1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận hóa học: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC ĐẠI HỌC

20 1,8K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 742 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Trên cơ sở lý thuyết ứng dụng công nghệ thông tin (CNTN) trong dạy học, thầy (cô) đánh giá thực trạng sử dụng CNTN trong dạy học tại đơn vị mình.I.1. Cở sở lý thuyết ứng dụng CTTN trong dạy hocI.1.1. Vài nét giới thiệu và CNTT trong dạy họcNgày nay CNTT đang được ứng dụng hết sức rộng rãi và hiệu quả vào các lĩnh vực hoạt động của con người, tạo nên những thay đổi to lớn trong xã hội, trong đó có nhà trường. Để đi đến việc ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học (QTDH) trước tiên cần tìm hiểu sơ bộ về CNTT.Công nghệ được hiểu tổng quát là sự áp dụng của khoa học vào các hoạt động thực tiễn của con người trong đời sống xã hội. Trước xu hướng toàn cầu hóa và việc hình thành một nền kinh tế “mạng”, đã dẫn đến mối quan hệ khắng khít không thể tách rời giữa máy vi tính (MVT) với mạng viễn thông và tạo nên một khái niệm mới là CNTT và truyền thông (tiếng Anh là Information and Communication Technology viết tắt là ICT). Đây là một ngành công nghệ mới đang phát triển với tốc độ cao. Đó là tổng thể các phương tiện xử lý dữ liệu, giữ, truyền và phản ánh các sản phẩm thông tin, được cấu trúc thành ba bộ phận: Bộ phận công nghiệp truyền thông: mạng điện thoại, mạng cáp, mạng vệ tinh, mạng di động, mạng phát thanh truyền hình. Bộ phận công nghiệp máy tính: máy tính, thiết bị điện tử, CN phần cứng (chủ yếu là tạo ra phương tiện, công cụ để phục vụ trực tiếp CN truyền thông), CN phần mềm (nhằm nâng cao, mở rộng, phát triển hiệu quả của CN phần cứng, của máy tính điện tử,…) và các dịch vụ khác (thương mại điện tử, thư điện tử,…) Công nghiệp nội dung thông tin: gồm các dữ liệu, số liệu, hình ảnh, các hoạt động, của xã hội về mọi mặt: văn hóa, thể thao, nghệ thuật, KHCN, giáo dụcđào tạo, vui chơigiải trí, … ở trong quá khứ, hiện tại, và tương lai. Nói chung, đó là kho tư liệu khổng lồ của nhân loại. Ba bộ phận trên liên kết lại với nhau tạo thành một tiềm năng vô cùng to lớn. Đó là mạng thiết bị kỹ thuật đa năng, tạo thành xương sống của cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia và toàn cầu.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

KHOA HÓA HỌC

Bài tiểu luận:

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG

DẠY HỌC ĐẠI HỌC

Danh sách học viên:

4 Nguyễn Văn Hải

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

Câu 1: Trên cơ sở lý thuyết ứng dụng công nghệ thông tin (CNTN) trong dạy học, thầy (cô) đánh giá thực trạng sử dụng CNTN trong dạy học tại đơn vị mình I.1 Cở sở lý thuyết ứng dụng CTTN trong dạy hoc

I.1.1 Vài nét giới thiệu và CNTT trong dạy học

Ngày nay CNTT đang được ứng dụng hết sức rộng rãi và hiệu quả vào các lĩnh vực hoạt động của con người, tạo nên những thay đổi to lớn trong xã hội, trong

đó có nhà trường Để đi đến việc ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học

(QTDH) trước tiên cần tìm hiểu sơ bộ về CNTT

Công nghệ được hiểu tổng quát là sự áp dụng của khoa học vào các hoạt

động thực tiễn của con người trong đời sống xã hội Trước xu hướng toàn cầu hóa

và việc hình thành một nền kinh tế “mạng”, đã dẫn đến mối quan hệ khắng khít không thể tách rời giữa máy vi tính (MVT) với mạng viễn thông và tạo nên một khái niệm mới là CNTT và truyền thông (tiếng Anh là Information and Communication Technology viết tắt là ICT) Đây là một ngành công nghệ mới đang phát triển với tốc độ cao Đó là tổng thể các phương tiện xử lý dữ liệu, giữ, truyền

và phản ánh các sản phẩm thông tin, được cấu trúc thành ba bộ phận:

- Bộ phận công nghiệp truyền thông: mạng điện thoại, mạng cáp, mạng vệ tinh, mạng di động, mạng phát thanh truyền hình

- Bộ phận công nghiệp máy tính: máy tính, thiết bị điện tử, CN phần cứng (chủ yếu là tạo ra phương tiện, công cụ để phục vụ trực tiếp CN truyền thông), CN phần mềm (nhằm nâng cao, mở rộng, phát triển hiệu quả của CN phần cứng, của máy tính điện tử,…) và các dịch vụ khác (thương mại điện tử, thư điện tử,…)

- Công nghiệp nội dung thông tin: gồm các dữ liệu, số liệu, hình ảnh, các hoạt động, của xã hội về mọi mặt: văn hóa, thể thao, nghệ thuật, KH-CN, giáo dục-đào tạo, vui chơi-giải trí, … ở trong quá khứ, hiện tại, và tương lai Nói chung, đó là kho tư liệu khổng lồ của nhân loại

- Ba bộ phận trên liên kết lại với nhau tạo thành một tiềm năng vô cùng to lớn Đó là mạng thiết bị kỹ thuật đa năng, tạo thành xương sống của cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia và toàn cầu

Trang 3

I.1.2 Ứng dụng CNTT trong dạy học

Thực chất của quá trình ứng dụng CNTT trong dạy học là sử dụng các phương tiện để khuyếch đại, mở rộng khả năng nghe nhìn và trao cho máy các thao tác truyền đạt, xử lý thông tin Các phương tiện đó được xem như các công cụ lao động trí tuệ mới bao gồm: MVT, video, máy chiếu qua đầu (over head), máy chiếu tinh thể lỏng (LCD-Projector), máy quay kỹ thuật số, các phần mềm cơ bản: xây dựng thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, CD-ROM,… đặc biệt là mạng Internet Trong đó MVT đóng vai trò là trung tâm phối hợp, xử lý mọi hình thức thể hiện và thao tác truyền đạt thông tin MVT kết hợp với một số phần mềm tạo nên một công

cụ hỗ trợ có nhiều chức năng to lớn như: có thể tạo nên, lưu giữ, sắp xếp, sửa đổi, hiển thị lại,… một khối lượng thông tin vô cùng lớn một cách nhanh chóng, dễ thực hiện Do vậy, MVT được xem như là một công cụ dạy học không thể thiếu trong một xã hội hiện đại

I.1.3 Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Trong những năm gần đây, công nghệ thông tin được coi là một trong những ngành khoa học phát triển với tốc độ nhanh nhất Được như vậy vì đây là một ngành khoa học phục vụ và mang lại hiệu quả rõ rệt cho hầu hết các ngành nghề khác nhau trong xã hội Tuy vậy, tại Việt Nam, tiềm năng to lớn mà công nghệ thông tin có thể mang lại cho giáo dục chưa được khai thác một cách thoả đáng Xét cho quá trình giáo dục, với sự đa dạng và phong phú của các phần mềm dạy học, công nghệ thông tin hoàn toàn có thể trợ giúp cho quá trình dạy học bởi những lý do dưới đây:

Thứ nhất, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học sẽ khiến máy

tính trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho quá trình dạy học, cụ thể là:

Khả năng biểu diễn thông tin: Máy tính có thể cung cấp thông tin dưới dạng

văn bản, đồ thị, hình ảnh, âm thanh Sự tích hợp này của máy tính cho phép mở rộng khả năng biểu diễn thông tin, nâng cao việc trực quan hoá tài liệu dạy học

Khả năng giải quyết trong một khối thống nhất các quá trình thông tin, giao lưu và điều khiển trong dạy học: Dưới góc độ điều khiển học thì quá trình dạy học

là một quá trình điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh Với một chương trình

Trang 4

phù hợp, máy tính có thể điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh trong việc cung cấp thông tin, thu nhận thông tin ngược, xử lý thông tin và đưa ra các giải pháp cần thiết giúp hoạt động nhận thức của học sinh đạt kết quả cao

Tính lặp lại trong dạy học: Khác với giáo viên, máy tính có thể lưu trữ một

thông tin nào đó, cung cấp và lặp lại nó cho học sinh đến mức đạt được mục đích sư phạm cần thiết Trên cơ sở này, sự phát triển của từng cá thể học sinh trong quá trình dạy học trở thành hiện thực Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc cá thể hoá trong quá trình dạy học

Khả năng mô hình hoá các đối tượng: Đây chính là khả năng lớn nhất của

máy tính Nó có thể mô hình hoá các đối tượng, xây dựng các phương án khác nhau, so sánh chúng từ đó tạo ra phương án tối ưu Thật vậy, có nhiều vấn đề, hiện tượng không thể truyền tải được bởi các mô hình thông thường, ví như các quá trình xảy ra trong lò phản ứng hạt nhân, hiện tượng diễn ra trong xilanh của động cơ đốt trong, từ trường quay trong động cơ không đồng bộ ba pha, chuyển động của điện

tử xung quanh hạt nhân trong khi đó máy tính hoàn toàn có thể mô phỏng chúng

Khả năng lưu trữ và khai thác thông tin: Với bộ nhớ ngoài có dung lượng

như hiện nay, máy tính có thể lưu trữ một lượng lớn dữ liệu Điều này cho phép thành lập các ngân hàng dữ liệu Các máy tính còn có thể kết nối với nhau tạo thành các mạng cục bộ hay kết nối với mạng thông tin toàn cầu Internet Đó chính là những tiền đề giúp giáo viên và học sinh dễ dàng chia sẻ và khai thác thông tin cũng như xử lý chúng có hiệu quả

Thứ hai, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học có thể hỗ trợ cho

nhiều hình thức dạy học khác nhau như dạy học giáp mặt (face to face); dạy học từ

xa (distance learning); phòng đào tạo trực tuyến (online training lab); học dựa trên công nghệ web (web based training); học điện tử (e-learning) đáp ứng được nhu cầu học tập ngày càng cao của các thành phần khác nhau trong xã hội

Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học dẫn đến việc giao cho

máy tính thực hiện một số chức năng của người thầy giáo ở những khâu khác nhau của quá trình dạy học Nhờ đó, có thể xây dựng những chương trình dạy học mà ở

Trang 5

đó máy thay thế một số công việc của người giáo viên Cách dạy này đã thể hiện nhiều ưu điểm về mặt sư phạm như khuyến khích sự làm việc độc lập của học sinh, đảm bảo mối liên hệ ngược và cá biệt hoá quá trình học tập

I.1.4 Những chú ý khi sử dụng CNTT trong dạy học

a Ưu điểm nổi bật của phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin so

với phương pháp giảng dạy truyền thống là:

- Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh vedeo, camera … với

âm thanh, văn bản, biểu đồ … được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan;

- Kĩ thuật đồ hoạ nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội trong con người mà không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều kiện nhà trường

- Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiện những công việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vực khác nhau;

- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và với người sử dụng qua những mạng máy tính kể cả Internet … có thể được khai thác để tạo nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để học sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu

Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ, âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có

lý, học sinh có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây là một công dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học Có thể khẳng định rằng, môi trường công nghệ thông tin và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của người học và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới

b Các thách thức: Theo nhận định của một số chuyên gia, thì việc đưa công nghệ

thông tin và truyền thông ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo bước đầu đã

Trang 6

đạt được những kết quả khả quan Tuy nhiên, những gì đã đạt được vẫn còn hết sức khiêm tốn Khó khăn, vướng mắc và những thách thức vẫn còn ở phía trước bởi những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn Chẳng hạn:

- Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ giáo viên hoàn toàn trong các bài giảng của họ Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân, mà cụ thể là, với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn cho học sinh, vì giáo viên sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng và như vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học từ đầu đến cuối mà không cần phải lật lại từng “slide” như khi dạy trên máy tính điện

tử Những mạch kiến thức “ vận dụng” đòi hỏi giáo viên phải kết hợp với phấn trắng bảng đen và các phương pháp dạy học truyền thống mới rèn luyện được kĩ năng cho học sinh

- Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin ở một số giáo viên vẫn còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né tránh Mặc khác, phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một lối mòn khó thay đổi,

sự uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xoá được trong một thời gian tới Việc dạy học tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy phương pháp tư duy sáng tạo cho học sinh, cũng như dạy học sinh cách biết, cách làm, cách chung sống và cách tự khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với giáo viên và đòi hỏi giáo viên phải kết hợp hài hòa các phương pháp dạy học đồng thời phát huy ưu điểm của phương pháp dạy học này làm hạn chế những nhược điểm của phương pháp dạy học truyền thống Điều đó làm cho công nghệ thông tin, dù đã được đưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy tính trọn vẹn tích cực và tính hiệu quả của nó

- Việc sử dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó

- Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin còn lúng túng,

Trang 7

chưa xác định hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng bộ trong thực hiện Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học bằng phương tiện chiếu projector, … còn thiếu và chưa đồng bộ và chưa hướng dẫn sử dụng nên chưa triển khai rộng khắp và hiệu quả

- Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để và có chiều sâu; sử dụng không thường xuyên do thiếu kinh phí, do tốc độ đường truyền Công tác đào tạo, Công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chỉ mới dừng lại ở việc xoá mù tin học nên giáo viên chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và công sức để sử dụng công nghệ thông tin trong lớp học một cách có hiệu quả

I.2 Đánh giá thực trạng sử dụng CNTN trong dạy học tại đơn vị mình

I.2.1 Thực trạng chung

Ở Việt Nam nói chung và trong trường ĐHSP nói riêng, kiểu PPDH phổ biến nhất vẫn là thuyết trình, diễn giảng Đây là lối dạy học kiểu truyền thống, truyền thụ một chiều, “thầy đọc-trò chép”, và thường chưa phát huy đầy đủ tính tích cực, độc lập của SV và bồi dưỡng cho họ năng lực tự học, tự nghiên cứu Các kiểu PPDH mới như: giải thích-tìm kiếm bộ phận, nêu vấn đề-nghiên cứu đã được sử dụng nhưng vẫn còn ở mức độ khá hạn chế Đối với việc áp dụng CNTT trong dạy học thì có thể nói, phong trào sử dụng CNTT trong quá trình dạy học đã được phát triển

từ khá lâu, tuy nhiên việc sử dụng vẫn còn chưa được linh hoạt và hiệu quả Đa số

GV mới chỉ dừng ở việc soạn bài tập và bài giảng bằng Word, Powerpont, chứ chưa khai thác được các ứng dụng khác của CNTT một cách hiệu quả và sáng tạo

Về mặt nhận thức, có thể thấy hầu hết các giảng viên ở trường đại học sư phạm đều nhận thấy việc áp dụng CNTT trong dạy học là cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay Bản thân các sinh viên sư phạm hiện nay đều nhận thức được khả năng thiết kế bài giảng bằng máy tính là một tiêu chuẩn nâng cao giá trị của mình khi xin việc vào các trường phổ thông hay đại học tốt Các lãnh đạo trường cũng như các cơ quan giáo dục đều khuyến khích và coi khả năng sử dụng giáo án điện tử, bài giảng điện tử là ưu điểm của giáo viên Do

Trang 8

đó, các lớp tập huấn Tin học sử dụng Powerpoint, Violet, thường được các giáo viên, giảng viên tham gia rất đông Các trường đại học, trong đó có trường ĐHSP đều trang bị hệ thống máy chiếu cho các lớp học

Trên thực tế thì các phần mềm giáo dục của Việt Nam cũng đã xuất hiện rất nhiều, phong phú về nội dung và hình thức như: sách giáo khoa điện tử, các website đào tạo trực tuyến, các phần mềm multimedia dạy học, Trên thị trường có thể dễ dàng lựa chọn và mua một phần mềm dạy học cho bất cứ môn học nào từ lớp một cho đến luyện thi đại học Tuy nhiên, các "Sách giáo khoa điện tử" không tỏ ra nổi trội hơn SGK truyền thống, Website đào tạo từ xa khó triển khai rộng được vì Internet ở VN còn là một vấn đề lớn Các phần mềm dạy học cho học sinh, dù đã có rất nhiều cố gắng về mặt hình thức và nội dung, tuy nhiên sự giao tiếp giữa máy với người chắc chắn không thể bằng sự giao tiếp giữa thầy với trò

I.2.2 Thực trạng sử dụng CNTT ở tổ bộ môn Hoá vô cơ, Khoa Hoá học

a) Về nhận thức về việc sử dụng CNTT trong giảng dạy của giáo viên, sinh viên

Với giáo viên, khoa hóa học nói chung và Bộ môn Vô cơ nói riêng đều nhận thức đúng đắn về vai trò của CNTT trong giảng dạy đại học và có ý thức cao trong ứng dụng CNTT trong giảng dạy và học tập Khoa hóa xây dựng nhiêu nhóm nghiên cứu về CNTT và áp dụng CNTT trong giảng dạy và học tập như Bộ môn vô

cơ, hóa lý, và Phương pháp giảng dạy Các thầy cô trong khoa có ý thức trau dồi cả kiến thức về chuyên môn, phương pháp và công nghệ thông tin để có thể phát huy được tối đa ưu thế của việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy

Với sinh viên khoa hóa, phần lớn sinh viên nhận thức được vai trò của việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy và hứng thú với những tiết giảng có áp dụng CNTT Với ý thức là người giáo viên tương lai, các em cũng đã có ý thức trau dồi thêm các kiến thức về CNTT, cách sử dụng các công cụ phần mềm phục vụ cho bài giảng để có thể sử dụng trong các bài giảng sau này

b) Điều kiện để ứng dụng CNTT vào giảng dạy:

-Về cơ sở vật chất: các phòng học đều được trang bị máy chiếu và có mạng internet,

Trang 9

một số phòng được trang bị đầy đủ các thiết bị như máy tính, máy chiếu, mạng, loa đài phục vụ cho giảng dạy Khoa hóa học cũng có một số phòng máy riêng để phục

vụ cho việc giảng dạy CNTT cũng như các môn chuyên ngành liên quan cần máy tính

- Về yếu tố con người: Đại đa số giảng viên khoa Hóa đều có kĩ năng sử dụng máy tính, các phần mềm và các ứng dụng phục vụ cho giảng dạy Một số bộ môn vẫn thường xuyên cập nhật các công cụ phần mềm hiện đại, phục vụ cho việc dạy học tích cực Bên cạnh kiến thức về công nghệ, các thầy cô cũng luôn trau dồi kiến thức chuyên ngành và kiến thức phương pháp sư phạm để có thể áp dụng CNTT vào giảng dạy được hiệu quả nhất

c) Mức độ ứng dụng CNTT vào giảng dạy:

Với đặc thù của môn Hóa học, khoa Hóa đã chú trọng đến việc áp dụng CNTT vào giảng dạy trong các tiết học nhằm đạt mục đích truyền đạt và gây hứng thú với môn học cho sinh viên Nhiều giảng viên đã biết khai thác, đưa các hình ảnh thí nghiệm đối với tính chất hóa học của các chất, các phần mềm mô phỏng đối với những lý thuyết trừu tượng vào bài giảng của mình một cách hiệu quả Bộ môn Hoá vô cơ hiện đảm nhiệm các học phần hoá đại cương, tinh thể, phức chất Đây là các học phần có liên quan đến các khái niệm, quá trình khá trừu tượng, phức tạp, khó hình dung được bằng mắt thường Các giảng viên đã kết hợp giảng dạy với việc cho sinh viên xem các băng hình mô phỏng về quá trình hoà tan chất rắn, hoặc quá trình sắp xếp các ion trong tinh thể để sinh viên có thể dễ dàng mường tượng ra Trong học phần thực hành hoá Vô cơ, có nhiều thí nghiệm quan trọng để minh hoạ tính chất, nhưng lại độc hại và nguy hiểm với SV, giảng viên đã cho HS xem băng hình thí nghiệm, để học sinh rút ra nhận xét và kết luận về tính chất của các chất Các thí nghiệm này cũng được giáo viên sử dụng linh hoạt để minh hoạ cho tính chất các chất khi giảng dạy học phần hoá nguyên tốt

Tuy nhiên mức độ ứng dụng CNTT trong khoa hóa cũng chưa thật thường xuyên Nhiều thầy cô vẫn thấy việc dạy học truyền thống bằng bảng đen phấn trắng giúp

Trang 10

sinh viên tập trung hơn vào bài giảng và do đó đạt hiệu quả cao hơn, đặc biệt là với hoá học, một môn học có nhiều phương trình, cơ chế phức tạp Nhiều sinh viên cũng thừa nhận giảng viên có xu hướng dạy nhanh hơn khi dùng trình chiếu, thường chuyển ngay qua 1 slide khác trước khi các em kịp ghi chép Rõ ràng các giảng viên cần có biện pháp để nâng cao hiệu qủa sử dụng CNTT trong dạy học

d) Mức độ sử dụng các phần mềm dạy học

Đa số các giảng viên khoa Hóa học có khả năng sử dụng các phần mềm daỵ học như Microsoft office, power point, violet, chem draw, Flash…

e) Mức độ khai thác internet

-Đối với giảng viên khoa Hóa học, hầu hết các giảng viên đã tận dụng được lợi ích của internet khá tốt Giảng viên khoa Hóa đã khai thác internet để tìm kiếm thông tin phục vụ dạy học, khai thác hình ảnh, clip, sơ đồ, mô hình, tìm kiếm thông tin phục vụ dạy học, trao đổi chuyên môn với các đồng nghiệp, dạy học theo dự án với sinh viên Tuy nhiên mảng dạy học trực tuyến vẫn chưa được triển khai

- Đối với sinh viên, nhu cầu sử dụng internet của các em là khá cao nhưng thường sử dụng vào mục đích khác hơn là nhu cầu học tập Số lượng sinh viên khai thác internet để tra cứu tài liệu, các thông tin liên quan đến bài học còn hạn chế

f) Phạm vi ứng dụng CNTT

Các giảng viên khoa Hóa học hiện nay chủ yếu áp dụng CNTT trong các bước thiết kế bài giảng, tiến hành giảng dạy ở trên lớp Sử dụng CNTT trong việc kiểm tra, đánh giá học tập của sinh viên và hướng dẫn sinh viên tự học, tự nghiên cứu còn hạn chế

g) Hiệu quả của việc ứng dụng CNTT:

Việc ứng dụng CNTT trong dạy học đã đem lại những hiệu quả sau:

- Nâng cao chất lượng giờ dạy

- Nâng cao tính tích cực của học sinh

- Nâng cao hứng thú học tập cho học sinh

- Tăng lượng thông tin truyền đạt

Ngày đăng: 02/08/2016, 13:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Mô hình TPACK - Tiểu luận hóa học: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC ĐẠI HỌC
Hình 1 Mô hình TPACK (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w