1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ kinh tế Đề xuất chiến lược phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020

69 423 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với các phương pháp nghiên cứu khoa học cho ra kết quả nghiên cứu như: xác định được những yếu tố tạo nên lợi thế phát triển thị trường, sản phẩm… Trên cơ sở tổng hợp, phân tích, đánh gi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

-

NGUYỄN HẢI ĐĂNG

ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÁC

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

-

NGUYỄN HẢI ĐĂNG

ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DỊCH VỤ DU LỊCH TIỀN GIANG

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

Cán bộ hướng dẫn khoa học : PGS.TS Đào Duy Huân

Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM

ngày 24 tháng 4 năm 2014

Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:

(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận văn sau khi Luận văn đã được

sửa chữa (nếu có)

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: NGUYỄN HẢI ĐĂNG Giới tính: Nam Ngày, tháng, năm sinh: 26/03/1989 Nơi sinh: Tiền Giang

I- Tên đề tài:

“ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DỊCH VỤ DU LỊCH TIỀN GIANG ĐẾN NĂM 2020”

II- Nhiệm vụ và nội dung:

Phân tích đánh giá nhằm tìm ra các chiến lược thích hợp nhất giúp phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch tỉnh Tiền Giang đến năm 2020

III- Ngày giao nhiệm vụ: 7/8/13

IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 27/2/14 V- Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Đào Duy Huân

PGS.TS Đào Duy Huân

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn “Đề xuất chiến lược phát triển các

sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020” là công trình

nghiên cứu tổng hợp của riêng tôi

Các lý luận, số liệu nghiên cứu được trình bày trong đồ án chưa

từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan

rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn

và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chú thích nguồn gốc

Trân trọng kính chào!

Tiền Giang, Ngày 07 tháng 3 năm 2014

Học viên thực hiện Luận văn

Nguyễn Hải Đăng

LỜI CẢM ƠN

Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Quý thầy, cô trường Đại học Công nghệ TP HCM đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu, giúp tôi tiếp cận

tư duy khoa học, nâng cao trình độ, phục vụ cho công tác và cuộc sống

Tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Trương Quang Dũng đã hướng dẫn chúng tôi trong môn học Quản Trị Chiến Lược

Xin chân thành cảm ơn giảng viên hướng dẫn thực hiện luận văn Phó Giáo sư - Tiến sĩ Đào Duy Huân Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn của mình, dưới sự hướng dẫn tận tình, nghiêm túc, có bài bản khoa học của Phó Giáo sư - Tiến sĩ Đào Duy Huân, tôi được trang bị thêm những kiến thức và phương pháp nghiên cứu khoa học bổ ích

Cảm ơn các anh chị trong Trung tâm Xúc tiến Đầu tư - Thương mại -

Du lịch tỉnh Tiền Giang đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn

Tôi vô cùng cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn nghiên cứu của mình./

Kính chúc quý Thầy/Cô, các Anh/Chị thật nhiều sức khỏe !

Trang 4

TÓM TẮT

Quan hệ và hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng được mở rộng, nhất là

khi Việt Nam đã trở thành thành viên WTO càng khẳng định vai trò, vị trí của nước

ta trên trường quốc tế Tiền Giang là một tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long,

là địa bàn trung chuyển hết sức quan trọng gắn cả miền Tây Nam Bộ với Thành phố

Hồ Chí Minh và các vùng miền khác, nhờ vị trí hết sức thuận lợi nên Tiền Giang đã

trở thành trung tâm văn hóa chính trị của cả vùng Để thực sự bước vào sân chơi lớn

nền kinh tế của Tiền Giang nói chung và du lịch nói riêng tuy có nhiều thuận lợi,

nhưng trước mắt là rất nhiều khó khăn cần phải đối mặt

Để nền kinh tế của tỉnh phát triển trong thời gian tới, tỉnh đã xác định du lịch

là ngành kinh tế động lực Thời gian qua du lịch tỉnh đã đạt một số thành quả bước

đầu Để du lịch thực sự là ngành kinh tế động lực của tỉnh cần thiết phải xây dựng

chiến lược phát triển du lịch đến năm 2020

Luận văn sử dụng các phương pháp luận nghiên cứu như phỏng vấn chuyên

gia thông qua tham khảo ý kiến chuyên gia, phương pháp nghiên cứu tổng hợp mô

tả và phân tích dữ liệu thu thập từ bên trong và bên ngoài, cùng với chiến lược phát

triển sản phẩm của Philip Kotler để hình thành các ma trận EFE, IFE, ma trận hình

ảnh cạnh tranh, SWOT và QSPM Với các phương pháp nghiên cứu khoa học cho

ra kết quả nghiên cứu như: xác định được những yếu tố tạo nên lợi thế phát triển thị

trường, sản phẩm…

Trên cơ sở tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình phát triển các sản phẩm,

dịch vụ du lịch Tiền Giang trong những năm trước và yêu cầu phát triển của ngành

du lịch trong giai đoạn tiếp theo, tác giả đã xác định chiến lược phát triển các sản

phẩm, dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020 Trong đó tập trung vào những

chiến lược tối ưu và các giải pháp lựa chọn trong hoàn cảnh thực tế của du lịch Tiền

Giang để khắc phục những hạn chế, tồn tại trong thời gian qua

Trong quá trình viết, luận văn sẽ không tránh khỏi những bất cập và sai sót

ABSTRACT

Relations and international integration of Vietnam is increasingly expanding, its role and position is especially affirmed in the international arena since Vietnam became a WTO member Tien Giang is a coastal province in the Mekong Delta province, it is an important transshipment which connects the Southwest regions with Hochiminh city and other regions Due to the very advantageous position, Tien Giang has become the political and cultural center of the Mekong Delta In order to step into the big playground of Tien Giang economy in general and tourism in particular, in spite of many advantages, there are also many difficulties that need to

be faced

For the growth of province's economy in the future, the province has identified tourism as a dynamic economic sector The province’s tourism had recently achieved some initial success In order to make travel to become a dynamic economic sector of Tien Giang, it needs to develop a strategy for tourism development until 2020

This thesis uses research methodologies such as interviewing experts consulted by experts, general research methods, descriptive data analysis which was collected from inside and outside, along with the product development strategies of Philip Kotler to form matrix EFE, IFE, competitive image matrix, SWOT and QSPM In conjunction with other scientific research methods, the research results as: identify the factors that make up the market development advantages, products

Based on the synthesis, analysis, evaluation of the product development, Tien Giang’s tourism services in the previous years and development reQuyrements of the tourism industry in the next period, the author has identified the strategic development for products and tourism services in Tien Giang until 2020 It focuses

on the optimal strategy and the alternatives in the realistic circumstances of Tien Giang’s tourism to overcome those limitations existing in the past

In the process of writing this dissertation, it is inevitable to contain inadequacies and errors It is a pleasure to receive Teachers’s reviews and comments for the dissertation to be completed more impeccably

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

ABSTRACT iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix

DANH MỤC CÁC BẢNG x

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH xi

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Tính cấp thiết của đề tài 2

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 5

6 Bố cục của luận văn 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

1.1 Tổng quan về du lịch 6

1.1.1 Du lịch và du khách 6

1.1.1.1 Định nghĩa về du lịch 6

1.1.1.2 Du khách 7

1.1.2 Các loại hình du lịch 7

1.2 Tổng quan về chiến lược sản phẩm 10

1.2.1 Khái niệm về sản phẩm 10

1.2.2 Chu kỳ sống của sản phẩm 11

1.2.2.1 Giai đoạn tung ra thị trường 12

1.2.2.2 Giai đoạn phát triển 12

1.2.2.3 Giai đoạn chín muồi (sung mãn) 12

1.2.2.4 Giai đoạn suy thoái 13

1.2.3 Phát triển sản phẩm mới 14

1.2.3.1 Hình thành ý tưởng 15

1.2.3.2 Sàng lọc ý tưởng 18

1.2.3.3 Phát triển và thử nghiệm quan niệm 19

1.2.3.4 Hoạch định chiến lược Marketing cho sản phẩm mới 19

1.2.3.5 Phân tích tình hình kinh doanh 20

1.2.3.6 Phát triển sản phẩm và thử nghiệm trên thị trường 22

1.2.3.7 Thương mại hóa 23

1.3 Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch 28

1.3.1 Sản phẩm du lịch và những nét đặc trưng cơ bản của nó 28

1.3.2 Thành phần sản phẩm du lịch 29

1.3.2.1 Cách sắp xếp sản phẩm du lịch theo tổ chức du lịch thế giới 29

1.3.2.2 Cách sắp xếp của Jeffries và Krippendorf 30

1.3.2.3 Cách sắp xếp của Micheal M Coltman 30

1.3.3 Chiến lược chu kỳ đời sống sản phẩm 31

1.3.3.1 Giai đoạn phát hiện hay giới thiệu sản phẩm (Introducation stage) 32 1.3.3.2 Giai đoạn phát triển (Growth stage) 32

1.3.3.3 Giai đoạn chín muồi (Maturity stage) 32

1.3.3.4 Giai đoạn suy thoái (Decline stage) 33

Tóm tắt chương 1 33

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH TỈNH TIỀN GIANG 35

2.1 Đánh giá các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang giai đoạn 2008-2012 35

2.1.1 Giới thiệu chung về du lịch Tiền Giang 35

2.1.1.1 Vị trí du lịch Tiền Giang đối với du lịch Đồng bằng sông Cửu Long 35

2.1.1.2 Vai trò, vị trí ngành du lịch Tiền Giang trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam 35

2.1.1.3 Vai trò, vị trí ngành du lịch Tiền Giang trong phát triển kinh tế - xã hội 36

2.1.2 Hiện trạng phát triển du lịch Tiền Giang giai đoạn 2008-2012 36

2.1.2.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 36

2.1.2.2 Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng tuyến du lịch 46

2.1.2.3 Đào tạo nguồn nhân lực du lịch 47

Trang 6

2.1.2.4 Xúc tiến, quảng bá du lịch 48

2.1.2.5 Triển khai công tác quản lý Nhà nước về du lịch 49

2.1.2.6 Nâng cao nhận thức về du lịch 50

2.1.2.7 Khách du lịch 51

2.1.2.8 Thu nhập ngành du lịch 55

2.1.3 Nhận xét, đánh giá chung 58

2.1.3.1 Kết quả đạt được 58

2.1.3.2 Những hạn chế 59

2.2 Phân tích các yếu tố môi trường tác động đến chiến lược phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang 61

2.2.1 Môi trường vĩ mô 61

2.2.1.1 Yếu tố kinh tế 61

2.2.1.2 Yếu tố chính trị và pháp luật 63

2.2.1.3 Yếu tố văn hóa - xã hội 63

2.2.1.4 Yếu tố tự nhiên 64

2.2.1.5 Yếu tố hạ tầng kỹ thuật 69

2.2.2 Môi trường vi mô 73

2.2.2.1 Đối thủ cạnh tranh 73

2.2.2.2 Đối tác 74

2.2.3 Các yếu tố nội bộ 75

2.2.3.1 Cơ sở hạ tầng 75

2.2.3.2 Cơ sở vật chất phục vụ du lịch 75

2.2.3.3 Các tài nguyên du lịch 75

2.2.3.4 Nguồn nhân lực phục vụ du lịch 78

2.2.3.5 Vốn đầu tư 78

2.2.4 Nhận định các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với du lịch Tiền Giang 79

2.2.4.1 Ma trận các yếu tố bên ngoài EFE 79

2.2.4.2 Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong IFE 81

Tóm tắt chương 2 82

CHƯƠNG 3: CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM, DỊCH VỤ DU LỊCH TIỀN GIANG ĐẾN NĂM 2020 84

3.1 Mục tiêu 84

3.1.1 Cơ sở xây dựng mục tiêu 84

3.1.2 Các mục tiêu phát triển 86

3.2 Chiến lược phát triển du lịch Tiền Giang đến năm 2020 87

3.2.1 Hình thành chiến lược qua phân tích ma trận SWOT 87

3.2.2 Lựa chọn chiến lược qua ma trận QSPM 91

3.3 Phát triển các chiến lược 98

3.3.1 Chiến lược tập trung 98

3.3.2 Chiến lược quy hoạch 98

3.3.3 Chiến lược xúc tiến quảng bá du lịch 99

3.3.4 Chiến lược phát triển nguồn nhân lực 99

3.4 Các giải pháp thực hiện chiến lược lựa chọn 100

3.4.1 Nhóm giải pháp thực hiện chiến lược tập trung 100

3.4.2 Nhóm giải pháp thực hiện chiến lược quy hoạch 102

3.4.3 Nhóm giải pháp thực hiện chiến lược xúc tiến quảng bá du lịch 105

3.4.4 Nhóm giải pháp thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực 107

Tóm tắt chương 3 108

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 7

UBND: Ủy ban nhân dân

VH-TT-DL: Văn hóa, thể thao và du lịch

WTO: Tổ chức Thương mại thế giới

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Khách du lịch đến Tiền Giang giai đoạn 2008-2012 51

Bảng 2.2 Cơ cấu nguồn khách chia theo thị trường mục tiêu

2007-2012

52

Bảng 2.4 Thu nhập du lịch Tiền Giang giai đoạn 2005-2012 55

Bảng 2.5 Cơ cấu chi tiêu của khách du lịch đến Tiền Giang 56

Bảng 2.6 Ma trận các yếu tố bên ngoài của ngành du lịch Tiền

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 2.4 Khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười 41

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

-

1 Đặt vấn đề

Ngày nay du lịch là nhu cầu của tất cả mọi người, là cầu nối của tình hữu nghị và hòa bình thế giới Du lịch có vai trò quan trọng, không những là ngành kinh

tế mũi nhọn, ngành công nghiệp không khói được nhiều quốc gia xác định mà còn

là con đường ngắn nhất mở ra cơ hội cho các dân tộc, các cộng đồng dân cư và các giai tầng trong xã hội giao lưu trực tiếp với nhau, thưởng ngoạn phong cảnh, tìm hiểu kinh tế, lối sống, văn hóa, lịch sử của những khu vực ngoài nơi cư trú của mình

Trong những năm qua du lịch cả nước nói chung và Tiền Giang nói riêng luôn hoàn thành và vượt chỉ tiêu phát triển Những thành tựu đó có được là do có sự lãnh đạo của Đảng và quản lý chặt chẽ của chính quyền các cấp đã khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch, tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá, phát triển các sản phẩm du lịch hấp dẫn, có sức cạnh tranh, đồng thời phát huy được lợi thế của một

“điểm đến an toàn” của thế giới và khu vực Tiền Giang đã chứng tỏ là một trong những điểm du lịch có sức hấp dẫn ngày càng tăng đối với du khách

Tuy nhiên những năm gần đây tình hình chính trị, kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp, thiên tai, dịch bệnh, nạn khủng bố… đang gây ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội toàn thế giới, trong đó có du lịch Việt Nam nói chung và du lịch tỉnh Tiền Giang nói riêng Tình hình chính trị, kinh tế - xã hội trong nước cũng

có nhiều thay đổi Đề án phát triển du lịch Đồng bằng sông Cửu Long đến năm

2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt vào tháng 3 năm 2010 đã tạo ra được mối liên kết giữa các tỉnh trong vùng, tuy nhiên đến nay du lịch ĐBSCL vẫn chưa phát huy được thế mạnh, kết quả hoạt động kinh doanh du lịch chưa tương xứng với tiềm năng, thấp hơn mặt bằng chung cả nước và đứng sau hầu hết các vùng du lịch khác

Trang 9

ĐBSCL là khu vực có tiềm năng về du lịch, độc đáo, không giống với vùng

miền nào của cả nước Nơi đây, cảnh quan sinh thái đặc trưng là đồng bằng và biển

đảo, một vùng sông nước hữu tình và quyến rũ, cây trái bốn mùa trĩu quả, môi

trường trong lành, tài nguyên thiên nhiên phong phú kết hợp với tinh hoa văn hóa,

lịch sử của cộng đồng bốn dân tộc anh em: Kinh, Hoa, Khmer, Chăm; với nhiều lễ

hội dân gian truyền thống mang bản sắc văn hóa độc đáo là những sản phẩm du

lịch thật sự thú vị

Trong đó, tỉnh Tiền Giang nằm ở phía Bắc sông tiền là tỉnh có giao thông

thủy, bộ rất thuận lợi, với 32 km bờ biển Tiền Giang được chia thành ba vùng rõ rệt

với nhiều tiềm năng cho phát triển du lịch: vùng trái cây ven sông Tiền với những

vườn trái cây quanh năm bốn mùa, vùng sinh thái ngập mặn biển Tân Thành và

vùng sinh thái ngập phèn huyện Tân Phước Là cái nôi của ca nhạc tài tử, những sự

kiện lịch sử Rạch Gầm - Xoài Mút, Giồng Dứa - Ấp Bắc, là quê hương của Trương

Định, Thủ Khoa Huân Có nhiều tôn giáo: Nho giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo,

Tin lành; với những di tích lịch sử như lăng Trương Định, lăng Hoàng gia, chiến lũy

và pháo đài, di chỉ Ốc Eo Gò thành… là điểm đến hấp dẫn cho khách du lịch trong

và ngoài nước

2 Tính cấp thiết của đề tài

Tiền Giang nằm trong vùng ảnh hưởng của địa bàn trọng điểm phía Nam,

giữa tỉnh Cần Thơ và TP HCM là hai trung tâm kinh tế lớn của cả nước, đây là

điểm tựa quan trọng cho việc phát triển du lịch Tiền Giang Đồng thời Tiền Giang

còn có tiềm năng du lịch rất to lớn nhưng vẫn chưa được chú trọng khai thác So với

các ngành kinh tế khác thì ngành du lịch có tỷ trọng tham gia vào GDP của tỉnh còn

thấp Các sản phẩm du lịch Tiền Giang còn ở dạng thô, chưa độc đáo, chưa đa dạng,

các chương trình tour du lịch chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên và tài sản

riêng của các hộ dân để khai thác, chưa có quy hoạch và đầu tư hợp lý Hiệu quả

kinh doanh từ ngành du lịch còn thấp, việc quảng bá hình ảnh du lịch Tiền Giang

Từ đó đặt ra vấn đề làm sao có thể đầu tư, khai thác các sản phẩm du lịch tương xứng với tiềm năng và đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, thúc đẩy

phát triển du lịch và kinh tế xã hội tỉnh Do đó, tôi xin mạn phép chọn đề tài “Đề xuất chiến lược phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu chung:

Đề tài nhằm mục tiêu nghiên cứu hệ thống lý luận về du lịch và ứng dụng quản trị chiến lược trong du lịch Trên cơ sở đó phân tích đánh giá thực trạng kinh doanh du lịch ở Tiền Giang trong những năm gần đây Từ đó đề xuất những giải pháp chiến lược giúp cải thiện các sản phẩm, dịch vụ du lịch của tỉnh, góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch Tiền Giang trong thời gian tới

Mục tiêu cụ thể:

- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Tiền Giang đến năm 2012

- Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động kinh doanh du lịch của tỉnh Tiền Giang

- Đề xuất một số chiến lược phát triển các sản phẩm, dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê và so sánh Đặc biệt là kết hợp với điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực tiễn một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch, nhận định của các chuyên gia, các nhà quản lý về du lịch để

có thể phân tích đúng thực trạng

Trang 10

- Phương pháp chọn vùng nghiên cứu: Vùng nghiên cứu là các sản phẩm

dịch vụ du lịch Tiền Giang Đề tài sử dụng phương pháp khảo sát thực địa và

phương pháp bản đồ để xác định các vùng tài nguyên du lịch cần nghiên cứu

- Phương pháp thu thập số liệu:

+ Số liệu sơ cấp là số liệu thống kê thu thập ý kiến đóng góp của khách hàng

và của các chuyên gia trong ngành

+ Các số liệu thứ cấp được thu thập từ các tài liệu thống kê liên quan đến

hoạt động du lịch Tiền Giang của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tiền Giang, các

bài viết trên sách báo, internet, văn bản Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du

lịch, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư - Thương mại - Du lịch trực thuộc UBND tỉnh Tiền

Giang…

- Phương pháp phân tích số liệu:

+ Sử dụng phân tích thống kê mô tả để phân tích số liệu điều tra nhằm nhận

dạng, tổng hợp và đánh giá thực trạng hoạt động du lịch tại Tiền Giang

+ Sử dụng phương pháp quan sát, phân tích thống kê đánh giá tác động của

môi trường đến hoạt động du lịch Tiền Giang

+ Tổng hợp các kết quả nghiên cứu trên đồng thời sử dụng các công cụ phân

tích dữ liệu thu thập để nhận định những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức

đối với ngành du lịch Tiền Giang

+ Lập các ma trận các yếu tố bên trong, ma trận các yếu tố bên ngoài, ma

trận SWOT để phân tích lựa chọn chiến lược Lập ma trận QSPM để xác định chiến

lược tối ưu và đề ra một số giải pháp góp phần phát triển du lịch Tiền Giang trên cơ

sở các chiến lược đã chọn

5 Phạm vi nghiên cứu + Về không gian: toàn bộ các hoạt động du lịch trong phạm vi tỉnh Tiền

Giang, có xem xét tới các quan hệ với sự phát triển của ngành trong phạm vi cả nước

+ Về thời gian: luận văn sử dụng số liệu thống kê hoạt động của ngành du lịch Tiền Giang từ năm 2008 đến năm 2012, trong đó sử dụng tình hình và số liệu của giai đoạn trước để so sánh, dự báo phát triển du lịch Tiền Giang đến năm 2020

6 Bố cục của luận văn

Luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết Chương 2: Phân tích môi trường phát triển ngành du lịch Tiền Giang Chương 3: Chiến lược phát triển các sản phẩm, dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020

Trang 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

- 1.1 Tổng quan về du lịch

1.1.1 Du lịch và du khách

1.1.1.1 Định nghĩa về du lịch

Du lịch:

Theo Tổ chức du lịch thế giới – WTO (Word Tourism Organization): “ Du

lịch là tập hợp các mối quan hệ, các hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn

từ sự hình thành và lưu trú của các cá thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên với mục

đích hòa bình và nơi họ đến không phải là nơi họ làm việc”

Theo Luật du lịch của Việt Nam mà Quốc hội ban hành vào tháng 6/2005 có

hiệu lực ngày 01/01/2006: “ Du lịch là một trong những hoạt động có liên quan đến

chuyến đi của con người ngoài nơi lưu trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng

nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định”

Để có quan niệm đầy đủ cả về góc độ kinh tế và kinh doanh của du lịch,

Khoa Du lịch và Khách sạn (Trường ĐHKTQD Hà Nội) đã đưa ra định nghĩa trên

cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động du lịch trên thế giới và ở

Việt Nam trong những thập niên gần đây: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao

gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch

vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại lưu trú, ăn uống,

tham quan, giải trí, tìm hiểu và nhu cầu khác của khách du lịch Các hoạt động đó

phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho

bản thân doanh nghiệp”

1.1.1.2 Du khách

Theo điểm 2, điều 10, chương I của pháp lệnh du lịch Việt Nam (ban hành năm 1999) : “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”

“Khách du lịch bao gồm: Khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư cú tại Việt Nam, đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”

1.1.2 Các loại hình du lịch

Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch

Du lịch quốc tế: là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của

khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau Ở hình thức du lịch này khách phải đi qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch

Du lịch nội địa: là hình thức đi du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của

khách cùng nằm trong lãnh thổ của một quốc gia

Căn cứ vào nhu cầu làm nảy sinh hoat động du lịch

Du lịch chữa bệnh: ở thể loại du lịch này khách du lịch do nhu cầu điều trị

các bệnh tật về thể xác và tinh thần của họ

Du lịch nghỉ ngơi giải trí: nhu cầu chính làm nảy sinh hình thức du lịch này

là sự cần thiết phải nghỉ ngơi để phục hồi thể lực và tinh thần cho con người Đây là loại hình du lịch có tác dụng giải trí, làm cuộc sống thêm đa dạng và giải thoát con người ra khỏi công việc hằng ngày

Du lịch thể thao:

Du lịch thể thao chủ động: khách đi du lịch để tham gia trực tiếp vào hoạt động thể thao

Trang 12

Du lịch thể thao thụ động: Những cuộc hành trình đi du lịch để xem các cuộc

thi thể thao quốc tế, các thế vận hội olympic,…

Du lịch văn hóa: mục đích chính là nhằm nâng cao hiểu biết cho cá nhân về

mọi lĩnh vực như: lịch sử, kiến trúc, kinh tế, hội họa, chế độ xã hội, cuộc sống của

người dân cùng các phong tục, tập quán của đất nước du lịch

Du lịch công vụ: mục đích chính của loại hình du lịch này là nhằm thực hiện

nhiệm vụ công tác hoặc nghề nghiệp nào đó Với mục đích này khách đi tham dự

các cuộc hội nghị , hội thảo, kỷ niệm các ngày lễ lớn, các cuộc gặp gỡ, các cuộc

triển lãm hàng hóa, hội chợ,…

Du lịch tôn giáo: loại hình du lịch này nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng

đặc biệt của những người theo các đạo giáo khác nhau

Du lịch thăm hỏi, du lịch quê hương: loại hình du lịch này phần lớn nảy sinh

do nhu cầu của những người xa quê hương đi thăm hỏi bà con họ hàng, bạn bè thân

quen, đi dự lễ cưới, lễ tang,…

Du lịch quá cảnh: nảy sinh do nhu cầu đi qua lãnh thổ của một nước nào đó

trong thời gian ngắn để đến nước khác

Căn cứ vào đối tượng khách du lịch

Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành:

Du lịch thanh thiếu niên

Du lịch dành cho những người cao tuổi

Du lịch phụ nữ, du lịch gia đình

Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi

Du lịch theo đoàn: ở loại hình này, các thành viên tham dự đi theo đoàn và

thường có chuẩn bị chương trình từ trước, trong đó đã định ra những nơi sẽ tới

thức là: du lịch theo đoàn có thông qua tổ chức du lịch và du lịch theo đoàn không thông qua tổ chức du lịch

Du lịch cá nhân: gồm có du lịch cá nhân có thông qua tổ chức du lịch và du

lịch cá nhân không thông qua tổ chức du lịch (đi tự do)

Căn cứ vài phương tiện giao thông sử dụng

Du lịch ở khách sạn ven đường (Motel) – khách sạn ở bên lề những chặn

đường dài dành cho khách du lịch đi bằng ô tô

Du lịch ở lều trại (Camping)

Du lịch ở làng du lịch (Tourism village)

Căn cứ vào thời gian đi du lịch

Du lịch dài ngày

Du lịch ngắn ngày (thường gọi là du lịch cuối tuần – weekend holiday)

Căn cứ vào vị trí địa lý của nơi đến du lịch

Du lịch nghỉ núi

Trang 13

Du lịch thành phố

Du lịch đồng quê

Ghi chú: Thường một người đi du lịch kết hợp nhiều nhu cầu nảy sinh khác

nhau nên ta thường gặp sự kết hợp của một vài loại hình du lịch một lúc Ví dụ: du

lịch nghỉ ngơi, giải trí với du lịch văn hóa; du lịch công vụ với du lịch văn hóa,

v.v…

1.2 Tổng quan về chiến lược sản phẩm

1.2.1 Khái niệm về sản phẩm

Sản phẩm là những hàng hóa và dịch vụ với những thuộc tính nhất định, với

những ích dụng cụ thể nhằm thỏa mãn những nhu cầu đòi hỏi của khách hàng Sản

phẩm có giá trị sử dụng và giá trị, nó có thể là hữu hình hoặc vô hình

Phần cốt lõi của sản phẩm

Phần cốt lõi của sản phẩm phải giải đáp được câu hỏi: “ Người mua thực sự

đang muốn gì?” Nhà quản trị marketing phải khám phá ra những nhu cầu tiềm ẩn

đằng sau mỗi sản phẩm và đem lại những lợi ích chứ không phải chỉ những đặc

điểm

Phần cốt lõi nằm ở tâm sản phẩm

Phần cụ thể của sản phẩm

Người thiết kế sản phẩm phải biến cốt lõi của sản phẩm thành sản phẩm cụ

thể Ví dụ: xe máy, đồng hồ, nước hoa, tủ lạnh… tất cả là những sản phẩm cụ thể

và sự tín nhiệm

Dịch

vụ sau khi bán

Bảo hành

Bao bì

Chất lượng Kiểu dáng

Tên hiệu

Đặc điểm

Những lợi ích

Phần phụ thêm của sản phẩm Phần sản phẩm cụ thể

Phần cốt lõi của sản phẩm

Trang 14

1.2.2.1 Giai đoạn tung ra thị trường

Giai đoạn tung ra thị trường bắt đầu khi một sản phẩm mới được đem ra bán

trên thị trường Cần phải có thời gian để trải sản phẩm ra một số thị trường và đảm

bảo vận chuyển cho các đại lý, nên nhịp độ tăng trưởng mức tiêu thụ có thể là chậm

Trong giai đoạn này, lợi nhuận âm hay thấp bởi vì mức tiêu thụ thấp, các chi

phí phân phối và khuyến mãi rất lớn Cần phải có nhiều tiền để thu hút những người

phân phối và cung cấp hàng cho họ

1.2.2.2 Giai đoạn phát triển

Giai đoạn phát triển được đánh dấu bằng mức tiêu thụ tăng nhanh Những

người tiên phong thích sản phẩm và những người tiêu dùng đến sớm bắt đầu mua

sản phẩm đó Các đối thủ cạnh tranh xâm nhập thị trường vì bị hấp dẫn bởi những

cơ hội mở rộng sản xuất và lợi nhuận cao Họ tung ra những tính chất mới của sản

phẩm và phát triển thêm các cửa hàng phân phối Giá cả vẫn giữ nguyên hay có

giảm xuống đôi chút vì nhu cầu tăng rất nhanh

Các công ty vẫn duy trì chi phí khuyến mãi của mình ở mức cũ hay có tăng

đôi chút để đối phó với sự cạnh tranh mà tiếp tục huấn luyện thị trường Mức tiêu

thụ tăng nhanh hơn nhiều làm hạ thấp tỷ lệ khuyến mãi doanh số bán

Trong giai đoạn này lợi nhuận tăng nhanh vì chi phí khuyến mãi được phân

bổ cho một khối lượng hàng lớn hơn và chi phí sản xuất trên đơn vị sản phẩm giảm

nhanh hơn so với nhịp độ giảm giá nhờ hiệu quả của "đường cong kinh nghiệm"

Rút cuộc, nhịp độ tăng trưởng chuyển từ nhịp độ nhanh dần sang chậm dần

Các công ty phải theo dõi điểm bắt đầu nhịp độ chậm dần để chuẩn bị những chiến

lược mới

1.2.2.3 Giai đoạn chín muồi (sung mãn)

Tại một điểm nào đó, nhịp độ tăng trưởng mức tiêu thụ sản phẩm sẽ chững

lại và sản phẩm bước vào giai đoạn sung mãn tương đối Giai đoạn tăng trưởng kéo

việc quản trị Marketing Hầu hết các sản phẩm đều ở giai đoạn sung mãn của chu kỳ sống và vì vậy gần như toàn bộ công việc quản trị Marketing đều nhằm giải quyết sản phẩm sung mãn đó

Giai đoạn sung mãn có thể chia làm ba thời kỳ Trong thời kỳ thứ nhất, sung mãn tăng trưởng, nhịp độ tăng trưởng mức tiêu thụ bắt đầu giảm sút Không có kênh phân phối mới để tăng cường, mặc dù một số người mua lạc hậu vẫn còn tiếp tục tham gia thị trường Trong thời kỳ thứ hai, sung mãn ổn định, mức tiêu thụ tính trên đầu người không thay đổi, bởi vì thị trường đã bão hoà Hầu hết những người tiêu dùng tiềm ẩn đã dùng thử sản phẩm đó và mức tiêu thụ tương lại chịu sự chi phối của mức tăng dân số và nhu cầu thay thế Trong thời kỳ thứ ba, sung mãn suy tàn, mức tiêu thụ tuyệt đối bắt đầu giảm, khách hàng chuyển sang những sản phẩm khác và những sản phẩm thay thế

1.2.2.4 Giai đoạn suy thoái

Cuối cùng thì mức tiêu thụ của hầu hết các dạng sản phẩm và nhãn hiệu đều suy thoái Tốc độ suy thoái mức tiêu thụ có thể chậm, như trong trường hợp bột yến mạch, hay nhanh Mức tiêu thụ có thể tụt xuống đến số không hay có thể chững lại

ở mức thấp

Mức tiêu thụ suy giảm vì một số lý do, trong đó sự tiến bộ về công nghệ, thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi, và mức độ cạnh tranh nội địa và nước ngoài gia tăng Tất cả những điều đó dẫn đến tình trạng dư thừa năng lực sản xuất, phải cắt giảm giá thêm nữa và thiệt hại về lợi nhuận

Phát hiện những sản phẩm yếu kém

Nhiệm vụ đầu tiên là thiết lập một hệ thống để phát hiện những sản phẩm yếu kém Công ty cử ra một ban rà soát lại sản phẩm gồm đại diện của các phòng Marketing, nghiên cứu và phát triển, sản xuất và tài chính Ban này xây dựng một

hệ thống để phát hiện những sản phẩm yếu kém Phòng kiểm tra cung cấp những số liệu về từng sản phẩm thể hiện những xu hướng của quy mô thị trường, thị phần,

Trang 15

giá, chi phí và lợi nhuận Thông tin này được máy tính phân tích nhằm phát hiện

những sản phẩm đáng ngờ Tiêu chuẩn bao gồm số năm mức tiêu thụ suy giảm, xu

hưởng của thị phẩn, mức lãi gộp và tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư Những nhà

quản trị phụ trách những sản phẩm đáng ngờ điền vào các biểu mẫu đánh giá thể

hiện ý kiến của họ về xu hướng của mức tiêu thụ và lợi nhuận khi có và không thay

đổi chiến lược Marketing Ban rà soát lại sản phẩm sẽ nghiên cứu thông tin này và

đưa ra kiến nghị về từng sản phẩm nghi ngờ, để yên nó, thay đối chiến lược

Marketing hay loại bỏ

Xác định chiến lược Marketing

Có những công ty bỏ rơi những thị trường suy yếu sớm hơn các công ty

khác Điều này phụ thuộc rất nhiều vào những rào cản xuất Rào cản xuất càng thấp

thì công ty càng dễ dàng rời bỏ ngành và càng xúi giục những công ty ở lại quyết

tâm ở lại hơn và thu hút khách hàng của những công ty rút lui Những công ty ở lại

sẽ được hưởng mức tiêu thụ và lợi nhuận cao hơn Ví dụ, Procter & Gamble đã trụ

lại với việc sản xuất xà bông nước đang bị suy thoái và đã tăng được lợi nhuận của

mình khi các công ty khác rút đi

Quyết định loại bỏ

Khi công ty quyết định loại bỏ một sản phẩm, nó phải thông qua số quyết

định tiếp theo Nếu sản phẩm đó được phân phối rất mình và vẫn còn tín nhiệm thì

chắc chắn công ty có thể bán nó cho một công ty nhỏ hơn

Nếu công ty không tìm được người mua nào thì nó phải quyết định nên thanh

lý nhãn hiệu nhanh hay chậm Nó cũng phải quyết định cần duy trì bao nhiêu phụ

tùng và dịch vụ để phục vụ khách hàng cũ

1.2.3 Phát triển sản phẩm mới

Các công ty ngày càng ý thức được sự cần thiết và tính ưu việt của việc

thường xuyên phát triển các sản phẩm mới và dịch vụ mới Những sản phẩm mới đã

ở vào giai đoạn sung mãn và suy thoái cần được thay thế bằng những sản phẩm mới

Tuy nhiên, những sản phẩm mới có thể thất bại Rủi ro của việc đổi mới cũng lớn ngang với sự đền bù mà nó đem lại Chìa khoá để đổi mới thành công là xây dựng tổ chức tốt hơn để quản trị những ý tưởng sản phẩm mới và triển khai nghiên cứu có cơ sở và thông qua quyết định trong từng giai đoạn của quá trình phát triển sản phẩm mới

Quá trình phát triển sản phẩm mới có tám giai đoạn: Hình thành ý tưởng, sàng lọc ý tưởng, phát triển quan niệm và thử nghiệm, hoạch định chiến lược Marketing, phân tích tình hình kinh doanh, phát triển sản phẩm, thử nghiệm trên thị trường và thương mại hoá Mục đích của từng giai đoạn là quyết định xem có nên tiếp tục triển khai ý tưởng đó nữa không hay huỷ bỏ Công ty muốn giảm đến mức tối thiểu khả năng để cho những ý tưởng kém lọt lưới, còn những ý tưởng hay thì lại

bị từ chối

1.2.3.1 Hình thành ý tưởng

Quá trình phát triển sản phẩm mới bắt đầu từ việc tìm kiếm những ý tưởng Việc tìm kiếm không thể là vu vơ Ban lãnh đạo tối cao phải xác định những sản phẩm và thị trường cần chú trọng Họ cần xác định mục tiêu của sản phẩm mới, như tạo lưu kim lớn, khống chế thị phần hay những mục tiêu khác Họ cũng phải xác định cần dành bao nhiêu nỗ lực cho việc phát triển những sản phẩm đột phá, cải biến những sản phẩm hiện có và làm nhái sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh

Những ý tưởng sản phẩm mới có thể nảy sinh từ nhiều nguồn: Khách hàng, các nhà Khoa học, đối thủ cạnh tranh, công nhân viên, các thành viên của kênh và

ban lãnh đạo tối cao

Phương pháp hình thành ý tưởng

Trang 16

Những ý tưởng thực sự hay đều nảy sinh từ nguồn cảm hứng, sự lao động cật

lực và những phương pháp Có một số phương pháp "sáng tạo" có thể giúp các cá

nhân hay tập thể hình thành những ý tưởng tốt hơn

Liệt kê thuộc tính

Phương pháp này đòi hỏi phải liệt kê những thuộc tính chủ yếu của một sản

phẩm hiện có rồi sau đó cải tiến từng thuộc tính để tìm ra một sản phẩm cải tiến

Những quan hệ bắt buộc

Ở đây một số sự vật được xem xét trong mối quan hệ gắn bó với nhau Một

hãng sản xuất thiết bị văn phòng muốn thiết kế một kiểu làm việc mới cho các cán

bộ điều hành Một số sự vật được đưa vào danh sách: Bàn làm việc, máy thu hình,

đồng hồ, máy tính, máy sao hay chụp, tủ sách v.v Kết quả là một cái bàn đầy thiết

bị điện tử với một bản điều khiển giống như trong buồng lái máy bay

Phân tích hình thái học

Phương pháp này đòi hỏi phải phát hiện những cấu trúc rồi khảo sát mối

quan hệ giữa chúng Giả sử vấn đề là "di chuyển một cái gì đó từ chỗ này sang chỗ

khác bằng một phương tiện cơ giới" Những biến quan trọng là kiểu phương tiện

(Xe, gối dỡ, quang treo, bệ đỡ), môi trường truyền lực (không khí, nước, dầu, bề

mặt cứng, bánh lăn, đường ray), nguồn năng lượng (khí nén, máy nổi động cơ điện)

Chẳng hạn như một phương tiện xe kiểu có động cơ nổ và di chuyển trên một mặt

phẳng cứng là ô tô Hy vọng là tìm được một cách kết hợp mới

Phát hiện nhu cầu/vấn đề

Những phương pháp sáng tạo trên không đòi hỏi thông tin từ người tiêu dùng

để hình thành ý tưởng Mặt khác, việc phát hiện nhu cầu/vấn đề lại bắt đầu từ người

tiêu dùng được hỏi về nhu cầu, vấn đề là ý tưởng ví dụ, họ có thể được hỏi về

những vấn đề khi sử dụng một sản phẩm hay một loại sản phẩm cụ thể

Thảo luận nhóm

Có thể kích thích nhóm sáng tạo bằng phương pháp động não do Alex Osborn đưa ra Nhóm động não thông thường từ sáu đến mười người vấn đề được đặt ra cụ thể Các buổi họp chỉ kéo dài khoảng một giờ Người chủ trì có ý kiến mở đầu là "Hãy nhớ rằng chúng ta cần càng nhiều ý tưởng càng tốt, càng rộng càng tốt

và nhớ rằng chưa cần đánh giá" Các ý tưởng bắt đầu tuôn ra, ý tưởng này làm nảy sinh ý tưởng khác, và trong vòng một giờ có thể có hàng trăm ý tưởng mới được ghi lại bằng máy ghi âm Để cho cuộc họp có hiệu quả tối đa, Osborn đưa ra bốn ý kiến chỉ đạo sau:

+ Không phê phán: Phải loại bỏ những ý kiến phê phán các ý tưởng ngay cả sau một thời gian

+ Tự do thoải mái: ý tưởng càng rộng lớn càng tốt im lặng thì dễ hơn là nói

Gordon mô tả năm nguyên tắc cơ bản của phương pháp synecties như sau:

+ Trì hoãn: Trước tiên tìm kiếm quan điểm chứ không phải giải pháp

+ Tính độc lập của sự vật: Hãy để cho vấn đề có cuộc sống riêng của nó

+ Sử dụng điều bình thường: Tận dụng cái quen thuộc làm điểm xuất phát để tiến đến cái chưa biết

+ Tham gia tách ra: Thay đổi từ việc đi sâu vào những trường hợp riêng của vấn đề sang tư thế lùi xa ra khỏi chúng để xem xét chúng như những trường hợp của một cái chung

+ Sử dụng phép ẩn dụ: Để cho những cái tình cờ, có vẻ không có liên quan

Trang 17

Điểm chủ yếu về sự hình thành ý tưởng là mọi Công ty đều có thể làm nảy

sinh những ý tưởng hay bằng cách tổ chức một cách thích hợp Công ty cần động

viên công nhân viên nêu ra những ý tưởng của mình Chúng phải được chuyển đến

một vị chủ tịch ban tập hợp ý tưởng có tên và số điện thoại được phổ biến cho mọi

người biết Các ý tưởng phải được viết ra giấy và được một ban phụ trách ý tưởng

xem xét hàng tuần Ban phụ trách ý tưởng phải phân loại các ý tưởng thành ba

nhóm: Những ý tưởng có hứa hẹn, những ý tưởng vụn vặt, và những ý tưởng bị loại

bỏ Mỗi ý tưởng có hứa hẹn sẽ được một thành viên của ban đó nghiên cứu rồi báo

cáo lại Sau đó những ý tưởng có hứa hẹn còn lại sẽ được đưa vào quá trình sàng lọc

toàn diện

Công ty sẽ tặng thưởng tiền hay giấy khen cho những công nhân viên đã đưa

ra được những ý tưởng hay nhất

1.2.3.2 Sàng lọc ý tưởng

Mục đích của giai đoạn hình thành ý tưởng là sáng tạo ra thật nhiều ý tưởng

Mục đích của các giai đoạn tiếp theo là giảm bớt số ý tưởng xuống còn vài ý tưởng

hấp dẫn và có tính thực tiễn Giai đoạn loại bớt ý tưởng đầu tiên là giai đoạn sàng

lọc

Khi sàng lọc các ý tưởng công ty phải tránh hai kiểu sai lầm Bỏ sót sai lầm

xảy ra khi công ty gạt bỏ một ý tưởng hay Việc dễ nhất có thể làm được là tìm ra

những thiếu sót trong các ý tưởng của người khác Có những công ty phải giật mình

khi xem lại một số ý tưởng mà họ đã gạt bỏ

Nếu một công ty phạm quá nhiều sai lầm để sót thì có nghĩa là những tiêu

chuẩn của nó là quá thủ cựu

Sai lầm để lọt lưới xảy ra khi công ty để cho một ý tưởng tồi đi vào giai đoạn

phát triển và thương mại hoá Ta có thể phân biệt ba kiểu thất bại của sản phẩm

Thất bại tuyệt đối của sản phẩm là mất tiền; tiền bán nó không đủ để trang trải chi

phí biến đổi Thất bại một phần của sản phẩm là mất tiền, nhưng tiền bán nó đủ để

trang trải toàn bộ chi phí biến đổi và phần chi phí cố định Thất bại tương đối của sản phẩm có đem lại lợi nhuận nhưng thấp hơn tỷ suất lợi nhuận mục tiêu của công

ty

Mục đích của việc sàng lọc là loại bỏ những y tưởng tồi càng sớm càng tốt

Lý do là chi phí phát triển sản phẩm tăng lên đáng kể qua mỗi giai đoạn phát triển tiếp theo Khi sản phẩm bước vào những giai đoạn cuối, ban lãnh đạo cảm thấy rằng mình đã đầu tư quá nhiều vào việc phát triển sản phẩm đó, nên phải tung nó ra bán

để gỡ lại một phần vốn đầu tư Nhưng như vậy có nghĩa là thả những đồng tiền trong túi mình ra để rồi đuổi bắt những đồng tiền còn chưa thấy bóng dáng nó ở đâu, nên giải pháp thực tế là không được để cho những ý tưởng sản phẩm yếu kém được tiếp tục triển khai

1.2.3.3 Phát triển và thử nghiệm quan niệm

Những ý tưởng hấp dẫn phải được xác định chi tiết thành những quan niệm

về sản phẩm có thể thử nghiệm được Ta có thể phân biệt ý tưởng sản phẩm, quan niệm sản phẩm và hình ảnh sản phẩm Ý tưởng sản phẩm là một sản phẩm có thể có

mà công ty có thể cung ứng cho thị trường Quan niệm sản phẩm là một cách giải thích ý tưởng bằng ngôn ngữ mà người tiêu dùng hiểu được Hình ảnh sản phẩm là bức tranh cụ thể của một sản phẩm thực tế hay tiềm ẩn mà người tiêu dùng có được

1.2.3.4 Hoạch định chiến lược Marketing cho sản phẩm mới

Bây giờ người quản trị sản phẩm mới phải hoạch định một chiến lược Marketing để tung sản phẩm đó ra thị trường Chiến lược Marketing này sẽ được xác định chi tiết hơn trong những giai đoạn tiếp sau

Kế hoạch chiến lược Marketing gồm ba phần Phần thứ nhất mô tả quy mô, cơ cấu và hành vi của thị trường mục tiêu, dự kiến định vị của sản phẩm, mức tiêu thụ

và thị phần, các chỉ tiêu lợi nhuận dự kiến trong một vài năm đầu tiên

Phần thứ ba của kế hoạch Marketing trình bày chỉ tiêu mức tiêu thụ và lợi

Trang 18

1.2.3.5 Phân tích tình hình kinh doanh

Sau khi ban lãnh đạo đã xây dựng được quan niệm sản phẩm và chiến lược

Marketing thì họ có thể đánh giá tính hấp dẫn của dự án kinh doanh Ban lãnh đạo

cần chuẩn bị những dự đoán về mức tiêu thụ, chi phí và lợi nhuận để xác định xem

chúng có thoả mãn những mục tiêu của Công ty hay không Nếu chúng thoả mãn,

thì quan niệm sản phẩm đó sẽ được chuyển sang giai đoạn phát triển sản phẩm Khi

có những thông tin mới thì tiến hành phân tích lại tình hình kinh doanh

Ước tính mức tiêu thụ

Ban lãnh đạo cần ước tính xem mức tiêu thụ có đủ lớn để đem lại lợi nhuận

thoả đáng không Phương pháp ước tính mức tiêu thụ phụ thuộc vào chỗ sản phẩm

đó là sản phẩm mua một lần, sản phẩm mua thường xuyên hay sản phẩm mua

không thường xuyên Mức tiêu thụ lúc đầu tăng, đạt tới đỉnh cao, rồi sau đó tiến dần

đến không khi số người mua tiềm ẩn đã cạn kiệt Nếu vẫn có những người mua mới

tham gia thị trường thì đường cong sẽ không tiến đến số không

Ước tính mức tiêu thụ lần đầu

Nhiệm vụ đầu tiên là xác định khối lượng mua lần đầu sản phẩm mới đó trong

từng thời kỳ

Ước tính mức tiêu thụ thay thế

Để ước tính mức tiêu thụ thay thế, ban lãnh đạo phải nghiên cứu phân bố tuổi

thọ sản phẩm của mình Mức thấp của phân bố này chỉ khi bắt đầu có mức tiêu thụ

thay thế Thời điểm thay thế thực tế còn chịu ảnh hưởng của quan điểm kinh tế của

khách hàng, tình hình thu chi và các phương án sản phẩm cũng như giá cả, điều kiện

tài trợ và nỗ lực bán hàng của công ty.Vì rất khó xác định mức tiêu thụ thay thế

trước khi sản phẩm được sử dụng thực tế, một số hãng sản xuất dựa trên cơ sở ước

tính mức tiêu thụ lần đầu để quyết định việc tung ra chỉ một sản phẩm mới

Ước tính mức tiêu thụ lặp lại

Đối với sản phẩm mới mua thường xuyên người bán phải ước tính mức tiêu thụ lặp lại cũng như mức tiêu thụ lần đầu Chính là vì giá trị đơn vị của sản phẩm mua thường xuyên thấp nên chỉ sau khi tung ra thị trường một ít lâu là đã có trường hợp mua lặp lại Mức mua lặp lại cao có nghĩa là khách hàng hài lòng, mức tiêu thụ

có thể vẫn cao ngay cả sau khi tất cả mọi người đã mua lần đầu Người bán phải theo dõi tỷ lệ phần trăm trường hợp mua lặp lại xảy ra trong từng lớp mua lặp lại: Những người mua lặp lại một lần, hai lần, ba lần, v.v Có một số sản phẩm và nhãn hiệu được mua một vài lần rồi thôi Điều quan trọng là phải ước tính xem tỷ lệ mua lặp lại có thể tăng hay giảm, và với mức độ như thế nào đối với những lớp mua lặp lại nhiều hơn

Ước tính chi phí và lợi nhuận

Sau khi chuẩn bị dự báo mức tiêu thụ, ban lãnh đạo có thể ước tính chi phí và lợi nhuận dự kiến của vụ kinh doanh này Chi phí do các phòng nghiên cứu và phát triển, sản xuất, Marketing và tài chính ước tính

Các công ty sử dụng những số liệu tài chính để đánh giá giá trị của đề án sản phẩm mới Đơn giản nhất là phân tích điểm hoà vốn, trong đó ban lãnh đạo đánh giá xem công ty phải bán được bao nhiêu đơn vị sản phẩm đó thì mới hoà vốn, với giá

và cơ cấu chi phí đã định Nếu ban lãnh đạo tin chắc rằng công ty có thể dễ dàng đạt được số lượng để hoà vốn, thì thường nó sẽ để cho tiếp tục chuyển đề án sang giai đoạn phát triển sản phẩm

Phương pháp phức tạp nhất là phân tích rủi ro Ở đây ba kết quả ước tính (lạc quan, bi quan và nhiều khả năng nhất) thu được đối với từng biến không chắc chăn,

có ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của môi trường Marketing đã giả thiết và chiến lược Marketing đã định trong kỳ kế hoạch Máy tính mô phỏng các kết quả khả dĩ

và tính toán phân phối xác suất của tỷ suất lợi nhuận, thể hiện khoảng tỷ suất lợi nhuận có thể đạt được và xác suất của chúng

Trang 19

1.2.3.6 Phát triển sản phẩm và thử nghiệm trên thị trường

Nếu quan niệm sản phẩm đó qua được thử nghiệm kinh doanh thì nó sẽ đi tiếp

sang giai đoạn nghiên cứu và phát triển và/hay thiết kế kỹ thuật để phát triển thành

sản phẩm vật chất Cho đến lúc này nó mới chỉở dạng mô tả bằng lời, một hình vẽ

hay mô hình phác thảo Bước này đòi hỏi phải có một sự nhảy vọt về vốn đầu tư, số

tiền cần thiết sẽ lớn gấp bội so với chi phí đánh giá ý tưởng phát sinh trong những

giai đoạn trước Giai đoạn này sẽ trả lời ý tưởng sản phẩm đó, xét về mặt kỹ thuật

và thương mại, có thể biến thành một sản phẩm khả thi không Nếu không, thì

những chi phí tích luỹ của đề án mà công ty đã chi ra sẽ mất trắng, chỉ trừ những

thông tin hữu ích đã thu được trong quá trình đó

Phòng nghiên cứu và phát triển sẽ phát triển một hay nhiều dạng mẫu vật

chất của quan niệm sản phẩm Họ hy vọng rằng, sẽ tìm được một nguyên mẫu mà

người tiêu dùng thấy rằng nó có đủ những thuộc tính then chốt được mô tả trong

quan niệm sản phẩm, hoạt động an toàn trong điều kiện sử dụng bình thường, và có

thể sản xuất trong phạm vi chi phí sản xuất đã dự toán

Việc phát triển được một nguyên mẫu thành công phải mất nhiều ngày, tuần,

tháng, thậm chí nhiều năm Việc thiết kế một máy bay thương mại mới sẽ chiếm

mất vài năm của công tác phát triển Ngay cả việc phát triển công thức có hương vị

mới cũng có thể mất thời gian

Số lượng thử nghiệm trên thị trường chịu ảnh hưởng một bên là chi phí và rủi

ro của vốn đầu tư, và một bên là sức ép thời gian và chi phí nghiên cứu Những sản

phẩm có vốn đầu tư rủi ro cao cần được thử nghiệm trên thị trường tới mức độ đủ

để không phạm sai lầm; chi phí thử nghiệm trên thị trường sẽ bằng một tỷ lệ phần

trăm không đáng kể trong tổng chi phí của dự án Những sản phẩm có rủi ro lớn, tức

là những sản phẩm tạo ra những loại sản phẩm mới hay có những tính chất mới cần

được thử nghiệm trên thị trường nhiều hơn những sản phẩm cải tiến Nhưng số

lượng thử nghiệm trên thị trường có thể giảm đi một chừng mực nào đó nếu công ty

đang bị sức ép về thời gian vì thời vụ đã bắt đầu hay vì các đối thủ cạnh tranh sẽ

tung ra những nhãn hiệu của mình Vì vậy công ty có thể chấp nhận rủi ro sản phẩm

bị thất bại hơn là rủi ro mất khả năng phân phối hay xâm nhập thị trường với một sản phẩm chắc chắn thành công Chi phí thử nghiệm trên thị trường cũng chịu ảnh hưởng của số lượng thử nghiệm và loại sản phẩm gì

1.2.3.7 Thương mại hóa

Thử nghiệm trên thị trường có lẽ đã cung cấp đủ thông tin để ban lãnh đạo quyết định xem xét các sản phẩm mới ra không Nếu công ty tiếp tục thương mại hoá thì nó phải chịu những chi phí lớn nhất từ trước đến giờ Công ty sẽ phải ký hợp đồng sản xuất hay xây dựng hoặc một cơ sở sản xuất có quy mô tương xứng quy

mô của nhà máy là một biến cực kỳ quan trọng của quyết định Công ty có thể xây dựng một nhà máy nhỏ hơn so với yêu cầu của dự báo mức tiêu thụ để cho an toàn hơn

Thời điểm (trả lời câu hỏi Khi nào?)

Trong việc thương mại hoá một sản phẩm mới, thời điểm tung ra thị trường

có thể là cực kỳ quan trọng giả sử, một công ty hầu như đã hoàn tất việc phát triển một sản phẩm mới và nghe nó có một đối thủ cạnh tranh sắp kết thúc việc phát triển sản phẩm của mình Công ty phải đứng trước ba cách lựa chọn:

Tung ra thị trường trước tiên: Công ty tham gia thị trường đầu tiên thường

có được "ưu thế của người chủ động" là nắm chắc được những người phân phối và khách hàng chủ chốt và giành được vị trí dẫn đầu về tiếng tăm Kết quả nghiên cứu của A.Mc Kinsey cho thấy rằng, người đầu tiên tung sản phẩm mới ra thị trường, cho dù phải chi vượt ngân sách, vẫn tốt hơn là người đến muộn hơn, nhưng đảm bảo ngân sách Mặt khác, nếu sản phẩm đó được tung ra thị trường trước khi chi hết ngân sách, thì sản phẩm đó có thể có một hình ảnh không hoàn mỹ

Tung ra thị trường đồng thời: Công ty có thể xác định thời điểm tung ra thị

trường đồng thời với đối thủ cạnh tranh đó Nếu đối thủ cạnh tranh vội vã tung ra thị trường thì công ty cũng làm như vậy Nếu đối thủ cạnh tranh tranh thủ thơi gian,

Trang 20

thì công ty cũng tranh thủ thời gian, làm thêm giờ để hoàn thiện sản phẩm của mình

Công ty có thể muốn cả hai cùng gánh chịu chi phí quảng cáo về việc tung sản

phẩm mới

Tung ra thị trường muộn hơn: Công ty có thể hoãn tung sản phẩm của mình

ra thị trường cho đến khi đối thủ cạnh tranh đã xâm nhập thị trường Trong trường

hợp này có ba lợi thế tiềm ẩn Đối thủ cạnh tranh sẽ phải gánh chi phí đào tạo thị

trường Sản phẩm của đối thủ cạnh tranh có thể bộc lộ những thiếu sót mà người đi

sau có thể tránh Công ty có thể biết được quy mô của thị trường

Quyết định thời điểm có liên quan đến những vấn đề phụ kèm theo Nếu sản

phẩm mới thay thế một sản phẩm cũ của công ty, thì công ty có thể hoãn việc tung

ra thị trường cho đến khi tiêu thụ hết số sản phẩm cũ còn tồn kho Nếu sản phẩm có

tính thời vụ cao thì có thể giữ lại cho đến đúng thời vụ của nó Tóm lại, cần phải

suy nghĩ kỹ về thời điểm tung ra thị trường

Khu vực thị trường (trả lời câu hỏi ở đâu?)

Công ty sẽ phải quyết định tung sản phẩm mới ra tại một địa bàn, một khu

vực, nhiều khu vực hay thị trường toàn quốc, thị trường quốc tế Có một số công ty

có đủ lòng tin, vốn, và năng lực để tung sản phẩm mới ra thị trường toàn quốc hay

toàn cầu Họ sẽ xây dựng kế hoạch chiếm lĩnh thị trường theo thời gian Những

công ty nhỏ thì chọn lấy một thành phố hấp dẫn và mở một chiến dịch chớp nhoáng

để xâm nhập thị trường Họ cũng xâm nhập các thành phố khác dần dần, mỗi lần

một thành phố Những công ty lớn thì từng sản phẩm ra toàn bộ khu vực rồi sau đó

chuyển sang khu vực tiếp sau Những công ty có mạng lưới phân phối toàn quốc

như các hãng ô tô chẳng hạn sẽ tung model sản phẩm mới của mình trên thị trường

cả nước

Những khách hàng triển vọng của thị trường mục tiêu (Cho ai?)

Trong phạm vi những thị trường lấn chiếm, công ty phải hướng mục tiêu

trọng nhất Những khách hàng triển vọng hàng đầu đối với một sản phẩm tiêu dùng mới, trong trường hợp lý tưởng, phải có những đặc điểm sau: Họ phải là những người chấp nhận sản phẩm sớm, sử dụng nhiều, hướng dẫn dư luận và có thể đạt được chi phí thấp Có một vài nhóm có đầy đủ tất cả những đặc điểm này Căn cứ vào những đặc điểm vừa nêu, công ty có thể xếp hạng các nhóm khách hàng triển vọng khác nhau rồi chọn nhóm tốt nhất làm mục tiêu Mục đích là tạo ra được mức tiêu thụ mạnh càng sớm càng tốt đểđộng viên lực luợng bán hàng và thu hút thêm những khách hàng triển vọng khác

Chiến lược tung ra thị trường (Làm như thế nào?)

Công ty phải xây dựng một kế hoạch hành động để tung sản phẩm mới ra những thị trường lấn chiếm Ví dụ:

Vào tháng Năm năm 1986 hãng Polaroid đã tung ra máy ảnh cho hình ngay spectra với ngân sách quảng cáo trong năm đầu tiên là 40 triệu USD Các panô quảng cáo được dựng tại 25 thị trường như là một phần của chiến dịch chọc ghẹo, rồi tiếp đến là một chiến dịch ấn phẩm và truyền hình dồn dập nhằm làm cho 90% công chúng mục tiêu của Spectra phải xem tới 25 lần

Để sắp xếp trình tự và phối hợp nhiều hoạt động liên quan đến việc tung sản phẩm mới ra thị trường, ban lãnh đạo có thể dùng phương pháp sơ đồ mạng như phương pháp đường tới hạn

Quá trình chấp nhận của người tiêu dùng

Quá trình chấp nhận của người tiêu dùng bắt đầu từ chỗ quá trình đổi mới của công ty chấm dứt Nó mô tả cách thức khách hàng tiềm ẩn tìm hiểu về sản phẩm mới, dùng thử nó và chấp nhận hay từ chối nó Ban lãnh đạo phải hiểu được quá trình này để xây dựng một chiến lược hiệu quả nhằm xâm nhập sớm thị trường Tiếp sau quá trình chấp nhận của người tiêu dùng là quá trình trung thành của người tiêu dùng, một mối quan tâm của nhà sản xuất đã ổn định

Trang 21

Cách đây nhiều năm, những người làm Marketing sản phẩm mới đã sử dụng

phương thức tiếp cận thị trường đại trà để tung sản phẩm của mình ra Họ phân phối

sản phẩm đi khắp mọi nơi và quảng cáo cho tất cả mọi người với giả thiết là hầu hết

mọi người đều là những người mua tiềm ẩn Phương thức tiếp cận thị trường đại trà,

tuy vậy, cũng có hai nhược điểm: Nó đòi hỏi chi phí marekting lớn và có nhiều

trường hợp quảng cáo lãng phí cho những người không phải là tiêu dùng tiềm ẩn

Những nhược điểm này đã dẫn đến một phương thức tiếp cận thứ hai là Marketing

mục tiêu người sử dụng nhiều, theo đó lúc đầu sản phẩm được hướng vào những

người sử dụng nhiều Phương thức này chỉ có nghĩa khi những người sử dụng nhiều

có thể dễ phát hiện được và là những người sớm chấp nhận Nhưng ngay cả trong

nhóm người sử dụng nhiều, người tiêu dùng cũng có mức độ quan tâm đến sản

phẩm và nhãn hiệu mới khác nhau Nhiều người sử dụng nhiều trung thành với

những nhãn hiệu hiện có Hiện nay nhiều người làm Marketing sản phẩm mới

hướng vào những người tiêu dùng nào là những người sớm chấp nhận Theo lý

thuyết người sớm chấp nhận:

+ Những người trong một thị trường mục tiêu khác nhau về khoảng thời gian

ngăn cách giữa lúc họ nhìn thấy sản phẩm mới và lúc họ dùng thử chúng

+ Những người sớm chấp nhận có chung một đặc điểm phân biệt họ với

những người chấp nhận muộn

+ Có những phương tiện truyền thông có hiệu quảđể truyền tới những người

sớm chấp nhận

+ Những người sớm chấp nhận có xu hướng trở thành những người hướng

dẫndư luận và có lợi cho việc quảng cáo sản phẩm mới đối với những người mua

tiềm ẩn khác

Những quan điểm về đổi mới Lan truyền và chấp nhận

Sự đổi mới có nghĩa là mọi hàng hoá, dịch vụ hay ý tưởng được một ai đó

đối với người thấy nó là mới Sự đổi mới cần có thời gian để lan truyền thông qua

hệ thống xã hội Rogers định nghĩ quá trình lan truyền là "sự phổ biến một ý tưởng mới từ nguồn sáng chế hay sáng tạo ra nó đến những người sử dụng cuối cùng hay những người chấp nhận" Mặt khác, quá trình chấp nhận tập trung vào "quá trình tinh thần thông qua đó một cá thể đi từ chỗ nghe thấy lần đầu tiên về sự đổi mới đến

sự chấp nhận cuối cùng" Sự chấp nhận là quyết định của một cá thể trở thành người

sử dụng thường xuyên một sản phẩm

Những giai đoạn của quá trình chấp nhận

Kết quả quan sát những người chấp nhận sản phẩm mới cho thấy họ đã trải qua năm giai đoạn sau:

+ Biết đến: Người tiêu dùng biết đến sự đổi mới, nhưng còn thiếu những thông tin về nó

+ Quan tâm: Người tiêu dùng bị kích thích để tìm kiếm thông tin về sự đổi mới

+ Đánh giá: Người tiêu dùng xem xét có nên dùng thử sản phẩm mới đó không

+ Dùng thử: người tiêu dùng dùng thử sản phẩm mới để đánh giá giá trị của

Trang 22

1.3 Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch

1.3.1 Sản phẩm du lịch và những nét đặc trưng cơ bản của nó

Theo Giáo trình Kinh tế du lịch (Khoa Du lịch và Thương mại, trường

ĐHKTQD): “Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, tạo

nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng

các nguồn lực: Cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một

quốc gia nào đó”

Những nét đặc trưng cơ bản của sản phẩm du lịch:

Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật thể

Thành phần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ (thường chiếm 80%-90% về mặt

giá trị), hàng hóa chiếm tỷ trọng nhỏ

Do vậy việc đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch rất khó khăn, vì thường

mang tính chủ quan và phần lớn không phụ thuộc vào người kinh doanh mà phụ

thuộc vào khách du lịch Chất lượng sản phẩm du lịch được xác định dựa vào sự

chênh lệch giữa mức độ kỳ vọng và mức độ cảm nhận về chất lượng của khách du

lịch

Chính vì đặc điểm này của sản phẩm du lịch nên đã có nhiều ý kiến cho rằng

trong lịch vực du lịch việc sử dụng thuật ngữ “sản phẩm du lịch” để chỉ kết quả của

quá trình lao động du lịch là không chính xác bằng thuật ngữ “dịch vụ du lịch”

Nhưng, việc sử dụng thuật ngữ “sản phẩm du lịch” là hoàn toàn chính xác

Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch

Do vậy, sản phẩm du lịch không thể dịch chuyển được Trên thực tế, không

thể đưa sản phẩm du lịch đến nơi có khách du lịch mà bắt buộc khác du lịch phải

đến nơi có sản phẩm du lịch để thỏa mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu

Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn, mà chỉ có thể tập trung vào những thời gian nhất định trong ngày (đối với sản phẩm ở bộ phận nhà hàng), trong tuần (đối với sản phẩm của thể loại du lịch cuối tuần), trong năm (đối với sản phẩm của một số loại hình du lịch như: du lịch nghỉ biển, du lịch nghỉ núi…)

Vì vậy, trên thực tế hoạt động kinh doanh du lịch thường mang tính mùa vụ

Sự dao động (về thời gian) trong tiêu dùng du lịch gây khó khăn cho việc tổ chức hoạt động kinh doanh và từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các nhà kinh doanh du lịch Khắc phục tính mùa vụ trong kinh doanh du lịch luôn là vấn đề bức xúc cả về mặt thực tiễn, cũng như về mặt lý luận trong lĩnh vực du lịch

Trang 23

- Những hoạt động kinh tế, tài chính

1.3.2.2 Cách sắp xếp của Jeffries và Krippendorf

- Các di sản thiên nhiên, tài nguyên thiên nhiên

- Các di sản do con người tạo ra

- Các yếu tố thuộc về con người: Tôn giáo, phong tục, tập quán

- Hệ thống các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc

- Những cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ ngành du lịch: Khách sạn, nhà hàng

- Các chính sách kinh thế, tài chính, chính sách xã hội

1.3.2.3 Cách sắp xếp của Micheal M Coltman

Micheal M Coltman chia sản phẩm du lịch theo hai hướng tài nguyên:

Tài nguyên theo hướng Marketing

- Tài nguyên thiên nhiên: Phong cảnh, công viên, hồ suối, núi non, dốc đá,

đèo, hệ động và thực vật, bãi biển, hải cảng

- Nơi tiêu biểu văn hóa và lịch sử: Vùng khảo cổ, kiến trúc truyền thống,

nghề thủ công văn địa, thực phẩm đặc sản, lễ lạt, nghi thức, phong tục, múa hát

- Nơi giải trí: Công viên, sân golf, nơi cắm trại, nơi picnic, nơi bơi lội, nơi

chơi ski

- Các tiện nghi du lịch: Chiêu đãi, phục vụ nghỉ ngơi, nhà hàng, mua sắm,

trung tâm thông tin, hệ thống đăng ký giữ chỗ

- Khí hậu

- Các tài nguyên thiên nhiên khác

- Hấp dẫn tâm lý: Mỹ quan, thái độ hài lòng

Cách sắp xếp theo hướng chức năng điều hành

- Khả năng mua đất đai

- Kế hoạch và phân vùng

- Vận chuyển: Đường bộ, đường hàng không, xe lửa, xe độ, tàu bè,

- Phục vụ công cộng: Nước dùng, điện, nước thải

- Kỹ nghệ trợ giúp: Công an, cứu hỏa, y tế, nhà thờ, chùa, ngân hàng, cung ứng lương thực, giặt ủi, các dịch vụ trợ giúp khác

- Lực lượng lao động: Thuê mướn lao động được, khéo léo tay nghề, dạy ngoại ngữ, dạy kỹ thuật

- Vốn

- Thái độ của chính quyền địa phương

1.3.3 Chiến lược chu kỳ đời sống sản phẩm

Dịch vụ không có chu kỳ đời sống sản phẩm Trong du lịch, các sản phẩm hữu hình như điểm du lịch có chu kỳ đời sống sản phẩm, và chu kỳ đời sống sản phẩm có thể phụ thuộc vào ba loại: Chu kỳ ngắn hạn, chu kỳ trung hạn và chu kỳ dài hạn

Chu kỳ ngắn hạn

Chu kỳ ngắn hạn của một điểm sinh hoạt du lịch được tính là một năm hoặc ngắn hơn Những chu trình này dễ nhận thấy như chu kỳ đi nghỉ theo mùa trong năm tại một nơi du lịch nào đó Cũng có thể một điểm du lịch có hai chu kỳ sinh hoạt trong một năm cho mùa hè và mùa đông tùy theo loại hình sinh hoạt như mùa đông trượt tuyết, mùa hè chơi golf, cỡi ngựa

Chu kỳ trung hạn

Chu kỳ du lịch trung hạn thường xảy ra trên vài năm Sở dĩ có sự thay đổi này có thể do xu hướng của khách, do vấn đề chính trị, sự bất ổn về an ninh hay do

Trang 24

Chu kỳ dài hạn

Chu kỳ dài hạn của một điểm du lịch trải qua bốn giai đoạn: Giai đoạn phát

hiện, giai đoạn phát triển, giai đoạn chín muồi và giai đoạn suy thoái Mỗi giai đoạn

có một đặc tính riêng và người làm Marketing cần biết để triển khai chiến lược

Marketing phù hợp với mọi giai đoạn để đạt hiệu quả trong kinh doanh

1.3.3.1 Giai đoạn phát hiện hay giới thiệu sản phẩm (Introducation stage)

Đây là bước đầu, mới tìm thấy điểm du lịch và phát triển ý tưởng sản phẩm

mới Trong giai đoạn này, doanh số thấp, trái lại, chi phí đầu tư cao Đây là nơi du

lịch mới hình thành, bắt đầu thu hút một số khách du lịch, các khách sạn nhà hàng,

các cơ sở kinh doanh với giá cao Theo Plog, những nơi này, lúc đầu thu hút loại

khách Dị tâm lý (Allocantric), những khách thích phiêu lưu mạo hiểm, là người

thích đến đầu tiên những nơi du lịch mới được khám phá và không cần được phục

vụ đầy đủ Giai đoạn phát hiện có nhiều nguy cơ dẫn đến thất bại trong kinh doanh

vì số lượng khách ít và chi phí cao

1.3.3.2 Giai đoạn phát triển (Growth stage)

Giai đoạn phát triển, sản phẩm trở nên phổ biến, hấp dẫn khách du lịch, công

việc kinh doanh thuận lợi và phát đạt, kích thích những người khác cạnh tranh

Trong giai đoạn này, điểm du lịch dần dần thích hợp với loại người trung bình

(Midcentric) và trong kinh doanh có nhiều đối thủ cạnh tranh muốn nhảy vào, cho

nên cần bán nhiều hơn là cổ động

1.3.3.3 Giai đoạn chín muồi (Maturity stage)

Giai đoạn chín muồi còn gọi là giai đoạn bão hòa Trong giai đoạn này, hoạt

động kinh doanh trở nên cạnh tranh ráo riết về giá cả Các đơn vị cung ứng du lịch

tìm cách cải biến sản phẩm nhằm đạt được sự thỏa mãn của khách tối đa

Để giảm bớt rủi ro và tránh sự suy thoái của sản phẩm các điểm du lịch phải

tìm cách cải tổ lại hình thức kinh doanh, thích ứng với thị trường du khách mới ,

1.3.3.4 Giai đoạn suy thoái (Decline stage)

Đây là giai đoạn tỏ dấu hiệu khách đã chán ngấy và quay mặt lại với sản phẩm để đi tìm những điểm du lịch khác Trong giai đoạn này, những đơn vị cung ứng du lịch nên tìm cách để đưa những sản phẩm không còn sử dụng cho khách du lịch vào việc sử dụng hữu ích khác

Không phải bất cứ sản phẩm nào cũng trải qua 4 giai đoạn trên và mỗi giai đoạn dài ngắn là do sự hiểu biết của người làm Marketing Mỗi giai đoạn của chu

kỳ đời sống sản phẩm có một chiến lược Marketing nhằm phù hợp với tình thế, thực trạng của môi trường để duy trì và phát triển sản phẩm Có những nơi du lịch ở giai đoạn chín muồi tồn tại được nhiều năm, nhưng cũng có những nơi không vượt qua được giai đoạn phát hiện ban đầu Ví dụ, ở Nam cực là điểm du lịch rất hấp dẫn với

du khách muốn ngắm đàn chim cánh cụt, ngắm và thưởng thức cảnh băng giá tuyết phủ quanh năm Nhưng chắc chắn ở Nam cực không thể trở thành nơi du lịch ở giai đoạn chín muồi Trái lại, cũng có những nơi du lịch không qua giai đoạn phát hiện

mà đã trở nên chín muồi như trường hợp Cancun, Mexico Và cũng có những trường hợp một điểm du lịch đã trải qua bốn giai đoạn thì chuyển qua một giai đoạn phát triển mới như thành phố Atlantic vài cuối thế kỷ 19

Trang 25

xây dựng chiến lược để chọn lựa chiến lược kinh doanh mang tính thực thi cao, phù

hợp với yếu tố, điều kiện của doanh nghiệp, của ngành

- Sử dụng hiệu quả nền tảng cơ sở lý thuyết cơ bản về chiến lược, vận dụng

nghiên cứu vào đề tài phát triển ngành du lịch nhằm xây dựng và củng cố vai trò

quan trọng của du lịch đối với sự phát triển xã hội trong giai đoạn đến năm 2020

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG PHÁT TRIỂN

NGÀNH DU LỊCH TỈNH TIỀN GIANG

- 2.1 Đánh giá các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang giai đoạn 2008-2012

2.1.1 Giới thiệu chung về du lịch Tiền Giang 2.1.1.1 Vị trí du lịch Tiền Giang đối với du lịch Đồng bằng sông Cửu Long

Về mặt địa lý, Tiền Giang nằm ở cửa ngõ từ thị trường nguồn khách quốc tế quan trọng nhất là TP HCM đến các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long bằng cả đường bộ và đường thủy Do đó, yếu tố điểm trung chuyển để liên kết du lịch và sản phẩm du lịch là nhân tố trọng yếu trong phát triển du lịch của tỉnh

Trước đây, do bị ngăn cách bởi dòng sông Tiền nên có thể nói Tiền Giang là một trung tâm và là đầu mối về giao thông và trung chuyển khách du lịch quốc tế cho các tỉnh lân cận như Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ và một số tỉnh vùng ĐBSCL Hiện nay, tuy cầu Mỹ Thuận và cầu Rạch Miễu đã được xây dựng hoàn toàn, việc kết nối giao thông thuận lợi giữa các tỉnh trong vùng và cả nước Nhưng nguồn khách quốc tế của tỉnh Tiền Giang trong các năm qua vẫn chiếm tỷ lệ khá cao so với các tỉnh trong vùng Đó là nhờ sự thuận lợi về giao thông, vị trí địa lý chỉ cách TP HCM khoảng hơn một giờ đi xe, lại nằm giữa hai trung tâm đô thị lớn, có sân bay quốc tế là Tân Sơn Nhất (TP HCM) và Trà Nóc (Cần Thơ), cùng với sự phong phú, đa dạng của các sản phẩm du lịch sông nước, miệt vườn Tiền Giang tiêu biểu của cả vùng ĐBSCL, đã đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định lợi thế này

2.1.1.2 Vai trò, vị trí ngành du lịch Tiền Giang trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Tiền Giang là một trong hai tỉnh thuộc vùng ĐBSCL (Tiền Giang và Long

Trang 26

nước trong phát triển kinh tế - văn hóa và dịch vụ với nhiều khu công nghiệp phát

triển mạnh như TP HCM, Đồng Nai, Bình Dương,… thu hút nhiều nhân công và

chuyên gia nước ngoài Đặc biệt với TP HCM là thị trường nguồn khách quốc tế

quan trọng nhất , từ đây các doanh nghiệp lữ hành đã liên kết đưa khách đến Tiền

Giang và các tỉnh vùng ĐBSCL bằng cả đường bộ và đường thủy Bên cạnh đó,

vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với dân số trên 15 triệu người, đây cũng chính là

nguồn khách nội địa đầy tiềm năng sẽ tiếp cận các điển đến du lịch ở Tiền Giang

2.1.1.3 Vai trò, vị trí ngành du lịch Tiền Giang trong phát triển kinh tế -

xã hội

Những năm gần đây, nền kinh tế của đất nước nói chung và tỉnh Tiền Giang

nói riêng đi vào ổn định và phát triển, có tốc độ tăng trưởng khá và thích ướng với

cơ chế thị trường Việc định hướng phát triển du lịch Tiền Giang trước mắt và lâu

dài phải gắn chặt với chiến lược phát triển du lịch Việt Nam và xu hướng phát triển

du lịch của thế giới Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam cũng như Đề

án phát triển du lịch ĐBSCL đến năm 2020 đã xác định Tiền Giang nằm trong vùng

du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ, là bộ phận quan trọng của tiểu vùng du lịch Tây

Nam Bộ, với các tuyến, trục du lịch đường bộ, đường thủy nối liền với các trung

tâm du lịch lớn trong nước và quốc tế Chính vì vậy, phát triển du lịch khu vực sẽ có

ảnh hưởng lớn đến du lịch Tiền Giang và ngược lại, hoạt động du lịch Tiền Giang

góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển du lịch chung của khu vực và cả

nước

2.1.2 Hiện trạng phát triển du lịch Tiền Giang giai đoạn 2008-2012

2.1.2.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

Khu du lịch

Các điểm tham quan du lịch hiện nay tập trung chủ yếu ở 4 khu du lịch đang

được các đơn vị khai thác và đưa vào chương trình tham quan gồm:

Đã được khai thác du lịch từ năm 1985, với 4 điểm tham quan là Thới Sơn 1,

3, 4 và 5, trong đó điểm du lịch Thới Sơn 1 của Công ty CP Du lịch Tiền Giang là điểm trung tâm đón khách du lịch quốc tế và trong nước Với Quy mô trên 1,2 ha trên đó xây dựng các nhà hàng, nhà nghỉ, khuôn viên cây cảnh Các điểm còn lại các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành khác hợp tác với cư dân địa phương để đầu tư khai thác du lịch Trong những năm qua ngành du lịch Tiền Giang đã đầu tư nâng cấp khu trung tâm Thới Sơn 1 và các điểm liên kết với hộ dân, nhằm nâng cao chất lượng phục vụ khách du lịch như: nhà trưng bày các công cụ sản xuất nông nghiệp, nhà nghỉ mát, nhà hàng phục vụ khách, liên kết phát triển các cơ sở sản xuất kẹo dừa, sản phẩm lưu niệm bằng gỗ dừa, trại nuôi ong mật, vườn trái cây, đường nội

bộ, các đội, nhóm ca nhạc tài tử, …

Hình 2.1 Khu du lịch cù lao Thới sơn

Đây là khu du lịch trung tâm thu hút khách du lịch của tỉnh Tiền Giang Trong những năm gần đây, mỗi năm lượng khách du lịch đến Thới Sơn càng tăng, bình quân hàng năm đón trên 300.000 lượt khách, trong đó có trên 70% là khách quốc tế Việc phát triển khu du lịch cù lao Thới Sơn trong thời gian qua đã góp phần nâng cao đời sống cộng đồng địa phương, thu hút khoảng 1.800 lao động chủ yếu là người dân ở địa phương

Trang 27

Tuy nhiên, hiện nay khu du lịch Thới Sơn chưa có các dịch vụ vui chơi giải

trí để lưu giữ du khách qua đêm Vào mùa cao điểm du lịch tại đây thường quá tải,

tình trang buôn bán kinh doanh quanh khu du lịch và các địa điểm tham quan vệ

tinh khác chưa đi vào nề nếp đã ảnh hưởng không tốt đến vệ sinh môi trường và văn

minh du lịch

Khu du lịch biển Tân Thành:

Hình 2.2 Khu du lịch biển Tân Thành

Được Công ty CP Du lịch Tiền Giang khai thác từ năm 1993, đã đầu tư các

hạng mục công trình giản đơn phù hợp với cảnh quan môi trường Công ty đã đầu tư

xây dựng các nhà nghỉ mát ven bãi biển, xây them phòng tắm nước ngọt, xây dựng

bờ kè chống sạt lở, trồng thêm cây xanh Đã thu hút ngày càng đông khách du lịch

nội địa đến tham quan

Năm 2004 dự án đầu tư cơ sở hạ tầng khu du lịch biển Tân Thành cũng đã

được Tổng cục Du lịch hổ trợ, xây dựng bờ kè chắn sóng, cầu dẫn ra biển, bãi đổ

xe, trung tâm thông tin du lich,… Công ty CP Du lịch Tiền Giang đang triển khai

thực hiện mở rộng Quy mô, xây dựng nhà hàng, đạ dạng các loại hình vui chơi giải trí trên biển,… Tham gia đầu tư xây dựng khu du lịch biển Tân Thành thành điểm

du lịch trung tâm khu vực Gò Công, nơi đón tiếp khách du lịch từ TP HCM và các tỉnh lân cận

Do đặc điểm đây là bãi biển gần cửa sông nên nước biển bị pha bùn, không trong xanh, ít người tắm biển, vì vậy lượng khách đến tham quan biển Tân Thành chưa cao và chỉ thu hút khách du lịch nội địa, thường tập trung vào ngày nghỉ, lễ trong năm Bình quân hàng năm (từ 2003-2007) đón được 58.200 lượt khách Từ 2008-2011 đón bình quân 80.000 lượt khách/năm Hoạt động du lịch nơi đây còn dạng tiềm năng chưa phát triển mạnh, chỉ góp phần giải quyết lượng nhỏ lao động địa phương Ngành du lịch Tiền Giang đã phối hợp với Huyện Gò Công lập quy hoạch phát triển mở rộng khu du lịch biển Tân Thành với Quy mô 80 ha và đang tiến hành kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển du lịch sinh thái biển đầy tiềm năng này Trước mắt đang đầu tư khai thác giai đoạn I là

11 ha

Trong tương lai khi các dự án thuộc quy hoạch phát triển du lịch biền Tân Thành - Hàng Dương cơ bản được hoàn thành sẽ thu hút lượng lớn khách du lịch đến tham quan nghỉ dưỡng, sẽ mở ra triển vọng phát triển kinh tế vùng biển phía Đông tỉnh Tiền Giang

Khu du lịch Cái Bè:

Khu du lịch Cái Bè đã được khách du lịch biết đền từ năm 1997 và đã đón được nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế Ở đây ngành du lịch đã xây dựng tuyến tham quan: Chợ nổi Cái Bè, các làng nghề truyền thống, các ngôi làng nhà cổ

ở xã Đông Hòa Hiệp và xã Hòa Khánh, vườn cây ăn trái cù lao Tân Phong, đặc biệt ngôi nhà thờ cổ ở xã Đông Hòa Hiệp, đã có 150 tuổi được tổ chức JICA của Nhật tài trợ tôn tạo với kinh phí 1,6 tỷ đồng, cùng với một số nhà cổ khác đang khai thác dịch vụ nghỉ đêm ở nhà dân (Homestay) đã góp phần đa dạng hóa sản phẩm thu hút

Trang 28

Hình 2.3 Chợ nổi Cái Bè

Hiện nay, Công ty CP Thương mại - Dịch vụ Cái Bè là đơn vị chủ lực đầu tư

phát triển khu du lịch Cái Bè, liên kết các hộ dân xây dựng 8 điểm tham quan, cơ sở

vật chất phù hợp cảnh quan môi trường thiên nhiên sông nước phục vụ khách du

lịch Khu du lịch Cái Bè ngày càng thu hút khách du lịch, trong những năm từ

2003-2007 bình quân hàng năm đón 27.388 lượt khách, trong đó có 22.500 khách quốc tế,

đến 2008-2011 đón bình quân 80.000 lượt khách/năm, đã góp phần giải quyết việc

làm cho hơn 700 lao động địa phương

Công ty CP Thương mại - Dịch vụ Cái Bè cũng đang làm chủ đầu tư và đang

tiến hành thi công xây dựng khu du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng Xẻo Mây với Quy

mô 6,5 ha Đầu tư xây dưng các điểm vui chơi giải trí, khu nghỉ dưỡng, nghỉ

mát,… Kết hợp chợ nổi Cái Bè, các làm nghề truyền thống, sẽ hình thành nên tour

du lịch thu hút khách nghỉ đêm tại Cái Bè Tuy nhiên, do đầu tư còn hạn chế nên chỉ

thu hút khách du lịch đến tham quan chợ nổi, nhà cổ, khu làng truyền thống Giờ

cao điểm thường dẫn đến quá tải, tình trạng mua bán tự phát, vệ sinh an toàn thực

phẩm chưa được quan tâm đúng mức, đã ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh du lịch

Khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười:

Khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười, huyện Tân Phước, với khu trung tâm

là 100 ha rừng tràm và khu đệm 1800 ha của tỉnh Tiền Giang Nơi đây hiện có hệ sinh thái vùng ngập phèn độc đáo, với các loại thực vật đặc hữu như: tràm gió, bàng, lác, đưng, sậy,… và cũng là vương quốc của các loài động vật hoang dã như: rùa, rắn, gà nước, le le, chằng nghịt, cò, ong mật, cá, … sẽ phục vụ tốt cho công tác nghiên cứu của các nhà khoa học cũng như nơi tham quan, học tập của mọi đối tượng

Hình 2.4 Khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười

Hiện nay, khu bảo tồn với diện tích 100 ha đã được đầu tư các hạng mục nhằm dẫn dụ và bảo tồn các loài động thực vật quý mang tính đặc thù của vùng sinh thái ngập phèn và bước đầu xây dựng hệ thống giao thông, cầu tàu, nhà chờ để đón khách du lịch Trong giai đoạn 2010-2015 sẽ đầu tư tiếp tục để phát triền thành khu

Trang 29

Tháp sẽ kết hợp các điểm tham quan như nông trường khóm Tân Lập, di tích chiến

thắng Ấp Bắc, đình Long Hưng, đền thờ Thủ Khoa Huân, … sẽ góp phần thu hút

khách du lịch đến Tiền Giang

Từ bốn trung tâm du lịch chính, ngành du lịch cũng đã kết hợp phát triển du

lịch sinh thái miệt vườn với tham quan các di tích lịch sử - văn hóa như: chùa Vĩnh

Tràng, trại rắn Đồng Tâm, Bảo tàng Tiền Giang, di tích chiến thắng Ấp Bắc, di tích

chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút, di chỉ văn hóa Óc Eo - Gò Thành, Lăng Hoàng

Gia, Lăng Trương Định, …

Nhìn chung, các khu du lịch - tham quan - giải trí Tiền Giang chưa có quy

mô lớn cũng như chưa đa dạng hóa loại hình vui chơi giải trí để gây ấn tượng cho

khách, tài nguyên du lịch cũng chưa được quan tâm khai thác tương xứng

Cơ sở lưu trú

Trong những năm gần đây, cùng với sự gia tăng đáng kể của khách du lịch,

hệ thống cơ sở lưu trú và nhà hàng ở Tiền Giang phát triển với tốc độ nhanh Hầu

hết các thành phần kinh tế đều tham gia kinh doanh dịch vụ lưu trú và ăn uống Sự

phát triển tự phát, thiếu quy hoạch đã dẫn tới tình trạng hàng loạt nhà nghỉ, nhà

khách, nhà trọ tư nhân… ra đời Tuy nhiên, bước đầu có giải quyết tạm thời nhu cầu

ăn nghỉ của khách du lịch, nhưng về lâu dài đây sẽ là một tồn tại khó khắc phục

Tốc độ xây dựng nhanh chóng của các cơ sở lưu trú, đặc biệt là các khách sạn tư

nhân, các nhà vườn được phép kinh doanh dịch vụ lưu trú đã nâng tổng số cơ sở lưu

trú từ 25 khách sạn với 385 phòng vào năm 2002, đến năm 2012 đã tăng 113 khách

sạn với 1.912 phòng Trong đó có 1 Khách sạn 2 sao (ở TP Mỹ Tho), 32 Khách sạn

1 sao (tập trung ở TP Mỹ Tho, huyện Cái Bè, Châu Thành, Gò Công Đông và thị

xã Gò Công) và 80 nhà nghỉ du lịch

Mặc dù một số khách sạn có nâng cấp và xây mới, nhưng nhìn chung vẫn

chưa đạt các tiêu chuẩn đáp ứng nhu cầu khách quốc tế Phần lớn chỉ phục vụ khách

quốc tế bình dân Toàn tỉnh hiện nay chỉ có khách sạn Chương Dương, khách sạn

Sông Tiền, khách sạn Rạng Đông, khách sạn Minh Quân, nhà khách Tiền Giang đáp

ứng nhu cầu phục vụ khách quốc tế hạng sang Đây là mặt hạn chế lớn trong dịch

vụ lưu trú so với các tỉnh lân cận như Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ đã có nhưng khách sạn đạt chuẩn từ 3 sao trở lên Vì vậy, trong định hướng tới Tiền Giang cần mời gọi đầu tư, xây dựng các khách sạn cao cấp đạt chuẩn từ 3-5 sao để phục vụ nhu cầu khách du lịch có thu nhập cao, thu hút khách nghỉ đêm

Về hiệu suất khai thác của các khách sạn còn thấp Công suất phòng cho thuê bình quân năm 1995 là 41%, năm 2000 đạt 55% (cao nhất 70% và thấp nhất 6%), năm 2006 công suất phòng đạt 62,10% (cao nhất 88% , thấp nhất 15,8%), năm 2012 công suất phòng đạt 52,83% (cao nhất 98%, thấp nhất 25%) Do công suất sử dụng phòng thấp, chi phí lại cao nên hiệu quả kinh doanh khách sạn rất hạn chế Đa số khách sạn không tổ chức phục vụ ăn uống tại chỗ cho khách lưu trú Đây cũng là điều bất tiện cho khách và kém hiệu quả kinh tế

Các khách sạn của tỉnh đều tập trung ở TP Mỹ Tho Còn lại một số ít tập trung ở thị xã Gò Công và huyện Cái Bè Các doanh nghiệp nhà nước hoặc công ty

có vốn lớn tập trung đầu tư xây mới và nâng cấp các khách sạn lớn như khách sạn Chương Dương, Sông Tiền, Công Đoàn,… các doanh nghiệp còn lại cũng tham gia đầu tư xây dựng mới các khách sạn tương đối khá như khách sạn Rạng Đông, Minh Quân, Phương Tín, Vân Phúc,…

Ngoài ra, còn các nhà trọ trong tỉnh góp phần đáp ứng yêu cầu phục vụ khách du lịch có thu nhập thấp và khách lẻ…Điều này chứng tỏ việc kinh doanh dịch vụ lưu trú đang có xu hướng phát triển mạnh trong những năm gần đây

Dịch vụ khách du lịch nghỉ đêm tại nhà dân (homestay):

Hoạt động của loại hình khách du lịch nghỉ đêm tại nhà dân ở Tiền Giang chính thức đi vào hoạt động năm 2006 và chọn 2 khu vực : khu du lịch cù lao Thới Sơn thuộc TP Mỹ Tho; khu du lịch Cái Bè gồm thị trấn Cái Bè và xã Đông Hòa Hiệp làm mô hình để phát triển sau này Nhìn chung mô hình hoạt động homestay ở Cái Bè đang trên đà phát triển, trên cơ sở đó đã phát triển 2 điểm nhằm đáp ứng nhu

Trang 30

Qua đánh giá thực trạng về cơ sở lưu trú như vậy, cần thiết phải có chiến

lược về kinh doanh khách sạn từ chất lượng phục vụ và cơ chế điều hành, quản lý

hoạt động, v.v… nhằm đưa hoạt động kinh doanh khách sạn trong tỉnh phát triển

mạnh hơn, vì khi thu hút khách du lịch lưu trú càng đông thì sẽ phát sinh nhu cầu

chi tiêu khác, sẽ tăng nguồn thu cho hoạt động kinh doanh du lịch Đặc biệt trong

những năm gần đây loại hình ngủ đêm tại nhà dân (homestay) đã được phát triển tại

khu vực Cái Bè với các dịch vụ như sinh hoạt cộng đồng địa phương, tát mương bắt

cá, tham gia nấu các món ăn dân dã, tập làm nông dân, … đang có sức hút mạnh đối

với khách du lịch quốc tế có nhu cầu tham quan, hòa nhập tìm hiểu cuộc sống người

dân Nam bộ Điều đặc biệt khác với ở Bến Tre và Vĩnh Long là việc khai thác loại

hình ngủ đêm ở nhà dân chủ yếu thực hiện ở các ngôi nhà cổ Nam bộ, đã được xây

cách đây 100 năm Tuy nhiên, mô hình này hiện chưa triển khai rộng khắp ở Tiền

Giang cũng đã làm hạn chế một phần doanh thu của hoạt động này

Cơ sở ăn uống - vui chơi giải trí - thể thao

Cơ sở ăn uống:

Các nhà hàng có khả năng phục vụ khách du lịch quốc tế tốt bao gồm: Trung

Lương, Sông Tiền, Thới Sơn (thuộc Công ty CP Du lịch Tiền Giang); Nhà hàng

Chương Dương (thuộc Công ty TNHH Dịch vụ Chương Dương); Bách Tùng Viên,

Ngọc Gia Trang, Thành Minh, Làng Việt, Phương Nam, Trạm dừng chân Tiền

Giang,…

Hiện nay, các nhà hàng đã cải tiến nhiều về món ăn Việt Nam, đặc sản

truyền thống dân gian Nam Bộ và Mỹ Tho Tay nghề các đầu bếp đã khai thác, phát

huy các món ăn dân tộc, dân dã vùng nông thôn Nam bộ Bên cạnh các nhà hàng

lớn còn có các quán ăn trãi dài trên toàn tỉnh đáp ứng kịp thời yêu cầu phục vụ

khách du lịch khi đến tham quan Tiền Giang

Dịch vụ thể thao, vui chơi giải trí:

Bao gồm bể bơi, sân tennis, trung tâm thể thao, massage, câu lạc bộ ban đêm,

vũ trường, nhà hát,… các dịch vụ này góp phần tạo nên sự hấp dẫn, thu hút du khách và kéo dài thơi gian lưu trú, khuyến khích sự chi tiêu của du khách

Thời gian qua việc phát triển các tiện nghi thể thao và vui chơi giải trí cũng như các hoạt động tiêu khiển khách ở Tiền Giang còn rất hạn chế, hầu như mới chỉ dừng lại ở các hoạt động karaoke, massage, bơi lội, đánh tennis Các tiện nghi nói trên chất lượng chưa cao và còn thiếu, chưa có một khu vui chơi giải trí, một trung tâm dịch vụ - thương mại xứng tầm

Phương tiện vận chuyển khách du lịch

Do đặc thù phát triển du lịch sông nước miệt vườn, nên các doanh nghiệp chủ yếu phát triển phương tiện vận chuyển đường thủy còn phương tiện đường bộ

do các doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình kinh doanh nhỏ lẻ và trực tiếp hợp đồng với du khách khi du lịch ngoài tỉnh với số lượng xe các loại 206 chiếc Nếu năm

2005 có 71 đò du lịch lớn và 82 đò chèo thì đến năm 2012 đã phát triển 240 đò du lịch lớn các loại, 6 canô và 120 đò chèo, đủ sức phục vụ trên 2.600 lượt khách mỗi ngày Các phương tiện chủ yếu do dân tự trang bị và liên kết với các doanh nghiệp khai thác du lịch

Nhìn chung chất lượng đò hiện nay đảm bao theo quy định của ngành giao thông, nhưng hình thức còn chưa đặc trưng, giản đơn và chỉ thực hiện các tuyến vận chuyển ngắn, chưa có những thuyền lớn phụ vụ du thuyền trên sông Tiền hoặc vận chuyển đường dài

Khai thác du lịch sinh thái gắn với các di tích lịch sử - văn hóa

Những di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng của Tiền Giang như chùa Vĩnh Tràng, đình Long Hưng, di tích chiến thắng Ấp Bắc, Rạch Gầm - Xoài Mút, lăng Thủ Khoa Huân, Hoàng Gia, Trương Định, nhà Đốc Phủ Hải đã được phục dựng, trùng tu, tôn tạo và phát triển mang sắc thái văn hóa lịch sử đặc trưng riêng của từng

Trang 31

khả năng hấp dẫn khách du lịch.Trong thời gian qua các di tích đã thu hút một

lượng khách nhất định đến tham quan, nghiên cứu Tuy nhiên, các di tích lịch sử -

văn hóa này con chủ yếu phục vụ khách nội địa, các tour về nguồn, tham quan

nghiên cứu là chính, còn khách quốc tế thì còn ít (ngoại trừ chùa Vĩnh Tràng)

Nguyên nhân một phần do các di tích chưa có nhiều hiện vật trưng bày, chưa có

hoạt động sống động kèm theo cũng như đường giao thông đưa khách đến một số di

tích còn hạn chế, như đường về di tích đình Long Hưng, di tích Lăng Hoàng Gia,…

2.1.2.2 Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng tuyến du lịch

Trên cơ sở tiềm năng và tài nguyên du lịch mà ngành du lịch Tiền Giang đã

xác định các loại hình du lịch phù hợp, hiện nay có những loại hình chủ yếu khai

thác du lịch bao gồm:

- Du lịch sinh thái: Khai thác tuyến sông, các vườn trái cây dọc sông Tiền,

rừng phòng hộ Gò Công, cụm biển Tân Thành - Hàng Dương Tham quan tìm hiểu

nếp sống sinh hoạt truyền thống của cộng đồng

- Du lịch lịch sử - văn hóa: Tham quan các di tích lịch sử, di tích cách mạng,

di tích văn hóa, tham quan làng nghề, tìm hiểu lối sống Nam bộ, thưởng thức đờn ca

tài tử, món ăn truyền thống, dân dã

Du lịch vui chơi, giải trí, thể thao: hiện nay còn hạn chế, cần khai thác gắn

liền với khu du lịch cảnh quan tự nhiên Đặc biệt khai thác thể thao trên mặt nước

và các loại hình trò chơi dân gian, thể thao truyền thống Đồng thời cũng có thể tổ

chức du lịch nghỉ dưỡng, du lịch cuối tuần, cắm trại dã ngoại

Tuy nhiên xu hướng hiện nay là kết hợp cả 3 loại hình du lịch, nhằm khai

thác hết tiềm năm, thu hút khách du lịch đến Tiền Giang.Với đặc điểm của vùng

sông nước ĐBSCL, ngành du lịch Tiền Giang đã thiết kế chương trình tour chính

với nội dung: du khách đi bằng đường thủy hoặc đường bộ để tham quan vườn cây

ăn trái, thưởng thức trái cây, trà, rượu mật ong, đi đò chèo trên rạch, nghe ca nhạc

tài tử tại các điểm du lịch cù lao Thới Sơn kết hợp tham quan trại rắn Đồng Tâm và các di tích lịch sử - văn hóa

Để đáp ứng nhu cầu tăng nhanh khách du lịch, các đơn vị kinh doanh du lịch

đã thiết kế các tuyến điểm tham quan du lịch mới, nâng chất lượng sản phẩm du lịch như:

- Liên kết nối tuyến các điểm tham quan du lịch sinh thái ở Tân Thạnh, An Khánh, cù lao Phụng và cù lao Quy thuộc tỉnh Bến Tre Khu du lịch Cái Bè nối tuyến Chợ nổi, làng nghề truyền thống, nhà cổ tại Cái Bè với các điểm tham quan

du lịch ở cù lao Bình Hòa Phước và khu du lịch Trường An thuộc tỉnh Vĩnh Long Tuy nhiên việc liên kết chỉ mang tính tự phát giữa các doanh nghiệp với các đơn vị

cá nhân kinh doanh du lịch và mang tính nhỏ lẻ, chưa có sự phối hợp liên kết vùng theo hướng của các cơ quan chức năng

- Mở chương trình tour du lịch đến các khu du lịch sinh thái sông nước; ngoài các tuyến khai thác ở cù lao Thới Sơn, Cái Bè, biển Tân Thành, …đã thiết kế chương trình đưa du khách đến tham quan vườn trai cây ở Vĩnh Kim, Ngũ Hiệp, Tân Phong, chương trình tham gia tát đìa bắt cá ở cù lao Thới Sơn và chương trình

về quê ăn Tết cổ truyền ở xã Tân Mỹ Chánh, v.v…

Nhìn chung hoạt động lữ hành trên địa bàn tỉnh Tiền Giang nhiều sôi động,

có nhiều chi nhánh và các doanh nghiệp lữ hành mới ra đời Đến năm 2012 toàn tỉnh có 19 đơn vị kinh doanh lữ hành (14 lữ hành quốc tế và 5 lữ hành nội địa) Các đơn vị mới thành lập với nhiều hình thức cạnh tranh, đặc biệt là việc nâng cao chất lượng sản phẩm và chất lượng của hướng dẫn viên du lịch đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đứng vững trên thị trường

2.1.2.3 Đào tạo nguồn nhân lực du lịch

Nguồn lao động du lịch không ngừng phát triển Chỉ tính các đơn vị trực tiếp phục vụ du lịch đến năm 2000 toàn ngành có 1.306 người, trong đó nữ 659 người

Trang 32

1.198 (chiếm 65,39%) Hiện nay số người trong độ tuổi lao động làm việc ở ngành

kinh tế trong tỉnh khoảng 1.017.508 người Lực lượng lao động ngành du lịch trong

toàn xã hội khoảng 22.649 người, chiếm tỷ trọng 2,23% trong số lao động đang làm

việc trong tỉnh Lao động ít nhưng ngành đã đóng góp đc 6,28% GDP của tỉnh và

16,39% GDP của khu vực III chứng tỏ hiệu quả của ngành tương đối khá

Ngành cũng đã tiến hành thống kê phân loại lao động trong ngành du lịch có

kế hoạch đào tạo bồi dưỡng Trong các năm qua ngành đã đưa đi đào tạo, bồi dưỡng

ở các trường nghiệp vụ du lịch ở Vũng Tàu và TP HCM các lớp như: nghiệp vụ

hướng dẫn, bàn, bếp, buồng, …

Tổ chức 2 lớp tập huấn cho hướng dẫn viên du lịch các chuyên đề về :” Văn

hóa - xã hội, các di tích lịch sử - văn hóa Tiền Giang và công tác đảm bảo an ninh

trong du lịch”

Phối hợp Trường Nghiệp vụ Du lịch TP HCM tổ chức 6 lớp bồi dưỡng

nghiệp vụ bàn, ca nhạc tài tử, kỹ năng phục vụ du lịch cho trên 800 học viên ở các

đơn vị kinh doanh và điểm du lịch

Phối hợp Trường Nghiệp vụ Du lịch TP HCM và Trường Đại học Kinh tế

TP HCM, mở 5 lớp nghiệp vụ hướng dẫn viên và thuyết trình viên du lịch, bồi

dưỡng 240 học viên, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, từng bước

đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch

2.1.2.4 Xúc tiến, quảng bá du lịch

- Quảng bá các ấn phẩm du lịch qua các hãng lữ hành trong và ngoài nước tại

Việt Nam và nước ngoài Tăng cường hình thức nội dung quảng cáo tuyên truyền

tại chỗ, trực tiếp cho khách du lịch quốc tế và trong nước

- Hàng năm tổ chức các lễ hội trái cây thu hút hàng ngàn lượt du khách trong

và ngoài nước đến tham quan

- Hỗ trợ thực hiện phim tài liệu về tỉnh Tiền Giang của Ban khoa giáo Đài truyền hình Việt Nam Phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam xây dựng phim

“Vùng đất bên Sông Tiền” để quảng bá sản phẩm du lịch Tiền Giang

- Cùng với Trung tâm Xúc tiến Đầu tư - Thương mại - Du lịch và các doanh nghiệp du lịch tham gia các hội chợ triển lãm du lịch trong và ngoài nước

- Tổ chức Đại hội thành lập Hiệp hội Du lịch Tiền Giang và vận động các Doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh Tiền Giang tham gia Hiệp hội Du lịch Đồng bằng sông Cửu Long

- Xây dựng pano lớn quảng bá sản phẩm du lịch Tiền Giang tại Thị xã Gò Công, cù lao Thới Sơn, Cái Bè và TP Mỹ Tho

- Phối hợp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP HCM tổ chức Hội thảo giới thiệu sản phẩm và mời gọi đầu tư các dự án phát triển du lịch tỉnh Tiền Giang tại

TP HCM

- Phối hợp UBND huyện Chợ Gạo, Cái Bè, Châu Thành tổ chức Hội thảo phát triển du lịch cộng đồng và hỗ trợ trại rắn Đồng Tâm tổ chức Hội thảo về giải pháp thu hút khách tham quan trại rắn Đồng Tâm

2.1.2.5 Triển khai công tác quản lý Nhà nước về du lịch

- Đã triển khai quy hoạch tổng thể phát triển du lịch thời kỳ 2006-2010 và định hướng 2020

- Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện chương trình phát triển du lịch của tỉnh, phát huy ưu thế du lịch sinh thái vùng ĐBSCL, vùng biển gắn với phát triển du lịch lịch sử - văn hóa, tăng cường quản lý Nhà nước về du lịch nhằm tạo tiền đề vật chất , nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch

- Triển khai Luật Du lịch và Nghị định 92/2007/NĐ-CP ngày 01/06/2007 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Du lịch; Quy chế quản lý

Trang 33

du lịch và Quy định về hoạt động biểu diễn và tổ chức biểu diễn trên địa bàn tỉnh

Tiền Giang cho các đối tượng hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn

- Thẩm định hồ sơ và đã được Tổng cục Du lịch cấp giấy đăng ký kinh doanh

lữ hành quốc tế cho 6 đơn vị, nâng tổng số đơn vị kinh doanh lữ hành trên địa bàn

tỉnh Tiền Giang lên 19 đơn vị, trong đó có 14 đơn vị lữ hành quốc tê, 5 lữ hành nội

địa

2.1.2.6 Nâng cao nhận thức về du lịch

Ngành du lịch Tiền Giang đã triển khai thực hiện hoạt động phát triển du lịch

cộng đồng trên toàn địa bàn tỉnh như:

+ Tổ chức nhiều hội thảo, hội nghị tọa đàm nhầm nâng cao nhận thức, xây

dựng lòng tin để tăng cường sự phối hợp cộng đồng và các doanh nghiệp du lịch ở

khu vực thực hiện các dự án phát triển du lịch cộng đồng phục vụ người nghèo

+ Tiến hành điều tra khảo sát các sản phẩm du lịch ở cù lao Thới Sơn, cù lao

Ngũ Hiệp, vùng vú sữa lò rèn Vĩnh Kim, làng nghề bàng buông Thân Cữu Nghĩa và

làng nghề bánh phồng, bánh tráng huyện Cái Bè, nhằm thúc đẩy phát triển du lịch

cộng đồng

+ Tổ chức Hội thi vẽ tranh về môi trường du lịch Tiền Giang nhằm tuyên

truyền nâng cao nhận thức giáo dục và vận động gia đình, quần chúng nhân dân

nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường trong du lịch

+ Ngoài ra, ngành đã phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường và các đơn

vị trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức tập huấn cho đối tượng hoạt

động kinh doanh du lịch và chính quyền địa phương về các giải pháp nhằm bảo vệ

môi trường, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa truyền thống

Hoạt động du lịch cộng đồng ở Tiền Giang đã tạo công ăn việc làm cho hàng

ngàn lao động địa phương, giúp cộng đồng tận dụng được thời gian nhàn rỗi, cải

thiện thu nhập góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Chính từ lợi ích địch

gìn và bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên, phát huy và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần phát triển du lịch một cách bền vững

2.1.2.7 Khách du lịch

Trong những năm qua với sự ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng đã tạo cho Việt Nam là “Điểm đến an toàn và thân thiện”, góp phần thu hút khách du lịch quốc tế ngày một tăng nhanh Tình hình kinh tế - xã hội tăng trưởng cao và phát triển ổn định đã góp phần nâng cao mức sống của người dân Thu nhập gia tăng, đời sống được nâng cao, điều kiện về giao thông ngày càng được cải thiện và đặc biệt là các khu, điểm du lịch đã được đầu tư mạnh mẽ là nhân tố quan trọng làm cho nhu cầu du lịch tăng lên

Tiền Giang có vị trí địa lý rất thuận lợi trong phát triển du lịch, cùng với tiềm năng du lịch khá phong phú, từ du lịch sinh thái sông nước, miệt vườn đến tham quan các di tích lịch sử - văn hóa, du lịch văn hóa - lễ hội,… Hòa nhập vào xu thế phát triển du lịch cả nước, từ thập niên 80 du lịch Tiền Giang đã được đầu tư và đưa vào khai thác, hình thành nên các khu, điểm du lịch nổi tiếng như: Cù lao Thới Sơn, Chợ nổi Cái Bè, chùa Vĩnh Tràng, trại rắn Đồng Tâm,… góp phần thu hút khách du lịch đến Tiền Giang Kết quả phân tích hoạt động du lịch Tiền Giang thời kỳ 2008-

2012 cho thấy tốc độ tăng trưởng du lịch tương đối cao và ổn định

Bảng 2.1 Khách du lịch đến Tiền Giang giai đoạn 2008-2012

Chỉ tiêu ĐVT 2007 2008 2009 2010 2011 2012

Tăng bình quân Tổng lượt khách Lượt 518.124 610.390 704.185 795.779 866.401 960.381 12,96%

Khách quốc tế Lượt 318.522 388.946 454.066 464.443 410.756 472.149 7,24%

Tỷ trọng % 61,48% 63,72% 64,48% 58,36% 47,41% 47,41% Khách nội địa Lượt 199.602 221.444 250.119 331.336 455.645 488.232 20,22%

Trang 34

Tỷ trọng % 38,52% 36,28% 35,52% 41,64% 52,59% 52,59%

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tiền Giang

Năm 2007 khách du lịch đến Tiền Giang là 518.124 lượt, đến năm 2012 đạt

960.381 lượt, tăng bình quân 13% và tăng 1,8 lần so với năm 2007 Trong đó khách

du lịch quốc tế đạt 318.522 lượt năm 2007 thì đến năm 2012 đạt 472.149 lượt, tăng

bình quân 7,24% và tăng 1,4 lần so với năm 2007, giai đoạn này cho thấy tốc độ

tăng bình quân khá cao và tốc độ tăng khách nội địa có xu hướng tăng nhanh hơn

khách quốc tế

Khách du lịch quốc tế:

Việc thu hút du lịch quốc tế sẽ đánh giá được giá trị tài nguyên du lịch, cũng

như hiệu quả của hoạt động kinh doanh du lịch Ngành du lịch Tiền Giang, từ

những năm đầu thập niên 80 đã xây dựng các điểm du lịch sinh thái để đón những

đoàn khách thuộc các nước Xã hội chủ nghĩa Cùng với việc đầu tư khai khác nguồn

tài nguyên phong phú mang lại tốc độ tăng trưởng khách quốc tế khá cao so với các

Hàn Quốc 9.59 8.72 7.29 5.31 6.52 5.69 7.19 Đài Loan 3.67 3.01 3.18 2.44 3.47 3.31 3.18

Các quốc tịch khác 22.20 33.49 25.74 31.95 26.37 28.36 28.02

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và du lịch Tiền Giang

Khách đến Tiền Giang theo thị trường từ năm 2007 đến nay cho thấy: khách Nhật Bản nhiều nhất chiếm tỷ trọng bình quân trong cơ cấu khách là 21,83%, kế đến là Trung Quốc chiếm 10,03%, thứ 3 là khách Pháp chiếm 8,89%, Anh chiếm 7.82% và Hàn Quốc chiếm 7,19% Qua số liệu thống kê nêu trên, đối với hoạt động marketing du lịch Tiền Giang cần quan tâm để giữ được thị trường khách Nhật, Trung Quốc, Anh, Pháp vì các thị trường này chiếm tỷ trọng lớn Bên cạnh, ngành cũng cần quan tâm đến các thị trường như Đức, Úc, Mỹ và một số nước khác như Thái Lan, Indonesia, Campuchia,… vì các thị trường này đang có tiềm năng rất lớn cũng như cần phải đánh giá lại nhu cầu của khách để có chiến lược sản phẩm phù hợp

Lượng khách quốc tế đến tham quan Tiền Giang hầu hết đều đi theo chương trình tour do các công ty lữ hành ở TP HCM tổ chức, thường có nhu cầu tham quan các cảnh quan sông nước, miệt vườn ở cù lao Thới Sơn; Chợ nổi, làng nghề truyền thống ở Cái Bè,…, thời gian đến của khách du lịch quốc tế tương đối ngắn, thường

Ngày đăng: 02/08/2016, 18:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Cấu tạo một sản phẩm - Luận văn thạc sĩ kinh tế Đề xuất chiến lược phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020
Hình 1.1 Cấu tạo một sản phẩm (Trang 13)
Hình 1.2 Chu kỳ sống của sản phẩm - Luận văn thạc sĩ kinh tế Đề xuất chiến lược phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020
Hình 1.2 Chu kỳ sống của sản phẩm (Trang 13)
Hình 2.1 Khu du lịch cù lao Thới sơn - Luận văn thạc sĩ kinh tế Đề xuất chiến lược phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020
Hình 2.1 Khu du lịch cù lao Thới sơn (Trang 26)
Hình 2.2 Khu du lịch biển Tân Thành - Luận văn thạc sĩ kinh tế Đề xuất chiến lược phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020
Hình 2.2 Khu du lịch biển Tân Thành (Trang 27)
Hình 2.3 Chợ nổi Cái Bè - Luận văn thạc sĩ kinh tế Đề xuất chiến lược phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020
Hình 2.3 Chợ nổi Cái Bè (Trang 28)
Hình 2.4 Khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười - Luận văn thạc sĩ kinh tế Đề xuất chiến lược phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020
Hình 2.4 Khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười (Trang 28)
Bảng 2.1 Khách du lịch đến Tiền Giang giai đoạn 2008-2012 - Luận văn thạc sĩ kinh tế Đề xuất chiến lược phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020
Bảng 2.1 Khách du lịch đến Tiền Giang giai đoạn 2008-2012 (Trang 33)
Bảng 2.5 Cơ cấu chi tiêu của khách du lịch đến Tiền Giang - Luận văn thạc sĩ kinh tế Đề xuất chiến lược phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020
Bảng 2.5 Cơ cấu chi tiêu của khách du lịch đến Tiền Giang (Trang 36)
Bảng 2.6 Ma trận các yếu tố bên ngoài của ngành du lịch Tiền Giang - Luận văn thạc sĩ kinh tế Đề xuất chiến lược phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020
Bảng 2.6 Ma trận các yếu tố bên ngoài của ngành du lịch Tiền Giang (Trang 47)
Bảng 2.7 Ma trận các yếu tố bên trong của ngành du lịch Tiền Giang - Luận văn thạc sĩ kinh tế Đề xuất chiến lược phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020
Bảng 2.7 Ma trận các yếu tố bên trong của ngành du lịch Tiền Giang (Trang 48)
Bảng 3.1 Ma trận SWOT - Luận văn thạc sĩ kinh tế Đề xuất chiến lược phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020
Bảng 3.1 Ma trận SWOT (Trang 51)
Bảng 3.2 Ma trận QSPM cho nhóm S/O - Luận văn thạc sĩ kinh tế Đề xuất chiến lược phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020
Bảng 3.2 Ma trận QSPM cho nhóm S/O (Trang 53)
Bảng 3.4 Ma trận QSPM cho nhóm W/O - Luận văn thạc sĩ kinh tế Đề xuất chiến lược phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020
Bảng 3.4 Ma trận QSPM cho nhóm W/O (Trang 55)
Bảng 3.5 Ma trận QSPM cho nhóm W/T - Luận văn thạc sĩ kinh tế Đề xuất chiến lược phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020
Bảng 3.5 Ma trận QSPM cho nhóm W/T (Trang 55)
Bảng 1: Yếu tố tác động bên ngoài - Luận văn thạc sĩ kinh tế Đề xuất chiến lược phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch Tiền Giang đến năm 2020
Bảng 1 Yếu tố tác động bên ngoài (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w