Trong số những tài liệu chúng tôi có được, vấn đề phân tích, bình giảng ca dao và dạy học ca dao đã được đặt ra và giải quyết ở những công trình sau: * Cuốn sách “Những đặc điểm thi pháp
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHI
DẠY - HỌC CA DAO TRONG NGỮ VĂN 10
THEO HƯỚNG TÍCH HỢP VÀ TÍCH CỰC
VIỆT
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN – 2007
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHI
DẠY - HỌC CA DAO TRONG NGỮ VĂN 10 THEO HƯỚNG TÍCH HỢP VÀ TÍCH CỰC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN – 2007
Trang 2QUY ƯỚC VIẾT TẮT
NXB : Nhà xuất bản SGK : Sách giáo khoa PPGD : Phương pháp giảng dạy THPT : Trung học phổ thông THCS : Trung học cơ sở
VHDG : Văn học dân gian VHV : Văn học viết
Mục lục
Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 11
4 Đối tượng nghiên cứu 11
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
6 Phương pháp nghiên cứu 12
7 Giả thuyết của luận văn 12
8 Bố cục của luận văn 12
Nội dung 13
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc dạy - học ca dao theo hướng tích hợp, tích cực 13
1.1 Dạy học ca dao theo cách tiếp cận từ đặc trưng của thể loại ca dao 13
1.1.1 Vận dụng thi pháp ca dao vào dạy học ca dao 13
1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy - học ca dao 26
1.1.3 Những ưu điểm của dạy học ca dao theo hướng thi pháp 34
1.1.4 Những hạn chế của dạy học ca dao theo hướng thi pháp 36
1.2 Quan điểm tích hợp và dạy - học ca dao theo hướng tích hợp 37
1.2.1 Quan điểm tích hợp trong dạy - học Ngữ văn 37
1.2.2 Nội dung tích hợp trong dạy - học Ngữ văn ở THPT 39
1.2.3 Vận dụng nội dung tích hợp trong dạy - học ca dao ở lớp 10 43
1.3 Quan điểm tích cực và nội dung dạy-học ca dao theo hướng tích cực 45
1.3.1 Quan điểm tích cực trong dạy - học Ngữ văn 45
1.3.2 Nội dung tích cực trong dạy - học Ngữ văn ở THPT 45
1.3.3 Vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy - học ca dao ở lớp 10 48
Trang 3Chương 2: Tổ chức dạy - học ca dao ở lớp 10 theo hướng tích hợp,
tích cực 50
2.1 Việc thực thi chương trình và SGK Ngữ văn 10 ở phần ca dao 50
2.1.1 Nhận thức của giáo viên về dạy học theo hướng tích hợp tích cực 50
2.1.2 Việc thực thi của giáo viên ở giờ dạy ca dao 53
2.2 Chương trình và SGK Ngữ văn 10 56
2.2.1 Một số vấn đề chung về chương trình và SGK mới 56
2.2.2 Chương trình và SGK Ngữ văn 10 58
2.3 Tổ chức dạy - học ca dao ở Ngữ văn 10 theo hướng tích hợp, tích cực 59
2.3.1 Dạy ca dao theo hướng tích hợp 59
2.3.1.1 Tích hợp và Tập làm văn 59
2.3.1.2 Tích hợp với tiếng Việt 60
2.3.2 Dạy học ca dao theo hướng tích cực 60
Chương 3: Thiết kế thể nghiệm 68
3.1 Mục đích thể nghiệm 68
3.2 Nội dung thể nghiệm 68
3.3 Đối tượng thể nghiệm 70
3.4 Thiết kế bài học 70
3.5 §¸nh gi¸ thiÕt kÕ thÓ nghiÖm 89
Kết luận 90
Tài liệu tham khảo 93
Lời cảm ơn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sÜ Hoàng Hữu Bội - người thầy đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, Phòng đào tạo - Nghiên cứu khoa học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn
Trang 4Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Đề tài này được chọn từ yêu cầu giải quyết tiếp vấn đề dạy học tác
phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại
Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại là một vấn
đề không mới Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Những
năm đầu thập kỷ bẩy mươi của thế kỷ XX ta có thể nói đến cuốn sách “Vấn
đề giảng dạy tác phẩm văn học theo đặc trưng loại thể” của GS Trần Thanh
Đạm chủ biên (NXB Giáo dục, H, 1971) Trong công trình này, những người
viết đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của từng loại thể và phương pháp dạy
theo đặc trưng loại thể Đây là những đóng góp quan trọng trong công việc
định hướng dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường Thế nhưng ở
công trình này, các tác giả mới chỉ chú ý đến các thể loại văn học thành văn
còn các thể loại của văn học dân gian, trong đó có ca dao thì chưa được quan
tâm đầy đủ Mặc dù chúng ta đều biết rằng văn học dân gian cũng được phân
ra các thể loại (tự sự trữ tình, kịch) Dạy một tác phẩm văn học dân gian cũng
như dạy một tác phẩm văn chương, nhưng đây là một bộ phận có những đặc
điểm riêng Cũng là thể loại trữ tình nhưng ngoài những đặc điểm của trữ tình
nói chung thì trữ tình dân gian còn có những đặc điểm riêng Vì vậy không
thể không bàn đến dạy học tác phẩm văn học dân gian theo thể loại Các nhà
nghiên cứu đã bàn đến vấn đề dạy học tục ngữ, ca dao, truyện dân gian ở
trung học phổ thông (THPT) Song vấn đề dạy học ca dao trong sách giáo
khoa Ngữ văn 10 (xuất bản năm 2006) thì chưa có một công trình nào đề cập
đến một cách công phu và có hệ thống Đề tài này nhằm góp thêm một tiếng
nói vào lý luận về dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại mà
những người đi trước đã đặt ra
1.2 Đề tài này còn được lựa chọn từ thực tiễn dạy học ca dao trong sách Ngữ văn 10 hiện nay ở trường THPT theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Hiện nay nền giáo dục nước ta đang thực thi việc đổi mới chương trình, SGK các cấp học Năm học 2006 - 2007, SGK Ngữ văn 10 mới chính thức đưa vào dạy học đại trà trên toàn quốc Trong cuốn SGK “Văn học 10, tập 1”
(Sách chỉnh lý hợp nhất) NXB Giáo dục, 2000 có hai chùm bài ca dao: Những câu hát thân thân; Những câu hát tình nghĩa Cho đến năm 2006 SGK “Ngữ văn 10” (sách cơ bản) lại gộp hai chùm bài ca dao Những câu hát thân thân; Những câu hát tình nghĩa thành chùm Ca dao than thân yêu thương, tình nghĩa và có thêm một chùm Ca dao hài hước Trong quá trình thực hiện
chương trình SGK mới, giáo viên và học sinh không phải không gặp những khó khăn nhất định
Trong đợt thực tế sư phạm vừa qua, chúng tôi đã chú ý tìm hiểu việc dạy học ca dao trong sách Ngữ văn 10 ở một số trường phổ thông Chúng tôi nhận thấy, trên thực tế việc dạy ca dao trường THPT đã có nhiều thuận lợi (đa
số học sinh yêu thích ca dao vì thể loại này có đặc điểm giản dị, dễ hiểu) song điều đó không có nghĩa là việc dạy học ca dao đã đạt được hiệu quả như mong muốn Trong những giờ học đó vẫn có những bài học được khai thác giống như bài học ở các thể văn học thành văn Giáo viên chỉ phân tích một cách cô lập trên văn bản ngôn từ mà không đặt tác phẩm vào môi trường văn học dân gian, thời điểm phát sinh… để khai thác Hoặc có bài lại dạy theo cách “diễn nôm ca dao”, làm phức tạp hoá sự giản dị dễ hiểu của ca dao Vấn
đề dạy học ca dao theo hướng tích hợp và tích cực là vấn đề mới mẻ Nhiều giáo viên lúng túng khi thực thi điều này Dạy học ca dao như thế nào để thực hiện được nguyên tắc tích hợp và lôi cuốn được học sinh vào hoạt động liên tưởng, tưởng tượng, sáng tạo? Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi chọn đề tài:
“Dạy - học ca dao trong Ngữ văn 10 theo hướng tích hợp và tích cực”,
nhằm góp một tiếng nói giải quyết khó khăn cho người đứng lớp trong đó có chúng tôi
Trang 52 Lịch sử vấn đề
2.1 Nâng cao hiệu quả dạy học văn nói chung, dạy học ca dao nói
riêng là công việc đầy khó khăn thử thách đối với không chỉ độ ngũ giáo viên
đứng lớp mà còn đối với các nhà chuyên môn, các nhà nghiên cứu
Trong số những tài liệu chúng tôi có được, vấn đề phân tích, bình giảng
ca dao và dạy học ca dao đã được đặt ra và giải quyết ở những công trình sau:
* Cuốn sách “Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân
gian” của GS Đỗ Bình Trị, NXB Giáo dục, 1999 đề cập tới mục đích, ý nghĩa
của việc nghiên cứu thi pháp thể loại: “Thể loại được gọi là đơn vị cơ sở của
văn học dân gian và là điểm xuất phát tất yếu của công việc nghiên cứu văn
học dân gian Và mỗi thể loại văn học dân gian có cách nói riêng của nó Thi
pháp thể loại chính là cách nói riêng ấy Có nắm được thi pháp thể loại mới có
kh¶ “giải mã” các tác phẩm thuộc thể loại” Tác giả cũng chỉ rõ, trong nhà
trường “việc nghiên cứu thi pháp thể loại giúp người giáo viên không những
có khả năng tự mình hiểu đúng, hiểu sâu hơn các tác phẩm văn học dân gian
trong chương trình, mà có khả năng hoàn thiện hệ thống thao tác phân tích tác
phẩm nhằm luyện tập cho học sinh cách đọc - hiểu tác phẩm ngay chính trong
quá trình các em được hướng dẫn tìm hiểu tác phẩm”
Như vậy ở đây một lần nữa tác giả lại nhấn mạnh tới vai trò của thi
pháp thể loại, coi nó là chìa khoá giúp cho người giáo viên mở cánh cửa văn
học dân gian trong nhà trường Cũng xuất phát từ đó khi đề cập đến những
đÆc điểm thi pháp của ca dao tác giả cho rằng: sự tổng hoà của những đặc
điểm thi pháp những nhân vật trữ tình, những hoàn cảnh điển hình trong ca
dao, kết cấu ca dao, hệ thống hình ảnh và ngôn ngữ, thể thơ và sự vận dụng
các thể thơ trong ca dao đã tạo nên một phong cách chung bền vững của ca
dao truyền thống
* Cuốn “Bình giảng ca dao” của nhà nghiên cứu VHDG Hoàng Tiến
Tựu (NXB Giáo dục 1992) có nói về “Công việc bình giảng ca dao” như sau:
- Một bài ca dao được chọn để bình giảng phải có ít nhất ba điều kiện
sau đây: Thứ nhất, phải là một bài ca dao hay, có giá trị thực sự về nội dung
và nghệ thuật, đồng thời phải có vấn đề, có chỗ để bình giảng, đánh bình
giảng Thứ hai, phù hợp với khả năng và sở trường của người bình giảng Thứ
ba, phù hợp với nhu cầu thị hiếu người nghe, người đọc (tr.15)
- Mục đích của việc bình giảng ca dao nói riêng cũng như việc nghiên cứu văn học dân gian nói chung, không phải chủ yếu là chứng minh cho cái chung và
sự giống nhau Càng không phải chỉ là như thế (mặc dù điều này cũng cần thiết),
mà chủ yếu là tìm tòi, phát hiện và lý giải những cái riêng, những nét đặc thù, độc đáo, trong sáng tác dân gian của từng dân tộc, từng địa phương, từng thời kỳ lịch sử, cũng như cái riêng của từng tác phẩm cụ thể (tr.9)
- Người làm ca dao cũng như người làm thơ, biến ý thành tứ người bình giảng ca dao và thơ phải dựa vào tứ mà tìm ra ý, và khi đã hiểu rõ và nắm vững được chủ ý (hay chủ đề) của tác giả rồi, người bình giảng mới có điều kiện và cơ sở chắc chắn để tiến hành công việc bình giảng và bình luận, khen chê bài ca dao hay bài thơ một cách kỹ càng, chính xác và tinh tế (tr.28)
- Trong ca dao, ngoài mối quan hệ giữa ý và tứ, còn mối quan hệ giữa tình và tứ, sự và tình, đều là mối quan hệ quan trọng mà người bình giảng không thể quan tâm chú ý (tr.30)
- Muốn hiểu đúng, hiểu rõ, hiểu sâu sắc và thấu đáo một bài ca dao phải bám sát vào từ ngữ của nó, thông qua từ ngữ để tìm ra ý, tứ, sự, tình ở trong
đó Và sau khi nắm được ý, tứ, sự, tình của toàn bài mới có điều kiện đầy đủ
và chắc chắn để nhận rõ ý nghĩa đích thực (nghĩa trong bài) của các từ ngữ đã được tác giả sử dụng Hiện tượng “ý tại ngôn ngoại” ở trong ca dao không phải là hiếm (tr.34)
Trang 6Tác giả đã vận dụng lý thuyết trên vào bình giảng một số bài ca dao
hay trong kho tàng ca dao dân ca Việt Nam Trong tổng số 48 bài ca dao
tuyển chọn, có 8 bài được dạy trong chương trình THCS, THPT
* Cuốn “Thi pháp ca dao” của nhà nghiên cứu văn học dân gian
Nguyễn Xuân Kính (NXB Giáo dục KHXH - Hà Nội 1992), là công trình
nghiên cứu về đặc điểm thi pháp ca dao cổ truyền của người Việt
Tác giả đã khái quát đặc điểm thi pháp ca dao như sau: “Xét về mặt thi
pháp, bên cạnh những điểm giống thơ của các tác giả thuộc dòng văn học viết,
những nét giống vè (một thể loại văn học dân gian), ca dao có những đặc
điểm riêng biệt: Ngôn ngữ ca dao là sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn
ngữ đời thường Đa số các lời ca dao trữ tình là những văn bản biểu hiện
Cách sử dụng tên riêng chỉ địa điểm trong ca dao về cơ bản khác với cách
dùng loại từ này trong thơ bác học Về thể thơ, 95% ca dao cổ truyền được
sáng tác theo thể thơ lục bát Các tác giả văn học dân gian khác các tác giả
văn học viết ở chỗ họ không chịu khuôn sáng tác vào những luật lệ có sẵn, do
đó thơ ca dân gian có phần hồn nhiên mộc mạc hơn Mặt khác, hiện tượng đó
lại chứng tỏ người bình dân ít có khả năng tung hoành sáng tạo trong khuôn
khổ nghiêm ngặt của luật thơ Sự ngắn gọn của các tác phẩm ca dao, phản ánh
đặc điểm, hoàn cảnh; điều kiện sáng tác và sinh hoạt văn hoá văn nghệ dân
gian; mặt khác tính chất này cũng cho thấy tác giả dân gian chưa có khả năng
xây dựng những tác phẩm thơ với quy mô đồ sộ Kết cấu một số vế có phần
vần, kết cấu hai tương hợp, kết cấu hai vế đối lập và trong khi sáng tạo lời
mới một dòng hoặc nhiều dòng ca dao có sẵn có thể được sử dụng… Là
những dạng kết cấu độc đáo và là đặc điểm của ca dao Thời gian nghệ thuật
trong ca dao là thời gian hiện tại, thời gian diễn xướng Không ít trường hợp
trong đó thời gian miêu tả có tính chất công thức, ước lệ Không gian nghệ
thuật trong ca dao chủ yếu là không gian trần thế, đời thường, bình dị, phiếm
chỉ với những nhân vật chưa được cá thể hoá, mang tâm trạng, tình cảm chung của nhiều người Tuy cùng xây dựng các biểu tượng trên cơ sở là hiện thực khách quan, nhưng nhiều ý nghĩa của các biểu tượng trong ca dao khác hẳn với thơ bác học… Các đặc điểm thi pháp vừa nêu tạo thành một thẻ loại riêng trong lịch sử văn học Việt Nam: “Thể ca dao” (tr 233 - 234)
* Cuốn “Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy - nghiên cứu văn học dân gian” của GS Hoàng Tiến Tựu (NXB Giáo dục 1993) đã khẳng định sự
cần thiết xây dựng những quy phạm riêng cho việc dạy học văn học dân gian
ở trường phổ thông Tác giả đã đề cập đến các phương pháp nghiên cứu văn học dân gian, làm sáng tỏ vấn đề giảng dạy văn học dân gian theo đặc trưng thể loại như: Dạy truyện dân gian, tục ngữ, ca dao…
Trong chương IV “Mấy vấn đề cụ thể nghiên cứu và giảng dạy ca dao” (35 trang), tác giả đã chỉ ra một số cách dạy ca dao phổ biến hiện nay và nêu lên những khó khăn đối với việc tìm hiểu một bài ca dao cổ Theo ông “Quá trình lĩnh hội và phân tích, lý giải một bài ca dao cổ gồm nhiều khâu, nhiều bước cụ thể khác nhau” Những khâu, những bước chủ yếu và quan trọng có thể được tóm tắt dưới dạng những câu hỏi sau:
1 Bài ca dao ra đời trong hoàn cảnh và trường hợp nào? (Vấn đề xác
định được hoàn cảnh lịch sử, cái “khung” thời gian của tác phẩm)
2 Bài ca dao được lưu hành sớm nhất và nhiều nhất ở vùng nào? (Vấn
đề xác định quê hương gốc và địa bàn lưu hành chủ yếu của tác phẩm)
3 Bài ca dao thuộc thể loại nào? (Vấn đề xác định đặc trưng thể loại và tiểu thể loại của nó)
4 Chủ thể và nhân vật trữ tình của bài ca dao là gì? Hay là bài ca dao của ai? Người ấy như thế nào? (Vấn đề xác định chủ thể và nhân vật trữ tình trong phần lời và trong sự biểu diễn, sử dụng thực tế của bài ca dao)
Trang 75 Đối tượng trữ tình của bài ca dao là gì? Hay là bài ca dao là lời trao
đổi bày tỏ với ai? Người ấy như thế nào? (Vấn đề xác định đối tượng trữ tình
trực tiếp hay gián tiếp, chung hoặc riêng của mỗi bài ca dao)
6 Nội dung của bài ca dao là gì? (Hay là bài ca dao nói về những điều
gì?) Vấn đề xác định nội dung truyền đạt, phô diễn của bài ca dao
7 Chủ thể bài ca dao là gì? (Hay vấn đề chủ yếu của bài ca dao muốn
nói gì? Vấn đề phân tích chủ đề bài ca dao thường phải tìm hiểu đầy đủ các
tác phẩm mới xác định đúng được)
8 Hình thức nghệ thuật bài ca dao như thế nào? Hay bài ca dao phô
diễn tâm tư, tình cảm bằng những phương pháp, phương tiện và thủ thuật như
thế nào? (Vấn đề phân tích lý giải hình thức nghệ thuật của tác phẩm thường
chỉ có thể nhận thức được rõ khi đã nắm chắc nội dung và chủ thể của nó)
9 Bài ca dao còn có liên hệ gì với cuộc sống và tâm tư tình cảm của
nhân dân hiện nay và mai sau không? Mối liên hệ ấy như thế nào? Vấn đề ý
nghĩa và giá trị hiện đại của bài ca dao cổ về mặt nội dung cũng như mặt nghệ
thuật (tr 134 - 135)
Bên cạnh các công trình chúng tôi nêu trên còn rất nhiều công trình quý
báu giúp chúng tôi hoàn thành luận văn như cuốn “Văn học Việt Nam - Văn
học dân gian, những công trình nghiên cứu” (của nhiều tác giả, do GS Bùi
Mạnh Nhị chủ biên, NXB Giáo dục, tái bản 2000); cuốn “Giảng văn văn học
dân gian Việt Nam” của hai tác giả Vũ Anh Tuấn và Nguyễn Xuân Lạc -
NXB Giáo dục 1993; Luận án tiến sỹ của Nguyễn Xuân Lạc “Quan điểm tiếp
cận và phương pháp dạy học ca dao ở THPT” (1996); cuốn “Phương pháp
dạy học tác phẩm văn chương” (theo thể loại) của Tiến sỹ Nguyễn Viết Chữ,
NXB ĐHSP, 2005
Gần đây khi SGK Ngữ văn 10 đã được thực thi trong nhà trường, có
nhiều cuốn sách tham khảo đã được xuất bản Sách tham khảo dạy học Ngữ
văn 10 chia làm hai loại: loại sách phân tích, bình giảng các tác phẩm có trong Ngữ văn 10; loại sách gợi ý về phương pháp dạy học như cuốn Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10 của TS Hoàng Hữu Bội, Thiết kế bài học Ngữ văn 10 do
GS Phan Trọng Luận chủ biên…
2.2 Ca dao là mảnh đất nuôi dưỡng và lưu giữ đời sống tinh thần của nhân dân lao động, vì thế, ca dao từ lâu không chỉ trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học cơ bản mà còn là đối tượng quan trọng của giới nghiên cứu phương pháp dạy học Là thể loại trữ tình dân gian ngoài đặc điểm của loại hình trữ tình nói chung, ca dao còn có những đặc điểm riêng Do đó, đứng trước những yêu cầu mới của chương trình và SGK nhiều giáo viên không tránh khỏi những khó khăn khi dạy - học ca dao Vấn đề đặt ra là dạy - học ca dao như thế nào để vừa bảo đảm yêu cầu tích hợp, vừa phù hợp với đặc trưng thể loại và phát huy được sự tích cực ở người học là vấn đề cần quan tâm của mỗi giáo viên Ngữ văn
* Quan tâm đến vấn đề tích hợp, TS Đỗ Ngọc Thống người tham gia biên soạn SGK Ngữ văn THCS cũng có nhiều đóng góp đáng ghi nhận Trong cuốn “Đổi mới việc dạy và học môn Ngữ văn ở THCS”, NXB Giáo dục 2002, tác giả có một hệ thống bài viết về quan điểm tích cực và việc dạy học văn theo hướng tích hợp, giúp người đọc hiểu rõ “việc lấy tên chung của cuốn sách là Ngữ văn không chỉ đơn thuần là dồn ba phân môn lại thành một cuốn sách theo kiểu gộp lại mà chúng được xây dựng theo tinh thần tích hợp” Trong bài viết “Dạy học môn Ngữ văn theo nguyên tắc tích hợp”, tác giả chỉ ra ba biểu hiện của tích hợp là “trong cuốn sách cả ba môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn cùng dựa trên một văn bản chung để khai thác, hình thành, rèn luyện các kiến thức và kỹ năng của mỗi phân môn” Trên cơ sở đó tác giả chỉ
ra ưu điểm của nguyên tắc dạy học tích hợp, tích hợp thể hiện trong việc xây
Trang 8dựng cấu trúc SGK, trong quá trình tổ chức giờ dạy học, thay đổi cách soạn
giáo án, cách kiểm tra đánh giá chất lượng của học sinh
* Tâm huyết với vấn đề đọc hiểu và vấn đế tích hợp GS-TS Nguyễn
Thanh Hùng, trong bài viết “Tích hợp trong dạy học Ngữ văn” (Tạp chí khoa
học giáo dục số 6, tháng 3 năm 2006) đã chỉ ra bản chất của tích hợp và
“phương hướng phối hợp (Integrate) một cách tốt nhất của quá trình học tập
của nhiều môn học cũng như các phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn trong
một môn Ngữ văn” Trên cơ sở phân tích tư tưởng tích hợp tác giả chỉ ra ý
nghĩa của tích hợp: “Tích hợp trong nhà trường sẽ giúp học sinh học tập thông
minh và vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng và phương pháp của khối
lượng tri thức toàn diện, hài hoà (Hamonie) và hợp lý (Algebra) trong tình
huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại”
Cũng bài viết này tác giả chỉ ra “Cái gốc của quan niệm tích hợp trong
dạy học Ngữ văn” là “Hiểu một cách đơn giản là dạy học ba phân môn hợp
nhất, hoà trộn vào nhau, học cái này thông qua cái kia và ngược lại” Tác giả
nêu rõ: “Mục đích bao quát của nguyên tắc tích hợp trong chương trình và
SGK Ngữ văn là điều kiện giáo dục phù hợp, khả thi, phương pháp dạy và
học mới có hiệu quả và cơ sở lý luận tích hợp một cách khoa học cùng với
cách thức và mô hình tích hợp đa dạng để hình thành và phát triển năng lực
đọc hiểu tác phẩm văn chương kết hợp với việc nâng cao dần kỹ năng nghe,
nói, đọc, viết trong văn hoá giao tiếp cho học sinh”
* Dạy học theo hướng tích cực đã được thử nghiệm từ năm 1993 và
được giới thiệu cụ thể qua các cuốn sách “Một số vấn đề về phương pháp
giáo dục” (Nguyễn Kỳ và Dương Xuân Nghiên, Vụ giáo viên, H 1993);
“Phương pháp giáo dục tích cực” (Nguyễn Kỳ, NXB Giáo dục, H 1994);
Cuốn “Phương pháp giáo dục lấy học sinh làm trung tâm” (Nguyễn Kỳ chủ
biên - NXB Giáo dục, H 1995) có thể xem là công trình lý luận khá đầy đủ về
phương pháp dạy học tích cực đang được nhiều giáo viên quan tâm Bên cạnh
đó còn có rất nhiều các bài viết đăng trên các báo và tạp chí cũng đề cập đến
phương pháp này như: “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” (GS Trần Bá Hoành - Nghiên cứu giáo dục, 1/1994); “Bàn về phương pháp giáo dục tích cực” (PGS Phạm Viết Vượng - Nghiên cứu giáo dục, 10/1995); “Phương pháp tích cực bàn về học và nghiên cứu khoa học” (GS-VS Nguyễn Cảnh
Toàn - Nghiên cứu giáo dục, 9/1996)…
Vấn đề mà các công trình về dạy - học tích cực luôn luôn quan tâm là dùng các phương pháp dạy học đa dạng, kiến thức phải được trình bày trong dạng động, nghĩa là giáo viên phải tổ chức cho học sinh hoạt động, dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh tri thức bằng chính hoạt động của chúng Bên cạnh đó, phải có hệ thống câu hỏi phong phú (hệ thống câu hỏi phát hiện, câu hỏi mở rộng, câu hỏi tổng hợp nhận xét đánh giá, câu hỏi nêu vấn đề, câu hỏi gợi mở, câu hỏi liên tưởng sáng tạo…) nhằm phát huy cao nhất khả năng tự chiếm lĩnh tri thức của học sinh
Cho đến nay, mặc dù vẫn còn những ý kiến khác biệt nhau, các nhà khoa học và quản lý giáo dục đều khá nhất trí là cần đổi mới mô hình dạy học thụ động đang chiếm ưu thế trong nhà trường hiện nay và đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của chủ thể dạy và học
Các tài liệu trên đã đặt cơ sở lý luận cho việc dạy học theo hướng tích hợp, tích cực Đề tài của chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, tổng hợp những vấn
đề lý thuyết thi pháp ca dao, về tích hợp, về tích cực làm cơ sở cho việc khảo sát thực tế, để tìm ra những thành công và hạn chế trong dạy - học ca dao theo hướng tích hợp, tích cực Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp phù hợp
với lý luận và thực tế, đồng thời thiết kế chùm “Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa”, “Ca dao hài hước” ở lớp 10 theo hướng tích hợp, tích
Trang 9cực để dạy thể nghiệm nhằm rút ra những kết luận khoa học cần thiết và hiệu
quả sư phạm cho những thiết kế đó
Tuy nhiên, dạy - học tác phẩm văn chương đặc biệt là ca dao vừa theo
nguyên tắc tích hợp, vừa đảm bảo đặc trưng thể loại và phát huy được tính
tích cực, sáng tạo ở học sinh là vấn đề mới và khó, nên trong quá trình thực
hiện đề tài, chúng tôi mới đưa ra được sự định hướng nội dung và biện pháp
bước đầu để thực hiện quan điểm tích hợp, tích cực trong dạy học ca dao ở
lớp 10 mà thôi
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm một phương án tối ưu cho việc vận dụng quan điểm tích hợp và
tích cực trong dạy học ca dao ở lớp 10
4 Đối tượng nghiên cứu
Cách dạy học ca dao trong SGK Ngữ văn 10 theo yêu cầu mới của
chương trình vừa được thực hiện Cụ thể là hoạt động của giáo viên và học
sinh trong giờ học các chùm ca dao ở lớp 10 THPT theo hướng tích hợp và
tích cực
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
a Nghiên cứu trên bình diện lý thuyết
Tìm hiểu khái niệm ca dao, đặc điểm thi pháp ca dao, cách tiếp cận ca
dao theo thi pháp thể loại Tìm hiểu lí thuyết về tích hợp, tích cực trong dạy
học Ngữ văn
b Tìm hiểu thực tiễn dạy học ca dao trong SGK Ngữ văn 10 trong
những năm đầu thực hiện chương trình và SGK mới
c Đề xuất một phương án có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả giờ
học theo hướng tích hợp, tích cực (thể hiện qua thiết kế dạy học và tổ chức
thể nghiệm sư phạm)
6 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp nghiên cứu tổng hợp lý luận
Tổng hợp các bài viết, các công trình nghiên cứu về ca dao, về phương pháp dạy học ca dao trong SGK Ngữ văn 10
Thiết kế một số giáo án ca dao trong chương trình và dạy thể nghiệm
7 Giả thuyết của luận văn
Nếu đổi mới dạy học những chùm ca dao trong Ngữ văn 10 theo hướng tích hợp, tích cực có cơ sở lý luận và thực tiễn thì hiệu quả, chất lượng dạy học ca dao sẽ được nâng cao
8 Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và thư mục tham khảo, luận văn
của chúng tôi gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc dạy - học ca dao theo hướng tích
Trang 10Phần nội dung
Ch-¬ng 1
C¬ së lý luËn cña viÖc d¹y - häc ca dao
theo H¦íng TÝch hîp, tÝch cùc
1.1 Dạy học ca dao theo cách tiếp cận từ đặc trưng của thể loại ca dao
1.1.1 Vận dụng thi pháp ca dao vào dạy học ca dao
Đề tài này phải làm sáng tỏ hai vấn đề:
- Dạy ca dao theo đặc trưng thể loại là dạy những gì?
- Dạy ca dao theo nguyên tắc tích hợp và tích cực như thế nào?
Để làm sáng tỏ được hai vấn đề trên, trước hết phải xác định rõ cơ sở lý
luận và thực tiễn của nó Về cơ sở lý luận, chúng tôi dựa vào những thành tựu
nghiên cứu về thi pháp của các nhà nghiên cứu văn học dân gian (Hoàng Tiến
Tựu, Nguyễn Xuân Kính…) và những tài liệu hướng dẫn thực thi chương
trình và SGK Ngữ văn vừa được đổi mới Về cơ sở thực tiễn, chúng tôi tiến
hành khảo sát thực tế dạy học ca dao theo SGK Ngữ văn 10 vừa mới được
thực thi năm đầu
Những điều trình bày dưới đây về thi pháp ca dao lấy từ cuốn “Thi
pháp ca dao” của GS - TS Nguyễn Xuân Kính và được lấy làm một trong
những cơ sở lý thuyết cho luận văn này
* Về ngôn ngữ trong ca dao
Dạy học ca dao theo đặc trưng thể loại là bắt đầu từ việc giúp học sinh
nhận biết và cảm thụ được vẻ đẹp của ngôn ngữ ca dao Từ đó mà biết vận
dụng vào việc làm văn biểu cảm trong tạo lập văn bản hoặc dùng ca dao làm
cứ liệu để soi tỏ cho đặc điểm của Tiếng Việt (tích hợp với hai phân môn Làm
văn và Tiếng Việt)
Ca dao kết tinh từ lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng nhân dân
Ngôn ngữ ca dao là thứ ngôn ngữ nghệ thuật giản dị, đẹp đẽ trong sáng,
chính xác vì đã được chắt lọc qua bao thế hệ M.Gorki khẳng định vẻ đẹp của ngôn ngữ ca dao là “cái đẹp trong sự giản dị”
Tình yêu mộc mạc của người bình dân được diễn tả chân thành, đôi khi thẳng băng:
Tiện đây anh nắm cổ tay Anh hỏi câu này có lấy anh không?
Hoặc nỗi yêu thương kín đáo:
Thò tay mà bứt ngọn ngò Thương em đứt ruột giả đò ngó lơ
Ngôn ngữ ca dao mang vẻ đẹp giản dị nhưng cũng rất sinh động, giàu sức biểu cảm Điều đó được thể hiện trong việc dùng một số lượng
phong phú và chính xác những động, tính từ, đại từ, đặc biệt là các từ láy gợi hình, biểu cảm, các biện pháp tu từ so sánh, ẩn dụ…
Đôi ta bắt gặp nhau đây Như con bò gầy gặp bãi cỏ non
Có những câu ca dao có thể trở thành mẫu mực trong việc dùng từ ngữ,
và về mặt gợi cảm, gợi hình, nó không thua bất cứ một câu thơ nào Điều đó chứng tỏ các tác giả dân gian cùng rất chú ý việc trau chuốt lời thơ trong ca dao Câu ca dao này in dấu ấn của văn học bác học:
Đèn tà thấp thoáng bóng trăng
Ai đem người ngọc thung thăng chốn này
Không phải câu ca dao này gợi cảm ở những từ như “đèn tà”, “bóng trăng”, “người ngọc”, mà chính từ láy “thung thăng” đã làm hiển hiện hình
Trang 11bóng người con gái thanh thản bước đi trong đêm trăng dưới cái nhìn say
đắm, ngưỡng mộ của chàng trai Có thể thấy nhận xét này về từ láy để phân
tích ca dao: “Mỗi từ láy là một nốt nhạc về âm thanh chứa đựng trong mình
một “bức tranh” cụ thể của các giác quan… kèm theo những ấn tượng chủ
quan, những cách đánh giá, những thái độ của người nói với hiện tượng đủ
sức thông qua các giác quan hướng nội và hướng ngoại của người nghe mà
tác động mạnh mẽ đến họ Cho nên các từ láy là các công cụ tạo hình rất đắc
lực của văn học, nhất là thơ ca”
Trong ca dao các đại từ nhân sinh và đại từ phiếm chỉ được sử
dụng với mật độ cao, làm rõ thêm sắc thái dân gian riêng biệt của ca dao
Đại từ nhân xưng bộc lộ rõ ràng chủ thể trữ tình của bài ca dao Đó có thể là
một chàng trai cô gái, hoặc có thể là lời ca chung của cả hai người: chàng -
nàng, thiếp - chàng, cô mình, anh - em, đôi ta…
“Chàng đi thiếp cũng theo cùng Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp mang”
“Đôi ta như lửa mới nhen Như trăng mới mọc như đèn mới khêu”
“Đường xa thì thật là xa Mượn mình làm mối cho ta một người Một người mười tám đôi mươi Một người vừa đẹp vừa tươi như mình”
Các đại từ phiếm chỉ được sử dụng đa dạng: ai, cô ấy… Một đại từ “ai”
vừa xa xôi vừa tình tứ, được sử dụng nhiều lần Có khi là lời đong đưa:
Ai đi đâu đấy hỡi ai Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm
Có khi là một lời hờn trách kín đáo:
Khi đi bóng hãy còn đài Khi về bóng đã nghe ai bóng tròn
Một từ “cô ấy” đầy ẩn ý:
Áo anh sứt chỉ đã lâu Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng
Ngoài ra ca dao còn sử dụng một số yếu tố thuộc phương thức tự sự, miêu tả… trong tổ chức ngôn ngữ của mình Việc biểu lộ vẻ đẹp nhân cách của con người thông qua việc miêu tả đặc điểm bông sen trong đầm:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Là xanh bông trắng lại chen nhị vàng…
Hoặc sự kể lể, trần thuật chỉ là cái cớ để nhân vật trữ tình giãi bày tâm trạng khó nói nhất:
Ơi cô gánh nước quang mây Cho anh một gáo tưới cây ngô đồng Cây ngô đồng không trồng mà mọc
Ngọn ngô đồng cành dọc cành ngang Quả dưa gang ngoài xanh trong trắng Quả mướp đắng ngoài trắng trong vàng
Từ ngày anh gặp mặt nàng Lòng càng ngao ngán dạ càng ngẩn ngơ
Như vậy ngôn ngữ rất quan trọng trong việc thể hiện nội dung văn bản,
nó là yếu tố thứ nhất, là chất liệu đầu tiên của mọi tác phẩm nghệ thuật Ngôn ngữ ca dao không giống như ngôn ngữ trong văn học viết, nó vừa mang sắc thái dân gian gắn với cách cảm, cách nghĩ của cộng đồng, vừa gắn với những
Trang 12cảm xúc cá nhân trong các tình huống cụ thể, cái tôi trữ tình dân gian là cái
tôi phiếm chỉ, cái tôi phổ biến Cho nên, nói như Mai Ngọc Chừ “Ngôn ngữ
ca dao Việt Nam đã trở nên những viên ngọc quý óng ánh trong kho tàng văn
học dân gian của dân tộc Có thể nói ngôn ngữ ca dao đã kế tục phát huy
những đặc điểm ngôn từ tuyệt vời của Tiếng Việt” [4; tr 24 - 28]
* Về kết cấu trong ca dao
Ca dao có kết cấu rất đặc trưng, vì vậy dạy học ca dao từ thi pháp là
giúp học sinh nắm được những cách kết cấu của ca dao Từ đó vận dụng nó
vào nói và viết những lúc cần thiết (tích hợp)
Kết cấu của văn bản ca dao rất đa dạng, dưới đây là những đặc điểm
chính trong kết cấu của nó
1 Lối đối đáp là đặc điểm kết cấu in đậm dấu ấn trong ca dao
Thực tế không hẳn mọi bài ca dao đều chia ra rõ ràng lời của hai nhân vật trữ
tình cùng tham gia đối đáp Có những bài ca dao chỉ kết cấu theo một vế Lối
đối đáp trong ca dao thể hiện bản thân nhân vật trữ tình muốn được bộc lộ,
giãi bày tâm trạng Đó là lời trực tiếp giãi bày của hai người:
Dầu mà không lấy được em Anh về đóng cửa cài rèm đi tu
Tu mô cho em tu cùng May ra thành phật thờ chung một chùa
Có khi là lời tha thiết yêu thương tôi nghiệp vật trữ tình muốn bộc lộ:
Chàng ơi phụ thiếp làm chi Thiếp như cơm nguộn đỡ khi đói lòng
Cũng có khi đó là lời giãi bày với chính lòng mình, biểu hiện nỗi đau
đớn xót xa không thể chia sẻ, thành một hành động đến ngây thơ, bế tắc:
Trèo lên cây khế nửa ngày
Ai làm chua xót lòng này khế ơi
2 Một đặc điểm khá quan trọng trong kết cấu ca dao là việc sử dụng lặp lại mô típ dân gian, các công thức mở đầu có tính khuôn mẫu của
cùng một cách nghĩ bộc trực, gần gũi với cuộc sống hàng ngày Đây chính là một biểu hiện của tư duy cộng đồng làm nên sắc thái riêng biệt của ca dao:
yêu nhau, trèo lên, thân em, ước gì, chiều chiều… tạo sự nảy sinh vô hạn các
dị bản, điều quan trọng hơn là chúng “thể hiện lối nói, lối nghĩ, lối cảm của quần chúng nhân dân” Có đặt văn bản ca dào vào hệ thống mô típ đó mới thấy được hết cái độc đáo, đặc sắc dân gian của ca dao
3 Nhìn khái quát, có thể thấy mấy dạng kết cấu cơ bản như sau: Thứ nhất: nhân vật trữ tình trực tiếp bộ lộ giãi bày tình cảm; thứ hai: nhân vật thường bóng gió xa xôi lấy thiên nhiên làm cớ để bộc lộ tâm trạng; thứ ba:
sử dụng các ý, các hình ảnh lặp lại nhiều lần khắc sâu vào tâm trạng trữ tình,
đó là kết cấu trùng điệp rất quen thuộc phổ biến trong ca dao
Như vậy, dựa vào kết cấu ca dao ta có thể xác định được nhân vật trữ tình cùng với nghệ thuật tổ chức, trình bày hệ thống cảm xúc của nó và nét cảm hứng dân gian được thể hiện trong các bài ca dao ấy
Từ những kiến thức này, có thể giúp học sinh biết vận dụng vào việc tạo lập các văn bản biểu cảm (tích hợp với Làm văn)
* Về thể thơ trong ca dao
Dạy học ca dao từ thi pháp thể loại còn phải làm cho học sinh nắm được đặc điểm của thể thơ lục bát trong ca dao cùng với các thể thơ khác được các tác giả dân gian sử dụng để bộc lộ tình cảm trong ca dao
Văn biểu cảm luôn cần đến âm vang của nhạc điệu ngôn từ và dạng thức văn bản biểu cảm thường là lời nói được tổ chức trong một hệ thống âm thanh, vần luật mang tính cách điệu gọi là thể thơ
Trang 13Đa số ca dao được sáng tác theo thÓ lục bát với đặc trưng là nhịp đôi
đều đặn, thuận tai, vần bằng (chủ yếu) êm dịu, linh hoạt về thanh điệu, biến
hoá về âm điệu, có sức lôi cuốn tự nhiên lại có thể kéo dài thoải mái nên dược
sử dụng rộng rãi Vì thế, thể lục bát phù hợp với việc phô diễn cảm xúc tình
cảm của con người, nhất là đối với người bình dân xưa Chính do vần, thanh,
nhịp ở thể thơ mà tạo thành nhạc tính Đó là nhạc ngân nga, hoà điệu vào
nhau làm cho câu ca dao bay bổng, thanh thoát, gây ấn tượng Bởi thế, bài ca
dao thường có thể hát lên theo cung bậc xúc cảm Khi hát người hát truyền
tình cảm vào đó, nhờ vậy mà những câu ca dao trở lên du dương, có khả năng
lây lan cảm xúc Trong thơ, thể lục bát cũng được sử dụng phổ biến và trở
thành thể thơ độc đáo của dân tộc Việt Nam Tuy nhiên lục bát trong ca dao
luôn có những nét riêng, vừa mang hồn thơ dân tộc, vừa mang sắc thái dân
gian nhất
Theo thống kê của Nguyễn Xuân Kính, trong tổng số 973 lời ca dao
sáng tác theo thể lục bát, số lời gồm một cặp lục bát là 620 (63%), số lời hai
cặp là 242 (24%), số lời ba cặp là 70 (7%), bốn cặp là 21 (2%), số lời năm cặp
là 12 (chiếm hơn 1%), gộp các lời từ sáu cặp trở lên là 8 (chiếm gần 1%) Lời
ca dao có vẻ rời rạc, nhưng thực ra lại rất cô đúc Hơn nữa mỗi bài ca dao chỉ
cần khắc sâu một nét tâm trạng của con người Một tâm trạng băn khoăn với
tình cảm bất ngờ không rõ lý do:
Gió sao gió mát sau lưng
Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này
Và đây là nỗi nhớ không thể nguôn ngoai:
Nhớ ai như nhớ thuốc lào
Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên
Lục bát trong ca dao không cố định số chữ trong một câu, tức là có
khả năng biến thể Khi thay đổi số chữ trong một dòng dẫn đến nhịp thơ thay
đổi, ảnh hưởng đến nhạc điệu, âm điệu chung của bài ca Vì thế, chỉ khi nào
cần thể hiện những tình ý sâu sắc, tác giả dân gian mới thể hiện biến thể lục bát, đây chính là nét đặc biệt rất dân gian của ca dao, khác biệt với lục bát của văn học viết
“Có yêu nhau thì yêu cho chắc Chi bằng trúc trắc thì trục trặc cho luôn”
“Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo Thất bát sông cũng lội tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua”
Ca dao có hiện tượng gieo vần ở tiếng thứ tư thay vì tiếng thứ sáu như thường lệ để nhấn mạnh nội dung cần nhận thức ngay và làm thay đổi thái độ, giọng điệu của chủ thể trữ tình:
“Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”
“Ngắn tay với chẳng tới kèo Cha mẹ anh nghèo chẳng cưới được em”
Cách gieo vần như thế tạo cho nhịp của câu tám là 4/4 tương xứng, diễn
tả được nỗi khó khăn vất vả và dự cảm không lành về tương lai của những thân phận nhỏ bé trong xã hội
Ngoài ra, ca dao ít sử dụng hình thức đối Thông thường thơ lục bát thường sử dụng hình thức đối, nhưng ca dao thì không Nếu có dùng cũng chỉ dùng đối cân, kỹ thuật đối không đa dạng Chẳng hạn:
Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Hoặc có thể là đối ngẫu tâm lý:
Bướm vàng đậu trái mù u Lấy chồng càng sớm, lời ru càng buồn
Trang 14Dùng thể lục bát là chính nhưng ca dao còn sử dụng rất nhiều thể thơ
khác nhau: song thất lục bát, thể tự do, thể vãn…Mỗi thể loại này đều có
những nét khác biệt nhất định, phù hợp với các tình huống, tâm trạng hoặc tuỳ
theo các làn điệu Điều đó chứng tỏ các tác giả dân gian không chịu khuôn
các sáng tác của mình vào các khuôn khổ có sẵn, do đó sáng tác dân gian có
phần hồn nhiên mộc mạc hơn thơ Đây có thể xem như “một dấu hiệu của sự
thống nhất về phong cách ca dao tạo nên sắc thái dân gian đậm dà của nó”
*Về không gian, thời gian nghệ thuật trong ca dao
Dạy học ca dao từ thi pháp thể loại là giúp học sinh hiểu được hai khái
niệm: “không gian nghệ thuật”, “thời gian nghệ thuật” và các khái niệm khác
có liên quan đến như “thời gian diễn xướng”, “thời gian mang tính ước lệ”,
“không gian tâm lý”, “không gian tượng trưng ước lệ”…
Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật là sự thể hiện thực
khách quan được phản ánh vào trong tác phẩm tạo nên thế giới nghệ thuật cho
tác phẩm ấy
Thời gian trong ca dao là thời gian hiện tại, thời gian diễn xướng
Tính chất độc đáo trong cách thể hiện thời gian ở ca dao là: tác giả dân gian,
nhân vật trữ tình và người diễn xướng cùng nhau nói lên một điều gì đó Vì
thế, đó thường là thời gian tâm lý và luôn ở thì hiện tại Thời gian nghệ thuật
trong ca dao được miêu tả bằng những công thức đối lập: quá khứ - hiện tại,
hiện tại - quá khứ, hiện tại - tương lai… Những công thức đối lập này thường
diễn tả những biến đổi, những nghịch cảnh, những điều vô lý…
“Ngày đi trúc chửa mọc măng Ngày về trúc đã cao bằng ngọn tre”
“Khi đi bóng hãy còn dài Khi về bóng đã nghe ai bóng tròn”
Ở đây, không còn thời gian hiện thực mà nó đã quyện chặt với tâm lý con người
Thời gian trong ca dao được miêu tả qua các công thức mang tính chất
ước lệ: chiều chiều, đêm qua, hôm qua…
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau…”
“Chiều chiều ra đứng bờ sông…”
“Đêm qua ra đứng bờ ao…”
“Đêm qua em những lo phiền…”
“Hôm qua tát nước đầu đình…”
Mỗi công thức gắn với một tâm trạng nhất định, chẳng hạn “chiều chiều” thường diễn rả nỗi nhớ thương, buồn da diết của người con xa quê khi nhớ về gia đình, quê hương; thời gian “đêm đêm” thường bộc lộ tâm trạng nhớ thương lo âu, bồn chồn… của nhân vật trữ tình khi nhớ người yêu… Thời gian nghệ thuật có mối quan hệ chặt chẽ với không gian nghệ thuật Ít có trường hợp thời gian đi riêng một mình mà không kèm theo nó một địa điểm, một không gian nào đó
Không gian trong ca dao được miêu tả rất sinh động Đó có thể là không gian cụ thể, nơi coi người sinh sống, hò hẹn, gặp gỡ… thường là
những không gian bình dị, gắn với đời sống dân dã, với làng quê người Việt như: bờ ao, ngõ sau, sân đình…, những không gian cộng đồng, cũng có thể là không gian bao quát như trời, đất, non sông…
“Từ ngày gặp mặt giữa đàng Thiếp quyết thương chàng cha mẹ nào hay”
“Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”
“Ai đi muôn dặm non sông
Để ai chứa chất sầu đong vơi đầy”
Trang 15Không gian trong ca dao chủ yếu là không gian tâm lý: không gian
được biến đổi theo tâm trạng con người Nỗi vời trông xa cách làm cho cảnh
vật thêm mênh mang, nước và bèo bỗng trở thành hình ảnh của phiêu dạt
“Người về em những trông theo Trông nước nước chảy trông bèo bèo trôi”
Nhiều khi, đó là những không gian có tính tượng trưng, ước lệ: như
không gian ghềnh thác biểu tượng cho những khó khăn, thách thức cần vượt
qua, không gian với những hình ảnh bến - thuyền thường gắn với sự chờ đợi,
thề hẹn…
“Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”
“Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo Thất bát sông cũng lội tứ cửu tam thập lục đèo cùng qua”
Có thể dẫn ra đây nhận xét của tác giả Trần Đức Ngôn: “Ca dao xưa có
tình và có cảnh, cảnh tình gắn bó với nhau một cách mật thiết, cảnh sinh tình,
tác giả mượn cảnh để nói lên nội tâm của mình, do đó, ca dao xưa có sức
truyền cảm rất mạnh mẽ và có sức sống mãi trong lòng nhân dân”
(Văn hoá dân gian, những phương pháp nghiên cứu, TC VHDG số 3, 1986)
Như vậy, thời gian, không gian nghệ thuật trong ca dao có những đặc
điểm khác nhau với thi pháp văn học viết, đồng thời cũng có những khác biệt
với các văn bản tự sự dân gian như cổ tích, truyền thuyết… Vì thế, khi tìm
hiểu ca dao the đặc trưng văn bản biểu cảm dân gian cần tìm hiểu, nắm vững
những nét thi pháp rất độc đáo, thú vị và riêng biệt này
* Về biểu tượng trong ca dao
Dạy học ca dao từ thi pháp thể loại theo hướng tích hợp là phải làm cho học sinh hiểu được khái niệm “biểu tượng” và các biểu tượng có trong ca dao cùng với ý nghĩa của các biểu tượng đó
Biểu tượng là hình ảnh cảm tính về hiện tượng khách quan thể hiện quan niệm thẩm mỹ, tư tưởng của từng tác giả, từng thời đại, từng dân tộc, từng khu vực cư trú
Trong ca dao, ẩn dụ là thủ pháp nghệ thuật có khả năng tạo sinh các biểu tượng bởi các hình ảnh ẩn dụ lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ mang ý nghĩa
khái quát, ví dụ: trúc, mai, thuyền, bến, cò, vạc…
Tuỳ cùng sử dụng các biểu tượng trên cơ sở hiện thực khách quan nhưng ý nghĩa của nhiều biểu tượng trong ca dao không giống các biểu tượng trong thơ, đặc biệt là thơ trung đại, bởi sự chi phối của tư duy cộng đồng và
cảm hứng dân gian Chẳng hạn, với biểu tượng trúc, mai văn học trung đại thể
hiện tính chất, phẩm cách người quân tử còn trong ca dao, nó là biểu tượng của tuổi trẻ, của tình yêu lứa đôi…
“Hôm qua sum họp trúc mai Tình chung một khắc nghĩa dài trăm năm”
Nếu rùa, hạc trong văn học trung đại thường để chỉ sự vững chãi,
trường tồn của vương triều và sự cao quý, thanh tạo của các bậc hiền nhân quân tử thì trong ca dao lại là biểu tượng cho thân phận nhỏ bé đáng thương của kiếp người:
“Thương thay thân phận con rùa Trên đình đội hạc dưới chùa đội bia”
“Thương thay hạc lánh đường mây Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi”
Trang 16Ngoài ra, ca dao còn sử dụng cùng một biểu tượng nhưng mang nhiều ý
nghĩa khác nhau trong mỗi hoaà cảnh cụ thể Chẳng hạn như biểu tượng con
cò, khi thì nó biểu tượng cho nỗi vất vả và lận đận của người lao động,
thường gắn với cách nói như thân cò:
“Nước non lận đận một mình Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay”
“Con cò mà đi ăn đêm…
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao…”
Có khi con cò lại gắn với những oan ức không giải toả được:
“Cái cò cái vạc cái nông Sao mày dẫm lúa nhà ông hỡi cò”
Có khi lại gắn với những vẻ đẹp bay bổng:
“Con cò bay lả bay la…”
Như vậy, việc sử dụng biểu tượng giúp biểu đạt hàm súc nội dung ca
dao, vừa mang tính ước lệ giống như đặc điểm thi pháp văn học trung đại vừa
thân thuộc, gần gũi với tâm hồn nhân dân lao động Vì đã trở thành những mô
típ quen thuộc, thành những ký ức tư tưởng thẩm mỹ dân gian, cho nên hễ nói
lên một biểu tượng nào trong ca dao, ta có thể dễ dàng cảm nhận được
Tóm lại, hình thức biểu hiện trong văn bản ca dao trữ tình đã làm nổi
bật nội dung biểu cảm của nó Thực tế khi nhận diện văn bản ca dao theo
phương thức biểu cảm, ta phải đặt các yếu tố thuộc hình thức biểu hiện trên
vào trong cấu trúc văn bản ca dao Giữa các bản ca dao có sự khác nhau về
mức độ sử dụng các yếu tố đó, do đó cần có cách khai thác, phân tích phù
hợp Do vậy, khi giảng dạy ca dao, người giáo viên phải nắm được các đặc
điểm thi pháp riêng, từ đó tiếp cận văn bản ca dao, giúp học sinh chiếm lĩnh
được những vẻ đẹp đặc thù - vẻ đẹp của văn bản biểu cảm dân gian
1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy - học ca dao
* Cách tiếp cận ca dao
Luận án tiến sỹ của Nguyễn Xuân Lạc “Quan điểm tiếp cận và phương pháp dạy học ca dao ở PTTH” (1996) Ở chương II, mục 2.2, đã trình bày khá
rõ phương pháp dạy học ca dao ở trường PTTH như sau:
a Định hướng dạy học sinh tích hợp cả ba mặt nghệ thuật ngôn từ - bản sắc folklore - đặc trưng thi pháp trong quá trình chiếm lĩnh một tác phẩm ca dao: + Cơ sở lý luận:
Dạy học ca dao là dạy một loại hình nghệ thuật đặc thù: vừa là nghệ thuật ngôn từ như văn học viết, lại mang bản sắc chung của một sáng tác folklore với những nét riêng về thi pháp Bất cứ một bài ca dao nào - dù chỉ gồm một cặp lục bát cũng là sự tổng hoà của ba mặt nói trên Bởi vậy, trong quá trình hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh một tác phẩm ca dao, phải đảm bảo
sự thống nhất hài hoà giữa ba mặt nghệ thuật đó, không bỏ sót một mặt nào + Cách thức tiến hành:
Lưu ý học sinh xác định mối quan hệ đúng đắn giữa ba mặt nghệ thuật của một tác phẩm ca dao khi tiếp cận Trong ba mặt này thì nghệ thuật ngôn
từ là cái bao quát chung (vì ca dao là nghệ thuật ngữ văn dân gian); sắc thái là folklore điều quan trọng phải lưu ý (để phân biệt ca dao là sáng tác dân gian với những sáng tác của văn học viết); nhưng yếu tố quyết định nhất vẫn là thi pháp ca dao, vì đây mới là căn cứ để tìm ra những vẻ đẹp đích thực và riêng biệt của ca dao
- Hướng học sinh tìm ra những điểm hội tụ ba mặt nghệ thuật ấy để tìm hiểu, phân tích, nhằm nêu lên vẻ đẹp bài ca dao và bộc lộ chủ đề của tác phẩm Điểm hội tụ ấy thường nằm trong những chi tiết quan trọng của tác phẩm Giáo viên phải hướng dẫn học sinh lựa chọn đúng những chi tiết quan trọng để khai thác, phân tích, bằng cách gợi mở trí tưởng tượng, óc liên tưởng của học sinh để các em cảm nhận được các mặt nghệ thuật đó
Trang 17Tóm lại ca dao có ba mặt nghệ thuật, thì khi tiếp cận phải chú ý cả ba
mặt nghệ thuật đó dưới cái nhìn tích hợp, nhằm đảm bảo sự thống nhất hài
hoà giữa ba mặt trong quá trình tiếp cận để chiếm lĩnh tốt bài ca dao
b Hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh từng bài ca dao trong hệ thống chuỗi
của nó:
+ Cơ sở lý luận:
Về đặc trưng bản chất, ca dao cũng như các thể loại văn học dân gian
khác, là loại tác phẩm chuỗi (vì văn học dân gian là sáng tác tập thể của người
bình dân mang tư duy cộng đồng và cảm hứng dân gian) Vì vậy, khi dạy ca dao
không thể chỉ dạy một cách cô lập trên văn bản ngôn từ, trên bản thân bài ca dao
mà phải dạy ca dao trên quan điểm hệ thống, bằng phương pháp hệ thống
Thực ra không chỉ trong nghiên cứu và giảng dạy ca dao mới dùng
phương pháp hệ thống mà phương pháp hệ thống còn được dùng phổ biến
trong nhiều ngành khoa học - đặc biệt là trong lĩnh vực văn hóa dân gian Bất
cứ một cá thể nào, khi được đặt vào hệ thống của nó thì sự hiện diện lại càng
dễ hơn, rõ hơn, vì nó được cả hệ thống soi sáng, lý giải, và có thể điều chỉnh
nhận thức của người đọc về chính cá thể đó Do đó, cảm nhận ca dao cũng
như phải cảm nhận trong hệ thống chuỗi của nó thì mới thấy được lời hay, ý
đẹp, mới nhận ra cái màu sắc long lanh của từng hạt ngọc trong chuỗi hạt
ngọc ca dao đó Chính vì thế, phương pháp hệ thống trở thành phương pháp
đặc trưng trong việc nghiên cứu giảng dạy văn học dân gian nói chung và
giảng dạy ca dao nói riêng ở trường phổ thông
+ Cách thức tiến hành:
Khi dạy ca dao theo phương pháp hệ thống, có nghĩa là đặt bài ca dao
đó vào những hệ thống sau đây để phân tích, đánh giá: hệ thống dị bản, hệ
thống mô típ và hệ thống văn hoá dân gian
Chúng ta sẽ hướng dẫn học sinh tìm hiểu, tiếp cận, chiếm lĩnh bài ca dao theo các cấp độ tương quan với các hệ thống đó:
.Cấp độ tác phẩm - Hệ thống dị bản
Khi phân tích một bài ca dao, vấn đề đầu tiên là phải tìm ra được một
hệ thống dị bản của bài ca dao, sau đó mới đối chiếu so sánh để định hướng thẩm mỹ và tiến hành khai thác, phân tích bài ca theo định hướng đó Cả hai khâu này đều phải có sự hướng dẫn của giáo viên để học sinh có thể tự tìm hiểu và chiếm lĩnh bài ca dao theo phương pháp hệ thống (khâu tìm hệ thống
dị bản của bài ca dao có thể tiến hành ở nhà, đến lớp giáo viên bổ sung thêm) Điều quan trọng là phải hình thành cho học sinh một ý thức, một thói quen tiếp cận và chiếm lĩnh bài ca dao theo hệ thống dị bản của nó
Cấp độ tác phẩm - Hệ thống mô típ
Tư duy nghệ thuật dân gian đã tạo ra một hệ thống mô típ trong ca dao, điều này trong thơ văn học viết không có Vì vậy phải đặt tác phẩm cần tiếp cận trong hệ thống mô típ thì mới thấy hết giá trị mỹ học và hàm lượng ngữ nghĩa của nó, từ đó hiểu đúng, hiểu sâu tác phẩm Nếu tách nó ra khỏi hệ thống thì sẽ hiểu phiến diện, thậm chí còn sai lệch
Trong ca dao có nhiều mô típ trở thành quen thuộc với chúng ta như: cây đa, bến nước, con thuyền, mái đình: mận, đào, trúc, mai, con cò, con bống… Có những mô típ xuất hiện với một số lượng lớn như mô típ “con thuyền”, mô típ “chiều chiều” Khi giảng dạy, định chọn một chi tiết, một hình ảnh nào đó trong bài ca dao để phân tích, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm ra hình ảnh ấy trong bài ca dao, rồi đặt hình ảnh vào hệ thống mô típ
đó mà khảo sát, tìm hiểu Bản thân hệ thống mô típ đó sẽ giúp các em hiểu được một cách dễ dàng hàm lượng ngữ nghĩa và ghía trị mỹ học của nó
- Cấp độ tác phẩm - Hệ thống văn hoá dân gian
Trang 18Văn hoá dân gian là một hệ thống lớn bao gồm nhiều thành tố gắn bó
một cách nguyên hợp và hữu cơ với nhau, trong đó nổi lên ba thành tố chủ
yếu là: ngữ văn dân gian, biểu diễn dân gian và tạo hình dân gian Tiếp cận ca
dao trong hệ thống văn hoá dân gian chính là đặt ca dao trong mối quan hệ
với các thành tố đó để xem xét, bình giá Nói cách khác, phương pháp này đòi
hỏi phải tiếp cận ca dao trong đời sống thực của nó là môi trường sinh hoạt
văn hoá dân gian, đặc biệt là môi trường diễn xướng (chứ không phải chỉ tiếp
cận trên văn bản), đây là những yếu tố nằm ngoài văn bản ca dao
Tóm lại, phương pháp hệ thống là phương pháp đặc trưng trong tiếp
cận cũng như giảng dạy ca dao Giáo viên tổ chức, khơi gợi, hướng dẫn để
học sinh tự tìm ra các hệ thống nói trên, rồi đặt bài ca dao vào các hệ thống đó
mà tiếp cận và chiếm lĩnh nó
c Hướng dẫn hoạt động kết hợp khai thác cả hai mặt văn bản ngôn từ
và các yếu tố ngoài văn bản bài ca dao, chú ý tái hiện không khí đồng quê,
khơi gợi tâm thức tiếp nhận folklore để các em chiếm lĩnh tốt tác phẩm
- Cơ sở lý luận:
Ca dao là một tác phẩm folklore mang đặc trưng nguyên hợp và các
thuộc tính đa chức năng, đa yếu tố Nó tồn tại trên đời sống thực của nó là
môi trường văn hoá dân gian chứ không tồn tại trên trang sách như văn học
viết Vì vậy không thể khai thác trên một mặt duy nhất là văn bản ngôn từ
thực của văn học viết, mà phải khai thác cả những yếu tố nằm ngoài văn bản
của bài ca dao Những yếu tố này sẽ giúp ta soi sáng thêm văn bản ngôn từ và
khám phá ra vẻ đẹp độc đáp folklore nằm trong văn bản đó Có những bài ca
dao có khi yếu tố ngoài văn bản lại là yếu tố quan trọng và quyết định để tìm
ra vẻ đẹp đích thực của tác phẩm giúp ta hiểu đúng và hiểu sâu bài ca dao
Dạy ca dao là dạy một tác phẩm folklore, tức là phải dạy ca dao trong
đời sống thực vốn có của nó trong đời sống dân gian chứ không phải dạy ca
dao trên “văn bản chết” trong sách giáo khoa Vì vậy cái thế giới nghệ thuật của ca dao cổ truyền chỉ có thể thể hiện lên trên văn bản ngôn từ (thường chỉ
có vài câu) trong cái không khí của làng quê xưa Không khí làng quê xưa vừa rất dân dã quen thân lại nên thơ trữ tình đã cho bài ca dao máu thịt của cuộc sống và cái hồn quê dân tộc đậm đà thiêng liêng, khiến cho ngôn ngữ văn tự sống dậy và có hồn, chứa đựng nhiều thông tin thẩm mỹ, nhiều tư tưởng tình cảm sâu sắc
- Cách thức tiến hành:
- Hướng dẫn học sinh kết hợp khai thác cả hai mặt văn bản ngôn từ và các yếu tố ngoài văn bản để chiếm lĩnh một tác phẩm ca dao
Không phải tất cả những gì nằm ngoài văn bản bài ca dao đều là
“những yếu tố nằm ngoài văn bản” để chúng ta khai thác, mà chúng ta chỉ
khai thác những yếu tố nằm ngoaà văn bản có liên quan và phù hợp nhất với văn bản bài ca dao, tức là những yếu tố có quan hệ biện chứng tương hỗ thống nhất với văn bản ngôn từ của tác phẩm Để tìm ra được những yếu tố nằm ngoài văn bản đắt nhất, có giá trị trong việc định hướng thẩm mỹ và khai thác bài ca dao, có thể tiến hành theo các bước sau đây (ứng với các thao tác)
- Thao tác lựa chọn để tìm ra được những yếu tố nằm ngoài văn bản có liên quan và phù hợp nhất với văn bản bài ca dao:
+ Đọc kỹ văn bản bài ca dao, phát hiện ra những chỗ còn ẩn ý, khó hiểu, hoặc có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau Từ những chỗ này mà định hướng để tìm ra những yếu tố ngoài văn bản có thể góp phần lý giải được những chỗ ẩn ý khó hiểu đó
+ Tìm những yếu tố nằm ngoài văn bản bài ca dao và lựa chọn những yếu tố phù hợp nhất, có mối quan hệ biện chứng - tương hỗ - thống nhất với văn bản bài ca dao (có thể là hệ thống dị bản, hệ thống các mô típ, các làn điệu dân ca, môi trường, cách thức diễn xướng, người diễn xướng, phương thức tồn tại, sự vận động trong đời sống dân gian, các chức năng sinh hoạt thực hành xã hội)
Trang 19+ Xác minh lại các yếu tố đó về mặt xuất xứ
- Thao tác kết hợp để định hướng thẩm mỹ và tiến hành khai thác, tìm
hiểu bài ca dao theo định hướng đó:
+ Tìm hiểu sợi dây liên hệ bên trong giữa yếu tố nằm ngoài văn bản với
văn bản ngôn từ bài ca dao
+ Đối chiếu các yếu tố nằm ngoài văn bản với các chi tiết nghệ thuật
trong văn bản ngôn từ để định hướng thẩm mỹ đối với bài ca dao
+ Kết hợp một cách biện chứng, hài hoà giữa các yếu tố nằm ngoài văn
bản với các yếu tố trong văn bản trong quá trình khai thác, tìm hiểu và chiếm
lĩnh bài ca dao
- Tái hiện không khí đồng quê, khơi gợi tâm thức tiếp nhận folklore cho
học sinh trong quá trình chiếm lĩnh một bài ca dao
Mỗi bài ca dao thường có một khung cảnh, một sắc thái riêng biệt Tái
hiện không khí đồng quê tức là tái hiện không khí riêng biệt của bài ca dao ấy,
cần được tiến hành như sau:
+ Giáo viên cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thế giới làng quê
xưa trong ca dao cổ truyền về các mặt: phong cảnh, cách cảm, cách nghĩ, tâm
lý, ngôn ngữ, phong tục tập quán… của người bình dân
+ Để tái hiện không khí đồng quê, khơi gợi tâm thức folklore, giáo viên
phải dùng ngôn ngữ miêu tả hết sức cô đọng, chọn lọc, có hình ảnh, mang
màu sắc biểu cảm (có thể sử dụng các làn điệu dân ca, các phương thức diễn
xướng…) để dựng lại không khí ấy yêu cầu học sinh liên tưởng, tưởng tượng
và dựng lại một cách sinh động như thật không khí đồng quê ấy để lôi cuốn
các em vào thế giới của bài ca dao (thao tác này phải tiến hành vào đầu giờ
học để tạo không khí và duy trì không khí ấy trong suốt giờ học)
+ Ngoài giờ học giáo viên có thể tổ chức cho các em tham gia sinh hoạt hội hè dân gian, sinh hoạt văn hoá, văn nghệ dân gian như: nghe hát dân ca,
dự các cuộc hát đối nam nữ, xem phim ảnh, băng hình về các làn điệu dân ca… để các em hiểu thêm về đời sống thực của ca dao
* Tiến trình giờ dạy ca dao
Để hướng dẫn học sinh cách tiếp cận một bài ca dao, các nhà nghiên cứu văn học dân gian đã đưa ra những mô hình hướng dẫn tiếp cận một bài ca dao như sau:
a PGS Hoàng Tiến Tựu (trong công trình Mấy vấn đề phương pháp
giảng dạy, nghiên cứu văn học dân gian, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1983), đưa
ra tiến trình giờ dạy một bài ca dao gồm 9 bước:
Bước 1: Bài ca dao ra đời trong hoàn cảnh và trường hợp nào? Bước 2: Bài ca dao được lưu hành sớm nhất và nhiều nhất ở vùng nào? Bước 3: Bài ca dao thuộc thể loại nào?
Bước 4: Chủ thể và nhân vật trữ tình của bài ca dao là gì? Hay bài ca
dao là tiếng nói của ai? Người ấy như thế nào?
Bước 5: Đối tượng trữ tình của bài ca dao là gì? Hay bài ca dao là lời
trao đổi, bày tỏ với ai? Người ấy như thế nào?
Bước 6: Nội dung của bài ca dao là gì? Hay bài ca dao nói về những
điều gì?
Bước 7: Chủ đề của bài ca dao là gì? Hay vấn đề chủ yếu của tác giả
bài ca dao muốn nói gì?
Bước 8: Hình thức nghệ thuật của bài ca dao như thế nào? Hay bài ca
dao phô diễn tâm tư, tình cảm bằng những phương pháp, phương tiện và thủ thuật như thế nào?
Bước 9: Bài ca dao còn có mối liên hệ gì đối với cuộc sống và tâm tư,
tình cảm của nhân dân hiện nay và mai sau hay không? Mối liên hệ ấy như thế nào (nếu có)? [30; tr 134 - 135]
Trang 20b PGS Đỗ Bình Trị (đã trình bày quá trình tiếp cận bài ca dao trong
công trình Phân tích tác phẩm văn học dân gian, NXB Giáo dục, Hà Nội,
1995) gồm 7 bước:
Bước 1: Lưu ý về tình hình tư liệu ca dao
Bước 2: Định hướng phân tích nội dung
Bước 3: Xác định chủ thể trữ tình
Bước 4: Đưa bài ca dao vào hệ thống của nó
Bước 5: Tập trung khai thác “trung tâm sáng tạo” của bài ca
Bước 6: Kết hợp phân tích và khơi gợi
Bước 7: Tìm tòi nhiều hướng hiểu, xác định một hướng hiểu hợp tình
hợp lý của bài ca dao
c TS Nguyễn Xuân Lạc (trong công trình Văn học dân gian Việt Nam
trong nhà trường, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998) gồm 4 bước:
Bước 1: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu những yếu tố nằm ngoài văn bản
bài ca dao nhưng lại giúp ích cho việc tìm hiểu bài ca dao
Bước 2: Định hướng thẩm mỹ, hướng dẫn học sinh tìm ra “trung tâm
sáng tạo” hay là tứ của bài ca dao
Bước 3: Từ định hướng thẩm mỹ, hướng dẫn học sinh tiến hành phân
tích bài ca dao trong sự kết hợp giữa những yếu tố trong văn bản và những
yếu tố ngoài văn bản
Bước 4: Tổng kết chung, đánh giá bài ca dao [16; tr.89 - 91]
d Đề xuất tiến trình giờ dạy ca dao của người làm luận văn
Bước 1: Tiếp xúc bước đầu với văn bản bài ca
- Đọc văn bản trong SGK và những dị bản nếu có Xác định những sự
kiện nội dung và hình thức nghệ thuật cơ bản giống nhau giữa chúng
- Giải toả những vướng mắc của học sinh về ngôn từ như từ địa phương, từ cổ, từ ghép, từ láy…
Bước 2: Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của bài ca thông qua chủ đề
và mô típ nổi bật
- Thâm nhập vào chủ thể trữ tình và đối tượng trữ tình trong đó chú ý người mang tâm trạng trữ tình, vai đối đáp chính phụ, hoàn cảnh và đối tượng được nói tới với giọng điệu trữ tình nào? (vui, buồn, hài hước, than trách…)
- Phát hiện những cái hay trong nghệ thuật phô diễn của người bình dân Đặc biệt cần lưu ý trước hết đến mạch cảm xúc trữ tình và các phương tiện tu từ ngôn ngữ như trùng lặp, so sánh, ví von, hoán dụ, ẩn dụ, biểu tượng…
Bước 3: Tìm hiểu ý nghĩa hiện đại của bài ca
- Lời ca và cách cảm nghĩ của người xưa với người ngày nay và mai sau giống nhau và khác nhau chỗ nào
- Cảm nghĩ riêng của từng học sinh khi tiếp thu những giá trị và bài học
về nhân sinh toát lên từ bài ca dao
1.1.3 Những ưu điểm của dạy học ca dao theo hướng thi pháp
Ca dao là thơ trữ tình dân gian, là nơi gửi gắm đời sống tâm hồn của nhân dân, thể hiện cái tôi nội tâm, những rung động bên trong của người bình dân xưa trước những hiện thực và vấn đề của thực tại đời sống
Ca dao trước hết là tiếng hát trữ tình của con người, đó là tiếng hát yêu thương “chứa đựng nhiều nét tiêu biểu của tâm hồn và tính cách dân tộc ta”
Ca dao không phải là sự phô diễn sáng tạo nghệ thuật mà chính là tiếng lòng xuất phát từ nhu cầu giao lưu tình cảm của con người trong xã hội Mỗi bài ca dao biểu hiện một tình cảm, cảm xúc nào đó của con người Ca dao về đề tài gia đình bộc lộ tình yêu thương gắn bó quý trọng của con cái đối với ông bà,
Trang 21cha mẹ; với đề tài tình yêu, mọi cung bậc cảm xúc của những chàng trai, cô
gái đang yêu bộc lộ một cách sâu sắc, chân thật; những yêu thương, hờn giận,
lo lắng, nhớ nhung… Vì thế, học ca dao là hướng tới năng lực chia sẻ buồn
vui, từ đó bồi dưỡng thêm tình cảm yêu thương mang đặc trưng tâm hồn dân
tộc và thái độ trân trọng giá trị cuộc sống
Tâm sự thầm kín, tình cảm của con người không phải lúc nào cũng có
thể trực tiếp giãi bày, đôi khi người ta phải gửi gắm qua phương tiện trung
gian Ca dao chính là một phương tiện trung gian đặc sắc và hữu ích như thế
Không có sự lặp lại nguyên si tình cảm ở những bài ca dao cho dù chúng có
thể viết cùng về một chủ đề, đề tài Chẳng hạn, cùng viết về thân phận người
phụ nữ trong xã hội phong kiến, bài ca dao “Thân em như tấm lụa đào; Phất
phơ giữa chợ biết vào tay ai” thể hiện nỗi băn khoăn lo lắng trước tương lai
số phận của cô gái thì bài ca dao “Thân em như trái bần trôi; Gió dập sóng
dồi biết táp vào đầu” là nỗi tuyệt vọng trước số phận vô định, cuộc đời nổi
trôi, lênh đênh của người phụ nữ…
Dạy học ca dao theo đặc trưng thi pháp giúp người dạy và học soi chiếu
bài ca dao ấy vào đặc trưng cơ bản của nó - đặc trưng folklore Ca dao chỉ
thực sự sống khi đặt vào môi trường văn hoá của nó, tức là khai thác ca dao
không phải chỉ chú ý đến văn bản ngôn từ mà còn phải chú ý đến các yếu tố
ngoài văn bản: các làn điệu dân ca, hình thức diễn xướng… Không phải ngẫu
nhiên mà nhà phê bình Hoài Thanh viết: “Thơ dân gian tồn tại phát triển và
lưu truyền bằng hát đối đáp Nếu bỏ nhạc thì múa khó thành, sự mất tích văn
học, mất làn điệu, mất múa thì chèo cũng mất” Do đó, ca dao, ở nghĩa trọn
vẹn của nó, là tổ hợp của nhiều nghệ thuật: lời, nhạc, biểu diễn… Vì thế nhất
thiết giáo viên phải đặt ca dao vào trong chỉnh thể nguyên hợp văn hoá, có
như vậy, người dạy mới xác định đúng bản chất ca dao và người học mới hiểu
trọn vẹn và sâu sắc văn bản ngôn từ ca dao
Dạy học ca dao theo đặc trưng thi pháp còn giúp bao quát được văn bản
ca dao một cách toàn diện các yếu tố thuộc về hình thức biểu đạt: ngôn ngữ, hình ảnh, kết cấu, thời gian không gian nghệ thuật, thể thơ… Các yếu tố này đan xen hoà quyện tạo nên một chỉnh thể văn bản ca dao thống nhất, toàn vẹn Khi dạy, giáo viên giúp học sinh khám phá các yếu tố biểu hiện này trên một bài hoặc một chùm ca dao một cách sâu sắc và có hệ thống
Như vậy, dạy học ca dao theo đặc trưng thi pháp giúp việc khái quát giá trị mục đích và cách thức biểu đạt của mỗi văn bản ca dao một cách hiệu quả
1.1.4 Những hạn chế của dạy học ca dao theo hướng thi pháp
Ca dao được xem là thơ dân gian, vì vậy dạy học ca dao theo đặc trưng thi pháp chủ yếu là để phát hiện những yếu tố hình thức chứa đựng giá trị nội dung rõ nhất, sâu sắc nhất có ý nghĩa thẩm mỹ lâu dài Chẳng hạn nếu chú trọng khai thác sự biến đổi của nhịp điệu (ngắt nhịp, vần, thanh điệu…) thì người đọc sẽ nắm được diễn biến của mạch cảm xúc trữ tình với những cung bậc tình cảm của chủ thể trữ tình và giọng điệu bài ca
Tuy thế, ca dao không chỉ hàm chứa chất thơ dân dã và nhịp điệu ruộng đồng chậm rãi, êm đềm mà còn phản chiếu nội dung văn hoá dân gian và nghệ thuật diễn xướng dân gian với những dấu ấn nguyên hợp và folklore Do
đó, chỉ tiếp cận ca dao theo hướng thi pháp, tuy là cần thiết nhưng vẫn chưa
đủ để có thể khám phá các bình diện nội dung và ý nghĩa khác trong ca dao Hơn nữa, ca dao là sáng tác tập thể được lưu truyền trong đời sống sinh hoạt của người bình dân để đáp ứng nhu cầu bộc lộ và giao lưu tình cảm Vì thế ca dao không có những sáng tạo hình thức nghệ thuật độc đáo có ý nghĩa quyết định toàn bộ giá trị bài ca dao Nếu quá chăm chú tập trung duy nhất vào tiếp cận thi pháp và phân tích thi pháp ca dao thì sẽ không tránh được suy diễn, khiên cưỡng, cứng nhắc, phiến diện khi dạy học ca dao
Trang 22Ngoài hướng tiếp cận thi pháp, còn cần phải đảm bảo hướng tiếp cận
đồng bộ như tiếp cận văn hoá, tiếp cận folklore, tiếp cận hệ thống chủ đề và
cấu trúc thì việc dạy học ca dao mới thu nhận được hiệu quả và chất lượng
mong muốn
1.2 Quan điểm tích hợp và dạy - học ca dao theo hướng tích hợp
1.2.1 Quan điểm tích hợp trong dạy - học Ngữ văn
Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo, tổ chức nội dung chương
trình, biên soạn SGK và lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp là yêu cầu đặt
ra trong việc dạy học Ngữ văn hiện nay Điều đó, đòi hỏi giáo viên phải có
những thay đổi về cách thức dạy học và tiến trình giờ học Giáo viên nói chung
và giáo viên THPT nói riêng, trong thời gian qua đã quá quen với lối giảng dạy
tách rời từng phân môn theo từng giờ với từng cuốn sách riêng biệt Yêu cầu mới
là dạy ba phân môn trong từng bài học như một thể thống nhất, trong đó mỗi giờ
Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn vừa giữ được bản sắc riêng vừa hoà nhập với
nhau để cùng hình thành cho học sinh những kỹ năng, năng lực tổng hợp Đây là
một việc làm vừa lạ, vừa quen Quen là vì bản chất của việc học tập môn Văn -
Tiếng Việt trong nhà trường vẫn có sự phối hợp dạy Ngữ qua dạy Văn và dạy
Văn qua dạy Ngữ Lạ là vì giờ đây một bài học Ngữ văn lại bao gồm cả ba mạch
kiến thức, kỹ năng Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn Tuy nhiên trong mỗi bài học,
có những mạch kiến thức, kỹ năng của phân môn này không thể tìm thấy sự
đồng quy với những phân môn khác Lúc đó giáo viên phải tổ chức dạy chúng
như những yếu tố độc lập theo cách riêng
Dạy học theo nguyên tắc tích hợp có những đặc điểm sau:
Khi giảng dạy, ngoài việc đảm bảo cho học sinh những tri thức và kỹ
năng đặc thù của phân môn còn phải tìm ra yếu tố đồng quy giữa ba phân
môn để góp phần hình thành và rèn luyện tri thức, kỹ năng của các phân môn
khác Đây là định hướng phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn trong chương trình này Bởi văn học là nghệ thuật ngôn từ cho nên yếu tố nghệ thuật ngôn
từ là điểm đồng quy của cả ba phân môn Vấn đề là người dạy có ý thức về chúng và triệt để khai thác chúng hay không, chứ không phải là việc áp đặt từ bên ngoài Không chỉ có môn Tiếng Việt mới khai thác các yếu tố của Tiếng Việt mà cả Văn học khi giảng dạy những tri thức kỹ năng riêng của mình cũng phải đi từ các yếu tố ngôn ngữ mà đi đến xác định các tri thức, kỹ năng Làm văn không chỉ dạy cách làm bài, viết bài mà còn phải dạy cả cách thức dùng từ, đặt câu, nếu không sẽ dẫn tới tình trạng người viết (học sinh) sử dụng từ không đúng nghĩa, sử dụng câu không đúng ngữ pháp… Như vậy, khi dạy cho học sinh những tri thức, kỹ năng của Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn, người giáo viên còn phải rèn luyện cho học sinh cách dùng từ, đặt câu một cách có nghệ thuật, hay nói cách khác, chính là việc rèn luyện cho học sinh bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo
Từ đây có thể thấy, việc “định hướng của phương pháp giảng dạy mới theo quan điểm tích hợp là tận dụng tri thức và kỹ năng về Tiếng Việt để tạo lập và giải mã văn bản, rồi từ việc dạy tạo lập và giải mã văn bản lại củng cố
và phát triển các tri thức và kỹ năng khi học Tiếng Việt Trong ba phân môn thì phân môn Làm văn có vị trí đặc biệt: một mặt nó thể hiện kết quả học tập của hai phân môn Văn học và Tiếng Việt, mặt khác nó lại là nơi học sinh thực hành kỹ năng nói và viết Tiếng Việt theo những yêu cầu gắn học sinh với môi trường xã hội
Thực hiện được định hướng giảng dạy như vậy, đòi hỏi giáo viên cần phải biết tách nhỏ những yêu cầu giảng dạy của từng phân môn thật chi tiết và khoa học, phù hợp với tâm lý và khả năng phát triển của học sinh Việc tách rời như vậy là để có thể phối hợp chúng với nhau trong một bài học Có tách rời như vậy mới tránh được lối dạy giáo điều trước đây Lối dạy này đòi hỏi
Trang 23phải tách nhỏ các yêu cầu của từng phân môn một cách hợp lý và sự phối hợp
các yếu tố trong một bài học phải thật khoa học, tạo ra sự liên thông giữa các
tri thức, kỹ năng và gây được hứng thú cho học sinh trong học tập Tất nhiên,
“sự phối hợp này không nên máy móc Khi phải dạy những yếu tố cần dạy
của một phân môn nào đó mà không tìm được sự có mặt của chúng ở các
phân môn khác, thì phải dạy chúng như những tri thức độc lập trong bài học”
[34; tr.44] Thông thường, trong các tác phẩm văn học, cũng như trong các
văn bản nhật dụng, các phương thức tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận, thuyết
minh được sử dụng đồng thời hoà quyện với nhau nhằm đạt đến đích chung
của một văn bản Tuy vậy mỗi loại văn bản thường có những phương thức
chủ đạo, định hướng khi dạy - học Do đó, khi giảng dạy cần khai thác triệt để
những yếu tố thuộc một trong những phương thức tạo lập văn bản trong văn
bản đang trực tiếp giảng dạy để phục vụ cho kiểu văn bản đang là trọng tâm
của một loại bài nào đó
Như vậy, quan điểm tích hợp hiện nay mà sách giáo khoa mới sử dụng
là sự kế thừa và nâng cao các chỉ dẫn tích hợp đã nói đến trong lịch sử dạy -
học môn Ngữ văn nói chung, ở THPT nói riêng với các cơ sở lý luận mới
Điểm mới của chương trình, sách giáo khoa hiện hành là bồi dưỡng cho giáo
viên lý thuyết về tích hợp, để giáo viên có ý thức tích hợp một cách có cơ sở
khoa học và đạt hiệu quả cao
1.2.2 Nội dung tích hợp trong dạy - học Ngữ văn ở THPT
Tích hợp là tư tưởng, là nguyên tắc, là quan điểm trong giáo dục hiện
đại Các môn học trong chương trình, sách giáo khoa phổ thông được soạn
theo quan điểm tích hợp là một vấn đề mới So với các môn học khác môn
Ngữ văn có điều kiện thuận lợi để thực hiện tích hợp, vì:
- Ngôn ngữ đã được mô hình hoá và lời nói thông dụng giàu sắc thái biểu cảm là phương tiện, công cụ và nội dung giao tiếp của cả phân môn Văn học, phân mông Tiếng Việt và phân môn Tập làm văn
- Văn bản là tính chất chung của cả ba phân môn Dù là bài Văn, Tiếng Việt hay Làm văn đều là những phát ngôn hoàn chỉnh nên đơn vị hiểu được trong hoàn cảnh giao tiếp Có thể xem tác phẩm văn học là văn bản sáng tạo, Tiếng Việt là văn bản khai thác, Làm văn là văn bản luyện tập kỹ năng trong quá trình tích hợp Văn bản của cả 3 phân môn đều chứa đựng những mức độ khác nhau của tính khoa học, tính nghệ thuật, tính xã hội và tính sáng tạo của
nó Đó cũng là cơ sở chung để suy nghĩ về sự quy tụ những giao điểm của quá trình tích hợp
- “Cuối cùng là sự tích hợp bên trong vừa tự nhiên vừa năng động của chủ thể giáo viên và học sinh, mà ở đó trí thông minh, sức tưởng tượng, trực giác và sự suy luận tỉnh tạo đóng góp rất nhiều vào con đường tích hợp Ngữ văn” [12; tr.9 - 10]
Trong dạy học Ngữ văn, tích hợp hiểu một cách đơn giản là dạy học ba phân môn hợp nhất, hoà trộn vào nhau, học cái này thông qua cái kia và ngược lại
Xét đến cùng, quan điểm tích hợp được vận dụng và chương trình Ngữ văn THPT là sự kế thừa và phát triển của chương trình Ngữ văn THCS và các phương hướng chỉ đạo giảng dạy bộ môn từ hàng chục năm nay theo yêu cầu kết hợp ba phân môn để tạo nên sức mạnh tổng hợp của bộ môn Như các nhà biên soạn chương trình đã nhấn mạnh: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo, tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy” [34, tr.35] Quán triệt quan điểm này, khi biên soạn chương trình, SGK, các tác giả đã lồng ghép các tri thức tương đồng của ba phân môn vào trong cùng một bài học một cách thật nhuần nhuyễn, phù hợp với tính chất tích hợp của chương trình, SGK
Trang 24Tính chất tích hợp trong sách giáo khoa Ngữ văn thể hiện như sau:
Dùng tên gọi Ngữ văn để thay thế cho các tên gọi trước đây như Văn
học - Tiếng Việt - Làm văn, hay cách gọi môn Văn - Tiếng Việt, hoặc Tiếng
Việt - Văn học Như vậy, có thể thấy, với cách gọi tên Ngữ văn, chương trình
đã thể hiện rõ định hướng giảng dạy đi theo quan điểm tích hợp, liên thông
kiến thức ba phân môn trên
Tích hợp ba phân môn vào trong cùng một bài dạy là nhằm mục đích
hình thành bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và hình thành cho học sinh năng
lực phân tích, bình giá, cảm thụ văn học một cách chủ động, sáng tạo Dựa
trên một văn bản để dạy các kiến thức, kỹ năng của từng phân môn, giúp học
sinh biết vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng của các phân môn vào
việc giải mã và tạo lập văn bản Trong đó đặc biệt chú ý tới sự hỗ trợ lẫn nhau
giữa hai nhóm kỹ năng: kỹ năng về Tiếng Việt và kỹ năng về Văn học
Dạy - học Ngữ văn theo hướng tích hợp, quan niệm về văn bản sẽ rộng
hơn, các ngữ liệu được lựa chọn đều mang tính gợi ý, không bắt buộc phải
tuân theo, các câu hỏi, bài tập đa dạng, có độ phân hoá, vừa có tính tích hợp,
vừa chú trọng nêu vấn đề, liên tưởng, các câu hỏi đọc - hiểu văn bản quan tâm
hơn tới những yếu tố làm cơ sở cho việc đọc hiểu văn bản chứ không dừng ở
những cảm nhận chung Ngoài ra, có rất nhiều câu hỏi, bài tập mở, gắn với
những tình huống trong cuộc sống, tạo tiền đề cho học sinh có những phương
án trả lời đa dạng, phù hợp với vốn sống và ngôn ngữ của học sinh Với hệ
thống câu hỏi và bài tập đó, giáo viên có thể vận dụng để tổ chức các hình
thức học tập khác nhau, có thể sử dụng phương tiện dạy hỗ trợ để tăng cường
khả năng tư duy và năng lực làm việc độc lập hay hợp tác của học sinh trong
Tóm lại, tích hợp trong môn Ngữ văn có thể hiểu là sự hợp nhất ba phân môn Văn - Tiếng Việt - Làm văn, “hoà trộn” trong nhau, học cái này thông qua cái kia và ngược lại Cả ba phân môn đều dựa vào một văn bản chung để khai thác, hình thành kiến thức và rèn luyện kỹ năng theo yêu cầu của mỗi phần trong hệ thống kiến thức của cả ba phần có mối liên hệ chặt chẽ, phụ thuộc vào nhau, hỗ trợ lẫn nhau và làm sáng tỏ cho nhau, tránh được sự chồng chéo và thiếu tính thống nhất
*Các kiểu tích hợp trong môn Ngữ văn:
Tích hợp cần được hiểu một cách rộng rãi có: tích hợp hàng ngang, tích hợp hàng dọc,… Dạy môn Ngữ văn ở trường phổ thông, các nhà biên soạn đã tổ chức các bài dạy - học tích hợp theo nguyên tắc: tích hợp ngang, tích hợp dọc
Tích hợp ngang: Là kiểu tích hợp trong từng thời điểm, tức là kiểu tích
hợp trong một tiết học, một bài học kiến thức của ba phân môn: Văn học - Tiếng Việt - Làm văn
“Tích hợp kiến thức tiếng Việt với các mảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy” [26, tr.12]
Tích hợp dọc: Tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kỹ năng với những
kiến thức và kỹ năng đã học trước đó, theo nguyên tắc đồng tâm (còn gọi vòng tròn xoáy trôn ốc), cụ thể là: kiến thức và kỹ năng của lớp trên bậc học trên bao hàm kiến thức và kỹ năng của lớp dưới, bậc học dưới, nhưng cao
Trang 25hơn, sâu hơn Đây là kiểu tích hợp khoa học Xét riêng từng phân môn một thì
khi tích hợp ngang, ít nhiều phá vỡ tính hàng dọc của hệ thống tri thức thuộc
ngành khoa học, trong khi ở bậc THCS học sinh bước đầu đã phải làm quen,
phải có ý thức về các ngành khoa học Với phân môn Văn học, vì coi trọng
việc học văn theo thể loại nên tính hệ thống của văn học sử bị lu mờ rõ rệt
Dẫu sao chúng ta vẫn thấy các nhà biên soạn chương trình, sách giáo khoa, có
dụng ý sắp xếp các văn bản đọc - hiểu vừa theo thể loại, vừa theo trình tự lịch
sử nhằm tạo ra ít nhiều cơ sở cho việc học chương trình văn học sử ở bậc
THPT Thông qua các giờ ôn tập từng phần hay ôn tập cuối năm về kiến thức
văn học, giáo viên giúp học sinh bước đầu thấy được sự phát triển của lịch sử
văn học từ tác phẩm đến thể loại, đến phương pháp, phong cách, trào lưu sáng
tác và một số vấn đề lịch sử tiếp nhận văn học
Trong các kiểu tích hợp trên, các nhà biên soạn chương trình và sách
giáo khoa đặc biệt lưu tâm đến kiểu tích hợp ngang, coi đây như là “nguyên
tắc chính để tổ chức nội dung giảng dạy” Ngữ văn [34, tr.38]
1.2.3 Vận dụng nội dung tích hợp trong dạy - học ca dao ở lớp 10
Dạy học tích hợp là chú ý gắn kết các môn học với nhau đảm bảo tính
liên môn sao cho các môn học hỗ trợ lẫn nhau tránh trùng lặp, mâu thuẫn và
tiết kiệm sức lực và thời gian Trong môn Ngữ văn tích hợp, hệ thống văn bản
sẽ không còn là đối tượng dạy học của chỉ phân môn Văn mà “vừa là đối
tượng chiếm lĩnh của hoạt động đọc văn, đồng thời là hình mẫu văn bản để
hình thành tri thức, kỹ năng, nhận biết và tạo lập các kiểu văn bản theo các
phương thức biểu đạt, vốn là đối tượng của phân môn Tập làm văn” Như thế
các văn bản ca dao không chỉ là đối tượng của phân môn Văn mà còn là ngữ
liệu để hình thành khái niệm đặc điểm văn biểu cảm Qua ca dao có thể thấy
dấu hiệu các biện pháp tu từ, cho thấy đặc trưng của phong cách ngôn ngữ
nghệ thuật… trong Tiếng Việt
Nhờ tích hợp trong Ngữ văn mà học sinh có thể thông qua các văn bản
ca dao nắm được đặc trưng phương thức biểu đạt, từ đó rút ra biểu cảm là phương thức biểu đạt chính của ca dao Đây là sự thuận lợi giúp các em trau dồi kiến thức cơ bản từ đó rèn luyện kỹ năng làm bài văn biểu cảm đồng thời biết cách đưa các yếu tố biểu cảm vào các bài Tập làm văn
Tích hợp trong dạy học ca dao còn biểu hiện khả năng gắn kết, đọc hiểu văn bản ca dao với nội dung cảm xúc của hình tượng, với nhân vật trữ tình, với thể thơ lục bát… Việc gắn kết này tạo khả năng liên kết các kiến thức cũ
và mới một cách lôgic, có hệ thống, giúp cho học sinh có thể nắm chắc bài hơn Khơi gợi học sinh nhớ lại những bài ca dao đã học ở Ngữ văn 7, từ đó
mà khắc sâu kiến thức cơ bản về ca dao bằng cách:
- Nhắc lại định nghĩa về ca dao trong sách giáo khoa Ngữ văn 7 và Ngữ văn 10
- Nêu ra đặc điểm thể loại của ca dao về mặt nội dung
- Nêu ra đặc điểm thể loại của ca dao về mặt nghệ thuật
Tích hợp không chỉ trong phạm vi ba phân môn của Ngữ văn mà còn tích hợp các kiến thức chứa đựng các vấn đề xã hội, lịch sử, văn hoá… theo nguyên tắc “gắn nội dung của sách giáo khoa với thực tiễn cuộc sống nhưng không làm cho việc học tập trở nên nặng nề” Ca dao phản ánh và biểu hiện đời sống tâm hồn dân tộc, đồng thời còn là kho tàng tri thức xã hội, lịch sử, văn hoá, cho nên dạy học ca dao có thể gợi nhắc đến dấu ấn lịch sử, văn hoá, địa lý… Dạy học ca dao về tình yêu quê hương đất nước, con người hướng học sinh tới vẻ đẹp trong sáng ấm áp tình người trong đó, giúp cho các em thêm yêu quê hương đất nước, tự hào với những nét đẹp văn hoá ngoài đời của dân tộc…