chính phủ có thể không muốn cam kết về mức độ cạnh tranh của nước ngoài trong một ngành dịch vụ cụ thể bởi họ cho rằng lĩnh vực dịch vụ đó thuộc chức năng của chính phủ hay vì một lý do nào đó Trong trường hợp này chính phủ chỉ cần tuân thủ nhổng nghĩa vụ tối thiểu như bảo đảm minh bạch trong cách thức điều tiết ngành dịch vụ đó và không phân biệt đối

xử giổa các nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài với nhau Một khi đã cam kết mở cửa một ngành dịch vụ cho cạnh tranh nước ngoài thì về nguyên tắc chính phủ không được hạn chế việc chuyển tiền nước ngoài dưới danh nghĩa chi trả cho các dịch vụ

đã tiêu dùng trong ngành dịch vụ đó Chỉ có một trường hợp ngoại lệ duy nhất được quy định trong Hiệp định đó là: một nước có thể áp dụng các hạn chế khi gặp khó khăn về cán cân thanh toán, nhưng ngay cả trong trường hợp này thì hạn chế chỉ có thể được áp dụng tạm thời và phải tuân thủ nhổng điều kiện nhất định

Trang 16

1.2.2.4 Yêu cầu về sự minh bạch, dễ dự đoán của luật pháp và các quy định về

dịch vụ

Trong CSTM về dịch vụ, GATS yêu cầu các nước thành viên phải đảm bảo

tính minh bạch của pháp luật điều chỉnh lĩnh vực dịch vụ Theo GATS, các chính

phủ phải công bố tất cả các luật, quy định phù hợp và thiết lập các điểm thông tin

trong các cơ quan hành chính của mình Từ các điểm thông tin này, các công ty và

chính phủ nước ngoài có thể lấy thông tin liên quan đến các quy định điều chỉnh

ngành dịch vụ này hay ngành dịch vụ khác Các nước thành viên cũng phải thông

báo cho WTO tất cả những thay đằi về quy định điều chỉnh các ngành dịch vụ

thuộc phạm vi điều chinh và là đối tượng của các cam kết cụ thể

Việc ban hành và điều hành thực hiện các quy định, GATS quy định chính

phủ các nước phải điều hành các ngành dịch vụ một cách hợp lý, khách quan và

công bằng GATS không buộc các nước phải dỡ bỏ mọi quy định trong bất cứ ngành

dịch vụ nào Các cam kết tự do hoa không làm phương hại đến quyền được đưa ra

các quy định nhằm theo đuằi bất cứ mục tiêu chung nào m à họ cho là phù hợp

Về vấn đề công nhận hệ thống chất lượng, khi hai hay nhiều chính phủ ký

các hiệp định công nhận hệ thống chất lượng của nhau chẳng hạn trong việc cấp

giấy phép hoặc chứng nhận cho các nhà cung ứng dịch vụ thì GATS quy định họ

phải tạo điều kiện cho các thành viên khác được đàm phán với họ về các thoa thuận

tương tự Việc công nhận hệ thống chất lượng của các nước không được mang tính

phân biệt đối xử hay bảo hộ trá hình Các hiệp định ký kết về việc công nhận này

phải được thông báo cho WTO [Ì 14]

1.2.2.5 Vấn đề tự do hoa từng bước

Vòng đàm phán Uruguay m à nhờ đó GATS đã ra đời mới chỉ là bước khởi

đầu GATS quy định rằng các nước sẽ phải tiến hành những vòng đàm phán mới bắt

đầu từ năm 2000 trong khuôn khằ Chương trình Doha về phát triển nhằm mục tiêu

chính là thúc đẩy hơn nữa tự do hoa bằng cách tăng mức độ cam kết ghi trong các

danh mục

1.2.2.6 Chính sách thương mại về dịch vụ của WTO được quy định dành riêng

cho các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi

GATS cũng quy định các nước thành viên phải dành cho các nước thành viên

khác là các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đằi những đối

xử ưu đãi nhất định thông qua việc dành cho các nước này thời hạn dài hơn để thực hiện các cam kết của mình và tăng cường khả năng thương mại của các nước này bằng cách nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của họ Trong các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ thì các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đầi được mở cửa với lộ trình chậm hơn để các nước này có thời gian tăng cường năng lực cạnh tranh nội địa Điều I V "Tăng cường sự tham gia của các nước đang phát triển" trong GATS yêu cầu các nước thành viên phát triển và các nước thành viên khác trong phạm vi có thể sẽ thành lập những điểm liên lạc để tạo điều kiện tiếp cận thông tin liên quan tới thị trường của các nước đó cho những người cung cấp dịch vụ của các thành viên đang phát triển [121]

1.2.3 Chính sách thương mại liên quan đến Quyền sở hữu Trí tuệ

CSTM liên quan đến QSHTT của WTO được thể hiện thông qua Hiệp định TRIPS

Trước những yêu cầu phát triển mới, TRIPS đã ra đời từ vòng đàm phán Uruguay theo đó, lần đầu tiên những quy định về sở hữu trí tuệ được đưa vào Hệ thống thương mại đa biên Việc xây dựng các quy định thương mại mới trên phạm vi toàn cầu nhằm điều chỉnh QSHTT đã trở thành một phương tiện giúp củng cố trật tự tăng cường khả năng dự báo cũng như giải quyết tranh chấp một cách có hệ thống hơn Mục tiêu của TRIPS là giảm bớt sự khác biệt trong cách thức bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của các nước thành viên và đưa ra các quy định quốc tế chung điều chỉnh

sự bảo hộ này Hiệp định ăn định các mức độ bảo hộ tối thiểu m à m ỗ i quốc gia thành viên phải bảo đảm cho QSHTT của các quốc gia thành viên khác

1.2.3.1 Các nguyên tắc cơ bản

TRIPS cũng dựa trên các nguyên tắc cơ bản là không phân biệt đối xử gồm qui chế tối huệ quốc và đối xử quốc gia đầng thòi bảo hộ sở hữu trí tuệ phải góp phần cải tiến kỹ thuật và chuyển giao công nghệ Bảo hộ sở hữu trí tuệ phải đem lại lợi ích cho người sản xuất cũng như người tiêu dùng, góp phần tăng cường sự phát triển kinh tế - xã hội (nguyên tắc bảo hộ cân bằng)

1.2.3.2 Quy định về bảo hộ quyên sở hữu trí tuệ

Hiệp định TRIPS nêu rõ các nước thành viên của WTO cần phải tuân thủ những điều khoản nghĩa vụ cơ bản của các công ước quốc tế của WIPO (Tầ chức sở

Trang 17

hữu trí tuệ thế giới) đó là: Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp điều chỉnh việc

bảo hộ văn bằng, bản vẽ công nghiệp (phiên bản 1967), Công ước Berne về bảo hộ

quyền tác giả các tác phẩm văn học nghệ thuật (phiên bản 1971), Công ước Rome

(1961) và Hiệp ước Washington về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực mạch tích hợp

(1989)

Các QSHTT thuộc phạm vi điều chỉnh của TRIPS bao gồm: quyền tác giả

(Copyright), nhãn hiệu hàng hoa và nhãn hiệu dểch vụ (Trademarks &

Servicemarks), chỉ dẫn đểa lý (Geographical Indications), bản vẽ và kiểu dáng công

nghiệp (Industrial Designs), bằng sáng chế (Patent), sơ đồ bố trí mạch tích hợp

(Layout designs of Integrated circuits), bảo vệ thông tin bí mật (Trade secrets and

knowhow)

- Quyền tác giả: Các thành viên phải tuân thủ những nghĩa vụ cơ bản của Công

ước Berne (phiên bản Paris 1971) mặc dù họ sẽ không bắt buộc phải bảo hộ các quyền

về mặt đạo đức (moral rights) như theo quy đểnh tại điều 6bis của Công ước này TRIPS

quy đểnh các chương trình máy tính sẽ được bảo vệ như các tác phẩm vãn học theo

Berne

Hiệp đểnh cũng mở rộng phạm vi điều chỉnh của các quy đểnh quốc tế về bản

quyền tác giả đối với quyền thuê lại Tác giả của các chương trình máy tính, các tác

phẩm điện ảnh, các nhà thu âm phải có quyền cấm cho công chúng thuê lại các tác

phẩm của họ Hiệp đểnh cũng quy đểnh người phiên dểch hoặc người biểu diễn phải

có quyền ngăn không cho thu âm, sao chép và phổ biến rộng rãi các hoạt động của

họ nếu không được phép ít nhất là 50 năm Các nhà sản xuất băng đĩa cũng phải có

quyền ngăn không cho sao lại các sản phẩm của họ nếu không được phép trong vòng

50 năm

- Nhãn hiệu hàng hoa hoặc dịch vụ: TRIPS chỉ ra những dấu hiệu cần được

bảo hộ đối với nhãn hiệu/thương hiệu hàng hoa, dểch vụ và những quyển tối thiểu

của chủ sở hữu TRIPS quy đểnh rằng các nhãn hiệu dểch vụ phải được bảo hộ như

nhãn hiệu hàng hoa Đăng ký thương hiệu lần đầu và thời gian mỗi lần gia hạn phải

không dưới 7 năm Đăng ký thương hiệu phải được gia hạn và không giới hạn số lần

gia hạn

- Chỉ dẫn địa lý: Tôn địa danh đôi khi được sử dụng để nhận dạng sản phẩm

Chỉ dẫn địa lý này không những chỉ ra nơi sản phẩm được sản xuất m à đặc biệt nó còn có thể nói lên những đặc tính m à sản phẩm có được nhờ nguọn gốc của nó Những nhà sản xuất rượu vang rượu mạnh đặc biệt coi trọng việc sử dụng các chỉ dẫn địa lý để nhận dạng sản phẩm như thế này

Việc sử dụng tên địa danh khi sản phẩm được sản xuất ở nơi khác hoặc không có được những tính năng vốn có của sản phẩm sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và dẫn tới cạnh tranh không lành mạnh Vì vậy TRIPS quy định rằng các nước thành viên phải ngăn cấm việc sử dụng bừa bãi các tên địa danh để tránh những nguy cơ này Đ ố i vói rượu vang và rượu mạnh, Hiệp định quy định mức bảo

hộ cao hơn, tức là ngay cả khi không có nguy cơ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng Hiệp định cho phép một số ngoại lệ, đặc biệt khi tên địa danh đã được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu hàng hoa hoặc thương hiệu hoặc khi nó đã trở thành tên chung

Ví dụ từ "cheddar" ngày nay được sử dụng để chỉ một loại phomát đặc biệt không nhất thiết phải được sản xuất ở vùng Cheddar của Anh Tuy nhiên nước nào muốn nêu ngoại lệ vì những lý do này đều phải tiến hành đàm phán với những nước cũng muốn bảo hộ chỉ dẫn địa lý đó

Hiệp định quy định việc phải tiếp tục các cuộc đàm phán mới tại WTO nhằm tạo lập một hệ thống đa phương về thông báo và đăng ký các chỉ dẫn địa lý đối với rượu vang và rượu mạnh thuộc Chương trình Doha về phát triển đọng thời xem xét việc mở rộng mức độ bảo hộ cao của rượu vang và rượu mạnh sang các sản phẩm khác

- Bản vẽ và kiểu dáng công nghiệp: Theo TRIPS, các bản vẽ và kiểu dáng

công nghiệp phải được bảo hộ ít nhất trong vòng l o năm Chủ sở hữu các bản vẽ được bảo hộ phải có quyền ngăn cấm việc sản xuất, bán hoặc nhập khẩu các sản phẩm mang hoặc có chứa hình vẽ giống với hình vẽ hoặc kiểu dáng đã được bảo hộ

- Bằng phát minh sáng chế: Hiệp định TRIPS quy định các sáng chế (gọm cả

sản phẩm và quy trình sản xuất trong hầu hết các lĩnh vực công nghệ) có thè được bảo hộ thông qua bằng sáng chế trong vòng ít nhất 20 năm Chính phủ các nước thành viên có thể từ chối cấp bằng sáng chế nếu việc khai thác kinh doanh chúng bị cấm vì vi phạm trật tự công cộng hoặc đạo đức Họ cũng có thể không cấp bằng cho

Trang 18

các phương pháp chẩn đoán, điều trị và phẫu thuật, cho các loại thực vật và động vật

(không phải vi sinh vật) và cho các quy trình sinh học cơ bản để sản xuất giống cây

và vật nuôi (không phải là bằng các phương pháp vi sinh) Tuy nhiên các giống cây

lại cần phải được bảo hộ thông qua các bằng phát minh hoặc bằng một hớ thống đặc

biớt như hớ thống bảo vớ quyền của người được cấp phép được quy định trong các

công ước của Liên minh quốc tế bảo hộ giống cây trồng

Hiớp định cũng quy định một số ngoại lớ Trên thực tế có thể xảy ra trường

hợp người sở hữu bằng sáng chế lạm dụng các quyền của mình như không cung ứng

sản phẩm cho thị trường Trong trường hợp đó, Hiớp định quy định rằng các nước có

thể cấp "giấy phép bắt buộc" (compulsory licensing) cho phép một đối thủ cạnh

tranh được sản xuất sản phẩm này hoặc được phép sử dụng quy trình sản xuất đã

được bảo hộ Nếu quy trình sản xuất là đối tượng được cấp bằng sáng chế thì các sản

phẩm được sản xuất trực tiếp bằng quy trình cũng được bảo hộ

- Sơ đồ bố trí mạch tích hợp: TRIPS quy định các thành viên phải thực hiớn

bảo hộ đối với lĩnh vực này trên cơ sở Hiớp định Washington về QSHTT trong lĩnh

vực mạch tích hợp Viớc bảo hộ phải được thực hiớn trong thòi gian tối thiểu là l o

năm

- Thông tin mật và bí quyết thương mại: Bí quyết thương mại và các loại

thông tin mật khác có giá trị thương mại phải được bảo vớ nhằm ngăn chặn viớc lạm

dụng lòng tin và các hành vi khác trái với nguyên tắc làm ăn trung thực Nếu được

cung cấp các kết quả thử nghiớm trong quá trình cấp phép dược phẩm hoặc sản

phẩm hoa học phục vụ nông nghiớp thì chính phủ phải bảo vớ các kết quả này nhằm

ngăn ngừa viớc khai thác thương mại bất hợp pháp

Phần cuối cùng trong Phần l i của Hiớp định đề cập đến những hành vi chống

cạnh tranh trong hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu trí tuớ (Anti-competitve

practices in contractual practices) Chủ sở hữu bản quyền tác giả, văn bằng hoặc bất

cứ QSHTT nào khác đều có thể cho phép một người sản xuất hay sao chép nhãn hiớu

hàng hoa hoặc thương hiớu, tác phẩm, sáng chế, bản vẽ hoặc các mâu m ã được bảo

hộ Hiớp định quy định chính phủ các nước, trong một số điều kiớn nhất định có

quyền áp dụng các biớn pháp nhằm ngăn ngừa hành vi phản cạnh tranh và lạm dụng

QSHTT trong lĩnh vực nhượng bản quyền Hiệp định cũng quy định chính phủ các nước phải sẵn sàng tham khảo nhau nhằm chống lại các hành vi này

1.2.3.3 Phương thức đảm bảo Quyền sỏ hữu trí tuệ

Phần thứ ba của Hiệp định TRIPS quy định phương thức đảm bảo cho những quy định về bảo hộ QSHTT được tuân thủ một cách chặt chẽ TRIPS quy định rằng chính phủ các nước phải làm sao đử luật pháp nước mình bảo hộ được QSHTT và các trường hợp vi phạm phải bị xử phạt nghiêm Các thủ tục áp dụng phải hợp pháp, công bằng, không được phức tạp và tốn kém một cách không cần thiết và không được đề ra thời hạn hoặc gây chậm trễ một cách vô lý Những người có liên quan phải được phép yêu cầu toa án xem xét lại một quyết định hành chính hoặc khiếu nại một bản án của toàn cấp dưới

CSTM vẻ QSHTT được Hiệp định TRIPS m ô tả chi tiết thông qua các công

cụ bảo đảm QSHTT, đặc biệt là các quy định liên quan tới việc thu thập chứng cứ, các biện pháp tạm thời, mệnh lệnh của toa án, các khoản bồi thường thiệt hại và các biện pháp xử phạt khác Trong một số điều kiện nhất định, toa án phải có quyền ra lệnh đưa ra khỏi hệ thống phân phối hoặc tiêu huy các loại hàng giả, hàng nhái Các hành v i cố ý làm giả, nhái nhãn mác hoặc thương hiệu trong kinh doanh, gây phương hại tới quyền tác giả phải bị coi là hành vi phạm tội mang tính hình sự Chính phủ các nước phải làm sao đử người nắm giữ QSHTT được các cơ quan hải quan hỗ trợ nhằm ngăn không cho hàng giả, hàng nhái bị nhập khẩu vào lãnh thổ quốc gia

1.2.3.4 Vấn đề chuyển giao công nghệ

Các nước, đặc biệt là các nước đang phát triửn cho rằng chuyên giao công nghệ là một phần của thị trường trong đó họ thoa thuận bảo hộ các QSHTT Hiệp định TRIPS có một số điều khoản quy định về vái đề này Hiệp định quy định chính phủ các nước phát triửn khuyến khích các doanh nghiệp nước mình chuyửn giao công nghệ cho các nước kém phát triửn hơn

1.2.3.5 Chính sách thương mại về Quyền sở hữu trí tuệ dược WTO quy định dành riêng cho các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi

Khi các Hiệp định của WTO bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1/1/1995, các nước đang phát triửn và các nước có nền kinh tế chuyửn đổi có 5 năm đử thực hiện việc

Trang 19

điều chỉnh hệ thống luật pháp và thực tiễn thực hiện của mình, tức là từ 1995 đến

2000 Những nước đang phát triển nào chưa có quy định bảo hộ bằng phát minh

sáng chế trong một lĩnh vực công nghệ nào đó sẽ có thọi hạn 10 năm để thông qua

các quy định như vậy (từ 1995 đến 2005) N ă m 2000 và năm 2001, Uỷ ban TRIPS

của WTO đã xem xét lại hệ thống pháp lý của 65 nước đang phát triển sau khi giai

đoạn chuyển tiếp của họ hết hạn vào 31/12/1999 Giai đoạn chuyển tiếp nói chung

chỉ áp dụng cho những thành viên ban đầu của WTO, có nghĩa là những chính phủ

là thành viên của WTO vào 1/1/1995 Kể từ khi WTO ra đòi đã có thêm một số nước

gia nhập mới Các nước này nói chung đã đồng ý trong Thoa thuận thành viên hay

Hiệp định gia nhập rằng sẽ áp dụng TRIPS từ ngày họ chính thức trở thành thành

viên của WTO chứ không hưởng ưu đãi từ giai đoạn chuyển tiếp [122]

Nhằm thực thi có hiệu quả TRIPS, các nước phát triển có nghĩa vụ hỗ trợ kỹ

thuật và tài chính cho các nước đang phát triển về bảo hộ và thực thi chính sách đối

với Q S H T L

Về phía các nước đang phát triển, số lượng QSHTT m à các nước này vốn có

rất ít, về cơ bản không thể so sánh được với các nước phát triển Do đó, trong quá

trình tiếp nhận và thực thi TRIPS, các nước đang phát triển chắc chắn sẽ gặp phải rất

nhiều khó khăn Tuy nhiên, TRIPS là một Hiệp định quốc tế có vai trò ràng buộc đối

với các nước đang phát triển và các nước phát triển Nhọ có Hiệp định này các nước

phát triển sẽ không thể thực hiện trả đũa đơn phương một cách vô nguyên tắc và vô

lý như trước đây Do đó, TRIPS có thể coi là một Hiệp định đã có những qui định

nhất định khi đưa ra CSTM theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các nước đang

phát triển

Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM

2.1 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CSTM HÀNG HOA CỦA VIỆT NAM 2.1.1 Những kết quả trong điều chỉnh chính sách thương mại hàng hoa

2.1.1.1 Đối với chính sách thuế quan

- Những điều chỉnh trong Luật thuế xuất nhập khẩu và các quy định về thuế quan

Nhận thức được xu hướng quốc tế hoa, toàn cầu hoa của kinh tế thế giới cũng như những lợi ích từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã không ngừng đổi mới, điều chỉnh để hoàn thiện chính sách trong đó có chính sách thuế quan theo hướng phù hợp dần từng bước với thông lệ thương mại quốc tế nói chung và những quy đồnh của WTO nói riêng

Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng mậu dồch được Quốc hội khoa V U I thông qua ngày 29/12/1987 đã đánh dấu bước đổi mới đầu tiên trong chính sách thuế quan của Việt Nam Biểu thuế gồm hai mức: mức thuế suất tối thiểu

áp dụng với hàng hoa xuất nhập khẩu với các nước là thành viên của hội đồng tương trợ kinh tế, hoặc đối với Lào và Campuchia và mức thuế suất phổ thông áp dụng đối với hàng hoa xuất nhập khẩu với các nước khác [62], [79]

Ngày 26/12/1991, Quốc hội đã thông qua Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (có hiệu lực từ 1/3/1992) thay thế cho Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dồch năm 1988 Luật này quy đồnh thuế suất gồm thuế suất thông thường

và thuế suất ưu đãi trong đó thuế suất thông thuồng được quy đồnh trong Biểu thuế còn thuế suất ưu đãi được tính bằng 7 0 % thuế suất thông thường áp dụng đối với hàng hoa xuất nhập khẩu theo các Hiệp đồnh thương mại đã ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và nước ngoài trong đó có điều khoản ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu cho từng mặt hàng với số lượng cụ thể; đối với hàng xuất khẩu phải là hàng sản xuất tại Việt Nam [8], [80] Luật thuế 1992 đã thay hai khái niệm thuế suất tối thiểu và thuế suất phổ thông của Luật thuế 1988 thành hai khái niệm thuế suất ưu đãi và thuế suất thông thường với những nội hàm không giống nhau Tuy nhiên, Luật thuế năm 1992 chưa đề cập đến khái niệm về thuế suất tối huệ quốc (MFN) nhưng có thể hiểu thuế suất ưu đãi là tương đương thuế suất MFN

Trang 20

Sau khi Việt Nam nộp đơn gia nhập WTO vào ngày 4/1/1995, cùng với sự ra

đời, sửa đổi của nhiều văn bản pháp luật khác, Việt Nam cũng đã ban hành Luật sửa

đổi bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1992 ký ngày

1/6/1998 và có hiệu lực từ ngày 1/1/1999 Luật này đã sửa đổi, bổ sung cho các điều

khoản số 9,11,16,17 và 20 của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1992 Theo

Luật này, Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của Việt Nam được chia làm 3 cột:

cột thuế suất thông thường, thuế suất ưu đãi và thuế suất đạc biệt ưu đãi Thuế suất

thông thường áp dụng cho hàng hoa nhập khẩu có xuất xứ từ nước không có thoa

thuận đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam, cao hơn không

quá 7 0 % so vói thuế suất ưu đãi của từng mạt hàng tương ứng do Chính phủ quy

định Thuế suất ưu đãi áp dụng cho hàng hoa nhập khẩu từ nước có thoa thuận đối

xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam Thuế suất ưu đãi đạc biệt

áp dụng cho hàng hoa nhập khẩu có xuất xứ từ nước m à Việt Nam và nước đó đã có

thoa thuận ưu đãi đạc biệt về thuế nhập khẩu do Chính phủ quy định [40], [63], [83]

Vói Luật sửa đổi này, Việt Nam đã điều chỉnh và hoàn thiện biểu thuế quan

mói theo HS 8 số và được áp dụng từ 1/1/1999 Danh mục hàng hoa xuất nhập khẩu

của Việt Nam có m ã 8 chữ số được xây dựng trên cơ sở Danh mục hài hoa HS của

Hội đồng Hải quan Thế giới trong đó hoàn toàn thống nhất với danh mục HS đến 6

chữ số; hai chữ số cuối được mở thêm để chi tiết hàng hoa xuất khẩu, nhập khẩu của

Việt Nam Có thể nói đây là một sự điều chỉnh rất cơ bản trong chính sách thuế

quan của Việt Nam, góp phần đưa Việt Nam tiếp cận dần vói hệ thống thương mại

quốc tế của WTO Ngoài ra, Luật sửa đổi ban hành ngày 1/6/1998 cũng đã bắt đầu

đề cập đến quy tắc bảo hộ phòng ngừa bất trắc như quy định của WTO, mạc dù việc

đề cập còn đơn giản và chưa được chi tiết hoa đối với hành động bán phá giá và

hành động phân biệt đối xử với hàng hoa của Việt Nam

Gần đây Việt Nam cũng đã rất tích cực mở rộng quan hệ hợp tác thương mại

với nhiều nước trên thế giới Tính tới tháng 3/2005, Việt Nam đã có thoa thuận đối

xử tối huệ quốc với 89 nước/vùng lãnh thổ/liên minh thuế quan Đồng thời Việt

Nam cũng có thoa thuận ưu đãi đạc biệt trong quan hệ thương mại với l o nước trong

đó 9 nước thuộc khối ASEAN và Cộng hoa nhàn dân Trung Hoa [33]

- Thực hiện cắt giảm thuế quan

Có thể nói việc thực hiện cắt giảm thuế quan theo CEPT là bước tập dượt nhiều ý nghĩa trên con đường điều chỉnh chính sách thuế quan để gia nhập WTO của Việt Nam Gia nhập ASEAN cùng năm với năm nộp đơn gia nhập WTO, Việt Nam

đã có cơ hội để tập dượt việc thực hiện cam kết cắt giảm thuế quan trong một phạm

vi nhỏ là các nước ASEAN cũng như được rèn luyện với những thách thức do giảm bớt bảo hộ (do giảm thuế suịt) trong cuộc cạnh tranh vói hàng hoa các nước ASEAN khi thuế quan được cắt giảm cũng như công cuộc kiện toàn CSTM theo hướng minh bạch hoa khi đi vào thực hiện các cam kết nhằm rút ra những kinh nghiệm quý báu chuẩn bị cho công cuộc thực hiện các cam kết về cắt giảm thuế sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO

Sau khi được Uy ban Thường vụ Quốc hội Khóa I X chịp nhận đề án giảm thuế nhập khẩu của Việt Nam để thực hiện Hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT), Chính phủ đã ban hành các Nghị định công bố Danh mục các mặt hàng nhập khẩu và thuế suịt thực hiện cắt giảm theo l ộ trình đã cam kết Danh mục các mặt hàng thực hiện cắt giảm thuế theo CEPT được ban hành kèm theo Nghị định số 78/2003/NĐ-CP ngày 1/7/2003 và Thông tư số 64/2003/TT-BTC ngày 1/7/2003 trong đó đưa ra 10.175 dòng thuế tính theo m ã HS 8 số được cắt giảm thuế suịt chỉ còn 0-5% vào năm 2006 [ l i ] , [48], [53]

Nghị định số 213/2004/NĐ-CP ngày 24/12/2004 đã bổ sung thêm 19 dòng thuế vào Danh mục thực hiện cắt giảm thuế, nâng tổng dòng thuế đưa vào cắt giảm lên 10.194 dòng thuế [55] N ă m 2005, Chính phủ đã thông qua Nghị định số 13/2005/NĐ-CP ngày 3/2/2005 bổ sung thêm 117 dòng thuế có l ộ trình cắt giảm còn 0-5% vào năm 2013, nâng tổng số dòng thuế được cắt giảm lên 10.311 dòng thuế Các dòng thuế này chủ yếu là các dòng thuế hiện nay có mức thuế suịt nhập khẩu rịt cao (40-50%) thuộc các chương 1,2,6,8,16,22,26,85,97 Chẳng hạn, mặt hàng áp m ã 1601 00 11 (xúc xích làm từ thịt lợn) hiện có thuế suịt là 5 0 % đã được xây dựng l ộ trình cắt giảm từ 2005-2013 là: 50%-50%-40%-40%-30%-30%-20%-

1 0 % - 5 % [56], [93]

Một trong những Hiệp định thương mại song phương lớn nhịt và có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế thương mại của Việt Nam đó là Hiệp định thương mại

Trang 21

Việt - M ỹ có hiệu lực từ ngày 10/12/2001 Hiệp định này chính là căn cứ để điều

chỉnh một bước nữa chính sách thuế quan nói riêng để có thể sớm gia nhập WTO vì

Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ chủ yếu dựa trên những nguyên tắc và quy định

của WTO Do M ỹ công nhận Việt Nam là nước đang phát triển có trình độ phát

triển thấp nên hàng hoa của Mỹ nhập khợu vào Việt Nam, từng bước một, vẫn phải

chịu thuế suất cao, sau đó mới được hưởng mức thuế suất thấp hơn; còn hàng hoa

của Việt Nam vào Mỹ được hưởng ngay mức thuế suất thấp từ 0-3% hoặc 5% tuy

mặt hàng [58]

Về việc thực thi, trong năm 2004, Bộ Tài Chính đã hoàn tất việc xây dựng

biểu thuế với hàng hoa nhập khợu từ Mỹ và trình Chính phủ ký để đàm phán Xuất

khợu của Việt Nam sang thị trường Mỹ đã tăng 4,2 tỷ USD (từ 800 triệu USD năm

2001 lên 5 tỷ USD năm 2004) trong 03 năm M ỹ nhanh chóng trở thành thị trường

xuất khợu lớn nhất của Việt Nam, vượt Nhật Bản năm 2002 và bằng k i m ngạch của

25 nước EU cộng lại [61] Với chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Phan Vãn

Khải tháng 6/2005 này, chắc chắn kim ngạch xuất khợu hàng hoa của Việt Nam

sang M ỹ sẽ có nhiều triển vọng tích cực

2.1.1.2 Đối với các chính sách phi thuế quan

- Các biện pháp hạn chế định lượng

Trong giai đoạn đầu của quá trình đổi mới, các biện pháp giấy phép và hạn

ngạch được sử dụng tương đối phổ biến nhằm kiểm soát các hoạt động thương mại

phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và điều kiện mới mở cửa nền kinh tế đất nước

Các năm 1994 và 1995 có thể coi là những điểm mốc quan trọng khi Việt Nam thực

hiện một loạt những điều chỉnh trong chính sách phi thuế quan quan trọng, khai

thông cho dòng chảy thương mại hàng hoa hội nhập với thị trường quốc tế N ă m

1994, giấy phép chuyến đã được dỡ bỏ đối với mọi mặt hàng (trừ gạo, gỗ xẻ và xăng

dầu) Tiếp đó, Chính phủ đã ký Nghị định số 89/CP ngày 15/12/1995 về việc bãi bỏ

thủ tục cấp giấy phép chuyến đối với một loạt các hàng hoa xuất nhập khợu [35],

[112] Chỉ còn lại một số mặt hàng quan trọng và thiết yếu đối với nền kinh tế quốc

dân vẫn được bảo hộ theo Giấy phép của Bộ Thương mại và các Bộ chuyên ngành

Ngày 4/4/2001, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg về

cơ chế điều hành hoạt động xuất nhập khợu cho cả giai đoạn 2001-2005 mang tính

tổng thể hơn chứ không ra quyết định cho từng năm như thời kỳ từ 2000 trở về trước Trong giai đoạn 2001-2005, các mặt hàng xuất khẩu cần có giấy phép của Bộ Thương mại đã đưệc giảm bót, chỉ còn hàng dệt may (hạn ngạch do nước ngoài quy định) và hàng cần kiểm soát xuất khẩu theo quy định tại điều ước quốc tế m à Việt Nam ký kết hoặc tham gia do Bộ Thương mại công bố cho từng thời kỳ và 8 loại mặt hàng nhập khẩu Trong số 8 mặt hàng nhập khẩu thì chỉ có hàng cần kiểm soát nhập khẩu theo quy định của điều ước quốc tế m à Việt Nam ký kết hoặc tham gia do Bộ Thương mại công bố cho từng thời kỳ, mặt hàng đường tinh luyện, đường thô phải

có giấy phép cho cả giai đoạn 2001-2005, các mặt hàng như kính, thép xây dựng, dầu thực vật tinh chế dạng lỏng thì giấy phép đưệc bãi bỏ sau ngày 31/12/2001; các mặt hàng xi măng portland đen và trăng, xe hai/ba bánh gắn máy, bộ linh kiện, máy

và khung xe, phương tiện vận chuyển hành khách dưới 9 chỗ ngồi, giấy phép đưệc bãi bỏ sau 31/12/2002 [102]

Trong nỗ lực để gia nhập WTO, ngày 2/3/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 41/2005/QĐ-TTg ban hành Quy chế về cấp phép nhập khẩu hàng hoa Hiện nay, Quy chế này chưa đi vào thực hiện m à sẽ có hiệu lực sau 6 tháng, tức

là kể từ ngày 1/9/2005, nhằm mục đích có thời gian cần thiết để các Bộ hữu quan trong quản lý nhập khẩu hàng hoa rà soát và điều chỉnh các chính sách cụ thể thuộc phạm vi ban hành cho phù hệp với Quy chế mới Quy chế cấp phép nhập khẩu mói nhất này có những nội dung rất sát với các quy định của WTO về cấp phép và có thể coi là một bước điều chỉnh đáng kể khi ngày dự kiến gia nhập WTO đang tói gần

Về cơ chế quản lý bằng hạn ngạch, Việt Nam đã có những cải cách lớn trong những năm 1994, 1995 Hạn ngạch chỉ áp dụng đối với những mặt hàng m à Việt Nam có cam kết theo hiệp định thương mại với nước ngoài cụ thể là hàng dệt may xuất khẩu sang EU, Canada, Nauy và hàng sắn lát xuất sang EU Còn lại các mặt hàng xuất nhập khẩu khác không sử dụng chế độ hạn ngạch m à mềm dẻo hơn, đưệc gọi là các mặt hàng "xuất nhập khẩu theo kế hoạch định hướng" gồm 3 mặt hàng xuất khẩu (gạo, dầu thô, sản phẩm làm từ gỗ, song) và 15 mặt hàng nhập khẩu (xăng dầu trừ dầu nhờn, phân bón Ưre và Đ Á P , thép, x i măng đen, vật liệu nổ, sệi, vải m à trong nước chưa sản xuất đưệc hoặc sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu, bao đay, giấy, nguyên phụ liệu sản xuất thuốc lá điếu, đường ăn, sữa, hàng điện tử và linh

Trang 22

kiện, xe hai bánh gắn máy và linh kiện, ô tô dưới 12 chỗ ngồi và linh kiện Các mặt

hàng trên là những mặt hàng có quan hệ đến các cân đối lớn của nền kinh tế nên

được quản lý Nhà nước bằng cách chỉ định một số doanh nghiệp đầu mối có năng

lục đảm nhận [19], [94], [95]

Từ năm 1995, Việt Nam chỉ còn áp dụng quản lý bằng hạn ngạch đối vói

một mặt hàng là hàng dệt may xuất khẩu sang Nauy, Canada, EU, sau khi bình

thường hoa quan hệ thương mại với Hoa Kỳ có thêm hàng dệt may xuất sang Hoa

Kỳ Đầu năm 2005, EU và Canada cũng đã dỡ bỏ hạn ngạch dệt may cho Việt Nam

Đ ố i với hàng hoa xuất nhập khẩu quản lý theo kế hoạch định hướng chỉ hàng xuất

khẩu từ 3 mặt hàng giảm xuống còn Ì mặt hàng là gạo, hàng nhập khẩu từ 15 mặt

hàng giảm xuống còn 7 mặt hàng là xăng dầu, thép, x i măng, phân bón, đường, ôtô

12 chỗ ngồi, xe hai bánh gắn máy [96], [97], [98], [99], [100], [ l o i ]

Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 4/4/2001 đã bãi bỏ cơ chế giao chỉ tiêu

hạn ngạch đối với xuất khẩu gạo Đ ố i với các sản phẩm gỗ, bãi bỏ việc phê duyệt và

phân bổ hạn mức gỗ rừng tụ nhiên để sản xuất sản phẩm gỗ xuất khẩu M ọ i dạng

sản phẩm gỗ đều được phép xuất khẩu trừ gỗ tròn gỗ xẻ khai thác từ rừng tụ nhiên

trong nước Hiện nay Việt Nam chỉ áp dụng cơ chế hạn ngạch xuất khẩu đối với

hàng dệt may Quyết định này cũng bãi bỏ cơ chế giao hạn ngạch nhập khẩu phân

bón và quy định doanh nghiệp đầu mối kinh doanh nhập khẩu phân bón Việc nhập

khẩu xăng dầu nguyên liệu vẫn được quy định hạn mức nhập khẩu; hạn mức này

được giao cho các doanh nghiệp chuyên doanh thục hiện

Ngày 24/12/2001, Chính phủ đã có công văn số 1160/CP-KTTH về việc lần

đẩu thí điểm áp dụng hạn ngạch thuế quan Theo công văn này, Việt Nam sẽ áp

dụng thí điểm hạn ngạch thuế quan đối với 3 mặt hàng là muối, thuốc lá và bông từ

1/7/2003 Đây cũng là sụ điều chỉnh từng bước để Việt Nam có thể thích ứng vói cơ

chế quản lý nhập khẩu của thương mại quốc tế Kể từ 1/1/2004, Việt Nam tiếp tục

áp dụng hạn ngạch với sữa nguyên liệu, chưa cô đặc (nhóm 0401), sữa nguyên liệu,

cô đặc (nhóm 0402), trứng gia cầm, ngô hạt (4 mặt hàng này là lượng hạn ngạch cấp

theo nhu cẩu), tổng cộng có 7 mặt hàng [28], [31] Tuy nhiên trong quá trình đàm

phán song phương với các đối tác trong quá trình gia nhập WTO, Bộ Thương mại đã

có kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ về việc bãi bỏ chế độ hạn ngạch thuế quan

đối với một số mặt hàng chủ lực của các đối tác đang đàm phán là sữa, bông và ngô hạt Vì vậy, từ 1/4/2005, Việt Nam đã quyết định bãi bỏ hạn ngạch thuế quan đối với sữa, bông và ngô hạt theo Quyết định 46/2005/QĐ-TTg ngày 3/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ (kèm theo là Thông tư 04/2005/TT-BTM ngày 24/3/2005 và Quyết định số 16/2005/QĐ-BTC ngày 28/3/2005 của Bộ Tài chính [18], [34], [108] Như vậy cho đến nay số lượng các mặt hàng chịu sự điều chỉnh của hạn ngạch thuế quan

là 3 mặt hàng gồm muối, thuốc lá và trấng gia cầm

- Các biện pháp phi thuế quan khác

+ Phu thu Phụ thu là phần thu thêm tính theo % đánh vào hàng hoa xuất nhập khẩu ngoài phần thuế nhập khẩu đã phải nộp theo quy định Giá tính phụ thu xuất nhập khẩu là giá tính thuế, thường là giá FOB ở cảng đi đối với hàng xuất khẩu, giá CIF ở cảng đến đối với hàng nhập khẩu Trong thời gian từ năm 1999 đến tháng 4/2005, Việt Nam đã thực hiện điều chỉnh hoặc bãi bỏ phụ thu đối với nhiều mặt hàng xuất nhập khẩu, có thể kể đến như sau: bãi bỏ đối vói phân bón Đ Á P nhập khẩu, phân bón NPK nhập khẩu, sửa đổi mấc thu chênh lệch giá xuất khẩu mủ cao su nguyên liệu chưa qua sơ chế xuống còn 10%, bãi bỏ phụ thu đối vói bột và hạt nhựa PVC nhập khẩu, bãi bỏ phụ thu thép ống hạn nhập khẩu [2], [3], [10], [16], [17] + Các biên pháp quản lý giá

Các biện pháp quản lý giá đối với hàng nhập khẩu nhằm mục đích chống lại

sự gian lận về giá tính thuế trong khai báo Hải quan Trong một thời gian dài, Việt Nam đã sử dụng Bảng giá tối thiểu đối với một loạt các mặt hàng nhập khẩu (đối với mặt hàng thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì do Bộ Tài chính ban hành, đối với mặt hàng không thuộc diện Nhà nước quản lý giá hoặc nhập khẩu theo phương thấc không phải mua bán như phi mậu dịch, hàng quà biếu thì do Tổng cục Hải quan ban hành)

Đ ố i với những mặt hàng nhập khẩu thuộc diện Nhà nước quản lý giá tính thuế có 2 trường họp: Trường hợp giá ghi trên hợp đồng phù hợp với các chấng từ hợp lệ có liên quan đến việc mua bán hàng hoa bằng hoặc cao hơn giá quy định tại bảng giá tối thiểu thì áp dụng giá trên hợp đồng ngoại thương (quy đổi giá en7 địa điểm đến) Nếu giá ghi trên hợp đổng thấp hơn so với giá tại bảng giá tối thiểu quy

Trang 23

định hoặc nhập khẩu theo phương thức khác không phải mua bán thì áp giá theo

bảng giá tối thiểu Trường hợp hàng hoa không thuộc Danh mục Nhà nước quản lý

giá tính thuế cũng có hai trường hợp: nếu đủ điều kiện áp giá theo hợp đồng áp giá

tính thuế theo giá ghi trên hợp đồng Trường hợp không đủ điều kiện áp giá theo

Hợp đồng hoặc nhập khẩu theo phương thức khác không phải mua bán hoặc không

thanh toán qua Ngân hàng thì áp giá theo bảng giá tối thiểu do Tỉng cục Hải quan

ban hành Nếu đủ điều kiện áp giá theo hợp đồng nhưng giá trên Hợp đồng quá thấp,

thấp hơn 7 0 % so với giá quy định tại bảng giá tối thiểu của Tỉng cục Hải quan thì

áp theo giá t ố i thiểu tại bảng giá của Tỉng cục Hải quan [9], [113]

Trong tiến trình điều chỉnh chính sách để gia nhập WTO, ngày 6/6/2002,

Chính phủ đã ra Nghị định số 60/2002/NĐ-CP về việc xác định trị giá tính thuế theo

nguyên tắc của Hiệp định ACV Trong Nghị định này cũng nêu rõ (tại Chương l i )

các phương pháp xác định trị giá tính thuế theo những phương pháp đã được quy

định tại Hiệp định trị giá GATT m à phương pháp quan trọng nhất là tính theo trị giá

giao dịch [46] K h i các doanh nghiệp có lô hàng nhập khẩu thuộc đối tượng của

Nghị định 60 thì phải khai vào mẫu biểu trị giá tính thuế theo trị giá giao dịch (giá

mua hàng, chi phí vận chuyển, bảo hiểm, các chi phí khác.) và xác định một số

điều kiện trên mẫu biểu nhằm chứng minh trị giá giao dịch khai báo là hợp lý Tính

đến tháng 9/2004, Việt Nam đã có cam kết thực hiện trị giá tính thuế theo G A T T với

37 nước, vùng lãnh thỉ, khối liên minh quốc gia [ 12], [13], [14], [15] Mặc dù việc

thực hiện trị giá GATT trong thực tế còn gặp nhiều bỡ ngỡ ban đầu, song điều này

cho thấy những điều chỉnh lớn trong nỗ lực gia nhập WTO

Ngày 29-4-2004, Pháp lệnh về Chống bán phá giá hàng hoa nhập khẩu vào

Việt Nam đã được ban hành (Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11) Pháp lệnh này

đã thể hiện sự điều chỉnh quan trọng trong CSTM Việt Nam trước những đòi hỏi mới

của thương mại quốc tế [Ì 19]

- Điều chỉnh chính sách về quyền kinh doanh xuất nhập khẩu

Ngày 31/7/1997, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 57/1998/NĐ-CP quy

định chi tiết thi hành Luật thương mại Việt Nam năm 1997 theo đó xoa bỏ cơ chế

độc quyền kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp của các Doanh nghiệp Nhà nước,

cũng như xoa bỏ cơ chế giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu m à thay vào đó, mọi

doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được đều có quyền kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp hàng hoa thuộc lĩnh vực đã đăng ký trong Giấy đăng ký kinh doanh Doanh nghiệp chỉ cẩn đăng ký m ã số kinh doanh xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương [39] Đây là sự điều chỉnh CSTM cơ bản theo hướng tạo sự cạnh tranh lành mạnh theo qui định của WTO

N ă m 2001, Chính phủ đã bãi bằ cơ chế phân giao hạn ngạch và chỉ định doanh nghiệp đầu mối đối với xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón Hiện nay chỉ

có mặt hàng xăng đầu là vẫn được Nhà nước chỉ định các doanh nghiệp chuyên doanh thực hiện Đầu năm 2005, Chính phủ cũng đang xem xét việc bãi bằ quy định phê duyệt kế hoạch nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm tạo điều kiện thông thoáng về quyền tự quyết trong thương mại hàng hoa cho các doanh nghiệp này

- Ban hành Pháp lệnh vế chế độ Đãi ngộ Tối huệ quốc, chế độ đối xử quốc gia và Pháp lệnh về Quyền tự vệ trong thương mại hàng hoa

Song song với những nỗ lực lớn trong điều chỉnh chính sách thuế quan và phi thuế quan, ngày 25/5/2002, U y ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh về

Đ ố i xử Tối huệ quốc và Đ ố i xử quốc gia số 41/2002/PL-UBTVQH10 về cơ bản, các khái niệm, phạm vi áp dụng và ngoại lệ trong Pháp lệnh là phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của WTO Việc ban hành Pháp lệnh này đã góp phần nâng cao tính minh bạch, rõ ràng, ổn định của hệ thống CSTM của Việt Nam và giúp tạo niềm tin giữa Việt Nam với các đối tác trong quan hệ thương mại quốc tế [116]

Ngày 25/5/2002, U y ban Thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành Pháp lệnh về

tự vệ trong nhập khẩu hàng hoa với nước ngoài tại Việt Nam số UBTVQH10 Nghị định số 150/2003/NĐ-CP ngày 8/12/2003 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này đã cụ thể hoa các biện pháp tự vệ gồm tăng mức thuế nhập khẩu so với mức thuế nhập khẩu hiện hành, áp dụng hạn ngạch nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan, thuế tuyệt đối, cấp phép nhập khẩu để kiểm soát nhập khẩu, phụ thu đối vói hàng hoa nhập khẩu và các biện pháp khác [49]

42/2002/PL-Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 99/2005/QĐ-TTG ngày 9/5/2005 về việc thành lập Phòng thông báo và điểm hằi đáp quốc gia về vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật Việt Nam, gọi tắt là văn phòng SPS Việt Nam

Trang 24

nhằm giúp Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn làm đầu mối thực hiện các nghĩa

vụ minh bạch hoa theo yêu cầu của Hiệp định SPS của WTO; thông báo và hỏi đáp

các nội dung, quy định về vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật [HO]

Ngày 26/5/2005, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 117/2005/QĐ-TTG

về việc thành lập và ban hành quy chế tổ chỗc và hoạt động của mạng lưới cơ quan

thông báo và điểm hỏi đáp của Việt Nam về hàng rào kỹ thuật trong thương mại đáp

ỗng yêu cầu của WTO trong việc thực hiện Hiệp định TBT [ I U ]

2.1.2 Những bất cập, tồn tại và nguyên nhân

2.1.2.1 Những điểm chưa phù hợp so với các quy định của WTO

Bênh cạnh những nỗ lực trong việc điều chỉnh CSTM của Việt Nam nói trên,

trong lĩnh vực thương mại hàng hoa, CSTM của Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập,

chưa phù hợp với CSTM của WTO Những bất cập đó là:

- Các qui định trong CSTM hàng hoa của Việt Nam còn rất phức tạp

Trong chính sách thuế (thuế quan và các loại thuế nội địa có liên quan đến

yếu tố thương mại quốc tế về hàng hoa), mặc dù trong các Luật thuế đã có những

quy định về mỗc thuế suất, biểu thuế, các trường hợp miễn, giảm theo chính sách ưu

đãi của Nhà nước nhưng nó cũng được quy định trong rất nhiều các Nghị định, Chỉ

thị, văn bản hướng dẫn liên quan đến thuế, khiến cho cơ cấu thuế trở nên phỗc tạp,

trùng lắp, chưa minh bạch, dễ dẫn đến việc hiểu sai và do đó sẽ áp dụng sai, gây

thiệt hại kinh tế cho cả doanh nghiệp lẫn Nhà nước

Việc xác định tính chất mạt hàng để áp m ã và áp thuế luôn là vấn đề gây

nhiều tranh cãi khi làm thủ tục Hải quan giữa Doanh nghiệp và cơ quan Hải quan

cũng như giữa các cán bộ Hải quan Chẳng hạn, mặt hàng sữa bột dành cho trẻ em

là mặt hàng tưởng như rất thông thường và đơn giản thì đến nay vẫn không xác định

là thuộc Chương 4, nhóm 0402 là "Sữa cô đặc có hàm lượng chất béo lớn hơn 1%

dạng bột chưa pha thêm đường hay chất ngọt khác " có thuế suất thuế nhập khẩu

có thuế suất thuế nhập khẩu 30% Điều này làm cho các doanh nghiệp đã được tạm

chấp nhận với khai báo thuế suất thuế nhập khẩu 1 5 % luôn ở trong nguy cơ bị truy

thu thuế nhập khẩu và làm ảnh hưởng đến việc tính toán giá thành và tính ổn định

trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việc xác định m ã hàng áp thuế này

còn liên quan đến việc áp dụng hạn ngạch thuế quan từ 1/1/2005 đến 31/3/2005 khi các mặt hàng thuộc nhóm 0402 thì chịu sự điều chỉnh của hạn ngạch thuế quan, còn các mật hàng thuộc Chương 19 thì không

Theo Thông tư 09 ngày 15/12/2003 áp dụng hạn ngạch thuế quan 2004 và Thông tư 10 ngày 27/12/2004 về áp dụng hạn ngạch thuế quan 2005 thì có hai mặt

hàng sữa phải áp dụng hạn ngạch thuế quan là nhóm 0401 "Sữa nguyên liệu, chưa

cô đặc" và nhóm 0402 "Sữa nguyên liệu, đã cô đặc" [28], [31] Việc ghi tên hàng

như trên là phức tạp, đã gây hiểu lầm cho Doanh nghiệp và cán bộ Hải quan "Sữa

nguyên liệu, chưa cô đặc " có thể đưỡc hiểu là sữa chưa đưỡc cô đặc nhưng ở dạng

nguyên liệu nhưng cũng có thể đưỡc hiểu là bao gồm hai loại: loại sữa nguyên liệu

và loại sữa chưa cô đặc Cụm từ "Sữa nguyên liệu, đã cô đặc " cũng có thể đưỡc

hiểu một cách lưỡng tính tương tự Mặc dù Bộ Tài chính đã ban hành danh mục mặt hàng theo m ã HS 8 số để áp dụng hạn ngạch thuế quan nhưng bản thân trong tên của các mặt hàng m ã HS 8 số này lại không có chữ "nguyên liệu" m à chỉ có "cô đặc hay chưa cô đặc" m à thôi Vậy thì các mặt hàng có m ã HS 8 số giống như trong Danh mục của Bộ Tài chính nhưng ở dạng thành phẩm m à không phải nguyên liệu thì có phải áp dụng hạn ngạch không Tính phức tạp và không rõ ràng này đã dẫn tói tình trạng áp m ã tính thuế thuộc đối tưỡng áp dụng hạn ngạch thuế quan mỗi cửa khẩu một khác Trước tình trạng này, ngày 28/1/2005, Tổng cục Hải quan đã có Công văn yêu cầu tất cả các mặt hàng thuộc nhóm 0401 và 0402 đều thuộc diện áp dụng hạn ngạch thuế quan, tức là theo phương châm "bắt nhầm còn hơn bỏ sót" mặc dù sau đó hơn Ì tháng, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 46/2005/QĐ-TTG ngày 3/3/2005 bãi bỏ hạn ngạch thuế quan đối với mặt hàng sữa bột Nhiều doanh nghiệp nhập khẩu ở trong tình trạng hàng đã về đến cảng mới biết đưỡc qui định mới và do

đó không xin cấp kịp hạn ngạch và phải chịu mức thuế ngoài hạn ngạch (cao hơn

1 0 % so với mức ưu đãi)

Những bất cập này xuất phát từ thực tiễn soạn thảo các CSTM mới chỉ tính đến phương diện quản lý của Nhà nước với tính chất đối phó ngắn hạn m à chưa cân đối giữa quyền lỡi và trách nhiệm của doanh nghiệp, làm cho chính sách không đủ

rõ ràng và minh bạch để buộc doanh nghiệp hiểu đúng và thực hiện đúng Ngoài vấn

đề minh bạch hoa pháp luật thực định, các CSTM hàng hoa của Việt Nam còn yếu

Trang 25

kém ở khâu công khai hoa Hiện nay, hình thức công khai hoa chủ yếu của văn bản

chính sách ở Việt nam là đăng trên Công báo Các văn bản quy phạm pháp luật của

các cơ quan nhà nước thường có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày đăng công báo

Nhưng thời hạn 15 ngày kể từ ngày đăng công báo lại không đủ để doanh nghiệp

cập nhật, tìm hiểu kỹ chính sách để đưa ra các quyết định điều chỉnh hoạt động,

phương hướng kinh doanh của mình, hay để hoàn thiện các quy trình thủ tầc kinh

doanh cho phù hợp với các chính sách mới Đổng thòi, vói sự phát triển của công

nghệ thông tin, hiện nay các cơ quan Chính phủ, Bộ quản lý chuyên ngành cũng đã

có trang web riêng với phần tra cứu văn bản pháp luật do các cơ quan đó ban hành

nhưng chưa được đầy đủ và cập nhật kịp thời Các doanh nghiệp nước ngoài cũng

như Chính phủ các nước đối tác chưa có các điểm thông tin thuận tiện để có thể tra

cứu, tìm hiểu và cập nhật những thông tin về CSTM của Việt Nam

Một thực trạng nữa là việc chuyển tải các văn bản quy định liên quan đến

chính sách thương mại hàng hoa của Việt Nam sang ngôn ngữ quốc tế thông dầng

(Tiếng Anh) gần như chưa được quan tâm Điều này sẽ là hết sức khó khăn khi Việt

Nam trở thành thành viên của WTO và phải thực hiện nghiêm các cam kết về minh

bạch và công khai hoa chính sách cho các bên chính phủ và doanh nghiệp nước đối

tác

- vẫn còn tồn tại những qui định có tính phân biệt đối xử

Vẻ vấn đề thực hiện nguyên tắc không phân biệt đối xử, trong hệ thống

CSTM của Việt Nam vẫn tồn tại những quy định mang tính phân biệt đối xử giữa

hàng hoa trong nước và hàng hoa nước ngoài với mầc đích bảo hộ cho nền sản xuất

trong nước và điều này là chưa phù hợp vói nguyên tắc thương mại không phân việt

đối xử của WTO Chẳng hạn, mặt hàng bông sơ chế từ bông trồng trong nước chịu

thuế suất thuế V Á T 5 % còn nếu là mặt hàng bông sơ chế từ bông nhập khẩu phải

chịu thuế suất thuế V Á T 1 0 % [50], [86] Hoặc trường hợp thuốc lá điếu có đầu lọc

sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu nhập khẩu, xì gà có thuế suất thuế tiêu thầ đặc

biệt là 65%, còn thuốc lá điếu có đầu lọc sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu sản

xuất trong nước có thuế suất thuế tiêu thầ đặc biệt là 45% Tương tự như vậy là mặt

hàng bia, khi tính thuế tiêu thầ đặc biệt đối với sản phẩm bia trong nước được trừ vỏ

chai, vỏ lon còn bia ngoại nhập thì lại không được trừ v.v [51], [88]

Hiện nay, Việt Nam vẫn áp dụng những ưu đãi về thuế suất thuế nhập khẩu đối vói bộ linh kiện, phụ tùng nhập khẩu mặt hàng cơ khí - điện - điện tử theo tỷ lệ nội địa hoa (tỷ lệ các linh kiện nội địa sản xuất trong nước cấu thành trong bộ linh kiện hoàn chỉnh đừ lắp ráp càng cao thì thuế suất thuế nhập khẩu của bộ linh kiện càng thấp) Từ ngày 1/1/2003, Việt Nam không áp dụng ưu đãi thuế nhập khẩu theo

tỷ lệ nội địa hoa đối với bộ linh kiện xe hai bánh gắn máy nhập khẩu theo Quyết định số 147/2002/QĐ-TTg ngày 25/10/2002 m à áp chung một m ã tính thuế [103] Tuy nhiên, các mặt hàng linh kiện nhập khẩu lắp ráp ô tô, điện - điện tử khác vẫn đang duy trì ưu đãi thuế theo tỷ lệ nội địa hoa Việc quy định mức thuế suất thuế nhập khẩu theo tỷ lệ nội địa hoa như vậy rõ ràng là không phù hợp vói quy định tại khoản 5 - Điều I U về Đãi ngộ Quốc gia về thuế và qui tắc trong nước thuộc Hiệp định GATT 1994 [22, tr 558]

- vẫn còn những qui định hạn chế nhập khẩu trái với CSTM của WTO

Điều X X - Các ngoại lệ chung - GATT 1994 quy định các biện pháp hạn chế thương mại hàng hoa m à các nước áp dụng không được theo cách tạo ra công cụ đối xử độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, hay tạo ra một sự hạn chế trá hình vói thương mại quốc tế Điều khoản này nêu ra các ngoại lệ theo đó trong những hoàn cảnh được nêu ra, nếu các nước áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại thì được coi là không trái với Hiệp định [22, tr 592-594] Như vậy chiếu theo các quy định và ngoại lệ của WTO, trong các mặt hàng cấm xuất nhập khẩu của Việt Nam thì các mặt hàng vũ khí, đạn dược, trang thiết bị quân sự, chất nổ, ma tuy, các văn hóa phẩm đồi trụy, đồ chơi trẻ em có ảnh hưởng xấu tới giáo dục, đồ cổ, một số loại gỗ nguyên liệu, động vật hoang dã và động vật quý hiếm, các chương trình phần mềm mật m ã sử dụng trong phạm vi bảo vệ bí mật của Nhà nước có thừ được coi là phù hợp với quy định của WTO còn các sản phẩm cấm xuất nhập khẩu khác đều vi phạm quy định của WTO Chẳng hạn việc cấm nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà thành phẩm là không phù hợp với quy định của WTO

vì thực chất đây là động thái nhằm bảo hộ ngành sản xuất thuỗc lá trong nước (Việt Nam vẫn cho nhập khẩu nguyên liệu đừ sản xuất thuốc lá nên không thừ viện dẫn Điều X X - khoản b là cấm nhập đừ bảo vệ sức khoe con người) [69]

Trang 26

- vẫn còn nhiều qui định hạn chế có tính hành chính

Đ ố i vói các mặt hàng nhập khẩu, Việt Nam duy trì chế độ giấy phép của Bộ

Thương mại đối với các mạt hàng được coi là có liên quan đến những cân đối lớn

của nền kinh tế quốc dân, giấy phép quản lý chuyên ngành giao các Bộ chuyên

ngành cấp và quản lý nhưng rất nhiều trong số này là các mặt hàng tiêu dùng m à

việc Nhà nước quản lý sâu thực chất là nhằm bảo hộ cho sản xuất trong nước khi sức

cạnh tranh của những mặt hàng sản xuất nội đờa này còn yếu kém Tuy nhiên, hiện

nay tiêu chí để xác đờnh những mặt hàng nào được coi là "có liên quan đến những

cân đối lớn của nền kinh tế quốc dân" thì không được công bố m à nó chủ yếu dựa

vào đánh giá chủ quan của các cấp quản lý

Ngoài ra, danh mục hàng hoa chờu sự quản lý của giấy phép chuyên ngành

còn rất nhiều m à chưa áp dụng những tiêu chuẩn chung để giảm thiểu sự quản lý

hành chính, giấy tờ Điều này về chức năng và mục đích thì chưa v i phạm các

nguyền tắc của WTO nhưng thực tiễn thực thi nó thì có thể làm cho các đối tác nước

ngoài nản lòng Hiện nay có nhiều mặt hàng nhập khẩu còn chờu sự quản lý của quá

nhiều cơ quan chức năng nhưng lại không có cơ quan nào lãnh trách nhiệm sâu vé

chuyên môn m à chức năng quản lý của các cơ quan còn rất hời hạt, thậm chí quản

lý thì ít m à tạo điều kiện để công chức hạch sách nhũng nhiễu doanh nghiệp thì

nhiều Những quy đờnh về cấp phép và quản lý cấp phép còn phức tạp, chồng chéo

khiến cho doanh nghiệp rất khó nhận ra đâu là một quy trình chuẩn Những vấn đề

này nếu không xem xét một cách tổng thể toàn diện và điều chỉnh việc thực hiện thì

chính những quy đờnh về lý thuyết thì không vi phạm quy đờnh của WTO nhưng việc

thực thi nó có thể thực sự trở thành rào cản thương mại và do đó sẽ vi phạm những

nguyên tắc cơ bản của WTO

- vẫn còn nhiều thủ tục rườm rà khi xác định trị giá tính thuế hải quan

Thực tiễn ban đầu áp dụng trờ giá GATT tại các cửa khẩu ngoài những điểm

tích cực đã nêu trên vẫn cho thấy những bất cập cần xem xét kỹ để có những quy

đờnh thực hiện có hiệu quả nhưng tiết kiệm thòi gian cho doanh nghiệp Thời gian

qua, quyền được yêu cầu tham vấn giá đã phần nào trở thành công cụ để một số cán

bộ Hải quan ở một số cửa khẩu chứng minh thêm quyền lực của mình Các doanh

nghiệp hầu nhu liên tục phải đi tham vấn giá tại Hải quan để chứng minh trờ giá giao

dịch của mình Nếu qua tham vấn m à trị giá giao dịch của lô hàng được coi là không đúng thì doanh nghiệp sẽ phải truy thu thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng Điều này làm mất rất nhiều thời gian của doanh nghiệp và thực tế không phải không có những tiêu cực vẫn đang xảy ra trong quá trình tham vấn giá giữa cán bộ Hải quan

và đại diện doanh nghiệp Vì vậy việc áp dụng trị giá tính thuế theo GATT cũng cần thêm những quy định, văn bản hưồng dãn, xử lý việc lạm dụng công cụ này để hạch sách doanh nghiệp, đồng thời phải tiếp tục rà soát để tiến tồi áp dụng hoàn toàn trị giá thuế quan theo GATT đối vồi tất cả các mặt hàng nhập khẩu

Hiện nay, việc mở tờ khai và làm thủ tục cho lô hàng nhập khẩu vẫn là một vấn đề đối vói các doanh nghiệp do cán bộ Hải quan thường gây phiền hà, cố ý làm chậm lại tiến trình làm thủ tục còn doanh nghiệp thì luôn phải nộp đủ các lệ phí ngoài quy định tại các khâu: tiếp nhận tờ khai, kiểm hoa, nộp thuế, nơi đóng dấu

giám sát xuất kho Tại khoản 3 của Điều vin quy định: "Không một bèn ký kết

nào sẽ áp dụng những khoản phạt đáng kể vồi những vi phạm nhỏ về quy tắc hải quan hay các yêu cầu về thủ tục Đặc biệt vồi các lỗi sơ suất hay lỗi về chứng từ hải quan có thể đính chính dễ dàng và vi phạm không cố ý gian trá hay không do các sơ suất lồn sẽ không bị phạt quá mức cần thiết để cảnh cáo." [22, tr 567] Trên thực tế thì điều này hầu như chưa được thực hiện

- vẫn còn tồn tại những khoản thu không phù hợp với qui định của WTO

Về phụ thu, WTO quy định trong CSTM quốc tế của mình, các quốc gia không được thu các khoản phí hay phụ thu khác đối vồi hàng hoa nhập khẩu vì mục đích bảo hộ hay tăng thu ngân sách m à chỉ giói hạn trong chừng mực đủ bù đắp các chi phí cung cấp dịch vụ Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù thời gian qua Nhà nưồc đã

dỡ bỏ nhiều khoản phụ thu đối vói các mặt hàng nhập khẩu song vẫn còn có một số mặt hàng (như phích nưồc, quạt, ) ngoài thuế nhập khẩu phải nộp thì doanh nghiệp vẫn phải chịu một khoản phụ thu vồi mục đích bảo hộ sản xuất trong nưồc, bình ổn giá và tạo nguồn thu cho ngân sách Danh mục các mặt hàng phải nộp phụ thu nhập khẩu cần xem xét lại để tiếp tục điều chỉnh một cách hợp lý nhằm loại bỏ trở ngại trong tự do hoa mậu dịch Ngoài ra, ở Việt Nam còn tồn tại nhiều khoản phí, lệ phí chồng chéo m à bản thân Chính phủ cũng không quản lý được, cần được tiếp tục điều chỉnh cho hợp lý

Trang 27

- vẫn còn duy trì loại trợ cấp không phù hợp qui định của WTO

Về trợ cấp, GATT 1994 thừa nhận rằng trợ cấp có thể đóng vai trò quan trọng

trong các chương trình phát triển của các thành viên đang phát triển" và đưa ra

những khoảng thòi gian dài hơn m à các thành viên đang phát triển được bảo lưu

chưa phải thực hiện các cam kết của Hiệp định Tuy nhiên, các khoảng thời gian quy

định là 5 năm hay 8 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực (1/1/1995) hiện đã kết thúc

và nếu như Việt Nam gia nhập WTO thì việc được duy trì trợ cấp trong khoảng thời

gian bao lâu với mức đầ như thế nào phụ thuầc vào kết quả đàm phán của Việt Nam

với các đối tác Vì thế, Việt Nam cũng cần phải xem xét lại vấn đề trợ cấp xuất

khẩu Trong những năm vừa qua, Việt Nam vẫn duy trì quy chế thưởng xuất khẩu

cho các doanh nghiệp có thành tích xuất khẩu cao Gần đây nhất, Bầ Thương mại có

Quyết định số 02/2002/QĐ-BTM ngày 02/01/2002 về ban hành Quy chế xét thưởng

xuất khẩu trong đó nêu ra các tiêu chuẩn xét thưởng xuất khẩu từ 5.1 đến 5.5 bằng

các con số cụ thể Ví dụ: lần đầu tiên xuất khẩu mặt hàng mới của Việt Nam ra nước

ngoài với k i m ngạch 100.000 USD/năm hoặc đối với các tỉnh miền núi, hải đảo là

50.000 USD/năm trở lên; mức tăng trưởng xuất khẩu đạt 2 0 % [23]

Trong Quy chế thưởng xuất khẩu đối với phần k i m ngạch xuất khẩu năm

2003 vượt năm 2002 thưởng xuất khẩu do vượt k i m ngạch được dành cho 13 mặt

hàng là nhóm mặt hàng là: gạo, cà phê, lạc nhân, thịt lợn, thịt gia súc gia cầm các

loại, rau quả các loại, chè, hạt tiêu, hạt điều (đã qua chế biến), thủ công mỹ nghệ,

mây tre lá, đồ nhựa, hàng cơ khí, cá tra, cá ba sa [25], [26]

Thời gian vừa qua, Việt Nam vãn duy trì Quỹ hỗ trợ phát triển để dành những

ưu đãi về tín dụng cho xuất khẩu mầt số mặt hàng, đặc biệt là các mặt hàng nông

sản như gạo, lạc nhân, cà phê, chè, hạt tiêu, hạt điều (đã qua chế biến), rau quả

đường [24]

Đ ố i với mầt số nông sản hàng hoa xuất khẩu như gạo, cà phê nếu khi vào vụ

m à giá cả xuống thấp thì Nhà nước dùng quỹ bình ổn giá để hỗ trợ giá cho doanh

nghiệp Nhà nước có thể đứng ra mua lúa, cà phê của nông dân để tích trữ, nâng giá

của các loại hàng hoa này lên cao, bảo đảm lợi ích của nông dân Nhà nước có thể

cấp tín dụng với mức ưu đãi hay hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp để mua các nông

sản theo mầt mức giá sàn ở mầt số thời điểm nhất định [69]

Các biện pháp trợ cấp xuất khẩu hiện nay Việt Nam đang áp dụng như thưởng thành tích xuất khẩu, thưởng kim ngạch, trợ giá trực tiếp cho xuất khẩu nói trên sẽ phải được tiếp tục điều chỉnh để cắt giảm vì vi phạm các quy định của WTO

- Vẩn còn tồn tại bất cập trong một số chính sách phi thuế quan khác

Về vấn đề kiểm định hàng trước khi xếp hàng (PSI), hiện nay Việt Nam chưa

có các quy định về kiểm định hàng hoa trước khi xếp xuống tàu Hiệp định PSI cũng yêu cỹu các nước xuất khẩu thành viên của WTO cung cấp cho các nước thành viên khác sử dụng dịch vụ PSI các trợ giúp về mặt kỹ thuật Việt Nam cũng cỹn tính tói việc xây dựng các quy định về vấn đề này khi gia nhập WTO

Về hàng rào kỹ thuật trong thương mại, trong thòi gian qua, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp quy cũng như những tiêu chuẩn kỹ thuật về kiểm soát chất lượng hàng nhập khẩu Hệ thống Tiêu chuẩn Việt Nam (ký hiệu TCVN) đã có trên

46000 tiêu chuẩn quốc gia, trong đó có khoảng 150 tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng liên quan đến các lĩnh vực an toàn, vệ sinh, bao vệ sức khoe con người và bảo vệ môi trường [69] Tuy nhiên, hiện nay do trình độ quản lý và trình độ công nghệ của Việt Nam còn nhiều yếu kém, đặc biệt là khâu quản lý chất lượng hàng nhập khẩu chưa tốt nên còn để rất nhiều hàng hoa nhập khẩu có chất lượng kém, không phù hợp với các tiêu chuẩn kỹ thuật thâm nhập vào thị trường trong nước, trong khi đó nhiều hàng hoa xuất khẩu của Việt Nam bị trả vẻ chỉ vì không hợp chuẩn với các tiêu chuẩn kỹ thuật của đối tác Pháp lệnh về Tiêu chuẩn hoa dự kiến sẽ được Quốc hội Khoa X I thông qua vào tháng 10/2005 này có thể sẽ góp phỹn giải quyết những bất cập này

-Nhiều bất cập trong Chính sách thương mại đối với Doanh nghiệp thương mại Nhà nước

Trong những năm đổi mói vừa qua, Việt Nam đã liên tục đổi mói, sắp xếp cơ cấu lại hệ thống Doanh nghiệp Nhà nước vốn chịu ảnh hưởng lâu dài của cơ chế quan liêu bao cấp nên rất trì trệ, cồng kềnh Ngày 31/12/2003, Chính phủ đã ra Quyết định số 271/2003/QĐ-CP về việc ban hành quy chế giám sát và đánh giá hiệu quả của các Doanh nghiệp Nhà nước [52] Tuy nhiên, hiện nay, các doanh nghiệp thương mại Nhà nước của Việt Nam vẫn có rất nhiều đặc quyền, được hỗ trợ vốn lớn

từ Ngân sách, được bảo lãnh cho các khoản vay hay bù đắp cho các khoản lỗ, được

Trang 28

ưu đãi lớn về ngoại tệ, được ưu tiên trong việc xử lý các khoản nợ đọng Các doanh

nghiệp này hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhà nước số 14/2003/QH11 thông

qua ngày 20-4-2003, ban hành ngày 30-4-2003 và các luật có liên quan [85] Mặc

dù xét thuần tuy về chính sách trong văn bản thì những quy định về các đặc quyền

của Nhà nước chưa phải vi phạm lớn đến những quy định của WTO song trên thực tế

các Doanh nghiệp Nhà nước vồn luôn được ưu tiên bù đắp các khoản lỗ, xử lý nợ, ưu

đãi về nguồn vốn lớn Ngay trong hoạt động xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp Nhà

nước cũng thường được ưu tiên hơn các doanh nghiệp tư nhân Có một thực tế là rất

nhiều doanh nghiệp Nhà nước hiện nay chỉ toàn "làm thuê" cho các công ty tu nhân

Chính các công ty tư nhân này mói là chủ hàng thực sự và kinh doanh thực sự của

các Hợp đồng xuất nhập khẩu m à công ty Nhà nước được báo cáo kim ngạch và họ

dựa vào các doanh nghiệp Nhà nước để lợi dụng nguồn vốn dồi dào, mua ngoại tệ

nhanh và vay vốn Ngân hàng dễ dàng cũng như uy tín của doanh nghiệp Nhà nước

Việc dành những ưu đãi đối với doanh nghiệp Nhà nước là vi phạm nguyên tắc

không phân biệt đối xử của WTO Công tác cổ phần hoa doanh nghiệp Nhà nước

còn rất nhiều bất cập do quá chậm trễ trong thực thi đồng thời việc cổ phần thường

là cổ phần kín, thực chất vồn là Nhà nước nắm quyền điều hành nên hiệu quả đem

lại không cao và chưa tạo được uy tín với các đối tác nước ngoài

2.1.2.2 Nguyên nhăn của những bất cập, tồn tại

- Nguyên nhân khách quan

WTO là một định chế kinh tế quốc tế mang tính toàn cầu điều tiết thương

mại quốc tế ở phạm v i gần như toàn thế giới Các quy định của WTO cơ bản là

những nguyên tắc được khởi nguồn từ các nước có nền kinh tế phát triển, chiếm tỷ

trọng lớn trong buôn bán thương mại quốc tế Việt Nam lại là một nước có nền kinh

tế mói chuyển đổi sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, chứ không

phải cơ chế thị trường thuần tuy Hiện nay, mặc dù đã có những điều chỉnh đáng kể

về CSTM, Việt Nam vãn thuộc nhóm các nước nghèo và lạc hậu nhất trên thế giới

Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vồn chủ yếu là các hàng nông lâm

thúy sản chưa qua chế biến hoặc mức độ chế biến thấp Các doanh nghiệp trong

nước hầu hết là các doanh nghiệp có quy m ô nhỏ bé, trình độ công nghệ, trình độ

quản lý lạc hậu; hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế là rất thấp Các ngành

sản xuất nội địa mói bắt đầu chuyển mình sau một thời gian dài trì trệ trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp phải được bảo hộ, nâng đỡ trước sự sẩn sàng thôn tính của hàng nhập khẩu bạng việc sử dụng hàng rào thuế quan cao và các biện pháp phi quan thuế Xuất khẩu đem lại nguồn thu lớn cho nền kinh tế và giải quyết nhiều ván đề

xã hội, bởi thế Nhà nước phải luôn quan tâm, khuyến khích hỗ trợ để thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng bạng các biện pháp hỗ trợ ưu đãi thuế, lãi suất, thưởng xuất khẩu và các hình thức trợ cấp, hỗ trợ khác để giúp xuất khẩu từng bước mạnh dần lên, nếu không thì không thể cạnh tranh nổi trên thương trường quốc tế

Do tính chất của nền kinh tế đang chuyển đổi và trình độ phát triển kinh tế thấp m à CSTM hàng hoa của Việt Nam còn nhiều điểm khác biệt so với các quy định của WTO Mặt khác, kinh nghiệm kinh doanh, kinh nghiệm về ban hành và thực thi các CSTM phù hợp với thông lệ quốc tế trong thời kỳ hội nhập còn là điều khá mới mẻ đối với Việt Nam; WTO và những quy định của nó mói được Việt Nam thực sự đua vào nghiên cứu, quảng bá trong vài năm trở lại đây Vì thế sự khác biệt trong CSTM của Việt Nam so với các quy định và cách tiếp cận của WTO là điều không tránh khỏi

- Nguyên nhân chủ quan

Về mặt chủ quan, không thể phủ nhận một thực tế rạng Việt Nam vẫn còn có những ngành, bộ phận đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nước có tâm lý muốn níu kéo sự bảo hộ của Nhà nước, chưa thực sự tích cực hội nhập với thương mại quốc tế Đồng thời trình độ hiểu biết, khả năng cập nhật thông tin, kỹ thuật từ lập pháp và thực thi CSTM nói chung và CSTM hàng hoa nói riêng còn nhiều bất cập Tình trạng tham nhũng rất phổ biến khiến việc thi hành chính sách nhiều khi bị méo m ó , không hiệu quả

Những nguyên nhân trên là những nguyên nhân cơ bản đã dẫn đến thực trạng còn nhiều bất cập trong CSTM hàng hoa của Việt Nam cần tiếp tục được điều chỉnh sau khi Việt Nam gia nhập WTO

2.2 Đ Á N H GIÁ THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH T H Ư Ơ N G MẠI DỊCH vụ CỦA VIỆT NAM

2.2.1 Những kết quả trong điều chỉnh chính sách thương mại dịch vụ

Từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ về phát triển kinh tế nói chung trong đó có khu vực dịch vụ Hiện nay khu vực này

Ngày đăng: 02/08/2016, 18:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Lương Tiểu Bằng (2005), "Đi tìm con đường phát triển cho dệt may Việt Nam", Tạp chí Thương mại (số 14 tháng 4/2005), tr. 4-5-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm con đường phát triển cho dệt may Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lương Tiểu Bằng
Năm: 2005
24. Bộ Thương mại (2003), Quyết định số 0271I2003IQĐ-BTM ngày 13/3/2003 về danh mục mặt hàng hưởng tín dụng hỗ trợ xuất khẩu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Thương mại (2003)," Quyết định số 0271I2003IQĐ-BTM
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2003
25. Bộ Thương mại (2003), Quyết định số U16I2003IQĐ-BTM ngày 9/9/2003 về xét thưởng xuất khẩu cho phần kim ngạch vượt 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Thương mại (2003)," Quyết định số U16I2003IQĐ-BTM
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2003
26. Bộ Thương mại (2003), Quyết định số 1462IQĐ-ETM ngày 7/11/2003 về bổ sung mặt hàng cá tra, cá basa vào danh mục xét thưởng xuất khẩu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Thương mại (2003)," Quyết định số 1462IQĐ-ETM
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2003
27. Bộ Thương mại (2003), Quyết định số1727I2003IQĐ-ETM ngày 12/12/2003 về quy chế xuất xứ đối với hàng hoa hưởng ưu đãi theo Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giồa Asean và Trung Quốc (form E) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số1727I2003IQĐ-ETM
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2003
28. Bộ Thương mại (2003), Thông tư 09I2003ITT-BTM ngày 15/12/2003 về hướng dẫn áp dụng hạn ngạch thuế quan cho năm 2004 theo Quyết định 91/2003/NĐ-TTg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Thương mại (2003)," Thông tư 09I2003ITT-BTM
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2003
29. Bộ Thương mại (2004), Quyết định số 0865/2004/QĐ-BTM ngày 29/6/2004 về Quy chế cấp giấy chứng nhận xuất xứ form s Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Thương mại (2004)," Quyết định số 0865/2004/QĐ-BTM
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2004
30. Bộ Thương mại (2004), Quyết định số 142012004ỉQĐ-ÉTM ngày 4/10/2004 về Quy chế cấp giấy chứng nhận xuất xứ form D Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Thương mại (2004)," Quyết định số 142012004ỉQĐ-ÉTM
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2004
31. Bộ Thương mại (2004), Thông tư 10I2004IBTM-TT ngày 27/12/2004 về hướng dẫn áp dụng hạn ngạch thuế quan cho năm 2005 theo Quyết định 91/2003/QĐ-TTg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Thương mại (2004)," Thông tư 10I2004IBTM-TT
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2004
32. Bộ Thương mại (2005), Quyết định số 0151/2005/QĐ-BTMngằy 27/1/2005 về Quy chế xuất xứ đối vói hàng hoa có nguồn gốc từ Asean Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Thương mại (2005)," Quyết định số 0151/2005/QĐ-BTMngằy
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2005
33. Bộ Thương mại (2005), Công văn số 0765ITM-PC ngày 21/2/2005 về cập nhật danh mục các nước có thoa thuận đối xử tối huệ quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Thương mại (2005)," Công văn số 0765ITM-PC
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2005
34. Bộ Thương mại (2005), Thông tư 04/2005/BTM-TT ngày 24/3/2005 về việc điều chinh danh mục áp dụng hạn ngạch thuế quan năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Thương mại (2005)," Thông tư 04/2005/BTM-TT
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2005
35. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1995), Nghị định số 89/CP ngày 15/12/1995 về việc bãi bỏ giấy phép chuyến Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1995)," Nghị định số 89/CP
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 1995
36. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1996), Nghị định số 63ICP ngày 24/10/1996 quy định về quyền sở hồu công nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1996)," Nghị định số 63ICP
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 1996
37. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1996), Nghị định số 7Ố/CP ngày 29/11/1996 hướng dãn thi hành một số quy định về quyền tác giả Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1996)," Nghị định số
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 1996
38. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1997), Nghị định số 60/CP ngày 6/6/1997 hướng dẫn thi hành quy định về quyền tác giả Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1997)," Nghị định số 60/CP
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 1997
39. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1998), Nghị định số57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về xuất nhập khẩu hàng hoa và đại lý, gia công với nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1998)," Nghị định số57/1998/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 1998
40. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1998), Nghị định SỐ94I1998INĐ-CP ngày 17/11/1998 về hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số đi ều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1998)," Nghị định SỐ94I1998INĐ-CP
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 1998
41. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1999), Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 6/3/1999 về xử phạt vi phạm hành chính trong sở hụu công nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1999)," Nghị định số 12/1999/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 1999
42. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2000), Nghị định số54/2000/NĐ-CP ngày 3/10/2000 về bảo hộ sở hụu cóng nghiệp đối vói một số đối tượng khác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2000)," Nghị định số54/2000/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w