1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án XƯNG HÔ TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT

102 1,5K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 654 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có những lĩnh vực hẹp hơn trong giao tiếp ngôn ngữ của người Việt đã được chú ý đến về mặt từ xưng hô như Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong cộng đồng công giáo Việt của Trư

Trang 1

1 Lớ do chọn đề tài

Vấn đề xng hô là vấn đề quan trọng, không thể thiếu trong giao tiếp ngôn ngữ Nhng đến nay, nó cha đợc nghiên cứu đầy đủ, nhất là trong văn bản hành chính Lựa chọn đề tài này là việc làm góp phần làm sáng tỏ lí thuyết giao tiếp ,lớ thuyết về xưng hụ, về văn bản hành chớnh, đồng thời góp phần vào việc nõng cao kĩ năng soạn thảo văn bản hành chính

2 Lịch sử vấn đề.

Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về xng hô trong tiếng Việt

và những công trình nghiên cứu về các phơng diện khác của văn bản hành chính Tuy nhiên cha có công trình nào nghiên cứu tập trung và có hệ thống về xng hô trong văn bản hành chính

2.1 Về xưng hụ

Đõy là vấn đề được đặt ra khi quan tõm đến ngụn ngữ trong hoạt động giao tiếp Một hoạt động giao tiếp đều diễn ra với sự tham gia của cỏc nhõn tố giao tiếp Cỏc nhõn tố giao tiếp tạo nờn hoạt động giao tiếp, chi phối hoạt động giao tiếp và cũng chịu ảnh hưởng của hoạt động giao tiếp Vỡ thế việc nghiờn cứu ngụn ngữ trong hoạt động giao tiếp khụng thể khụng chỳ ý đến cỏc nhõn tố giao tiếp

Kết quả nghiờn cứu của cỏc cụng trỡnh trờn đều rất hữu ớch cho sự nghiờn cứu của chỳng tụi Tuy nhiờn, đề tài nghiờn cứu của chỳng tụi giới hạn trong

phạm vi Xưng hụ trong văn bản hành chớnh tiếng Việt Phạm vi giao tiếp này cú

một số đặc điểm nhất định , chỳng chi phối việc sử dụng từ xưng hụ và cỏch xưng hụ

Trong số cỏc nhõn tố giao tiếp thỡ cỏc nhõn vật giao tiếp chiếm một vai trũ quan trọng Nhõn vật giao tiếp gồm người núi SP1 và người nghe SP2 Hai

Trang 2

nhân vật giao tiếp đổi vai cho nhau , có quan hệ tương tác và thể hiên tình cảm thái độ đối với nhau trong quá trình giao tiếp Quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp thể hiện trước hết ở sự xưng hô, từ ngữ xưng hô và cách xưng hô

Xưng hô trong giao tiếp ngôn ngữ đã được quan tâm nghiên cứu trong nhiều công trình :

- Trong các công trình về ngữ pháp tiếng Việt thường phân xuất lớp đại từ xưng hô Lớp từ này trong tiếng Việt tuy không biến đổi hình thái, nhưng qua cách dùng trong giao tiếp thường được phân biệt theo ba ngôi , và theo số : số đơn và số nhiều Ngoài các đại từ xưng hô , tiếng Việt còn dùng danh từ thân tộc , tên riêng, từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ để xưng hô Các tác giả Nguyễn

Văn Chiến ( Từ xưng hô trong tiếng Việt Nam - trong sách Những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa , 1993), Nguyễn Phú Phong ( Đại danh từ nhân xưng tiếng Việt

– TC Ngôn ngữ số 1/1996) đã dành cho lớp từ xưng hô tiếng Việt một vị trí thích đáng

- Một số công trình nghiên cứu về đặc điểm xưng hô trong ngôn ngữ của một dân tộc , hoặc so sánh đối chiếu xưng hô trong hai ngôn ngữ với nhau Các

luận án tiến sĩ của Phạm Ngọc Thưởng “Các cách xưng hô trong tiếng Nùng “ bảo vệ năm 1998, của Phạm Ngọc Hàm “Đặc điểm và cách sử dụng của lớp từ ngữ xưng hô tiếng Hán trong sự so sánh với tiếng Việt “ bảo vệ năm 2004, “ Đặc điểm xưng hô của người Hàn và người Việt” của Lã Thị Thanh Mai năm

2014, bài viết “ Mấy nhận xét về từ xưng hô tiếng Việt và tiếng Hàn Quốc “ của

Nguyễn Minh Thuyết – Kim Young Soo ( trong sách Tương đồng văn hóa Việt

Nam – Hàn Quốc, Nxb Hà Nội, 1996) , bài “ Một số đặc điểm văn hóa Nhật – Việt qua việc khảo sát hệ thống từ xưng hô” của Hoàng Anh Thi ( Tạp chí Ngôn

ngữ số 1/1995) thuộc loại này Những công trình này chỉ ra sự đồng nhất và khác biệt về hệ thống từ xưng hô và đặc điểm trong cách xưng hô của các dân tộc Những đặc điểm đó gắn liền với các đặc điểm văn hóa dân tộc

Trang 3

-Có những công trình nghiên cứu về xưng hô và từ xưng hô trong nội bộ tiếng Việt, nhưng quan tâm đến sự khác biệt trong xưng hô giữa các phương ngữ

: Từ xưng hô và cách xưng hô trong các phương ngữ tiếng Việt , luận án tiến sĩ

ngôn ngữ học của Lê Thanh Kim, năm 2002 Công trình này cho thấy các phương ngữ của tiếng Việt có những khác biệt về hệ thống từ xưng hô và cách xưng hô khi giao tiếp trong gia đình, trong quan hệ vợ chồng, anh em, trong dòng họ thân tộc và rộng ra trong xã hội

-Nhiều công trình dành cho từ xưng hô và cách xưng hô của người Việt trong các phạm vi và lĩnh vực giao tiếp khác nhau Sự liên thông và sự khác biệt giữa xưng hô trong gia đình và xưng hô ngoài xã hội của người Việt đã được

luận án tiến sĩ của Bùi Minh Yến bảo vệ năm 2001 ( Từ xưng hô trong gia đình đến xưng hô ngoài xã hội của người Việt ) chú ý đến Có những lĩnh vực hẹp

hơn trong giao tiếp ngôn ngữ của người Việt đã được chú ý đến về mặt từ xưng

hô như Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong cộng đồng công giáo Việt của Trương Thị Diễm ( Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 12/2012) hoặc Xưng và gọi trong hoạt động hành chính ở một xã thuộc đồng bằng Bắc bộ; tôn

ti và bình đẳng ( trong sách Tiếng Việt trong giao tiếp hành chính , Nxb Văn hóa

thông tin năm 2000)

-Dưới góc độ của Ngôn ngữ học xã hội , tác giả Nguyễn Văn Khang đã phân

xuất 13 cách xưng hô trong giao tiếp ngôn ngữ , đồng thời chỉ ra rằng có nhiều nhân tố tác động đến sự lựa chọn từ ngữ xưng hô , trong đó có bối cảnh cụ thể ,

có nhân tố quyền lực và thân hữu ( Ngôn ngữ học xã hội – Nxb Giáo dục Việt

Nam, năm 2012, tr 361- 371) Tuy nhiên, đây mới là những nhận định về xưng

hô trong giao tiếp ngôn ngữ nói chung, cần được vận dụng cụ thể vào từng lĩnh vực giao tiếp, trong đó có giao tiếp thông qua văn bản hành chính

Trang 4

Những ý kiến và quan niệm về xưng hô trong giao tiếp mà các công trình nêu trên đã trình bày là những cơ sở và gợi ý cho chúng tôi trong quá trình triển khai

đề tài

2.2.Về văn bản hành chính

Những nghiên cứu về văn bản hành chính có thể tập hợp thành ba loại :

- Những công trình bàn về Quy cách và kĩ thuật soạn thảo văn bản hành

chính Những công trính này xuất phát từ những đặc điểm về chức năng, về kết cấu, về đặc điểm ngôn ngữ của văn bản hành chính để đề xuất quy cách và kĩ thuật soạn thảo văn bản , có tác dụng hướng dẫn như một cẩm nang cho người

soạn thảo Đó là các công trình : Kĩ thuật và ngôn ngữ soạn thảo văn bản quản

lí nhà nước ( Bùi Khắc Việt , KHXH, 1997 ) , Soạn thảo và xứ lí văn bản trong công tác của cán bộ quản lí và lãnh đạo ( Nguyễn Văn Thâm,Nxb Sự thật, 2004), Kĩ thuật xây dựng và ban hành văn bản quản lí hành chính nhà nước

( Học viện hành chính quốc gia, KHKT, 2008), Những công trình này hướng đến kĩ thuật xây dựng văn bản hành chính ở nhiều phương diện khác nhau, trong

đó việc sử dung từ ngữ xưng hô chỉ chiếm tỉ lệ rất thấp

- Những công trình về Phong cách học tiếng Việt, trong đó dành một hai

chương trình bày về phong cách ngôn ngữ hành chính trong hệ thống các phong

cách chức năng ngôn ngữ Tiêu biểu là Phong cách học tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc, ĐHQGHN, 1997;Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của

Cù Đình Tú , ĐH & THCN, 1983;Phong cách học tiếng Việt của Đinh Trọng

Lạc và Nguyễn Thái Hòa , Nxb Giáo dục , 1995 Ở những công trình này nhiều phương diện khác nhau trong văn bản hành chính được đi sâu nghiên cứu : khái niệm , chức năng và những đặc trưng cơ bản của văn bản hành chính, đặc điểm

về kết cấu, về các phương tiện từ ngữ, câu và đoạn Tuy nhiên , từ xưng hô và cách xưng hô chưa được quan tâm thích đáng hoặc không được đề cập đến

Trang 5

- Những công trình dành riêng cho những phương diện bộ phận , có tính chuyên sâu của văn bản hành chính Trong đó có luận văn thạc sĩ Câu trong văn bản hành chính của Đỗ Thanh Nga, ĐHSPHN, 2003,các luận án tiến sĩ: Hành động ngôn từ cầu khiến trong văn bản hành chính của Vũ Ngọc Hoa, ĐHSPHN, 2012, Khảo sát chức năng ngôn ngữ văn bản quản lí nhà nước qua phương pháp phân tích diễn ngôn của Nguyễn Thị Hà, ĐHQGHN, năm

2010 Tuy thế ,chưa có công trình nào dành riêng cho xưng hô trong văn bản hành chính

Như thế có thể nhận thấy số lượng các công trình nghiên cứu hay giảng dạy

về văn bản hành chính không phải là ít, nhưng tựu chung các công trình này tập trung vào khảo sát một số phương diện là : chức năng, các loại văn bản, đặc trưng văn bản và đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản hành chính ( về từ ngữ, câu văn, đoạn văn, cấu trúc văn bản ) Vấn đề xưng hô trong văn bản hành chính chưa được quan tâm đến, chưa có công trình nào dành riêng cho từ ngữ xưng

hô , cách thức xưng hô và những vấn đề liên quan đến xưng hô trong văn bản hành chính

Những vấn đề khái quát và những đặc điểm của văn bản hành chính về mặt ngôn ngữ mà các công trình trên đã đúc rút là cơ sở cho chúng tôi đi vào tìm hiểu về xưng hô trong văn bản hành chính

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là từ ngữ dùng để xưng hô và cách thức xưng hô trong văn bản hành chính tiếng Việt

- Phạm vi nghiên cứu: văn bản hành chính bằng tiếng Việt trong thời kì hiện nay, bao gồm loại văn bản quản lí nhà nước và văn bản hành chính thông thường

4 Nhiệm vụ nghiên cứu :

Trang 6

-Tỡm hiểu và hệ thống húa những vấn đề lớ luận cần thiết về xưng hụ trong giao tiếp ngụn ngữ :khỏi niệm xưng hụ, chức năng của xưng hụ, những phương tiện xưng hụ, quan hệ giữa xưng hụ với cỏc nhõn tố giao tiếp

-Tỡm hiểu và hệ thống húa những vấn đề lớ luận cơ bản về văn bản hành chớnh : khỏi niệm và cỏc loại văn bản hành chớnh, đặc điểm về phương tiện ngụn ngữ , đặc điểm về cỏc nhõn tố giao tiếp của văn bản

-Khảo sỏt về từ ngữ và cỏch thức xng, hô trong văn bản hành chính : xác định khái niệm xng và hô; sự phụ thuộc của xng và hô vào vị thế của các vai giao tiếp; những phơng tiện xng và hô trong văn bản hành chính; tớnh biểu cảm và lịch sự trong xng hô ở văn bản hành chính

6 Phương phỏp nghiờn cứu : Một số phơng pháp nh phân tích diễn ngôn,

điều tra xã hội học, so sánh đối chiếu

-Phương phỏp phõn tớch diễn ngụn

Trang 7

Phương pháp phân tích diễn ngôn được sử dụng để lí giải việc sử dụng các từ ngữ xưng hô trong văn bản hành chính ; nghiên cứu những phương thức thể hiện biểu cảm và lịch sự trong xưng hô ở văn bản hành chính,

-Phương pháp điều tra xã hội học

Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng để điều tra việc sử dụng các

từ ngữ xưng hô trong văn bản hành chính

-Phương pháp so sánh đối chiếu

Phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng để tìm ra những điểm giống và khác nhau giữa cách xưng hô trong văn bản hành chính với cách xưng hô trong các lĩnh vực khác,

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN

Trong chương 1 của luận án, chúng tôi nêu lên cơ sở lí luận của đề tài trên cơ sở tổng quan những thành tựu nghiên cứu về lí thuyết xưng hô trên thế giới cũng như ở Việt Nam Cách làm này sẽ cho chúng tôi một cái nhìn toàn diện về vấn đề xưng hô trong văn bản hành chính và làm kim chỉ nam để triển khai các nội dung tiếp theo

1.1 Xưng hô trong giao tiếp ngôn ngữ

1.1.1 Khái niệm xưng hô

Trong đời sống xã hội, giao tiếp là cách để con người trao đổi với nhau Đối với giao tiếp, xưng hô là một phần không thể thiếu Vậy xưng hô là gì? Nói một cách dễ hiểu, đó là phương thức con người tự xưng mình và gọi người khác

Trang 8

khi đang nói chuyện với nhau Liên quan trực tiếp đến xưng hô là vấn đề ngôi thứ Vậy ngôi là gì? Ngôi là phạm trù ngữ pháp gắn với các loại từ như đại từ, động từ…biểu thị vị trí của các nhân vật trong giao tiếp (người nói, người nghe hay nhân vật được nói đến) Như vậy, ngôi xưng hô là phạm trù ngữ pháp dùng

để tự xưng mình và gọi người khác khi giao tiếp với nhau để biểu thị vị trí của các nhân vật trong giao tiếp hoặc để biểu thị tính chất của mối quan hệ của các bên giao tiếp với nhau.Vậy xưng hô được định nghĩa như thế nào? Có nhiều định nghĩa về xưng hô, chúng tôi nêu lên một số định nghĩa như sau:

Một số chuyên gia Hàn Quốc như Park Jeong Un, Lee Seon Ung, Lee Mu Yong, Han Kap Su cho rằng “Xưng hô là hình thái ngôn ngữ gọi trực tiếp” hoặc

“xưng hô là lời gọi người nào đó” hay “xưng hô phản ánh mối quan hệ của người nói và người nghe” [dẫn theo Lã Thị Thanh Mai, luận án Đặc điểm xưng

hô của người Hàn và người Việt, tr 14].

Theo tác giả Nguyễn Văn Khang [Nguyễn Văn Khang, Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Khoa học Xã hội,1999], xưng hô là lớp từ dùng để chỉ "tự gọi tên mình

(xưng) và gọi tên người khác" (hô) khi giao tiếp

Nguyễn Văn Chiến trong Từ xưng hô trong tiếng Việt, Kỉ yếu Những vấn

đề ngôn ngữ và văn hóa, Hội ngôn ngữ học Việt Nam (1993) trang 64 nêu lên

rằng “ Xưng hô là một hành vi được thực hiện trong giao tiếp”

Tác giả Phạm Ngọc Thưởng trong luận án tiến sĩ Các cách xưng hô trong tiếng Nùng, Đại học Sư phạm Hà Nội, 1998, trang 15 cho rằng “Xưng hô là

hành động ngôn ngữ của các nhân vật hội thoại – người nói và người nghe Nhân vật hội thoại sử dụng các đơn vị ngôn ngữ một cách thường xuyên, liên tục để đưa mình vào trong lời nói (hành động xưng – ngôi 1) và đưa người đối thoại vào trong lời nói (hành động hô – ngôi 2)”

Bùi Minh Yến trong Từ xưng hô trong gia đình đến xưng hô ngoài xã hội

cho rằng “Khái niệm xưng hô được ý thức như một hành vi ngôn ngữ có chức năng xác lập vị thế xã hội của những người tham gia giao tiếp và tương quan

Trang 9

tâm thế giữa họ với nhau trong quá trình giao tiếp Khi thực hiện chức năng này, hành vi ngôn ngữ xưng hô đồng thời đảm nhận nhiệm vụ khác tạo ra sự tương tác ngôn ngữ cho cuộc thoại, điều chỉnh cuộc thoại theo đích đã định, bảo đảm hiệu lực hành vi”

Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (chủ biên), Nxb Đà Nẵng, năm 2004 định nghĩa về hai khái niệm “xưng” và “xưng hô” như sau:

(3) Xưng hô là hoạt động thường xuyên, xuất hiện trong cả lời người nói

và lời người nghe

Hầu hết các tác giả cùng thống nhất cho rằng xưng hô là một hành vi giao tiếp, trong đó có các nhân vật hội thoại đồng thời phản ánh mối quan hệ liên nhân giữa người đối thoại với nhau Tựu chung lại, chúng tôi cho rằng xưng hô

là một hành động ngôn ngữ diễn ra trong hội thoại Khi các nhân vật hội thoại lựa chọn và sử dụng các từ hô gọi sẽ phản ánh cách ứng xử văn hóa và quan hệ giao tiếp của người nói và người nghe Sau đây chúng tôi sẽ gọi là SP1(người tham gia giao tiếp thứ nhất) và SP2 (người tham gia giao tiếp thứ hai) và SPn (người tham gia giao tiếp thứ n)

Trang 10

Trong diễn ngôn, xưng hô được hiểu như thế nào? Thực tế cho thấy những lượt lời thường diễn ra trong quá trình trao đáp do đó những tín hiệu

xưng hô sẽ không thể thiếu Chúng tôi cho rằng xưng hô là một bộ phận của diễn

ngôn, là một thành tố không thể vắng mặt trong quá trình giao tiếp Nguyễn Đức

Tồn đã đúc kết lại rằng xưng là tự gọi mình là gì đó khi nói với người khác biểu thị tính chất mối quan hệ giữa mình với người ấy Còn hô là gọi người nói

chuyện với mình là gì đó, biểu thị tính chất mối quan hệ giữa mình với người ấy

Ví dụ như đoạn hội thoại sau:

An đã nằm xuống gối đầu lên đùi chị, mi mắt sắp sửa rơi xuống, còn dặn với:

- Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé (1)

- Ừ Em cứ ngủ đi (2)

(Thạch Lam - Hai đứa trẻ)

Trong ví dụ trên, ở câu (1) từ xưng là em và từ hô là chị; trong câu (2) từ

hô là em

Từ sự phân tích trên cho thấy xưng hô là hành động của ngôn ngữ mà người nói tự xưng mình và gọi người khác là gì đó khi họ đang giao tiếp với nhau để biểu thị tính chất của mối quan hệ Cần phải phân biệt giữa xưng hô và

hô gọi Hô gọi cũng là một hành động ngôn ngữ nhưng chức năng chính của nó

là để thu hút sự chú ý của người đối diện, hoặc phát tín hiệu cho người đối diện biết rằng người hô gọi muốn giao tiếp với anh ta Hô gọi thường diễn ra ít lần trong cuộc giao tiếp Hô gọi là hành động chỉ của người nói Còn xưng hô là hành động diễn ra thường xuyên, liên tục trong các diễn ngôn, trong những lượt lời của những người tham gia giao tiếp

Tựu chung lại, khi nhân vật lựa chọn một từ xưng hô nào đó để xưng hô với người tham gia giao tiếp thì ngay lúc đó anh ta đã xác định và mặc nhiên bị

lệ thuộc vào cái khung quan hệ của mình với đối tác do chính từ xưng hô mang lại Như thế xưng hô liên quan đến khái niệm nhân vật giao tiếp Xưng hô gắn

Trang 11

liền với các nhân tố khi giao tiếp: người nói, người nghe, đối tượng được nói

đến, hoàn cảnh giao tiếp, đề tài và mục đích giao tiếp Xưng là tự gọi mình là gì

đó khi nói chuyện với người khác; biểu thị mối quan hệ giữa mình với người ấy

Hô là gọi người nói chuyện với mình là gì đó; biểu thị mối quan hệ giữa mình và người nói chuyện với mình Có thể khái quát lại rằng Xưng là hành động mà

người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa mình vào trong lời nói, để người nghe biết rằng mình đang nói và mình chịu trách nhiệm về lời nói của mình Đó

là hành động tự quy chiếu của người nói Hô là hành động người nói dùng một

biểu thức ngôn ngữ để đưa người nghe vào lời nói

1.1.2 Các chức năng của xưng hô trong giao tiếp

Các chức năng của xưng hô trong giao tiếp được thể hiện ở ba phương diện là chức năng định vị, chức năng chiếu vật và chức năng thể hiện quan hệ liên nhân

1.1.2.1 Chức năng định vị của từ xưng hô

Trong công trình Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Đỗ Hữu Châu khẳng định

“Trong ngôn ngữ, tất cả các câu nói, bằng cách này hay cách khác đều phải có

yếu tố đóng vai trò định vị” [Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Tái bản lần thứ hai, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 130).

Chức năng định vị của xưng hô có tác dụng tự bộc lộ vị thế của các nhân vật giao tiếp Đó là vị thế trên hay dưới, hoặc ngang bằng giữa các nhân vật giao tiếp Để sử dụng danh từ xưng hô đúng, bản thân người giao tiếp cần định vị vị thế của mình đối với đối tượng giao tiếp

Đại từ nhân xưng hay đại từ xưng hô hay đại từ chỉ ngôi là những đại

từ dùng để chỉ và đại diện hay thay thế cho một danh từ để chỉ người và vật khi

ta không muốn đề cập trực tiếp hoặc lặp lại không cần thiết các danh từ ấy Tất

cả các ngôn ngữ trên thế giới đều chứa đựng đại từ nhân xưng Đại từ nhân xưng trong một số ngôn ngữ thường chia theo ngôi và theo số ít hay số nhiều

Đại từ nhân xưng có thể được phân thành 3 loại (theo các ngôi giao tiếp):

Trang 12

- Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (chỉ người đang nói: tôi, tao, tớ, mình, bọn mình, chúng ta, ).

- Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai (chỉ người đang giao tiếp cùng: bạn, cậu, mày, anh, chị, ).

- Đại từ nhân xưng ngôi thứ ba (chỉ những người không tham gia giao

tiếp nhưng được nhắc đến trong cuộc giao tiếp: nó, anh ta, hắn, y, bọn ấy, ).

Trong mỗi loại trên lại chia ra: số ít (tôi) - số nhiều (chúng tôi, bọn tôi).Đối với ngôi thứ nhất số ít Khi nói chuyện với mọi người, tùy trường hợp, tương quan tuổi tác, liên hệ bà con, mức độ thân sơ, mà tự xưng bằng những danh từ thân tộc hay nhân xưng đại từ khác nhau:

- Con, với ông bà, cha mẹ, những người bà con ngang vai với ông bà, cha

mẹ, với thầy cô giáo (ngày xưa); với những người già

- Cháu, với ông bà, chú bác cô dì, với những người ngang tuổi với ông bà,

cha mẹ

- Em, với anh chị; với những người hơn tuổi, hơn chức phận, với chồng

(nếu người nói là nữ), hoặc người đàn ông nào mà đương sự muốn dùng tiếng xưng hô này để biểu lộ tình cảm, với thầy cô giáo (ngày nay)

- Chị, với các em, với những người mà đương sự coi là đáng em của

mình

- Cô, dì, bác, thím, với các cháu theo tương quan họ hàng, với người nhỏ tuổi được đương sự coi như con cháu Mẹ, má, me, với các con.

- Tôi, với tất cả mọi người.

- Tao, ta, với một số người, khi đương sự không cần giữ lễ, hoặc muốn

biểu lộ uy quyền, hoặc sự tức giận

- Về ngôi thứ hai số ít, trong tương quan cha – con, mẹ - con, khi đối thoại, cha mẹ gọi con bằng con hoặc mày Cũng có đôi trường hợp, đối với

người con đã có gia đình, có chức phận, người Bắc ngày trước kiểu cách gọi

bằng anh, bằng chị Đối lại, con gọi cha mẹ bằng rất nhiều tiếng: cha, bố, ba,

Trang 13

thầy, cậu, tía; mẹ, má, mợ, me, măng, bu, bầm, u, Nói chuyện với một người trong vòng bà con, người ta sẽ gọi theo vai vế: bác, chú, cậu, dượng, cô, dì, thím, bác gái; anh, chị, dượng nó, chú nó, Nói chuyện với người ngoài, người

ta xưng theo tuổi: cụ, ông, bà, anh, chị, chú, mày,

Ngoài ra có các đại từ tôn trọng danh xưng như: đức, quý, ngài, đấng, bậc hay nhục mạ, hạ thấp: thằng, đồ, con, hắn,

Bên cạnh đó cũng có nhiều đại từ nhân xưng dùng để chỉ về bản thân đặt trong mối liên hệ với tuổi tác, học vị, tôn giáo, chức vụ, phần nhiều có

nguồn gốc từ Hán Việt như: bần tăng, bần ni, bần đạo, bổn quan, bổn công

tử, bổn cô nương, bổn tướng, lão phu, tiểu tử, tiên sinh, lão đây, công tử, thiếu gia, đại gia, lão gia, tiểu thư, người anh em, vị huynh đài, huynh đệ, lão huynh, lão đệ, lão đại, sư huynh, sư đệ, sư muội, tiểu muội, muội muội, sư phụ, đệ tử, công công, cách cách, mỗ, cô (hoàng đế tự xưng), gia (hoàng thái

tử tự xưng), bổn hoàng, tỷ tỷ, sư tỷ, nghĩa phụ, nghĩa huynh, nghĩa muội, nghĩa điệt, điệt nhi, hiền đệ, hiền điệt, huynh đài,

[https://vi.wikipedia.org/wiki]

Đại từ dùng để xưng hô trong giao tiếp gắn liền với ba chức năng cơ bản:

- Chức năng làm đại từ nhân xưng Ví dụ: Tôi đã làm xong công việc Đây

là một câu kể và người xưng chính là nhân vật tôi

- Chức năng thứ hai là đại từ dùng để hô Ví dụ: Ai gặp cậu đấy? Đại từ nhân xưng ai là đối tượng được hô và là người thứ ba được nhắc tới trong giao

tiếp

- Chức năng thứ ba là đại từ dùng chỉ định (chỉ trỏ) Ví dụ: Khi nói chuyện, người nói chuyện xưng (ngôi thứ nhất – SP1), hô – người đối diện nói chuyện (ngôi 2 – SP2), và một đối tượng khác (ngôi thứ 3 – SP3) Chính vì thế, xưng hô của những người tham gia giao tiếp đã tạo nên vấn đề về ngôi và vai giao tiếp

Trang 14

Để tiến hành giao tiếp thì người tham gia giao tiếp phải thiết lập được quan hệ giao tiếp Vai giao tiếp là cương vị xã hội của một cá nhân nào đó giữ trong một hệ thống các quan hệ xã hội và được hình thành trong quá trình xã hội hóa cá nhân Một bộ vai được hợp thành từ quan hệ của cá nhân với những đối tượng chiếm cương vị khác mà cá nhân liên quan Con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội cho nên một người sẽ có nhiều vai khác nhau Ví dụ: một người đàn ông trong gia đình là vai con với cha mẹ, vai bố với các con của anh ta, vai chồng với người phụ nữ mà anh ta kết hôn và vai đồng nghiệp với những người bạn cùng công tác trong cơ quan của anh ta Bên cạnh việc ý thức

về vai giao tiếp của mình, người tham gia giao tiếp phải nhận thức được vai giao tiếp của người đối thoại Tức là phải nhận thức được mình trong quan hệ với người khác và nhận biết những đặc điểm về người đối thoại như tuổi tác, địa vị, nhân cách, lối sống… Những yếu tố này chi phối đến việc sử dụng từ xưng hô Theo Lyons (1980) thì “Trong phần lớn những tương tác xã hội, những người tham dự không có một khó khăn nào để quyết định họ có cùng hay không cùng

vị thế xã hội là một quy ước có tính văn hóa cộng đồng Trong trường hợp vị thế

xã hội không bình đẳng thì người nào là bậc trên, người nào là bậc dưới cũng được xác định rõ ràng Trong trường hợp vị thế bình đẳng thì họ có ý “xưng khiêm, hô tôn” Đây là một điều phổ biến trong nhiều ngôn ngữ trên thế giới.” Lyons, J (1980), Ngữ nghĩa ngôn ngữ học (bản dịch tiếng Việt), Viện thông tin khoa học xã hội, Hà Nội.Việc định vị bản thân trong quá trình giao tiếp thể hiện

ở cách sử dụng từ xưng hô Trước một khách thể có vị thế cao hơn mình, chủ thể giao tiếp thường dùng từ xưng hô khác với người ở vị thế thấp hơn hay ngang bằng với mình; trước một khách thể có vị thế cao hơn mình, chủ thể giao tiếp thường hướng tới sử dụng những từ xưng hô chuẩn mực, lịch sự và trang trọng Như thế trong một diễn biến giao tiếp, hình thức ngôn ngữ biểu thị vị thế của người giao tiếp là từ xưng hô

1.1.2.1 Chức năng chiếu vật của từ xưng hô

Trang 15

Chức năng chiếu vật: quy chiếu vào các nhân vật giao tiếp (người nói tự quy chiếu về mình và quy chiếu đến người tham gia giao tiếp)

Hiện nay các nhà khoa học vẫn chưa có sự thống nhất trong cách sử dụng thuật ngữ chiếu vật, có người gọi đó là quy chiếu Trong luận án này, chúng tôi thống nhất sử dụng cách gọi chiếu vật Có rất nhiều định nghĩa về chiếu vật

Theo George Yule, chiếu vật là “chỉ ra” thông qua ngôn ngữ Theo G.Green, “Thuật ngữ chiếu vật (reference) được dùng để chỉ phương tiện nhờ đó người nói phát hiện ra một biểu thức ngôn ngữ, với biểu thức ngôn ngữ này người nói nghĩ rằng nó sẽ giúp cho người nghe suy ra một cách đúng đắn thực thể nào, đặc tính nào, quan hệ nào, sự kiện nào được anh ta nói tới” [Cottrill, L

(1991) Face, Politeness and Directness University of Canberra;tr.61]

Còn theo từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học Longman, “reference dùng

để chỉ quan hệ giữa các từ và các sự vật, hành động, sự kiện, và phẩm chất mà chúng biểu hiện”

John Lyon gọi thuật ngữ “reference” là quy chiếu Nghĩa của phát ngôn phụ thuộc vào ngữ cảnh, là mối quan hệ được xác lập giữa người nói với cái mà người nói đề cập đến trong những hoàn cảnh cụ thể Nguyễn Thiện Giáp định nghĩa: “Thuật ngữ quy chiếu (refrence) được các nhà ngôn ngữ học dùng để chỉ mối quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ với các sự vật, tính chất, hành động mà chúng thay thế Quy chiếu là dấu hiệu đầu tiên thể hiện quan hệ giữa hoàn cảnh giao tiếp với diễn ngôn” và cho rằng quy chiếu là một hành động trong đó người nói hoặc người nghe, người đọc nhận diện cái gì đó [Jones, L and Alexander, R

(1996) New International Business English Cambridge UniversityPress;tr26]

Theo Dương Hữu Biên, “Sự quy chiếu là mối quan hệ giữa các phần của một ngôn ngữ với các sự vật ở bên ngoài ngôn ngữ đó” [Bernas A Mill

(2000) Complete Business letters Oxford University Press;tr30]

Qua các ý kiến trên, ta có thể rút ra khái niệm về chiếu vật như sau:

“Chiếu vật là hành vi mà người nói dùng một phương tiện nào đó để giúp người

Trang 16

nghe nhận biết một sự vật, hiện tượng mà mình định nói đến” [Searle, J (1969)

Speech acts Cambridge University Press ;tr 15]

Như vậy, chiếu vật là dấu hiệu đầu tiên thể hiện quan hệ giữa ngữ cảnh với diễn ngôn Chiếu vật giúp đưa sự vật, hiện tượng mà mình định nói tới trong thực tế khách quan ngoài diễn ngôn để phản ánh chúng, để biểu đạt chúng… Rõ ràng, trong hoạt động giao tiếp, người nghe sẽ không hiểu đúng được nội dung của phát ngôn nếu không xác định được các từ ngữ trong phát ngôn quy chiếu vào sự vật nào trong hiện thực

Muốn chiếu vật thành công chúng ta cần phải có những điều kiện sau:

Điều kiện thứ nhất là phải tồn tại sự vật, hiện tượng, hành động, tính cách,

…được quy chiếu Không có sự tồn tại của sự vật, hiện tượng, hành động, tính chất,…được quy chiếu thì không thể có hành vi chiếu vật

Điều kiện thứ hai để chiếu vật thành công là cả người nói và người nghe đều phải có niềm tin chiếu vật Khi chiếu vật, người nói phải tin rằng người nghe có khả năng nhận biết được sự vật mà anh ta định nói tới qua biểu thức chiếu vật mà anh ta dùng Chiếu vật có thành công hay không, phải phụ thuộc rất nhiều vào ngữ cảnh và khả năng sử dụng ngôn ngữ của người nói lẫn người nghe

Sự chiếu vật trong xưng hô là hướng tới người nói và người nghe Đây là

sự quy chiếu mang tính cụ thể và dễ dàng nhận biết Khi bắt đầu một tiến trình giao tiếp, chủ thể giao tiếp phải thiết lập được quan hệ với đối tượng giao tiếp

Từ xưng hô xuất hiện ngay trong phát ngôn của chủ thể, nó có giá trị lập ngôn

và lập quan hệ giao tiếp và được biểu hiện cụ thể qua từ xưng hô Sự chiếu vật trong xưng hô là thích hợp sẽ mở ra một quan hệ tương ứng hoặc ngược lại

1.1.2.3 Chức năng thể hiện quan hệ liên nhân

Trang 17

Chính từ ngữ xưng hô bộc lộ quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp (gần gũi hay cách biệt, ngang bằng vị thế hay chênh lệch, thân mật hay xa lạ,…) Quan

hệ liên nhân trong xưng hô thể hiện trên ba phương diện: quan hệ tôn ti trong gia tộc, quan hệ quyền thế hay vị thế trong xã hội và quan hệ kết liên trong xã hội

Trước đây các nhà ngôn ngữ học phương Tây thường đề cao quan hệ quyền thế (power) và quan hệ kết liên (solidarity) song gần đây người ta nhận thấy một thực tế rằng không thể xem quan hệ trong gia đình với quan hệ ngoài

xã hội trong một khung chung Karen tracy cho rằng có một số quan hệ giao tiếp của con người như vợ chồng (rộng ra là trong gia đình) cần có một sự phân định khác

Quan hệ tôn ti trong gia tộc là quan hệ ứng xử đặc trưng giữa các thành viên trong gia đình với nhau, được xác lập trên những phạm trù thân tộc như quan hệ máu mủ, lớp thế hệ, giới tính, mức độ quan hệ, trình tự quan hệ, bậc quan hệ, quan hệ phân theo đằng cha mẹ,…Quan hệ tôn ti trong gia tộc có một thiết chế có tính bền vững, ổn định chi phối trực tiếp đến quy tắc xưng hô của

các thành viên trong gia đình Ví dụ: xưng con trong mối quan hệ với cha mẹ, xưng em trong mối quan hệ với anh chị,…

Quan hệ quyền hay vị thế là quan hệ ứng xử xã hội, tạo thành các vị thế trên dưới xếp thành theo trục dọc Quan hệ này được đặc trưng bằng yếu tố quyền lực và tạo ra khoảng cách Tuy nhiên, quan hệ quyền hay vị thế chỉ có tính tương đối vì có thể người này có vị thế cao hơn người kia nhưng lại thấp hơn một người khác, hoặc là hai người có thể người này có vị thế cao hơn người kia về phương diện này nhưng lại thấp hơn về phương diện khác Quan hệ vị thế

có tính không đối xứng, lí do là vì trong hai người giao tiếp có một người vị thế cao và một người vị thế thấp hơn nên cách xưng hô cũng không đối xứng

Quan hệ kết liên được đặc trưng bởi yếu tố cận kề gần gũi theo mức độ tình cảm cho nên nó hướng tới sự đồng đẳng cận kề Trong giao tiếp xã hội, giữa quan hệ quyền thế với khoảng cách và quan hệ kết liên được thể hiện ở cách

Trang 18

dùng từ xưng hô trong sự chế định của bối cảnh giao tiếp và có sự chuyển hóa cho nhau

Trong văn bản hành chính, xưng hô chủ yếu thực hiện hai chức năng đầu, còn chức năng thứ ba hạn chế hơn Ba chức năng trên không tách bạch độc lập

mà tích hợp với nhau Việc tách ra từng chức năng là để tiện lợi cho nghiên cứu

mà thôi

1.1.3 Các nhân tố chi phối việc xưng hô trong giao tiếp

Để xưng hô, tất cả các ngôn ngữ đều có hệ thống các từ xưng hô Dưới đây là một số nhân tố chi phối việc dùng các từ xưng hô trong giao tiếp người Việt:

- Xưng hô phải thể hiện vai giao tiếp (vai nói, nghe)

- Xưng hô thể hiện quan hệ quyền uy (Ở Việt Nam, tuổi tác có áp lực mạnh so với sự khác biệt về vị thế xã hội Người già có quyền xưng hô với người có địa vị xã hội trên mình bằng các từ xưng hô thân cận, người có địa vị

xã hội cao phải xưng hô đúng mực với người già cho dù mình ở địa vị nào đi nữa Xưng hô không tôn trọng người già bị xem là thiếu văn hóa)

- Xưng hô phải thể hiện được quan hệ thân cận

- Xưng hô phải thích hợp với thoại trường

- Xưng hô phải thể hiện cho được thái độ, tình cảm của người nói đối với người nghe

Chính những nhân tố này đã góp phần quyết định trong việc lựa chọn từ xưng hô sao cho phù hợp với mục đích, chiến lược giao tiếp và thích hợp với sự chấp nhận của người nghe

Nói chung, trong tiếng Anh, một ngôn ngữ có hệ thống đại từ nhân xưng đơn giản, việc lựa chọn từ xưng hô không bị chi phối bởi các nhân tố như trong tiếng Việt Nếu so sánh với tiếng Anh, tiếng Pháp phức tạp hơn, chẳng hạn sự lựa chọn đại từ xưng hô ngôi thứ hai Tu/Vous phải phù hợp với quan hệ liên cá nhân giữa người nói và người nghe

Trang 19

Phạm trù xưng hô bao gồm những phương tiện quy chiếu nhờ đó người nói tự quy chiếu, tức tự đưa mình vào diễn ngôn (tự xưng) và đưa người giao tiếp với mình (đối xưng) vào diễn ngôn.

Quan hệ vai giao tiếp là cốt lõi của việc xưng hô Và nếu hệ thống xưng

hô chỉ quy chiếu vai giao tiếp thì rất đơn giản và tiện dụng Tuy nhiên, trong giao tiếp còn có quan hệ liên nhân, trong ngữ cảnh còn có ngữ vực (register) và còn có sự chi phối của phép lịch sự Ngoài cái cốt lõi vai, các từ xưng hô còn đồng thời thể hiện vị thế xã hội, thể hiện các mức thân cận khác nhau, đảm bảo

sự lịch sự của người nói đối với những người cùng giao tiếp và phải phù hợp với ngữ vực của cuộc giao tiếp Bằng cách lựa chọn từ để tự xưng và để “hô” người giao tiếp, người nói định một khung quan hệ liên nhân cho mình và cho người đối thoại với mình Như vậy, từ xưng hô không chỉ là công cụ để người nói thực hiện việc đưa mình và người đối thoại với mình vào diễn ngôn mà còn là công

cụ để người nói tự mình bó buộc mình và bó buộc người đối thoại trong khuôn khổ một kiểu quan hệ liên cá nhân nào đó

Để hoạt động giao tiếp diễn ra thì phải có những nhân tố nhất định, cụ thể

là nhân tố ngôn ngữ như kí hiệu, thông điệp và nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ như người phát, người nhận, thời gian, không gian, Những nhân tố này tác động trực tiếp đến việc sử dụng từ xưng hô Sau đây chúng tôi sẽ đi vào phân tích từng nhân tố chi phối đến sự xưng hô trong giao tiếp

Thứ nhất là hoàn cảnh giao tiếp, hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ bối cảnh

tự nhiên, xã hội của một cộng đồng; theo nghĩa hẹp là nơi chốn, không gian thời gian, của cuộc giao tiếp Có hai loại hoàn cảnh giao tiếp: theo tính nghi thức và phi nghi thức “Hoàn cảnh giao tiếp có tính nghi thức được tiết chế bởi những nghi lễ, phép tắc do tập thể, cộng đồng hay xã hội đặt ra Những nghi lễ, phép tắc ấy điều tiết lời nói của người tham gia giao tiếp phải được chọn lọc, gọt giũa, khuôn theo đúng chuẩn mực Chẳng hạn như giao tiếp trong hội họp, bất kì một cuộc họp nào dù ở phạm vi rộng hay hẹp, ngoài xã hội hay trong gia đình đều

Trang 20

phải tuân theo những lễ nghi, phép tắc nhất định Hoàn cảnh giao tiếp không có tính nghi thức không bị phụ thuộc vào những nghi lễ, khuôn phép và nói chung người tham gia giao tiếp có thể thoải mái, tự do dùng lời theo ý nghĩ, tình cảm, thói quen, sở thích cá nhân Chẳng hạn như giao tiếp trong cuộc sống sinh hoạt đời thường, chuyện trò giữa những người trong gia đình, hàng xóm, bạn bè”

[Vũ Thị Sao Chi, đề tài NCKH cấp Bộ, Nghiên cứu khảo sát ngôn ngữ hành chính Việt Nam phục vụ cho việc xây dựng luật ngôn ngữ ở Việt Nam, tr 17]

Thứ hai là nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào cuộc giao tiếp, gồm người phát ngôn và người tiếp nhận phát ngôn Các đặc điểm của người tham gia giao tiếp như giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, đặc điểm tâm lí, tín ngưỡng, sẽ chi phối đến ngôn ngữ mà họ sử dụng, cách xưng hô mà họ dùng,

Thứ ba là đề tài và mục đích giao tiếp, đây là vấn đề được đề cập đến trong cuộc nói chuyện, nó sẽ thuộc về một lĩnh vực nào đó của cuộc sống và mục đích của cuộc giao tiếp ví dụ như trao đổi thông tin, tăng cường mối quan

hệ, đấu tranh, “Chẳng hạn, bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực khoa học thì ngôn ngữ sử dụng phải mang tính khách quan, logic thiên về lí trí; khác với khi bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, ngôn ngữ sử dụng phải giàu hình ảnh, truyền cảm và mang tính thẩm mĩ” [Vũ Thị Sao Chi, đề tài

NCKH cấp Bộ, Nghiên cứu khảo sát ngôn ngữ hành chính Việt Nam phục vụ cho việc xây dựng luật ngôn ngữ ở Việt Nam, tr 18.]

Thứ tư là cách thức giao tiếp là giao tiếp trực tiếp hay giao tiếp gián tiếp liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ nói hay ngôn ngữ viết và cách thức lựa chọn từ xưng hô cho phù hợp

1.1.4 Các phương tiện xưng hô trong giao tiếp

Các từ xưng hô trong tiếng Việt gồm 2 nhóm cơ bản:

- Đại từ nhân xưng chính danh

- Đại từ nhân xưng lâm thời

Trang 21

Ở cả hai hệ thống này, các đại từ nhân xưng khi được sử dụng trong những hoàn cảnh nhất định đều có thể bộc lộ thái độ, tình cảm của người nói đối với người nghe hoặc đối tượng được nói tới Các sắc thái tình cảm đó được chia làm 3 mức độ: kính trọng, đề cao - trung tính - khinh miệt, hạ thấp.

Mức độ 1: Kính trọng, đề cao: thưa ông, thưa ngài, lạy cụ, bẩm cụ,… Mức độ 2: Trung tính: tôi, chúng tôi, bạn, đồng chí…

Mức độ 3: Khinh miệt, hạ thấp: hắn, mày, thằng mất dạy, con mụ,…

Các từ xưng hô cũng có thể thể hiện vai giao tiếp và các loại quan hệ:+ Quan hệ đẳng cấp (trên / dưới, chủ / tớ, vua / tôi,…)

+ Quan hệ gia tộc (cha/ con, chú/ cháu,…)

+ Quan hệ tuổi tác (già/ trẻ)

Trong môi trường sử dụng nhất định, các từ xưng hô cũng có thể được chia thành hai loại:

- Xưng hô theo quy thức: trong những không gian như trên lớp học (cô, thầy/ em, con); ở tòa án (quý tòa/ bị cáo), trong cuộc họp (thưa giám đốc, thưa bà, ) , thường theo quy định bắt buộc, mang tính khách quan.

- Xưng hô không theo quy thức: dùng trong giao tiếp đời thường (nhóm này vô cùng phong phú, nhìn chung, chúng mang đậm màu sắc cá nhân, không mang tính chất trang trọng)

Nếu từ xưng hô được sử dụng đúng theo quan hệ gia tộc hay tuổi tác

(người lớn tuổi hơn hoặc người ở vai vế cao hơn sẽ được gọi là anh, chú, bác, ông ), hoặc đúng theo môi trường, không gian của cuộc giao tiếp, thì chúng sẽ

không tạo ra nghĩa tình thái

Thực tế, sự xưng hô thường theo khuôn mẫu nhất định, các khuôn mẫu xưng hô được hiện thực hóa dưới hai dạng là dạng hiển ngôn và dạng hàm ngôn Dạng hiển ngôn có các yếu tố xưng hô bằng lời và dạng hàm ngôn có các yếu tố xưng hô phi lời Biến thể ở dạng xưng hô hiển ngôn là xưng hô theo khuôn mẫu thông thường và xưng hô theo khuôn mẫu đặc biệt; biến thể của dạng xưng hô

Trang 22

hàm ngôn là xưng hô hàm ngôn chủ quan và xưng hô hàm ngôn khách quan Có một số khuôn mẫu xưng hô cụ thể thường gặp trong giao tiếp như sau: [Lê

Thanh Kim (2001), luận án tiến sĩ Ngữ văn, Từ xưng hô và cách xưng hô trong các phương ngữ tiếng Việt từ góc nhìn của lý thuyết xã hội ngôn ngữ học, tr 44]

1 Xưng hô bằng họ và tên, gồm:

- (1) Xưng hô bằng tên;

- (2) Xưng hô bằng họ;

- (3) Xưng hô bằng họ + tên;

- (4) Xưng hô bằng tên đệm + tên;

- (5) Xưng hô bằng họ + tên đệm + tên

2 Xưng hô bằng tất cả các từ dùng để xưng hô, gồm:

- (6) Các đại từ nhân xưng;

- (7) Các từ thân tộc dùng làm từ xưng hô;

- (8) Các từ khác được dùng làm từ xưng hô

3 Xưng hô bằng các chức danh, gồm:

- (9) Gọi bằng một trong các chức danh;

- (10) Gọi bằng nhiều hoặc tất cả các chức danh

4 Xưng hô bằng tên của người thân thuộc như tên của chồng, vợ, con (cách gọi thay vai):

- (11) Gọi bằng tên của người thân thuộc (chồng, vợ, con)

5 Xưng hô bằng sự kết hợp (1) (2) (3) (4), gồm:

– (12) gọi bằng các kết hợp khác nhau (ví dụ: chức danh + tên, chức danh + họ tên, từ xưng hô + họ tên/tên)

6 Xưng hô bằng sự khuyết vắng từ xưng hô, gồm:

- (13) Không xuất hiện các từ xưng hô trong giao tiếp (khuyết vắng từ xưng hô)

Đối chiếu trong tiếng Việt có thể thấy những khuôn mẫu này đều được sử dụng nhưng mức độ rất khác nhau Trong đó cách xưng hô (9), (12) thường

Trang 23

dùng trong giao tiếp hành chính, (10) được dùng trong giao tiếp hành chính đặc biệt trọng thể Lí do là bởi vì văn bản hành chính thường mang tính quy phạm, ngôn từ sử dụng cũng phải trong sáng, trang trọng Trong giao tiếp, nhiều hành

vi ngôn ngữ được hiện thực hóa thành khuôn mẫu Xưng hô là một hành vi ngôn ngữ được hiện thực hóa thành những khuôn mẫu giao tiếp xưng hô

1.1.5 Lịch sự trong xưng hô

Trong công trình logic và hội thoại (Logic and conversation) của mình,

Grice (1972) đã cho rằng: nguyên tắc lịch sự (politeness) là một nguyên tắc quan trọng, điều khiển hoạt động giao tiếp, bên cạnh nguyên lí cộng tác trong hội thoại (co-operation)

Nguyên tắc lịch sự là một nhân tố quan trọng tác động tới hoạt động và

cả cấu trúc ngôn ngữ Vì nguyên tắc lịch sự có ảnh hưởng rất mạnh tới hiện thực phát ngôn trong giao tiếp cho nên nó được nhiều nhà dụng học quan tâm nghiên cứu ở các góc độ khác nhau

B Fraser (1990) nhìn nhận phép lịch sự dưới góc độ của sự hợp tác hội

thoại, xem lịch sự như là một nhân tố quan trọng quy định việc lựa chọn các yếu

tố ngôn ngữ dùng trong giao tiếp Để có thể giữ thể diện, tránh làm phương hại đến thể diện của người khác, các bên tham gia giao tiếp cần dùng các công cụ

ngôn ngữ thích hợp, các biện pháp tu từ cần thiết, chẳng hạn như biết rào đón

(hedge), nói vòng để làm giảm mức độ gay gắt, biết dùng những tiểu từ tình thái (modal particles) làm nhẹ bớt những từ không lịch sự, tránh đưa cái tôi của mình lên cao, tránh tự đề cao mình Đó là “phương sách làm dịu” mức độ phương hại thể diện theo cách gọi của Fraser (1980) Cụ thể là:

- Dùng hệ thống đại từ, các từ xưng hô thích hợp tránh nói trống không.

- Dùng các từ tình thái để giảm nhẹ mức độ áp đặt.

- Dùng hành động ngôn từ gián tiếp thay cho hành động ngôn từ trực tiếp Chẳng hạn, dùng lối hỏi thay cho lối cầu khiến thẳng thừng, thay vì nói

Trang 24

“Tôi nhờ anh việc này”, nên nói: “Tôi có thể nhờ anh việc này được không” hay “tôi nhờ anh một việc nho nhỏ nhé”.

- Dùng phương pháp nói bóng gió, xa xôi.

Dưới góc độ ngôn ngữ học xã hội, R.Lakoff cho rằng lịch sự là “giảm

thiểu xung đột trong giao tiếp…có hai nguyên lí tổ chức ngôn ngữ: nguyên lí diễn đạt rõ ràng và nguyên lí lịch sự” [dẫn theo Nguyễn Văn Khang (2012), Ngôn ngữ học xã hội, Nxb giáo dục, tr 405] Vì vậy, cần thực hiện những quy

tắc sau: không áp đặt (trong lễ nghi, ngoại giao); để ngỏ sự lựa chọn (trong giao tiếp thông thường); làm cho người đối thoại cảm thấy thoải mái (trong trò

chuyện thân mật)

Theo G.Leech [dẫn theo Nguyễn Văn Khang (2012), Ngôn ngữ học xã

hội, Nxb giáo dục, tr 408], phép lịch sự dựa trên khái niệm “tổn thất” và “lợi

ích” cho nên mục tiêu của nó, như một nguyên tắc, là tối thiểu hóa những lối nói bất lịch sự (lịch sự tiêu cực), và tối đa hóa những lối nói lịch sự (lịch sự tích

cực) Từ đó tác giả đề ra những phương châm giao tiếp trong giao tiếp lịch sự:

khéo léo, hào hiệp, tán đồng, khiêm tốn, thiện cảm Chẳng hạn, hãy giảm đi

những lời chê bai người khác và tăng lên những lời khen ngợi người đối thoại (phương châm tán đồng), vì có vậy mới giữ được hòa khí Hãy giảm đi lợi ích của mình và sẵn sàng tăng thêm phần tổn thất cho mình (phương châm hào hiệp), có vậy mới giữ được tình thân thiện v.v…

P Brown và S.C Levinson coi lịch sự là phương tiện cứu vãn thể diện cho người nghe, Leech quan niệm lịch sự là sự bù đắp những hao tổn, thiệt thòi

do hành vi của người nói gây ra cho người đối thoại [Dẫn theo Vũ Thị Thanh

Hương, Chiến lược lịch sự thay đổi mức lợi – thiệt trong lời cầu khiến tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 10/2000, tr 39]

Điểm chung của những quan niệm trên về lịch sự là coi lịch sự chính là những chiến lược sử dụng ngôn ngữ để tránh né sự đụng độ và bất hòa trong giao tiếp Từ những quan niệm về lịch sự như thế, rõ ràng vấn đề xưng hô có

Trang 25

quan hệ mật thiết với tính lịch sự Nhất là trong xã hội Việt Nam bắt nguồn từ quan niệm nho giáo với những chế định về lễ nghĩa rất chặt chẽ “Lịch sự bao gồm hai phương diện kính và khiêm Trên thực tế, hai phương diện này luôn hỗ trợ cho nhau Người biết kính trọng người khác thì tất phải biết tự hạ mình Người biết tự hạ mình tức là biết tôn trọng người khác.[Phạm Ngọc Hàm (2004),

Đặc điểm và cách sử dụng của lớp từ xưng hô tiếng Hán trong sự so sánh với tiếng Việt, Luận án tiến sĩ, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội, tr 36] Ngôn ngữ lời nói

và ngôn ngữ phi lời nói (dáng vẻ, cử chỉ) là những phương diện của lịch sự Trong lời nói, sự xưng hô có vai trò quan trọng vì nó phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội Ví dụ người Việt Nam hay nhấn mạnh đến sự lễ phép trong giao tiếp, lễ phép là cách nói nhã nhặn, kính trọng của người dưới đối với người trên “Trong quan hệ giao tiếp, các đối tượng tham gia đối thoại thuộc những nhóm xã hội riêng biệt, vì thế đặc điểm ngôn ngữ của nhóm này có thể khác với các nhóm xã hội khác Tuy nhiên, từ những góc độ khác, mỗi người lại thuộc về một số nhóm xã hội khác nhau Trong một quá trình giao tiếp cụ thể, hai bên đối thoại có thể sắm vai thành viên của một hoặc một vài nhóm xã hội nào đó Do vậy, quan hệ giữa hai bên giao tiếp không đơn giản là quan hệ giữa nhóm xã hội thuộc về người phát ngôn và người nhận phát ngôn Có khi nó tổng hòa của những nhóm xã hội mà người tham giao tiếp là đại diện.” [Lã Thị Thanh Mai

(2014), Đặc điểm xưng hô của người Hàn và người Việt, luận án tiến sĩ Ngữ

văn, tr 23]

Lịch sự là một phạm trù liên quan chặt chẽ tới văn hóa dân tộc và văn hóa

cá nhân Bởi vì lịch sự được thể hiện qua mỗi cá nhân trong giao tiếp, trong lối sống Chiến lược lịch sự là cách mà mỗi cá nhân ý thức trên phông nền văn hóa của mình và thể hiện chúng Do đó một hành vi được coi là lịch sự ở nơi này nhưng lại là bất lịch sự ở nơi khác Ví dụ: lời chào ở Việt Nam khi hai người gặp

nhau có thể là Bác đã ăn cơm chưa được coi là thân tình, quan tâm thì ở phương

Trang 26

Tây, lời chào như thế lại bị coi là mất lịch sự, tọc mạch vào khía cạnh riêng tư,

2.2 Khái quát về văn bản hành chính

2.2.1 Khái niệm văn bản hành chính

VBHC được sử dụng phổ biến trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong xã hội Có nhiều quan niệm khác nhau về văn bản hành chính Phần lớn các tác giả đều thống nhất về lĩnh vực sử dụng của VBHC là dùng trong hoạt động tổ chức, quản lí và điều hành xã hội nhưng nhìn từ phương diện chủ thể ban hành văn bản thì có sự khác nhau giữa các quan niệm

Thứ nhất là quan điểm cho rằng chủ thể ban hành VBHC là các cơ quan của Đảng, Nhà nước và các tổ chức, cơ quan khác Tiêu biểu cho quan điểm này

là tác giả Vương Đình Quyền: “VBHC là công cụ được dùng để truyền đạt chủ trương, chính sách luật pháp và các thông tin cần thiết khác của Đảng, Nhà nước

và các cơ quan, tổ chức khác ”[Vương Đình Quyền, Lí luận và phương pháp công tác văn thư, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007, tr 207]

Không nêu trực tiếp chủ thể ban hành VBHC là các cơ quan của Đảng, Nhà nước và các tổ chức, cơ quan khác như tác giả Vương Đình Quyền nhưng các tác giả Định Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa quan niệm VBHC được “tạo ra bởi

“khuôn” phong cách hành chính công vụ trong đó thể hiện vai của người tham gia vào giao tiếp trong lĩnh vực hành chính – công vụ tức những người tham gia vào guồng máy tổ chức, quản lí, điều hành tất cả các mặt của đời sống xã hội”

[Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn Thái Hòa (1998), Phong cách học tiếng Việt, tái bản lần thứ 3, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 66-67].

Trang 27

Thứ hai là quan điểm cho rằng: chủ thể ban hành VBHC là các cơ quan Nhà nước, các tổ chức đoàn thể xã hội, nhân dân Các tác giả Bùi Minh Toán,

Lê A, Đỗ Việt Hùng định nghĩa VBHC là “loại văn bản dùng trong các hoạt động tổ chức, quản lí, điều hành xã hội và thực hiện sự giao tiếp giữa các cơ quan Nhà nước với nhân dân và ngược lại; giữa các cơ quan Nhà nước với nhau; giữa các tổ chức đoàn thể xã hội với nhau và với quần chúng” [Bùi Minh Toán,

Lê A, Đỗ Việt Hùng (2009), Tiếng Việt thực hành, tái bản lần thứ 12, Nxb Giáo dục, tr 31]

Thứ ba là quan điểm cho rằng chủ thể VBHC là các cơ quan hành pháp (các cơ quan hành chính nhà nước) Tiêu biểu cho quan niệm này là tác giả Đoàn Trọng Truyến khi định nghĩa: “VBHC là hình thức thể hiện của quyết định hành chính nhằm cụ thể hoá Hiến pháp, luật, pháp lệnh và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc áp dụng pháp luật cho các chủ thể xác định trong các trường hợp nhất định Nói cách khác, VBHC là các quyết định hành chính được ban hành thành văn theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, mang tính

quyền lực nhà nước” [Đoàn Trọng Truyến (1997), Hành chính học đại cương, Nxb Chính Trị quốc gia, tr 216].

Tổng hợp các quan niệm về VBHC, tác giả Vũ Thị Sao Chi cho rằng

“VBHC là loại văn bản được sử dụng trong hoạt động quản lí, tổ chức và điều hành xã hội để truyền đạt thông tin quản lí như các quy định, quyết định, mệnh lệnh, ý kiến trao đổi, giao dịch, cam kết, thỏa thuận về công việc ; thực hiện sự giao tiếp giữa các cơ quan tổ chức, công dân với đối tác có liên quan trên cơ sở pháp lí” [Vũ Thị Sao Chi, đề tài NCKH cấp Bộ, Nghiên cứu khảo sát ngôn ngữ hành chính Việt Nam phục vụ cho việc xây dựng luật ngôn ngữ ở Việt Nam, tr 27]

Từ những quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy VBHC được hiểu theo nghĩa

rộng, là loại văn bản dùng trong các hoạt động tổ chức, quản lí và điều hành xã hội; thực hiện sự giao tiếp giữa các cơ quan của Nhà nước, các tổ chức chính

Trang 28

trị, xã hội, kinh tế và các tổ chức, cơ quan khác với nhau, với công dân và

ngược lại, giữa các công dân với nhau trên cơ sở pháp lí Hiểu theo nghĩa rộng

này, VBHC bao gồm: Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản cá biệt và VBHC

thông thường Chủ thể ban hành VBHC là các cơ quan Nhà nước, các tổ chức

chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, các tổ chức cơ quan khác và cả công dân

2.2.2 Chức năng của văn bản hành chính tiếng Việt

Văn bản hành chính gắn liền với hoạt động của Nhà nước, đó vừa là phương tiện vừa là sản phẩm của quá trình quản lí Chính vì vậy, chức năng của văn bản hành chính về cơ bản là chức năng thông tin, chức năng quản lí, chức năng pháp lí

2.2.2.1 Chức năng thông tin

Thông tin là chức năng có tính tiêu biểu trong hoạt động giao tiếp bằng lời

và bằng văn bản Vì thế một trong những chức năng được nhắc đến đầu tiên là chức năng thông tin Thông qua những văn bản hành chính mà các cơ quan, ban ngành, cá nhân có thể nắm bắt những thông tin cần thiết và thực hiện

Theo Vũ Thị Sao Chi, các thông tin trong văn bản hành chính thường là:

- Thông tin về chủ trương của Đảng và Nhà nước liên quan đến mục tiêu

và phương hướng hoạt động lâu dài của cơ quan;

- Thông tin về nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động cụ thể của từng cơ quan, tổ chức;

- Thông tin về phương thức hoạt động, quan hệ công tác giữa các đơn vị hay cơ quan với nhau;

- Thông tin về tình hình đối tượng bị quản lí, về sự biến động của cơ quan, về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan, tổ chức;

- Thông tin về các kết quả đạt được trong quản lí [Vũ Thị Sao Chi, đề tài

NCKH cấp Bộ, Nghiên cứu khảo sát ngôn ngữ hành chính Việt Nam phục vụ cho việc xây dựng luật ngôn ngữ ở Việt Nam, tr 30]

Trang 29

Vương Đình Quyền cũng cho rằng “các cơ quan đã sử dụng văn bản để ghi chép và truyền đạt các loại thông tin sau đây:

- Thông tin về quy phạm pháp luật, nhằm điều tiết các mối quan hệ xã hội;

- Thông tin về tổ chức, nhân sự, chủ trương, chính sách, chương trình, kế hoạch, biện pháp công tác;

- Thông tin phản ánh tình hình lên cấp trên;

- Thông tin mang tính chất thông báo, đề nghị, kiến nghị;

- Thông tin trao đổi công việc giữa các cơ quan với nhau, giữa các cơ quan với cán bộ, viên chức hoặc với quần chúng nhân dân ” [Vương Đình

Quyền, (2007), Lí luận và phương pháp công tác văn thư, Nxb Chính trị Quốc

gia, tr 54-55]

Văn bản hành chính là phương tiện để lưu trữ, trao đổi, truyền đạt thông tin thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội Chức năng này không chỉ có ý nghĩa xã hội mà còn mang tính chính trị cao bởi vì các văn bản hành chính về cơ bản là triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng

2.2.2.2 Chức năng quản lí

Chức năng này đã được nhiều học giả thừa nhận, có thể kể đến Bhatia [V.K.Bhatia, (1987), the language of the law, Language teaching], Y Maley [Y.Maley, (1994), the language of the law, Language and the law, Longman, London], J.Holmes [J.Holmes & M.Stubbe (2003), Power and Politeness in the workplace, Longman, London], Vương Đình Quyền [Vương Đình Quyền,

(2007), Lí luận và phương pháp công tác văn thư, Nxb Chính trị Quốc

gia,] Chức năng quản lí có tính chuyên biệt trong văn bản hành chính và được biểu hiện ở hai khía cạnh như sau:

Thứ nhất, văn bản hành chính là phương tiện truyền đạt của các quyết định quản lí Ví dụ: quyết định ban hành việc thực hiện phòng cháy chữa cháy, quyết định triển khai việc bảo tồn khu di tích lịch sử, “Việc truyền đạt các

Trang 30

quyết định quản lí là chức năng quan trọng của văn bản hành chính Nếu văn bản được xây dựng, ban hành và chu chuyển một cách khoa học thì nó có khả năng truyền đạt các quyết định quản lí một cách nhanh chóng, chính xác và có độ tin

cậy cao” [Vũ Thị Sao Chi, đề tài NCKH cấp Bộ, Nghiên cứu khảo sát ngôn ngữ hành chính Việt Nam phục vụ cho việc xây dựng luật ngôn ngữ ở Việt Nam, tr

31]

Thứ hai, văn bản hành chính là phương tiện tổ chức, điều hành công vụ Chức năng này thể hiện trong nhiều mặt của đời sống xã hội Đó là việc chỉ đạo hướng dẫn triển khai hoạt động đến việc đề đạt ý kiến, điều động nhân sự, bổ nhiệm chức vụ, Tất cả những nội dung này đều được thực hiện qua văn bản và

là kim chỉ nam để thực hiện đúng chủ trương chính sách của Đảng

2.2.2.3 Chức năng pháp lí

Nhìn chung, văn bản quản lí nhà nước là phương tiện biểu hiện, lưu trữ và truyền đạt các quy phạm nhà nước Còn văn bản hành chính thông thường (có thể do cá nhân soạn thảo ) cần dựa trên cơ sở pháp lí mới có hiệu lực Chức năng pháp lí cũng là chức năng chuyên biệt của văn bản hành chính Văn bản hành chính là phương tiện để tuyên truyền và thực hiện các quy phạm pháp luật và là

cơ sở để đưa ra các quyết định hay triển khai các công việc theo chức năng, quyền hạn đã định Mọi công tác quản lí phải dựa trên cơ sở pháp luật đã thành văn Ví dụ như: những quyết định, chỉ thị đều có căn cứ pháp lí nhất định, ngay

cả những hợp đồng mua bán, chuyển nhượng cũng đều dựa trên những cơ sở pháp luật, chịu sự chi phối và ràng buộc bởi pháp luật

2.2.3 Đặc điểm của văn bản hành chính tiếng Việt

Gắn liền với chức năng của văn bản hành chính là những đặc điểm riêng trong diễn đạt và giao tiếp Bởi vì đây là loại văn bản vừa có thông tin nhưng lại chịu sự chế định chặt chẽ của pháp luật Những đặc điểm của văn bản hành chính là tính minh xác về nhân tố giao tiếp, tính khuôn mẫu trong tổ chức văn bản, tính quy thức trong giao tiếp, tính quan phương, tính hiệu lực

Trang 31

2.2.3.1 Tính minh xác

Tính minh xác về các nhân tố giao tiếp như nhân vật giao tiếp, thời gian, địa điểm, tình huống, nội dung, mục đích giao tiếp Trong văn bản hành chính, những yếu tố giao tiếp luôn cụ thể, tường minh Ví dụ: tên họ của chủ thể văn bản, đối tượng tiếp nhận văn bản, thời gian, địa điểm hình thành văn bản, Đây

là một đặc điểm mang tính khu biệt của văn bản hành chính

2.2.3.2.Tính khuôn mẫu

Do văn bản hành chính có tính pháp lí nên nó thường được định hình theo một chuẩn nhất định và có một hình thức trình bày ổn định Phạm Tất Thắng nhận xét “Các văn bản hành chính thường sử dụng đến các khuôn ngôn ngữ, gọi

là khuôn ngôn ngữ hành chính Đó là những phương tiện ngôn ngữ được dựng sẵn và sử dụng nguyên khối để tham gia vào việc tạo lập văn bản Như vậy, về mặt hình thức, các khuôn ngôn ngữ hành chính có cấu trúc chặt chẽ như là những đơn vị có sẵn Tùy thuộc vào những nội dung thông báo khác nhau của văn bản hành chính mà người ta lựa chọn những khuôn ngôn ngữ này hay khác

để xây dựng văn bản” [Nguyễn Văn Khang (chủ biên) (2002), Tiếng Việt trong giao tiếp hành chính, NXB văn hóa thông tin, tr 17) Tính khuôn mẫu trong văn

bản hành chính thể hiện ở tính thống nhất kỉ cương của loại văn bản pháp lí, thể hiện tính chân thực và hiệu lực pháp lí của văn bản hành chính và giúp cho việc soạn thảo được nhanh chóng, dễ dàng, tránh thiếu sót Tính khuôn mẫu thường thể hiện ở mặt hình thức của văn bản hành chính Ví dụ: thể hiện nghi thức giao

tiếp có các khuôn mẫu như : xin trân trọng cảm ơn; để thể hiện đối tượng tiếp nhận văn bản có các khuôn như: kính gửi, đồng kính gửi,

2.2.3.3 Tính quy thức

Do đặc thù của riêng mình, văn bản hành chính cũng có các chức năng giao tiếp nhất định nhưng là loại giao tiếp phải tuân theo hiến pháp và pháp luật nên không mang dấu ấn cá nhân hay màu sắc chủ quan Biểu hiện cụ thể của tính quy thức nằm ở chỗ ngôn ngữ hành chính là tiếng nói của quyền lực Nhà

Trang 32

nước, của cơ quan, đơn vị, tổ chức, tập thể mà không phải là tiếng nói chủ quan của cá nhân Ngôn ngữ trong văn bản hành chính cũng mang màu sắc trung tính không có sắc thái biểu cảm Đặc điểm này cho thấy văn bản hành chính thường

có tính quy thức cao và hoàn toàn mang tính khách quan

2.2.3.4 Tính quan phương

Văn bản hành chính thường dùng trong giao tiếp nơi cơ quan, tổ chức chính trị xã hội cho nên nó có tính lịch sự cao Đặc tính này của văn bản hành chính được thể hiện ở việc ngôn ngữ trong văn bản hành chính thường là ngôn

từ được gọt giũa, không có từ khẩu ngữ hay cách nói thông tục; ngôn từ trong văn bản hành chính cũng tuân theo các nghi thức hành chính Sự xưng hô phải

đúng thứ bậc hành chính và phải dùng những kính ngữ Ví dụ: quý cơ quan, kính đề nghị, kính đơn,

2.2.3.5 Tính hiệu lực

Tính hiệu lực thể hiện ở chỗ văn bản hành chính nhằm cung cấp một cơ

sở pháp lí hay hướng dẫn thực hiện một vấn đề, hoặc đơn từ, đề nghị, cho nên văn bản hành chính có tính áp đặt cho một cá nhân, tập thể thực hiện một chủ trương chính sách nào đó Có khi là cấp trên xem xét một nguyện vọng cho cấp dưới

2.2.4 Phân loại văn bản hành chính tiếng Việt

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều tiêu chí để phân loại văn bản hành chính như: phân loại theo chủ thể ban hành văn bản, phân loại theo hướng chu chuyển của văn bản, phân loại theo nội dung, theo hiệu lực pháp lí, theo mục đích ban hành của văn bản, theo thời gian ban hành văn bản, theo địa danh ban hành văn bản, theo tên loại văn bản,…Để có một cái nhìn khái quát về văn bản hành chính, chúng tôi lựa chọn phân loại văn bản hành chính theo hai tiêu chí là chủ thể ban hành văn bản và hiệu lực pháp lí, tính chất nội dung và tên loại Đây

cũng là cách mà Vũ Thị Sao Chi [Vũ Thị Sao Chi, đề tài NCKH cấp Bộ, Nghiên cứu khảo sát ngôn ngữ hành chính Việt Nam phục vụ cho việc xây dựng luật

Trang 33

ngôn ngữ ở Việt Nam, tr 27-29] đã đề cập đến Cách phân loại này không chỉ

cho thấy được về lĩnh vực hoạt động của văn bản, phạm vi áp dụng của văn bản, hiệu lực của văn bản mà còn cho thấy được tầm quan trọng của văn bản đối với đời sống xã hội

2.2.4.1 Phân loại theo chủ thể ban hành văn bản

Theo chủ thể ban hành văn bản, VBHC bao gồm:

-Văn bản của Đảng;

- Văn bản của các cơ quan Nhà nước;

- Văn bản của các đoàn thể, hiệp hội, tổ chức trong xã hội

2.2.4.2 Phân loại theo hiệu lực pháp lí, tính chất nội dung và tên loại văn bản

Theo hiệu lực pháp lí, tính chất nội dung và tên loại, VBHC gồm có:

a Văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật là “văn bản do cơ quan Nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội” (Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 03 tháng 6 năm 2008) Văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:

(1) Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội;

(2) Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;

(3) Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

(4) Nghị định của Chính phủ;

(5) Quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

(6) Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao;

(7) Thông tư của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;

(8) Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ;

Trang 34

(9) Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước;

(10) Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban Thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị – xã hội;

(11) Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ;

(12) Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân

b Văn bản cá biệt

Văn bản cá biệt là văn bản do chủ thể có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, hình thức pháp luật quy định nhằm cụ thể hoá quy phạm pháp luật thành những mệnh lệnh pháp luật áp dụng cho từng trường hợp cụ thể Văn bản cá biệt bao gồm: Chỉ thị (cá biệt), quyết định (cá biệt), nghị quyết (cá biệt)

c Văn bản hành chính thông thường

VBHC thông thường là văn bản không mang tính quy phạm pháp luật, được dùng để hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp luật; phản ánh, thông báo tình hình, trao đổi công việc và xử lí các vấn đề khác trong hoạt động quản lí VBHC thông thường bao gồm: công văn, thông cáo, thông báo, chương trình, kế hoạch công tác, đề án, phương án, báo cáo, tờ trình, biên bản, công điện, giấy chứng nhận, giấy ủy nhiệm, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, giấy đi đường, giấy mời, phiếu gửi, đề nghị, hợp đồng,

Tiểu kết chương 1

Chương 1 của luận án đã trình bày những cơ sở lí luận để làm kim chỉ nam cho việc triển khai luận án Những cơ sở đó là lí thuyết về xưng hô, chức năng của xưng hô, những nhân tố chi phối đến sự xưng hô và hoạt động giao tiếp, khái niệm, đặc điểm, chức năng, sự phân loại của văn bản hành chính

Trang 35

Trong giao tiếp, xưng hô là một phần không thể thiếu, sự xưng hô thể hiện văn hóa cá nhân Xưng hô còn thể hiện vai giao tiếp Vai giao tiếp là vai người phát (nói, viết ) hay vai người nhận (nghe, đọc ) Vị thế xã hội là địa vị xã hội của cá nhân được xác lập trong quan hệ với các thành viên khác trong một nhóm, một cộng đồng và một xã hội Trong giao tiếp ngôn ngữ nói chung và giao tiếp bằng văn bản hành chính nói riêng, chính vai giao tiếp và vị thế xã hội của các nhân vật chi phối việc dùng từ ngữ xưng hô và cách xưng hô Giao tiếp bằng văn bản hành chính không có sự đổi vai.

Xưng hô cũng thể hiện tính quy thức và phi quy thức của giao tiếp ngôn ngữ Tính quy thức (formal) và phi quy thức (informal) của ngữ cảnh giao tiếp Tính quy thức và phi quy thức của ngữ cảnh giao tiếp có mối quan hệ rất chặt chẽ với việc dùng từ xưng hô và với vị thế xã hội, quyền uy của các nhân vật giao tiếp Giao tiếp bằng văn bản hành chính là giao tiếp mang tính quy thức, tính quy thức này chi phối chặt chẽ việc dùng từ ngữ xưng hô: yêu cầu phù hợp với vị thế xã hội, với thể loại văn bản Các danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp được sử dụng làm từ xưng hô thường có tính quy thức cao Các đại từ xưng hô

thực thụ của tiếng Việt (trừ từ tôi) và các danh từ thân tộc phần lớn có tính quy

thức thấp

Chương 1 của luận án cũng chỉ ra c¸c ph¬ng tiÖn xng h« trong giao tiÕp là: đại từ xưng hô, danh từ chỉ người, tên riêng, từ chỉ chức nghiệp của người, từ ngữ chỉ tên cơ quan và tổ chức Hai loại phương tiện cuối có tần số sử dụng cao

và mang đặc trưng của giao tiếp bằng văn bản hành chính

Phần cơ sở lí luận cũng nêu rõ văn bản hành chính là văn bản thực hiện sự giao tiếp giữa các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa với nhau và với công dân hoặc ngược lại, hay giao tiếp giữa các công dân với nhau trên cơ sở pháp lí Văn bản hành chính có ba chức năng là chức năng thông tin, chức năng pháp lí và chức năng quản lí

Trang 36

Văn bản hành chính có đặc điểm là: tính minh xác về các nhân tố giao tiếp, tính khuôn mẫu trong tổ chức văn bản, tính quy thức trong giao tiếp, tính quan phương và tính hiệu lực

Như vậy, với những cơ sở lí luận này, chương 1 đặt nền móng để tiến hành thực hiện các chương tiếp theo của luận án

Chương 2

XƯNG TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT

Các phương tiện để xưng hô trong giao tiếp rất phong phú, đa dạng

Trong chương 2, chúng tôi tập trung vào vấn đề xưng trong văn bản hành chính Chúng tôi tập trung vào các vấn đề về xưng trong mối quan hệ với vị thế giao tiếp và các biểu thức ngôn ngữ dùng để xưng trong văn bản hành chính Để tìm

hiểu những nội dung này, chúng tôi tiến hành qua các bước sau:

Bước 1: Tìm hiểu một số vấn đề về xưng trong mối quan hệ với vị thế

giao tiếp như: vị thế ngang hàng, vị thế của vai dưới đối với vai trên, vị thế của vai trên đối với vai dưới

Bước 2: Tiến hành khảo sát, thống kê để tìm hiểu về đặc điểm xưng trong

văn bản hành chính tiếng Việt hiện nay như: đại từ xưng hô, danh từ chỉ người, biểu thức định danh cơ quan, tổ chức

Bước 3: Rút ra những kết luận riêng về xưng trong văn bản hành chính

Trang 37

2.1 Khái niệm xưng trong văn bản hành chính

Văn bản hành chính có những đặc thù riêng trong cách xưng gọi Bởi vì đây là loại văn bản chịu sự chế định của pháp luật nên cách xưng phải đảm bảo tính khách quan và không mang màu sắc thân tộc Những từ dùng để xưng trong văn bản hành chính sẽ có một phạm vi hẹp trong ngoại diên rộng lớn của từ xưng trong văn hóa người Việt Thực tế giao tiếp cho thấy từ ngữ dùng để xưng

hô trong tiếng Việt nhiều hơn rất nhiều so với số lượng từ ngữ xưng của nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới Số lượng từ ngữ xưng hô nói chung trong tiếng Việt bao gồm cả những từ xưng hô chuẩn mực và những từ được đại từ hóa để xưng

hô Số lượng các từ đó rất nhiều, khó có thể thống kê thành một con số xác định, bởi trong khi giao tiếp người Việt luôn có xu hướng tạo ra những từ ngữ mới để xưng hô Và ngoại trừ từ “tôi” được xem là cách xưng trung hòa về thái độ biểu cảm thì các từ xưng/xưng hô đều có màu sắc biểu cảm và sắc thái văn hóa Qua

cách xưng có thể nhận ra thái độ, tình cảm thậm chí mục đích giao tiếp của các

nhân vật giao tiếp Bởi vì trong mỗi phát ngôn, các từ ngữ dùng để xưng phản ánh trình độ nhận thức, sắc thái tình cảm của người phát ngôn Vì thế việc sử dụng các từ xưng trong tiếng Việt phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhân vật giao tiếp, mục đích giao tiếp, nội dung giao tiếp, tình huống giao tiếp, Có một cái nhìn rộng về xưng trong giao tiếp của người Việt để đi vào một phạm vi hẹp hơn

là xưng trong văn bản hành chính Đây là loại văn bản có cách xưng mang tính quy định cụ thể và có tính khoa học cao

2.2 Các cách xưng trong văn bản hành chính

Để đi sâu nghiên cứu về hệ thống từ xưng trong văn bản hành chính, chúng tôi đã tiến hành sưu tầm tư liệu ở nhiều thể loại văn bản

Bảng 2.1 Hệ thống văn bản hành chính có từ xưng được khảo sát

từ xưng Tỉ lệ %

Trang 38

giấy phép quy hoạch, đơn đề nghị, biên bản, báo

cáo, bản tóm tắt thành tích, phiếu bầu, tờ khai

đăng kí khai sinh, phiếu báo thay đổi hộ khẩu

nhân khẩu, tờ khai tham gia bảo hiểm y tế, )

Để có thể nghiên cứu một cách toàn diện nhất về cách xưng hô trong văn bản hành chính, chúng tôi đã lựa chọn tư liệu khá phong phú, đảm bảo sự đa dạng về các thể loại Tỉ lệ các loại văn bản cũng không chênh lệch nhiều

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát trong 400 văn bản hành chính và thấy được những cách xưng thường được dùng mang tính khách quan, xã hội còn những yếu tố cá nhân hay mối quan hệ liên nhân thường mờ nhạt Bảng thống kê dưới đây sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn về cách xưng trong văn bản hành chính

Bảng 2.2 Các cách xưng trong văn bản hành chính

1 Cơ quan, đơn vị,

tổ chức 110 27.5 Quốc hội, Ủy ban nhân dân,

Trang 39

Căn cứ vào những con số định lượng trong bảng thống kê trên, chúng tôi rút ra những kết quả định tính như sau:

Thứ nhất, về cơ bản trong văn bản hành chính có 4 cách xưng cơ bản là:

- Cơ quan, đơn vị, tổ chức;

- Cá nhân đứng đầu đơn vị hành chính;

- Cá nhân;

- Tập thể

Những cách xưng này đặc trưng theo từng loại văn bản hành chính Ví dụ:

nghị định do Chính phủ ban hành, người kí là Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng; luật do Quốc hội ban hành, người kí là Chủ tịch Quốc hội; thông tư do các Bộ ban hành, người kí là Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng; thông báo, nghị quyết do các

cấp ban hành theo chức năng nhiệm vụ cụ thể của mình, người kí là thủ trưởng hoặc phó thủ trưởng cơ quan kí; đơn từ khiếu nại do cá nhân đứng tên - cá nhân

kí, tập thể đứng tên - tập thể cùng kí; Người kí tên dưới văn bản thường là người xưng danh ở đầu văn bản (trừ khi kí thay)

Thứ hai, văn bản hành chính là loại văn bản pháp quy nên những cách xưng trong văn bản hành chính cũng phải tuân thủ những quy định chặt chẽ đảm bảo tính tường minh Chẳng hạn nếu là đơn đề nghị phải có cá nhân xưng cụ thể mới có tính pháp lí Những cách xưng đã thống kê cho thấy sự minh bạch, chặt chẽ trong trình bày, chính xác trong danh xưng và hệ thống trong từng cấp bậc

Như vậy, từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng khái niệm xưng trong văn bản hành chính được hiểu là những chủ thể sản sinh ra văn bản Là cách mà người/đơn vị tạo lập ra văn bản hành chính xưng gọi cho chính bản thân mình Xưng trong văn bản hành chính đòi hỏi tính đúng mực, tính tường minh và tính pháp lí

2.3 Xưng trong mối quan hệ với vị thế giao tiếp

2.3.1 Vị thế ngang hàng

Trang 40

Đặc điểm chung của xưng trong văn bản hành chính là tính chuẩn mực Mỗi một cá nhân đều chịu trách nhiệm về phát ngôn của mình trước pháp luật, cho nên vị thế ngang hàng rất tiêu biểu Trong văn bản hành chính, vị thế xã hội cũng bộc lộ rất rõ ở chỗ nếu là văn bản của các cấp có vị thế giao tiếp ngang hàng thì từ dùng xưng hô cũng thể hiện tính bình đẳng của công dân trước pháp luật Thực tế khảo sát cho thấy, những từ xưng thể hiện vị thế ngang hàng thường có tính trung hòa cao Cụ thể như sau:

Bảng 2.3 Từ xưng thể hiện vị thế ngang hàng trong văn bản hành chính

Tỉ lệ % được chúng tôi tính toán theo số lượng 400 văn bản hành chính được khảo sát Ví dụ: danh xưng theo chức danh có trong 136/400 văn bản hành chính khảo sát Từ những kết quả trên, chúng tôi thấy rằng xưng trong văn bản hành chính thể hiện vị thế xã hội theo quy thức được định danh trong pháp luật

Chúng ta hãy cùng xem các ví dụ sau:

Ví dụ (1):

TỜ KHAI NHÂN KHẨU

Ngày đăng: 02/08/2016, 12:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Các cách xưng trong văn bản hành chính - Luận án XƯNG HÔ TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT
Bảng 2.2. Các cách xưng trong văn bản hành chính (Trang 38)
Bảng 2.3. Từ xưng thể hiện vị thế ngang hàng trong văn bản hành chính - Luận án XƯNG HÔ TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT
Bảng 2.3. Từ xưng thể hiện vị thế ngang hàng trong văn bản hành chính (Trang 40)
Bảng 2.4: Hệ thống Đại từ nhân xưng trong tiếng Việt - Luận án XƯNG HÔ TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT
Bảng 2.4 Hệ thống Đại từ nhân xưng trong tiếng Việt (Trang 47)
Bảng 2.6. Đại từ nhân xưng dùng để xưng trong văn bản hành chính - Luận án XƯNG HÔ TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT
Bảng 2.6. Đại từ nhân xưng dùng để xưng trong văn bản hành chính (Trang 50)
Bảng 2.7. Số lượng xưng bằng tên riêng trong văn bản hành chính - Luận án XƯNG HÔ TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT
Bảng 2.7. Số lượng xưng bằng tên riêng trong văn bản hành chính (Trang 58)
Bảng 2.8. Danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp được dùng để xưng trong văn bản hành chính - Luận án XƯNG HÔ TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT
Bảng 2.8. Danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp được dùng để xưng trong văn bản hành chính (Trang 60)
Bảng 3.2. Từ hô thể hiện vị thế ngang hàng trong văn bản hành chính - Luận án XƯNG HÔ TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT
Bảng 3.2. Từ hô thể hiện vị thế ngang hàng trong văn bản hành chính (Trang 79)
Bảng 3.6. Biểu thức định danh cơ quan, đơn vị, tổ chức dùng để hô trong - Luận án XƯNG HÔ TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT
Bảng 3.6. Biểu thức định danh cơ quan, đơn vị, tổ chức dùng để hô trong (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w