Trong đó, công tác đánh giá hiệu quả hoạt động của thành viên kênh phân phối còn nhiều hạn chế, một số Công ty chưa quan tâm đầu tư đúng mức để góp phần xây dựng và duy trì một hệ thống
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số ngành: 60340102
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TS HỒ ĐỨC HÙNG
Trang 2Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận văn sau khi Luận văn đã được
sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên : Huỳnh Tấn Lộc Giới tính : Nam
Ngày, tháng, năm sinh : 27/05/1971 Nơi sinh : Phú Yên Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh MSHV : 1241820064
I- Tên đề tài: Đánh giá thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện kênh phân phối
sản phẩm của Công ty cổ phần Sữa Việt Nam - Vinamilk
II- Nhiệm vụ và nội dung:
- Trên phương diện lý luận: Phân tích những nội dung lý thuyết về kênh phân phối, các yếu tố ảnh hưởng và các tiêu chí đánh giá hoạt động phân phối sản phẩm
- Trên phương diện thực tiễn: Từ việc phân tích lý thuyết kênh phân phối tìm
ra những bất cập, hạn chế còn tồn tại của hoạt động phân phối sản phẩm hiện tại, tìm hiểu nguyên nhân… Qua đó, kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện kênh phân phối của Công ty cổ phần Sữa Việt nam – Vinamilk
- Nghiên cứu những cơ sở lý luận khoa học về thiết kế, tổ chức và quản lý kênh phân phối Từ đó, đánh giá thực trạng hoạt động kênh phân phối tại Công ty
cổ phần Sữa Việt Nam – Vinamilk Tìm hiểu những hạn chế còn tồn tại và những nguyên nhân Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện kênh phân phối sản phẩm của Công ty
III- Ngày giao nhiệm vụ: 07/08/2013 IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 24/04/2014 V- Cán bộ hướng dẫn: GS.TS Hồ Đức Hùng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Đánh giá thực trạng và giải pháp nhằm hoàn
thiện kênh phân phối sản phẩm của Công ty cổ phần Sữa Việt Nam - Vinamilk” là
công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong Luận văn này được
thu thập và sử dụng một cách trung thực, chưa được trình bày hay công bố ở bất kỳ
công trình nghiên cứu nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Huỳnh Tấn Lộc
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian chuẩn bị và tiến hành nghiên cứu, tôi đã hoàn thành đề tài
“Đánh giá thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện kênh phân phối sản phẩm của Công ty cổ phần Sữa Việt Nam - Vinamilk”
Qua Luận văn này, tôi xin được trân trọng cảm ơn:
GS TS Hồ Đức Hùng, người đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong quá trình xây dựng đề cương, tìm kiếm tài liệu, tổ chức nghiên cứu, tháo gỡ những khó khăn trong quá trình thực hiện Luận văn
Đơn vị công tác, bạn bè, đồng nghiệp đang công tác cùng tôi tại Công ty cổ phần Sữa Việt Nam - Vinamilk đã tạo mọi điều kiện tốt nhất có thể và giúp đỡ tôi trong việc cung cấp các số liệu, báo cáo, thống kê Đồng thời, trao đổi thẳng thắn để làm rõ về những quan điểm khác nhau trong chính sách và thực tế kênh phân phối sản phẩm tại Công ty
Các Thầy (Cô) Trường Đại học Công nghệ TP.HCM đã tạo điều kiện thuận lợi trong học tập cũng như truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong chương trình đào tạo Cao học, đặc biệt là hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này
Những người thân trong gia đình đã động viên ủng hộ, tạo điều kiện tốt nhất
và dành nhiều thời gian để cho tôi có thể thực hiện hoàn thành Luận văn
TP.HCM, ngày 24 tháng 04 năm 2014 Huỳnh Tấn Lộc
Trang 4TÓM TẮT
Công ty cổ phần Sữa Việt Nam - Vinamilk là Công ty hàng đầu trong ngành
Sữa tại Việt Nam Nhưng hiện nay Công ty phải chịu sự canh tranh rất lớn từ nhiều
Công ty Sữa trong và ngoài nước Công ty đã ý thức được điều này và đã chú trọng
đến hệ thống phân phối sản phẩm, tập trung vào việc tiêu thụ, mở rộng, chiếm lĩnh
thị trường và huấn luyện đào tạo được đội ngũ nhân viên kinh doanh chuyên
nghiệp Trong những năm qua Công ty đã đầu tư rất nhiều nhân lực và vật lực để
xây dựng một hệ thống kênh phân phối và đã đạt được một số thành quả nhất định
Tuy nhiên, trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này nếu Công ty cứ thỏa mãn một số
thành quả ban đầu mà không chú ý đến những khó khăn rào cản còn tồn tại để cải
thiện và phát triển thì trong tương lai sẽ bị tụt lại phía sau các đối thủ
Đề tài “Đánh giá thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện kênh phân phối sản
phẩm của Công ty cổ phần Sữa Việt Nam – Vinamilk” tập trung nghiên cứu và áp
dụng những cơ sở lý luận khoa học về kênh phân phối và quản lý hoạt động của
kênh phân phối để đánh giá thực trạng hoạt động của kênh phân phối sản phẩm của
Vinamilk hiện nay nhằm hoàn thiện và phát triển kênh phân phối của Công ty
hướng tới nâng cao khả năng cạnh tranh với các đối thủ
Trong đánh giá thực trạng hoạt động phân phối sản phẩm tại Công ty
Vinamilk, tác giả tập trung đánh giá về công tác lập kế hoạch, công tác tổ chức thực
hiện phân phối, công tác tạo động lực từ lãnh đạo công ty và việc kiểm tra đánh giá
thực hiện phân phối Phát hiện những tồn tại, nguyên nhân của những tồn tại để từ
đó đưa ra giải pháp hoàn thiện và phát triển kênh phân phối của Công ty trong
tương lai
Đánh giá thực trạng hoạt động kênh phân phối thông qua đó giúp cho nhà quản
lý thấy được những khó khăn còn tồn tại để điều chỉnh và cải thiện, phát huy những
mặt mạnh tích cực để hoạt động kinh doanh của Công ty đi đúng hướng và đạt mục
tiêu đặt ra Từ những nguyên nhân đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị giúp nhà
quản lý hoàn thiện những mặt còn hạn chế trong kênh phân phối của mình
ABSTRACT
Milk Joint Stock Company Vietnam - namely, a leading Company in the dairy industry in Vietnam But this appointment the Company suffered huge competition from many Companies and foreign milk The Company was aware of this and has focused on product distribution system, focusing on consumption, expand, dominate the market and trained staff are professional business Over the years the Company has invested a lot of manpower and material resources to build a distribution system, and have achieved a certain number of achievements However, in this fierce competition if Companies satisfy themselves some initial results without paying attention to the difficult barriers exist to improve and improve and develop it
in the future will be left behind rivals
Entitled "Assessment of the status and complete solutions for product distribution channel of Vietnam Dairy Products Joint Stock Company - Vinamilk" focused applied research and the scientific rationale for distribution channels and management operation of distribution channels to assess the status of the operation
of the product distribution channels in order to improve the current Vinamilk and developing distribution channels of the company towards enhancing competitiveness with rivals
In assessing the state of the product distribution operations in Vinamilk Company, the author focuses on the evaluation planning, implementation work distribution, work motivation from Company leadership and the performance evaluation test distribution Detecting exists, the cause of which exists to provide solutions to improve and develop the company's distribution channels in the future Situational assessment activities through distribution channels that help managers see problems exist to adjust and improve, promote positive strengths to business activities of the company in the right direction and achieve goals set ra From those causes and propose solutions and recommendations to help managers
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Những đóng góp của Luận văn 4
6 Kết cấu của Luận văn 4
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN PHỐI SẢN PHẨM 5
1.1 Khái niệm, vai trò và chức năng của kênh phân phối sản phẩm 5
1.1.1 Khái niệm kênh phân phối 5
1.1.2 Vai trò của hệ thống kênh phân phối 6
1.1.3 Chức năng của kênh phân phối 7
1.2 Một số nội dung cơ bản của hoạt động phân phối sản phẩm 9
1.2.1 Lập kế hoạch phân phối sản phẩm 9
1.2.2 Tổ chức thực hiện phân phối sản phẩm 15
1.2.3 Tạo động lực từ phía lãnh đạo 32
1.2.4 Kiểm tra, đánh giá thực hiện phân phối sản phẩm 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÂN PHỐI SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM – VINAMILK TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY 37
2.1 Tổng quan về Công ty Vinamilk 37
2.1.1 Giới thiệu sơ lược về Công ty 37
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Vinamilk 37
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Công ty 39
2.1.4 Chức năng, nhiệm vụ của các Phòng ban 39
2.1.5 Tình hình nhân lực Công ty Vianmilk 42
2.1.6 Tình hình đầu tư công nghệ sản xuất và đầu tư công nghệ thông tin hiện đại vào quản trị bán hàng 43
2.1.7 Danh mục các loại sản phẩm Vinamilk 45
2.2 Thực trạng hoạt động phân phối sản phẩm tại Công ty cổ phần Sữa Việt Nam - Vinamilk từ 2008 đến nay 46
2.2.1 Công tác lập kế hoạch 46
2.2.2 Tổ chức thực hiện phân phối sản phẩm 47
2.2.3 Tạo động lực từ lãnh đạo 67
2.2.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động phân phối sản phẩm 70
2.3 Những thành tựu đạt được trong hoạt động phân phối sản phẩm tại Công ty Vinamilk 71
2.4 Một số tồn tại trong hoạt động phân phối sản phẩm của Công ty Vinamilk 74
2.4.1 Tồn tại trong công tác lập kế hoạch 74
2.4.2 Tồn tại trong tổ chức thực hiện phân phối sản phẩm 75
2.4.3 Tồn tại trong công tác tạo động lực từ lãnh đạo Công ty 79
2.4.4 Tồn tại trong công tác kiểm tra hoạt động phân phối 80
2.5 Nguyên nhân 81
2.5.1 Công tác lập kế hoạch 81
2.5.2 Tổ chức thực hiện phân phối sản phẩm 81
2.5.3 Tạo động lực từ lãnh đạo 83
2.5.4 Kiểm tra hoạt động phân phối 83
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN KÊNH PHÂN PHỐI SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM - VINAMILK 84
Trang 63.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kênh phân phối sản phẩm của Công ty
Vinamilk 85
3.2.1 Giải pháp trong công tác lập kế hoạch 85
3.2.2 Giải pháp trong quá trình tổ chức thực hiện 86
3.2.3 Xây dựng và thực hiện các biện pháp nhằm động viên, khuyến khích nhà phân phối, nhân viên bán hàng 91
3.2.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động phân phối sản phẩm 92
3.3 Một số giải pháp khác 93
3.3.1 Không ngừng đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trường và mở rộng thị trường mới 93 3.3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng của hoạt động tổ chức mạng lưới phân phối 96
3.4 Những kiến nghị 99
3.4.1 Đối với Nhà nước 99
3.4.2 Đối với Công ty 100
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CP Cổ phần TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh WTO World Trade Organization (Tổ chức Thương mại Thế giới)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Mạng lưới phát triển hàng hóa và thị trường 10
Bảng 2.1: Bảng đánh giá tiêu chí quản lý của nhà phân phối năm 2011 55
Bảng 2.2: Bảng đánh giá tiêu chí quản lý của nhà phân phối năm 2012 và 2013 55
Bảng 2.3: Doanh thu tiêu thụ từng ngành hàng giai đoạn 2011 - 2013 56
Bảng 2.4: Số lượng Nhà Phân Phối giai đoạn 2011 - 2013 57
Bảng 2.5: Doanh thu của từng kênh phân phối năm 2012 và 2013 58
Bảng 2.6: Bảng đánh giá tiêu chuẩn đầu tư kho hàng của NPP hiện nay 61
Bảng 2.7: Số điểm bán lẻ có bán sản phẩm Vinamilk giai đoạn 2008 - 2013 65
Bảng 2.8: Nội dung chương trình trưng bày Sữa bột năm 2013 66
Bảng 2.9: Nội dung chương trình trưng bày Sữa nước năm 2013 67
Bảng 2.10: Khảo sát mức độ hài lòng của nhà phân phối về chính sách Công ty 69
Bảng 2.11: Kết quả doanh thu và lợi nhuận của Vinamilk 2013 so với 2012 71
Bảng 2.12: Kết quả kinh doanh giai đoạn 2008 - 2013 72
Bảng 2.13: So sánh doanh thu sữa nước của Vinamilk và TH Milk giai đoạn 2011- 2013 74
Bảng 3.1: Đánh giá hoạt động của nhà phân phối 98
DANH MỤC CÁC HÌNH Trang Hình 1.1: Trung gian làm tăng hiệu quả tiếp xúc 6
Hình 1.2: Mục tiêu hoạt động phân phối sản phẩm 10
Hình 1.3: Kênh bán hàng trực tiếp 18
Hình 1.4: Kênh bán hàng trực tuyến 18
Hình 1.5: Kênh phân phối một cấp 18
Hình 1.6: Kênh một cấp chọn lọc 19
Hình 1.7: Kênh một cấp trực thuộc 19
Hình 1.8: Kênh 3 cấp độc lập 19
Hình 1.9: Kênh 3 cấp chọn lọc 19
Hình 1.10: Kênh 3 cấp phụ thuộc vào nhà bán lẻ 20
Hình 1.11: Kênh 3 cấp phụ thuộc vào nhà phân phối 20
Hình 1.12: Kênh 3 cấp phụ thuộc vào nhà sản xuất 20
Hình 1.13: Kênh 3 cấp đại chúng 20
Hình 1.14: Đánh giá hoạt động của thành viên kênh phân phối 24
Hình 1.15: Chiến lược giá cả 25
Hình 1.16: Hai hệ thống quản trị tồn kho cơ bản 27
Hình 1.17: Qui trình kiểm tra đánh giá hoạt động phân phối sản phẩm 36
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức Công ty Vinamilk 39
Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức phòng kinh doanh của Công ty Vinamilk 41
Hình 2.3: Hình ảnh một số sản phẩm tượng trưng cho từng ngành hàng 45
Hình 2.4: Sơ đồ tổ chức kênh phân phối sản phẩm của Vinamilk hiện nay 49
Hình 2.5: Tỷ trọng doanh thu của kênh phân phối 58
Hình 2.6: Thị phần ngành hàng Sữa nước của các Công ty kinh doanh Sữa tại Việt Nam năm 2012 72
Hình 2.7: Thị phần ngành hàng Sữa bột của các Công ty kinh doanh Sữa tại Việt Nam năm 2013 73
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế khu vực và Thế giới đang đặt
nền kinh tế nước ta trước những cơ hội mới, đồng thời đối diện với những thách
thức to lớn không những trên thị trường Quốc tế nói chung mà còn ngay cả thị
trường trong nước nói riêng
Cục diện thị trường bán lẻ Việt Nam đã thay đổi rất nhiều kể từ khi những cam
kết WTO có hiệu lực Sự tham gia ngày càng nhiều hơn của các nhà phân phối
chuyên nghiệp đã tạo ra bộ mặt mới cho thị trường Việt Nam Thị trường phân phối
và bán lẻ Việt Nam tiếp tục được đánh giá là một trong những thị trường năng động
và có tốc độ phát triển cao trong khu vực Trong cuộc cạnh tranh này, hệ thống phân
phối hàng tiêu dùng đang trở thành lĩnh vực kinh doanh mang tính cạnh tranh cao
Thực tế hiện nay còn nhiều Công ty vẫn chưa nhận thức được đầy đủ nội dung
và cách thức sử dụng kênh phân phối như một công cụ cạnh tranh của Marketing
Trong đó, công tác đánh giá hiệu quả hoạt động của thành viên kênh phân phối còn
nhiều hạn chế, một số Công ty chưa quan tâm đầu tư đúng mức để góp phần xây
dựng và duy trì một hệ thống kênh phân phối bền vững, có khả năng cạnh tranh cao,
đạt được các mục tiêu kinh doanh của Công ty
Ngành công nghiệp Sữa là một trong những ngành hàng có tốc độ tăng trưởng
nhanh nhất trong ngành thực phẩm ở Việt Nam Thị trường nguyên liệu và tiêu thụ
Sữa đang ngày càng trở nên đa dạng và phong phú hơn Ngành công nghiệp Sữa có
vai trò rất quan trọng không chỉ đối với nền kinh tế mà còn đối với đời sống của
người dân bởi nó liên quan trực tiếp đến sức khỏe và trí tuệ của thế hệ tương lai của
đất nước Hiện nay, khi xã hội đã phát triển, đời sống người dân được cải thiện,
ngành Sữa đã được nhìn nhận với vai trò ngày càng quan trọng trong việc góp phần
nâng cao thể lực và tuổi thọ người dân Tuy nhiên, mức tiêu thụ Sữa tại Việt Nam
còn thấp so với các nước khác trong khu vực cũng như tiêu chuẩn Thế giới cho thấy
Công ty Vinamilk với bề dày hơn 37 năm thành lập và phát triển, sản phẩm đa dạng, nhãn hiệu được người tiêu dùng tín nhiệm Vinamilk là Công ty hàng đầu Việt Nam trong ngành Sữa, đã có chỗ đứng trên thị trường, có thị phần lớn trong ngành hàng Sữa vì thế cũng chịu sự cạnh tranh rất lớn của nhiều Công ty Sữa trong
và ngoài nước tại thị trường Việt Nam Nhận thức được sự cạnh tranh ngày một khắc nghiệt Công ty đã tập trung vào việc tiêu thụ, tiếp thị hình ảnh, mở rộng và chiếm lĩnh thị trường Với nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm, mang sản phẩm đến người tiêu dùng thì hoạt động phân phối sản phẩm tại Công ty là đặc biệt quan trọng Vinamilk có hệ thống phân phối rộng khắp cả nước Công ty tiếp tục mở rộng và tăng cường mạng lưới này để có thể phân phối trực tiếp cho khách hàng, đặc biệt khu vực nông thôn miền núi, vùng sâu vùng xa, khu vực nông thôn nơi tập trung hơn 70% dân số cả nước là khu vực đóng vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng doanh thu nhưng cũng là thách thức cho việc phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng
Kể từ khi cổ phần hóa năm 2004, Công ty Vinamilk đã luôn chú trọng đến hệ thống phân phối sản phẩm, Công ty đã đầu tư rất nhiều tiền của và công sức vào xây dựng cho mình được một hệ thống kênh phân phối và đạt được nhiều thành công như ngày nay Tuy nhiên, để luôn giữ được vị trí dẫn đầu trong ngành Sữa trước sự cạnh tranh khốc liệt từ các Công ty khác cùng ngành thì Công ty cần phải luôn cải tiến để hoàn thiện hệ thống phân phối của mình Công ty cần phải đánh giá hiệu quả hoạt động của các thành viên trong kênh phân phối của mình theo định kỳ nhất định
để khắc phục những yếu kém còn tồn tại Chính vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá hoạt động phân phối sản phẩm tại Công ty Vinamilk để tìm hiểu, phân tích tìm ra những mặt đã làm được và chưa làm được theo các tiêu chí cụ thể, dễ thực hiện, dễ định lượng với hy vọng có thể góp một phần công sức để khắc phục những mặt còn hạn chế và tiếp tục phát triển những mặt tích cực trong hoạt động kênh phân phối
sản phẩm tại Công ty nên tôi đã chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện kênh phân phối sản phẩm của Công ty cổ phần Sữa Việt Nam – Vinamilk” làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn này Mục đích của Luận văn là
Trang 9tìm ra những nguyên nhân, hạn chế còn tồn tại trong hoạt động phân phối sản phẩm
hiện tại để có giải pháp hoàn thiện
2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn áp dụng những cơ sở lý luận khoa học về kênh phân phối và tổ chức
kênh phân phối để đánh giá một cách toàn diện thực trạng hoạt động kênh phân
phối tại Công ty cổ phần Sữa Việt Nam – Vinamilk
Nghiên cứu các hoạt động phát triển, tổ chức và quản lý kênh Những điểm
hạn chế hoặc chưa phù hợp trong hoạt động kênh phân phối sản phẩm của Công ty
Tìm ra nguyên nhân và giải pháp nhằm hoàn thiện kênh phân phối sản phẩm
của Công ty cổ phần Sữa Việt Nam – Vinamilk
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu những lý luận và thực tiễn về
thiết kế, tổ chức hoạt động và quản lý kênh phân phối sản phẩm của Công ty cổ
phần Sữa Việt Nam - Vinamilk Từ đó, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện kênh
phân phối sản phẩm của Công ty
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Phạm vi nghiên cứu trên Toàn quốc, tập trung thị trường
TP.HCM
- Về thời gian: Đánh giá thực trạng hoạt động của kênh phân phối từ năm 2008
đến nay, các giải pháp hoàn thiện kênh phân phối
- Nghiên cứu hoạt động phân phối các sản phẩm về sữa và nước giải khát
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp logíc và lịch sử
- Phương pháp duy vật biện chứng
- Phương pháp thống kê mô tả nhằm phân tích, đánh giá thực trạng dựa vào số liệu thứ cấp
5 Những đóng góp của Luận văn
- Trên phương diện lý luận: Phân tích những nội dung lý thuyết về kênh phân phối, các yếu tố ảnh hưởng và các tiêu chí đánh giá hoạt động phân phối sản phẩm
- Trên phương diện thực tiễn: Từ việc phân tích lý thuyết kênh phân phối tìm
ra những bất cập, hạn chế còn tồn tại của hoạt động phân phối sản phẩm hiện tại, tìm hiểu nguyên nhân… qua đó kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện kênh phân phối của Công ty cổ phần Sữa Việt nam – Vinamilk
6 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các ký hiệu chữ viết tắt, danh mục các bảng, danh mục các hình và danh mục tài liệu tham khảo thì kết cấu nội dung của Luận văn gồm có 3 Chương
Chương 1: Lý luận chung về phân phối sản phẩm
Chương 2: Thực trạng hoạt động phân phối sản phẩm tại Công ty cổ phần Sữa Việt Nam – Vinamilk từ 2008 đến nay
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kênh phân phối sản phẩm của Công ty cổ phần Sữa Việt Nam – Vinamilk
Trang 10CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN PHỐI SẢN PHẨM
1.1 Khái niệm, vai trò và chức năng của kênh phân phối sản phẩm
1.1.1 Khái niệm kênh phân phối
Theo Philip Kotler: “Hệ thống phân phối là tập hợp các tổ chức phụ thuộc lẫn
nhau, hỗ trợ việc chuyển nhượng quyền sở hữu một hàng hóa hay dịch vụ nào đó,
chuyển nó từ người sản xuất đến người tiêu dùng” Quan điểm theo hướng nghiên
cứu về kênh phân phối, có thể hiểu: Hệ thống phân phối hàng hóa là tập hợp tất cả
các kênh phân phối hàng hóa (trong đó: kênh phân phối là tập hợp các doanh
nghiệp, cá nhân độc lập, phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình đưa hàng hoá từ
nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng)
Có thể khái quát: “Kênh phân phối hàng hóa là một tập hợp các mối quan hệ
giữa các tổ chức và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình
đưa hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng Quá trình này bao
gồm mối quan hệ: dự trữ, điều hành, vận chuyển, tồn tại giữa các tổ chức có liên
quan trong quá trình mua và bán hàng hóa, dịch vụ sao cho đạt hiệu quả lợi nhuận
tối đa” Các kênh phân phối tạo nên dòng chảy hàng hóa và dịch vụ từ người sản
xuất hoặc nhập khẩu qua hoặc không qua các trung gian Thương mại để tới người
sử dụng cuối cùng Các kênh phân phối có thể so sánh với các đường ống dẫn nước
từ nguồn cung cấp đến những nơi sử dụng
Kênh phân phối chuyển hoá từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng Nó lấp
khoảng cách về thời gian, địa điểm và sự sở hữu chia cách hàng hoá và dịch vụ với
những người sử dụng chúng (Theo Philip Kotler) Tham gia vào kênh phân phối có
2 nhóm thành viên là các tổ chức hoặc cá nhân Nhóm thứ nhất là các thành viên
chính thức của kênh, những người trực tiếp tham gia vào quá trình mua bán và chịu
trách nhiệm trước kết quả hoạt động của hệ thống kênh Họ bao gồm các nhà sản
xuất hay nhập khẩu, các trung gian Thương mại bao gồm những nhà bán buôn và
những nhà bán lẻ, những khách hàng cuối cùng Nhóm thứ hai bao gồm các tổ chức
bổ trợ, những người cung cấp dịch vụ Marketing chuyên nghiệp cho các thành viên chính thức trong kênh Họ làm cho quá trình phân phối hàng hóa trong kênh diễn ra
dễ dàng hơn nhưng lại không chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động cuối cùng của
hệ thống kênh Đó là các Công ty vận tải, kho bãi, ngân hàng hay các Công ty môi giới trên thị trường Nhà quản trị khi tổ chức và quản lý kênh phân phối phải quan tâm đến cả hai nhóm thành viên này Người quản lý kênh trong các Công ty sản xuất giữ vai trò là người tổ chức và điều hành các hoạt động phân phối
1.1.2 Vai trò của hệ thống kênh phân phối
- Giúp cho doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh
- Góp phần thoả mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu
- Qua hệ thống kênh phân phối nhà sản xuất trao đổi thông tin nhanh chóng Việc ra đời các trung gian phân phối giúp các doanh nghiệp chuyên môn hoá sản xuất và có nhiều ưu thế như: Phân phối hàng hoá rộng khắp, đưa hàng hoá đến thị trường mục tiêu nhanh chóng, giảm bớt lượng lưu kho, giảm bớt chi phí lưu kho, quay vòng vốn nhanh, cải thiện các chỉ số tài chính, điều hoà cung cầu, giảm khoảng cách về địa lý giữa sản xuất và tiêu dùng, giảm thiểu số lượng tiếp xúc với khách hàng
S-Nhà sản xuất P: Người phân phối K-Khách hàng B: Số khách hàng A-Số quan hệ B = S+K = 3+3 = 6
Trang 11(Nguồn: Marketing căn bản – Philip Kotler)
Vai trò của phân phối trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Đối với một doanh nghiệp, tiêu thụ hàng hoá luôn là một vấn đề quan trọng,
quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Đặc biệt là trong giai đọan
hiện nay cạnh tranh ngày càng khốc liệt, hàng hoá phải được tiêu chuẩn hoá thì vấn
đề chất lượng hàng hoá đưa ra thị trường phải được đảm bảo là điều tất nhiên Việc
tiêu thụ hàng hoá phân phối của doanh nghiệp và thực hiện các chiến lược, kế hoạch
phân phối đó Hãng ô tô Nissan đã đưa ra nhận định hết sức thực tế về vai trò quan
trọng của Marketing hiện đại “vấn đề không chỉ là anh đưa cho người tiêu dùng cái
gì mà còn là anh đưa nó như thế nào sẽ quyết định thành công trên thương trường”
Khi sản xuất với công nghệ hiện đại và thách thức tổ chức quản lý khoa học,
doanh nghiệp sẽ thành công trong khâu này, số lượng và chất lượng sản phẩm được
đảm bảo nhưng rất có thể doanh nghiệp chỉ thành công ở đây nếu khâu tiếp theo là
phân phối không được thực hiện tốt Phân phối hàng hoá hiệu quả thì mới có thể thu
được tiền hàng để chi trả những chi phí trong các khâu của quá trình sản xuất kinh
doanh Ngược lại, phân phối hàng hoá không hiệu quả sẽ dẫn tới những ách tắc
trong kinh doanh và có thể doanh nghiệp không chi trả được chi phí dẫn tới phá sản
Thực tế này không chỉ đặt ra đối với doanh nghiệp sản xuất mà cả doanh nghiệp
Thương mại - loại hình doanh nghiệp hoạt động trong khâu phân phối lưu thông
hàng hóa
Ngoài ra, các Công ty còn nhận thấy rằng cạnh tranh thành công, họ không
phải chỉ cung cấp sản phẩm và dịch vụ tốt hơn đối thủ cạnh tranh mà còn phải thực
hiện tốt hơn khả năng sẵn sàng ở Công ty: ở đâu? khi nào? và như thế nào đối với
nhu cầu thường trực và không thường trực của người tiêu dùng Doanh nghiệp chỉ
có thể thực hiện được mục tiêu an toàn, lợi nhuận và vị thế khi công việc phân phối
hàng hoá của mình được thực thi một cách có hiệu quả cao
1.1.3 Chức năng của kênh phân phối
Chức năng cơ bản của kênh phân phối là giúp đưa sản phẩm đến khách hàng
điểm mà họ yêu cầu Kênh phân phối đã giải quyết 3 mâu thuẫn cơ bản giữa sản xuất và tiêu dùng:
- Mâu thuẫn giữa nhu cầu đa dạng nhưng với số lượng ít khách hàng với sản xuất một loại sản phẩm cụ thể nhưng với khối lượng lớn
- Mâu thuẫn giữa sản xuất ở một địa điểm nhưng tiêu dùng rộng khắp và ngược lại
- Mâu thuẫn giữa thời gian sản xuất và thời gian tiêu dùng không trùng khớp
Các chức năng phổ biến kênh phân phối
- Chức năng trao đổi, mua bán: Việc mua hàng hóa của người bán để sử dụng
hoặc bán lại Việc thực hiện bán sản phẩm tới khách hàng cuối cùng
- Chúc năng phân loại và tập hợp: Chức năng phân loại chia các loại hàng
không đồng nhất thành nhóm hàng đồng nhất Chức năng tập hợp các mặt hàng tương tự từ một số nguồn tập trung thành nguồn cung cấp đồng nhất lớn hơn
- Chức năng tài chính: Cung cấp tiền mặt và tín dụng cần thiết thúc đẩy các
hoạt động phân phối sản phẩm
- Chức năng lưu kho và dự trữ hàng hóa: Duy trì lưu kho và bảo vệ sản phẩm
để phục vụ khách hàng hàng tốt hơn,cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất
- Chức năng phân hạng: Phân loại sản phẩm thành các cấp loại khác nhau trên
cơ sở chất lượng
- Chức năng vận chuyển: Hàng hoá được chuyển từ điểm này đến điểm khác,
nhờ đó giải quyết được mâu thuẫn về không gian giữa sản xuất và tiêu dùng
- Chức năng san sẻ rủi ro: Chia sẻ rủi ro kinh doanh trong việc thực hiện phân
phối sản phẩm
- Chức năng thông tin: Thu thập thông tin từ các thành viên kênh phân phối, từ
khách hàng ngoài thị trường, từ đối thủ cạnh tranh Truyền đạt thông tin từ nhà sản xuất đến các trung gian và khách hàng Mục đích liên kết nhà sản xuất với các nhà trung gian bán sỉ, bán lẻ và người tiêu dùng, tạo sự thuận lợi trong quá trình trao đổi hàng hóa
Trang 121.2 Một số nội dung cơ bản của hoạt động phân phối sản phẩm
Phân phối sản phẩm có tác động rất lớn đến toàn bộ hoạt động sản xuất kinh
doanh chung của doanh nghiệp Bên cạnh đó, hoạt động này tác động đến nhiều đối
tượng khác nhau trong quá trình phân phối vì vậy để quản lý hoạt động phân phối
sản phẩm có hiệu quả cần thực hiện theo quy trình quản lý gồm các bước như: Lập
kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh đạo và kiểm tra
1.2.1 Lập kế hoạch phân phối sản phẩm
Bước đầu tiên trong quy trình quản lý là lập kế hoạch Kế hoạch là một tập hợp
những hoạt động được sắp xếp theo lịch trình, có thời hạn, nguồn lực, ấn định
những mục tiêu cụ thể và xác định biện pháp tốt nhất… để thực hiện một mục tiêu
cuối cùng đã được đề ra Khi lập được kế hoạch thì tư duy quản lý sẽ có hệ thống
hơn để có thể tiên liệu được các tình huống sắp xảy ra Doanh nghiệp sẽ phối hợp
được mọi nguồn lực của cá nhân, tổ chức để tạo nên một sức mạnh tổng hợp, có thể
giữ vững “mũi tiến công” vào mục tiêu cuối cùng muốn hướng đến Bên cạnh đó,
Doanh nghiệp cũng sẽ dễ dàng kiểm tra, giám sát hiệu quả thực hiện các dự án
Đối với người quản lý hoạt động phân phối sản phẩm thì trong kế hoạch phân
phối sản phẩm cần xác định rõ các nội dung như: Xác định mục tiêu hoạt động phân
phối sản phẩm mà doanh nghiệp muốn đạt được, các căn cứ để xây dựng các mục
tiêu đó và các biện pháp hỗ trợ phân phối sản phẩm để đạt được mục tiêu
1.2.1.1 Mục tiêu của hoạt động phân phối sản phẩm
Đối với hoạt động phân phối sản phẩm thì mục tiêu và yêu cầu công việc chủ
yếu là: tăng sản lượng tiêu thụ; mở rộng, phát triển thị trường và mở rộng hệ thống
kênh phân phối Trong đó tăng sản lượng tiêu thụ là quan trọng nhất và là mục tiêu
chính của tất cả doanh nghiệp vì như vậy thì doanh thu và lợi nhuận sẽ được gia
tăng Tuy nhiên để tiêu thụ được nhiều sản phẩm thì việc mở rộng, phát triển thị
trường và mở rộng hệ thống kênh phân phối là rất quan trọng
Hình 1.2: Mục tiêu hoạt động phân phối sản phẩm
( Nguồn: Marketing căn bản – Philip Kotler)
Mục tiêu mở rộng, phát triển thị trường: Có rất nhiều cách tiếp cận khác
nhau về mục tiêu mở rộng, phát triển thị trường Ở đây đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu mở rộng thị trường theo hai nội dung như mở rộng thị trường theo chiều rộng và mở rộng thị trường theo chiều sâu
Mục tiêu mở rộng thị trường theo chiều rộng là doanh nghiệp cố gắng mở rộng phạm vi thị trường, tìm kiếm thêm những thị trường nhằm tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh số bán, tăng lợi nhuận Còn mục tiêu mở rộng thị trường theo chiều sâu tức là doanh nghiệp muốn tăng được số lượng sản phẩm tiêu thụ trên thị trường hiện tại Để hiểu hơn về mục tiêu mở rộng, phát triển thị trường ta có thể tìm hiểu thêm qua mạng lưới phát triển hàng hóa và thị trường của Ansoff như sau:
Bảng 1.1: Mạng lưới phát triển hàng hóa và thị trường
Thị trường mới 2 Chiến lược phát triển thị
Mục tiêu hoạt động phân phối sản phẩm
Mở rộng, phát triển thị trường
Mở rộng hệ thống kênh phân phối Tăng sản lượng tiêu thụ
Trang 13Mở rộng hệ thống kênh phân phối: Các thành viên trong kênh phân phối có
vai trò quan trọng trong việc đưa sản phẩm của doanh nghiệp đến tay người tiêu
dùng Để hoạt động phân phối sản phẩm của Công ty có hiệu quả và không ngừng
phát triển thì người quản lý cần mở rộng hệ thống kênh phân phối để tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp Bên cạnh đó, với mục tiêu tăng sản lượng, mở rộng thị
trường thì việc phát triển, lựa chọn thêm các thành viên kênh mới là rất cần thiết
Doanh nghiệp cần đặt mục tiêu sẽ mở thêm bao nhiêu trung gian trong năm kế
hoạch dựa trên những tiêu chí cụ thể
1.2.1.2 Các căn cứ để xác định mục tiêu
Tăng sản lượng tiêu thụ sản phẩm: Đặt mục tiêu tăng sản lượng tiêu thụ sản
phẩm thực chất là việc dự đoán trước số sản phẩm sẽ được tiêu thụ trong kỳ kế
hoạch, đơn giá sản phẩm sẽ được tiêu thụ trong kỳ kế hoạch, đơn giá sản phẩm kế
hoạch, doanh thu tiêu thụ sẽ đạt được trong kỳ kế hoạch để các khâu của quá trình
sản xuất kinh doanh hoạt động nhịp nhàng và ăn khớp Các căn cứ để xác định sản
lượng tiêu thụ trong kỳ kế hoạch là:
- Những thông tin cần thu thập và xử lý bao gồm các thông tin bên trong nội
bộ doanh nghiệp và các thông tin bên ngoài thị trường:
+ Trong nội bộ doanh nghiệp các thông tin từ các bản báo cáo kết quả kinh
doanh, báo cáo hoạt động tài chính của năm báo cáo, bản kê khai sản phẩm sản xuất
kinh doanh Qua đó xác định được năng lực, khả năng của doanh nghiệp hiện tại
cũng như dự báo, phân tích năng lực tiềm tàng trong tương lai về tất cả các lĩnh vực
như: nguồn nhân lực, các yếu tố vốn, tài chính, kỹ thuật và công nghệ sản xuất, các
sản phẩm có thể khai thác …
+ Doanh nghiệp cần phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch của năm
xây dựng kế hoạch, từ đó sẽ có những đánh giá nhận xét, rút kinh nghiệm làm cơ sở
cho xây dựng kế hoạch năm tiếp theo
- Sau khi đã chuẩn bị các yếu tố được phân tích và xử lý, doanh nghiệp cần
phải xác định các mục tiêu ngắn hạn cũng như dài hạn mà doanh nghiệp cần phải
doanh nghiệp, phù hợp với khả năng thực tế của doanh nghiệp, phù hợp với các điều kiện khác về môi trường kinh doanh và quan trọng hơn nữa là phải phù hợp với chiến lược và triết lý kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh đó mục tiêu tiêu thụ sản phẩm cũng cần phải đáp ứng được 6 tiêu chí là: tính cụ thể, tính linh hoạt, tính định lượng, tính khả thi, tính nhất quán và tính hợp lý
Mở rộng, phát triển thị trường: Để xác định mục tiêu về việc mở rộng, phát
triển thị phần người lập kế hoạch cần căn cứ vào hoạt động nghiên cứu thị trường Đây là việc xác định nhu cầu của khách hàng, thực trạng của đối thủ cạnh tranh, độ
co dãn của cầu theo giá, các xu hướng có thể xảy ra đối với cầu về sản phẩm của doanh nghiệp và nguyên nhân dẫn tới xu hướng thay đổi đó… Người lập kế hoạch phải xác định xem đâu là thị trường then chốt, chủ yếu của doanh nghiệp, đâu là thị trường cần mở rộng trong năm kế hoạch, đâu là sản phẩm then chốt, đâu là sản phẩm mới cần phát triển trong năm kế hoạch… Để xác định được như vậy, cần phải hiểu khách hàng của doanh nghiệp là những người như thế nào? Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp là những ai? Từ đó có thể thấy được bức tranh tổng quát về thị trường, ước lượng thị trường, thị phần mà doanh nghiệp có thể khai thác được trong khả năng, nguồn lực của doanh nghiệp trong năm kế hoạch hoặc trong kế hoạch dài hạn hơn
Mở rộng hệ thống kênh phân phối: Căn cứ để xác định mục tiêu đối với nội
dung mở rộng hệ thống kênh phân phối trước hết phải dựa trên hệ thống kênh phân phối hiện tại như thế nào về số lượng và năng lực của các thành viên kênh Mở rộng
hệ thống kênh phân phối không đồng nghĩa với việc tăng về số lượng các thành viên kênh mà tập trung tăng hiệu quả của hoạt động phân phối của các thành viên kênh Đối với thị trường hiện tại và sản phẩm cũ nếu số lượng các thành viên kênh quá nhiều, doanh nghiệp đánh giá có thể ảnh hưởng tới hoạt động phân phối như: bán phá giá, sai vùng… thì có thể tiến hành rà soát, tăng điều kiện lựa chọn thành viên kênh để giảm bớt số lượng thành viên kênh, đồng thời tạo cơ hội kinh doanh cho những thành viên còn lại có năng lực, khả năng tài chính và cam kết gắn bó cao với
Trang 14rộng hệ thống kênh phân phối là gia tăng về số lượng thành viên kênh tiêu thụ tại thị
trường mới đó hoặc sản phẩm mới đó hoặc cũng có thể là một hay nhiều thành viên
cũ nhận thêm tiêu thụ sản phẩm mới Việc hoạch định một kênh phân phối hiệu quả
cần xác định rõ cần phải vươn tới thị trường nào với mục tiêu nào? Các mục tiêu có
thể là mức phục vụ khách hàng tới đâu và các trung gian phải hoạt động như thế
nào? Những ràng buộc của kênh bao gồm: đặc điểm của người tiêu thụ, đặc điểm về
sản phẩm, đặc điểm của giới trung gian (tiếp cận, thương thảo, quảng cáo, lưu
kho ), đặc điểm của môi trường và đặc điểm của Công ty (quy mô, khả năng tài
chính, chiến lược Marketing)
Xác định những lựa chọn chủ yếu bao gồm: Các kiểu trung gian marketing, số
lượng trung gian (phân phối rộng rãi, tổng kinh tiêu, phân phối chọn lọc) và quyền
hạn và trách nhiệm của các thành viên trong kênh
Không phải doanh nghiệp nào cũng có mạng lưới tiêu thụ giống nhau bởi vì
các doanh nghiệp khác nhau về qui mô, đối tượng khách hàng, dẫn tới sự khác nhau
về mạng lưới phân phối Do vậy, sau khi đã nghiên cứu nhu cầu của khách hàng,
lượng cung trên thị trường thì công việc xác định mục tiêu mở rộng hệ thống kênh
phân phối sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng và có hiệu quả kinh tế
cao đối với doanh nghiệp là việc làm khó Bên cạnh đó cần hiểu rõ và phân tích ưu,
nhược điểm của từng dạng kênh để xây dựng mạng lưới phân phối phù hợp với sản
phẩm, điều kiện của doanh nghiệp
1.2.1.3 Các biện pháp hỗ trợ để đạt được mục tiêu
Để phân phối sản phẩm hiệu quả, tăng thị phần thì một hoạt động không kém
phần quan trọng đó là thực hiện các biện pháp hỗ trợ phân phối sản phẩm bao gồm:
Quảng cáo, khuyến mại, kích thích tiêu thụ và tuyên truyền
Quảng cáo: Là những hình thức truyền thông không trực tiếp được thực hiện
thông qua những phương tiện truyền tin phải trả tiền và xác định rõ nguồn kinh phí
Bước đầu tiên trong xây dựng kế hoạch quảng cáo là đề ra những nhiệm vụ của nó
Những nhiệm vụ này có thể rút ra từ những quyết định trước đây về việc lựa chọn
dụng cho thông báo với thị trường về sản phẩm mới hoặc ứng dụng mới của sản phẩm), thuyết phục (áp dụng để khuyến khích chuyển sang nhãn hiệu của mình) hay nhắc nhở Sau khi xác định những nhiệm vụ quảng cáo của mình, Công ty có thể bắt tay vào xây dựng ngân sách quảng cáo cho từng mặt hàng Sau khi đã xác định các nhiệm vụ của quảng cáo, doanh nghiệp có thể bắt tay vào xây dựng ngân sách quảng cáo cho từng mặt hàng Vai trò của quảng cáo là tăng nhu cầu về hàng hóa đó Và Công ty muốn chi đúng số tiền thật sự cần thiết để đạt được chỉ tiêu tiêu thụ đã đề ra
Kích thích tiêu thụ: Là sử dụng nhiều phương tiện tác động kích thích nhằm
đẩy mạnh và tăng cường phản ứng đáp lại của thị trường Những nhiệm vụ kích thích tiêu thụ bắt nguồn từ những nhiệm vụ phân phối hàng hóa Các nhiệm vụ kích thích tiêu thụ sẽ khác nhau tùy theo kiểu thị trường mục tiêu Trong số những nhiệm
vụ kích thích người tiêu dùng có các nhiệm vụ khuyến khích sử dụng hàng hóa nhiều hơn, mua dưới dạng đóng gói lớn hơn, kích thích những người chưa sử dụng hàng hóa dùng thử nó, thu hút những người mua các nhãn hiệu của đối thủ cạnh tranh chuyển sang dùng nó Các nhiệm vụ của kích thích tiêu thụ có thể giải quyết bằng nhiều phương tiện khác nhau, đồng thời người soạn thảo kế hoạch cũng cần chú ý đến kiểu thị trường và những nhiệm vụ cụ thể về kích thích tiêu thụ, tình hình thị trường hiện tại, khả năng sinh lời của từng phương tiện được sử dụng Về chương trình khuyến mại thì người lập kế hoạch phải thông qua một số quyết định
bổ sung thêm Cụ thể như hoạt động thị trường phải quyết định các kích thích tác động đến mức độ nào, ai có thể tham gia vào chương trình, quảng cáo những biện pháp khuyến mại như thế nào, nó sẽ kéo dài trong khoảng thời gian bao lâu, khi nào bắt đầu, cần bao nhiêu tiền để thực hiện
Tuyên truyền: Bao hàm việc sử dụng nội dung chứ không phải địa điểm hay
thời gian phải trả tiền của tất cả các phương tiện truyền tin mà các khách hàng hiện
có và tiểm ẩn của Công ty có thể đọc được, xem được hay nghe được, để giải quyết một nhiệm vụ cụ thể như góp phần đạt được những mục tiêu đã đề ra Chuyên gia
Trang 15tuyên truyền cần xác định nên nói về hàng hóa trong những tài liệu nào, nếu không
có đủ tài liệu thì có thể đề nghị tiến hành những biện pháp có tính chất sự kiện
1.2.2 Tổ chức thực hiện phân phối sản phẩm
Xây dựng được kế hoạch tiêu thụ mới chỉ hoàn thành một phần công việc, đó
mới chỉ là khả năng trên lý thuyết Vấn đề của doanh nghiệp là phải biến khả năng
đó thành hiện thực Vì vậy, việc tổ chức thực hiện kế hoạch phân phối sản phẩm là
một giai đoạn hết sức quan trọng và kéo dài suốt cả năm kế hoạch
1.2.2.1 Hoạt động nghiên cứu thị trường
Hoạt động nghiên cứu thị trường là rất cần thiết để thu thập thông tin về thị
hiếu, đặc điểm của từng vùng, miền, qua đó phân tích số liệu về thị trường một cách
có hệ thống làm cơ sở cho các quyết định quản trị liên quan đến phân phối sản
phẩm của doanh nghiệp Để thực hiện nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp cần xác
định cung-cầu hàng hóa trên thị trường
Xác định cầu của thị trường
Để thực hiện nghiên cứu cầu của thị trường, doanh nghiệp cần phải thực hiện
thu thập thông tin bằng một trong hai phương pháp:
- Phương pháp thu thập tại bàn: Là phương pháp thu thập thông tin qua các tài
liệu như sách, báo, tạp chí và các tài liệu liên quan đến hoạt động của doanh
nghiệp Phương pháp này có nhược điểm là chậm và mức độ tin cậy có hạn
- Phương pháp nghiên cứu tại hiện trường: Là phương pháp thu thập thông tin
chủ yếu thông qua tiếp xúc trên thị trường thông qua quan sát, phỏng vấn, soạn thảo
các câu hỏi điều tra và phiếu trưng cầu ý kiến của những người mua bán trên thị
trường
Tuỳ vào điều kiện cụ thể của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có chọn phương
pháp nào sao cho phù hợp nhất Tuy nhiên, dù nghiên cứu theo phương pháp nào
cũng cần phải làm rõ các nội dung trong kế hoạch nghiên cứu thị trường đã chỉ ra ở
trên
- Xác định nhu cầu của thị trường: Nhu cầu hiện tại và tương lai của hàng hoá
mà doanh nghiệp kinh doanh và các mặt hàng khác doanh nghiệp đang quan tâm, hàng hoá dịch vụ nào phù hợp với điều kiện hoạt động của doanh nghiệp
- Phương thức phân phối hợp lý: Phân chia cầu theo khu vực tiêu thụ, theo mật
độ dân cư, theo cơ cấu dân cư là cơ sở để xác lập phương thức phân phối cho doanh nghiệp
- Phản ứng của khách hàng trước những thay đổi về sản phẩm như mẫu mã, chất lượng sản phẩm, giá cả hay các dịch vụ sau bán hàng
- Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu của hàng hoá doanh nghiệp kinh doanh
- Đánh giá thị trường, ưu và nhược điểm của đối thủ cạnh tranh, cần có chính sách, chiến lược như thế nào để nâng cao hiệu quả của hoạt động và tăng cường khả năng cạnh tranh
Ngoài ra cũng cần phải nghiên cứu sản phẩm thay thế sản phẩm của doanh nghiệp Sự nhạy cảm đối với sản phẩm thay thế của khách hàng sẽ là một khó khăn lớn đối với sản phẩm của doanh nghiệp
Xác định cung trên thị trường
Ngoài việc xác định cầu trên thị trường, hoạt động nghiên cứu thị trường cũng cần phải nghiên cứu cung trên thị trường Xác định cung trên thị trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp, bởi vì nếu doanh nghiệp chỉ xác định cầu
mà không xác định cung dễ dẫn đến khả năng sản xuất thừa, đánh giá cung cầu không chính xác, doanh nghiệp không thể xây dựng được cho mình một chiến lược sản phẩm hợp lý
Nghiên cứu cung cần phải xác định được lượng cung mà các đối thủ có thể cung cấp ra thị trường, thị phần của từng doanh nghiệp, chương trình sản xuất đặc biệt là chất lượng và hình thức của sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh, chính sách giá cả, phương pháp quảng cáo và bán hàng, chính sách phục vụ khách hàng Đồng thời nghiên cứu cung cũng phải làm rõ khả năng phản ứng của đối thủ trước các biện pháp về giá cả, quảng cáo của doanh nghiệp
Trang 16Một vấn đề cần lưu ý trong nghiên cứu cung đối với doanh nghiệp đó là cần
phải quan tâm nghiên cứu vào đối thủ mạnh, chiếm thị phần lớn trên thị trường để
doanh nghiệp có thể phản ứng kịp thời trước những thay đổi của các đối thủ này
Ngoài ra, việc xác định cung cũng cần lưu ý đến những sản phẩm có thể thay thế
cho sản phẩm của doanh nghiệp để từ đó doanh nghiệp có thể hạn chế tốt nhất khả
năng thay thế đó khi có sự thay đổi chiến lược sản phẩm của mình
1.2.2.2 Tổ chức kênh phân phối
Cấu trúc hệ thống kênh phân phối
Hệ thống phân phối của doanh nghiệp có cấu trúc như các hệ thống mạng lưới
do chúng bao gồm các doanh nghiệp và các cá nhân độc lập, phụ thuộc lẫn nhau,
nói cách khác các thành viên có liên quan với nhau trong quá trình hoạt động
Như vậy, cấu trúc hệ thống phân phối mô tả tập hợp các thành viên của kênh
mà các công việc phân phối được phân chia cho họ được tổ chức như thế nào? Mỗi
cấu trúc của hệ thống phân phối khác nhau có cách phân chia các công việc phân
phối cho các thành viên của kênh khác nhau Ba yếu tố cơ bản phản ánh đến cấu
trúc hệ thống kênh phân phối:
- Chiều dài của kênh
- Bề rộng của kênh
- Các loại trung gian ở mỗi cấp độ kênh
Mỗi hệ thống phân phối đều có cấu trúc riêng của nó qua chiều dài và bề rộng
của kênh, vì vậy hình thành nên các kiểu kênh phân phối khác nhau Các kênh phân
phối bao gồm từ kênh trực tiếp tới các kênh gián tiếp qua nhiều cấp độ trung gian
Số trung gian thương mại ở mỗi cấp độ trong kênh cũng có thể thay đổi từ vô số
trung gian đến chỉ có một số trung gian chọn lọc và đến chỉ qua một trung gian
thương mại duy nhất trên một khu vực thị trường Dựa vào hình thức phân phối trực
tiếp, gián tiếp và số lượng trung gian người ta chia ra thành 11 hình thức phân phối
như sau:
- Thứ nhất là kênh bán hàng trực tiếp, trong đó sản phẩm từ nhà sản xuất đi
này Ví dụ các công ty sử dụng lực lượng bán hàng tận nhà Do không có trung gian trong kênh trực tiếp này nên người sản xuất phải thực hiện tất cả các chức năng của kênh phân phối Ngày càng có nhiều doanh nghiệp sử dụng Marketing trực tiếp để khai thác người mua Cách phân phối này gồm bán hàng qua thư, đặt hàng qua thư, bán qua Catalog, telemarketing, computermarketing
Hình 1.3: Kênh bán hàng trực tiếp
- Thứ hai là kênh bán hàng trực tuyến, sản phẩm được phân phối thông qua các phương tiện trực tuyến như thư tín, điện thoại, Internet… do các nhà trung gian chuyên môn đảm nhận
Hình 1.4: Kênh bán hàng trực tuyến
- Thứ ba là kênh phân phối một cấp độc lập, theo đó nhà sản xuất phân phối thông qua các nhà bán lẻ độc lập Quan hệ giữa hai đối tượng này là hoàn toàn bình đẳng
Độc lập
Hình 1.5: Kênh phân phối một cấp
- Thứ tư là kênh một cấp chọn lọc Các nhà bán lẻ hội tụ đủ điều kiện do nhà sản xuất quy định sẽ được lựa chọn để phân phối hàng hóa
Nhà sản xuất
Người tiêu dùng
Nhà sản xuất
Thư tín, điện thoại, internet
Người tiêu dùng
Trung gian chuyên môn đảm nhận
Người tiêu dùng Nhà bán
lẻ Nhà sản
xuất
Trang 17Độc lập
Hình 1.6: Kênh một cấp chọn lọc
- Thứ năm là kênh một cấp trực thuộc, nhà sản xuất tự thiết lập một hệ thống
các cửa hàng bán lẻ để phân phối sản phẩm tới người tiêu dùng
Thiết lập
Hình 1.7: Kênh một cấp trực thuộc
- Thứ sáu là kênh 3 cấp độc lập từ nhà sản xuất - đại lý cấp một - đại lý cấp 2 -
cửa hàng bán lẻ - người tiêu dùng Các trung gian hoạt động hoàn toàn độc lập
Độc Độc Độc
lập lập lập
Hình 1.8: Kênh 3 cấp độc lập
- Thứ bảy là kênh 3 cấp chọn lọc: Theo đó, cửa hàng bán lẻ hoặc đại lý cấp 2
có thể phụ thuộc vào cấp 1 và nhà sản xuất Họ được lựa chọn tham gia vào mạng
lưới phân phối khi đảm bảo các điều kiện cần thiết
Phụ thuộc
Hình 1.9: Kênh 3 cấp chọn lọc
- Thứ tám là kênh 3 cấp phụ thuộc vào nhà bán lẻ từ nhà sản xuất - nhà phân
phối (do các nhà bán lẻ tạo nên) - nhà bán lẻ và người tiêu dùng
Người tiêu dùng Nhà bán lẻ đủ điều kiện
nhà sản xuất quy định Nhà sản
xuất
Người tiêu dùng
Hệ thống cửa hàng bán lẻ Nhà sản
xuất
Người tiêu dùng Cửa hàng
bán lẻ Nhà sản
xuất
Đại lý
cấp I
Đại lý cấp II
Người tiêu dùng
Cửa hàng bán lẻ Nhà sản
xuất
Đại lý
cấp I
Đại lý cấp II
Do các nhà bán lẻ tạo nên
Hình 1.10: Kênh 3 cấp phụ thuộc vào nhà bán lẻ
- Thứ chín là kênh ba cấp phụ thuộc nhà phân phối bao gồm nhà sản xuất - văn phòng đại diện - nhà phân phối - mạng lưới bán lẻ (của nhà phân phối) - người tiêu dùng Kênh này, văn phòng đại diện chủ yếu đóng vai trò thương mại và tiếp thị, còn tiêu thụ hoàn toàn phụ thuộc vào nhà phân phối
Do nhà phân phối thiết lập
Hình 1.11: Kênh 3 cấp phụ thuộc vào nhà phân phối
- Thứ mười là kênh 3 cấp phụ thuộc vào nhà sản xuất bao gồm nhà sản xuất - văn phòng đại diện - nhà phân phối - mạng lưới bán lẻ đại chúng như siêu thị - trung tâm thương mại - người tiêu dùng
Hình 1.12: Kênh 3 cấp phụ thuộc vào nhà sản xuất
- Thứ mười một là kênh 3 cấp đại chúng từ nhà sản xuất - mạng lưới bán lẻ đại chúng (siêu thị, trung tâm thương mại) và người tiêu dùng
Hình 1.13: Kênh 3 cấp đại chúng
Người tiêu dùng Nhà sản
xuất
Nhà phân phối
Mạng lưới bán lẻ
VP đại diện
Người tiêu dùng Nhà sản
xuất
Nhà phân phối
Mạng lưới bán lẻ
VP đại diện
Nhà sản xuất
Người tiêu dùng
Mạng lưới bán lẻ đại chúng
Người tiêu dùng Nhà sản
xuất
Nhà phân phối
Nhà bán lẻ
Trang 18Các yếu tố ảnh hưởng đến chọn kênh phân phối
- Quy mô: Nhìn chung việc lựa chọn các cấu trúc kênh khác nhau phụ thuộc
vào quy mô công ty Các cơ sở sức mạnh phần thưởng, cưỡng bức và kinh nghiệm
cho phép họ thực hiện sự lãnh đạo trong kênh Vì vậy, các công ty lớn có mức độ
linh hoạt cao hơn trong việc chọn các cấu trúc kênh so với các công ty nhỏ
- Khả năng tài chính: Nhìn chung khả năng tài chính của công ty càng lớn, nó
càng ít phụ thuộc vào các trung gian Để bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối
cùng hoặc người sử dụng công nghiệp, công ty thường cần lực lượng bán của chính
nó và các dịch vụ hỗ trợ hoặc cửa hàng bán lẻ, kho hàng và các khả năng tốt hơn để
trang trải các chi phí cao cho các hoạt động này
- Kinh nghiệm quản lý: Khi một công ty thiếu các kỹ năng quản lý cần thiết để
thực hiện các công việc phân phối, họ phải dựa vào các trung gian bên ngoài để
thực hiện các chức năng này Qua thời gian, khi công ty có kinh nghiệm, nó có thể
thay đổi cấu trúc kênh để giảm mức độ phụ thuộc vào các trung gian phân phối
- Các mục tiêu và chiến lược: Mục tiêu và chiến lược kinh doanh tổng thể chi
phối trực tiếp đến quyết định tổ chức kênh Ví dụ, nhằm thực hiện mức độ điều
khiển cao đối với chất lượng sản phẩm, giá bán lẻ cuối cùng và dịch vụ khách hàng,
doanh nghiệp có thể hạn chế việc sử dụng các trung gian thương mại để phân phối
sản phẩm
Tuyển chọn thành viên kênh
Xuất phát từ những điều kiện bên trong: khả năng tài chính, khả năng quản lý
và những yếu tố bên ngoài, công ty đã xây dựng được những cấu trúc kênh phân
phối phù hợp nhất cho mình để làm tăng thêm khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp Công việc tiếp theo mà các nhà quản lý cần thực hiện là tuyển chọn các
thành viên kênh
Như chúng ta đã biết, để thiết kế được một hệ thống kênh phân phối có hiệu
quả, công ty phải mất rất nhiều thời gian, công sức và tiền của Nhưng bù vào đó,
công ty có cả một lợi thế cạnh tranh trong dài hạn, góp phần vào việc hình thành
thành viên của kênh mặc dù là các doanh nghiệp cá nhân độc lập nhưng đều là sự
mở rộng của nhà sản xuất và các thành viên này sẽ có tác động trở lại nhà sản xuất Chính vì vậy, bất kỳ một công ty nào cũng phải tuyển chọn các thành viên kênh một cách cẩn thận để họ có tác động tốt đến hoạt động kinh doanh của công ty cũng như
uy tín của doanh nghiệp sau này
Tìm kiếm danh sách các thành viên kênh nhiều tiềm năng
Có rất nhiều nguồn thông tin có giá trị giúp nhà quản lý kênh tìm kiếm được thành viên kênh đó là:
- Tổ chức bán hàng theo khu vực: đây là lực lượng bán sẵn có của công ty trên thị trường Họ sẽ cung cấp những nguồn thông tin về các trung gian của kênh, về các trung gian tiềm năng trong vùng Những thông tin của họ là những thông tin cực
kỳ có giá trị bởi họ là những người làm việc trong khu vực này, họ hiểu về thị trường trong khu vực đó và họ biết ai là người có năng lực, có thể đáp ứng được yêu cầu để trở thành thành viên chính thức của công ty
- Các nguồn tin thương mại
- Các khách hàng: Đây cũng là một nguồn thông tin quan trọng bởi khách hàng
là người có ý kiến rất thực Bởi vậy công ty có thể thực hiện các cuộc nghiên cứu đối với người tiêu dùng để tìm ra thành viên kênh tiềm năng
Ngoài ra công ty còn có thể sử dụng các nguồn khác như:
- Quảng cáo
- Tham gia hội chợ
- Thông qua báo chí, ngân hàng, tư vấn…
Các tiêu chuẩn lựa chọn thành viên kênh
Các tiêu chuẩn này được đặt ra theo yêu cầu của từng công ty Tuy nhiên có một số tiêu chuẩn mà mọi công ty đều phải thông qua là:
- Điều kiện tín dụng và tài chính: đây là tiêu chuẩn được lựa chọn nhiều nhất
để chấp nhận các thành viên kênh trong tương lai Do vậy, các nhà sản xuất đều phải điều tra xem trong những thành viên tiềm năng, thành viên nào có đủ khả năng
Trang 19- Sức mạnh bán hàng: đây là tiêu chuẩn cực kỳ quan trọng của các thành viên
kênh Tiêu chuẩn này được đánh giá dựa vào các thước đo như chất lượng của lực
lượng bán, số lượng người bán thực sự đang làm việc, khả năng hỗ trợ của lực
lượng bán hàng
- Khả năng bao phủ thị trường: các nhà sản xuất luôn cố gắng để đạt được việc
bao phủ thị trường với ít nhất sự trùng lặp Chính vì vậy mà sử dụng các thành viên
kênh có hiệu quả sẽ tránh được sự trùng lặp, tránh gây sung đột và sự lãng phí về
tiền của
- Hoạt động bán: thông tin này cho biết về hoạt động bán hàng của các trung
gian
- Khả năng quản lý: thành viên có giá trị là những thành viên có khả năng quản
lý tốt Nhiệm vụ của họ là phải quản lý một đội ngũ bán hàng của mình, tổ chức duy
trì lực lượng bán, đào tạo và phân chia công việc cho họ để họ có được những kỹ
năng trong công tác bán hàng
Đánh giá các thành viên kênh phân phối
Người sản xuất phải định kỳ đánh giá kết quả công tác của những người trung
gian theo những tiêu chuẩn như: mức tiêu thụ đạt được, mức dự trữ bình quân, thời
gian giao hàng cho khách hàng, cách xử lý hàng lỗi và hao hụt, sự hợp tác với các
chương trình khuyến mãi và huấn luyện, các dịch vụ dành cho khách hàng
Việc đánh giá phải được tiến hành thường xuyên theo định kỳ để có phương án
thay thế kịp thời những thành viên hoạt động kém hiệu quả, nếu không nhà sản xuất
sẽ bị mất thị trường cần thiết Vì bất cứ thành viên nào trong kênh cũng có thể
không ổn định, hoặc hoạt động lệch lạc theo ý muốn của họ, nên nhà sản xuất phải
có một lực lượng các đại diện bán hàng dự trữ đang được sử dụng ở các bộ phận
khác để thay thế lắp vào vị trí những thành viên bị đào thải Tất nhiên, chi phí cho
việc duy trì một lực lượng dự trữ sẽ được bù đắp nhờ giảm tổn thất bán hàng và mất
mát lợi nhuận từ những khu vực bán bị rò rỉ Có 4 nhân tố chính ảnh hưởng đến
phạm vi và tần suất của các đánh giá:
- Tầm quan trọng tương đối của các thành viên
- Bản chất sản phẩm
- Số lượng các thành viên kênh
Kiểm tra có thể được thực hiện cho một vài hay tất cả các thành viên kể cả ở cấp độ bán buôn và bán lẻ Quá trình kiểm tra gồm các bước sau:
Hình 1.14: Đánh giá hoạt động của thành viên kênh phân phối
( Nguồn: Quản trị kênh phân phối – Trương Đình Chiến) Phát triển các tiêu chuẩn đo lường hoạt động của thành viên kênh, hầu hết nhà sản xuất đều đưa ra tiêu chuẩn trên cơ sở kết hợp các yếu tố: kết quả hoạt động bán, năng lực hoạt động, thái độ, các biểu hiện cạnh tranh, tương lai tăng trưởng của các thành viên Có thể thực hiện việc đưa ra các tiêu chuẩn thông qua các tiêu chuẩn nhưng không kết hợp các đo lường hoạt động này một cách chính thức hoặc phi chính thức để đạt được một đánh giá tổng thể Có thể kết hợp một cách định tính và không chính thức kết quả đo lường bằng các tiêu chuẩn khác nhau thành một đánh giá chuẩn, toàn diện hoặc đánh giá bằng các tiêu chuẩn đa phương được kết hợp chính thức
Đánh giá theo giai đoạn hoạt động của các thành viên kênh ứng với các tiêu chuẩn đo lường sự hoạt động Có thể chia đánh giá dựa theo một hay nhiều các tiêu chuẩn Các tiêu chuẩn được kết hợp không chính thức để đánh giá toàn bộ hoạt động một cách lượng hóa Các tiêu chuẩn được kết hợp chính thức để đạt tới một chỉ số lượng hóa của toàn bộ hoạt động
Đề xuất các biện pháp điều chỉnh nhằm giảm các hoạt động sai lệch Việc đánh giá các thành viên kênh phân phối là cần thiết đối với nhà quản trị Nhà sản xuất phải định kỳ đánh gía hoạt động của người trung gian theo những tiêu chuẩn nhất định như: doanh số đạt được, mức độ lưu kho trung bình, thời gian giao hàng, cách
Phát triển các tiêu chuẩn đo lường hoạt động
Đánh giá các thành viên kênh ứng với các tiêu chuẩn
Đề xuất các biện pháp điều chỉnh hoạt động của các thành viên kênh
Trang 20xử lý hàng hoá thất thoát hoặc hư hỏng, mức độ hợp tác trong các chương trình
quảng cáo và huấn luyện của Công ty và những dịch vụ mà họ cung cấp
1.2.2.3 Tổ chức tiêu thụ
Để biến những chỉ số kế hoạch tiêu thụ thành hiện thực, ban lãnh đạo doanh
nghiệp phải tiến hành triển khai thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm Trước hết,
lãnh đạo doanh nghiệp phải sâu sát tư tưởng và nội dung của kế hoạch đến các cán
bộ chủ chốt và nhân viên thực hiện, phải phổ biến thành các nhiệm vụ đến các bộ
phận thực hiện Phải có kế hoạch chi tiết, cụ thể, rõ ràng về sự phân công và phối
hợp giữa các bộ phận, thành viên trong việc triển khai thực hiện kế hoạch tiêu thụ
sản phẩm, đồng thời quy định rõ thời gian hoàn thành các chỉ tiêu nhiệm vụ
Chiến lược giá cả
Giá cả của sản phẩm ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của công tác tiêu thụ, do
đó công ty cần có chiến lược giá cả và triển khai thực hiện phân tích về giá chi tiết
đối với từng thời điểm để công tác tiêu thụ hoàn thành kế hoạch đặt ra Việc đầu
tiên cần phải phân tích đó là tính co dãn của cầu theo giá, đây là công việc cần thiết
của doanh nghiệp xây dựng chiến lược giá cả cho hoạt động phân phối Tiếp theo
cần phải xem xét mục tiêu phân phối của doanh nghiệp Kết hợp với hai yếu tố này,
doanh nghiệp có thể xây dựng cho mình một chiến lược giá cả phù hợp Chẳng hạn,
mục tiêu của doanh nghiệp là mở rộng thị trường, kết hợp với tính co dãn của cầu
theo giá thì chiến lược mà doanh nghiệp nên lựa chọn sẽ là chiến lược giảm giá
Doanh nghiệp cần phải đánh giá các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định về giá cả
yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
Hình 1.15: Chiến lược giá cả
( Nguồn: Định giá và tiêu thu – Lê Thụ)
Các yếu tố bên trong
1.Các mục tiêu
marketing
2.Chi phí sản xuất
3.Các yếu tố khác
Các yếu tố bên ngoài
1.Độ co giãn của cầu theo giá
2.Mức độ cạnh tranh
3.Các yếu tố khác của môi trường
Các quyết định về giá
Một quyết định về giá cả của sản phẩm công ty dễ bị các đối thủ cạnh tranh bắt chước Do vậy, trong việc xây dựng chiến lược giá cả, doanh nghiệp cần phải xem xét, phân tích kỹ lưỡng những lợi thế của mình để có thể đưa ra những chiến lược giá cả mà các đối thủ cạnh tranh khó hoặc chậm bắt chước Cũng cần phải xem xét những lợi ích mà doanh nghiệp có thể đạt được so với những “chi phí” khi thực hiện chiến lược đó Ví dụ: khi thực hiện chiến lược cắt giảm giá thì cần phải xem xét phần lợi nhuận tăng thêm do tăng cầu so với phần lợi nhuận mất đi do giảm giá
1.2.2.4 Tổ chức bán hàng
Đánh giá tổ chức và quản lý kho hàng, duy trì tồn kho
Doanh nghiệp có thể vừa sử dụng các kho bảo quản lâu dài, vừa sử dụng các kho trung chuyển Ở các kho bảo quản lâu dài, hàng hóa được dự trữ trong khoảng thời gian vừa và dài Các kho trung chuyển nhập hàng từ các xí nghiệp và các nhà cung ứng khác nhau, sau đó cố gắng giao hàng đến địa chỉ cuối cùng Ngày nay nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại như máy nâng hàng, máy tính… đã áp dụng để sắp xếp bốc dỡ và bảo quản hàng hóa trong kho
Quyết định về khối lượng hàng dự trữ, mức lưu kho là một quyết định có ảnh hưởng lớn đến mức độ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, đồng thời đến chi phí lưu kho, và do vậy ảnh hưởng đến lợi nhuận của nhà phân phối Đây là một bài toán quản lý dự trữ hàng tồn kho Để giải quyết vấn đề này, chúng ta có thể áp dụng mô hình quản lý dự trữ được nghiên cứu trong môn toán học kinh tế Để quyết định về mức tồn kho, cần phải biết khi nào thì phải đặt hàng bổ sung, và đặt với số lượng là bao nhiêu Khi mức hàng tồn kho giảm, nhà quản lý cũng cần biết khi hàng tồn kho giảm đến mức nào thì cần phải đặt hàng bổ sung Quyết định đặt hàng trả lời câu hỏi số lượng đặt hàng là bao nhiêu Công ty cần cân bằng giữa chi phí xử lý đơn hàng và chi phí dự trữ hàng tồn kho
Trang 21Q1
Q2
Q3
Tái tạo tồn kho định kỳ theo thời gian, với số lượng khác nhau
Q1
Q2
Q3
Tái tạo tồn kho theo số lượng không phụ thuộc vào thời gian
Hình 1.16: Hai hệ thống quản trị tồn kho cơ bản
Đánh giá hoạt động vận chuyển, bốc xếp
Người quản lý hoạt động phân phối phải làm các quyết định tổ chức thực hiện
việc vận tải như thế nào Việc lựa chọn phương tiện vận tải nào sẽ ảnh hưởng đến
chi phí và giá bán sản phẩm và đến việc bảo đảm giao hàng có đúng hẹn không và
tình trạng của hàng hóa khi tới nơi và cuối cùng đến sự thỏa mãn của khách hàng
Trong việc vận chuyển hàng các doanh nghiệp có thể lựa chọn trong các
phương tiện vận tải: đường sắt, đường thủy, đường bộ và đường hàng không Mỗi
loại vận chuyển này có tốc độ vận chuyển khác nhau bảo đảm hàng hóa không bị hư
hỏng, chi phí khác nhau và vì vậy chúng thích ứng với những hàng hóa nhất định
Vận tải đường sắt thường có chi phí thấp , thích hợp với các loại hàng có trọng
lượng lớn, khối lượng vận chuyển lớn và cự li vận chuyển dài
Vận tải đường thủy cũng có chi phí thấp, thích hợp với những thứ hàng cồng
kềnh, lâu hỏng, giá trị thấp như than đá…tuy nhiên vận tải đường thủy có tốc độ
chậm và chịu ảnh hưởng của thời tiết
Vận tải đường bộ có tính cơ động cao, thích hợp với những lô hàng đắt tiền với
Vận tải đường hàng không có tốc độ nhanh nhất nhưng chi phí cao, thích hợp với những mặt hàng mau hỏng, gọn nhẹ và có giá trị lớn
Khi lựa chọn phương tiện vận chuyển hàng cụ thể doanh nghiệp phải tính đến sáu yếu tố gồm tốc độ vận chuyển, tần suất giao hàng, độ tin cậy, khả năng vận chuyển các loại hàng hóa khác nhau, khả năng vận chuyển đến địa điểm theo yêu cầu và cuối cùng là chi phí vận chuyển Ví dụ, nếu mục tiêu là chi phí ít nhất thì sẽ phải lựa chọn giữa vận chuyển đường thủy và đường sắt Các doanh nghiệp cũng ngày càng tìm cách sử dụng kết hợp hai hay nhiều phương tiện vận tải và sử dụng bằng container Các doanh nghiệp có thể xây dựng đội vận tải riêng hoặc thuê các công ty vận tải công cộng
Chức năng vận chuyển hàng hoá trong kênh phân phối được thực hiện hay không phụ thuộc phần lớn vào việc giải quyết các nội dung của nhiệm vụ này Lựa chọn đúng phương án vận chuyển cho phép đáp ứng tốt nhất về thời gian, địa điểm
và giảm chi phí vận chuyển trong bán hàng Mọi quyết định về phân phối hàng hoá đặt trong yêu cầu chung về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào các loại phương tiện vận tải hiện có trên thị trường và khả năng khai thác các phương tiện vận tải đó trong quá trình phân phối sản phẩm
Có nhà kinh tế cho rằng gần một nửa chi phí Marketing được chi ở khâu phân phối hiện vật Trong điều kiện sản xuất công nghiệp hiện đại với qui mô lớn và khách hàng nằm rải rác ở khắp nơi, chi phí vận chuyển chiếm một tỷ trọng lớn trong giá thành mà người tiêu dùng cuối cùng phải chịu Đặc điểm sản phẩm có ảnh hưởng không nhỏ tới chi phí vận chuyển Do vậy, cần phải lựa chọn một cách hợp
lý phương tiện vận chuyển để có được chi phí vận chuyển thấp nhất trong điều kiện
có thể, đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh bởi vì có giá thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh
Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng việc theo đuổi mục tiêu chi phí vận chuyển thấp có thể ảnh hưởng hoặc không thoả mãn yêu cầu của mục tiêu khác như thời gian, địa điểm trong quá trình phân phối và bán hàng Mâu thuẫn có thể xuất hiện giữa các mục tiêu khác nhau của quá trình phân phối hiện vật khi lựa chọn các
Trang 22phương tiện vận tải khác nhau đòi hỏi phải giải quyết hợp lý, đồng thời các mục tiêu
đặt ra cho phân phối hiện vật
Đánh giá hoạt động bán của thành viên kênh phân phối
Hoạt động bán là tiêu chuẩn quan trọng nhất và hay được dùng nhất để đánh
giá hoạt động của các thành viên kênh trong thực tế, nếu hoạt động bán của các
thành viên kênh không tốt thì có thể có vấn đề nảy sinh Khi kiểm tra hoạt động
bán, người quản lý kênh cần thận trọng phân biệt giữa:
- Lượng bán hàng của nhà sản xuất cho thành viên kênh
- Lượng bán những sản phẩm của nhà sản xuất mà do thành viên kênh thực
hiện cho các khách hàng của họ
Không phải hai số lượng này nhất thiết giống nhau vì trong thực tế chúng có
thể khác nhau về bản chất xét trong một thời kỳ nhất định Chỉ khi vòng luân
chuyển hàng hoá rất nhanh, chẳng hạn trong trường hợp các loại hàng dễ hỏng,
doanh số bán của nhà sản xuất cho các thành viên kênh mới phản ánh chắc chắn
lượng bán hiện tại của họ Bất cứ lúc nào có thể, người quản lý kênh cũng nên cố
gắng có được dữ liệu về lượng bán từ các thành viên kênh cho các khách hàng của
họ Tuy nhiên, khả năng có những thông tin này của nhà sản xuất phụ thuộc lớn vào
mức độ điều khiển các thành viên kênh của họ
Trong các kênh truyền thống tổ chức lỏng lẻo, khả năng nhà sản xuất lấy được
dữ liệu có thể rất hạn chế Trong trường hợp này nhà sản xuất phải sử dụng dữ liệu
bán của mình cho các thành viên kênh như là một sự ước lượng gần đúng nhất
lượng bán hàng hiện tại của họ
Dù dạng dữ liệu lượng bán nào được sử dụng, người quản lý kênh cần đánh giá
dữ liệu bán theo ba mức độ so sánh sau:
- Lượng bán hàng hiện tại của thành viên kênh so với lượng bán hàng trong
Trong trường hợp so sánh số liệu lịch sử, người quản lý kênh phải tìm kiếm cả
số liệu chi tiết theo dòng sản phẩm, nếu các dữ liệu này có sẵn Dữ liệu càng chi tiết theo dòng sản phẩm sẽ giúp người quản lý kênh nhận biết cơ cấu bán hàng thay đổi của các thành viên kênh Cần cung cấp các chỉ tiêu về cả tổng doanh số cho từng mặt hàng cụ thể Lượng bán cũng được so sánh đánh giá theo khu vực địa lý Các so sánh về doanh số bán giữa các thành viên kênh cũng là một thước đo hoạt động của kênh cực kỳ quan trọng
Các so sánh chéo nhau của tình hình doanh số bán của các thành viên kênh giúp làm rõ những bộ phận thành viên kênh kém hiệu quả Cuối cùng, nếu nhà sản xuất đã đặt các chỉ tiêu bán cho các thành viên kênh, người đó cần đánh giá hoạt động bán thực tế của thành viên trong mối quan hệ với các chỉ tiêu này Nếu chỉ tiêu không đạt ở các dòng sản phẩm, hoạt động của thành viên kênh với từng mặt hàng cần được kiểm tra Hơn nữa, khi so sánh doanh số bán của thành viên kênh với các chỉ tiêu này, người quản lý kênh không chỉ xem xét chính bản thân các tỷ lệ, mà còn xem xét ảnh hưởng trở lại qua các hoạt động phản hồi bởi các thành viên kênh để đạt được các chỉ tiêu Nếu tỷ lệ đạt các chỉ tiêu nhìn chung thấp ở đa số các thành viên kênh, có thể phản ánh chỉ tiêu cao không sát thực tế hơn là hoạt động của các thành viên kênh không hiệu quả
1.2.2.5 Các chính sách, chiến lược hỗ trợ cho hoạt động phân phối sản phẩm
Quảng cáo: Sau khi xác định những nhiệm vụ quảng cáo và ngân sách quảng
cáo, ban lãnh đạo cần xây dựng một quan điểm sáng tạo chung về quảng cáo, chiến lược sáng tạo về quảng cáo Trong quá trình xây dựng chiến lược có thể tách ra ba giai đoạn: hình thành ý tưởng thông tin, đánh giá và lựa chọn các phương án thông tin, thực hiện thông tin
- Hình thành ý tưởng thông tin Để nảy sinh những ý tưởng nhằm giải quyết những nhiệm vụ đặt ra cho quảng cáo, những người sáng tác thường sử dụng những
Trang 23phương pháp khác nhau Nhiều ý tưởng đã nảy sinh do chuyện trò, trao đổi với
người tiêu dùng, các đại lý, các chuyên gia và các đối thủ cạnh tranh
- Đánh giá và lựa chọn các phương án thông tin: người đăng quảng cáo cần
thực hiện đánh giá các phương án thông tin có thể có
- Thực hiện thông tin: Mức độ tác động của thông tin không chỉ phụ thuộc vào
nội dung truyền đạt mà còn phụ thuộc cả vào cách truyền đạt việc thực hiện thông
tin có thể có ý nghĩa quyết định khi nói về những hàng hóa rất giống nhau như các
chất tẩy rửa, thuốc lá, cà phê và bia Người quảng cáo cần đưa tin làm sao để nó thu
hút được sự chú ý và quan tâm của công chúng mục tiêu
Để quảng cáo trở thành công cụ đắc lực phục vụ cho hoạt động phân phối sản
phẩm thì nội dung quảng cáo cần nêu được các yêu cầu sau:
- Tính tập trung cao của thông tin: nội dung thông tin quảng cáo cần xúc tích,
ngắn gọn, dễ đi vào tiềm thức của khách hàng
- Tính trung thực: nhằm đảm bảo cho khách hàng không bị thất vọng khi tiêu
dùng một lần vì tính không trung thực của quảng cáo
- Tính hấp dẫn: quảng cáo phải hấp dẫn, gợi cảm, phải gây ấn tượng với người
nhận thông tin Điều này sẽ tạo nên nhu cầu sản phẩm không những đối với những
khách hàng sẵn có mà còn đối với cả những khách hàng tiềm năng
- Tính hiệu quả: cũng như mọi hoạt động khác, khi tiến hành hoạt động quảng
cáo cũng cần cân nhắc tính toán kỹ lưỡng những chi phí kinh doanh cho hoạt động
quảng cáo so với những lợi ích mà doanh nghiệp có thể nhận được
Có nhiều hình thức quảng cáo và phương tiện quảng cáo như ấn phẩm quảng
cáo, bảng quảng cáo, quảng cáo qua phát thanh truyền hình Mỗi phương tiện
quảng cáo đều có ưu và nhược điểm khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm của sản
phẩm, đặc điểm của thông tin cần truyền tải hoặc khả năng tài chính của doanh
nghiệp mà doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương tiện quảng cáo khác nhau sao
cho đảm bảo tối thiểu hoá chi phi và đạt hiệu quả cao nhất
Kích thích tiêu thụ: đối với mỗi biện pháp kích thích tiêu thụ, công ty phải
xây dựng một kế hoạch riêng bao gồm giai đoạn chuẩn bị cũng như giai đoạn triển
khai mạnh mẽ Giai đoạn chuẩn bị là thời gian cần thiết để chuẩn bị chương trình trước khi bắt đầu giai đoạn triển khai tích cực kéo dài từ khi bắt đầu biện pháp đến khi chấm dứt biện pháp
Tuyên truyền: việc tiến hành những biện pháp tuyên truyền đòi hỏi phải quan
tâm đặc biệt Những tư liệu hay thì dễ đăng, nhưng phần lớn các tư liệu không thể nói là hay được, nghĩa là chúng có thể bị những người biên tập từ chối Một trong những phẩm chất quý giá cơ bản của các chuyên gia tuyên truyền là họ có những quan hệ cá nhân với những người biên tập của các phương tiện truyền tin Thường các chuyên gia tuyên truyền trước kia là nhà báo và trực tiếp quen biết nhiều người biên tập, biết họ cần gì
1.2.3 Tạo động lực từ phía lãnh đạo
Như bất kỳ hoạt động nào trong tổ chức thì hoạt động phân phối sản phẩm cũng chịu ảnh hưởng rất lớn từ các quyết định của lãnh đạo Trong phạm vi nghiên cứu này, ta chỉ xem xét đến nội dung tạo động lực từ phía lãnh đạo đối với hoạt động phân phối sản phẩm trên 2 khía cạnh: Động viên các thành viên kênh; lực lượng lao động tại thành viên kênh và xử lý mâu thuẫn nếu có giữa các thành viên kênh trong hệ thống kênh phân phối
1.2.3.1 Động viên các thành viên trong kênh phân phối
Động viên các thành viên trong kênh nhằm mục đích thúc đẩy bán hàng, ban lãnh đạo thường áp dụng các chính sách khác nhau để khuyến khích các thành viên trong kênh Muốn phát huy cao độ tác dụng của các chính sách khuyến khích, công
ty cần tìm hiều nhu cầu, mong muốn của từng thành viên để làm căn cứ cho các chính sách Chính sách có tác động mạnh nhất là chiết khấu bán lẻ cao, các điều kiện ưu đãi trong hợp đồng, phần thưởng vật chất và tinh thần cho các thành viên bán hàng giỏi Các biện pháp phạt cũng được thực hiện đối với các thành viên hoạt động kém hiệu quả Chính sách khôn khéo hơn là chính sách thiết lập mối quan hệ cộng tác lâu dài, ổn định với các thành viên trong kênh Hai bên cùng bàn bạc để dẫn đến một thỏa thuận đáp ứng mong đợi của hai bên Các mức thưởng khác nhau
Trang 24viên trong kênh Phương pháp thứ ba là kế hoạch hóa việc phân phối trong kênh
Lãnh đạo thành lập bộ phận chuyên trách về phân phối Bộ phận này vạch ra mục
tiêu, kế hoạch, biện pháp xúc tiến hỗ trợ tiêu thụ Công ty hỗ trợ đắc lực cho các
thành viên về quảng cáo, khuyến mại, trưng bày hàng hóa, huấn luyện kỹ năng bán
hàng chăm sóc khách hàng cho các thành viên Các hoạt động hỗ trợ đó làm cho các
thành viên cảm thấy yên tâm và gắn bó với công ty như là một thành viên trong hệ
thống phân phối của Công ty
Ban lãnh đạo cần phải có chính sách liên tục động viên khuyến khích các
thành viên trong kênh để tạo được sự hợp tác chặt chẽ lâu dài trong hoạt động tiêu
thụ sản phẩm Sự động viên khuyến khích phải dựa trên những nhu cầu thực tế của
các thành viên trong kênh
1.2.3.2 Động viên nhân viên tại thành viên kênh phân phối
Tạo động lực làm việc là phần quan trọng trong việc quản lý hiệu suất làm việc
của nhân viên Thực tế đã cho thấy rằng, việc này đóng vai trò chính yếu trong quản
lý hiệu suất làm việc và là điều mà các nhà lãnh đạo luôn quan tâm Người lãnh đạo
phải được tôn trọng để có thể tạo động lực hiệu quả Khi không được tôn trọng,
người lãnh đạo khó mà tạo được động lực cho nhân viên Người lãnh đạo chiếm
được sự tôn trọng của nhân viên bằng một trong nhiều cách sau: kiến thức, trình độ
chuyên môn, kỹ năng quản lý, cách sống, sự quan tâm đến nhân viên, khả năng tập
hợp mọi người
Nhiệm vụ của người lãnh đạo là phải giúp cho nhân viên nhận thấy rằng, công
việc mà họ đang làm hợp với chuyên môn, kỹ năng của mình, cũng như có thể giúp
họ phát triển về nghề nghiệp và tương lai Song song đó là làm cho nhân viên cảm
nhận mình là một phần tử quan trọng của công ty Người lãnh đạo nên "kéo" tất cả
nhân viên của mình vào mọi hoạt động quan trọng của công ty Khi đó họ sẽ yêu
công ty và làm việc hăng say
Để phát huy sức mạnh tập thể và tinh thần làm việc hăng say, nhà quản lý cũng
nên xây dựng tinh thần "màu cờ sắc áo" cho đội ngũ nhân viên Một trong những
cách này là đưa ra mục tiêu sống còn, quan trọng mà công ty cần vượt qua, chẳng
hạn như tăng doanh số so với năm ngoái, hay vượt qua thị phần của một công ty cạnh tranh… Nếu nhà quản lý biết cách, chắc chắn nhân viên sẽ liên kết lại và "xả thân" vì màu cờ sắc áo của công ty mình
Khi họ đạt được thành tích, nhà quản lý phải biết cách khen thưởng kịp thời Việc quan trọng này phải được làm thường xuyên chứ không phải đợi đến cuối năm Chẳng hạn như việc bầu chọn nhân viên xuất sắc, nhân viên có nhiều sáng kiến, nhân viên phục vụ khách hàng tốt nhất, nhân viên bán hàng giỏi nhất có thể tiến hành hàng tháng hay hàng quí Việc bầu chọn phải hết sức công bằng, hợp lý Việc tiến hành công nhận hay trao giải thưởng phải trang trọng Dù bận đến đâu, các lãnh đạo của công ty nên là người trực tiếp công nhận và khen thưởng cho nhân viên Thông tin khen thưởng phải được công bố rộng rãi cho mọi nhân viên, đối tác
và đặc biệt là gia đình của người được khen thưởng
Nhà quản lý cũng nên chú ý công nhận và khen thưởng những nhân viên không nằm trong danh sách những nhân viên xuất sắc, nhưng luôn làm tốt công việc, và gắn bó với Công ty Được sếp khen, nhất là khen trước mặt mọi người, về những thành tích của mình là một trong những liều thuốc "sung" hiệu lực nhất
Và còn thêm một lưu ý nữa là nhân viên phải được giao quyền và được có trách nhiệm Rủi ro do những quyết định của nhân viên được giao quyền sẽ rất nhỏ khi chúng ta đã có một chương trình huấn luyện, kèm cặp tốt Trong khi đó hiệu quả
từ việc giao quyền là rất lớn: nhân viên làm việc hưng phấn, muốn đóng góp nhiều cho công ty, và quan trọng hơn là nhà quản lý có thời gian tập trung vào nhiều việc khác quan trọng hơn
1.2.3.3 Hài lòng của thành viên về chính sách phân phối
Tiến hành khảo sát để đánh giá đầy đủ về thái độ của thành viên kênh phân phối phản ứng thế nào về chính sách phân phối của công ty Căn cứ vào đó người quản lý kênh có điều chỉnh kịp thời mang lại sự hài lòng cho thành viên kênh
1.2.4 Kiểm tra, đánh giá thực hiện phân phối sản phẩm
Mục đích kiểm tra là làm cho hoạt động phân phối sản phẩm đạt kết quả như
Trang 25chỉnh, khắc phục kịp thời Một biện pháp kiểm tra thường được các doanh nghiệp
áp dụng là so sánh kết quả thực hiện với chỉ tiêu kế hoạch năm, nhằm xác định chỉ
tiêu trên thực tế công ty có đạt được mục tiêu khác đã dự kiến cho một năm cụ thể
hay không Việc kiểm tra kiểu này bao gồm bốn bước: thứ nhất là ban lãnh đạo phải
đề ra trong kế hoạch năm những chỉ tiêu cụ thể được phân bổ cho các tháng hay
quý Thứ hai là, ban lãnh đạo phải tiến hành lượng định các chỉ tiêu hoạt động thị
trường của công ty Thứ ba là, ban lãnh đạo phải phát hiện những nguyên nhân dẫn
đến mọi trường hợp đi chệch hướng trong hoạt động của công ty Thứ tư là, ban
lãnh đạo phải thi hành những giải pháp nhằm chấn chỉnh tình hình và khắc phục
những sự cách biệt giữa các mục tiêu đề ra và các kết quả đã đạt được, việc này có
thể đòi hỏi phải thay đổi chương trình hành động và thậm chí thay đổi cả những
phương hướng, mục tiêu
Ban lãnh đạo sử dụng những biện pháp và phương pháp cụ thể nào để kiểm tra
việc thực hiện kế hoạch Bốn phương tiện kiểm tra cơ bản là: phân tích khả năng
tiêu thụ, phân tích thị phần, phân tích mối quan hệ giữa chi phí cho marketing và
mức tiêu thụ, và quan sát thái độ của khách hàng Nếu khi sử dụng một trong những
phương tiện này phát hiện được những thiếu sót trong việc thực hiện kế hoạch thì
lập tức thi hành ngay những biện pháp nhằm chấn chỉnh tình hình Phân tích khả
năng tiêu thụ là lượng định và định giá mức bán thực tế so với mức dự kiến trong kế
hoạch Công ty có thể bắt đầu phân tích những số liệu thống kê về tiêu thụ Phân
tích thị phần số liệu thống kê tiêu thụ vẫn chưa nói lên được tình hình của công ty
đối với các đối thủ cạnh tranh Giả sử rằng khối lượng bán tăng, việc gia tăng này
có thể là do điều kiện kinh tế được cải thiện đã có ảnh hưởng thuận lợi đến tất cả
các công ty, hoặc là do hoạt động của công ty được cải tiến so với các đối thủ cạnh
tranh Ban lãnh đạo cần thường xuyên theo dõi các chỉ tiêu thị phần của công ty
Nếu thị phần tăng thì vị thế cạnh tranh của công ty được củng cố, nếu giảm thì công
ty đã bắt đầu thua kém các đối thủ cạnh tranh
Phân tích mối quan hệ giữa chi phí cho hoạt động phân phối sản phẩm và kết
rằng công ty không chi phí quá nhiều cho ý đồ muốn đảm bảo được những mục tiêu tiêu thụ dự kiến Việc kiểm tra thường xuyên mối quan hệ giữa chi phí cho hoạt động quản lý, tổ chức thực hiện và khối lượng bán sẽ giúp cho công ty duy trì được những kế hoạch tài chính ở mức độ cần thiết
Quan sát thái độ của khách hàng: những công ty phòng xa thường sử dụng các phương pháp khác nhau để theo dõi thái độ của khách hàng, các đại lý và các thành viên trong hệ thống đối với mình khi phát hiện thấy có những thay đổi trong thái dộ của người tiêu dùng trước khi nó kịp ảnh hưởng đến mức tiêu thụ, ban lãnh đạo có khả năng thi hành trước những biện pháp cần thiết, những phương pháp chủ yếu để theo dõi thái độ của khách hàng là hệ thống khiếu nại, góp ý, các bảng danh sách nguồn tiêu dùng và thăm dò ý kiến của khách hàng
Điều chỉnh khi các chỉ tiêu thực tế khác biệt quá nhiều so với các mục tiêu của
kế hoạch năm, công ty sẽ phải điều chỉnh kế hoạch
Xác định các chỉ tiêu kiểm tra
Định lượng các chỉ tiêu hoạt động thị trường
Phân tích hoạt
Quy trình kiểm tra
Hình 1.17: Qui trình kiểm tra đánh giá hoạt động phân phối sản phẩm
Muốn đạt được cái
gì
Điều gì đang diễn
ra
Tại sao lại diễn ra như vậy
Cần phải làm gì để chấn chỉnh tình hình
Trang 26CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÂN PHỐI SẢN PHẨM
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM – VINAMILK
TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY
2.1 Tổng quan về Công ty Vinamilk
2.1.1 Giới thiệu sơ lược về Công ty
- Tên đơn vị: CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM
-Tên giao dịch Quốc tế: VIETNAM DAIRY PRODUCTS JOINT – STOCK
COMPANY
- Tên viết tắt: VINAMILK
- Địa chỉ trụ sở chính: Số 10 Tân Trào, Phường Tân Phú, Quận 7, TP.HCM
- Điện thoại: (08) 54155555; Fax: (08) 54161226
- Email: Vinamilk@vinamilk.com.vn; Website: www.vinamilk.com.vn
- Ngành nghề kinh doanh: Chế biến, sản xuất và kinh doanh Sữa đậu nành, Sữa
tươi, Nước giải khát, Sữa hộp, Sữa bột, Bột dinh dưỡng và các sản phẩm từ Sữa
khác Cho thuê bất động sản Cung cấp các dịch vụ phòng khám đa khoa Các hoạt
động hỗ trợ trồng trọt và chăn nuôi
- Sản phẩm chính của Công ty: Các sản phẩm Sữa (Sữa bột, Sữa đặc, Sữa
nước, Sữa chua ăn, Kem và Fomai) và các sản phẩm Nước giải khát
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Vinamilk
Công ty Sữa Việt Nam được thành lập ngày 14 tháng 2 năm 1976 Lúc mới
thành lập Công ty có tên là Công ty Sữa Cà phê miền Nam thuộc Tổng Cục thực
phẩm Tháng 3 năm 1992, Công ty chính thức lấy tên là Công ty Sữa Việt Nam trực
thuộc Bộ Công nghiệp Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần Sữa
Việt Nam được khái quát trong 3 giai đọan chính:
Giai đoạn 1976 – 1986: Tiếp quản 3 nhà máy Sữa do chế độ cũ để lại sau năm
Trường Thọ (tiền thân là nhà máy Cosuvina); và nhà máy Sữa Bột Dielac (Nestle) Mười năm cơ chế bao cấp Vinamilk cũng như nhiều doanh nghiệp khác chỉ sản xuất theo… kế hoạch Việc khôi phục nhà máy, vừa sản xuất và phân phối sản phẩm trong điều kiện tình hình sản xuất gặp nhiều khó khăn phức tạp Công ty vẫn đảm bảo sản xuất được một lượng hàng nhất định để phục vụ chủ yếu là người già, người bệnh và trẻ em
Giai đoạn 1987 – 2005: Từ năm 1987 – 1996: Đây là giai đoạn khó khăn trong
sản xuất kinh doanh của đất nước nói chung và Công ty Vinamilk nói riêng Công
ty đã khôi phục nhà máy Sữa bột Dielac vào năm 1988 Từ năm 1996 – 2005: Giai đoạn này Công ty đã mở được thị trường xuất khẩu sang các nước Trung đông, SNG, thị trường khó tính EU và Bắc Mỹ Ngày 01/10/2003, Công ty được cổ phần hóa, chính thức chuyển đổi thành Công ty cổ phần và đổi tên thành Công ty cổ phần Sữa Việt Nam Trong giai đoạn này Công ty đã xây dựng thêm một số nhà máy và
xí nghiệp mới như: nhà máy Sữa Cần Thơ (tháng 5/2001); thành lập xí nghiệp kho vận Sài Gòn (tháng 3/2003); nhà máy Sữa Bình Định (tháng 5/2003); nhà máy Sữa Sài Gòn (tháng 9/2003); nhà máy Sữa Nghệ An (tháng 6/2005);
Giai đoạn 2006 – 2013: Thực hiện đổi mới cơ chế quản lý theo mô hình cổ
phần hóa, Công ty đã đạt thành tích rất xuất sắc về phát triển sản xuất kinh doanh Công ty đa dạng hoá các chủng loại sản phẩm, ưu tiên những mặt hàng có lợi thế cạnh tranh và có giá trị cao, có thị trường ổn định Năm 2010, Công ty thực hiện chiến lược đầu tư ra nước ngoài bằng việc liên doanh xây dựng một nhà máy chế biến sữa tại NewZealand Giai đoạn này Công ty đã xây dựng thêm các nhà máy chế biến, mở thêm chi nhánh và xí nghiệp mới như: mua 55% cổ phần Công ty Sữa Lam Sơn (tháng 09/2007); chi nhánh Cần Thơ (1998); khánh thành nhà máy Sữa Tiên Sơn tại Hà Nội (2008); nhà máy Nước giải khát Việt Nam tại Bình Dương (2010); xí nghiệp kho vận Hà Nội (2010); nhà máy Sữa Đà Nẵng đi vào hoạt động tháng 06/2012; 2 nhà máy hiện đại bậc nhất châu Á: nhà máy sản xuất Sữa bột được khánh thành 24/04/2013 và nhà máy sản xuất Sữa nước khánh thành 10/09/2013
Trang 272.1.3 Cơ cấu tổ chức của Công ty
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức Công ty Vinamilk
(Nguồn: Phòng nhân sự)
2.1.4 Chức năng, nhiệm vụ của các Phòng ban
- Phòng kinh doanh: Thiết lập mục tiêu kinh doanh, xây dựng chiến lược và kế
hoạch kinh doanh, theo dõi và thực hiện các kế hoạch kinh doanh, xây dựng mạng
lưới kênh phân phối, chính sách phân phối, chính sách giá Xây dựng hệ thống tiêu
thụ và tổ chức thực hiện tiêu thụ sản phẩm phù hợp với kế hoạch của Công ty giao
hàng tháng, quý, năm Nghiên cứu khai thác các tiềm năng để phát triển thị phần,
mở thêm thị trường mới Kiểm tra theo dõi các chi nhánh, các miền thực hiện tốt
chính sách bán hàng của Công ty, chăm sóc khách hàng, thực hiện nhiệm vụ hậu
mãi, thúc đẩy công tác bán hàng có hiệu quả tại từng miền, vùng, khu vực phân
công, giữ vững và phát triển thị phần, nâng cao doanh số tiêu thụ Kiểm tra việc
quản lý hàng hóa trong kho hàng tại các nhà phân phối theo đúng quy định về bảo
quản, sắp xếp và nhập xuất hàng hóa, an toàn sản phẩm, sử dụng kho hàng đạt hiệu
- Phòng Marketing: Hoạch định chiến lược xây dựng nhãn hiệu các sản phẩm,
phát triển thương hiệu, xây dựng chiến lược giá, phân tích và xác định nhu cầu thị trường…
- Phòng nhân sự: Phụ trách các vần đề về nhân sự
- Phòng dự án: Lập, triển khai, giám sát đầu tư dự án mới và mở rộng sản xuất
cho các nhà máy…
- Phòng cung ứng điều vận: Mua sắm, cung cấp nguyên nhiên liệu, vật tư kỹ
thuật, thực hiện các công tác xuất nhập khẩu, nhận đơn đặt hàng của khách hàng…
- Phòng tài chính kế toán: Quản lý, điều hành các hoạt động tài chính kế toán
- Trung tâm nghiên cứu dinh dưỡng và phát triển sản phẩm: Nghiên cứu sản
phẩm mới, công bố sản phẩm, giám sát quy trình, công nghệ, nghiên cứu và tìm hiểu thị trường
- Phòng phát triển vùng nguyên liệu: Xây dựng và phát triển trại chăn nuôi bò,
tăng số lượng đàn bò đáp ứng cung cấp nguyên liệu cho sản xuất, phát triển con giống nhập ngoại tăng chất lượng nguồn nguyên liệu…
- Phòng khám đa khoa: Khám, tư vấn dinh dưỡng và sức khỏe, tư vấn các sản
phẩm của Công ty cho khách hàng, phối hợp với Trung tâm nghiên cứu dinh dưỡng
và phát triển sản phẩm mới trong việc đưa ra các sản phẩm có thành phần dinh dưỡng phù hợp với nhu cầu của khách hàng
- Phòng sản xuất phụ trách các nhà máy sản xuất: Thực hiện kế hoạch sản
xuất đảm bảo về số lượng và chất lượng
- Phòng kiểm soát nội bộ: Trợ giúp Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát nhằm
đảm bảo các hành động được khắc phục kịp thời, kiểm soát việc thực hiện quy chế, chính sách, thủ tục của Công ty đề ra
- Xí nghiệp kho vận: Thực hiện giao hàng và thu tiền, quản lý cơ sở vật chất,
nguyên vật liệu
Cơ cấu tổ chức phòng kinh doanh của Công ty và vai trò các thành viên
Trang 28Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức phòng kinh doanh của Công ty Vinamilk
(Nguồn: Phòng nhân sự)
Vai trò các thành viên Phòng kinh doanh của Công ty
- Giám đốc điều hành kinh doanh: Là người đứng đầu phòng kinh doanh của
Công ty, là người quản lý, đánh giá và chịu trách nhiệm hoạt động kênh phân phối
sản phẩm của Công ty
- Giám đốc chi nhánh (hoặc Giám đốc miền) và Trưởng bán hàng vùng: Là
người chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động kênh phân phối của chi nhánh hoặc miền
và của vùng do mình quản lý Trưởng vùng báo cáo trực tiếp cho Giám đốc chi
nhánh (hoặc Giám đốc miền)
- Giám sát nhà phân phối (hoặc Chuyên viên kinh doanh): Là người chịu trách
nhiệm tất cả hoạt động tại nhà phân phối mình quản lý Có nhiệm vụ quản lý, huấn
luyện đội ngũ nhân viên bán hàng tại nhà phân phối theo đúng vai trò trách nhiệm
Báo cáo trực tiếp cho Trưởng vùng
Giám sát nhà phân phối(hoặc Chuyên viên kinh doanh)
Trưởng bán hàng vùng hoặc trưởng bán hàng kênh siêu thị
GĐ miền(GĐ chi nhánh) và GĐ
Siêu thị
GĐ điều hành kinh doanh
Trưởng các ban khác trực thuộc phòng kinh doanh
Nhân viên bán hàng tại nhà phân
phối Giám sát đội bán
hàng
- Giám sát đội bán hàng: Hỗ trợ công việc cho giám sát nhà phân phối, quản
lý một phần công việc kinh doanh tại nhà phân phối, giúp giám sát nhà phân phối quản lý đội ngũ nhân viên bán hàng và kiểm tra hoạt động bán hàng ngoài thị trường Tùy thuộc số lượng nhân viên bán hàng và doanh thu của nhà phân phối, Công ty sẽ phân công thêm một giám đội bán hàng tại nhà phân phối đó Báo cáo trực tiếp cho giám sát nhà phân phối
- Nhân viên bán hàng tại nhà phân phối: Ký hợp đồng lao động với nhà phân
phối, được Công ty Vinamilk hỗ trợ thu nhập theo kết quả hoàn thành các chỉ tiêu công việc hàng tháng Thực hiện các công vệc bán hàng được giao dưới sự quản lý của giám sát đội bán hàng và giám sát nhà phân phối
2.1.5 Tình hình nhân lực Công ty Vianmilk
Trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực Vinamilk luôn chú trọng vào các mục tiêu như: Điều kiện làm việc an toàn và chăm sóc sức khỏe Phát triển một đội ngũ lao động đa dạng, tôn trọng sự khác biệt Quan hệ lao động được xác lập trên cơ
sở tự nguyện, tuân thủ pháp luật Giá trị lao động của nhân viên được ghi nhận và
bù đắp thỏa đáng Phát triển nhân viên Thúc đẩy văn hóa làm việc hòa hợp Công ty luôn chú trọng đào tạo nguồn nhân lực hiện tại và tương lai Năm
2012, Công ty tiếp tục tuyển chọn 15 học sinh để gửi đi đào tạo tại Nga Toàn bộ chi phí học 5 năm tại Nga do Công ty đài thọ, sinh viên khi tốt nghiệp cam kết phục
vụ lâu dài cho Công ty Đây là một trong những chính sách ưu đãi đặc biệt của Công ty nhằm thu hút và đào tạo nhân tài Chương trình đã được duy trì từ nhiều năm qua, đã có hơn 60 sinh viên trên cả nước đã và đang được công ty hỗ trợ học bổng toàn phần tại Nga Năm 2012, còn 39 sinh viên đang du học tại Nga Hiện nay,
số lao động đang làm việc tại Công ty đã được đào tạo tại Nga là trên 30 người, nhiều người trong số đó hiện đã đảm nhiệm các vị trí quản lý trong Công ty
- Về tuyển dụng: Tùy theo vị trí cụ thể mà Công ty đề ra những tiêu chuẩn bắt
buộc riêng Song tất cả các chức danh đều phải đáp ứng yêu cầu cơ bản như: trình
độ chuyên môn, tốt nghiệp đúng chuyên ngành, kinh nghiệm, năng động, nhiệt tình,
Trang 29dụng khá khắt khe, với các tiêu chuẩn kinh nghiệm công tác, khả năng phân tích,
quản lý, thích ứng và chịu được áp lực công việc, trình độ ngoại ngữ, tin học…
- Về chất lượng lao động: Hầu hết các cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật đều có
trình độ Đại học, trên Đại học Công ty không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn
cho người lao động thông qua việc thường xuyên mở các lớp đào tạo tại doanh
nghiệp hoặc cho đi học về chuyên môn và quản lý ở bên ngoài hay nước ngoài
- Về nhân viên bán hàng nhà phân phối - kênh truyền thống: Từ năm 2008 đến
nay Công ty đã nhiều lần thay đổi cơ cấu số lượng nhân viên bán hàng, tùy thuộc
chiến lược kinh doanh tại mỗi thời kỳ Từ năm 2008 - 2009, Công ty có chiến lược
tăng nhanh thị phần, tăng độ phủ, tăng doanh số từng nhóm ngành hàng, khi đó
Công ty đã phân chia nhân viên bán hàng bán chuyên theo từng nhóm hàng như Sữa
bột, Sữa nước, Sữa chua và Nước giải khát Từ năm 2010 đến nay, với mục tiêu cắt
giảm chi phí bán hàng tối đa nhưng vẫn đảm bảo kế hoạch doanh thu, lợi nhuận và
sử dụng lưc lượng nhân viên bán hàng hiệu quả nhất Phòng kinh doanh đã sàng lọc,
cắt giảm tinh gọn lại lực lượng nhân viên bán hàng, giữ lại những nhân viên ưu tú,
chiến lược đi đúng hướng mặc dù giảm số lượng nhân viên bán hàng, giảm chi phí
bán hàng nhưng Công ty vẫn vượt kế hoạch doanh thu, lợi nhuận tăng cao mỗi năm
Hiện nay, tùy thuộc đặc thù từng vùng miền, Giám đốc kinh doanh chi nhánh (hoặc
Giám đốc miền) sẽ tổ chức cơ cấu nhân viên bán hàng có thể phụ trách bán chuyên
từng nhóm ngành hàng hoặc bán tổng hợp tất cả mặt hàng, mục tiêu chi phí thấp
nhất nhưng vẫn đạt hiệu quả doanh thu và lợi nhuận cao nhất
2.1.6 Tình hình đầu tư công nghệ sản xuất và đầu tư công nghệ thông tin hiện
đại vào quản trị bán hàng
2.1.6.1 Tình hình đầu tư công nghệ sản xuất
Yếu tố khoa học công nghệ không những đảm bảo cho sự phát triển của doanh
nghiệp mà còn tạo ra ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp Vinamilk đã sử dụng
nhiều loại công nghệ hiện đại trên Thế giới
Trong năm 2012, Vinamilk đã đầu tư mạnh vào hai nhà máy Sữa lớn tại tỉnh
từ tháng 4/2013 và nhà máy Sữa nước vốn đầu tư 2.400 tỉ đồng vừa được khánh thành vào ngày 10/09/2013 Cả hai nhà máy đều được trang bị những công nghệ hiện đại để các sản phẩm có thể đáp ứng các tiêu chuẩn Quốc tế về an toàn vệ sinh thực phẩm và môi trường, đồng thời có thể cạnh tranh được với các nhãn hiệu sữa nổi tiếng trên Thế giới
Nhà máy Sữa bột trẻ em có tổng công suất 54.000 tấn sữa bột/năm, được kỳ vọng sẽ đáp ứng nhu cầu sử dụng Sữa đạt chuẩn Quốc tế cho 700.000 trẻ em Việt Nam mỗi năm Toàn bộ trang thiết bị, công nghệ của nhà máy được cung cấp bởi tập đoàn GEA (Đức), đảm bảo các dưỡng chất, vitamin, khoáng chất không bị biến đổi trong quá trình chế biến
2.1.6.2 Tình hình đầu tư công nghệ thông tin hiện đại vào quản trị bán hàng
Vinamilk đầu tư mạnh vào công nghệ thông tin và hiện đang ứng dụng thành công phần mềm quản trị doanh nghiệp tổng thể ERP Oracle EBS 11i
Cuối tháng 2/2012, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) và Công ty Vinamilk đã ký kết triển khai hệ thống quản lý bán hàng trực tuyến trên phạm vi cả nước ứng dụng công nghệ 3G, GPS vào quản lý hệ thống phân phối Việc thử nghiệm đã được áp dụng từ ngày 01/10/2012 tại TP.HCM với 300 nhân viên bán hàng và theo thông tin đã được công bố thì chỉ sau thời gian ngắn, doanh số đã tăng Các nhà quản lý doanh nghiệp đều tỏ ra rất lạc quan về hiệu quả công nghệ này Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của phương pháp mới này chính là nhân viên bán hàng sẽ được trang bị các thiết bị bán hàng như trang bị máy tính bảng có kết nối 3G, hệ thống định vị toàn cầu (GPS) và camera số, smartphone Với các ứng dụng viết riêng, các thiết bị này sẽ đóng vai trò là thư viện dữ liệu bán hàng
di động, xử lý các đơn hàng, đề xuất đơn hàng… Chúng sẽ không chỉ loại bỏ hầu hết các tác vụ bằng tay trước đây của nhân viên mà còn trở thành người trợ lý đắc lực cho họ Lúc này nhân viên bán hàng sẽ có nhiều thời gian để làm việc trực tiếp với khách hàng Khối lượng thông tin xử lý trong mỗi cuộc bán hàng sẽ nhiều hơn nhưng nhanh hơn, hiệu quả hơn gấp nhiều lần Việc nhân viên bán hàng lấy đơn hàng tại khách hàng và được truyền dữ liệu trực tiếp doanh số, số lượng mặt hàng
Trang 30đơn hàng đó về Công ty, nhờ vậy người quản lý tại Công ty biết được tổng doanh
thu, tình hình ngoài thị trường, tồn kho tại nhà phân phối… theo từng vùng miền và
toàn quốc ngay thời điểm đó và đưa ra những chỉ đạo kịp thời
2.1.7 Danh mục các loại sản phẩm Vinamilk
Vinamilk có danh mục sản phẩm rất đa dạng Trong những năm qua Vinamilk
không ngừng nghiên cứu và phát triển những sản phẩm mới, những sản phẩm giúp
cải thiện và tăng cường sức khỏe con người, chăm sóc sắc đẹp, có lợi cho việc phát
triển thể chất và trí tuệ con người Tuy nhiên, việc Vinamilk cho ra đời nhiều sản
phẩm Nước giải khát nhưng chưa được thành công như mong đợi, chỉ chiếm thị
phần nhỏ trong phân khúc thị trường nước giải khát Việt Nam
Hiện nay, Công ty Vianmilk có hơn 200 sản phẩm được chia theo các ngành
hàng chính như Sữa bột, bột ăn dặm và sản phẩm bột dinh dưỡng; Sữa đặc; Sữa
nước; Sữa chua, Kem, Phomai; Sữa đậu nành, Nước ép trái cây và Nước giải khát
Hình 2.3: Hình ảnh một số sản phẩm tượng trưng cho từng ngành hàng
2.2 Thực trạng hoạt động phân phối sản phẩm tại Công ty cổ phần Sữa Việt Nam - Vinamilk từ 2008 đến nay
2.2.1 Công tác lập kế hoạch
Trong quản lý hoạt động phân phối sản phẩm, bước lập kế hoạch vẫn chưa thực sự được quan tâm chú trọng Qui mô Công ty càng lớn, có rất nhiều sản phẩm thì đòi hỏi Công ty phải lập kế hoạch chi tiết sản phẩm riêng nằm trong kế hoạch kinh doanh năm của Công ty
Về thị trường, trong kế hoạch kinh doanh của Công ty mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng chi phí cho hoạt động thị trường với nội dung chi phí cho công tác thị trường là các khoản công tác phí dựa trên số liệu chi phí dành cho công tác của năm báo cáo Công ty chưa chỉ rõ kế hoạch mở rộng, phát triển thị trường trong năm kế hoạch như thế nào, tập trung vào sản phẩm hay địa bàn nào
Hằng năm công ty lập kế hoạch tiêu thụ trên cơ sở sản lượng tiêu thụ các loại sản phẩm sữa và nước giải khát của năm báo cáo, dự kiến mức tăng trưởng của năm
kế hoạch Trong kế hoạch tiêu thụ Công ty xây dựng chi tiết cho từng loại sản phẩm đối với từng chi nhánh, từng vùng miền theo từng tháng, quý, năm
Thời gian lập kế hoạch năm: Công ty tiến hành lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm cho năm kế hoạch vào đầu tháng 12 của năm báo cáo, đây là thời điểm mà các chỉ tiêu thực hiện của năm báo cáo cơ bản đã hoàn thành và có thể có kết quả doanh số thực hiện chính xác, do đó thuận lợi cho việc dự báo, đánh giá tốc độ tăng trưởng đối với từng sản phẩm, từng bộ phận cho năm kế hoạch
Thời gian lập kế hoạch tháng: Căn cứ trên kế hoạch tiêu thụ của cả năm, sản lượng tiêu thụ các tháng đã thực hiện và đánh giá tình hình thị trường cũng như các chương trình áp dụng trong tháng, phòng kinh doanh sẽ lập kế hoạch tiêu thụ từng ngành hàng, từng loại sản phẩm cho từng chi nhánh, từng miền, từng vùng và thông báo tới các cá nhân, bộ phận liên quan vào ngày cuối của tháng Kế hoạch tháng được thông báo công khai giúp cho khách hàng có thể chủ động trong việc bố trí phương tiện, nhân sự đi lấy hàng cũng như các bộ phận bán hàng chủ động trong
Trang 31Hằng năm, Giám đốc điều hành kinh doanh giao chỉ tiêu kế hoạch tiêu thụ cho
từng chi nhánh (hoặc từng miền) Giám đốc chi nhánh giao chỉ tiêu kế hoạch tiêu
thụ cho từng vùng Trưởng bán hàng vùng giao chỉ tiêu cho từng giám sát nhà phân
phối – tương ứng chỉ tiêu của nhà phân phối giám sát đó phụ trách Giám sát giao
chỉ tiêu cho từng nhân viên bán hàng tại nhà phân phối mà mình quản lý Việc chia
chỉ tiêu tháng của các cấp quản lý phải đảm bảo chỉ tiêu doanh thu tháng đó không
thấp hơn thực hiện doanh thu bình quân trong 3 tháng trước liền kề Mỗi tháng giám
sát nhà phân phối xây dựng kế hoạch tiêu thụ cho từng mặt hàng nhưng phải đúng
với chỉ tiêu tổng từ trên Công ty giao xuống
Hằng tuần, giám sát điều chỉnh kế hoạch tiêu thụ của nhà phân phối phù hợp
với thực tế tiêu thụ tại thị trường mình phụ trách Việc điều chỉnh trong biên độ cho
phép là 20% theo qui định Công ty, mục đích nếu không giới hạn biên độ điều
chỉnh như trên sẽ ảnh hưởng lớn đến kế hoạch sản xuất, sẽ xảy ra tình trạng một số
mặt hàng tồn kho cao nhưng trong khi đó một số mặt hàng bị thiếu, sẽ phá vỡ qui
trình sản xuất của Công ty
2.2.2 Tổ chức thực hiện phân phối sản phẩm
2.2.2.1 Hoạt động nghiên cứu thị trường
Phương pháp nghiên cứu thị trường của công ty chủ yếu là phương pháp
nghiên cứu gián tiếp qua các báo cáo Công ty căn cứ số liệu thực hiện lịch sử và
chiến lược kinh doanh trong năm kế hoạch để lập kế hoạch phân phối theo từng
tháng, quí, năm Thỉnh thoảng, nếu tình hình tiêu thụ gặp khó khăn thì phòng kinh
doanh mới cử nhân viên đi thị trường tiếp xúc thực tế khách hàng thu thập thông tin
và kết hợp các báo cáo từ giám sát ở từng khu vực, từng miền về nhu cầu thị trường,
các đối thủ cạnh tranh
Như vậy, Công ty chưa tiến hành công tác nghiên cứu thị trường thường
xuyên, định kỳ để thu thập thông tin qua việc quan sát, phỏng vấn, soạn thảo các
câu hỏi điều tra và phiếu trưng cầu ý kiến của những người mua bán trên thị trường
Do vậy, Công ty không xác định đúng nhu cầu hiện tại và tương lai của thị trường
Thị trường biến động thường xuyên nhưng do chưa có hoạt động nghiên cứu thị trường định kỳ, vì thế các thông tin phản hồi từ nhà phân phối, nhân viên bán hàng, tiếp thị, từ khách hàng về Công ty rất hạn chế, các chương trình khuyến mãi của Công ty đối thủ theo từng kỳ, từng tháng chưa phản ánh kịp thời Hạn chế này mất đi sự chủ động trong kinh doanh; mất đi tính quyết định kịp thời của người quản lý Công ty chưa có bô phận phận nghiên cứu thị trường trực thuộc phòng kinh doanh đây là mặt hạn chế hiện nay
Xác định lượng cầu của thị trường: Việc thực hiện nghiên cứu cầu thị trường
để xác định lượng tiêu thụ là rất cần thiết, quan trọng Qua việc nghiên cứu cầu thị trường nhà sản xuất có thể xây dựng kế hoạch sản xuất để đưa số lượng sản phẩm ra thị trường hợp lý Tuy nhiên, hiện nay việc xây dựng kế hoạch tiêu thụ cho năm kế hoạch lại căn cứ vào kết quả thực hiện của năm trước và mức tăng trưởng trong năm
kế hoạch Như vậy, công tác xây dựng kế hoạch tiêu thụ không phản ánh đúng thực
tế của thị trường
Xác định lượng cung trên thị trường: Nếu cung lớn hơn cầu sẽ dẫn đến thừa
hàng, giá sẽ giảm; ngược lại nếu cung nhỏ hơn cầu sẽ dẫn đến cung không đáp ứng cầu, khan hiếm hàng có thể làm cho giá tăng Việc giá giảm sẽ xảy ra các hiện tượng tiêu cực: nhà phân phối và cửa hàng bán lẻ sẽ bị giảm lợi nhuận Thị trường
có thể bị loạn giá và ảnh hưởng đến hệ thống phân phối của Công ty Để thị trường
có giá ổn định thì cung và cầu phải gặp nhau, đây là điều kiện lý tưởng cho thị trường ngành hàng tiêu dùng nhanh ở nước ta hiện nay Công ty thỉnh thoảng có thu thập một số thông tin về lượng cung, thị phần của đối thủ cạnh tranh nhưng các báo cáo này có nội dung còn sơ sài và chỉ đáp ứng theo yêu cầu ngay thời điểm đó; chưa phản ánh hết bức tranh về các Công ty đối thủ
2.2.2.2 Tổ chức kênh phân phối sản phẩm
Cấu trúc kênh phân phối: Công ty chia hệ thống kênh phân phối sản phẩm
thành 2 kênh rõ rệt:
- Kênh hiện đại (Mordern Trade-MT): Công ty cung cấp hàng hóa trực tiếp đến các Siêu thị lớn như Metro, BigC, Coopermart, Citimart và các Siêu thị nhỏ