1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề xuất các giải pháp liên quan đến xây dựng  và  phát triển thị  trường giao sau nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá cà phê.

37 423 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nghiệp kinh doanh cà phê mà còn của người nông dân thì việc xây dựng và phát triển thị trường giao sau cà phê là một trong những giải pháp khả thi và hữu hiệu § Chương 3: Đề xuất các giả

Trang 1

nghiệp  kinh  doanh  cà  phê  mà  còn  của  người  nông  dân  thì  việc  xây  dựng  và  phát 

triển thị  trường giao sau cà phê  là một  trong những giải  pháp khả thi  và hữu hiệu 

§  Chương  3:  Đề  xuất  các  giải  pháp  liên  quan đến  xây  dựng  và  phát  triển  thị trường giao sau nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá cà phê. 

§  Kết luận

Trang 2

trong  thế bị động,  không biết  trước đầu  ra  của  sản phẩm,  cũng như giá cả  và nhu 

cầu của thị  trường, phần đông trông chờ nhiều vào sự may rủi  và phụ thuộc nhiều 

Đối với các doanh nghiệp chế biến, nhà xuất khẩu nông sản cũng sẽ gặp rủi 

ro  tương  tự  như  người  nông  dân  nếu  như  họ  thu  mua  nông  sản,  thu  mua  nguyên liệu, chế biến  rồi  lưu  kho  để  tiêu  thụ hoặc  xuất  khẩu  mà  không  có hợp đồng mua trước nguyên liệu với người  cung cấp với  giá ấn định (vì  lúc mua giá có thể đang lên) cũng như không có hợp đồng bán trước với người tiêu thụ với giá ấn định (vì lúc  bán  giá  có  thể  đang  xuống)  thì  khi  giá  cả  mặt  hàng  đó  biến  động,  có  thể  đẩy doanh nghiệp vào tình trạng thua lỗ nặng nề. Nhiều doanh nghiệp vừa ký hợp đồng bán hàng xong, giá cả biến động tăng, tiền thu về không còn đủ để mua lại số hàng tương tự vừa bán dẫn đến thua lỗ. Những biến động không thể dự đoán trước của giá  hàng hóa  không những  có  thể  ảnh hưởng  đến  kết  quả  kinh doanh mà  còn  ảnh hưởng đến thị phần, sức cạnh tranh và thậm chí là cả sự tồn tại của DN nếu điều đó xảy ra trong một thời gian dài. 

Như vậy cả nông dân, các thương lái, nhà chế biến và nhà xuất khẩu đều phải quan tâm đến việc quản lý rủi ro về giá đối với sản phẩm hàng hoá của mình để hạn chế thiệt hại đến mức tối đa và thu được lợi nhuận cao nhất. 

Chính  vì  vậy  họ  cần  có  những  công  cụ  phòng  ngừa  để  đạt  được  mục  tiêu giảm  thiểu  rủi  ro  biến  động  giá,  một  trong  những  công  cụ  hữu  hiệu  đã  được  các nước phát triển ứng dụng từ lâu đó là thực hiện giao dịch các hợp đồng giao sau trên sàn giao dịch giao sau. Chính nhờ có hợp đồng mua, bán trước với giá ấn định và giao hàng sau mà các bên có thể hạn chế đến mức tối đa rủi ro về biến động giá nhờ 

cơ chế hoán đổi và lựa chọn mà sàn sẽ trực tiếp điều hành. Điều này không thể có được trong thị trường truyền thống khi thực hiện việc giao hàng ngay theo phương thức mua đứt bán đoạn thì giá bán chỉ là giá cao vào thời điểm đó, nhưng sau đó các 

cơ hội giá có lợi hơn sẽ phải bỏ qua vì hàng đã bán rồi, hoặc nếu ký gửi để bán hộ thì người bán phải thanh toán tiền lưu kho, tiền bảo quản… và vẫn có thể bị ép giá 

do người mua cố tình gây ra. Như vậy nhờ chức năng quản lý rủi ro về giá (đây là 

Trang 3

luôn muốn  kiếm  lợi nhuận dựa  trên dự  đoán chủ quan  về  giá  cả  thị  trường, họ  sẽ 

chốt lời hoặc chốt lỗ bằng cách chốt “vị  thế” mua­bán  trong thị  trường, số tiền họ 

được hoặc mất sẽ không vượt quá giá trị kí quỹ phong tỏa. Trên thực tế, có 2% hợp 

đồng  đã  thỏa  thuận  được  chuyển  giao,  kết  thúc  “vị  thế”  mua­bán  luôn  được  lựa 

Điều khác biệt  tiếp theo là ở các đặc điểm của hợp đồng giao sau như:  giá 

cả,  trung  tâm  thanh  toán  bù  trừ,  nghiệp  vụ  phòng  ngừa  rủi  ro  biến  động  giá,  đầu 

cơ… 

1.2.1.  Giá cả và các yếu tố quyết định 

Giá cả được quyết  định  bởi  các điều  kiện  cung cầu,  nếu  trên  thị  trường có nhiều người mua hơn người bán, giá hàng hóa sẽ tăng lên nhanh chóng, ngược lại trên  thị trường mà  người mua  ít  hơn người bán,  giá  sẽ  giảm. Vậy  từ  đâu mà hình thành nên các điều kiện cung cầu. 

Đó là do các lệnh đặt mua và bán khắp nơi  trên thế giới đổ về và được tập trung tại sàn giao dịch hàng hóa. Những lệnh này khi được nhập vào sàn giao dịch thì sẽ trở thành các hợp đồng giao sau với những điều kiện ràng buộc nhất định giữa bên bán và bên mua. Đối với các hợp đồng khác thì giá cả được hình thành trên mặt bằng chung là thỏa thuận, nhưng giao dịch giao sau thì không, nó có nhiều hệ thống đấu giá được kết nối với bảng điện tử của sàn, những giá này được tự do đặt theo ý muốn  chủ  quan  của  nhà  đầu  tư  và  được  chuyển  đến  sàn  thông  qua  hệ  thống máy tính kết nối. Sự đặt giá này được đặt trong một khoản thời gian quy định, đây được gọi là giờ giao dịch. Theo đó sẽ có nhiều loại lệnh khác nhau được đặt tùy vào tính chất đầu tư của cá nhân, ví dụ như lệnh thị trường, lệnh giới hạn, lệnh dừng lỗ… Chính vì cơ chế đấu giá và cơ chế vận hành của thị trường giao sau đã làm giá cả hàng hóa phản ánh đúng giá trị  thực của nó. Mặt khác nếu lạm dụng thì  sẽ gây ảnh hưởng lớn đến hiện tượng đầu cơ giá, tất nhiên luật định sẽ tạo nhiều cản trở cho các hoạt động đầu cơ  giá đó, nhưng tất  cả vẫn phải đảm bảo mục đích cơ bản của sàn giao dịch giao sau là cung cấp cho các thành viên có thể tự do mua bán các loại  hàng hóa khác nhau vì  mục đích lợi  nhuận. Đồng thời  sàn này được hoạt động vì  mục đích phi  lợi nhuận, nhưng mọi giao dịch thông qua sàn cần phải qua một trung tâm môi giới, tất nhiên nhà đầu tư phải trả một khoản phí hoa hồng nhất định cho trung tâm này

Trang 4

khoản lãi lỗ khi đầu tư qua thông báo hằng ngày. 

1.2.3.  Ký quỹ 

Để đảm bảo các rủi ro trong giao dịch trên thị trường giao sau và tùy thuộc vào tính chất đầu tư, hệ thống ký  quỹ sẽ có những quy định ràng buộc khác nhau. Chẳng hạn số tiền ký quỹ sẽ khác nhau khá lớn giữa chủ thể phòng ngừa biến động giá (hedging) và chủ thể đầu cơ (speculator), lúc nào chủ thể đầu cơ giá cũng luôn chịu  mức  ký  quỹ  cao  hơn.  Số  tiền  ký  quỹ  tùy  thuộc  vào  số  lượng  hợp  đồng  và những quy định của sàn giao dịch giao sau. 

Tuy nhiên, chỉ có ba loại tài khoản ký quỹ : 

§  Mức  ký  quỹ ban  đầu  (Initial  margin): mức  ký  quỹ  này  do  trung  tâm thanh 

toán  bù  trừ  tại  London  quy  định  dựa  trên  những  phân  tích  lịch  sử  về  biến động giá cả của các hợp đồng giao sau, nó được xem xét định kỳ, phụ thuộc vào mức độ biến động. Mức ký quỹ ban đầu được áp dụng cho cả trạng thái trường/đoản trên cơ sở mỗi hợp đồng, và có thể hoàn lại dựa trên tính thanh khoản của các trạng thái. Mức ký quỹ thường chiếm khoảng 10­15% giá trị hợp đồng. 

§  Mức ký quỹ duy trì (Maintenance Margin) là số dư tối thiểu trên tài khoản ký 

quỹ để duy trì một trạng thái mở sau khi đánh giá lại hàng ngày theo giá trị thị trường và điều chỉnh lãi lỗ. 

§  Mức ký quỹ bổ sung (Margin call): khi  số dư tối  thiểu hoặc số tiền ký quỹ 

ban đầu bị thiếu hụt theo quy định của trung tâm thanh toán bù trừ, các nhà đầu  tư  cần  thực  hiện  ký  quỹ  bổ  sung  (margin  call),  khoản  ký  quỹ  bổ  sung được tính  trên  cơ  sở  chênh  lệch  giữa giá  tất  toán  của ngày  hôm nay  và  giá đêm hôm trước, được tính toán dựa trên mỗi trạng thái mở

Trang 5

mình  ở vị  thế  thích hợp  (phòng ngừa  vị  thế  mua  hoặc phòng  ngừa  vị thế  bán) để 

phòng  ngừa, bảo hiểm  và hạn  chế  rủi ro  với  sự  biến động  giá  không  thể dự đoán 

bù vào chi phí đầu vào gia tăng khi mua giao ngay cà phê. 

§  “Short hedge” – “ phòng ngừa vị thế bán”: một chủ trang trại cà phê dự tính 

bán 50 tấn cà phê sẽ thu hoạch vào tháng sau. Người này muốn chắc chắn sẽ bán được giá nên đã quyết định bán chúng trên thị trường giao sau để bảo hộ trường  hợp  giá  cà  phê  trên  thế  giới  giảm  xuống.  Đối  với  sàn  giao  dịch  cà phê, giá trị nhỏ nhất cho mỗi hợp đồng giao sau cà phê được giao dịch là 10 tấn. Vì vậy ông ta phải thực hiện bán 5 hợp đồng giao sau cà phê. Bảng dưới 

sẽ cho thấy sự biến động giá và kết quả bảo hộ giá từ hợp đồng này. Trong 

đó, cà phê được định giá bằng VND, chi phí giao dịch không đáng kể. Giá cà phê trong tháng ngày một tăng lên, đến 27 triệu đồng mỗi tấn, lúc này nếu để đến hạn ông ta sẽ bị mất khoản tiền khá lớn. Khôn ngoan hơn hết là chốt vị thế bán, chấm dứt hợp đồng. 

Trang 6

ngược  lại của  giá  hàng hóa.  Họ cũng  chính  là  thành phần  không  thể  thiếu của  thị 

là nguyên nhân gia tăng nạn đầu cơ gây biến động giá cả khôn lường và không cần thiết, những người này cũng đồng thời  cho rằng thị trường giao sau chỉ  có lợi  cho nhà đầu cơ thao túng giá cả và đi ngược lại lợi ích của người nông dân và người tiêu dùng,  các  cáo  buộc  cho  rằng  nó  không  chỉ  bóp  méo  giá  cả  mà  còn  tiếp  tay  cho những hoạt động phi pháp để làm giàu, do đó đã có một số nước trong thời kỳ đầu 

đã thực thi lệnh cấm giao dịch giao sau đối với một số loại hàng hóa nhất định, điển hình là  Ấn Độ  trong  các thập niên 50 và 60. Bên cạnh đó cũng có quan điểm cho rằng thị trường giao sau là công cụ đắc lực trong việc kiểm soát giá cả, ổn định sản xuất và quyết định đầu tư trong nền kinh tế. Nếu dựa vào mức độ  tranh luận giữa những nhà phê bình với những người ủng hộ thị trường giao sau để cân nhắc lợi ích 

và rủi ro của nó sẽ là một nhiệm vụ không dễ dàng nếu không có những bằng chứng thực  nghiệm.  Trong  phần  dưới  chúng  ta  sẽ  đi  tìm  hiểu  một  số  nghiên  cứu  thực nghiệm của các nhà kinh tế học nhằm giải đáp những câu hỏi liên quan đến lợi ích 

và rủi ro của thị trường hàng hóa giao sau. 

Học giả Pavaska (1970) cho rằng các nhà phê bình đã sai  lầm khi  cho rằng các nhà đầu cơ làm trầm trọng sự tăng giá bằng cách kiếm lợi nhuận trong thời gian dài trên thị trường giao sau. Ông cho rằng sự thiếu vắng cơ chế thị trường giao sau, mức  độ  biến  động  giá  giao  sau  tương  ứng  có  thể  khiến  các  thương  nhân  và  các thành phần khác lo tích trữ hàng hóa, điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến giá cả hơn so với bất kỳ một tác động nào khác của những giao dịch giao sau hợp pháp

Trang 7

động  của  giá  bột  nghệ  đã  được  giới  hạn  ở  mức  thấp  nhất  theo  sau  sự  tồn  tại  thị 

trường  giao  sau  ở  Sangli,  Maharashtra,  nơi mà  biến  động  giá  cả  cao  hơn so với  ở 

Chili  [Nền tảng lợi  ích của giao dịch hàng hóa giao sau, PTI New Delhi, ngày 12 

T.W. Schultz  (1949) dựa  và 3  tiêu  chí  dưới  đây  để  tìm  ra tác  động  của  giá 

nông  sản  lên  các  quyết  định  sản  xuất  thông  qua  mức  độ  phân  bổ  và  sử  dụng  các 

Tuy nhiên khám phá của Schultz đã có một vài sai sót bởi vì trong hệ thống thị  trường  giao  sau, hợp đồng được  ký  trước  và  hàng  hóa được  cung  cấp sau  vào một  ngày  cụ  thể.  Như  vậy,  trong  trường  hợp  người  bán  có  đầy  đủ  hiểu biết  hoặc thông tin về số lượng và chất lượng hàng hóa như vậy sẽ được bán ở mức giá nào, dựa vào đó ông ta có thể phân bổ lại nguồn lực của mình để gia tăng sản xuất nhằm đáp ứng theo hợp đồng. Nghĩa là người sản xuất có thể phòng ngừa cho lượng hàng hóa ông ta đang sản xuất ở thời điểm t và bán giao sau tại thời điểm t +1 khỏi những rủi  ro  tổn  thất  giá  trị  và  bảo  vệ  lợi  nhuận  bằng  cách  chuyển  những  rủi  ro  đó  cho người khác.  Do đó,  khoản  phí  ông ta  phải  thanh  toán  để  ngăn chặn hàng hóa  của mình khỏi những rủi ro phụ thuộc vào xác suất xảy ra rủi ro và đơn giá phòng ngừa. Masahiro Kawai (1983) trình bày một mô hình lý thuyết giải thích ảnh hưởng của thị trường hàng hóa giao sau lên quá trình hình thành giá và lợi ích  chung của toàn xã hội  trên nền tảng những kỳ vọng hợp lý. Ông đã tính  toán  ảnh hưởng của giá giao ngay lên sản xuất và sau đó dẫn giải khả năng của thị trường giao sau trong 

mô hình. Ông đã chỉ ra rằng mức độ tối  ưu của sản xuất chỉ phụ thuộc vào giá cả giao sau và hệ số chi phí. Theo ông, số lượng hợp đồng giao sau được xác định bởi mức tối ưu của sản xuất và đầu cơ phản ánh sự khác biệt giữa kỳ vọng chủ quan của nhà  sản  xuất  về  giá  giao  ngay thời  gian  tới  và  giá  giao  sau  tương  ứng.  Kawai đã 

Trang 8

trường  giao  sau.  Hơn  nữa,  những  quyết  định  trong  sản  xuất  được  thực hiện  hoàn 

Nói tóm lại, qua rất nhiều tranh luận thông qua những mô hình lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm của các nhà kinh tế học, cho đến nay thị trường giao sau 

đã chứng minh được lợi ích của mình trong việc cung cấp công cụ phòng ngừa rủi 

ro biến động giá cho các nhà sản xuất, đương nhiên trong thị trường này vẫn tồn tại những rủi ro là sự phát triển mạnh của các nhà đầu cơ, tuy nhiên các chính phủ chỉ cần  kiểm  soát  hoạt  động  này  trong  khuôn  khổ  luật  pháp  cho  phép  thì  nó  không những không gây hại cho nền kinh tế mà còn có tác dụng làm tăng tính thanh khoản 

cho thị trường này. 

1.4.  Thực trạng ứng dụng Hợp đồng Giao sau trên thế giới  1.4.1.  Thực trạng Giao sau trên thế giới 

Thế giới ngày nay đang bước vào nền kinh tế toàn cầu hóa. Bất kỳ  sự thay đổi nào của tình hình kinh tế thế giới cũng đều ảnh hưởng đến nền kinh tế của quốc gia.  Ngược  lại,  sự  chuyển biến  trong nền  kinh  tế quốc  gia  cũng  tác động đến  tình hình kinh tế trong khu vực hay trong phạm vi thế giới. 

Toàn  cầu  hóa  mang  lại  nhiều  thuận  lợi  nhưng  đồng  thời  cũng  mang  đến nhiều khó khăn. Những khó khăn đó chính là rủi ro có thể nhận thấy và rủi ro tiềm 

ẩn. Các rủi ro này tồn tại một cách ngẫu nhiên trong tất cả quá trình sản xuất, kinh doanh, quản lý. Chúng hoàn toàn có thể làm cho nhà đầu tư mất sạch tiền, công ty phá sản và nền kinh tế của một quốc gia suy sụp. Đối mặt trước những nguy cơ đó, các  phái  sinh  tài  chính  như  hợp  đồng  giao  sau  (Futures),  hợp  đồng  quyền  chọn (Option),  hợp  đồng  hoán  chuyển  lãi  suất  (Swap)…  ngày  càng  được  sử  dụng  một 

Trang 9

này ở  bất cứ nơi  đâu  và bất  cứ  khi  nào  thông  qua hệ  thống  GLOBEX nối  liền 12 

trung  tâm  tài  chính  thế  giới  (Bermuda,  Boca  Raton,  Chicago,  Geneva,  Hamburg, 

Vào  thập  niên  1980,  hợp  đồng  giao  sau  chỉ  số  chứng  khoán  đã  đạt  được những thành công cao độ. Công cụ này là chiếc cầu nối giữa các nhà giao dịch cổ phiếu tại New York và các nhà giao dịch giao sau tại Chicago. Tại Mỹ, chỉ sau một vài năm đã có hợp đồng giao sau chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones, một chỉ 

số tên tuổi trên thị trường chứng khoán . Hợp đồng  giao  sau  chỉ  số  chứng  khoán  đã  thành  công  vang  dội  khắp  toàn cầu. Hầu hết các nước phát triển đều có sàn giao dịch giao sau riêng cho hợp đồng chỉ  số  chứng  khoán  hoạt  động.  Một  số  nước  có  hợp  đồng  giao  sau  chỉ  số  chứng 

khoán phổ biến gồm Anh, Pháp, Nhật, Đức, Tây Ban Nha và Hongkong  1.4.3.  Thị trường giao sau ở Việt Nam 

Trong điều kiện hiện nay, các thành phần kinh tế luôn phải đối mặt  với  các rủi ro về giá cả, thông tin, thị trường (nguồn hàng, cung ­ cầu) và tỷ giá trong hoạt động xuất nhập khẩu. Những rủi ro này không chỉ ảnh hưởng đến những người trực tiếp sản xuất, kinh doanh mà ảnh hưởng đến cả nền kinh tế. Tuy nhiên, hầu hết các thành phần kinh tế Việt Nam chỉ biết chấp nhận vì chưa có công cụ bảo vệ rủi ro. Trong những năm gần đây, khi tiếp xúc làm ăn với nước ngoài, chúng ta dần dần biết được những phương cách bảo hộ rủi ro trên thị trường tài chính phái sinh. Một số doanh nghiệp đã sử dụng công cụ này để bảo hộ cho hoạt động kinh doanh của mình và dựa vào thông tin, giá cả trên các thị trường này để điều tiết sản xuất, không còn lo bị ép giá. Việt Nam đang tổ chức các chợ đầu mối, các trung tâm giao dịch  và  tiến  tới  hình  thành  các  thị  trường  giao  sau  về  nông  sản.  Trong  lĩnh  vực ngoại  hối,  Chính  phủ đã  cho  phép  sử  dụng  hợp  đồng  quyền  chọn để  bảo  vệ  hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Tuy muộn màng so với xu thế phát triển thế giới nhưng sự khởi đầu này cũng là một tín hiệu đáng mừng cho nền kinh tế Việt Nam

Trang 10

học  pháp  lý  tại  Việt  Nam  nhưng  có  tiềm  năng to  lớn  cho nền  kinh  tế, đặc  biệt  là 

những  giải  pháp  hiệu  quả  cho  những  nhà  sản  xuất  kinh  doanh  cà  phê  Việt  Nam 

là nó giúp cho thị  trường tài  chính trở nên hoạt động hiệu quả hơn, tạo cơ hội  tốt 

cho việc phòng ngừa rủi  ro. Đây cũng là ưu điểm nổi  trội nhất của hợp đồng giao 

hoạt động kinh doanh xuất khẩu truyền thống. 

Kết luận chương I 

Chiến  lược  phòng  ngừa  rủi  ro  biến  động  giá  bằng  việc  sử  dụng  hợp  đồng giao sau là một công cụ hữu dụng trong ngắn hạn và trung hạn để bảo vệ thu nhập cho nhà sản xuất và kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, khu vực có nhiều sản phẩm có thể thực hiện tồn trữ và bán giao sau. Tuy chịu nhiều tác động của rủi  ro (rủi ro giá cả, lãi suất, thời tiết…) nhưng nếu  xây dựng được thị  trường giao  sau  các  mặt  hàng  nông  sản  tại  Việt  Nam  thì  người  nông  dân  và  các  doanh nghiệp  sản  xuất  nông  sản  vẫn  có  thể  đương  đầu  với  rủi  ro  và  kinh  doanh  có  lợi nhuận

Trang 11

Năm 1994 đợt sương muối tại Brazil làm cung thế giới giảm sút đột ngột và giá  tăng  cao.  Giá  tăng  khuyến  khích  người  trồng  cà  phê  mở  rộng  diện  tích,  sản 

Trang 12

giá,  nhưng  vẫn  còn  thấp hơn mức đã  chứng  kiến  trong năm 1990.  Giá  cà  phê  thế 

giới  giảm  xuống  mức  thấp  kỷ  lục  trong  vòng  40 năm  trước  đó,  giảm  xuống dưới 

Mùa  đông Brazil thường  diễn  ra  trong khoảng  từ  21/6 đến  25/8  hàng năm, đây là thời gian lạnh nhất trong năm, biểu đồ giá cà phê luôn có tỷ lệ nghịch với hàn thử biểu trong giai đoạn này, chỉ với một bản báo cáo đêm qua nhiệt độ những vùng trồng đã xuống thấp dưới 0°C hoặc dự báo trong những ngày tới sẽ rất lạnh thì hầu như ngày hôm sau thế nào giá cũng tăng, hoặc ít nhất là không sụt thêm nữa. 

v  Giá trị và khối lượng cà phê giao dịch tại các sàn giao dịch trên thế giới 

Lượng cà phê giao dịch trên thế giới ước tính lớn gấp 5 lần (hoặc hơn nữa) lượng cà phê thực mà nông dân làm ra (sản lượng thế giới khoảng 127 triệu pound trong vụ 2009). Tức là cũng một bao cà phê ấy thôi, nhưng nhà đầu tư  A bán cho nhà đầu tư B, rồi người này bán cho nhà đầu tư C đều được tính vào lượng giao dịch hàng ngày trên thị trường. 

Điều này có nghĩa là giá cà phê thế giới không chỉ phụ thuộc vào việc Brazil 

có bị  sương  giá hay Việt  Nam  có bị hạn hán  không mà còn phụ  thuộc  vào những nhà  đầu  tư  lớn  dùng  cà  phê  như  một  mặt  hàng  kiểu  chứng  khoán  cho  việc  kinh doanh của mình. Vị thế đang phải bán ra với những lô hàng mà họ đã mua vào trước 

đó hay cần mua vào những lô hàng để có mà giao hoặc mua vào để chờ giá lên theo phân tích của họ đều tác động rất lớn đến giá cả. 

Giả sử một nhà đầu tư đang ở vị thế bán nhận định Mỹ có khả năng đánh Iran 

và giá dầu trong thời gian ngắn có thể tăng lên 100USD/thùng, sau khi tổng hợp và phân tích tình hình họ có khả năng bán mạnh số cà phê đang nắm giữ dựa trên các hợp đồng mua giao sau cà phê mà mình đang có để lấy tiền mua dầu vào. Động tác bán  cà  phê  như  thế  sẽ  ảnh  hưởng  tức  thì  lên  giá  cà  phê  và  tạo  ảnh  hưởng  dây 

Trang 13

Đơn giá XK bình quân  (USD/tấn) 

2,5  triệu  tấn  cà phê,  trong đó 50% dùng  chế biến  cà  phê hòa  tan  trong nước, một 

phần  sản  lượng  cà  phê  hòa  tan  này được  xuất  khẩu.  Với  hơn  100  triệu  dân,  bình 

quân  mỗi  người  dân  tiêu  dùng  4­5kg  cà  phê  thì  lượng  tiêu  thụ  trong  nước  của 

Còn Việt Nam hiện nay mới chế biến được khoảng 10.000 tấn (bằng 5% tổng sản lượng), con số quá ít so với 1 triệu tấn cà phê nhân sản xuất ra mỗi năm. Thêm vào đó, tiêu dùng nội địa cũng rất  thấp,  chưa được 0,5kg/người/năm, vì  thế ngành 

cà  phê  nước  ta  phụ  thuộc hoàn  toàn  vào  thị  trường  xuất  khẩu  và  không  thể  kiểm soát  giá  cà  phê  thế  giới  mà  hoàn  toàn  bị  động  khi  giá  cà  phê  thế  giới biến  động. Trong khi đó các nước khác trên thế giới lại bắt tay nhau để cùng kiểm soát và chi phối giá cà phê, hầu hết dự báo của các hãng tin nước ngoài đều hướng vào người mua. Thậm chí, các viện nghiên cứu giá cả trên thế giới khi đưa ra bản tin đều phục 

vụ lợi ích một bên nào đó, còn thực tế không có lợi cho Việt Nam. 

Chính vì  thế trong quá khứ ngành cà phê Việt Nam đã chịu những tổn thất nghiêm trọng, điển hình niên vụ cà phê 1991/1992 chúng ta đã phải bán cà phê với mức  rất  thấp,  có  lúc  dưới  600USD/tấn.  Rồi  đến  đợt  khủng  hoảng  cung  cấp  thừa 

1999 lại là một đợt giá giảm liên tục đến mức thấp kỷ lục của nhiều thập niên. Thời 

kỳ đó có lúc nông dân đã phải bán cà phê với giá thấp dưới giá thành tức là chưa đạt 6,000đ/kg cà phê nhân. 

Từ  năm 2000,  giá  cà phê  Việt Nam  đã  giảm  mạnh.  Năm 2001,  với chi  phí chăm sóc lớn gấp đôi  số tiền bán sản phẩm, bình quân mỗi héc ­ ta cà phê, người nông dân lỗ từ 5 ­ 7 triệu đồng/năm. Sau nhiều năm khủng hoảng, thị trường cà phê thế giới có xu hướng phục hồi trở lại, bắt đầu từ cuối năm 2005. Đặc biệt vào những tháng cuối năm 2006, giá cà phê tăng đột biến. 5 tháng cuối năm 2006, giá cà phê thế giới tăng hơn giá trung bình 6 tháng đầu năm đến 32%. 

Nhìn vào biểu đồ bên dưới  ta có thể thấy rất  rõ giá cà phê trong nước luôn theo sát giá thế giới, giá thế giới tăng thì giá trong nước tăng, giá thế giới giảm thì giá trong nước giảm, thậm chí còn giảm nhanh và nhiều hơn tốc độ giảm của giá thế giới, điển hình là diễn biến giá cà phê của niên vụ 2008/2009

Trang 14

Biểu  đồ  2.5:  Lượng  và  giá  cà  phê  xuất  khẩu  bình  quân  của  Việt  Nam  giai đoạn 1994­2009 

­  200,000  400,000  600,000  800,000  1,000,000  1,200,000  1,400,000 

19   19   19   19   19   19   20   20   20   20   20   20   20   20   20   20  

­  500.00  1,000.00  1,500.00  2,000.00  2,500.00  3,000.00 

Lượng (tấn)  Giá XKBQ (USD/tấn) 

Nguồn: www.agro.gov.vn, www.vicofa.org.vn và www.giacaphe.com 

Theo  thống  kê  của  Tổng  cục  Hải  quan,  năm  2009  Việt  Nam  đã  xuất  khẩu tổng  cộng  khoảng  1,18  triệu  tấn  cà  phê  (chủ  yếu là  cà  phê  robusta)  sang  97 quốc gia, đạt kim ngạch 1,705 tỉ đô la Mỹ, tăng 2,6% về lượng nhưng lại giảm tới 21,3% 

về giá trị so với cùng kỳ năm 2008. Đơn giá xuất khẩu bình quân cũng giảm 7,4%, xuống chỉ  còn 1.398  đô la/tấn, đưa cà phê trở thành mặt hàng duy nhất,  trong các nhóm hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu có đơn giá xuất khẩu bình quân giảm so với cùng kỳ năm 2008. Theo đó, xuất khẩu cà phê tới 10 thị trường lớn nhất (trừ Bỉ và 

Hà Lan) đều có mức sụt giảm kim ngạch khá mạnh (từ 5­45%) so với cùng kỳ 2008. Trong nửa đầu năm 2010, thị trường cà phê thế giới nhiều thăng trầm và diễn 

Trang 15

Trong  9  tháng  đầu  năm  2010  nước  ta  xuất  khẩu  877.409  tấn  cà  phê,  kim 

ngạch đạt 1,276 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2009, xuất khẩu cà phê giảm cả về 

lượng  lẫn  giá  trị  kim  ngạch.  Theo  Bộ  NN  và  PTNT,  sản  lượng  cà  phê  xuất  khẩu 

năm 2010 có thể đạt 1,1 triệu tấn, kim ngạch 1,67 tỉ  USD (năm 2009 là 1,18 triệu 

tấn và 1,73 tỉ USD). 

Theo  các  chuyên gia,  giá cà phê  thế giới  biến động bởi  cung  và  cầu  tại  thị 

trường  cà  phê  Luân  Đôn,  New  York  và  sự  chi  phối  của  các  nhà  kinh  doanh  cà 

phê…  Lẽ  ra  khi  giá  cà  phê  giảm,  chúng  ta  không  nên  bán  nữa nhưng  các  doanh 

càng làm cho giá cà phê giảm mạnh hơn nữa. Bên cạnh đó các doanh nghiệp xuất khẩu thường bán hàng theo hợp đồng kỳ hạn đã được chót giá. Nhà kinh doanh cà phê nước ngoài thường cho các doanh nghiệp trong nước ứng trước 70% giá trị hợp đồng xuất khẩu vì họ biết rằng cho dù có lỗ, các Doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải thực hiện theo đúng hợp đồng đã kí kết. Phương pháp chốt giá của hợp đồng cà phê 

kì hạn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro cho các nhà xuất khẩu. 

Liên  tục  trong 3 năm qua,  Hiệp hội  cà phê ca cao  Việt  Nam  (VICOFA) đã cảnh báo các doanh nghiệp hội viên rằng, trong bối cảnh thị trường cà phê thế giới biến động phức tạp, thì nên hạn chế bán hàng giao xa, bởi  tính rủi  ro rất  lớn. Tuy nhiên, khuyến cáo này không được doanh nghiệp tuân thủ. Hơn nữa, các quỹ đầu cơ 

Trang 16

Doanh nghiệp  xuất khẩu 

Nông trường và trang trại  (chiếm 20% diện tích  gieo trồng)

v  Người nông dân à thương lái, đại lý thu mua cà phê 

§  Về sản phẩm: 

Có một nghịch lý: cà phê robusta Việt Nam chất lượng vào loại cao trên thế giới, kể cả so với Indonesia nhưng lại thường phải bán giá thấp hơn cà phê cùng loại của nước này. Sở dĩ như vậy vì người nông dân còn nhiều thiếu sót trong khâu thu hái, sơ chế, phân loại và bảo quản. 

Với  giá  nhân  công  tăng  lên  trong  những  năm  gần  đây,  người  nông  dân thường lựa chọn phương pháp tuốt hơn là hái từng quả, vì thế chất lượng quả cà phê 

bị ảnh hưởng, đồng thời thu hoạch luôn cả quả xanh để đỡ bị mất trộm, giảm được công hái  (vì  chỉ hái  một  lần là xong), phơi  sấy một  lúc,  tiết  kiệm được chi phí  và điều quan trọng nhất là vẫn bán được, vẫn có người mua, tuy giá có thấp hơn nhưng lại được lợi ở nhiều khâu khác… 

Bên cạnh  đó, để không bán sản phẩm ngay sau vụ thu hoạch lại có thể bảo quản được  chất  lượng  thì  cần  phải  có  sân  xi măng để phơi,  kho bãi để  chứa, máy móc phân loại v.v… những thứ này hầu hết nằm ngoài tầm với của nông dân nên họ 

để lẫn lộn cả cà phê chín và xanh khi bán, ủ cà phê trên đất dễ bị hút ẩm gây mốc và lẫn sạn, cát… dẫn đến giá bán thấp. Đây là kiểu sản xuất mà cà phê tốt cũng chỉ bán được với giá chẳng khác gì cà phê xấu. Chính vì việc hái cà phê khi còn xanh nên 

đã làm giảm chất  lượng quả vì hương sẽ không thơm, vị sẽ nhạt, nhân không đẹp, không mẩy bóng mà teo tóp và làm giảm từ 10 – 15% sản lượng, khi xuất khẩu sẽ bị khách hàng chê, bị trừ lùi cao (1 tấn từ 100 – 120USD). 

Trong  vụ  cà  phê  2005­2006,  Tổ  chức  Cà  phê  quốc  tế  đã  phân  loại  cà  phê nhập tại 10 cảng khác nhau ở châu Âu và trong số 1.485.750 bao cà phê bị loại của 

17 nước và vùng lãnh thổ xuất khẩu, có đến hơn 72% là cà phê xuất xứ từ VN. Cho nên tính ra mỗi năm ngành cà phê Việt Nam bị thiệt hại tới hàng trăm triệu USD. 

§  Về phương thức mua bán: 

Trước đây người nông dân sau khi thu hoạch cà phê thì lập tức bán ngay cho đại  lý thu mua theo  kiểu  “tiền  trao cháo múc”.  Nguyên nhân là do  phần  lớn  nông dân trồng cà phê thiếu vốn, trong quá trình trồng cà phê thường nhận tạm ứng trước

Trang 17

thu  hoạch  là  bị  đại  lý  ép  phải  bán  ngay để  trang  trải  nào  nợ  nần,  cho  dù  lúc  thu 

hoạch  giá  cả  cao hay  thấp,  nông dân đều  phải  bán.  Kiểu  mua bán này  luôn khiến 

và  bán  ngay  cho  đại  lý  như  trước  với  bất  kỳ  mức  giá  nào  của  ngày  hôm  đó,  thì 

phương  thức này  cho  phép nông dân đưa  cà phê  tới  kho  của đại  lý  như hình  thức 

do khi người nông dân chốt giá bán thì hàng ký gửi đã được thương lái xuất bán với giá  thấp  từ  trước đó  cho doanh nghiệp  xuất  khẩu để  lấy  tiền  làm  thương  vụ  khác. Rốt cuộc người nông dân vừa mất tiền vừa không thu hồi được hàng. 

v  Doanh nghiệp xuất khẩu à nhà nhập khẩu nước ngoài: 

§  Về sản phẩm: 

Bên cạnh đó tuy là thành viên của Tổ chức Cà phê quốc tế, song Việt Nam vẫn  chưa  áp dụng  cách  thức phân  loại  cà  phê  theo  tiêu  chuẩn  thế  giới  đã  được  tổ chức  này  ban  hành  mặc  dù  đã  có  25  nước  tuân  thủ.  Việt  Nam  đã  chấp  nhận  tiêu chuẩn quốc tế ISO 10470:2004 và soạn thảo thành TCVN 4193­2005 nhưng tất cả những tiêu chuẩn đó đều không được thực hiện, cho tới nay cà phê vẫn là loại hàng hóa chưa bị bắt buộc kiểm tra chất lượng trước khi thông quan. 

Phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê hiện nay chỉ là nhà thương mại đơn thuần, tìm khách hàng nhập khẩu, ký hợp đồng và đưa xe container tới đại lý cà phê “đóng hàng’; có nghĩa là các đại lý đảm nhận luôn cả khâu sơ chế, phân loại cà phê theo từng tiêu chuẩn riêng của nhà xuất khẩu. Do việc áp dụng tiêu chuẩn là tự nguyện, nên rốt cuộc cho đến nay rất nhiều doanh nghiệp vẫn duy trì phân hạng cà phê theo 3 tiêu chí: thủy phần %, đen vỡ %, tạp chất %. Trong khi đó, các hợp đồng mua  bán  cà  phê  robusta  tại  thị  trường  LIFFE  đều  xếp  hạng  cà  phê  dựa  trên  các thông số chất lượng đo bằng phần trăm khối lượng, không phải bằng tỉ lệ phần trăm 

số  lỗi.  Như  vậy,  cách  xếp  hạng  theo  phần  trăm  số  lỗi  mà  ta  đang  áp  dụng  không được quốc tế công nhận. Thế nhưng rất đông doanh nghiệp Việt Nam không muốn 

áp dụng TCVN 4193­2005; các doanh nghiệp nước ngoài mua cà phê của Việt Nam 

Trang 18

người mua  chứ  không phải  người  bán.  Chính  vì  vậy,  các  doanh nghiệp  Việt  Nam 

luôn bị  các nhà nhập  khẩu  nước ngoài dắt mũi. Khi  các đối  tác nước ngoài  đã  ký 

Không  có  hợp đồng  đầu  ra  trước khi sản xuất 

Chất lượng cà phê thấp => giá bán thấp 

Không có phương tiện hỗ trợ cho việc  thu  hoạch  và  phân  loại  cà 

phê 

Người nông  dân 

Ký  gửi  cà  phê  cho  đại  lý  => 

rủi  ro mất hàng mà không thu được tiền, bị ép giá 

Không  có  kho  chứa,  không  đủ 

Chưa  phân  loại  cà  phê  theo  tiêu 

chuẩn quốc tế  Doanh nghiệp 

xuất khẩu 

Ký  trước  hợp  đồng  đầu  ra nhưng  chưa  chốt  giá  bán  + nhận tạm ứng 70% giá trị hợp đồng  =>  không  thể  hủy  HĐ cho dù giá bán thấp 

Không  đủ  vốn  để  tạm  trữ  hàng, khi  có biến động  giá  sẽ  giảm  giá mua trong nước

Ngày đăng: 02/08/2016, 18:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.1:  Sản  lượng  và  kim  ngạch  xuất  khẩu cà  phê Việt  Nam  từ năm - Đề xuất các giải pháp liên quan đến xây dựng  và  phát triển thị  trường giao sau nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá cà phê.
ng 2.1:  Sản  lượng  và  kim  ngạch  xuất  khẩu cà  phê Việt  Nam  từ năm (Trang 13)
Bảng  2.3:  Rủi  ro  đối  với  người  sản  xuất  và  kinh  doanh  cà  phê  VN  khi  xảy ra biến động giá - Đề xuất các giải pháp liên quan đến xây dựng  và  phát triển thị  trường giao sau nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá cà phê.
ng 2.3:  Rủi  ro  đối  với  người  sản  xuất  và  kinh  doanh  cà  phê  VN  khi  xảy ra biến động giá (Trang 18)
Hình sản xuất –  xuất khẩu cà phê hiện nay thông qua việc thiết lập các đại lý nhận - Đề xuất các giải pháp liên quan đến xây dựng  và  phát triển thị  trường giao sau nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá cà phê.
Hình s ản xuất –  xuất khẩu cà phê hiện nay thông qua việc thiết lập các đại lý nhận (Trang 29)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w