MỤC LỤCA. PHẦN MỞ ĐẦU11. Lý do chọn đề tài12. Lịch sử vấn đề23. Phạm vi nghiên cứu44. Phương pháp nghiên cứu4B. PHẦN NỘI DUNG5CHƯƠNG 1. NHữNG VấN Đề CHUNG51.1. Nhận thức về khái niệm hậu hiện đại51.2. Những dấu hiệu hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam đương đại81.3. Hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư10CHƯƠNG 2. NHữNG BIểU HIệN Về NộI DUNG132.1. Tinh thần hoài nghi132.1.1. Thế giới mơ hồ, phân mảnh132.1.2. Giải thiêng nhân vật phi phàm192.1.3. Phủ nhận những niềm tin của cộng đồng242.1.4. Đối thoại với những quan niệm truyền thống282.2. Cảm thức cô đơn332.2.1. Lạc lõng giữa cuộc đời342.2.2. Khủng hoảng các mối quan hệ riêng tư382.3. Khát vọng truy tìm bản thể482.3.1. Truy tìm nguồn gốc492.3.2. Nhận biết giá trị bản thân51CHƯƠNG 3. NHữNG BIểU HIệN Về NGHệ THUậT573.1. Kết cấu đa tầng573.1.1. Cốt truyện đa tuyến573.1.2.Xé lẻ cốt truyện593.2. Đặc tả thế giới nội cảm613.2.1. Mờ hóa nhân thân613.2.2. Đặc tả thế giới nội cảm63C. PHẦN KẾT LUẬN65D. TÀI LIỆU THAM KHẢO66
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS.Trần Hạnh Mai - người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này!
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam hiện đại cũng như các thầy cô trong khoa Ngữ Văn - trường Đại học Sư phạm
Hà Nội đã hướng dẫn, chỉ bảo, động viên em trong thời gian học tập và nghiên cứu!
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân cùng toàn thể bạn
bè - những người đã động viên khích lệ tôi trong quá trình học tập và làm khóa luận!
Hà Nội, tháng 4 năm 2015
Sinh viên Đào Thị Hồng Phượng
Trang 2MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
B PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 5
1.1 Nhận thức về khái niệm hậu hiện đại 5
1.2 Những dấu hiệu hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam đương đại 8
1.3 Hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư 10
CHƯƠNG 2 NHỮNG BIỂU HIỆN VỀ NỘI DUNG 13
2.1 Tinh thần hoài nghi 13
2.1.1 Thế giới mơ hồ, phân mảnh 13
2.1.2 Giải thiêng nhân vật phi phàm 19
2.1.3 Phủ nhận những niềm tin của cộng đồng 24
2.1.4 Đối thoại với những quan niệm truyền thống 28
2.2 Cảm thức cô đơn 33
2.2.1 Lạc lõng giữa cuộc đời 34
2.2.2 Khủng hoảng các mối quan hệ riêng tư 38
2.3 Khát vọng truy tìm bản thể 48
2.3.1 Truy tìm nguồn gốc 49
2.3.2 Nhận biết giá trị bản thân 51
CHƯƠNG 3 NHỮNG BIỂU HIỆN VỀ NGHỆ THUẬT 57
3.1 Kết cấu đa tầng 57
Trang 33.1.1 Cốt truyện đa tuyến 57
3.1.2.Xé lẻ cốt truyện 59
3.2 Đặc tả thế giới nội cảm 61
3.2.1 Mờ hóa nhân thân 61
3.2.2 Đặc tả thế giới nội cảm 63
C PHẦN KẾT LUẬN 65
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 4A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chính thức ra đời sau chiến tranh thế giới thứ hai, đến những năm 60,
70 của thế kỉ XX chủ nghĩa hậu hiện đạiphổ biến rộng rãi trên toàn thế giới.Tinh thần hậu hiện đại thẩm thấu vào đời sống, trên mọi phương diện, ở mọiquốc gia, không chỉ tại những cường quốc phương Tây và Mĩ mà còn thâmnhập vào những quốc gia có nền kinh tế đang phát triển hoặc kém phát triển.Chủ nghĩa hậu hiện đại trở thành một trào lưu, một khuynh hướng sáng tác vàtạo thành một dòng chảy lớn của văn chương thế giới với sự xuất hiện củahành loạt những cây bút nổi tiếng như F Kafka, A Camus, Dino Buzzati…
Ở Việt Nam, tinh thần hậu hiện đại đã xuất hiện và đang dần phổ biếntrong sáng tạo nghệ thuật Trong văn học,sáng tác theo phong cách hậu hiệnđại trở thành một khuynh hướngtrong dòng chảy của văn chương đương đạivới hàng loạt tác phẩm của những tác giả như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm ThịHoài, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Thuận, Thái Phan Vàng Anh…
Nguyễn Ngọc Tư là cây bút trẻ có khả năng sáng tạo dồi dào, đa dạng,
có cá tính sáng tạo riêng Ngay từ những sáng tác đầu tay Nguyễn Ngọc Tư đã
để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc và giành được rất nhiều giải thưởngvăn học uy tín:
- Năm 2000, giải I trong Cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần
II với tác phẩm “Ngọn đèn không tắt”.
- Năm 2001, giải B Hội nhà văn Việt Nam với tập truyện “Ngọn đèn
không tắt”.
- Năm 2000, Tặng thưởng dành cho tác giả trẻ của Ủy ban Toàn quốc Liên
hiệp các hội VHNT Việt Nam với tập truyện ngắn “Ngọn đèn không tắt”.
“Sông”dường như là một cột mốc mở ra một chặng đường mới của
Nguyễn Ngọc Tư trên cả phương diện thể loại cũng như tư tưởng nghệ
Trang 5thuật.Với “Sông” Nguyễn Ngọc Tư đã từ bỏ cánh đồng nhỏ hẹp để đến với
dòng sông rộng lớn hơn Nếu trước đây người ta biết đến chị như một thứ đặcsản của Cà Mau, người ta cảm nhận được ở chị chất Nam Bộ đậm đặc và cáinhìn nhân ái, yêu thương đối với con người thì nay chị đang có ý thức hòamình vào dòng chảy lớn của văn chương đương đại, để trở nên hiện đại hơn.Những dấu hiệu hậu hiện đại xuất hiện trong tiểu thuyết này của chị chỉ mangtính chất đơn lẻ, chưa thực sự rõ nét như trong sáng tác của những cây bútkhác
Với người thực hiện khóa luận, tìm hiểu về dấu ấn hậu hiện đại trong
tiểu thuyết “Sông” là cơ hội để tìm hiểu về sự nghiệp sáng tác của một gương
mặt nổi bật với sự nghiệp sáng tác phong phú, đồng thời cũng là cơ hội đểhiểu thêm về văn chương đương đại Việt Nam
Mặt khác,việc triển khai đề tài này còn giúp người viết rèn luyện kĩnăng phân tích tác phẩm tự sự, kĩ năng tiếp cận với một tác phẩm mới, kĩnăng tổng hợp và khái quát vấn đề Đây là những kĩ năng cần thiết với côngviệc giảng dạy Ngữ Văn sau này
2 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút trẻ có cá tính sáng tạo riêng và giànhđược những thành công nhất định, bởi thế ngay từ những sáng tác đầu tay chị
đã nhận được tình yêu mến của độc giả và sự quan tâm của văn giới
Đa số ý kiến đều khẳng định rằng sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư thểhiện tình yêu thương nhân ái, sự trân trọng, cảm thông với nỗi đau của con
người Đều khẳng định rằng chị là đặc sản của Cà Mau, là “trái sầu riêng” như chị vẫn thường tự nhận Tác giả Trần Phỏng Diều trong bài viết “Thị hiếu
thẩm mĩ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” có nhận định “Nguyễn Ngọc Tư quả là có cái nhìn sâu sắc, tinh tế, có khả năng phát hiện ra những ngõ sâu trong tâm hồn người dân Nam Bộ: những niềm vui, nỗi buồn, cốt cách đặc
Trang 6trưng cũng như bản chất cố hữu của họ” Tác giả Huỳnh Công Tín trong bài
viết “Nguyễn Ngọc Tư - nhà văn trẻ Nam bộ” đã khẳng định Nguyễn Ngọc Tư
là “một nhà văn hiếm, vì còn giữ được cái cốt cách diễn đạt của người Nam
Bộ trong sáng tác văn chương”.
Trong “Sông” hơi thở hậu hiện đại mới chỉ phảng phất Bởi thế việc tìm
hiểu về dấu ấn hậu hiện đại trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư cho đến nayvẫn chưa có công trình nào đề cập tới Tuy nhiên cạnh đó, đã có một vài côngtrình nghiên cứu về những vấn đề liên quan
Trong bài viết “Sông và hành trình bản ngã của Nguyễn Ngọc Tư” tác giả
Hoài Phương đã nhận ra nỗ lực của Nguyễn Ngọc Tư trong việc đưa mình thoát rakhỏi quán tính viết cũ, tìm đến một cách viết mới mẻ hơn Bài viết cũng đồng thờichỉ ra hành trình khám phá bản thể của các nhân vật và khẳng định rằng việc conngười truy tìm bản thể xuất phát từ cảm nhận về sự lạc loài, vong thân
Tác giả Trần Hữu Dũng trong bài viết “Nguyễn Ngọc Tư và Sông” cũng khẳng định sự mới mẻ của “Sông” so với những sáng tác trước đây
“Nguyễn Ngọc Tư tìm tòi cái mới lạ và dù phải nói rằng quyển này chưa hẳn
là tuyệt đỉnh thành công của cô (và chắc cô là người đầu tiên nhìn nhận như thế), đây là một cố gắng đáng ngưỡng mộ Nguyễn Ngọc Tư đang vạch một hướng đi mới, nhưng nếu nhìn ngoái lại thì người đọc vẫn thấy con đường ấy bắt đầu từ hành trình đã qua của một Nguyễn Ngọc Tư mà độc giả từng yêu mến Chúng ta hãy cùng đi với cô.”
Ngoài ra, khi “Sông” mới ra mắt cũng có rất nhiều nhà báo phỏng vấn
Nguyễn Ngọc Tư, rất nhiều bài báo với nhan đề khẳng định Nguyễn Ngọc Tư
đã rời bỏ cánh đồng để đến với dòng sông rộng lớn hơn Chính Nguyễn Ngọc
Tư cũng khẳng định rằng mình đang trên hành trình làm mới bản thân khi trả
lời với báo chí “Cây tới mùa nó thay lá, quả tới mùa nó chín Mọi người
dường như muốn một thứ quả cứ xanh mãi Điều đó hơi trái tự nhiên, như thể một dòng sông không chảy được vậy đó Nhà văn đã đi rất là xa, mà bạn đọc
Trang 7cứ ngồi mãi một chỗ cũ, cứ mong chờ như mình vẫn còn ở đó, trong khi một nhà văn thì luôn phải đi tới, bỏ những hào quang lại sau lưng”.
Ngô Thị Thúy Hà trong luận vănthạc sĩ “Cảm thức cô đơn trong truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tư” tập trungnghiên cứu những ảnh hưởng của trào lưu
văn học thế giới và môi trường tự nhiên, văn hóa xã hội là cội nguồn để tạonên cảm thức cô đơn trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, những biểuhiện của cảm thức cô đơn, từ đó luận văn đi sâu nghiên cứu những phươngthức, những phương tiện nghệ thuật chủ yếu thể hiện cảm thức cô đơn trongtruyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
Luận văn “Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết “Sông”của Nguyễn Ngọc
Tư” của tác giả Hoàng Thị Thu Nganghiên cứu các kiểu nhân vật như nhân
vật kiếm tìm, nhân vật cô đơn và nhân vật sống trong thế giới tâm linh và vô
thức trong tiểu thuyết "Sông" Trên cơ sở đó luận văn đi sâu nghiên cứu về
không gian, thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật trong
tiểu thuyết "Sông " của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.
Như vậy, có thể thấy rằngcác công trình nghiên cứu đã đề cập tới dấu
ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết “Sông” trên phương diện hình tượng con
người Song do không phải là mục đích nghiên cứu nên vấn đề vẫn chưa đượcquan tâm một cách đầy đủ và hệ thống Vì thế, với phạm vi của một khóa luậntốt nghiệp chúng tôi mong muốn sẽ chỉ ra được những nét cơ bản nhất dấu ấn
hậu hiện đại trong tiểu thuyết “Sông”.
Trang 8B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Nhận thức về khái niệm hậu hiện đại
Chủ nghĩa hậu hiện đại có nội hàm rộng và hiện vẫn đang vận động,gây nhiều tranh cãi Chính vì vậy, bao quát toàn bộ lý thuyết về chủ nghĩa hậuhiện đại là điều bất khả Trong phạm vi của một khóa luận tốt nghiệp, chúngtôi tự giới hạn ở việc chỉ bao quát những lý thuyết chủ yếu và những lý thuyết
phục vụ cho việc nghiên cứu về dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết “Sông”
của Nguyễn Ngọc Tư Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi rút ra những đặctrưng cơ bản trên phương diện tư tưởng và thủ pháp sáng tác của chủ nghĩahậu hiện đại như sau:
Chủ nghĩa hậu hiện đại không chỉ là một trào lưu triết- mĩ mà còn làmột văn hóa sống, một xu thế vận động của xã hội đang có phạm vi ảnhhưởng trên toàn thế giới Ra đời sau chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩahậu hiện đại đánh dấu cơn khủng hoảng, sự phá sản niềm tin của con người.Khác với chủ nghĩa hiện đại luôn đề cao trung tâm, cố gắng xây dựng mộttrung tâm và hướng tới xây dựng, duy trì một trật tự ổn định, chủ nghĩa hậuhiện đại phá vỡ mọi trung tâm,chủ trương giải trung tâm, giải cấu trúc,đề caotính bất định và phân mảnh Chủ nghĩa hậu hiện đại coi thế giới là hỗn mang,hỗn độn nhưng không vì thế mà nỗ lực ổn định nó, ngược lại còn chấp nhận
Trang 9chi phối mọi cách cảm nhận của con người về thế giới Con người hoài nghi
và phủ nhận tất cả đã rừng tồn tại trước đó
“Bất tín đại tự sự” là sự diễn đạt về cách cảm nhận của con người đối
với thế giới “Đại tự sự” là hệ thống những nguyên tắc, những niềm tin,
những định đề, chân lý, những huyền thoại của cộng đồng chi phối đến hành
vi ứng xử của con người Chủ nghĩa hậu hiện đại hoài nghi và phủ nhận “đại
tự sự” yêu cầu giải các đại tự sự, đề cao các “tiểu tự sự” tức đòi hỏi phá bỏ
mọi nguyên tắc để con người hành xử theo cách của mình Từ thái độ “bất tín
đại tự sự” hướng tới nguyên tắc phi trung tâm hóa và giải cấu trúc.
Tinh thần giải thiêng đối với các hình mẫu lý tưởng, các giá trị đượctôn thờ trước đó là một biểu hiện mạnh mẽ của khát vọng giải các đại tự sự.Đối tượng giải thiêng có thể là những anh hùng, những vị thánh hay những tínđiều tỏa hào quang lấp lánh được con người tôn thờ, trọng vọng Không cònhình mẫu lý tưởng, không còn bất kì niềm tin nào làm cơ sở cho con người,con người rơi vào trạng thái hoang mang, rệu rã Để giải thiêng con người sửdụng các biện pháp nhại, nhạo, cất lên tiếng cười phê phán Song khác vớichủ nghĩa hiện đại phê phán các yếu tố tiêu cực trong xã hội nhằm hướng tớixây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, chủ nghĩa hậu hiện đại phê phán nhưngchấp nhận nó và chơi cùng với nó
Chủ nghĩa hậu hiện đại đề cao tính bất định và phân mảnh Trên phươngdiện cấu trúc tác phẩm, khung tự sự truyền thống bị phá vỡ Cốt truyện truyềnthống bao giờ cũng hướng tới xây dựng một cốt truyện trung tâm, các tình tiết sựkiện phát triển theo quan hệ nhân quả và đặc biệt logic, nếu có các cốt truyệnkhác thì cũng chỉ là cốt truyện phụ đóng vai trò làm sáng tỏ cho cốt truyện chính.Chủ nghĩa hậu hiện đại xây dựng một mô hình tác phẩm khác, cốt truyện tuyếntính bị xáo trộn, bị cắt ra thành nhiều mảnh đoạn và trôi dạt khắp nơi trong tácphẩm, giữa các tình tiết sự kiện không tồn tại mối quan hệ nhân quả Nhiều khi
Trang 10đang từ hiện tại lại bất ngờ quay về quá khứ và hướng tới tương lai Tác phẩmkhông còn cốt truyện trung tâm, hay nói cách khác cốt truyện trung tâm bị phá
vỡ đồng thời phát triển thêm các cốt truyện phụ Việc phát triển thêm các cốttruyện phụ khiến cho tác phẩm trở thành đa trung tâm, từ đó hướng tới việc khắchọa một hiện thực rộng lớn và rậm rạp
Chủ nghĩa hậu hiện đại coi hiện thực này là một thứ hiện thực đa dạng,
đa chiều đầy rẫy những điều phi lý, nguy hiểm luôn rình rập con người Chủnghĩa hiện đại cũng viết về một hiện thực đen tối, nhưng chủ nghĩa hậu hiệnđại chỉ coi đó là những góc tối của cuộc sống, có tồn tại nhưng rất ít và có thểcải tạo sửa chữa được Chủ nghĩa hậu hiện đại nhìn hiện thực này toàn nhữngđiều phi lý và giả trá Xã hội ấy đẩy con người vào trạng thái cô đơn Conngười trở thành kí hiệu cô đơn giữa muôn vàn kí hiệu Nỗi cô đơn của conngười xuất phát từ sự phá sản của mọi niềm tin, từ sự đứt gãy của các mốiquan hệ của đời sống, con người mất hết mọi liên hệ với nhau và với thực tại,con người không có khả năng và không có nhu cầu giao tiếp với đồng loại.Chủ nghĩa hậu hiện đại xây dựng nhân vật của mình chỉ như những bóng ma,những kí hiệu, những khối vô cảm Nguyên tắc xây dựng nhân vật truyềnthống bị phá vỡ, Các nhà văn hậu hiện đại tiến hành xóa mờ mọi đường viềnnhân thân, tiểu sử của nhân vật Nhân vật bị dập xóa tính cách, trở thànhnhững kẻ phi tính cách, phi cá tính
Tính liên văn bản là một đặc điểm của chủ nghĩa hậu hiện đại Với yêucầu giải mọi trung tâm, chủ nghĩa hậu hiện đại quan niệm văn bản chỉ nhưmột sự tập hợp của nhiều mảnh vụn trước đó Nhà văn chỉ là người hoán vị,trộn xóc những thể loại, những văn bản trước đó để tạo ra một tác phẩm mới.Bởi thế các văn bản có mối liên hệ mật thiết với nhau
Chủ nghĩa hậu hiện đại chủ trương phá vỡ mọi trung tâm, quan tâm đếnnhững vấn đề ngoại biên Các nhà văn hậu hiện đại dành sự quan tâm khai
Trang 11thác những vấn đề trước đây chưa được quan tâm hoặc chưa được quan tâmđúng mức Điều này như là sự phản ứng đối với các cấu trúc trung tâm chínhthống, với lí tính thuần túy của tinh thần nhân văn mới.
1.2 Những dấu hiệu hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam đương đại
Trước đây, khi chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện, có nhiều ý kiến chorằng ở Việt Nam chưa thể có hậu hiện đại Nhưng trên thực tế những dấu ấncủa chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện ngày càng đậm đặc và trở thành mộtkhuynh hướng, một dòng chảy chính của văn chương đương đại Chính hoàncảnh mới của đất nước và khát vọng, ý thức tìm tòi của giới cầm bút là cơ sởcho chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện
Sau ngày đất nước thống nhất, đời sống xã hội có nhiều thay đổi nhưngvăn học của ta vẫn vận động theo quán tính cũ Điều đó đã tạo nên sự lệch phagiữa văn học và nhu cầu, thị hiếu của bạn đọc, văn học bắt buộc phải đổi mới.Sau đại hội Đảng năm 1986đất nước tiến hành cải cách, mở cửa Chính hoàncảnh đó đã tạo điều kiện cho những luồng gió mới du nhập vào nước ta Nhàvăn Việt Nam, đặc biệt là sau cao trào Đổi mới luôn luôn ý thức được yêu cầuphải đổi mới nền văn học nước nhà Bằng nỗ lực của cả giới nghiên cứu và giớicầm bút những kinh nghiệm sáng tác của văn chương thế giới được truyền bávào Việt Nam trong đó có kinh nghiệm hậu hiện đại Việc tiếp nhận kinh nghiệmsáng tác của thế giới là việc phổ biến và hoàn toàn đương nhiên
Trước tiên phải khẳng định, Văn học Việt Nam không mang đầy đủ cácđặc điểm của văn học hậu hiện đại thế giới Như Nguyễn Hưng quốc đã chỉ
ra, hậu hiện đại ở Việt Nam là thứ “hậu hiện đại nguyên hợp”, bao gồm ba nội dung chính: “một, tiếp nhận chủ nghĩa hiện đại vừa như một khuynh
hướng bản địa được hình thành qua nỗ lực sáng tạo của giới cầm bút trong nước vừa như một di sản văn hóa của thế giới, hai, phản bác những nguyên
Trang 12tắc nhận thức và thẩm mĩ của chủ nghĩa hiện đại ấy, cuối cùng, phản bác cả thái độ cực đoan và duy lí trong chính sự phản bác ấy Nói cách khác, chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam, nếu có, chỉ là một kết hợp cùng lúc giữa chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại, trong đó, các yếu tố mang tính hậu hiện đại được đẩy lên thành những yếu tố chủ đạo”.
Theo học giả Lã Nguyên, ở Việt Nam cảm quan hậu hiện đại xuất hiệnđầu tiên trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài
Trong công trình “Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong
văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài”
nhà nghiên cứu Lã Nguyên đã khẳng định “có thể tìm thấy trong sáng tác của
Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài những câu chuyện thể hiện tâm trạng
và cảm quan hậu hiện đại”.
Học giả đã chỉ ra tinh thần hậu hiện đại trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp thể hiện chủ yếu ở cách cảm nhận về một “cuộc đời vô nghĩa” với trạng thái“loạn cờ, không có vua, rừng động”- trạng thái nhân thế đảo điên,
thiếu vắng các chuẩn mực giá trị, điểm tựa tinh thần Hai môtíp chủ đề thườngđược Nguyễn Huy Thiệp sử dụng để nói về sự vô nghĩa của cuộc đời ấy là
môtip“ê chề” và “trớ trêu”.Nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp thường do thôi
thúc của dục vọng mà lựa chọn những cuộc đi để tìm kiếm ý nghĩa của đời
sống nhưng đều nhận lấy những thảm bại “ê chề”, qua đó nhà văn muốn
“người đọc mở mắt thật to để nhìn cho rõ cái phù vân, vô nghĩa của thế sự, nhân sinh” Sự thật“trớ trêu”là môtip mà ở đó “thật giả lẫn lộn, thiện ác khó phân, cầu thanh gặp tục cái đẹp, cái tài lúc nào cũng cận kề hiểm họa”.
Tinh thần hậu hiện đại trong tác phẩm của Phạm Thị Hoài thể hiện chủ
yếu ở cách cảm nhận về một “thế giới vô hồn”, không có sự sống, không còn tình thương “Đồ vật hóa, lố bịch hóa” hình tượng con người là thủ pháp
Trang 13nghệ thuật của Phạm Thị Hoài, con người không mặt, con người được đánh
số, trở thành những cỗ máy cũ kĩ rỉ sét, những cỗ máy vô hồn
Có thể nói, trên địa hạt của văn xuôi Nguyễn Huy Thiệp và Phạm ThịHoài chính là hai tác giả đánh dấu sự xuất hiện của tinh thần hậu hiện đại ở ta.Sau hai tác giả này là sự xuất hiện của hàng loạt những cây bút khác như HồAnh Thái, Bảo Ninh, Nguyễn Việt Hà, Châu Diên, Nguyễn Bình Phương,Thuận, Thái Phan Vàng Anh… Chỉ có điều tinh thần hậu hiện đại ở mỗi tácgiả có sự đậm nhạt khác nhau và với mỗi tác giả thì tinh thần này lại có mộtgương mặt riêng
Như vậy, chủ nghĩa hậu hiện đại chưa xuất hiện ở Việt Nam nhưng tinhthần, dấu ấn của nó đã thâm nhập khá sâu vào đời sống văn chương và trởthành một dòng chảy mạnh mẽ thúc đẩy sự đổi mới của văn học
1.3 Hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi,tỉnh Cà Mau Chị là một cây bút trẻ gây được nhiều tiếng vang ngay từ nhữngsáng tác đầu tiên Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư rất phong phú, trước đây chị
sáng tác chủ yếu trên hai thể loại chính là truyện ngắn và tản văn, “Sông” là
tiểu thuyết đầu tay thể hiện sự đổi mới trong tư tưởng nghệ thuật của NguyễnNgọc Tư
- Nước chảy mây trôi,Nxb Văn nghệ Tp HCM, Tp.HCM, 2004.
- Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Nxb Văn hóa Sài Gòn, Tp HCM, 2005.
- Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư,Nxb Trẻ, Tp HCM, 2005.
Trang 14- Gió lẻ và 9 câu chuyện khác,Nxb Trẻ, Tp HCM, 2008.
- Yêu người ngóng núi, Nxb Trẻ, Tp.HCM, 2009.
- Khói trời lộng lẫy, Nxb Thời đại,Tp HCM, 2010.
Tác giả Bùi Công Thuấn trong bài viết “Nguyễn Ngọc Tư và hành trình
đã đi…” đã khái quát hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư là hành trình
đi đến nghệ thuật hiện đại “NNT đã đi từ những chuyện tình yêu lứa đôi lãng
mạn đến những vấn đề xã hội gay gắt, đã viết những truyện đầy ắp những cảnh những người của đồng nước Nam bộ đến kiểu truyện tư tưởng; và từ việc khai thác vốn sống đã trải nghiệm đến kiểu sáng tác truyện hư cấu (fiction) cần nhiều đến tài năng Nói một cách khác, NNT đang đi về phía nghệ thuật hiện đại, đang chuyển từ cách viết thiên phú (cách viết bản năng) sang cách viết của một ý thức sáng tạo có chiều sâu nhân bản Những đánh giá cho rằng NNT là đặc sản miền Nam, sáng tác của NNT là“hành trình”
tìm về cội nguồn”; “ một ý thức tìm về với văn hóa truyền thống của cha ông” có thể đã là xa lạ với con đường sáng tạo mà NNT đang đi”.
Ở phương diện nội dung tư tưởng, tác giả khẳng định Nguyễn Ngọc Tư
đã đi từ việc viết những truyện tình yêu lãng mạn không có chút vấn đề xã hộinào đến việc viết về những vấn đề xã hộinhư nội dung chủ yếu Và đồng thời
tác giả cũng chỉ ra những vấn đề xã hội trong một số sáng tác của chị : “Cánh
đồng bất tận” là câu chuyện về sự trừng phạt nhân quả, “Gió lẻ” khám phá
cõi người là nơi của dối trá và bạc ác “Khói Trời Lộng Lẫy” chìm đắm
Trang 15trong một tư tưởng khác: con ngườiphải mang lấy thân phận cô đơn, trôidạt giữa cuộc đời này.
Ở phương diện nghệ thuật, tác giả chỉ ra Nguyễn Ngọc Tư đã “chuyển
hóa triệt để kĩ thuật viết truyện của mình”: “Nhân vật không còn là nhân vật hiện thực… Giọng văn bây giờ là giọng của nhân vật, giọng buồn, bởi thân phận họ buồn và câu chuyện họ kể là chuyện buồn, đôi khi có pha chất triết
lý Bối cảnh đời sống hiện thực chỉ còn là bóng mờ Cấu trúc truyện được xáo trộn triệt để… Diễn biến của cốt truyện được thay thế bằng không gian tâm trạng Không gian thực nhoà đi Mỗi phân đoạn là một mảnh tâm trạng của nhân vậtvề sự việc nào đó, lẫn lộn hiện tại với quá khứ”.
Như vậy có thể nhận thấy hành trình mà Nguyễn Ngọc Tư đang đi là
hành trình “đi đến nghệ thuật hiện đại” Và “Sông” là tiểu thuyết thể hiện nỗ
lực làm mới mình ấy của Nguyễn Ngọc Tư
Trang 16CHƯƠNG 2 NHỮNG BIỂU HIỆN VỀ NỘI DUNG
2.1 Tinh thần hoài nghi
Thời hiện đại, con người hướng tới xác lập một thế giới trật tự, hài hòa,tới những giá trị trường tồn, tới tính tự do Thời hậu hiện đại cảm quan đó bịphá hủy, tinh thần phổ biến của con người là thái độ hoài nghi, chấp nhận tínhphi lí của tồn tại Xuất phát từ việc không còn tin tưởng vào bất kì một tiêuchuẩn giá trị nào, chủ nghĩa hậu hiện đại cho rằng thế giới này không đángtin Từ thái độ hoài nghi nhu cầu giải thiêng xuất hiện.Những giá trị mà conngười ngưỡng mộ, những niềm tin mà con người theo đuổi đều được xem xétlại Cũng bởi không tin mà họ luôn luôn suy tư, luôn luôn trăn trở và có nhucầu xác tín, nhu cầu đối thoại lại những vấn đề của quá khứ
Trong “Sông”, tinh thần hoài nghi dù không đậm đặc, không mạnh mẽ
như trong sáng tạo của những cây bút khác nhưng cũng đã bắt đầu xuất hiện.Tinh thần hoài nghi được thể hiện trong cách cảm nhận về một đời sống phixác thực, đứt gãy mọi liên kết, được thể hiện trong bi kịch khủng hoảng niềmtin của con người Tinh thần hoài nghi bao phủ lên tác phẩm và chi phối cáchcảm nhận, ứng xử của nhân vật
Trước hết, tinh thần ấy thể hiện ở việc hoài nghi trạng thái hiện tồn củahiện thực
2.1.1 Thế giới mơ hồ, phân mảnh
Nếu chủ nghĩa hiện đại tin rằng thế giới này có tính trật tự, ổn định vàluôn nỗ lực duy trì sự ổn định ấy bằng cách tạo dựng những trung tâm, thìngược lại, chủ nghĩa hậu hiện đại cho rằng thế giới này đầy bất ổn, rối loạn,phi trung tâm, phi trật tự và nhiều khi không có tính xác thực Thực chất, việccảm nhận về một thế giới phi xác thực, thế giới đầy rẫy bất ổn phản ánh trạngthái con người đang hoài nghi chính sự tồn tại của thế giới này Vì hoài nghi,
Trang 17vì hoang mang rệu rã mà thế giới hiện ra có khi mơ hồ chập chờn như ảo ảnh,
có khi đang trong trạng thái phân rã, đứt gãy, phân mảnh
Trong tiểu thuyết “Sông”, thế giới mà con người đang sống hiện ra
trong trạng thái nửa thực nửa hư, mơ hồ, phân rã, ẩn chứa nhiều điều philý.Đời sống bị chia ra thành nhiều mảnh vụn, thiếu liên kết, đứt gãy, nhiều khichạy song song nhau mà chẳng có mối liên hệ nào với nhau Cách cảm nhận
về thế giới như vậy chủ yếu được tác giả thể hiện qua hình tượng sông Di hình tượng đa nghĩa chạy xuyên suốt từ đầu tới cuối tác phẩm
-Với “Sông”, Nguyễn Ngọc Tư đưa người đọc vào một thế giới có phần
không đáng tin, thế giới mà người ta nghi ngờ về sự tồn tại của nó Thế giớihiện ra mơ hồ, chập chờn hư hư thực thực
Sông Di là dòng chảy có thực hay không có thực, ta có nên tin vào câu
chuyện đang được kể hay không? Quả thực “Sông” đem đến một sự hoài
nghi quá lớn Sông Di là dòng sông chảy xuyên suốt từ đầu tới cuối tác phẩm,
nó có vai trò là sợi dây xâu chuỗi các câu chuyện lại với nhau Nhưng dườngnhư sông Di lại là dòng sông của hư cấu, dòng sông không có thực Sông Dichảy qua những miền đất không có thực, thậm chí nhiều địa danh, nhiều cáitên còn gợi lên cảm giác chơi vơi, mông lung, mơ hồ: đó là những Mù Sa,những Tầm Sương, Thiên Cầm, Thiên Thai, núi Điếu, hồ Thiên tất cả nhưgợi về một thế giới xa xăm nào Sông Di được ghi trong tư liệu nhưng hoàntoàn là những tư liệu không xác thực, tư liệu hư cấu Đó là những ghi chép
riêng tư của “một vị tu sĩ người Pháp” nào đó, sông Di được ghi trong “ Di
lưu ký”, “Tương tàn ngoại sử”, nhưng những tư liệu lịch sử tưởng như đáng
tin ấy khi tra cứu một cách kĩ lưỡng lại không hề tồn tại Thậm chí tác giả cònthuyết phục người đọc bằng cách chú thích về hai cuốn sách ở chân trang để
minh chứng cho tính xác thực của nó, như việc chú thích cho cuốn “Tương
tàn ngoại sử”: “Thư tịch cổ ghi lại những cuộc huynh đệ tương tàn tranh
Trang 18quyền đoạt lợi từ năm 227 sau Công nguyên đến năm 1211 Tác giả tự xưng
là Sử Nhơn Từ, căn cứ vào giọng điệu nhiều quãng khác nhau nên nghi ngờ
là nhiều người chắp bút Sách viết về những cuộc chém giết sát phạt, những cuộc cốt nhục tương tàn vô nhân của giới quan quyền phong kiến nên bộ sách
ba mươi sáu quyển lưu lạc tản mác trong dân gian Nhà xuất bản Tiếng Dân sưu tầm được bảy quyển và in lần đầu năm 1962” Việc hư cấu bằng chứng
chứng minh tính xác thực của câu chuyện càng làm cho câu chuyện trở nênkhông thể tin tưởng
Người đọc còn hoang mang về tính xác thực của dòng sông Di và câuchuyện được kể khi bản thân sông Di lại ẩn chứa điều quá ư phi lý Sông thìphải chảy, nhưng sông Di lại không hề chảy Ngay từ đầu tác phẩm Nguyễn
Ngọc Tư đã tạo ấn tượng về dòng sông không chảy “Ba cây số trước khi sông
Di ra biển, sông chỉ là con rạch quanh quanh giữa những cồn cát, đôi bờ là những bãi bần Nó không có vẻ ra đi mà nhận biển vào lòng Nước sông mặn quắt, nắng càng lâu thì nước biển sẽ thè cái lưỡi dài nhằng của nó liếm vào sông hàng mấy chục cây số” Khi tới Tân Quới “Nước chảy xờ xạc như mất ngủ lâu ngày Cậu ngắt một cái bông đậu biếc thả xuống nước và thấy hầu như nó không trôi”, khi tới Bình Khê “Sông ngờ nghệch,không thể nhận ra là nước đang chảy nếu không có những váng rêu nhớt phập phều” Một dòng
sông chẳng gắn với một địa danh có thực nào, một dòng sông không chảy liệu
có đáng tin hay không?
Nguyễn Ngọc Tư còn đưa người đọc vào trạng thái hoang mang khi để
tác phẩm có một cái kết không biết tin vào đâu “Sông” là tiểu thuyết về hành
trình ngược lên thượng nguồn của ba chàng trai Ân, Xu, Bối Bối bỏ cuộcgiữa chừng còn có Ân và Xu Nhưng khi Ân, Xu, Phụng ra rốn Túi mà khôngthấy trở về thì chị bán hủ tiếu – người cuối cùng Ân gặp trước khi ra khơi,người mà Ân gửi chiếc ba lô lại, quả quyết rằng chỉ có một mình Ân trên
Trang 19chiếc quách ấy Chị lý giải những cái tên mà Ân ghi chép trong cuốn sổ tay
của mình chẳng qua chỉ là “cậu ta buồn quá nên tưởng tượng ra vài ba người
nữa cùng đi với mình, cho vui thôi mà” Câu chuyện kết thúc và tác giả không
giải thích gì thêm Rốt cuộc ta nên tin vào những gì xảy ra từ đầu tới cuốn tiểuthuyết hay nên tin vào người bán hủ tiếu Đây là cái kết đánh lạc hướng ngườiđọc, cái kết đẩy người đọc vào trạng thái hoang mang, nghi ngờ
Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng một thế giới không đáng tin, thế giới cóphần phi xác thực với những điều phi lý, những điều không thể lý giải Như
đã khẳng định ở trên, đây là cách nhìn khác lạ, cách nhìn mới so với chủnghĩa hiện đại luôn cho rằng thế giới này luôn luôn ổn định và trật tự
Nguyễn Ngọc Tư còn xây dựng một thế giới mà mọi mối liên hệ liên hệđều bị đứt gãy, đời sống bị cắt ra thành từng mảnh đoạn trôi dạt khắp nơi vànhiều khi biến mất không tăm tích
Trước hết, sông Di là dòng thuộc về một thế giới khác xa cách thế giớivăn minh của con người Qua lời kể của Đình Ân, sông Di là dòng sông lớn,
nó là dòng sông “duy nhất chảy dọc theo đất nước”, nó “giao cắt với nhiều
con sông lớn khác”, nó gắn bó với lịch sử của dân tộc “ sông Di đã phải chứng kiến nhiều cuộc binh biến, loạn lạc Ngựa của Quang Trung hay của Nguyễn Ánh; voi của Hai Bà Trưng hay ông hoàng Bảo Đại; Nguyễn Thị Anh hay Huyền Trân công chúa cũng đều đã tắm trên dòng sông này” Nhưng phi
lý ở chỗ, dù là con sông lớn, dù có lịch sử lâu đời nhưng thông tin của xã hộihiện đại, hình dung của con người hiện đại về sông Di lại rất mịt mù Xã hộihiện đại với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin nhưng lại hoàntoàn thiếu hụt thông tin về sông Di Chuẩn bị cho hành trình ngược sông Dicủa mình, Ân thu thập tư liệu về sông Di, nhưng phi lý thay khi những gì cậu
thu thập được “xếp chồng không được một gang tay” và “Thông tin trong
Đại Từ Điển Bách Khoa cũng chẳng nhiều nhặn hơn những gì cậu đã biết”.
Trang 20Hình dung về sông Di trong đầu Ân mơ hồ “như có một dải sương mù ràng
rịt lấy” và cậu tự đặt câu hỏi “Với bản đồ trên mạng cậu có thể thấy tòa nhà mười bảy tầng mình đang làm việc, thấy cả những tấm trải giường người ta phơi trên sân thượng, sông Di thì đắp bằng gì mà không thể rõ được hình”.
Đối với Ân và bạn đồng hành của cậu, hành trình ngược sông Di như hànhtrình đi trong một cõi thế khác Sông Di đã cuốn họ đi theo hành trình của nó,
và đôi khi họ cảm thấy Sài Gòn như thuộc về một nơi nào xa lắm, thấy mìnhnhư lạc khỏi dòng chảy của cuộc đời Khi mới chỉ cách Sài Gòn 448km Ân đã
có cảm giác “an toàn, như thể đã chạy thoát một nỗi ám ảnh nào đó, mà nó
đã không còn khả năng đuổi kịp mình” Khi đi nhờ trên chiếc ghe của mẹ con
Bế họ nghe trong tiếng sóng nhiễu của radio đọc tin một vụ cháy chung cư
cao tầng ở Sài Gòn, Ân thấy đó là “một tin tức quá xa xôi so với không gian
của cái chợ trôi này, như chỉ thiếu cụm chữ ngày xửa ngày xưa nữa thôi”.
Trong cách cảm nhận của nhân vật – những con người thuộc về văn minh đôthị, sông Di dù trải dài khắp chiều dài mảnh đất hình chữ S nhưng như thuộc
về một thế giới khác, tách biệt với Sài Gòn, với đời sống đô thị của họ Mặc
dù vẫn luôn luôn tồn tại, luôn luôn chảy song hành với cuộc đời nhưng vớiSài Gòn, sông Di là một mảnh vỡ khác, là một đứt gẫy khác dù ở bên cạnhnhau song vĩnh viễn không bao giờ có liên hệ với nhau
Sông Di còn là “dòng sông của những mảnh đời con con” Không chỉ
là một mảnh vụn bên cạnh đời sống đô thị của những con người hiện đại, haibên bờ sông Di còn có vô vàn những mảnh vụn, những đứt gãy khác
Trước tiên, bản thân sông Di như là một sự đứt gãy với chính mình.Sông Di chảy suốt chiều dài đất nước, qua mỗi một vùng đất sông Di lại mangmột cái tên khác, một gương mặt khác, biến hóa khôn lường, vừa là nó vừa
không phải là nó Khi ở Mù Sa, trước khi đi ra biển “sông chỉ là con rạch
quanh quanh giữa những cồn cát”, khi thì là một dòng chảy “hơi dích dắc”,
Trang 21khi lại là “một đường cong ngoa ngoắt”, khi ở rốn Túi lại mở ra rộng mênh
mông Sông Di mang trong mình những gương mặt, những tính cách khác nhau.Khi thì dữ dội hiểm trở, khi lại thơ mộng trữ tình Đôi khi sông Di hiện lên như
một con thủy quái ác độc, cay nghiệt “hung hãn một cách ráo riết cay nghiệt.
Mặt sông là những xoáy nước đỏ ngầu, cuộn xiết”, nhưng cũng có khúc sông Di
như cô gái dịu dàng “Không còn uốn lượn giữa những dãy đồi sa thạch níu lấy
nhau, men theo những thung lũng hẹp, sông sâu và rộng lòng hơn, nước xanh ngằn ngặt có thể phân biệt thượng nguồn và hạ nguồn sông Di bằng bãi sông Khi chảy qua Trung Sơn bãi sông xuất hiện cát vàng thay vì bùn Nước không còn cái màu đen ngấm gộc rễ của những rặng dừa nước miền hạ nữa”.
`Sông Di “luôn làm rất tốt công việc chia cắt của nó” Hai bên bờ sông đối diện nhau đã là hai mảnh vụn tách rời “một bên sông có vẻ khá giả, sầm
uất, bên kia thì hiu hắt, tách biệt, như ở một trời khác, đời khác, dù bên này
ới bên kia nghe” Khi chảy đến Đồng Nàng, sông Di cắt xéo qua sông Lạc,
mặc dù cắt xéo nhau, gặp gỡ nhau nhưng chẳng bao giờ hòa vào nhau “Bên
nước bạc, bên đỏ Người ta vẫn thấy hai màu sông đấy chảy mon men từ ngàn năm nay, như hai người cùng đi mãi mà không lấy được nhau”.
Dọc hai bên bờ sông Di còn có hàng vạn những câu chuyện về nhữngmảnh đời khác Những mảnh vụn trôi dập dềnh, một lần đi qua là vĩnh viễntrôi đi không tăm tích giữa cuộc đời Mỗi mảnh vụn là một câu chuyện về sốphận người, bất hạnh, lạc lõng, bơ vơ Đó là câu chuyện mẹ con Bế - haingười đàn bà cô đơn sống trên chiếc ghe không đàn ông, sự thù ghét nhau làdấu hiệu duy nhất cho thấy hai người con sống Đó là câu chuyện về một giađình trên đường lặn lội về quê ngoại để tìm thủy tùng mà Ân và Xu chỉ gặptrong thoáng chốc rồi vĩnh viễn không bao giờ quay lại…
Cảm nhận về cuộc đời giống như những mảnh vỡ là cách cảm nhận đặctrưng hậu hiện đại Tái hiện lại bối cảnh hiện thực với toàn những đứt gãy và
Trang 22phần mảnh, Nguyễn Ngọc Tư mở ra một con đường đưa người đọc vào thếgiới của hoang mang, rệu rã Trong thế giới đó, nhân vật của chị hiện lên lànhững kẻ cô độc, chán chường khao khát đi tìm kiếm ý nghĩa của sự sốngnhưng đều rơi vào hoang mang, bế tắc.
2.1.2 Giải thiêng nhân vật phi phàm
Một trong những biểu hiện mạnh mẽ của tinh thần hoài nghi chính làcảm hứng giải thiêng Giải thiêng là một thái độ ứng xử với quá khứ, xác lậpcái nhìn dân chủ trong hiện tại Giải thiêng bộc lộ sự hoài nghi đối với nhữnghuyền thoại của quá khứ.Xét đến cùng, giải thiêng là sự phản ứng đối với
những “đại tự sự”, là hành động đập bỏ những tượng đài cũ mòn và giả dối,
là cách phủ nhận những niềm tin vô căn cứ đã ăn sâu bám chắc vào tiềm thứccộng đồng.Sau1975, nhu cầu dân chủ hóa xã hội trở nên bức thiết, cảm hứnggiải thiêng xuất hiện Giải thiêng với ý nghĩa nghiêm túc mang tinh thần khoahọc chân chính, không hướng tới bôi đen quá khứ
Trong tiểu thuyết “Sông”, cảm hứng giải thiêng gắn với một số biểu
tượng quen thuộc
Trước nay ta vẫn từng quan niệm, vua chúa là những con người kiệtxuất, những kẻ anh minh có tài có đức có những phẩm chất hơn người Nhưng
trong “Sông”,vua chúa chỉ là những “kẻ tệ hại”, và việc thay ngôi đổi chủ chỉ giống như việc nhân dân “chạy hết từ kẻ tệ hại này đến kẻ tệ hại khác” Ngự Tường là mảnh đất có“rất nhiều dấu vết của những ông vua còn để lại.
Những giếng Ngự những đền Phi, những miếu Công Nương”, nhưng dù có
dấu lưu lại dấu tích của vua chúa cũng chẳng khiến con người ở nơi đây tự
hào bởi “ Cũng có hãnh diện gì đâu mấy chú ơi, vua đi tới đâu dân đen bị đày
đọa tới đó” Lời của bà cụ coi đền Phi là lời phủ nhận cái đức sáng của những
đấng minh quân Qua lời kể của bà cụ giữ đền, vua chúa hiện ra chỉ nhưnhững kẻ tàn bạo, bất nhân Đền Phi thờ một người vợ của vua, người vợ bị
Trang 23chính chồng mình giết trong lần chạy giặc chỉ vì hay khóc nhớ nhà, vua nói
với vợ của mình “ Nước mắt ấy sao không dành để thương cảm cho cuộc bôn
đào đội nắng nằm sương của ta?” Vua chúa thực ra chỉ là những ông chồng
vũ phu “Vua nghiến từng chữ từng chữ trong hàng răng khít trước khi đầu
người đàn bà rơi Mảnh da cổ bầy nhầy vì lưỡi kiếm của đao phủ lâu ngày không được mài bén” Vua chúa còn là người cha máu lạnh và tàn bạo “Công chúa chưa đầy sáu tuổi, nhớ mẹ khóc mãi, vua sai người dìm xuống sông Di Dân lén lập miếu Công nương” Dân gian nói “Hổ dữ không ăn thịt con” Vua
là người, là kẻ đứng đầu một đất nước nhưng còn bất nhân, còn cầm thú hơn
cả loài ác thú.Không những thế, vua còn là kẻ gieo họa, gây nên chết chóc
tang thương cho dân Khi vua chạy loạn “Quân nổi loạn ra lệnh đốt sạch làng
Ô Rô vì đã tiếp đãi vua một bữa cơm nghèo Khi vua dẹp phản loạn xong quay lại ngôi, lại ra lệnh quét sạch hai làng Năn và Mực vì đã từ chối cưu mang ông những ngày chạy nạn” Hóa ra vua chúa cũng chẳng phải là những
kẻ bao dung nhân từ độ lượng gì Vua chúa cũng chỉ giống như một thằngngười thù dai ôm hận trong lòng Quân phản loạn bất nhân đốt sạch một làng
vì cưu mang vua, vua còn bất nhân hơn khi giết sạch hai làng vì từ chối cưu
mang mình Cuối cùng chỉ có nhân dân phải gánh đau thương “Năm nào
người dân hai bờ sông Di thuộc phủ Ngự Tường ngày trước cũng bịt tang, đổ phẩm nhuộm ra sông tưởng nhớ những mùa oan khuất” Dưới góc nhìn của
Nguyễn Ngọc Tư, vua chúa chỉ là thằng người bất nhân, máu lạnh và tàn bạo.Ngoài ra, thông qua việc giải thiêng hình tượng những đấng minh quân đạomạo sáng ngời, Nguyễn Ngọc Tư còn thể hiện một cách nhìn khác về những
di tích lịch sử, những đền chùa miếu mạo Đó là nơi được lập ra để giải oancho những kiếp người bất hạnh chết dưới tay những kẻ bất nhân
Những anh hùng mà cộng đồng suy tôn, ngưỡng mộ cũng trởthành đốitượng giải thiêng Khi cùng nhóm quý bà đồng tính đi viếng cây Bi-ia chín
Trang 24ngọn, Ân nghĩ “Đất nước này vốn dựa vào thần thánh, vào anh hùng mà
sống, rồi bỗng dưng hai thứ đó vắng teo Minh chủ kiệt rồi Cậu nghĩ vậy Người lớn không còn thần tượng cho mình nữa”, suy nghĩ của Ân phản ánh
thực trạng xã hội thiếu vắng những giá trị chuẩn mực, con người rơi vào tìnhtrạng khủng hoảng, đánh mất niềm tin Vì khủng hoảng nên con người tìmcách tạo dựng những niềm tin, tự xây dựng cho mình những hình mẫu lýtưởng mới, những tượng đài mới để tôn thờ, bấu víu Nhưng thực chất conngười đang tự ảo tưởng, tự lừa dối chính mình bởi những tượng đài kia cũngđược tạo lên từ toàn những điều giả dối Tiến sĩ Lê Thăng - nhà báo chuyên
viết những bài gai góc chống chính quyền trên blog cá nhân “đã trở thành
anh hùng rất bâng quơ vào cuộc mất tích giữa tháng năm vừa rồi Người ta nghĩ ngay đến một cuộc thủ tiêu đốn mạt nào đó, một vụ bắt bớ mờ ám” Sau
sự mất tích đột ngột, Lê Thăng bỗng trở thành anh hùng bởi những sự tưởngtượng, bởi lời thêu dệt đồn thổi của cộng đồng, người ta nghĩ đến một sự thủtiêu, bắt bớ mờ ám, thậm chí có nhiều nhà thờ còn định thắp nến cầu nguyện
cho anh ta Nhưng thực chất sự kiện mà cộng đồng nghĩ là“sự bắt bớ mờ ám”
“sự thủ tiêu đốn mạt”xảy ra đối với “người anh hùng” của họ hoàn toàn
không đúng sự thật Mà sự thật là“anh hùng” đang núp bóng trong nhà nghỉ cùng cô nhân tình nhí “May mà chị vợ anh Thăng đã kịp cứu nhà thờ một bàn
thua khi nhanh nhảu tìm ra chỗ đức ông chồng mình đang hú hí cùng cô bồ nhí”và thậm chí sau cuộc ly dị “anh hùng” còn “hỏi mượn thẻ nhà báo của cậu để mua căn hộ chung cư Nhà báo thì được giảm giá mười phần trăm”.
Sau khi biết nguyên nhân của sự biến mất, niềm tin sụp đổ, con người lại
nhanh chóng tìm kiếm cho mình những anh hùng khác “Sự kiện xìu đi, người
ta nhanh chóng tìm thấy những anh hùng khác, cũng cất tiếng nói ngược lề như anh bạn tiến sĩ” Việc cộng đồng tôn sùng những kẻ cất lên tiếng nói
ngược lề, tiếng nói chống chính quyền phản ánh thực trạng xã hội ngột ngạt,
Trang 25bức bí, đảo điên và phản ánh khát vọng của con người muốn hướng đến mộttrật tự khác ổn định hơn Lê Thăng và những người khác mặc dù không mangtrong mình những phẩm chất anh hùng nhưng nghiễm nhiên trở thành anhhùng bởi họ phù hợp với khát vọng của cộng đồng, bởi họ dám chống lại trật
tự xã hội ấy Như vậy, thực chất anh hùng chỉ là sản phẩm tưởng tượng củamột đời sống xã hội bế tắc và tù đọng là sản phẩm do con người tưởng tượng
ra để tồn tại trong một xã hội hỗn loạn, đổ vỡ Cách nhìn nhận này củaNguyễn Ngọc Tư về người anh hùng gần gũi với cách nhìn của Nguyễn Huy
Thiệp khi ông viết “Giọt máu” Chiểu là tên quan háo sắc, lúc say rượu đánh
cố đạo Tây, bị thất sủng cách chức về vườn, thế nhưng “lời đồn” đã biến hắn thành bậc anh hùng “Dân làng kháo Chiểu có chân trong nhóm văn thân
chống Pháp, tri huyện Tiên Du là tướng của ông Đề Nắm, Đề Thám trên Yên Thế Lại đồn Chiểu làm quan thanh liêm không ăn cánh với triều đình bấy giờ đang vọng ngoại tộc, do đó mới bị bãi chức Một đồn mười, mười đồn trăm, tên tuổi của Chiểu trong vùng bỗng thành danh giá”.
Quan niệm truyền thống vẫn luôn cho rằng những người tu hành lànhững kẻ thoát tục, những kẻ lánh đời, những con người đạo mạo, uyên bác,thâm sâu Nhưng Ân đã cất lên một tiếng nói khác, đi ngược lại với tiếng nóicủa cộng đồng Sư sãi chẳng thoát tục lánh đời gì đâu, họ cũng chỉ là những
kẻ dung tục, những kẻ phàm phu tục tử “Những vị sư mặt trơn trán bóng, gãi
ghẻ chân trong lúc nói điện thoại di động oang oang, trông phàm tục mà vẫn được người ta kính trọng tôn sùng” Và cũng giống như người anh hùng do
nhân dân tự suy tôn, mặc dù là những kẻ phàm phu tục tử song sư sãi vẫnđược con người tôn sùng bởi con người cần một tượng đài để tôn thờ, bấu víu
Trí thức đáng lẽ phải là con người đại diện cho trí tuệ nhân dân và làngười sở hữu những tri thức tiến bộ nhất của thời đại, họ là những con người
xuất chúng, ưu việt Nhưng trong “Sông”trí thức hiện ra chỉ là những cái vỏ
Trang 26bọc giả dối, là những “tiến sĩ giấy” Hàng năm sông Di sụt lở cuốn theo
những ngôi nhà, có khi là cả một dãy nhà vào dòng chảy của nó gây nên baođau thương mất mát Sự kiện quán Tầm Sương tại ngã chín Yên Hoa bị sông
Di cuốn đi gây nhiều chấn động Mười bảy bài báo trên mạng đặt ra câu hỏitại sao sông Di không lấy đi những căn nhà ở cạnh bờ mà lại luồn sâu vào đất
liền “Cái hàm ếch mà dòng chảy tạo ra không thể luồn lách vào đất liền xa
vậy” Những nhà khoa học vào cuộc, họ là“Các nhà khoa học lớn, những tiến
sĩ chống thảm họa hàng đầu” nhưng lại“đưa ra một gợi ý tầm thường mà bà ngoại mù chữ của gã chủ quán cũng biết: Bỏ chạy khỏi cái hàm ếch chết chóc đó”.Trước thực tại sông Di còn có thể đe dọa hàng ngàn tính mệnh nữa,
những nhà khoa học đáng lẽ phải đưa ra cách xử lý khoa học và triệt để nhưngđằng này họ lại đưa ra những giải pháp vô cùng tầm thường, giải pháp mànhững con người bình thường, thậm chí “ít học” cũng có thể nghĩ ra.Đókhông phải là giải pháp mà chỉ là cách đối phó tạm thời, hoặc coi là giải phápthì đó cũng là giải pháp giả dối, giải pháp không căn cứ, vô giá trị, không có
tính thực tiễn bởi người dân ở đây“không phải ai cũng đành lòng đi khỏi
mảnh đất vàng này” Gia đình Bối toàn những trí thức, bố mẹ là giáo sư, em
gái là tiến sĩ nhưng qua lời kể của Bối thì “họ ít nhìn mặt nhau như nhìn mặt
sách”, qua lời kể có thể thấy cách cảm nhận của nhân vật về tính chất giả dối
một bộ phận trí thức đương thời
Trong “Sông”, việc giải thiêng nhiều nhân vật phi phàm đều được đặt
vào lời nhân vật Khi thì thể hiện qua lời kể của bà cụ giữ đền Phi, khi thì thểhiện trong suy nghĩ của Ân, khi lại được đặt vào lời nói của Bối Việc nhiềunhân vật thuộc các vị trí xã hội khác nhau cất lên tiếng nói phủ nhận đối vớinhững hình mẫu lý tưởng của cộng đồng cho thấy thực trạng con người đangđánh mất niềm tin, đang hoang mang, hoài nghi trước những giá trị hiện tồn
Sự hoài nghi trước cái thực chất của những giá trị hiện tồn là cảm quan đặctrưng của thời hậu hiện đại
Trang 27Trong “Sông”, cách cảm nhận về đời sống có phần gần gũi với cách cảm nhận của Nguyễn Huy Thiệp khi ông viết“Không có vua” Trong thế
giới ấy mọi quan hệ bị đảo lộn trật tự chỉ còn khoác trên mình cái vỏ bọckhông phản ánh đúng nội dung, cha không ra cha, con không ra con trí thứclại đểu giả, dốt đặc vô văn hóa còn anh chàng mổ lợn lại có trái tim sót lạitình yêu thương
Hành động giải thiêng của Nguyễn Ngọc Tư trong “Sông” không nhằm
phản bội và bôi đen quá khứ Trong xã hội hiện đại, muốn đi lên con ngườicần phải có cái nhìn tỉnh táo, nhìn thẳng và đối diện với sự thật Murakami cólần nói rằng không phải ông không viết về hoa anh đào hay truyền thống võ sĩđạo của người Nhật là ông không yêu tổ quốc, dân tộc mình mà ngược lại,chính vì tình yêu nồng cháy nên ông muốn hướng cả dân tộc suy nghĩ, trăn trở
về sự thật, có ý nghĩa duy trì sự sống còn của cuộc sống hôm nay chứ khôngphải mãi hoài vọng về quá khứ Giải thiêng chính là cách xác lập một cái nhìnmới nhằm cảnh tỉnh con người Cảm hứng giải thiêng vì thế trở thành mộtnguồn mạch quan trọng không chỉ đối với văn học Việt Nam nói riêng màcòn tạo thành dòng chảy mạnh mẽ trong văn học thế giới
2.1.3 Phủ nhận những niềm tin của cộng đồng
Nếu cảm hứng giải thiêng hướng đến những hình mẫu lý tưởng của quákhứ thì việc phủ nhận những niềm tin của cộng đồng lại hướng đến phủ nhận
những quan niệm đã ăn sâu bám chắc trong tiềm thức Trong “Sông” nhân
vật đánh mất mọi niềm tin, kể cả những niềm tin được cả cộng đồng tôn thờ
Niềm tin vào tôn giáo, tín ngưỡng là một trong những niềm tin mạnh
mẽ nhất của con người và đó cũng là một trong những niềm tin phổ biến nhất
trong cộng đồng Với sự đổ vỡ của tất thảy niềm tin, nhân vật trong “Sông”
không tin vào tôn giáo, vào thánh thần, không tin vào các tín ngưỡng Sự phủnhận niềm tin ấy được thể hiện trong câu nói của Xu.Khi chứng kiến một
Trang 28thằng bé bị chủ cầm miếng vỏ sầu riêng tát vào mặt Ân đã nhìn anh như nhìn
một vị thần cứu thế, Ân nghĩ anh sẽ ra tay bảo vệ đứa trẻ thì Xu nói “Đừng
nhìn tôi như một vị thần Không có thần thánh trên đời đâu, tin tôi đi” Câu
nói của Xu là một sự phủ nhận Trước hết nó là sự phủ nhận rằng trên đời nàykhông còn thánh nhân giàu tình thương luôn ra tay giúp đỡ kẻ yếu đuối đâu.Sau nữa nó là sự phủ nhận rằng trên đời này không hề có thánh thần cũngchẳng có phép màu Cũng chính vì không có niềm tin nên các nhân vật nhìncác tôn giáo chỉ như một thứ học thuyết do con người sáng tạo ra Đây là suy
nghĩ của Ân về Phật giáo“Nhà Phật đã lấy hai chữ duyên nghiệp ra giải
thích, làm thỏa mãn được chút nào Tôn giáo này ăn khách một phần nhờ thuyết ấy […] Sung sướng hay đau đớn ở kiếp này là do kiếp trước, nói vậy thì biết vậy, kiểm chứng sao được Nhưng có thứ để đỡ mù mịt còn hơn chẳng
có gì” Nhân vật nghi ngờ về độ xác thực, tin tưởng của Phật giáo khi họ giải
thích cuộc đời con người bằng hai chữ duyên nghiệp Đối với Ân, chẳng códuyên nghiệp, cậu không tin vào duyên nghiệp, không tin vào nhà Phật bởithực chất học thuyết của họ chỉ là sự bịa đặt nhằm xoa dịu con người Tôngiáo chỉ là học thuyết do con người sáng tạo ra
Không tin vào tôn giáo, nhân vật còn hoài nghi và phủ nhận cả nhữngniềm tin mà được đông đảo cộng đồng tôn sùng Cây Bi-ia chín ngọn đượctương truyền là thứ cây thần, cây thiêng, do nhiều lần bị sét đánh không chết,mỗi một lần bị đánh là một lần cây bị chẻ đôi ra, bên trong lại xuất hiện mộtcái đọt non mọc thành một thân mới Người ta lập một cái miếu lợp ngói âmdương ba trăm năm tuổi để thờ cây Vì được đồn là thứ cây thiêng nên người
ta kéo nhau đến khấn vái, cầu xin Nhưng dưới con mắt của Ân thì cây đó chỉ
là “Một cái cây trời đánh không chết bỗng trở thành thần, truyền đi những lời
đồn đãi linh thiêng”, việc cây trở thành thần hoàn toàn là ngẫu nhiên, hoàn
toàn là do thêu dệt mà thành Ân nhìn cái cây bằng đôi mắt khách quan, đôi
Trang 29mắt dửng dưng “Bi- ia họ dừa, thân suông không nhánh, hay mọc chơi vơi ở
sườn đồi hay giữa đồng, đơn độc và kiêu hãnh” Khi nhóm quý bà bày biện
bánh trái ra khấu đầu khấn vái cây thần ban cho phép màu nhiệm thì Ân và Xu
không khấn“ Cậu còn đủ tỉnh táo để không xin cái cây ban phép màu cho thời
gian quay lại Xu cũng dửng dưng, anh ta nói mình vô thần, bởi nếu có, hẳn họ
đã nghe anh ta cầu khẩn suốt một thời thơ ấu côi cút”.Như vậy, hành động của
Ân và Xu không phải hành động của kẻ ương bướng ngông cuồng thích khácngười Đólà hành động xuất phát từ trạng thái hoài nghi mọi giá trị Tuy nhiên
đó không phải là sự hoài nghi lý tính, sự hoài nghi của những con người tỉnhtáo có đôi mắt nhìn thấu bản chất giả dối cuộc đời mà đây là cái hoài nghi củacon người bị mất hết mọi niềm tin và hy vọng Sự hoài nghi xuất phát từ việccon người gặp phải quá nhiều những bất hạnh, những chấn thương trong cuộcsống khiến họ không còn tin tưởng vào những phép nhiệm màu
Cũng chính bởi không tin vào thế lực thần bí mà Xu và Ân đã từ chốitắm ở Hồ Thiên Hồ Thiên vốn được tương truyền là thánh địa, là nơi conngười tới để gột rửa mọi nỗi đau, là nơi con người tìm kiếm sự thanh thản, sựyên ổn cho tâm hồn mình Người ta chen chúc nhau tới tắm ở Hồ Thiên với
hy vọng giải thoát mọi ưu phiền, người ta ken nhau dày đặc cả thị trấn đến nỗi
“người này vừa thở ra người kia đã hít ngay vào Những khách sạn không còn phòng, người ta qua đêm bằng lều trại” Người ta sẵn sàng qua đêm bên
ngoài, sẵn sàng ăn khoai cho đỡ đói chỉ để “ngụp lặn trong màu vàng của
nước, tiêu tan hết ưu phiền Họ tin rằng, hồ Thiên là nơi giải thoát mọi nỗi đau”.Việc người người kéo nhau lên hồ Thiên để gột rửa nỗi đau phản ánh
thực trạng con người đang rơi vào khủng hoảng và bế tắc, con người gặp phải
vô vàn những bất hạnh, chấn thương, cả một xã hội đau thương Đời sống nàyđẩy con người vào trạng thái hoang mang, bất an, con người không có khảnăng cải tạo, không có khả năng thay đổi hiện thực nên con người cầu cứu
Trang 30vào những thế lực, những sức mạnh siêu nhiên Ân và Xu cũng là kẻ mangtrong mình những chấn thương ràng rịt, nhưng bất hạnh hơn so với đám đôngkia, họ đánh mất luôn cả niềm tin vào những phép nhiệm màu Khi trăngtháng chín hiện lên trên mặt hồ, nước hồ đổi màu, đó là thứ màu huyền thoặc
mơ hồ và mong manh như ảo ảnh “Không phải vàng chói ánh kim mà dịu
ngọt, thanh thoát Vàng hoa Gần như màu bò cạp nước tháng Tư Hao hao điệp vàng tháng Sáu Nhang nhác cúc đại đóa cuối Chạp, sao nhái mọc hoang Vàng của tất cả mọi loại hoa vàng vào lúc sắp tàn” Người ta ào
xuống hồ tắm táp ngụp lặn trong làn nước lạnh buốt Nhưng tất cả khôngquyến rũ được Ân và Xu, kể cả cái làn nước sóng sánh kia Cả Ân và Xu
người đều không ướt Họ không tắm bởi “ Bốn mươi hai năm trước, ông già
cũng bắt đầu cuộc sống của chính mình, cho chính mình bằng việc đứng dậy,
đi về nhà Ông già kể Về Đơn giản vậy thôi Nhưng cậu biết ông đã không
về được đúng cái nơi mà ông ra đi, dù ông cũng đã tắm ở Hồ Thiên đúng vào trăng đầy tháng Chín, năm nào” Ông già cũng đã tắm, cũng đã gột rửa ở hồ
Thiên vào đúng ngày rằm tháng Chín trăng tròn nhưng những kí ức ghê rợnvẫn còn đó, vẫn còn ám ảnh con người, trở thành vết đen trong tâm hồn mà dù
có bao nhiêu lần tắm ở hồ Thiên đi chăng nữa thì cũng không thể lãng quên
Hai người không tắm cũng bởi lý do “ Nếu có phép màu, cậu đâu phải ở đây.
Đám đông thì tin rồi bệnh tật tiêu tán, xui xẻo tháo lui Họ tin muộn phiền trút sạch xuống đó rồi Khi ra khỏi hồ Thiên, họ là những người hoàn toàn mới” Như vậy, cũng giống như việc không khấn vái cầu xin trước cây Bi-ia
chín đọt, việc không tắm ở Hồ Thiên là hành động đi ngược lại với hành độngcủa cộng đồng Nó là sự phủ nhận âm thầm những niềm tin của cộng đồng mànguyên nhân cũng xuất phát từ trạng thái bi quan, hoài nghi mọi giá trị
Nhân vật trong “Sông” không phải là những kẻ phá phách giơ búa đập
tan những tín điều giả dối, cũng không gào tướng lên phản đối, thể hiện chính
Trang 31kiến Họâm thầm, lặng lẽ cất lên tiếng nói của mình Họ chỉ là những kẻ yếuđuối, nhỏ bé mang trong mình những chấn thương ràng rịt không phép màunào có thể trợ giúp.
2.1.4 Đối thoại với những quan niệm truyền thống
Việc suy tư, đối thoại lại với những quan niệm truyền thống cũng chính
là một biểu hiện của tinh thần hoài nghi Chứng kiến quá nhiều những điềuphi lý và giả dối của đời sống, con người không còn tin tưởng vào bất kì mộtchân lý nào nữa Mang trong mình một quan niệm khác, con người cất lêntiếng nói ngược lề, tiếng nói đối thoại nhằm xác lập một góc nhìn mới Xétđến cùng, việc con người cất lên tiếng nói đối thoại với những quan niệm
truyền thống chính là việc con người đang “bất tín” những “đại tự sự” và muốn xây dựng lên những “tiểu tự sự” của mình.
Quan niệm truyền thống vẫn cho rằng cái đẹp bao giờ cũng gắn liền cái
có ích, cái đẹp bao giờ cũng phải có lợi có lợi cho con người Nhưng trongtiểu thuyết này, thông qua cái nhìn của các nhân vật, Nguyễn Ngọc Tư đưa ramột cách nhìn mới Đâu phải cái đẹp nào cũng gắn liền với cái có ích, nhiềukhi nó còn gắn liền với cái ác Bối có một lạc thú ấy là chụp những cơn giông,những tia sét, việc chụp những khoảnh khắc dữ dội đem đến cho Bối mộtkhoái lạc mà không một đứa con gái nào có thể đem đến cho anh ta Bức ảnhBối chụp tia sét khổng lồ phóng xuống cao ốc Thiên Đường trở lên nổi tiếngmặc dù nó đã thiêu chết hai người lao công trên sân thượng Và Ân không
hiểu vì sao mà “ hai mạng người kia không làm tia sét xấu đi Nó vẫn lộng
lẫy, ma mị Mình không thể ghét nó” Tia sét làm chết hai mạng người, nhưng
tia sét không bị xấu đi, người ta vẫn thấy nó đẹp, vẫn thấy nó ma mị.Như vậy
ở đây cái đẹp không gắn liền với cái có ích Cuộc trò chuyện giữa Ân, Xu,Bối chỉ càng chứng minh rằng cái đẹp nhiều khi và không nhất thiết phải gắn
liền với cái có ích Xu nói “ Cái gì đẹp cũng nguy hiểm Cả những cái hoa mà
Trang 32tôi biết Nấm độc không đẹp sao? Hoa độc cần không muốt trắng đến nao lòng sao? […] Loại cây mang tên Venus nghe đê mê vậy mà lại có hoa ăn thịt Thế giới có trên hai mươi ngàn loại lan, một cây lan nữ hài lá sọc nào đó giá bằng chiếc xe Lexus Những cái cây đầy hiểm họa như thuốc phiện và đoạn trường thảo lại ra hoa đẹp nao lòng” Dostoevsky từng khẳng định
“Cái đẹp cứu rỗi thế giới” tức cái đẹp phải là cái cứu giúp con người, cái đẹp
bao giờ cũng cứu giúp con người nhưng tiểu thuyết “Sông” lại cất lên một
tiếng nói đối thoại với quan niệm truyền thống
Ở chương 20, khi nói về bộ phim “Chín mươi phút rưỡi” kể về cuộc
vật lộn của hai phi công, bốn tiếp viên cùng ba trăm mười sáu hành khách trênchuyến bay để thoát khỏi lưỡi hái tử thần, Nguyễn Ngọc Tư đặt ra vấn đềthếnào là một bộ phim hay Trước đây ta quan niệm một bộ phim hay phải là một
bộ phim kết thúc có hậu “anh hùng luôn có cách thoát khỏi cõi chết trở về,
khệnh khạng bước ra khỏi những đám cháy Miệng kêu phim xạo bà cố mà ai nấy hể hả, hài lòng Những siêu anh hùng luôn sống nhờ vào lòng thương của con người Sống bất chấp phi lý Sống cho thứ gọi là hy vọng” Nguyễn Ngọc
Tư đặt vấn đề ngược lại, cũng giống như cái đẹp không nhất thiết phải gắnliền với cái có ích, kết thúc hay không nhất thiết phải gắn liền với những kết
thúc vui vẻ Không chỉ vậy, một bộ phim hay còn là bộ phim “làm cho những
người xem như Tú tức mình”, Tú là người xem mang trong mình thị hiếu
thẩm mỹ truyền thống đã cũ và lỗi thời Như vậy, vấn đề Nguyễn Ngọc Tưđặt ra đằng sau câu chuyện về một bộ phim đó là một sáng tạo nghệ thuật chỉ
có thể được coi là hay, là thành công, là có ý nghĩa khi nó đả phá vào bứctường thành những quan niệm thẩm mỹ, những thị hiếu thẩm mỹ đã lỗi thời
đồng thời phải tạo ra những “cú hích” để thức tỉnh con người Cũng tương tự như vậy khi Nguyễn Ngọc Tư bàn về chuyện viết văn “người viết giỏi thì
không được và không nên thương hại nhân vật của mình” Và xuất phát từ
Trang 33nhận thức ấy, so với những sáng tác trước đó, trong “Sông” Nguyễn Ngọc
Tư cũng đang dần giấu đi tình thương của mình đối với nhân vật Quan niệmcủa Nguyễn Ngọc Tư về cái hay và cái đẹp gần gũi với quan niệm của các nhàvăn hậu hiện đại khi chủ trương phá vỡ những cái khung truyền thống, phá vỡ
“Đại tự sự” để hướng con người đến những “tiểu tự sự”.
Đối thoại về ý nghĩa của những cuộc chiến đối với đời sống của conngười cũng là một biểu hiện của tinh thần hoài nghi trong tác phẩm Cuộcchiến tranh của chúng ta trước nay vẫn được nhìn nhận như là một cơn giólàm thay đổi số phận nhân dân, đem đến cho nhân dân độc lập, tự do và no
ấm Nhưng trong tác phẩm của mình, Nguyễn Ngọc Tư đặt ra một góc nhìnmới Ấy là chiến tranh còn đem đến những tổn thương cho con người Thựcchất, vấn đề mà Nguyễn Ngọc Tư để cập đến không mới, đã có nhiều nhữngcây bút đi trước đặt ra, nhưng nó mới so với quan niệm truyền thống
Chiến tranh là nỗi đau, nó gây ra những thương tật thể xác cho con
người Băng Khâu, cũng giống như cái tên của nó, là vùng đất “đầy những
thương tích” Chiến tranh đã tàn phá tất cả, chỉ còn lại một vùng đất đổ nát,
tiêu điều “Những bức tường đổ những dãy nhà bị san phẳng chỉ còn chỏng
chơ cái nền gạch” Chiến tranh hủy diệt hàng vạn con người, không từ nan
một số phận nào “Thánh đài dựng trên những hố chôn tập thể, bia ghi dằng
dặc những cái tên: con gái một tuổi của chị Tím, năm đứa nhỏ con nhà Ba Chất Cậu nhìn thấy ở phần gần cuối một tấm bia có người cùng tên, cùng ngày tháng sinh với cậu, chỉ khác họ và năm sinh Hưởng dương mười bảy tuổi.” Chiến tranh lấy đi cả những số phận trẻ thơ, lấy đi con người ta khi
đang ở cái phần đời đẹp nhất Con người ở cõi sống và cõi chết hòa làm một,ngày ngày những linh hồn oan khuất vẫn hiện hồn về cõi dương như là mộtlời tố cáo tội ác của chiến tranh Ở Ể Uu, chiến tranh lấy đi gần như toàn bộmột tộc người, đẩy tộc người vào tình trạng diệt vong, đẩy con người vào
Trang 34trạng thái cô đơn Nếu không hủy diệt được con người thì chiến tranh cũng đểlại cho con người những thương tật man rợ Chiến tranh để lại trên gương mặt
người giữ thánh đài những vết sẹo chẳng bao giờ lành “Bên dưới má phải ông
bị thủng một lỗ có thể nong vừa một đồng xu, làm giọng ông hụp hà hụp hửi
vì thiếu hơi […] Trật áo ra, trên người ông còn vài chục vết sẹo khác do chĩa đâm Sẹo lồi Sách lịch sử nói họ đã tẩm nhiều chất độc vào mũi chĩa, không chết ngay thì cũng chết vì uốn ván nhiễm trùng Nhưng cậu không tin sách lịch sử lắm, chúng hay đứng về phía người thắng cuộc” Chiến tranh tàn phá
thể xác con người, để lại cho con người những dị tật có thể chẳng bao giờlành Cũng chính bởi chiến tranh lấy đi một phần thể xác của hàng vạn conngười mà nghề đẹo chi gỗ ở Tân Quới lại đặc biệt phát triển Cả một làng làmnghề đẽo chi, nhưỡng chiếc tay mô phỏng ý như tay người thật, để đốt cho
những con người thiếu hụt một phần thân thể ở thế giới bên kia “ Người ta
nói nhờ cậu mà cái rẻo đất bên sông này khấm khá, nhất là qua mấy cuộc chiến tranh làm hàng vạn người tật nguyền” Càng nhiều những cuộc chiến
tranh thì lại càng có nhiều người tật nguyền! “Hết cuộc chiến này đến cuộc
chiến khác, còn đánh nhau là tụi này còn ăn nên làm ra hoài hoài”.
Chiến tranh không chỉ gây nên thương tật thể xác mà còn bóp méo tâmhồn con người, lấy đi sự bình yên trong tâm hồn Chiến tranh gieo rắc trong
con người sự thù hận Ở Băng Khâu, thánh đài “Bốn phía treo những lá bùa
nguệch ngoạc Người ta giải thích để vong bên giặc không vào được nơi linh thiêng đó, chỉ có bên mình thôi Cả linh hồn cũng chia ta- địch.” Chiến tranh
đầu độc tâm hồn trẻ thơ “Trẻ em như búp trên cành/ Biết ăn biết ngủ biết học
hành là ngoan”, ấu thơ đáng lẽ phải là thời của những vui chơi, những trò
nghịch ngây ngô thơ dại, nhưng chỉ bởi chiến tranh mà ngay cả một đứa trẻ
cũng mang trong mình sự hận thù “ - Đời nào mà em bán kẹo của giặc Anh
mua kẹo gừng đi, ngon hơn nhiều Em bé gằn giọng chữ giặc, mắt vằn những
Trang 35tia máu Con nít con hôi hỉ mũi chưa sạch mà ai bày đặt cho nuôi oán thù chi” Đối với ông già đi cùng với Ân và Xu lên Hồ Thiên, chiến tranh trở
thành nỗi ám ảnh, trở thành kí ức đau xót chẳng bao giờ nguôi quên Mặc dùchiến tranh đã đi qua từ lâu, những kẻ chưa bao giờ đi qua một cuộc chiến đãlãng quên thì người đàn ông ấy vẫn thao thao kể về những kí ức chiến tranh
“Mỗi năm vài lần phơi mặt lên ti vi, kể chuyện chiến tranh vào những dịp kết
thúc chiến tranh Cậu nhớ một lần ông nói mê mải đến mức người dẫn chương trình phải cắt ngang, nhưng ông vẫn nói, đến sôi bọt mép, đến giàn giụa nước mắt” Ông nói không phải bởi ông tự hào về nó, mà bởi nó là kí ức
đau đớn nhất trong ông Ông nói về nỗi đau lớn nhất của đời mình, nỗi đau ănsâu vào tiềm thức Tiếng nói của ông là sự thổn thức của mỗi cõi vô thức đauthương, bởi thế mà không dừng lại được, bởi thế mà giàn giụa nước mắt Ôngtrở lại Hồ Thiên mong gột rửa tâm hồn mình, để tìm lại con người mình thờichưa bị chiến tranh nhào nặn Nhưng trước khi rời khỏi cuộc chiến ông cũngtắm ở Hồ Thiên, cũng đã từng ngụp lặn trong làn nước vàng rực dưới ánhtrăng rằm tháng chín, ông vẫn không thể trở về đúng cái nơi mà ông đã từng
ra đi “Ông nói sợ Thây người Mùi thịt khét Máu tanh từ những cái chân xíu
xiu của bọn ruồi”.
Viết về những mặt trái của cuộc chiến, Nguyễn Ngọc Tư không nhằmphủ nhận ý nghĩa của cuộc chiến đối với số phận dân tộc mà chỉ nhằm chỉ ranhững mất mát, những thương tổn của những cuộc chiến nói chung đối vớicon người, dù là người thắng cuộc Viết về cái xấu, cái ác, về những mặt tốicủa hiện thực không phải để cổ súy cho nó mà viết để cảnh tỉnh con người
Với tư là một cây bút trẻ Nguyễn Ngọc Tư đã cất tiếng nói đối thoại vớinhững quan niệm truyền thống về những vấn đề lớn lao của sáng tạo nghệthuật cũng như của xã hội Đối thoại với tư cách là một hành động cống hiếnkhông nhằm để lăng mạ và sỉ nhục mà đối thoại để hướng cộng đồng đến một