nghiệp kinh doanh cà phê mà còn của người nông dân thì việc xây dựng và phát triển thị trường giao sau cà phê là một trong những giải pháp khả thi và hữu hiệu § Chương 3: Đề xuất các giả
Trang 1nghiệp kinh doanh cà phê mà còn của người nông dân thì việc xây dựng và phát
triển thị trường giao sau cà phê là một trong những giải pháp khả thi và hữu hiệu
§ Chương 3: Đề xuất các giải pháp liên quan đến xây dựng và phát triển thị trường giao sau nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá cà phê.
§ Kết luận
Trang 2trong thế bị động, không biết trước đầu ra của sản phẩm, cũng như giá cả và nhu
cầu của thị trường, phần đông trông chờ nhiều vào sự may rủi và phụ thuộc nhiều
Đối với các doanh nghiệp chế biến, nhà xuất khẩu nông sản cũng sẽ gặp rủi
ro tương tự như người nông dân nếu như họ thu mua nông sản, thu mua nguyên liệu, chế biến rồi lưu kho để tiêu thụ hoặc xuất khẩu mà không có hợp đồng mua trước nguyên liệu với người cung cấp với giá ấn định (vì lúc mua giá có thể đang lên) cũng như không có hợp đồng bán trước với người tiêu thụ với giá ấn định (vì lúc bán giá có thể đang xuống) thì khi giá cả mặt hàng đó biến động, có thể đẩy doanh nghiệp vào tình trạng thua lỗ nặng nề. Nhiều doanh nghiệp vừa ký hợp đồng bán hàng xong, giá cả biến động tăng, tiền thu về không còn đủ để mua lại số hàng tương tự vừa bán dẫn đến thua lỗ. Những biến động không thể dự đoán trước của giá hàng hóa không những có thể ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh mà còn ảnh hưởng đến thị phần, sức cạnh tranh và thậm chí là cả sự tồn tại của DN nếu điều đó xảy ra trong một thời gian dài.
Như vậy cả nông dân, các thương lái, nhà chế biến và nhà xuất khẩu đều phải quan tâm đến việc quản lý rủi ro về giá đối với sản phẩm hàng hoá của mình để hạn chế thiệt hại đến mức tối đa và thu được lợi nhuận cao nhất.
Chính vì vậy họ cần có những công cụ phòng ngừa để đạt được mục tiêu giảm thiểu rủi ro biến động giá, một trong những công cụ hữu hiệu đã được các nước phát triển ứng dụng từ lâu đó là thực hiện giao dịch các hợp đồng giao sau trên sàn giao dịch giao sau. Chính nhờ có hợp đồng mua, bán trước với giá ấn định và giao hàng sau mà các bên có thể hạn chế đến mức tối đa rủi ro về biến động giá nhờ
cơ chế hoán đổi và lựa chọn mà sàn sẽ trực tiếp điều hành. Điều này không thể có được trong thị trường truyền thống khi thực hiện việc giao hàng ngay theo phương thức mua đứt bán đoạn thì giá bán chỉ là giá cao vào thời điểm đó, nhưng sau đó các
cơ hội giá có lợi hơn sẽ phải bỏ qua vì hàng đã bán rồi, hoặc nếu ký gửi để bán hộ thì người bán phải thanh toán tiền lưu kho, tiền bảo quản… và vẫn có thể bị ép giá
do người mua cố tình gây ra. Như vậy nhờ chức năng quản lý rủi ro về giá (đây là
Trang 3luôn muốn kiếm lợi nhuận dựa trên dự đoán chủ quan về giá cả thị trường, họ sẽ
chốt lời hoặc chốt lỗ bằng cách chốt “vị thế” muabán trong thị trường, số tiền họ
được hoặc mất sẽ không vượt quá giá trị kí quỹ phong tỏa. Trên thực tế, có 2% hợp
đồng đã thỏa thuận được chuyển giao, kết thúc “vị thế” muabán luôn được lựa
Điều khác biệt tiếp theo là ở các đặc điểm của hợp đồng giao sau như: giá
cả, trung tâm thanh toán bù trừ, nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro biến động giá, đầu
cơ…
1.2.1. Giá cả và các yếu tố quyết định
Giá cả được quyết định bởi các điều kiện cung cầu, nếu trên thị trường có nhiều người mua hơn người bán, giá hàng hóa sẽ tăng lên nhanh chóng, ngược lại trên thị trường mà người mua ít hơn người bán, giá sẽ giảm. Vậy từ đâu mà hình thành nên các điều kiện cung cầu.
Đó là do các lệnh đặt mua và bán khắp nơi trên thế giới đổ về và được tập trung tại sàn giao dịch hàng hóa. Những lệnh này khi được nhập vào sàn giao dịch thì sẽ trở thành các hợp đồng giao sau với những điều kiện ràng buộc nhất định giữa bên bán và bên mua. Đối với các hợp đồng khác thì giá cả được hình thành trên mặt bằng chung là thỏa thuận, nhưng giao dịch giao sau thì không, nó có nhiều hệ thống đấu giá được kết nối với bảng điện tử của sàn, những giá này được tự do đặt theo ý muốn chủ quan của nhà đầu tư và được chuyển đến sàn thông qua hệ thống máy tính kết nối. Sự đặt giá này được đặt trong một khoản thời gian quy định, đây được gọi là giờ giao dịch. Theo đó sẽ có nhiều loại lệnh khác nhau được đặt tùy vào tính chất đầu tư của cá nhân, ví dụ như lệnh thị trường, lệnh giới hạn, lệnh dừng lỗ… Chính vì cơ chế đấu giá và cơ chế vận hành của thị trường giao sau đã làm giá cả hàng hóa phản ánh đúng giá trị thực của nó. Mặt khác nếu lạm dụng thì sẽ gây ảnh hưởng lớn đến hiện tượng đầu cơ giá, tất nhiên luật định sẽ tạo nhiều cản trở cho các hoạt động đầu cơ giá đó, nhưng tất cả vẫn phải đảm bảo mục đích cơ bản của sàn giao dịch giao sau là cung cấp cho các thành viên có thể tự do mua bán các loại hàng hóa khác nhau vì mục đích lợi nhuận. Đồng thời sàn này được hoạt động vì mục đích phi lợi nhuận, nhưng mọi giao dịch thông qua sàn cần phải qua một trung tâm môi giới, tất nhiên nhà đầu tư phải trả một khoản phí hoa hồng nhất định cho trung tâm này
Trang 4khoản lãi lỗ khi đầu tư qua thông báo hằng ngày.
1.2.3. Ký quỹ
Để đảm bảo các rủi ro trong giao dịch trên thị trường giao sau và tùy thuộc vào tính chất đầu tư, hệ thống ký quỹ sẽ có những quy định ràng buộc khác nhau. Chẳng hạn số tiền ký quỹ sẽ khác nhau khá lớn giữa chủ thể phòng ngừa biến động giá (hedging) và chủ thể đầu cơ (speculator), lúc nào chủ thể đầu cơ giá cũng luôn chịu mức ký quỹ cao hơn. Số tiền ký quỹ tùy thuộc vào số lượng hợp đồng và những quy định của sàn giao dịch giao sau.
Tuy nhiên, chỉ có ba loại tài khoản ký quỹ :
§ Mức ký quỹ ban đầu (Initial margin): mức ký quỹ này do trung tâm thanh
toán bù trừ tại London quy định dựa trên những phân tích lịch sử về biến động giá cả của các hợp đồng giao sau, nó được xem xét định kỳ, phụ thuộc vào mức độ biến động. Mức ký quỹ ban đầu được áp dụng cho cả trạng thái trường/đoản trên cơ sở mỗi hợp đồng, và có thể hoàn lại dựa trên tính thanh khoản của các trạng thái. Mức ký quỹ thường chiếm khoảng 1015% giá trị hợp đồng.
§ Mức ký quỹ duy trì (Maintenance Margin) là số dư tối thiểu trên tài khoản ký
quỹ để duy trì một trạng thái mở sau khi đánh giá lại hàng ngày theo giá trị thị trường và điều chỉnh lãi lỗ.
§ Mức ký quỹ bổ sung (Margin call): khi số dư tối thiểu hoặc số tiền ký quỹ
ban đầu bị thiếu hụt theo quy định của trung tâm thanh toán bù trừ, các nhà đầu tư cần thực hiện ký quỹ bổ sung (margin call), khoản ký quỹ bổ sung được tính trên cơ sở chênh lệch giữa giá tất toán của ngày hôm nay và giá đêm hôm trước, được tính toán dựa trên mỗi trạng thái mở
Trang 5mình ở vị thế thích hợp (phòng ngừa vị thế mua hoặc phòng ngừa vị thế bán) để
phòng ngừa, bảo hiểm và hạn chế rủi ro với sự biến động giá không thể dự đoán
bù vào chi phí đầu vào gia tăng khi mua giao ngay cà phê.
§ “Short hedge” – “ phòng ngừa vị thế bán”: một chủ trang trại cà phê dự tính
bán 50 tấn cà phê sẽ thu hoạch vào tháng sau. Người này muốn chắc chắn sẽ bán được giá nên đã quyết định bán chúng trên thị trường giao sau để bảo hộ trường hợp giá cà phê trên thế giới giảm xuống. Đối với sàn giao dịch cà phê, giá trị nhỏ nhất cho mỗi hợp đồng giao sau cà phê được giao dịch là 10 tấn. Vì vậy ông ta phải thực hiện bán 5 hợp đồng giao sau cà phê. Bảng dưới
sẽ cho thấy sự biến động giá và kết quả bảo hộ giá từ hợp đồng này. Trong
đó, cà phê được định giá bằng VND, chi phí giao dịch không đáng kể. Giá cà phê trong tháng ngày một tăng lên, đến 27 triệu đồng mỗi tấn, lúc này nếu để đến hạn ông ta sẽ bị mất khoản tiền khá lớn. Khôn ngoan hơn hết là chốt vị thế bán, chấm dứt hợp đồng.
Trang 6ngược lại của giá hàng hóa. Họ cũng chính là thành phần không thể thiếu của thị
là nguyên nhân gia tăng nạn đầu cơ gây biến động giá cả khôn lường và không cần thiết, những người này cũng đồng thời cho rằng thị trường giao sau chỉ có lợi cho nhà đầu cơ thao túng giá cả và đi ngược lại lợi ích của người nông dân và người tiêu dùng, các cáo buộc cho rằng nó không chỉ bóp méo giá cả mà còn tiếp tay cho những hoạt động phi pháp để làm giàu, do đó đã có một số nước trong thời kỳ đầu
đã thực thi lệnh cấm giao dịch giao sau đối với một số loại hàng hóa nhất định, điển hình là Ấn Độ trong các thập niên 50 và 60. Bên cạnh đó cũng có quan điểm cho rằng thị trường giao sau là công cụ đắc lực trong việc kiểm soát giá cả, ổn định sản xuất và quyết định đầu tư trong nền kinh tế. Nếu dựa vào mức độ tranh luận giữa những nhà phê bình với những người ủng hộ thị trường giao sau để cân nhắc lợi ích
và rủi ro của nó sẽ là một nhiệm vụ không dễ dàng nếu không có những bằng chứng thực nghiệm. Trong phần dưới chúng ta sẽ đi tìm hiểu một số nghiên cứu thực nghiệm của các nhà kinh tế học nhằm giải đáp những câu hỏi liên quan đến lợi ích
và rủi ro của thị trường hàng hóa giao sau.
Học giả Pavaska (1970) cho rằng các nhà phê bình đã sai lầm khi cho rằng các nhà đầu cơ làm trầm trọng sự tăng giá bằng cách kiếm lợi nhuận trong thời gian dài trên thị trường giao sau. Ông cho rằng sự thiếu vắng cơ chế thị trường giao sau, mức độ biến động giá giao sau tương ứng có thể khiến các thương nhân và các thành phần khác lo tích trữ hàng hóa, điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến giá cả hơn so với bất kỳ một tác động nào khác của những giao dịch giao sau hợp pháp
Trang 7động của giá bột nghệ đã được giới hạn ở mức thấp nhất theo sau sự tồn tại thị
trường giao sau ở Sangli, Maharashtra, nơi mà biến động giá cả cao hơn so với ở
Chili [Nền tảng lợi ích của giao dịch hàng hóa giao sau, PTI New Delhi, ngày 12
T.W. Schultz (1949) dựa và 3 tiêu chí dưới đây để tìm ra tác động của giá
nông sản lên các quyết định sản xuất thông qua mức độ phân bổ và sử dụng các
Tuy nhiên khám phá của Schultz đã có một vài sai sót bởi vì trong hệ thống thị trường giao sau, hợp đồng được ký trước và hàng hóa được cung cấp sau vào một ngày cụ thể. Như vậy, trong trường hợp người bán có đầy đủ hiểu biết hoặc thông tin về số lượng và chất lượng hàng hóa như vậy sẽ được bán ở mức giá nào, dựa vào đó ông ta có thể phân bổ lại nguồn lực của mình để gia tăng sản xuất nhằm đáp ứng theo hợp đồng. Nghĩa là người sản xuất có thể phòng ngừa cho lượng hàng hóa ông ta đang sản xuất ở thời điểm t và bán giao sau tại thời điểm t +1 khỏi những rủi ro tổn thất giá trị và bảo vệ lợi nhuận bằng cách chuyển những rủi ro đó cho người khác. Do đó, khoản phí ông ta phải thanh toán để ngăn chặn hàng hóa của mình khỏi những rủi ro phụ thuộc vào xác suất xảy ra rủi ro và đơn giá phòng ngừa. Masahiro Kawai (1983) trình bày một mô hình lý thuyết giải thích ảnh hưởng của thị trường hàng hóa giao sau lên quá trình hình thành giá và lợi ích chung của toàn xã hội trên nền tảng những kỳ vọng hợp lý. Ông đã tính toán ảnh hưởng của giá giao ngay lên sản xuất và sau đó dẫn giải khả năng của thị trường giao sau trong
mô hình. Ông đã chỉ ra rằng mức độ tối ưu của sản xuất chỉ phụ thuộc vào giá cả giao sau và hệ số chi phí. Theo ông, số lượng hợp đồng giao sau được xác định bởi mức tối ưu của sản xuất và đầu cơ phản ánh sự khác biệt giữa kỳ vọng chủ quan của nhà sản xuất về giá giao ngay thời gian tới và giá giao sau tương ứng. Kawai đã
Trang 8trường giao sau. Hơn nữa, những quyết định trong sản xuất được thực hiện hoàn
Nói tóm lại, qua rất nhiều tranh luận thông qua những mô hình lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm của các nhà kinh tế học, cho đến nay thị trường giao sau
đã chứng minh được lợi ích của mình trong việc cung cấp công cụ phòng ngừa rủi
ro biến động giá cho các nhà sản xuất, đương nhiên trong thị trường này vẫn tồn tại những rủi ro là sự phát triển mạnh của các nhà đầu cơ, tuy nhiên các chính phủ chỉ cần kiểm soát hoạt động này trong khuôn khổ luật pháp cho phép thì nó không những không gây hại cho nền kinh tế mà còn có tác dụng làm tăng tính thanh khoản
cho thị trường này.
1.4. Thực trạng ứng dụng Hợp đồng Giao sau trên thế giới 1.4.1. Thực trạng Giao sau trên thế giới
Thế giới ngày nay đang bước vào nền kinh tế toàn cầu hóa. Bất kỳ sự thay đổi nào của tình hình kinh tế thế giới cũng đều ảnh hưởng đến nền kinh tế của quốc gia. Ngược lại, sự chuyển biến trong nền kinh tế quốc gia cũng tác động đến tình hình kinh tế trong khu vực hay trong phạm vi thế giới.
Toàn cầu hóa mang lại nhiều thuận lợi nhưng đồng thời cũng mang đến nhiều khó khăn. Những khó khăn đó chính là rủi ro có thể nhận thấy và rủi ro tiềm
ẩn. Các rủi ro này tồn tại một cách ngẫu nhiên trong tất cả quá trình sản xuất, kinh doanh, quản lý. Chúng hoàn toàn có thể làm cho nhà đầu tư mất sạch tiền, công ty phá sản và nền kinh tế của một quốc gia suy sụp. Đối mặt trước những nguy cơ đó, các phái sinh tài chính như hợp đồng giao sau (Futures), hợp đồng quyền chọn (Option), hợp đồng hoán chuyển lãi suất (Swap)… ngày càng được sử dụng một
Trang 9này ở bất cứ nơi đâu và bất cứ khi nào thông qua hệ thống GLOBEX nối liền 12
trung tâm tài chính thế giới (Bermuda, Boca Raton, Chicago, Geneva, Hamburg,
Vào thập niên 1980, hợp đồng giao sau chỉ số chứng khoán đã đạt được những thành công cao độ. Công cụ này là chiếc cầu nối giữa các nhà giao dịch cổ phiếu tại New York và các nhà giao dịch giao sau tại Chicago. Tại Mỹ, chỉ sau một vài năm đã có hợp đồng giao sau chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones, một chỉ
số tên tuổi trên thị trường chứng khoán . Hợp đồng giao sau chỉ số chứng khoán đã thành công vang dội khắp toàn cầu. Hầu hết các nước phát triển đều có sàn giao dịch giao sau riêng cho hợp đồng chỉ số chứng khoán hoạt động. Một số nước có hợp đồng giao sau chỉ số chứng
khoán phổ biến gồm Anh, Pháp, Nhật, Đức, Tây Ban Nha và Hongkong 1.4.3. Thị trường giao sau ở Việt Nam
Trong điều kiện hiện nay, các thành phần kinh tế luôn phải đối mặt với các rủi ro về giá cả, thông tin, thị trường (nguồn hàng, cung cầu) và tỷ giá trong hoạt động xuất nhập khẩu. Những rủi ro này không chỉ ảnh hưởng đến những người trực tiếp sản xuất, kinh doanh mà ảnh hưởng đến cả nền kinh tế. Tuy nhiên, hầu hết các thành phần kinh tế Việt Nam chỉ biết chấp nhận vì chưa có công cụ bảo vệ rủi ro. Trong những năm gần đây, khi tiếp xúc làm ăn với nước ngoài, chúng ta dần dần biết được những phương cách bảo hộ rủi ro trên thị trường tài chính phái sinh. Một số doanh nghiệp đã sử dụng công cụ này để bảo hộ cho hoạt động kinh doanh của mình và dựa vào thông tin, giá cả trên các thị trường này để điều tiết sản xuất, không còn lo bị ép giá. Việt Nam đang tổ chức các chợ đầu mối, các trung tâm giao dịch và tiến tới hình thành các thị trường giao sau về nông sản. Trong lĩnh vực ngoại hối, Chính phủ đã cho phép sử dụng hợp đồng quyền chọn để bảo vệ hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Tuy muộn màng so với xu thế phát triển thế giới nhưng sự khởi đầu này cũng là một tín hiệu đáng mừng cho nền kinh tế Việt Nam
Trang 10học pháp lý tại Việt Nam nhưng có tiềm năng to lớn cho nền kinh tế, đặc biệt là
những giải pháp hiệu quả cho những nhà sản xuất kinh doanh cà phê Việt Nam
là nó giúp cho thị trường tài chính trở nên hoạt động hiệu quả hơn, tạo cơ hội tốt
cho việc phòng ngừa rủi ro. Đây cũng là ưu điểm nổi trội nhất của hợp đồng giao
hoạt động kinh doanh xuất khẩu truyền thống.
Kết luận chương I
Chiến lược phòng ngừa rủi ro biến động giá bằng việc sử dụng hợp đồng giao sau là một công cụ hữu dụng trong ngắn hạn và trung hạn để bảo vệ thu nhập cho nhà sản xuất và kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, khu vực có nhiều sản phẩm có thể thực hiện tồn trữ và bán giao sau. Tuy chịu nhiều tác động của rủi ro (rủi ro giá cả, lãi suất, thời tiết…) nhưng nếu xây dựng được thị trường giao sau các mặt hàng nông sản tại Việt Nam thì người nông dân và các doanh nghiệp sản xuất nông sản vẫn có thể đương đầu với rủi ro và kinh doanh có lợi nhuận
Trang 11Năm 1994 đợt sương muối tại Brazil làm cung thế giới giảm sút đột ngột và giá tăng cao. Giá tăng khuyến khích người trồng cà phê mở rộng diện tích, sản
Trang 12giá, nhưng vẫn còn thấp hơn mức đã chứng kiến trong năm 1990. Giá cà phê thế
giới giảm xuống mức thấp kỷ lục trong vòng 40 năm trước đó, giảm xuống dưới
Mùa đông Brazil thường diễn ra trong khoảng từ 21/6 đến 25/8 hàng năm, đây là thời gian lạnh nhất trong năm, biểu đồ giá cà phê luôn có tỷ lệ nghịch với hàn thử biểu trong giai đoạn này, chỉ với một bản báo cáo đêm qua nhiệt độ những vùng trồng đã xuống thấp dưới 0°C hoặc dự báo trong những ngày tới sẽ rất lạnh thì hầu như ngày hôm sau thế nào giá cũng tăng, hoặc ít nhất là không sụt thêm nữa.
v Giá trị và khối lượng cà phê giao dịch tại các sàn giao dịch trên thế giới
Lượng cà phê giao dịch trên thế giới ước tính lớn gấp 5 lần (hoặc hơn nữa) lượng cà phê thực mà nông dân làm ra (sản lượng thế giới khoảng 127 triệu pound trong vụ 2009). Tức là cũng một bao cà phê ấy thôi, nhưng nhà đầu tư A bán cho nhà đầu tư B, rồi người này bán cho nhà đầu tư C đều được tính vào lượng giao dịch hàng ngày trên thị trường.
Điều này có nghĩa là giá cà phê thế giới không chỉ phụ thuộc vào việc Brazil
có bị sương giá hay Việt Nam có bị hạn hán không mà còn phụ thuộc vào những nhà đầu tư lớn dùng cà phê như một mặt hàng kiểu chứng khoán cho việc kinh doanh của mình. Vị thế đang phải bán ra với những lô hàng mà họ đã mua vào trước
đó hay cần mua vào những lô hàng để có mà giao hoặc mua vào để chờ giá lên theo phân tích của họ đều tác động rất lớn đến giá cả.
Giả sử một nhà đầu tư đang ở vị thế bán nhận định Mỹ có khả năng đánh Iran
và giá dầu trong thời gian ngắn có thể tăng lên 100USD/thùng, sau khi tổng hợp và phân tích tình hình họ có khả năng bán mạnh số cà phê đang nắm giữ dựa trên các hợp đồng mua giao sau cà phê mà mình đang có để lấy tiền mua dầu vào. Động tác bán cà phê như thế sẽ ảnh hưởng tức thì lên giá cà phê và tạo ảnh hưởng dây
Trang 13Đơn giá XK bình quân (USD/tấn)
2,5 triệu tấn cà phê, trong đó 50% dùng chế biến cà phê hòa tan trong nước, một
phần sản lượng cà phê hòa tan này được xuất khẩu. Với hơn 100 triệu dân, bình
quân mỗi người dân tiêu dùng 45kg cà phê thì lượng tiêu thụ trong nước của
Còn Việt Nam hiện nay mới chế biến được khoảng 10.000 tấn (bằng 5% tổng sản lượng), con số quá ít so với 1 triệu tấn cà phê nhân sản xuất ra mỗi năm. Thêm vào đó, tiêu dùng nội địa cũng rất thấp, chưa được 0,5kg/người/năm, vì thế ngành
cà phê nước ta phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường xuất khẩu và không thể kiểm soát giá cà phê thế giới mà hoàn toàn bị động khi giá cà phê thế giới biến động. Trong khi đó các nước khác trên thế giới lại bắt tay nhau để cùng kiểm soát và chi phối giá cà phê, hầu hết dự báo của các hãng tin nước ngoài đều hướng vào người mua. Thậm chí, các viện nghiên cứu giá cả trên thế giới khi đưa ra bản tin đều phục
vụ lợi ích một bên nào đó, còn thực tế không có lợi cho Việt Nam.
Chính vì thế trong quá khứ ngành cà phê Việt Nam đã chịu những tổn thất nghiêm trọng, điển hình niên vụ cà phê 1991/1992 chúng ta đã phải bán cà phê với mức rất thấp, có lúc dưới 600USD/tấn. Rồi đến đợt khủng hoảng cung cấp thừa
1999 lại là một đợt giá giảm liên tục đến mức thấp kỷ lục của nhiều thập niên. Thời
kỳ đó có lúc nông dân đã phải bán cà phê với giá thấp dưới giá thành tức là chưa đạt 6,000đ/kg cà phê nhân.
Từ năm 2000, giá cà phê Việt Nam đã giảm mạnh. Năm 2001, với chi phí chăm sóc lớn gấp đôi số tiền bán sản phẩm, bình quân mỗi héc ta cà phê, người nông dân lỗ từ 5 7 triệu đồng/năm. Sau nhiều năm khủng hoảng, thị trường cà phê thế giới có xu hướng phục hồi trở lại, bắt đầu từ cuối năm 2005. Đặc biệt vào những tháng cuối năm 2006, giá cà phê tăng đột biến. 5 tháng cuối năm 2006, giá cà phê thế giới tăng hơn giá trung bình 6 tháng đầu năm đến 32%.
Nhìn vào biểu đồ bên dưới ta có thể thấy rất rõ giá cà phê trong nước luôn theo sát giá thế giới, giá thế giới tăng thì giá trong nước tăng, giá thế giới giảm thì giá trong nước giảm, thậm chí còn giảm nhanh và nhiều hơn tốc độ giảm của giá thế giới, điển hình là diễn biến giá cà phê của niên vụ 2008/2009
Trang 14Biểu đồ 2.5: Lượng và giá cà phê xuất khẩu bình quân của Việt Nam giai đoạn 19942009
200,000 400,000 600,000 800,000 1,000,000 1,200,000 1,400,000
19 19 19 19 19 19 20 20 20 20 20 20 20 20 20 20
500.00 1,000.00 1,500.00 2,000.00 2,500.00 3,000.00
Lượng (tấn) Giá XKBQ (USD/tấn)
Nguồn: www.agro.gov.vn, www.vicofa.org.vn và www.giacaphe.com
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, năm 2009 Việt Nam đã xuất khẩu tổng cộng khoảng 1,18 triệu tấn cà phê (chủ yếu là cà phê robusta) sang 97 quốc gia, đạt kim ngạch 1,705 tỉ đô la Mỹ, tăng 2,6% về lượng nhưng lại giảm tới 21,3%
về giá trị so với cùng kỳ năm 2008. Đơn giá xuất khẩu bình quân cũng giảm 7,4%, xuống chỉ còn 1.398 đô la/tấn, đưa cà phê trở thành mặt hàng duy nhất, trong các nhóm hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu có đơn giá xuất khẩu bình quân giảm so với cùng kỳ năm 2008. Theo đó, xuất khẩu cà phê tới 10 thị trường lớn nhất (trừ Bỉ và
Hà Lan) đều có mức sụt giảm kim ngạch khá mạnh (từ 545%) so với cùng kỳ 2008. Trong nửa đầu năm 2010, thị trường cà phê thế giới nhiều thăng trầm và diễn
Trang 15Trong 9 tháng đầu năm 2010 nước ta xuất khẩu 877.409 tấn cà phê, kim
ngạch đạt 1,276 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2009, xuất khẩu cà phê giảm cả về
lượng lẫn giá trị kim ngạch. Theo Bộ NN và PTNT, sản lượng cà phê xuất khẩu
năm 2010 có thể đạt 1,1 triệu tấn, kim ngạch 1,67 tỉ USD (năm 2009 là 1,18 triệu
tấn và 1,73 tỉ USD).
Theo các chuyên gia, giá cà phê thế giới biến động bởi cung và cầu tại thị
trường cà phê Luân Đôn, New York và sự chi phối của các nhà kinh doanh cà
phê… Lẽ ra khi giá cà phê giảm, chúng ta không nên bán nữa nhưng các doanh
càng làm cho giá cà phê giảm mạnh hơn nữa. Bên cạnh đó các doanh nghiệp xuất khẩu thường bán hàng theo hợp đồng kỳ hạn đã được chót giá. Nhà kinh doanh cà phê nước ngoài thường cho các doanh nghiệp trong nước ứng trước 70% giá trị hợp đồng xuất khẩu vì họ biết rằng cho dù có lỗ, các Doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải thực hiện theo đúng hợp đồng đã kí kết. Phương pháp chốt giá của hợp đồng cà phê
kì hạn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro cho các nhà xuất khẩu.
Liên tục trong 3 năm qua, Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam (VICOFA) đã cảnh báo các doanh nghiệp hội viên rằng, trong bối cảnh thị trường cà phê thế giới biến động phức tạp, thì nên hạn chế bán hàng giao xa, bởi tính rủi ro rất lớn. Tuy nhiên, khuyến cáo này không được doanh nghiệp tuân thủ. Hơn nữa, các quỹ đầu cơ
Trang 16Doanh nghiệp xuất khẩu
Nông trường và trang trại (chiếm 20% diện tích gieo trồng)
v Người nông dân à thương lái, đại lý thu mua cà phê
§ Về sản phẩm:
Có một nghịch lý: cà phê robusta Việt Nam chất lượng vào loại cao trên thế giới, kể cả so với Indonesia nhưng lại thường phải bán giá thấp hơn cà phê cùng loại của nước này. Sở dĩ như vậy vì người nông dân còn nhiều thiếu sót trong khâu thu hái, sơ chế, phân loại và bảo quản.
Với giá nhân công tăng lên trong những năm gần đây, người nông dân thường lựa chọn phương pháp tuốt hơn là hái từng quả, vì thế chất lượng quả cà phê
bị ảnh hưởng, đồng thời thu hoạch luôn cả quả xanh để đỡ bị mất trộm, giảm được công hái (vì chỉ hái một lần là xong), phơi sấy một lúc, tiết kiệm được chi phí và điều quan trọng nhất là vẫn bán được, vẫn có người mua, tuy giá có thấp hơn nhưng lại được lợi ở nhiều khâu khác…
Bên cạnh đó, để không bán sản phẩm ngay sau vụ thu hoạch lại có thể bảo quản được chất lượng thì cần phải có sân xi măng để phơi, kho bãi để chứa, máy móc phân loại v.v… những thứ này hầu hết nằm ngoài tầm với của nông dân nên họ
để lẫn lộn cả cà phê chín và xanh khi bán, ủ cà phê trên đất dễ bị hút ẩm gây mốc và lẫn sạn, cát… dẫn đến giá bán thấp. Đây là kiểu sản xuất mà cà phê tốt cũng chỉ bán được với giá chẳng khác gì cà phê xấu. Chính vì việc hái cà phê khi còn xanh nên
đã làm giảm chất lượng quả vì hương sẽ không thơm, vị sẽ nhạt, nhân không đẹp, không mẩy bóng mà teo tóp và làm giảm từ 10 – 15% sản lượng, khi xuất khẩu sẽ bị khách hàng chê, bị trừ lùi cao (1 tấn từ 100 – 120USD).
Trong vụ cà phê 20052006, Tổ chức Cà phê quốc tế đã phân loại cà phê nhập tại 10 cảng khác nhau ở châu Âu và trong số 1.485.750 bao cà phê bị loại của
17 nước và vùng lãnh thổ xuất khẩu, có đến hơn 72% là cà phê xuất xứ từ VN. Cho nên tính ra mỗi năm ngành cà phê Việt Nam bị thiệt hại tới hàng trăm triệu USD.
§ Về phương thức mua bán:
Trước đây người nông dân sau khi thu hoạch cà phê thì lập tức bán ngay cho đại lý thu mua theo kiểu “tiền trao cháo múc”. Nguyên nhân là do phần lớn nông dân trồng cà phê thiếu vốn, trong quá trình trồng cà phê thường nhận tạm ứng trước
Trang 17thu hoạch là bị đại lý ép phải bán ngay để trang trải nào nợ nần, cho dù lúc thu
hoạch giá cả cao hay thấp, nông dân đều phải bán. Kiểu mua bán này luôn khiến
và bán ngay cho đại lý như trước với bất kỳ mức giá nào của ngày hôm đó, thì
phương thức này cho phép nông dân đưa cà phê tới kho của đại lý như hình thức
do khi người nông dân chốt giá bán thì hàng ký gửi đã được thương lái xuất bán với giá thấp từ trước đó cho doanh nghiệp xuất khẩu để lấy tiền làm thương vụ khác. Rốt cuộc người nông dân vừa mất tiền vừa không thu hồi được hàng.
v Doanh nghiệp xuất khẩu à nhà nhập khẩu nước ngoài:
§ Về sản phẩm:
Bên cạnh đó tuy là thành viên của Tổ chức Cà phê quốc tế, song Việt Nam vẫn chưa áp dụng cách thức phân loại cà phê theo tiêu chuẩn thế giới đã được tổ chức này ban hành mặc dù đã có 25 nước tuân thủ. Việt Nam đã chấp nhận tiêu chuẩn quốc tế ISO 10470:2004 và soạn thảo thành TCVN 41932005 nhưng tất cả những tiêu chuẩn đó đều không được thực hiện, cho tới nay cà phê vẫn là loại hàng hóa chưa bị bắt buộc kiểm tra chất lượng trước khi thông quan.
Phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê hiện nay chỉ là nhà thương mại đơn thuần, tìm khách hàng nhập khẩu, ký hợp đồng và đưa xe container tới đại lý cà phê “đóng hàng’; có nghĩa là các đại lý đảm nhận luôn cả khâu sơ chế, phân loại cà phê theo từng tiêu chuẩn riêng của nhà xuất khẩu. Do việc áp dụng tiêu chuẩn là tự nguyện, nên rốt cuộc cho đến nay rất nhiều doanh nghiệp vẫn duy trì phân hạng cà phê theo 3 tiêu chí: thủy phần %, đen vỡ %, tạp chất %. Trong khi đó, các hợp đồng mua bán cà phê robusta tại thị trường LIFFE đều xếp hạng cà phê dựa trên các thông số chất lượng đo bằng phần trăm khối lượng, không phải bằng tỉ lệ phần trăm
số lỗi. Như vậy, cách xếp hạng theo phần trăm số lỗi mà ta đang áp dụng không được quốc tế công nhận. Thế nhưng rất đông doanh nghiệp Việt Nam không muốn
áp dụng TCVN 41932005; các doanh nghiệp nước ngoài mua cà phê của Việt Nam
Trang 18người mua chứ không phải người bán. Chính vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam
luôn bị các nhà nhập khẩu nước ngoài dắt mũi. Khi các đối tác nước ngoài đã ký
Không có hợp đồng đầu ra trước khi sản xuất
Chất lượng cà phê thấp => giá bán thấp
Không có phương tiện hỗ trợ cho việc thu hoạch và phân loại cà
phê
Người nông dân
Ký gửi cà phê cho đại lý =>
rủi ro mất hàng mà không thu được tiền, bị ép giá
Không có kho chứa, không đủ
Chưa phân loại cà phê theo tiêu
chuẩn quốc tế Doanh nghiệp
xuất khẩu
Ký trước hợp đồng đầu ra nhưng chưa chốt giá bán + nhận tạm ứng 70% giá trị hợp đồng => không thể hủy HĐ cho dù giá bán thấp
Không đủ vốn để tạm trữ hàng, khi có biến động giá sẽ giảm giá mua trong nước