Trong 30 năm lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng ĐBSH đã tích cực lãnh đạo CQT, đạt được một số kết quả tiêu biểu như: lãnh đạo CQT thực hiện tương đối tốt chức
Trang 1LÊ THỊ MINH HÀ
CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LÃNH ĐẠO CHÍNH QUYỀN TỈNH
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LÊ THỊ MINH HÀ
CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LÃNH ĐẠO CHÍNH QUYỀN TỈNH
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước
Mã số : 62 31 02 03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS TS DƯƠNG TRUNG Ý
2 TS CAO THANH VÂN
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả luận án
Lê Thị Minh Hà
Trang 4MỤC LỤC
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
1.1 Các công trình nghiên cứu của Việt Nam 5
1.2 Các công trình nghiên cứu của nước ngoài 17 1.3 Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan và
những vấn đề luận án tập trung giải quyết 21
Chương 2: CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LÃNH ĐẠO CHÍNH QUYỀN TỈNH HIỆN NAY - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 25 2.1 Tỉnh, tỉnh ủy, chính quyền tỉnh ở đồng bằng sông Hồng hiện nay 25 2.2 Các tỉnh ủy ở vùng đồng bằng sông Hồng lãnh đạo chính quyền
tỉnh hiện nay - Khái niệm, nội dung, phương thức 44
Chương 3: TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH QUYỀN TỈNH
VÀ CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO CHÍNH QUYỀN TỈNH - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM 55 3.1 Thực trạng tổ chức và hoạt động của các chính quyền tỉnh ở vùng
3.2 Các tỉnh ủy ở vùng đồng bằng sông Hồng lãnh đạo chính quyền
tỉnh - Thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm 75
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG
CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG ĐỐI VỚI CHÍNH QUYỀN
4.1 Dự báo các nhân tố tác động và phương hướng tăng cường sự lãnh
đạo của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng đối với chính quyền tỉnh 113 4.2 Các giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với
chính quyền tỉnh ở vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2025 125
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 162
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 163
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
BCH Ban Chấp hành BCSĐ Ban cán sự đảng BTV Ban thường vụ
CB, CC, VC Cán bộ, công chức, viên chức CCHCNN Cải cách hành chính nhà nước CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CT - XH Chính trị - xã hội CQT Chính quyền tỉnh ĐBSH Đồng bằng sông Hồng HĐND Hội đồng nhân dân HTCT Hệ thống chính trị
KT - XH Kinh tế - xã hội MTTQ Mặt trận Tổ quốc PTLĐ Phương thức lãnh đạo UBND Ủy ban nhân dân XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi trở thành đảng cầm quyền (năm 1945) đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nỗ lực hoàn thành chức trách của đảng cầm quyền, bảo đảm tính chính đáng cầm quyền Với vai trò là đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa, hiện thực hóa cương lĩnh, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước Năng lực cầm quyền của Đảng thể hiện chủ yếu, trước hết
ở năng lực lãnh đạo Nhà nước, trong đó có năng lực lãnh đạo của các cấp ủy địa phương đối với chính quyền cùng cấp
Cấp tỉnh giữ vị trí, vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH), bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị - xã hội (CT - XH) ở địa phương, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước Để phát huy tốt vai trò của cấp tỉnh, vừa phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tỉnh ủy, vừa phải xây dựng tổ chức bộ máy chính quyền tỉnh (CQT) trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đồng thời coi trọng vai trò của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các đoàn thể CT- XH Muốn vậy, cần tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với CQT mà mấu chốt là tỉnh ủy phải xác định đúng nội dung lãnh đạo
và sử dụng hiệu quả các phương thức lãnh đạo (PTLĐ) đối với CQT
Trong 30 năm lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) đã tích cực lãnh đạo CQT, đạt được một số kết quả tiêu biểu như: lãnh đạo CQT thực hiện tương đối tốt chức năng, nhiệm vụ, lãnh đạo kiện toàn tổ chức bộ máy CQT, lãnh đạo CQT phối hợp công tác với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị tỉnh (HTCT) khá tốt; xây dựng chương trình làm việc toàn khóa sau đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh; xây dựng và hoàn thiện quy chế làm việc, cải tiến chế
độ công tác, lề lối, phong cách làm việc của tỉnh ủy; bước đầu phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của tỉnh ủy với chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh và của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh; tăng cường chất lượng công tác tư tưởng, công tác tổ chức, cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát…
Bên cạnh những ưu điểm, các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH có một số hạn chế, lúng túng trong quá trình lãnh đạo CQT, cụ thể là: chậm đổi mới, cải tiến một số khâu
Trang 7công tác; sự vi phạm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng vẫn tái diễn ở nơi này, nơi khác, ở thời điểm này, thời điểm khác; thẩm quyền, trách nhiệm của những người đứng đầu tỉnh ủy, CQT chưa được quy định rõ và đầy đủ Một mặt, đôi khi tỉnh ủy lấn sân, bao biện, làm thay hoặc can thiệp sâu vào công việc của CQT, mặt khác, vẫn còn tình trạng tỉnh ủy buông lỏng lãnh đạo đối với CQT trên một lĩnh vực Năng lực lãnh đạo của tỉnh ủy đối với CQT chưa ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ, tác động tiêu cực đến sự nghiệp xây dựng và phát triển địa phương Vấn đề đặt ra đối với các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH trong lãnh đạo hiện nay như: phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của tỉnh ủy với chức năng, nhiệm vụ của CQT; làm rõ chế độ trách nhiệm của người đứng đầu tỉnh ủy, của CQT; khắc phục cả hai xu hướng: lấn sân, bao biện, làm thay và buông lỏng lãnh đạo; vừa nâng cao năng lực lãnh đạo của tỉnh ủy vừa nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành và quản lý của CQT…
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: “Các tỉnh ủy ở vùng
đồng bằng sông Hồng lãnh đạo chính quyền tỉnh giai đoạn hiện nay” làm luận án
tiến sĩ chuyên ngành xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, nhằm góp phần giải quyết những vấn đề cấp bách nêu trên
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn các tỉnh ủy vùng ĐBSH lãnh đạo CQT, luận án đề xuất phương hướng và các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy vùng ĐBSH đối với CQT đến năm 2025
2.2 Nhiệm vụ
- Tổng quan các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án, đánh giá khái quát kết quả cơ bản của các công trình đó và chỉ ra những nội dung luận án tiếp tục nghiên cứu;
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về tỉnh ủy ở vùng ĐBSH lãnh đạo CQT giai đoạn hiện nay;
- Khảo sát, đánh giá thực trạng các CQT ở vùng ĐBSH và thực trạng các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH lãnh đạo CQT từ năm 2005 đến nay, chỉ rõ nguyên nhân, khái quát các kinh nghiệm lãnh đạo CQT của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH;
Trang 8- Đề xuất phương hướng và các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đối với CQT đến năm 2025
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH lãnh đạo CQT
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đối với CQT (HĐND tỉnh, UBND tỉnh) nhằm xây dựng CQT trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả
- Thời gian: Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở ĐBSH đối với CQT từ năm 2005 đến nay; đề xuất các phương hướng và giải pháp có giá trị đến năm 2025
- Không gian: Luận án khảo sát sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với CQT ở vùng ĐBSH, bao gồm 9 tỉnh: Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước, về xây dựng tổ chức bộ máy và hoạt động của Nhà nước
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học liên ngành và chuyên ngành như: khảo sát, tổng kết thực tiễn; lịch sử - lôgíc; phân tích - tổng hợp; điều tra xã hội học; phỏng vấn sâu; phương pháp chuyên gia
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Khái niệm tỉnh ủy lãnh đạo CQT giai đoạn hiện nay;
- Một số kinh nghiệm lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đối với CQT từ năm 2005 đến nay;
- Các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đối với CQT đến năm 2025
Trang 96 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, 4 chương, 9 tiết, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Trong những năm gần đây, vấn đề đảng cầm quyền, vai trò của lãnh đạo của Đảng, đổi mới, chỉnh đốn Đảng, đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước, đổi mới sự lãnh đạo của cấp ủy đối với chính quyền cùng cấp,… giành được sự quan tâm của giới nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước với những phương diện, mức
độ và mục tiêu khác nhau Trên cơ sở tham khảo cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và kết quả của các công trình khoa học có liên quan đến vấn đề các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH lãnh đạo CQT giai đoạn hiện nay, tác giả xác định nội dung mà luận án cần tập trung nghiên cứu
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA VIỆT NAM
1.1.1 Các sách chuyên khảo và tham khảo
- Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới, do Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa và Trần Khắc Việt đồng chủ biên [150]
Công trình này dành một phần bàn về đổi mới PTLĐ của Đảng Các tác giả nhận định: tiến bộ rõ rệt nhất trong đổi mới PTLĐ của Đảng là các tổ chức, cấp ủy đảng giảm bớt sự can thiệp, áp đặt một cách không cần thiết, vụn vặt vào công việc của
cơ quan nhà nước, đoàn thể, lãnh đạo chuyên môn, thực hiện sự lãnh đạo theo đúng chức năng, trách nhiệm của mình Bên cạnh đó, việc đổi mới PTLĐ của Đảng còn nhiều hạn chế, PTLĐ của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp (địa phương, ngành) đối với
cơ quan chính quyền, đoàn thể cùng cấp chưa thật rõ và chưa thống nhất Các cấp
ủy vẫn chưa thoát hẳn ra khỏi một trong hai khuynh hướng là bao biện, làm thay và buông lỏng sự lãnh đạo; nhiều khi khắc phục khuyết điểm này lại rơi vào khuyết điểm kia một cách không tự giác Trong khuyết điểm buông lỏng sự lãnh đạo có biểu hiện mới ở một số nơi là: cấp ủy không đủ năng lực để lãnh đạo Các tác giả chỉ rõ những vấn đề đang đòi hỏi phải tiếp tục tháo gỡ để nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới
Trang 11- Đảng lãnh đạo Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay, do Nguyễn Văn Vĩnh chủ biên [165] Cuốn sách này
xác định nội dung lãnh đạo, PTLĐ và làm rõ mối quan hệ giữa nội dung lãnh đạo và PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước Các tác giả vạch ra những định hướng lớn có tính nguyên tắc về Đảng lãnh đạo Nhà nước hiện nay và đề xuất mười giải pháp nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) hiện nay Tuy không trực tiếp nghiên cứu về tỉnh ủy lãnh đạo CQT nhưng công trình này có những luận giải khoa học về việc phân định chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý xã hội của Nhà nước
- Đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, do Phạm Ngọc Quang chủ biên [95] Cuốn sách dành một chương (chương 6)
bàn về vấn đề đổi mới PTLĐ của cấp ủy đảng đối với chính quyền, MTTQ, đoàn thể cấp tỉnh Tập thể tác giả đề xuất năm giải pháp đổi mới PTLĐ của cấp ủy đảng đối với chính quyền, MTTQ, đoàn thể cấp tỉnh, trong đó có giải pháp xác định rõ thẩm quyền của từng cấp ủy, từng vị trí trong cấp ủy nhằm thực hiện chức năng lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền, MTTQ, đoàn thể Tuy nhiên, tập thể tác giả công trình khoa học này chưa có điều kiện làm rõ nội dung, PTLĐ của tỉnh ủy đối với CQT và chưa đề xuất những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh
ủy đối với CQT
- Vị trí cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong
điều kiện mới, do Đỗ Hoài Nam chủ biên [74] Cuốn sách giới thiệu về đảng cầm
quyền trong HTCT ở một số nước tư bản chủ nghĩa và sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong điều kiện cải cách, mở cửa, xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc Cuốn sách tập trung luận giải những vấn đề về lý luận
và thực tiễn về vị trí cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và hội nhập quốc tế Trên cơ
sở đó, các tác giả đề xuất một số quan điểm, nội dung và giải pháp nâng cao vị trí cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đến năm 2010 và tầm
Trang 12nhìn đến năm 2020 Tập thể tác giả đề xuất giải pháp đổi mới PTLĐ của Đảng, trong đó khâu mấu chốt, đột phá là đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước, song chưa đề cập đến giải pháp đổi mới PTLĐ của cấp ủy địa phương đối với chính quyền cùng cấp
- Đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội
trong hệ thống chính trị ở Việt Nam, do Lê Hữu Nghĩa, Hoàng Chí Bảo, Bùi Đình
Bôn đồng chủ biên [82] Cuốn sách cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức CT - XH ở nước ta hiện nay Về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, công trình nghiên cứu này có những luận giải sắc sảo, nhất là về nội dung và phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước Các tác giả cho rằng, nội dung lãnh đạo quan trọng hàng đầu của Đảng đối với Nhà nước là bảo đảm cho Nhà nước ta thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, một Nhà nước trong sạch, dân chủ và hiện đại Đảng lãnh đạo nhưng không phải làm thay Nhà nước, Nhà nước phải có thực quyền
Từ định hướng đó, các tác giả xác định rõ nội dung Đảng lãnh đạo Nhà nước: định ra đường lối, chủ trương, chính sách cho hoạt động của Nhà nước bằng các nghị quyết; lãnh đạo về công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ đối với các cơ quan nhà nước; lãnh đạo việc thực hiện các nghị quyết trong hệ thống các cơ quan nhà nước, trước hết và chủ yếu là lãnh đạo việc cụ thể hóa nghị quyết của Đảng thành các văn bản pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Đảng trong các cơ quan Nhà nước Công trình đã tập trung nghiên cứu về vấn đề đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước, song chưa đề cập đến vấn đề đổi mới quan hệ giữa cấp ủy đảng địa phương với chính quyền cùng cấp
- Đảng Cộng sản cầm quyền - nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng, do Nguyễn Văn Huyên chủ biên [63] Công trình nghiên cứu này khẳng định
rõ vấn đề sống còn của Đảng, của chế độ ta là đổi mới phương thức cầm quyền của Đảng để trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền mà không trở thành chuyên quyền, độc đoán Từ đó, các tác giả luận giải rõ yêu cầu đổi mới phương thức cầm quyền của Đảng nhằm đáp ứng tính đặc thù của điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả bước đầu quan tâm nghiên cứu
Trang 13về sự lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với chính quyền địa phương cùng cấp và đề xuất năm giải pháp, bao gồm: (i) Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về những vấn đề chủ yếu liên quan trực tiếp đến sự lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với chính quyền địa phương; (ii) Kiện toàn cấp ủy đảng, nâng cao trình độ mọi mặt và năng lực lãnh đạo của cấp ủy đối với chính quyền địa phương; (iii) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ PTLĐ của cấp ủy đối với chính quyền địa phương; (iv) Phát huy mạnh mẽ vai trò của MTTQ và các tổ chức CT - XH, các phương tiện thông tin đại chúng địa phương cùng tham gia vào việc tăng cường, nâng cao chất lượng lãnh đạo của cấp ủy đối với chính quyền địa phương; (v) Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát Cuốn sách này chưa có điều kiện tập trung nghiên cứu nội dung và PTLĐ của tỉnh ủy đối với CQT
- Thể chế Đảng cầm quyền: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, do Đặng
Đình Tân, Đặng Minh Tuấn chủ biên [111] Cuốn sách này tập trung luận giải về vấn đề thể chế đảng cầm quyền, thể chế Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước trong quá trình đổi mới ở Việt Nam Các tác giả đề xuất sáu định hướng, sáu giải pháp chung và một số giải pháp cụ thể nhằm tiếp tục đổi mới thể chế Đảng lãnh đạo Nhà nước trong giai đoạn hiện nay Công trình này tuy không trực tiếp nghiên cứu về tỉnh ủy lãnh đạo CQT nhưng góp phần làm rõ hơn chức năng lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, cung cấp cách tiếp cận và giải quyết vấn đề Đảng lãnh đạo
từ góc độ của thể chế
- Thẩm quyền và trách nhiệm của đảng cầm quyền và nhà nước trong việc
thực hiện quyền lực của nhân dân, do Lê Hữu Nghĩa, Bùi Đình Bôn chủ biên [83]
Cuốn sách trình bày cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp nâng cao thẩm quyền, trách nhiệm của đảng cầm quyền và nhà nước trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân Các tác giả trình bày rõ tình trạng chồng chéo, lẫn lộn chức năng trong các quy định hiện hành về quyền lãnh đạo của Đảng và quyền quản lý, điều hành của Nhà nước trong quá trình thực hiện quyền lực của nhân dân Sự phân định giữa chức năng lãnh đạo chính trị của Đảng và chức năng quản lý điều hành của Nhà nước không rõ ràng dẫn đến tình trạng suy giảm vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng và suy giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý của cơ quan nhà nước Các tác giả chỉ rõ năm nguyên nhân sâu xa
Trang 14và sáu nguyên nhân trực tiếp Trong đó, các tác giả tập trung phân tích hai nguyên nhân cơ bản: (i) Chưa xác định rõ, đúng đắn và chính xác vị trí, chức năng và nhiệm
vụ của Đảng trong thể chế Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân; (ii) Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống nhưng không bị xử lý nghiêm minh
Các tác giả chỉ rõ sự khác nhau giữa chức năng lãnh đạo của Đảng cầm quyền với chức năng quản lý của Nhà nước Chức năng lãnh đạo của Đảng thể hiện với hai nội dung chủ yếu là định hướng và kiểm tra Đảng định hướng sự phát triển bằng cương lĩnh, quan điểm, đường lối, chủ trương, nguyên tắc do đại hội đảng và các cơ quan lãnh đạo của Đảng định ra đồng thời Đảng kiểm tra, giám sát các hoạt động của bộ máy nhà nước trong việc thực hiện chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm Nhà nước có chức năng quản lý, điều hành xã hội theo pháp luật, theo định hướng của đảng cầm quyền Trên cơ sở phân biệt chức năng của Đảng cầm quyền
và chức năng của Nhà nước, các tác giả xác định tính chất, phạm vi thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước trong một số lĩnh vực trọng yếu nhằm phân định ranh giới thực hiện chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý, điều hành
xã hội của Nhà nước
Nhìn chung, đây là một công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu cung cấp những căn cứ lý luận quan trọng đồng thời định hướng cho những nghiên cứu mới
về mối quan hệ giữa tỉnh ủy và CQT, chức năng lãnh đạo của tỉnh ủy và chức năng quản lý, điều hành của chính quyền, vấn đề thẩm quyền, trách nhiệm của tỉnh ủy và thẩm quyền trách nhiệm của CQT
1.1.2 Các đề tài khoa học
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trên một số lĩnh vực trọng yếu
của đời sống xã hội, do Trần Đình Nghiêm làm Chủ nhiệm [86] Đề tài tập trung
nghiên cứu vấn đề đổi mới PTLĐ của Đảng trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp,
tư pháp; đổi mới PTLĐ của các cấp ủy địa phương; đổi mới PTLĐ đối với các đoàn thể CT - XH; đổi mới PTLĐ trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, tư tưởng, văn hóa, tổ chức, cán bộ… Đề tài đề cập đến vấn đề đổi mới PTLĐ của Đảng đối với HĐND cấp tỉnh, đối với UBND cấp tỉnh Bước đầu đề tài xác định mối quan hệ công tác
Trang 15của tỉnh ủy, thành ủy với HĐND cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh Trách nhiệm của ban chấp hành (BCH) đảng bộ tỉnh là phải quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng, của Nhà nước và nghị quyết của Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Thực hiện chế độ sinh hoạt tập thể để đề ra phương hướng nhiệm vụ, chủ trương và các biện pháp lớn của Đảng bộ, phù hợp với tình hình Thông qua hệ thống tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể của tỉnh và thông qua các ủy viên BCH để chỉ đạo thực hiện Đề tài xác định rõ những vấn đề phải đưa ra tập thể tỉnh ủy để thảo luận Tuy nhiên, đề tài chưa có điều kiện nghiên cứu về đổi mới PTLĐ của tỉnh ủy đối với CQT, nhất là chưa bàn đến tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với CQT
- Những căn cứ lý luận cơ bản về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, do Nguyễn Hữu Tri làm
Chủ nhiệm [148] Liên quan đến vấn đề Đảng lãnh đạo Nhà nước, đề tài này góp phần làm sáng tỏ nhiều nội dung quan trọng, chỉ rõ những căn cứ lý luận cơ bản về nội dung, phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân Tuy nhiên, đề tài chưa nghiên cứu nội dung, PTLĐ của tỉnh ủy đối với CQT
- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, do Phạm
Ngọc Quang làm Chủ nhiệm [94] Đề tài chỉ ra những nhân tố quy định PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước, nhấn mạnh quan hệ giữa nội dung lãnh đạo và PTLĐ Nội dung lãnh đạo đòi hỏi phải có PTLĐ phù hợp để tác động đến đối tượng nhằm thực hiện tốt nội dung đó Khi nội dung lãnh đạo thay đổi, PTLĐ cũng phải thay đổi theo Bên cạnh đó, PTLĐ còn phụ thuộc vào những yếu tố chủ quan và khách quan như: tổ chức bộ máy của Đảng và cơ chế vận hành, mối quan hệ, tác động qua lại giữa các bộ phận trong tổ chức bộ máy của Đảng; tổ chức bộ máy của Nhà nước, nguyên tắc phân công và phối hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước; cơ chế tổ chức bộ máy và mối quan hệ qua lại giữa tổ chức, bộ máy của Đảng với các tổ chức
CT - XH; trình độ của cán bộ Đảng; đạo đức và phong cách của những người lãnh đạo chủ chốt của Đảng; bối cảnh KT - XH trong nước và thế giới; nhận thức chính trị của quần chúng; trình độ phát triển của khoa học - công nghệ và khả năng sử
Trang 16dụng chúng để khoa học hóa, hiện đại hóa PTLĐ Từ đó, các tác giả đi đến nhận định: PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước tùy thuộc: đặc tính khách quan và chức năng cơ bản của Nhà nước; tính chất và trình độ lãnh đạo của Đảng; mục tiêu chính trị cần đạt được trong việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Các tác giả công trình khoa học này chủ yếu nghiên cứu vấn đề đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước cấp Trung ương, chưa có điều kiện nghiên cứu
về đổi mới PTLĐ của cấp ủy địa phương đối với chính quyền địa phương, đặc biệt
là chưa đề cập đến vấn đề tỉnh ủy lãnh đạo CQT
- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong
tình hình hiện nay, do Trần Lưu Hải làm Chủ nhiệm [48] Công trình này làm rõ
một số vấn đề lý luận chung về PTLĐ của Đảng thông qua các khái niệm đảng lãnh đạo, đảng cầm quyền, PTLĐ của Đảng… Trên cơ sở đó, đề tài làm rõ thực trạng PTLĐ của Đảng với Nhà nước thời gian qua, cụ thể đối với Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, công tác cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát, chính quyền địa phương Đề tài cũng luận giải sáu nhân tố khách quan tác động tới PTLĐ của Đảng, bốn quan điểm chỉ đạo, nhất là đưa ra được bốn nhóm giải pháp cơ bản và năm biện pháp cụ thể có tính khả thi cao nhằm đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, đề tài này chưa quan tâm nghiên cứu sâu về PTLĐ của tỉnh ủy đối với CQT
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ
quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong điều kiện mới, do Trần Khắc Việt làm
Chủ nhiệm [164] Công trình này đã nghiên cứu thực trạng đổi mới PTLĐ của các cấp ủy đảng đối với HĐND, UBND địa phương trong gần 30 năm đổi mới, khái quát năm thành tựu và năm hạn chế trong đổi mới PTLĐ của các cấp ủy đảng đối với HĐND địa phương Các thành tựu như: các cấp ủy xây dựng chương trình làm việc toàn khóa, xây dựng mối quan hệ công tác và quy chế làm việc giữa cấp ủy với HĐND đồng thời thực hiện chế độ kiểm tra của cấp ủy đối với HĐND; các cấp ủy
có nhiều đổi mới trong lãnh đạo HĐND theo hướng dân chủ hơn, hiệu quả hơn; các cấp ủy đã thường xuyên và quan tâm lãnh đạo, cho các ý kiến chỉ đạo cụ thể để HĐND ra được các quyết định đối với những vấn đề quan trọng của địa phương;
Trang 17cấp ủy lãnh đạo HĐND thực hiện có hiệu quả chức năng giám sát; cấp ủy giới thiệu
Bí thư hoặc Phó Bí thư cấp ủy ứng cử giữ chức Chủ tịch HĐND, phát huy vai trò của Đảng đoàn HĐND cấp tỉnh trong lãnh đạo trực tiếp HĐND Bên cạnh đó, việc đổi mới PTLĐ của cấp ủy đối với HĐND có những hạn chế: tình trạng cấp ủy bao biện, làm thay HĐND cùng cấp và tình trạng HĐND thụ động vẫn còn diễn ra khá phổ biến; ở không ít địa phương, phần lớn các nghị quyết, chủ trương, biện pháp của HĐND khi thể chế hóa, cụ thể hóa nghị quyết, chương trình của cấp ủy, tình trạng sao chép, lặp lại nghị quyết của cấp ủy vẫn diễn ra khá đậm nét và phổ biến; cấp ủy lãnh đạo HĐND thực hiện chức năng giám sát vẫn là khâu yếu, dẫn đến tình trạng nghị quyết chậm đi vào cuộc sống, hoặc dừng lại trên giấy; việc đôn đốc, kiểm tra thực hiện các kiến nghị, đề xuất, các kết luận sau giám sát của HĐND còn thiếu quyết liệt, thiếu liên tục, thiếu sâu sát; chưa thống nhất mô hình Bí thư hoặc Phó Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch HĐND
Về đổi mới PTLĐ của các cấp ủy đảng đối với UBND địa phương, công trình này khái quát năm thành tựu và năm hạn chế Các thành tựu bao gồm: các cấp
ủy đã xác lập cơ chế lãnh đạo đối với UBND; tập trung lãnh đạo xây dựng và phát huy vai trò bộ máy các cơ quan chuyên môn thuộc UBND; ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn phù hợp; tăng cường chế độ giao ban giữa thường trực cấp ủy, thường trực UBND và thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp; từng bước cải tiến lề lối làm việc, phong cách công tác của cấp ủy Bên cạnh đó, việc đổi mới PTLĐ của cấp ủy đối với UBND vẫn có các hạn chế như: tồn tại sự “song trùng” của hai cơ quan quyền lực (cấp ủy, chính quyền) cùng giải quyết các nội dung của một số mục tiêu; chưa xác định rõ phạm vi chức trách, thẩm quyền của cấp ủy địa phương trong quan hệ với UBND; nhiều cấp ủy bao biện, “lấn sân” UBND, xem UBND chỉ đơn thuần là công cụ hợp thức hóa các quyết định của cấp ủy; còn tình trạng cấp ủy gần như bỏ mất vai trò lãnh đạo, định hướng, dẫn dắt của mình; chưa hình thành cơ chế huy động MTTQ và các tổ chức CT - XH phối hợp với UBND trong triển khai nhiệm vụ và giám sát hoạt động của UBND
Tuy đề tài đề xuất những giải pháp tiếp tục đổi mới PTLĐ của cấp ủy đối với HĐND, UBND địa phương nhưng chưa bàn riêng về cấp tỉnh
Trang 18An, Tiền Giang, Bình Dương, Nghệ An và thành phố Hải Phòng
Tác giả làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tỉnh ủy, Ban thường
vụ (BTV) Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy, Bí thư Tỉnh ủy Xác định ba nội dung tỉnh
ủy lãnh đạo cơ quan nhà nước cấp tỉnh: (i) Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị; (ii) Lãnh đạo công tác tổ chức và cán bộ; (iii) Lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát PTLĐ của tỉnh ủy đối với các cơ quan nhà nước cấp tỉnh là hình thức, phương pháp thực hiện các nội dung lãnh đạo, đó là: xây dựng các chủ trương, công tác tổ chức
và cán bộ, hoạt động kiểm tra, giám sát Tỉnh ủy còn thực hiện các hình thức, biện pháp: sơ kết, tổng kết công tác; chế độ đi cơ sở; chế độ hội nghị, hội họp và chế độ
tự phê bình, phê bình, chất vấn
Tác giả đánh giá thực trạng sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với cơ quan nhà nước cấp tỉnh, chỉ ra những vấn đề bức xúc như: quyền lực của các cơ quan nhà nước có nguy cơ bị vô hiệu; tổ chức đảng trong bộ máy nhà nước ít tác dụng; trật tự nền hành chính bị suy yếu; có môi trường nảy sinh những vụ việc sai phạm pháp luật; tổ chức bộ máy trong HTCT khó thích ứng với tiến trình hội nhập quốc tế Tác giả đề xuất phương hướng và bốn nhóm giải pháp nhằm đổi mới sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với cơ quan nhà nước cấp tỉnh trong điều kiện nước ta hiện nay
- Chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh theo yêu cầu của
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nguyễn Hà Nam [73] Trên
cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng HĐND cấp tỉnh từ năm 1999 đến nay, tác giả đề xuất nhóm giải pháp bảo đảm bên trong HĐND cấp tỉnh và nhóm giải pháp bảo đảm bên ngoài HĐND cấp tỉnh nhằm bảo đảm chất lượng hoạt động của HĐND cấp tỉnh theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền
Trang 19XHCN Việt Nam Trong đó, tác giả đề xuất giải pháp đổi mới PTLĐ của cấp ủy đảng đối với HĐND tỉnh: (i) Đổi mới công tác tổ chức, cán bộ; (ii) Nhận thức đúng
về vị trí, vai trò của HĐND cấp tỉnh; (iii) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
tổ chức kỳ họp và hoạt động giám sát của HĐND; (iv) Nâng cao chất lượng nghị quyết của cấp ủy đảng lãnh đạo HĐND; (v) Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của HĐND và tăng cường công tác phổ biến pháp luật về vị trí, vai trò của HĐND cho cán bộ, đảng viên
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của huyện ủy đối với chính quyền huyện
ở đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện nay của Trần Quang Cảnh [13] Luận án
làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn đổi mới PTLĐ của huyện ủy đối với chính quyền huyện; thực trạng, nguyên nhân, kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra về đổi mới PTLĐ của huyện ủy đối với chính quyền huyện Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu tiếp tục đổi mới PTLĐ của huyện ủy đối với chính quyền huyện ở ĐBSH đến năm 2020, trong đó, nhấn mạnh đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy và đội ngũ cán bộ chính quyền huyện, đẩy mạnh cải cách hành chính; nâng cao chất lượng các ban tham mưu của huyện ủy, có chính sách thu hút nhân tài và tổ chức thi tuyển công khai để chọn cán bộ có đức, có tài về làm việc trong các ban tham mưu của huyện ủy
- Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo cải cách hành chính nhà
nước trong giai đoạn hiện nay của Nguyễn Hữu Nhân [78] Tác giả trình bày
tường minh khái niệm, chín nội dung và bảy phương thức Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo cải cách hành chính nhà nước (CCHCNN) Tác giả đánh giá thực trạng CCHCNN ở thành phố Hồ Chí Minh và thực trạng Thành ủy thành phố
Hồ Chí Minh lãnh đạo CCHCNN Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất phương hướng và sáu giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đối với CCHCNN Trong các giải pháp mà tác giả đề xuất, có nhiều giải pháp có giá trị tham khảo, ví dụ như: giải pháp về nâng cao chất lượng lãnh đạo của Thành ủy; củng cố kiện toàn tổ chức, bộ máy, nâng cao chất lượng cán bộ công chức, viên chức các cơ quan chính quyền của thành phố; phát huy vai trò của nhân dân trong CCHCNN; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát…
Trang 20Lãnh đạo CCHCNN là một nội dung quan trọng của tỉnh ủy, thành ủy trong quá trình lãnh đạo chính quyền Do đó, những kết quả đạt được, nhất là những giải pháp mà công trình nghiên cứu này đề xuất có giá trị tham khảo rất tốt đối với quá trình nghiên cứu vấn đề tỉnh ủy lãnh đạo CQT giai đoạn hiện nay
- Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay của Vũ Thị Nghĩa [85] Tác giả phân tích thực trạng
Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác phòng, chống tham nhũng, rút
ra sáu kinh nghiệm và đề xuất bảy giải pháp cơ bản nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đối với công tác phòng, chống tham nhũng Luận án này nghiên cứu về sự lãnh đạo của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh về công tác phòng, chống tham nhũng - nội dung rất quan trọng của lãnh đạo xây dựng chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả Do đó, những kết quả đạt được của công trình này có giá trị tham khảo tốt đối với quá trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với CQT giai đoạn hiện nay
1.1.4 Các bài báo khoa học
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước từ thực tiễn ở
Tiền Giang của Nguyễn Xuân Tế và Nguyễn Ngọc Chung [112] Bài viết đề cập
đến vấn đề đổi mới PTLĐ của Tỉnh ủy Tiền Giang đối với UBND tỉnh Trên cơ sở khảo sát thực trạng, các tác giả nêu một số kinh nghiệm đổi mới PTLĐ của Tỉnh ủy Tiền Giang đối với UBND: xây dựng và thông qua Quy chế làm việc của tỉnh ủy ở từng nhiệm kỳ; bảo đảm thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; không bao biện làm thay đồng thời không buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng Từ đó, các tác giả đề xuất ba giải pháp tiếp tục đổi mới PTLĐ của Tỉnh
ủy Tiền Giang đối với UBND tỉnh
- Đổi mới sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với cơ quan nhà nước cấp tỉnh của
Nguyễn Văn Biết [9] Tác giả chỉ rõ thực trạng các cấp ủy thường có xu hướng can thiệp sâu vào công việc quản lý nhà nước, làm cho bộ máy nhà nước kém năng động và khó thích ứng điều kiện mới Từ đó, chỉ rõ tính cấp thiết phải đổi mới PTLĐ của tỉnh ủy đối với cơ quan nhà nước cấp tỉnh, cụ thể là: đổi mới việc ra nghị quyết; đổi mới công tác cán bộ, phát huy vai trò của người đứng đầu và đổi mới, kiện toàn các cơ quan tham mưu của tỉnh ủy
Trang 21- Quá trình phát triển nhận thức về phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với Nhà nước trong thời kỳ đổi mới của Trần Khắc Việt [163] Tác giả trình bày
khái quát quá trình phát triển nhận thức của Đảng về đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước trong thời kỳ đổi mới Thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan lãnh đạo của Đảng, nhất là cấp Trung ương, đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, định hướng PTLĐ của các cấp ủy đảng đối với chính quyền địa phương ngày càng cụ thể Bài viết chưa có điều kiện đề cập đến vấn đề phát triển nhận thức của Đảng về PTLĐ của các cấp ủy địa phương đối với chính quyền cùng cấp
- Đổi mới phương thức lãnh đạo Đảng lãnh đạo Nhà nước đáp ứng yêu
cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta của Nguyễn Hữu
Đổng [47] Tác giả làm rõ một số bất cập của mô hình Đảng lãnh đạo Nhà nước: khó phân định chức năng lãnh đạo và chức năng cầm quyền của Đảng trong điều kiện chỉ có một đảng lãnh đạo và cầm quyền; cơ chế song trùng- Đảng và Nhà nước cùng thực hiện vai trò cầm quyền; dẫn đến tha hóa quyền lực trong Đảng… Trên cơ
sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp để thực hiện mô hình Đảng cầm quyền ở nước ta: đổi mới mô hình ủy ban kiểm tra của Đảng do cấp ủy bầu thành ủy ban kiểm tra, giám sát của Đảng do Đại hội bầu nhằm tăng quyền lực cho ủy ban kiểm tra, giám sát của Đảng, làm cho quyền lực của Đảng có sự thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa hai cơ quan là BCH và ủy ban kiểm tra, giám sát; nghiên cứu xây dựng Luật hoạt động của Đảng Bài viết gợi mở những vấn đề liên quan đến tổ chức bộ máy của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước của Nguyễn
Danh Châu [14] Tác giả đánh giá về thành tựu và hạn chế đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước qua 30 năm đổi Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất bốn nhóm giải pháp đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước: thực hiện dân chủ hóa trong quá trình đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước; thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước; đổi mới về phong cách và lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là ở cấp chiến lược Tuy nhiên, bài viết này không trực tiếp đề cập đến đổi mới PTLĐ của Đảng đối với chính quyền địa phương
Trang 22Tóm lại, các công trình nghiên cứu trong nước nêu trên chủ yếu đề cập đến vai trò lãnh đạo của Đảng, Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước, PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước, đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước ở cấp Trung ương, đổi mới PTLĐ của Đảng đối với từng cơ quan trong bộ máy nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân)… Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH lãnh đạo CQT giai đoạn hiện nay
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA NƯỚC NGOÀI
1.2.1 Các công trình nghiên cứu của Trung Quốc
1.2.1.1 Sách tham khảo
- Kiên trì và hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng của Tô Tu Nghệ, Lý Luyện
Chung [87] Cuốn sách đề cập tới những vấn đề nhằm hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc như: tăng cường xây dựng tư tưởng, chính trị, kiện toàn chế độ tập trung dân chủ; kiện toàn tổ chức cơ sở đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ và
về vấn đề quản lý chỉnh đốn tác phong Đảng
- Bàn về công tác xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng của Lưu Chấn
Hoa [50] Xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng là một chủ đề mang tính trường tồn, là một công trình có tính hệ thống (nội dung cầm quyền, thể chế cầm quyền, chủ thể cầm quyền) Nâng cao ý thức lãnh đạo của Đảng đồng thời củng cố vững chắc nền tảng cầm quyền, bao gồm: quần chúng, chính trị, tổ chức, vật chất, lý luận, giai cấp Trong khi bàn luận về phương thức cầm quyền của Đảng, tác giả đề cập đến việc chuẩn hóa quan hệ giữa Đảng với hệ thống chính quyền Cần vạch rõ chức năng, nhiệm vụ của các cấp ủy đảng với đại hội đại biểu nhân dân, UBND, chính hiệp (mặt trận thống nhất) và các tổ chức quần chúng; các cấp ủy đảng phải thông qua tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước và đoàn thể quần chúng
để thực hiện vai trò hạt nhân lãnh đạo; tiếp tục chuẩn hóa về mặt chế độ, cơ chế đối với mối quan hệ giữa cấp ủy đảng với đại hội đại biểu nhân dân, UBND, chính hiệp
và các đoàn thể quần chúng Tác giả nêu yêu cầu Đảng phải nâng cao nhận thức về quy luật cầm quyền của Đảng Cộng sản đồng thời nhấn mạnh Đảng phải cầm quyền một cách khoa học, dân chủ và theo hiến pháp, pháp luật
Trang 23- Cầm quyền khoa học của Hoàng Văn Hổ [61] Bàn về vấn đề cầm quyền
khoa học của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tác giả làm rõ quan điểm cầm quyền, ý nghĩa quan trọng, bản chất của cầm quyền khoa học, mối quan hệ tương hỗ giữa cầm quyền khoa học, cầm quyền dân chủ, cầm quyền theo pháp luật, kinh nghiệm vận dụng cầm quyền khoa học Các yếu tố cơ bản tạo nên năng lực cầm quyền khoa học gồm: năng lực học tập đổi mới, năng lực điều tiết lợi ích, năng lực tích hợp tài nguyên, năng lực cầm quyền theo pháp luật, năng lực tự thanh lọc Phương pháp nâng cao năng lực cầm quyền khoa học là tăng cường trang bị lý luận, hoàn thiện cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ, tăng cường đào tạo cán bộ
- Nghiên cứu quy luật cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc của
Lưu Tôn Hồng [62] Công trình này khái quát những quy luật cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc như: môi trường chính trị, cơ sở giai cấp, tính tiệm tiến, tính hợp pháp, lý luận khoa học, cương lĩnh đúng đắn, năng lực cầm quyền, quan hệ Đảng - quần chúng…
1.2.1.2 Hội thảo khoa học
- Tăng cường xây dựng Đảng ủy địa phương, phát huy đầy đủ vai trò hạt
nhân lãnh đạo của Triệu Gia Kỳ [75] Tác giả đề cập đến các PTLĐ của đảng ủy
địa phương, phân tích và nêu một số kinh nghiệm xây dựng Thành ủy Bắc Kinh Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, thiết thực của đảng ủy địa phương là thúc đẩy KT -
XH địa phương phát triển toàn diện, hài hòa và bền vững Đảng ủy địa phương coi phát triển là chức trách hàng đầu; tối ưu hóa môi trường phát triển, đẩy mạnh sáng tạo về thể chế; kiên trì giải quyết tốt mối quan hệ giữa cải cách, phát triển và ổn định Tác giả nêu yêu cầu đảng ủy địa phương không ngừng nâng cao trình độ cầm quyền và chỉ rõ phải quán triệt thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, kiện toàn và hoàn thiện hơn nữa cơ chế nghị sự và ra quyết sách của đảng ủy địa phương; thích ứng với tình hình mới, đón đầu thách thức mới, ra sức tăng cường xây dựng ban lãnh đạo và đội ngũ cán bộ; đi sâu vào quần chúng, không ngừng tăng cường việc xây dựng tác phong công tác
- Không ngừng nâng cao trình độ lãnh đạo và trình độ cầm quyền, tăng cường
năng lực chống tha hóa, phòng biến chất và chống rủi ro của Hạ Quốc Cường [75]
Trang 24Bài viết tập trung bàn về PTLĐ, phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc Tác giả nhấn mạnh tăng cường và cải tiến toàn diện việc xây dựng tác phong của Đảng, nhất là xây dựng sự liêm chính và đấu tranh chống tham nhũng Bên cạnh đó, tác giả làm rõ nội dung tăng cường xây dựng chế độ, kiên trì đẩy mạnh cải cách chế độ trong Đảng nhằm thúc đẩy và bảo đảm cho công tác xây dựng Đảng
- Cầm quyền mang tính khoa học và dân chủ, cầm quyền theo pháp luật -
yêu cầu thời đại về tính hợp pháp của đảng cầm quyền của Dương Tiểu Cường,
Tào Tuyết Phong [75] Các tác giả đề cập đến nội dung, tính chất của phương thức
cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong điều kiện mới, không ngừng đổi mới PTLĐ, phương thức cầm quyền theo hướng phù hợp với những yêu cầu của thời đại, cầm quyền vừa mang tính khoa học vừa bảo đảm dân chủ và tuân theo quy định của pháp luật
1.1.2 Các công trình nghiên cứu của Lào
- Đổi mới hệ thống chính trị cấp tỉnh ở nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay, luận án tiến sĩ Chính trị học của Sổm Lít Pước Kẹo [66]
Liên quan đến đề tài luận án, tác giả tập trung làm rõ vị trí và thực trạng của HTCT, nêu các quan điểm cơ bản, phương hướng và giải pháp đổi mới HTCT cấp tỉnh (trong đó CQT là một thành tố quan trọng của HTCT tỉnh) ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay Trong hệ thống giải pháp, tác giả nhấn mạnh việc xác định mối quan hệ giữa các nhân tố cấu thành HTCT cấp tỉnh ở Lào
- Đổi mới phương thức lãnh đạo nhà nước ở nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào hiện nay, luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học của Xổm
Nức Xổm Vi Chít [167] Tác giả trình bày khái quát cơ sở lý luận về đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước, phân tích thực trạng đổi mới phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước ở Lào Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp đổi mới PTLĐ đối với Nhà nước góp phần đổi mới chính trị nói chung và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào nói riêng
1.1.3 Các công trình nghiên cứu của một số nước khác
- Legitimacy and politics - A contribution to the study of political right and
political responsibility (Tính chính đáng chính trị - Đóng góp cho sự nghiên cứu về
Trang 25tính đúng đắn chính trị và trách nhiệm chính trị) của Jean-Marc Coicaud [178] Tác
giả đã nêu định nghĩa tính chính đáng chính trị, chỉ rõ những đặc trưng của nó, trình bày sự tranh luận chung quanh tính hợp pháp chính trị, mối quan hệ giữa hiện thực chính trị và tính hợp pháp, lý thuyết hợp pháp và khoa học chính trị, tính hiện đại, hợp
lý của khoa học xã hội và tính hợp pháp, kinh nghiệm của cộng đồng về tính chính đáng chính trị… Tác giả làm sáng tỏ về mối quan hệ giữa quyền chính trị và trách nhiệm chính trị Trong xã hội dân chủ, tương ứng với quyền là trách nhiệm của nhà lãnh đạo, quyền càng lớn thì trách nhiệm càng cao, muốn được hưởng tính hợp pháp, chính đáng thì phải thực hiện tốt trách nhiệm cá nhân
- Building political parties: reforming legal regulations and internal rules
(Xây dựng các đảng chính trị: cải cách quy định pháp luật và điều lệ nội bộ) của Pippa Norris [172] Báo cáo này cung cấp một cái nhìn tổng quan và so sánh vai trò của các đảng phái chính trị trong việc quản trị và dân chủ hóa Tác giả trình bày rõ các chức năng thiết yếu của Đảng trong một nền dân chủ và tập trung phân tích về khung pháp lý điều chỉnh các giai đoạn của quá trình đề cử, tranh cử và bầu cử Tác giả đề xuất các biện pháp xây dựng đảng chính trị: thúc đẩy dân chủ trong đảng chính trị, tăng cường dân chủ trong nội bộ đảng, xây dựng tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên, đưa phụ nữ và dân tộc thiểu số vào các đảng phái chính trị
- Political parties and democracy in theoretical and practical perpectives -
Implementing intra-party democracy (Các đảng chính trị và dân chủ trong lý thuyết
và triển vọng thực tế: Thực hiện dân chủ nội bộ đảng) của Susan Scarrow [176] Tác giả trình bày khá sâu sắc về vấn đề dân chủ trong nội bộ đảng chính trị Vấn đề chủ chốt của tổ chức đảng chính trị là triển khai thực hiện dân chủ nội bộ đảng, lựa chọn các ứng cử viên, lựa chọn đội ngũ lãnh đạo, lựa chọn các chính sách Tác giả nhấn mạnh vai trò của đảng viên, coi đây là yếu tố cần thiết để thực hành dân chủ nội bộ đảng Báo cáo chỉ rõ, các đảng chính trị áp dụng các phương pháp khác nhau để xây dựng nội bộ tổ chức và không ngừng thử nghiệm với cấu trúc mới và phương thức mới nhằm đối phó với các áp lực bên trong và bên ngoài Trên cơ sở làm rõ tác động của việc thực hiện dân chủ nội bộ đảng chính trị, tác giả khẳng định thực hiện
Trang 26dân chủ nội bộ đảng là nhiệm vụ rất lâu dài của đảng chính trị nhằm làm cho nó có thể thích ứng được với sự thay đổi của hoàn cảnh
- Comparative politics - A global introduction (So sánh về đời sống chính trị
- Một giới thiệu toàn cầu) của Michael J Sodaro [175] Tác giả trình bày những chủ
đề cốt lõi của chính trị học so sánh, làm rõ các khái niệm và phương pháp phân tích
về mức độ phức tạp của đời sống chính trị thế giới hiện nay Công trình này thể hiện
sự nghiên cứu chuyên sâu về thể chế chính trị của nhiều quốc gia lớn một cách logic
và có hệ thống
Nhìn chung, liên quan đến đề tài luận án, các công trình nghiên cứu của nước ngoài đề cập đến hàng loạt vấn đề như: vai trò lãnh đạo, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng, quy luật cầm quyền, cầm quyền khoa học, phòng và chống tha hóa trong Đảng Những công trình đó gợi mở cho quá trình nghiên cứu về các
tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo CQT giai đoạn hiện nay
1.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT
1.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án
Một là, các công trình khoa học nêu trên làm rõ sự lãnh đạo của đảng, nhất là
đảng lãnh đạo nhà nước trong điều kiện mới, hoàn cảnh mới
Đảng ta là Đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa
xã hội đòi hỏi Đảng phải có kiến thức mới, năng lực, phẩm chất mới, PTLĐ mới Đảng duy nhất cầm quyền vừa có thuận lợi to lớn như: có sức mạnh và uy tín của một đảng độc quyền lãnh đạo, có sự thống nhất cao trong việc đề ra đường lối và tổ chức thực hiện đường lối Tuy nhiên, mặt trái của tình trạng một đảng độc tôn lãnh đạo là dễ chủ quan, tự mãn, kiêu ngạo, đặc quyền, đặc lợi, quan liêu, xa rời quần chúng… Do đó, vấn đề sống còn của Đảng, của chế độ là Đảng phải tự đổi mới, chỉnh đốn, đổi mới PTLĐ để không trở thành chuyên quyền, độc đoán trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, đòi hỏi Đảng phải kiên định, năng động, nhạy bén,
Trang 27sáng tạo đồng thời phải có sức đề kháng cao với tiêu cực của kinh tế thị trường, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của đảng viên trên lĩnh vực phát triển kinh tế, kiên quyết khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ đảng viên…
Trong khi đó, công cuộc đổi mới đang đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, khai phá lý luận về Đảng Cộng sản cầm quyền, quan niệm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Sự lãnh đạo của Đảng phải đặt trong môi trường dân chủ hóa, mở cửa và hội nhập quốc tế nên ngày càng đặt ra nhiều vấn đề hết sức mới mẻ Khi nghiên cứu đến vấn đề đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Nhà nước, các công trình khoa học kể trên đều xác định nội dung Đảng lãnh đạo Nhà nước, khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa nội dung và PTLĐ Hầu hết các công trình khoa học tập trung nghiên cứu đổi mới PTLĐ của Đảng đối với Quốc hội, đối với Chính phủ, đối với Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân
Trong điều kiện mới, Đảng phải coi trọng lãnh đạo Nhà nước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Đảng lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy và hoạt động của Nhà nước theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Bản thân Đảng phải chấp hành pháp luật Đảng tập trung lãnh đạo Nhà nước thực hiện cải cách hành chính, phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí nhằm làm cho Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả cao
Hai là, ở những mức độ nhất định, các công trình khoa học kể trên bàn đến
việc phân định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng với chức năng quản lý, điều hành
xã hội của Nhà nước
Chức năng lãnh đạo của Đảng được thực hiện bằng hai nhiệm vụ chủ yếu là định hướng chính trị và kiểm tra, giám sát Nhà nước có chức năng quản lý, điều hành xã hội theo pháp luật, theo định hướng của Đảng cầm quyền Phân định chức năng của Đảng, Nhà nước là cơ sở làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của Đảng, của Nhà nước Đảng có thẩm quyền, trách nhiệm trong phạm vi lãnh đạo, trong phạm vi định hướng và kiểm tra, giám sát Nhà nước có thẩm quyền, trách nhiệm trong phạm vi chức năng quản lý và điều hành xã hội
Trang 28Ba là, có một số công trình đề cập đến vai trò, nội dung, PTLĐ của tỉnh ủy
đối với một số tổ chức trong HTCT và trên một số lĩnh vực đời sống xã hội
Một số công trình nghiên cứu đề cập đến các phương diện như: sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với các cơ quan nhà nước cấp tỉnh, tỉnh ủy lãnh đạo phòng chống tham nhũng, tỉnh ủy lãnh đạo CCHCNN… Các công trình này bước đầu làm rõ nội dung và PTLĐ của tỉnh ủy, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với các cơ quan nhà nước cấp tỉnh, đối với một số lĩnh vực
Nhìn chung, những kết quả đạt được của các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án đều có giá trị định hướng về phương pháp tiếp cận, giải quyết vấn
đề nghiên cứu Những giải pháp mà các nhà khoa học đề xuất nhằm đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, của tỉnh ủy đối với các cơ quan nhà nước cấp tỉnh đều có giá trị tham khảo trong quá trình triển khai thực hiện luận án Trên cơ sở khảo cứu các công trình khoa học liên quan, có thể khẳng định rằng: cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào làm sáng tỏ sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đối với CQT giai đoạn hiện nay
1.3.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Xuất phát từ tình hình trên, luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH
lãnh đạo CQT giai đoạn hiện nay Luận án tập trung làm rõ một số vấn đề như: đặc điểm tự nhiên, KT - XH của các tỉnh ở ĐBSH; chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm của
tỉnh ủy, của CQT ở ĐBSH hiện nay; khái niệm, nội dung, PTLĐ của các tỉnh ủy ở
ĐBSH đối với CQT
Thứ hai, khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức bộ máy và hoạt
động của các CQT ở vùng ĐBSH và thực trạng các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH lãnh đạo
CQT từ năm 2005 đến nay, chỉ rõ nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm, rút ra một số kinh nghiệm lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đối với CQT
trong thời gian qua
Trang 29Thứ ba, đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh
đạo của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đối với CQT nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của CQT đến năm 2025
Gần đây, chung quanh vấn đề Đảng lãnh đạo Nhà nước được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, các công trình khoa học chủ yếu tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở cấp Trung ương Vấn đề tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy địa phương đối với chính quyền cùng cấp, nhất là đối với cấp tỉnh chưa được nghiên cứu thỏa đáng Thực tế này cho thấy, việc nghiên cứu
về hoạt động lãnh đạo của tỉnh ủy đối với CQT còn là “khoảng trống” cần được khai phá Trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài luận án, những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước kể trên là những tài liệu tham khảo quý báu, có giá trị định hướng các phương pháp tiếp cận và phương pháp giải quyết vấn đề nghiên cứu
Trang 30Chương 2 CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LÃNH ĐẠO CHÍNH QUYỀN TỈNH HIỆN NAY – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 TỈNH, TỈNH ỦY, CHÍNH QUYỀN TỈNH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
2.1.1 Khái quát về đặc điểm các tỉnh ở vùng đồng bằng sông Hồng
Theo Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 14-9-2005 của Bộ Chính trị khóa IX về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh đồng bằng sông Hồng đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Quyết định số 191/2006/QĐ-TT ngày 17-8-2006 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai thực hiện Nghị quyết 54, ĐBSH gồm 10 tỉnh và 2 thành phố Sau đó, Quốc hội ra Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH12 ngày 29-05-2008 về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một
số tỉnh có liên quan, diện tích Hà Nội (mở rộng) bao gồm Hà Nội (trước đây), tỉnh
Hà Tây, huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn (Hòa Bình) Các tỉnh ở vùng ĐBSH bao gồm: Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình
* Đặc điểm tự nhiên
Về vị trí địa lý, các tỉnh ở vùng ĐBSH có vị trí địa lý chiến lược, nằm bao
quanh Thủ đô Hà Nội Nằm ở vị trí cửa ngõ của khu vực Đông Nam Á với Trung Quốc và các nước Đông Bắc Á, các tỉnh ở vùng ĐBSH trở thành đầu mối giao thông đi thế giới bằng tất cả các loại phương tiện một cách dễ dàng Tuy là đồng bằng nhưng các tỉnh này có địa hình khá đa dạng và phong phú, bao gồm đồng bằng, đồi núi, biển và rừng, có hệ thống sông ngòi dày đặc chảy ra vịnh Bắc Bộ Trừ Thái Bình và Hưng Yên không có núi, còn hầu hết các tỉnh ở ĐBSH đều có đồi núi xen kẽ châu thổ, thung lũng với những vùng đất trũng như: Nho Quan (Ninh Bình), Bình Lục (Hà Nam), Chí Linh (Hải Dương)…
Về khí hậu, nhiệt độ không khí trung bình năm ở các tỉnh vùng ĐBSH
khoảng 22,5 - 23,5°C, lượng mưa trung bình 1400-2000 mm/năm Điều kiện khí
Trang 31hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới của vùng rất thuận lợi cho việc hình thành cơ cấu cây trồng đa dạng, phong phú, có chất lượng cao, đặc biệt thuận lợi cho việc gieo trồng lúa nước, các cây nhiệt đới khác, các cây ngắn ngày á nhiệt đới và ôn đới
Về đất đai, các tỉnh ở vùng ĐBSH có nguồn tài nguyên đất đai nông nghiệp
với trữ lượng phù sa lớn do hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp Các tỉnh trong vùng có diện tích trồng cây lương thực đứng thứ 2 cả nước, có 1242,9 nghìn ha và khả năng mở rộng vẫn còn khoảng 137 nghìn ha Quá trình mở rộng diện tích thông qua sự bồi tụ và thực hiện các biện pháp quai đê lấn biển Do thực hiện quy hoạch và sử dụng các phương tiện máy móc hiện đại nên việc quai đê lấn biển khá hiệu quả
Về tài nguyên sinh vật, các tỉnh ở vùng ĐBSH có khá nhiều động thực vật
quý hiếm đặc trưng cho giới sinh vật của Việt Nam Mặc dù nơi đây có các khu dân
cư và đô thị phân bố dày đặc nhưng giới sinh vật vẫn được bảo tồn ở các vườn quốc gia Ba Vì, Cúc Phương
Về tài nguyên khoáng sản, nhìn chung, các tỉnh ở vùng ĐBSH có trữ lượng
vừa và nhỏ, không nhiều chủng loại, có các khoáng sản tiêu biểu như: đất sét, đá vôi, than nâu, khí đốt… Tài nguyên đất sét trắng ở Hải Dương phục vụ cho phát triển sản xuất các sản phẩm sành sứ Tài nguyên đá vôi ở các tỉnh vùng ĐBSH chiếm trữ lượng lớn của cả nước, phục vụ cho phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng Tài nguyên than nâu ở độ sâu 200m đến 2.000m có trữ lượng hàng chục
tỷ tấn đứng hàng đầu cả nước, hiện chưa có điều kiện khai thác
Về tài nguyên biển, các tỉnh ven biển có bờ biển dài, bãi triều rộng và phù sa
dày nên có thể phát triển các cơ sở nuôi trồng thủy hải sản, nuôi rong câu và chăn vịt ven bờ Một số tỉnh có cảng biển nên thuận lợi trong phát triển giao thông đường biển Hoạt động đầu tư phát triển du lịch biển, đảo đang được đẩy mạnh ở các tỉnh như Quảng Ninh, Nam Định, Thái Bình
Mặc dù được thiên nhiên ưu đãi nhưng các tỉnh ở vùng ĐBSH cũng thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai như bão, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh… Trong những năm tới, các tỉnh ở vùng ĐBSH có thể phải gánh chịu những ảnh hưởng nặng
nề của biến đổi khí hậu, nhất là vùng ven biển, gây ra những khó khăn không nhỏ
Trang 32đối với sản xuất và đời sống của nhân dân Đây là một trong các vấn đề đáng quan ngại đối với các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH trong quá trình lãnh đạo xây dựng và phát triển KT - XH
* Đặc điểm kinh tế
Các tỉnh ở vùng ĐBSH có vai trò là động lực đối với quá trình phát triển
KT - XH của đất nước Nơi đây diễn ra các hoạt động tài chính, ngân hàng, xuất nhập khẩu, du lịch, thông tin, tư vấn, chuyển giao công nghệ khá sôi động và có ảnh hưởng đến mạnh mẽ đối với miền Bắc, thậm chí lan tỏa trong phạm vi cả nước Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch khá mạnh, từ chủ yếu là sản xuất nông nghiệp phục vụ nhu cầu lương thực của địa phương sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa và phát triển công nghiệp - xây dựng, dịch vụ, hình thành một số ngành kinh tế mũi nhọn
Bên cạnh đó, kinh tế các tỉnh ở vùng ĐBSH đang đứng trước những khó khăn, thách thức lớn Trình độ phát triển giữa các tỉnh có sự chênh lệch đáng kể Sự phát triển của kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, quy mô sản xuất còn nhỏ, các ngành sản xuất với công nghệ hiện đại chiếm tỷ lệ thấp, chưa tạo ra được tiền đề cho sự phát triển nhanh, bền vững Kết cấu hạ tầng KT - XH còn lạc hậu, công nghiệp, đô thị phát triển khá nhưng còn mang tính tự phát, chưa hình thành được các vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung cho xuất khẩu, giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích chưa cao, một số loại thị trường hình thành chậm và chưa đồng bộ,
tỷ lệ lao động nông nghiệp thiếu việc làm còn lớn; đời sống nhân dân ở nhiều vùng nông thôn còn nhiều khó khăn…
* Đặc điểm về dân cư
Các tỉnh ở vùng ĐBSH có dân số đông với tổng số dân là 9.765.445 người chiếm 22,7% dân số cả nước, bao gồm nhiều dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Mường, Dao, Cao Lan, Hoa, Sán Dìu chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với tổng số dân và so với người Kinh Các tỉnh ở vùng ĐBSH có nhiều đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, chủ yếu là Phật giáo và Công giáo Các tín đồ Công giáo tập trung ở các tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình… Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, các dân tộc
Trang 33và đồng bào theo các tôn giáo khác nhau bình đẳng, đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ nhau cùng phát triển
Trong những năm qua, mặc dù tỉ lệ tăng dân số tự nhiên của các tỉnh ĐBSH giảm mạnh nhưng mật độ dân số vẫn cao nhất cả nước Dân cư đông một mặt là lợi thế đặc biệt của vùng bởi vừa tạo ra thị trường sức mua lớn, vừa tạo ra nguồn lao động dồi dào, có chất lượng tốt nhưng mặt khác làm cho diện tích đất canh tác bình quân đầu người giảm dần và xuất hiện một số vấn đề đối với công tác bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội
Các tỉnh ĐBSH có mặt bằng dân trí cao nhất trong cả nước, có nguồn nhân
lực rất dồi dào cả về số lượng và chất lượng Nơi đây tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng, các cơ sở nghiên cứu khoa học Nguồn nhân lực dồi dào, có chất lượng tốt là động lực quan trọng trong phát triển KT- XH của vùng
Trong tiến trình đổi mới, tuy đời sống nhân dân trong vùng ngày càng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm nhanh nhưng khoảng cách giàu, nghèo giữa các bộ phận nhân dân có xu hướng gia tăng, nhất là giữa cư dân thành thị và nông thôn Tỷ
lệ thất nghiệp có chiều hướng tăng lên, một bộ phận nhân dân phải rời bỏ quê hương
đi làm ăn xa, một bộ phận khác chưa kiếm được việc làm ổn định, thu nhập bấp bênh… Bên cạnh đó, một bộ phận dân cư thuộc vùng sâu, miền núi, hải đảo, dân tộc
ít người còn gặp khó khăn về đời sống vật chất và tinh thần Các tỉnh ủy ở ĐBSH cần phải quan tâm giải quyết những vấn đề này trong quá trình lãnh đạo CQT
* Đặc điểm văn hóa - chính trị
Các tỉnh ở vùng ĐBSH là những địa phương có bề dày lịch sử văn hóa hàng nghìn năm, được coi là một trong những cái nôi văn hóa của cả nước Sinh hoạt văn hóa ở nơi đây khá phong phú: chèo, tuồng, múa rối nước hát ả đào và đặc biệt là các loại dân ca như hát ví, trống quân, quan họ… Những truyền thống văn hóa tốt đẹp: yêu nước, nhân ái, đoàn kết, gắn bó trong cộng động, hiếu học, sáng tạo trong chiến đấu và lao động sản xuất đang được phát huy mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới đất nước Tuy xảy ra một số “điểm nóng” CT - XH ở nơi này nơi khác vào thời điểm này, thời điểm khác, nhưng nhìn chung, nhân dân vẫn gắn bó mật thiết với Đảng, tin tưởng vào năng lực
Trang 34lãnh đạo của các cấp ủy đảng Thông qua các đoàn thể CT - XH , nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền
Bên cạnh đó, một bộ phận nhân dân nơi đây chịu ảnh hưởng tiêu cực của văn hóa lúa nước với các biểu hiện đa dạng như: thích tự cấp tự túc, tích tiểu thành đại,
“bóc ngắn cắn dài”, “ăn chắc, mặc bền”, không chú trọng đầu tư, phát triển sản xuất, tư duy hàng hóa hạn chế; tâm lý tiểu nông hay đố kỵ, ganh ghét người tài; tư tưởng “một người làm quan cả họ được nhờ” vẫn rất phổ biến, ham muốn quyền lực
và dễ tha hóa quyền lực; tính bảo thủ cao, đề cao kinh nghiệm, khó tiếp thu khoa học kỹ thuật; quen sống với lệ làng, thiếu ý thức pháp luật, hình thành lối mòn trong suy nghĩ “phép vua thua lệ làng”… Những nét tư duy, tính cách đó ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp đổi mới và phát triển ở các tỉnh này
* Đặc điểm quốc phòng, an ninh
Các tỉnh ở ĐBSH có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh của cả nước
Là các tỉnh bao quanh Thủ đô Hà Nội, địa hình đa dạng, có đồng bằng, đồi núi, duyên hải với 425 km bờ biển, hơn 3.000 đảo lớn nhỏ án ngữ hướng biển Đông và Đông Bắc Tổ quốc, có điều kiện xây dựng thế trận che chắn, hỗ trợ nhau Tỉnh Quảng Ninh có biên giới trên bộ và trên biển giáp với Trung Quốc Các tỉnh Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình giáp biển Đông, là một trong bốn vùng biển chiến lược của cả nước
Các tỉnh ở vùng ĐBSH tập trung nhiều cơ quan đầu não, cơ quan ngoại giao,
tổ chức quốc tế, nhiều khu công nghiệp, nên số lượng mục tiêu cần bảo vệ nhiều, tính chất phức tạp, yêu cầu bảo vệ rất cao, là một trọng điểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch Các đối tượng cơ hội chính trị kết hợp với các nơi khác và lực lượng bên ngoài, lợi dụng khiếu kiện, đình công
và các mâu thuẫn nội bộ khác để tuyên truyền, xuyên tạc, kích động, chia rẽ chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…
Nhìn chung, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các tỉnh ĐBSH tuy bảo đảm, song vẫn còn tiềm ẩn những yếu tố có thể gây phức tạp xuất phát từ việc đền bù, giải phóng mặt bằng và tốc độ đô thị hóa khá nhanh như: tệ cờ bạc, rượu chè và các tệ nạn xã hội khác; thanh thiếu niên hư; hoạt động của các thế
Trang 35lực lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng; tệ quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu dân của một
bộ phận cán bộ, đảng viên… Do đó, các tỉnh ủy cần nhận rõ và lãnh đạo CQT giải quyết những vấn đề trên
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm của các tỉnh ủy ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay
2.1.2.1 Chức năng
Tỉnh ủy (BCH đảng bộ tỉnh) do đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh bầu ra, là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa hai kỳ đại hội Điều lệ Đảng thông qua tại Đại hội XI quy định: “Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là Ban Chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp ủy) [28, tr.17] Khoản 1, điều 19, chương IV của Điều lệ Đảng quy định: Cấp ủy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là tỉnh ủy, thành ủy), cấp ủy huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi tắt là huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy) lãnh đạo thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu; nghị quyết, chỉ thị của cấp trên [28, tr 33]
Tỉnh ủy có chức năng: lãnh đạo các tổ chức trong HTCT, các lĩnh vực của đời sống xã hội và nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng Đảng; tổng kết thực tiễn, đề xuất với Trung ương bổ sung, hoàn thiện đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
2.1.2.2 Nhiệm vụ
Với các chức năng đã xác định ở trên, tỉnh ủy thực hiện những nhiệm vụ sau:
Một là, chấp hành đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,
quyết định chủ trương, giải pháp nhằm cụ thể hóa và thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, nghị quyết của Trung ương Đảng, nghị quyết đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh
Hai là, quyết định chương trình làm việc toàn khóa của tỉnh ủy; chương trình
kiểm tra, giám sát của tỉnh ủy; quy chế làm việc của BCH, BTV, Thường trực Tỉnh
ủy và quy chế làm việc của Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy
Ba là, quyết định phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu về phát triển KT - XH
Trang 36hằng năm; những đề án quan trọng trên các lĩnh vực KT - XH, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, quyết định những chủ trương, quan điểm chỉ đạo về phát triển văn hóa, xây dựng Đảng và HTCT, chăm lo đời sống nhân dân trong tỉnh
Bốn là, bầu BTV, Bí thư, Phó Bí thư, Ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, Chủ nhiệm,
Phó Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, lãnh đạo bầu cử HĐND; quyết định nhân
sự giới thiệu ứng cử, đề cử hoặc rút khỏi các chức danh: Bí thư, Phó Bí thư Tỉnh ủy; Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND; nhân sự bổ sung vào Tỉnh ủy và các chức danh
do Tỉnh ủy bầu để trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư chuẩn y, quyết định
Năm là, lãnh đạo chính quyền, MTTQ và các đoàn thể CT - XH của tỉnh;
lãnh đạo các cấp ủy và tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện thắng lợi chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, phương hướng công tác của Tỉnh ủy
Sáu là, quyết định kỷ luật đảng đối với tỉnh ủy viên và các chức danh diện
Tỉnh ủy quản lý theo quy định của Điều lệ Đảng
Bảy là, thực hiện việc sơ kết, tổng kết, báo cáo các hoạt động thuộc thẩm
quyền, trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, cụ thể:
Tỉnh ủy lãnh đạo tổng kết, đánh giá thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu đảng
bộ giữa nhiệm kỳ và quyết định các nhiệm vụ, chủ trương, biện pháp thực hiện Nghị quyết nửa cuối nhiệm kỳ Tỉnh ủy xem xét và cho ý kiến các báo cáo của BTV, Thường trực Tỉnh ủy về lãnh đạo thực hiện nghị quyết đại hội, nghị quyết của tỉnh ủy; những công việc quan trọng do BTV Tỉnh ủy giải quyết giữa hai kỳ hội nghị Tỉnh
ủy và những vấn đề BTV Tỉnh ủy sẽ bàn và quyết định trong thời gian tới Tỉnh ủy xem xét báo cáo năm, giữa nhiệm kỳ và cuối nhiệm kỳ, báo cáo bất thường của Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong đảng; về hoạt động của Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy và ủy ban kiểm tra các cấp
Tám là, xem xét, chỉ đạo công tác tài chính đảng theo quy định
Chín là, chuẩn bị và tổ chức đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh
Lãnh đạo công tác chuẩn bị và quyết định triệu tập đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ, hoặc đại hội đảng bộ bất thường (nếu có): thảo luận và thông qua các
dự thảo văn kiện trình đại hội; tiêu chuẩn, số lượng, cơ cấu đại biểu; giới thiệu đại
Trang 37hội về nhân sự ứng cử, đề cử vào tỉnh ủy, đoàn chủ tịch, đoàn thư ký và ban thẩm tra tư cách đại biểu đại hội và đoàn đại biểu đảng bộ tỉnh dự Đại hội Đảng toàn quốc… để đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh quyết định
2.1.2.3 Đặc điểm của các tỉnh ủy ở vùng đồng bằng sông Hồng
Một là, các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH hoạt động trong môi trường có sự ảnh
hưởng sâu sắc của nền văn hóa lúa nước
Nhân dân vùng ĐBSH có truyền thống yêu nước, nhân ái, hiếu học, tinh thần đoàn kết, đức tính cần cù lao động, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng đóng góp công, sức cho sự nghiệp đổi mới ở địa phương Trình độ dân trí của vùng tương đối cao, nguồn nhân lực dồi dào, có chất lượng tốt Tuy nhiên, một bộ phận nhân dân trong ĐBSH chịu ảnh hưởng tiêu cực của sản xuất, canh tác lúa nước: không chú trọng đầu tư, phát triển sản xuất, tư duy hàng hóa hạn chế; tâm lý tiểu nông hay đố kỵ, tính bảo thủ cao, đề cao kinh nghiệm, khó tiếp thu khoa học kỹ thuật; quen sống với lệ làng, thiếu ý thức pháp luật, “phép vua thua lệ làng”…
Trong môi trường, điều kiện đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên của các đảng bộ tỉnh đã kế thừa truyền thống cách mạng vẻ vang, tích cực rèn luyện và học tập, trình
độ mọi mặt tương đối cao, có năng lực công tác, có kỹ năng, phương pháp làm việc hiệu quả, năng động, sáng tạo, nhạy bén với cái mới Bên cạnh đó, đội ngũ này dễ
có biểu hiện làm việc tùy tiện, thiếu tích cực, thiếu tinh thần trách nhiệm, quan liêu, tác phong chậm chạp, lề mề…
Hai là, tổ chức bộ máy của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH từng bước được củng
cố, kiện toàn
Để thực hiện sự lãnh đạo của mình, Tỉnh ủy bầu BTV Tỉnh ủy, bầu Bí thư, các Phó Bí thư trong số ủy viên BTV Tỉnh ủy Thường trực Tỉnh ủy gồm Bí thư và các Phó Bí thư Tỉnh ủy ban hành Quy chế làm việc nhằm phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm của Tỉnh ủy, BTV và Thường trực Tỉnh ủy Số lượng ủy viên BTV Tỉnh ủy được Trung ương quy định Hằng tháng, BTV Tỉnh ủy họp thường lệ một lần, họp bất thường khi cần Thường trực Tỉnh ủy họp định kỳ mỗi tuần một lần và họp đột xuất khi cần thiết Thường trực Tỉnh ủy chỉ đạo kiểm tra thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy, của BTV và của cấp ủy cấp trên; giải quyết công việc hằng ngày của đảng bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của BTV
Trang 38Các cơ quan tham mưu của tỉnh ủy được củng cố, kiện toàn về tổ chức bộ máy đảm bảo đúng Quy định số 219-QĐ/TW ban hành ngày 27-12-2013 của Ban
Bí thư Trung ương Đảng về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, thành ủy Tổ chức, bộ máy các ban tham mưu của tỉnh ủy được củng cố, kiện toàn theo hướng tinh gọn, hợp lý, hiệu quả nhằm thực hiện tốt các chức năng: nghiên cứu, đề xuất; hướng dẫn thực hiện, kiểm tra, giám sát; thẩm định, thẩm tra; phối hợp công tác; thực hiện một số nhiệm vụ khác
do BTV Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy giao
Ba là, chất lượng đội ngũ tỉnh ủy viên của các tỉnh ở ĐBSH được nâng lên rõ
rệt, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động lãnh đạo
Nhìn chung, trình độ mọi mặt của đội ngũ tỉnh ủy viên ở vùng ĐBSH vào loại cao nhất trong cả nước Đại hội đại biểu của các đảng bộ tỉnh ở ĐBSH nhiệm
kỳ 2010-2015 đã bầu được 484 tỉnh ủy viên, trong đó đa số tỉnh ủy viên là người địa phương (chiếm khoảng 98,00%), có 124 đồng chí là ủy viên BTV Tỉnh ủy Chất lượng đội ngũ tỉnh ủy viên các tỉnh ĐBSH tương đối cao so với các địa phương khác trong cả nước, có 99,60% tỉnh ủy viên có trình độ đại học trở lên, có 99,30% tỉnh ủy viên có bằng cao cấp lý luận chính trị hoặc bằng cử nhân chính trị Độ tuổi của các tỉnh ủy viên đang có xu hướng trẻ hóa: 48,30% tỉnh ủy viên từ 45 đến 54 tuổi, có 4,33% trong tổng số tỉnh ủy viên ở độ tuổi từ 35 đến 44 có 2,67% tổng số tỉnh ủy viên có độ tuổi từ 34 trở xuống Số tỉnh ủy viên là nữ ở ĐBSH có 56 đồng chí, chiếm 13,00%, cao hơn các vùng khác và cao hơn tỷ lệ chung của cả nước (11.30%) [Phụ lục 1A]
Chất lượng của đội ngũ tỉnh ủy viên ở ĐBSH có xu hướng ngày càng được nâng lên rõ rệt, cụ thể: Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình nhiệm kỳ 2015-
2020 bầu được 51 đồng chí, trong đó tỷ lệ tỉnh ủy viên là nữ khá cao: 15,69%; tỷ lệ tỉnh ủy viên có độ tuổi từ 35-45 là 23,53%; 100% tỉnh ủy viên có trình độ cử nhân chính trị hoặc cao cấp lý luận chính trị; 66,67% tỉnh ủy viên có trình độ chuyên môn
từ thạc sĩ trở lên Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2015-2020 bầu được 52 đồng chí, trong đó tỷ lệ tỉnh ủy viên là nữ chiếm khoảng: 9,62%; tỷ lệ tỉnh
ủy viên có độ tuổi từ 35-45 là 21,15%; 100% tỉnh ủy viên có trình độ cử nhân chính
Trang 39trị hoặc cao cấp lý luận chính trị; 71,15% tỉnh ủy viên có trình độ chuyên môn từ thạc sĩ trở lên [Phụ lục 1B]
Bốn là, các tỉnh ủy ở ĐBSH gặp nhiều khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ,
nhất là lãnh đạo phát triển bền vững, giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ; giữa thành thị và nông thôn; lao động và việc làm,
bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc
Địa bàn châu thổ sông Hồng với điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội vừa có những thuận lợi cơ bản, vừa có khó khăn không nhỏ tác động đến hoạt động lãnh đạo của các tỉnh ủy Tuy có vị trí địa lý, địa hình, đất đai, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng vùng ĐBSH đang phải đối mặt với những ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu Mặc dù kinh tế tăng trưởng khá nhưng chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, quy mô còn nhỏ bé, đời sống nhân dân ở nhiều vùng nông thôn chưa được cải thiện đáng kể Quá trình CNH, HĐH, đô thị hóa đang làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp: phân hóa giàu - nghèo, ô nhiễm môi trường sinh thái, có nơi thiếu đất sản xuất, có nơi ruộng đất bị bỏ hoang, thiếu việc làm, việc đền bù giải phóng mặt bằng chưa thỏa đáng… Trong môi trường hoạt động đó, các tỉnh ủy ở ĐBSH phải tích cực tháo gỡ những khó khăn, rào cản, nỗ lực tìm kiếm và phát huy các nguồn lực thúc đẩy sự nghiệp đổi mới ở địa phương tiến lên, góp phần vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước Các tỉnh ủy ở ĐBSH cần lãnh đạo xây tổ chức bộ máy của CQT trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực và hiệu quả, sử dụng CQT là phương tiện, công cụ hữu hiệu để lãnh đạo phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, đặc điểm của các chính quyền tỉnh ở vùng đồng bằng sông Hồng
Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2013 quy định tại Điều 111: chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND
và UBND Chính quyền tỉnh là một cấp của chính quyền địa phương ở nông thôn, được tổ chức ở đơn vị hành chính tỉnh, gồm HĐND tỉnh và UBND tỉnh Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01-01-2016) quy định
Trang 40tại Điều 16: chính quyền địa phương ở tỉnh là một cấp của chính quyền địa phương, được tổ chức ở đơn vị hành chính tỉnh, gồm HĐND tỉnh và UBND tỉnh
2.1.3.1 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh
* Chức năng:
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm
2013 quy định tại Điều 113:
1 Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và
cơ quan nhà nước cấp trên
2 Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân [104, tr.60]
HĐND tỉnh có chức năng: là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân; quyết định những vấn
đề của địa phương theo quy định của pháp luật; giám sát việc tuân theo Hiến pháp
và pháp luật; tham mưu cho tỉnh ủy, cơ quan nhà nước cấp trên trong lãnh đạo chính quyền địa phương
* Nhiệm vụ, quyền hạn:
Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND tỉnh được quy định chủ yếu tại Điều 19 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, trong các văn bản quy phạm pháp luật khác và các văn bản của Đảng
Một là, tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật
HĐND tỉnh ban hành nghị quyết về phát triển KT - XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh; quyết định các biện pháp để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, quyết định việc phân cấp cho chính quyền địa phương cấp huyện, cấp xã, cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở tỉnh; bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của UBND, Chủ tịch UBND tỉnh, của HĐND cấp huyện; giải tán HĐND cấp huyện trong trường hợp HĐND đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của