Những thước đo truyền thống như: lợinhuận, vòng quay hàng tồn kho Inventory Turnover, vòng quay tài sản, tỷ suấtsinh lợi trên tổng tài sản Return on total asset –ROA, tỷ suất sinh lợi tr
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU1) Sự cần thiết của đề tài
Môi trường kinh doanh của Việt Nam luôn thay đổi trong suốt những nămgần đây Các nhà quản lý doanh nghiệp phải đối mặt với một môi trường cạnhtranh ngày càng cao và phức tạp Vì vậy, yêu cầu cần phải có những đổi mới trongviệc quản lý và kinh doanh, đặc biệt là công việc đánh giá thành quả hoạt động củadoanh nghiệp Để đo lường thành quả hoạt động của doanh nghiệp cần phải cónhững thước đo tài chính và phi tài chính Những thước đo truyền thống như: lợinhuận, vòng quay hàng tồn kho (Inventory Turnover), vòng quay tài sản, tỷ suấtsinh lợi trên tổng tài sản (Return on total asset –ROA), tỷ suất sinh lợi trên vốn cổphần (Return on equity – ROE), thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS), v.v được cácnhà quản lý sử dụng để đánh giá thành quả hoạt động doanh nghiệp trên nhiều khíacạnh khác nhau Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh thì ngoài mục tiêu lợi nhuậndoanh nghiệp còn theo đuổi mục tiêu giá trị, vì vậy, sử dụng các thước đo truyềnthống trên để đánh giá thành quả hoạt động doanh nghiệp đã bộc lộ một số hạn chế:Thứ nhất, hầu hết các thước đo truyền thống không tính đến chi phí sử dụngvốn, đặc biệt là chi phí sử dụng vốn chủ - là chi phí cơ hội khi nhà đầu tư bỏ vốnvào hoạt động kinh doanh Vì vậy, chúng chưa chỉ ra được liệu rằng doanh nghiệp
có tạo ra giá trị cho mình và cổ đông hay không
Thứ hai, cơ sở để xác định các thước đo truyền thống đều dựa trên số liệu kếtoán Nhưng số liệu kế toán được ghi nhận lại dựa trên một số giả định và tuân thủcác nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận, vì vậy, sẽ dẫn đến một số hạn chếnhư: hạn chế trong việc xác định lợi nhuận, hạn chế trong việc phản ánh vốn đầutư, v.v Đặc biệt nhà quản lý có thể thông qua đó để bóp méo số liệu kế toán phục
Trang 2Sử dụng thước đo EVA để đánh giá thành quả hoạt động sẽ khắc phục đượcnhững hạn chế vốn có của các thước đo truyền thống, giúp cho các nhà quản lýcũng như những nhà đầu tư biết được giá trị thật sự được tạo ra từ thành quả hoạtđộng của doanh nghiệp Khi được xây dựng, tính toán một cách chính xác, kháchquan thì EVA sẽ là người dẫn đường cho các nhà quản lý, các nhà đầu tư và cổđông đánh giá về sự thành công trong tương lai của một doanh nghiệp Ngoài ra,EVA còn là thước đo tốt nhất để đánh giá và khen thưởng cho những nhà quản lýcác bộ phận, giúp cho các nhà quản lý bộ phận hướng mục tiêu của bộ phận vàomục tiêu chung của toàn doanh nghiệp Tuy nhiên, việc nhận diện thước đo EVA làmột thước đo thành quả hoạt động hữu hiệu nhất và áp dụng thước đo EVA đểđánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp còn khá mới mẻ đối với các doanhnghiệp ở Việt Nam Khi giai đoạn thị trường phát triển mạnh như hiện nay thì việcnhận diện và việc vận dụng thước đo EVA để đánh giá thành quả hoạt động của cácdoanh nghiệp ở Việt Nam nói chung và Công ty Cổ phần dầu thực vật Tường Annói riêng là yêu cầu cần thiết.
2) Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là :
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến thước đo EVA:
+ Tổng quan về thước đo EVA
+ Vận dụng thước đo EVA trong việc đánh giá thành quả hoạt động.+ Kết hợp EVA với ABC vào việc đánh giá thành quả hoạt động
- Phân tích thực trạng đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty Cổ phần dầu thựcvật Tường An
- Vận dụng thước đo EVA và kết hợp EVA với ABC trong việc đánh giá thànhquả hoạt động tại Công ty Cổ phần dầu thực vật Tường An
3) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thước đo EVA
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu thực trạng đánh giá thành quảhoạt động tại Công ty Cổ phần dầu thực vật Tường An
Trang 34) Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu vận dụng trong nghiên cứu đề tài là phương pháp duyvật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra, luận văn còn kết hợp sử dụng cácphương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp, diễn dịch, kết hợp giữa phântích lý luận với thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu
5) Những đóng góp của luận văn
Về cơ sở lý luận: luận văn hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đếnthước đo EVA, kết hợp EVA với ABC trong việc đánh giá thành quả hoạt độngdoanh nghiệp
Về ý nghĩa thực tiễn: (1) Đánh giá xem Công ty Cổ phần dầu thực vậtTường An có tạo ra giá trị cho các cổ đông hay không, (2) Đánh giá thành quả hoạtđộng của Công ty Cổ phần dầu thực vật Tường An bằng các thước đo truyền thốngnhư lợi nhuận, ROI, EPS, v.v và thước đo thành quả hoạt động mới là EVA, (3)Kết hợp thước đo EVA với ABC để đánh giá thành quả hoạt động Công ty Cổ phầndầu thực vật Tường An
BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
- CHƯƠNG 1: Cở sở lý luận về thước đo giá trị kinh tế tăng thêm (Economic Value Added – EVA)
- CHƯƠNG 2: Thực trạng về đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty Cổ phần dầu thực vật Tường An
- CHƯƠNG 3: Vận dụng giá trị kinh tế tăng thêm (Economic value added – EVA) trong việc đánh giá thành hoạt động tại Công ty Cổ phần dầu thực vật Tường An.
Trang 4CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯỚC ĐO GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM
(ECONOMIC VALUE ADDED – EVA)
TỔNG QUAN VỀ THƯỚC ĐO GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM (ECONOMIC VALUE ADDED – EVA)
Sự hình thành và phát triển của thước đo EVA
Thuật ngữ giá trị kinh tế tăng thêm (Economic Value Added-EVA) xuất hiện
từ rất sớm vào năm 1989 (Finegan, 1989) Tuy nhiên, nó nhận được ít sự quan tâmcho đến tháng 9/1993 khi bài báo trong tạp chí Fortune (Tully, 1993) giới thiệu chitiết khái niệm EVA, được xây dựng bởi công ty tư vấn Stern Stewart, và việc vậndụng thành công trong các tập đoàn lớn ở Mỹ Tiếp sau thành công của bài báotrong tạp chí Fortune viết về EVA như là một thước đo thành quả hoạt động mới thìhàng loạt các nghiên cứu liên quan đến EVA đã được công bố ví dụ: Walbert,1993; Birchard, 1994; Brossy and Balkcom, 1994; McConville, 1994; Bennett,1995;
Ochsner, 1995; Stewart, 1995; Birchard, 1996; Davies, 1996; Gapenski, 1996;Lehn and Makhija, 1996 Mặc dù EVA là thước đo tài chính khá mới, tuy nhiênnền tảng khái niệm của nó thì không mới, nó có nguồn gốc từ khái niệm lợi nhuậncòn lại (Residual Income - RI) mà nhiều doanh nghiệp đã sử dụng trước đây Điểnhình là công ty General Electric (GE) đã sử dụng RI trong những năm 1950-1960
để đánh giá thành quả hoạt động GE định nghĩa RI như là “sự chênh lệch giữa lợinhuận thuần và chi phí sử dụng vốn, nó là phần thặng dư của lợi nhuận thuần saukhi trừ đi chi phí sử dụng vốn” (Salomons, 1965)
Công ty Stern Stewart được coi là người sáng lập đầu tiên công thức EVA –cho đến nay đã tư vấn cho hơn 200 doanh nghiệp thực hiện, áp dụng thước đo EVA
để đánh giá thành quả hoạt động và xây dựng chính sách khuyến khích khenthưởng (Stern Stewart & Co., 1997) Danh sách một số công ty tại Hoa Kỳ áp dụng
Trang 5Lilly, Federal-Mogul, Georgiaa-Pacific, Monsanto, Olin, R.R Donnelley, Sprint,SPX, Toys R Us, and Whirlpool Tính ưu việt của EVA ngày càng được khẳngđịnh và nó không chỉ giới hạn đối với các công ty ở Hoa Kỳ, mà còn lan rộng sangcác công ty ở Châu Âu như: Anh, Đức, New Zealand….v.v.
Sự cần thiết vận dụng thước đo EVA
Các thước đo truyền thống đánh giá hoạt động của doanh nghiệp trên nhiềukhía cạnh khác nhau và thoả mãn nhu cầu cho nhiều đối tượng khác nhau Tuynhiên, trong một số trường hợp thì kết quả đánh giá mà các các thước đo đưa ra làkhác nhau hay thậm chí là trái ngược nhau Điều này làm các nhà quản lý phải đốimặt với thách thức lớn hơn trong việc đưa ra quyết định phù hợp
Các nhà đầu tư cũng quan tâm đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệpnhư các nhà quản lý, nhưng quan trọng hơn cả là họ muốn biết mỗi đồng vốn đầu
tư bỏ ra có thu nhập thật sự là bao nhiêu sau khi tính đến chi phí cơ hội của việc sửdụng vốn đầu tư Cần có một thước đo có thể cho các nhà đầu tư cũng như các nhàquản lý thấy được giá trị thực sự của doanh nghiệp và lợi nhuận mà doanh nghiệptạo ra có tạo ra tiền cho cổ đông hay không
Thước đo EVA là thước đo duy nhất giải quyết được các vấn đề trên Ngoài
ra nó còn là cở sở khen thưởng các nhà quản lý phù hợp với thành quả mà họ manglại cho doanh nghiệp
Có nhiều bằng chứng được các học giả nghiên cứu chỉ ra rằng: khi sử dụngthước đo EVA trong việc đánh giá thành quả hoạt động như là một bộ phận cấuthành trong hệ thống quản lý giá trị của doanh nghiệp thì sẽ duy trì được sự ổn định
và tạo động lực cho các nhà quản lý (Fortune, 1993) Như vậy sử dụng EVA sẽgiúp nhà quản lý hướng đến mục tiêu chung của doanh nghiệp là tạo ra giá trị cho
cổ đông Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc sử dụng thước đo EVA có thể ảnhhưởng đến giá cổ phiếu Ví dụ: giá cổ phiếu của CSX tăng từ 28 USD lên 75 USD
từ giữa 1988 và 1993 (Tully, 1993) Như John Blystone “Trong nửa đầu năm 1996 Chúng tôi đã tạo ra đồng 135 triệu cho các cổ đông của chúng tôi, tăng 67% .”
Trang 6(Stern Stewart & Co, 1996) Eli Lilly cũng có kết quả tương tự, khi áp dụng EVA giá cả các cổ phiếu tăng 105% trong một năm (Davies, 1996).
tỷ suất sinh lời mà nhà đầu tư đòi hỏi khi cung cấp vốn cho doanh nghiệp Mứcsinh lời này phải tương ứng với mức độ rủi ro mà nhà đầu tư có khả năng gặp phảikhi cung cấp vốn
Doanh nghiệp là người sử dụng nguồn tài trợ thì lãi suất sử dụng vốn là tỷ lệhoàn vốn đầu tư tối thiểu cần phải đạt được để đảm bảo duy trì tỷ suất lợi nhuậntrên vốn và tạo ra giá trị tăng thêm cho cổ đông
Lãi suất sử dụng vốn phụ thuộc vào khá nhiều yếu tố: tính mạo hiểm củaviệc sử dụng vốn, lãi suất của các khoản nợ phải trả, cấu trúc vốn của doanhnghiệp, chính sách phân phối lợi nhuận…Vì vậy, khi tính toán lãi suất sử dụng vốncần phải lượng hoá được lãi suất bình quân của tất cả các nguồn tài trợ (WACC).Vốn đầu tư là số vốn doanh nghiệp cần phải có để thực hiện hoạt động đầu
tư hay hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Về nguyên tắc thì vốn đầu tư nênđược xác định theo giá thị trường
Cũng giống như cách tính toán các chỉ tiêu đo lường thành quả hoạt độngtruyền thống khác, số liệu kế toán là số liệu ban đầu sử dụng cho việc xác định giátrị kinh tế tăng thêm Tuy nhiên, số liệu kế toán được lập dựa trên một số giả định
và tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận, vì vậy có sự khácbiệt với lý thuyết tài chính: giữa giá trị theo sổ sách kế toán và giá trị thị trường củacác loại tài sản và nguồn vốn; lợi nhuận trên Báo cáo kế toán khác biệt với số tiền
Trang 7tạo ra cho cổ đông và nó dễ dàng bị thay đổi Vì vậy, khi tính EVA cần thiết phải thực hiện một số điều chỉnh để giảm sự khác biệt này.
VẬN DỤNG THƯỚC ĐO EVA TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG.
Để hiểu rõ hơn về phương pháp và cách tính EVA chúng ta cần phải phânbiệt nó với một số thước đo thành quả hoạt động khác và giữa thước đo thành quảhoạt động với thước đo giá trị doanh nghiệp (wealth metric)
Thành quả hoạt động mà tác giả đề cập trong đề tài là kết quả cuối cùng củatất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
Thước đo thành quả hoạt động đề cập dưới góc độ kiểm soát, đánh giá hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trêndoanh thu (ROS), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trênvốn chủ (ROE); tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI), lợi nhuận còn lại (RI), giá trị kinh tếtăng thêm (EVA)
Thước đo giá trị doanh nghiệp sử dụng để định giá doanh nghiệp như giá trịthị trường của vốn chủ hoặc hệ số giá cổ phiếu trên thu nhập (P/E) Tuy nhiên,trong dài hạn thì hai thước đo này có mỗi liên hệ với nhau và thước đo thành quảhoạt động ảnh hưởng tới triển vọng sự gia tăng giá trị doanh nghiệp trong tương lai
Một số thước đo thành quả hoạt động truyền thống.
Các thước đo có thể có mối quan hệ với nhau Mô hình Dupont có thể triểnkhai các quan hệ phức tạp gồm nhiều thước đo tác động lẫn nhau và nhờ đó đã chỉ
ra được các yếu tố tài sản, nguồn vốn, vốn đầu tư, doanh thu, lợi nhuận…và ảnhhưởng của chúng tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 8Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) Vốn cổ phần
Tổng tài sản
Vòng quay VĐT
Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (ROS)
Vốn luân chuyển thuần Chi phí
Doanh thu Doanh thu
Giá thành CP quản lý, BH
Tài sản ngắn hạn Nợ ngắn hạn không chịu lãi
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ phân tích Dupont
-1.2.1.1 Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư ( Return on Investment-ROI)
ROI được phát triển bởi công ty DuPont Power trong những năm đầu 1900
để quản lý doanh nghiệp một cách thống nhất (Johnson&Kaplan, 1987)
ROI là tỷ số giữa thu nhập thuần trên vốn đầu tư đã bỏ ra Ngoài ra ROI còn
được phân tích là tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu với vòng quay của doanh thu trên
vốn đã sử dụng (mô hình Du-Pont) Mô hình Du-Pont là mô hình đo lường thành
quả tài chính truyền thống dựa trên các khái niệm về thu nhập kế toán Nhiều ý
Trang 9cho rằng mô hình tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) là một chỉ tiêu đo lường thành quảhoạt động hoàn hảo Tất cả các hoạt động trong một tổ chức đều được biểu hiệnqua mô hình Du-pont này Với việc phân tích nhấn mạnh nhiều vào sự phụ thuộccủa chỉ số tài chính dựa trên bốn khía cạnh liên quan đến tài chính doanh nghiệp:Lợi nhuận, khả năng thanh toán, cấu trúc vốn, hoạt động.
Công thức ROI
Lợi nhuận Lợi nhuận
ROI = = X
Vốn đầu tư Doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận
trên doanh thu
Doanh thuVốn đầu tư
Số lần vòng quay vốn
Xác định lợi nhuận và vốn đầu tư
- Lợi nhuận: Lợi nhuận sử dụng trong cơ cấu xác định chỉ tiêu ROI là lợi nhuận
thuần trước thuế Lý do sử dụng chỉ tiêu này là để phù hợp với doanh thu và vốnđầu tư đã tạo ra nó, và để làm cơ sở xác định số lần quay vòng vốn
- Vốn đầu tư: Có hai quan điểm tiếp cận vốn đầu tư dưới góc độ doanh nghiệp Một
là: vốn đầu tư xác đinh giai đoạn trước khi tái đầu tư theo cách này vốn đầu tư baogồm vốn chủ sở hữu và nợ dài Hai là: vốn đầu tư được xác định tại mỗi thời điểmsau giai đoạn đầu tư ban đầu được gọi là giai đoạn “sau khi có hoạt động tái đầutư” trong trường hợp này vốn đầu tư bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và vốn chủ
sở hữu
Một số ưu điểm và hạn chế của chỉ tiêu ROI
Ưu điểm cơ bản của việc sử dụng chỉ tiêu ROI là có xét đến vốn đầu tư ROIđược sử dụng để đánh giá thành quả đầu tư của các trung tâm đầu tư và các doanhnghiệp có quy mô vốn khác nhau để xem nơi nào đạt hiệu quả cao nhất, làm cơ sởđánh giá thành quả hoạt động Ngoài ra, ROI còn được sử dụng để tìm ra các nhân
tố tác động đến hiệu quả hoạt động nhằm đưa ra giải pháp để kết quả hoạt động tốthơn Đó là các biện pháp cải thiện doanh thu, kiểm soát chi phí hay tính lại cơ cấuvốn đầu tư
Trang 10Lợi nhuận còn lại
(RI)= Lợi nhuậntrước thuế - (Vốn đầu tư x Tỷ suất sinh lời đòi hỏi)
Mặc dù thước đo hoàn vốn đầu tư ROI có nhiều ưu điểm và được các nhàquản trị sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá thành quả hoạt động, nhưng nó vẫncòn tồn tại một số hạn chế như sau:
- ROI có khuynh hướng chú trọng đến mục tiêu ngắn hạn hơn là dài hạn, do vậy, nếunhà quản trị chỉ quan tâm đến ROI có thể bỏ qua nhiều cơ hội đầu tư mà kết quảcủa chúng thể hiện trong dài hạn
- Sử dụng ROI để đánh giá các bộ phận và khen thưởng sẽ làm cho các nhà quản lý
bộ phận chỉ quan tâm đến lợi ích của bộ phận, của cá nhân mà không hướng mụctiêu của bộ phận vào mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp
- ROI có thể không hoàn toàn chịu sự điều hành của nhà quản trị cấp cơ sở, vì chỉ cótrung tâm đầu tư cấp cao có quyền điều tiết ROI
- ROI là số tương đối nên không lượng hoá được mức độ tăng thêm tuyệt đối là baonhiêu
- ROI không phù hợp với mô hình vận động của dòng tiền khi sử dụng trong phântích vốn đầu tư
1.2.1.2 Lợi nhuận còn lại (Residual Income – RI)
Lợi nhuận còn lại là khoản thu nhập của bộ phận hay toàn doanh nghiệp saukhi trừ đi chi phí sử dụng vốn đã đầu tư vào bộ phận đó Chỉ tiêu này nhấn mạnhđến khả năng tạo thu nhập vượt trên chi phí vốn đã đầu tư vào một bộ phận haytoàn doanh nghiệp
Công thức tính của RI
Chỉ tiêu RI là số tuyệt đối, nó cho biết thu nhập đạt được bao nhiêu sau khitrừ đi các khoản chi phí sử dụng vốn đã đầu tư để có được thu nhập trên
Ưu điểm, hạn chế của chỉ tiêu RI: Ưu điểm của RI đo lường bằng số tuyệt
đối nên thường được dùng để bổ sung hạn chế của chỉ tiêu ROI trong việc đánh giáthành quả của trung tâm đầu tư Nhưng vì là số tuyệt đối nên chỉ tiêu này không thểđược sử dụng để đánh giá thành quả của các trung tâm có quy mô khác nhau
Trang 11Ví dụ minh hoạ 1:
Giả sử Công ty X có cơ hội đầu tư mới với vốn đầu tư là 500.000.000 đ và
hy vọng mà sẽ đem lại mức lợi nhuận 90.000.000 đ Nhà quản lý có chấp nhận cơhội đầu tư này không? Nếu cơ hội đầu tư này được chấp nhận thì lợi ích tổng thểcủa Công ty sẽ thế nào, nếu lãi suất sử dụng vốn bình quân của Công ty là 15%?
Bảng 1.1 - Đánh giá kết quả thực hiện theo ROI và RI
Đơn vị tính: 1000đHiện tại Dự án mới Tổng cộng
Vốn đầu tư 2.000.0000 500.000 2.500.000Đánh giá kết quả thực hiện theo ROI 20% 18% 19,6%Đánh giá kết quả thực hiện theo RI 100.000 15.000 115.000
Trong trường hợp này nhà quản lý đối diện với việc xem có chấp nhận hay
từ chối một dự án mới có kết quả dự kiến: Lợi nhuận dự kiến là 90.000 nghìn đồng,vốn đầu tư 500.000 nghìn đồng, ROI dự án mới là 18% < 20% là tỷ lệ hoàn vốnđầu tư mà nhà quản lý bộ phận này đang thực hiện được Nếu chấp nhận đầu tư dự
án này, nhà quản lý chỉ đạt được kết quả là ROI của bộ phận là 19,6% < 20% khichưa thực hiện dự án Như vậy, khả năng từ chối dự án thường được nhà quản lýlựa chọn khi sử dụng chỉ tiêu này để đánh giá thành quả hoạt động
Ngược lại, nếu dựa vào chỉ tiêu RI để đánh giá thì người quản lý bộ phận sẽchấp nhận dự án mới này, bởi vì điều nhà quản lý bộ phận quan tâm là lợi nhuậncòn lại có tăng hay không Hay nói cách khác, bất kỳ một dự án nào có thể cungcấp một tỷ lệ hoàn vốn lớn hơn tỷ suất sinh lời đòi hỏi (15%) đều có thể được chấpnhận
Như vậy, chấp nhận dự án mới sẽ làm tăng lợi nhuận còn lại và qua đó phảnánh chính xác hơn thành quả của người quản lý Mặc dù ROI của bộ phận có thểgiảm khi chấp nhận dự án đầu tư mới, tuy nhiên việc thực hiên dự án mới sẽ làmtăng lợi nhuận của toàn doanh nghiệp
Trang 12Tuy nhiên, lợi nhuận còn lại (RI) cũng có một số hạn chế, nó không thể sửdụng để so sánh hiệu quả hoạt động của các bộ phận có quy mô khác nhau do cókhuynh hướng nghiêng về các trung tâm đầu tư có nhiều nguồn lực hơn.
Ví dụ minh hoạ 2: Bảng 1.2 Đánh giá các bộ phận
Tóm lại, không phải ROI, cũng không phải lợi nhuận còn lại (RI) cung cấpthông tin phù hợp nhất để đánh giá thành quả hoạt động Nếu sử dụng ROI để đánhgiá thành quả hoạt động có thể làm cản trở việc hướng đến mục tiêu chung Còn sửdụng một mình chỉ tiêu lợi nhuận còn lại (RI) không thể so sánh hiệu quả giữa cáctrung tâm đầu tư có quy mô khác nhau
Phương pháp xác định EVA
EVA = NOPAT – (TC x WACC)
Với: - NOPAT: Lợi nhuận trước lãi vay và sau thuế
- TC: Total capital – Vốn đầu tư
- WACC: Lãi suất sử dụng vốn bình quân
Như chúng ta đã trình bày ở trên, cơ sở cho việc xác định giá trị kinh tế tăngthêm là số liệu kế toán Như vậy khi tính EVA chúng ta có thể sử dụng số liệu trênBáo cáo tài chính
Tính EVA dựa trên số liệu kế toán
Có bốn bước để tính EVA:
Bước 1: Tính lợi nhuận hoạt động trước lãi vay và sau thuế (Net
Trang 13Lãi suất sử
dụng vốn bình quân WACC=dụng nợ vayLãi suất sử
sau thuế
Tỷ trọngTỷ trọngLãi suất sử
nợ trongvốn chủX+dụng vốnxtổng vốntrong tổngchủđầu tưvốn đầu tư
WACC r xW r xW r xW *
ddeepp
Lợi nhuận trước lãi vay và sau thuế (Net Operating Profit after tax - NOPAT)của một doanh nghiệp được lấy từ Báo cáo xác định kết quả kinh doanh
NOPAT = Lợi nhuận sau thuế + lãi vay x ( 1- thuế suất thuế TNDN)
Bước 2: Tính vốn đầu tư (Total Invested capital – TC)
Chúng ta tính vốn đầu tư dựa vào số liệu Bảng cân đối kế toán trong kỳ, đơn giản đó chính là tổng tài sản của doanh nghiệp
Bước 3: Xác định lãi suất sử dụng vốn bình quân (Weighted Average Cost of Capital – WACC)
Lãi suất sử dụng vốn bình quân (WACC) được xác định theo tỷ lệ phần trăm(%), chính là tỷ lệ hoàn vốn đầu tư tối thiểu cần phải đạt được khi sử dụng nguồntại trợ Để tính WACC, chúng ta cần tính lãi suất sử dụng nợ và lãi suất sử dụngvốn chủ sở hữu
hay
Với :
rd* : Lãi suất sử dụng nợ vay sau thuế
Wd : Tỷ trọng nợ vay trong cấu trúc vốn
re : Lãi suất sử dụng vốn cổ phần thường
We: Tỷ trọng vốn cổ phần thường trong cấu trúc vốn
rp : Lãi suất sử dụng vốn cổ phần ưu đãi
Wp : Tỷ trọng vốn cổ phần ưu đãi trong cấu trúc vốn
Lãi suất sử dụng nợ vay
Một trong những ưu thế sử dụng nợ vay so với các nguồn tài trợ bên ngoài khác là tiền lãi vay phải trả được trừ ra trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 14r* dd r (1 T)
(lá chắn thuế) Do lãi vay được khấu trừ trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp nên lãi suất sử dụng nợ vay cần được tính sau thuế
- Lãi suất sử dụng nợ vay trước thuế (r d )
- Lãi suất sử dụng nợ vay sau thuế (r d *)
T: là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Như vậy, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp làm giảm đáng kể lãi suất sử
dụng nợ vay, và lãi suất sử dụng nợ vay tỷ lệ thuận với thuế suất thuế thu nhập.
Nhưng khi doanh nghiệp bị thua lỗ thì lãi suất sử dụng nợ vay trước và sau thuếbằng nhau, vì khi đó doanh nghiệp không thể giảm chi phí này ra khỏi “lợi nhuận”
Lãi suất sử dụng vốn chủ
- Lãi suất sử dụng vốn cổ phần ưu đãi (r p )
Lãi suất sử dụng vốn cổ phần ưu đãi (rp) được xác định theo mức chi trảhàng năm cho các cổ đông ưu đãi
rp = Cổ tức cổ phần ưu đãi
Pp x (1- %chi phí phát hành cổ phần ưu đãi)Với: Pp là giá bán cổ phiếu ưu đãi
- Lãi suất sử dụng vốn cổ phần thường (r e )
Có nhiều cách để tính lãi suất sử dụng vốn cổ phần thường Trên thực tế mô hình CAPM thường được áp dụng
re = rf +β(rm − rf )Trong đó: rf : Tỷ suất sinh lời phi rủi ro
rm: Tỷ suất sinh lời kỳ vọng của thị trường
β : Hệ số rủi roLãi suất sử dụng vốn cổ phần thường là tỷ suất sinh lời đòi hỏi mà nhà đầu
tư sẽ có được để bù đắp rủi ro có khả năng xảy ra Tỷ suất sinh lời đòi hỏi của cácnhà đầu tư phụ thuộc vào mức độ rủi ro của cổ phiếu doanh nghiệp so với thị
Trang 15hơn vì vậy tỷ suất sinh lời đòi hỏi cao hơn và ngược lại Như vậy, tỷ suất sinh lờiđòi hỏi là cái mà nhà đầu tư muốn nhận được còn trên góc độ doanh nghiệp nóchính là lãi suất sử dụng vốn (doanh nghiệp sử dụng vốn của nhà đầu tư và kỳ vọng
sẽ thu được lợi nhuận cao hơn để trả cho nhà đầu tư và tái đầu tư) Một số Beta( β)> 1 chỉ ra rằng cổ phiếu đó có độ nhạy hơn, rủi ro hơn thị trường
- Cấu trúc vốn doanh nghiệp: Cấu trúc vốn doanh nghiệp ảnh hưởng tới lãi
suất sử dụng vốn bình quân (WACC) của doanh nghiệp Có hai quan điểm tiếp cậnkhi xác định giá trị từng nguồn vốn:
+ Quan điểm doanh nghiệp là một thực thể kinh tế đang hoạt động thì cả chủ
nợ và cổ đông hiện tại thường chỉ quan tâm tới giá trị sổ sách từng nguồn vốn và tỷtrọng từng nguồn vốn theo nguyên tắc bảo toàn vốn
+ Quan điểm cổ đông và các nhà đầu tư tương lai thì giá trị doanh nghiệpcần được xác định theo giá thị trường: Các khoản nợ và cổ phiếu cần căn cứ vàogiá thị trường tại từng thời điểm xác định Quan điểm này phù hợp hơn trong việctính tỷ trọng vốn
Như vậy WACC tính theo tỷ trọng vốn theo giá trị sổ sách kế toán công ty
sẽ đảm bảo nguyên tắc phù hợp và nhất quán khi so sánh Tuy nhiên, WACC tínhtheo giá trị sổ sách bỏ qua chi phí cơ hội của việc sử dụng lợi nhuận tái đầu tư củanhà đầu tư hiện tại cũng như những khoản đầu tư mới trong tương lai
Bước 4: Xác định giá trị kinh tế tăng thêm (Economic value added – EVA)
Ở bước 4 này chúng ta tính được EVA của doanh nghiệp chỉ đơn giản dựavào các số liệu trên Báo cáo tài chính do kế toán cung cấp Cách tính này đơn giản,
dễ tính toán và phù hợp với mọi loại hình doanh nghiệp Ưu điểm của EVA theocách tính này đã khắc phục được một số hạn chế của các chỉ tiêu đánh giá thànhquả hoạt động truyền thống như: lợi nhuận, ROI, ROE, RI… v.v Tuy nhiên nhữnghạn chế vốn có khi sử dụng các chỉ tiêu này để đo lường thu nhập thực cho doanhnghiệp cũng như cổ đông chính là những hạn chế của số liệu kế toán
EVA = NOPAT – (TC x WACC)
Trang 16Tính EVA sau khi đã điều chính các số liệu kế toán
EVA phụ thuộc vào 3 nhân tố chính i)- Lợi nhuận; ii)- Vốn đầu tư; iii)- lãisuất sử dụng vốn, điều chỉnh một trong 3 nhân tố này hoặc đồng thời chúng ta cũngthu được EVA khác nhau
Để xác định được EVA liệu có tạo ra giá trị tăng thêm thực sự cho các cổđông hay không đòi hỏi cần thực hiện một số điều chỉnh sự khác biệt của số liệu kếtoán với các quan điểm tài chính Có hai sự khác biệt cơ bản
1) Quan điểm khác biệt trong ghi nhận và xác định “vốn đầu tư” cần phảiđiều chỉnh để xác định được thu nhập thực sự từ mỗi đồng vốn bỏ ra chocác nhà đầu tư
2) Quan điểm khác biệt trong cách ghi nhận cơ sở dồn tích với cơ sở tiềnmặt và cần phải điều chỉnh sang cơ sở tiền mặt để thấy được thu nhập;chi phí thực tế phát sinh
Việc điều chỉnh cũng phải đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa bảng cân đối
kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh: Tài sản giảm hoặc nợ tăng thì chi phí tăng,lợi nhuận giảm hoặc ngược lại
Các bước điều chỉnh bắt đầu từ việc xác định lại vốn đầu tư trên bảng cânđối kế toán: Những khoản mục nào không hoặc ít tạo ra thu nhập cần phải loại bỏkhỏi vốn đầu tư; thêm vào những khoản mục nào chưa được phản ánh đúng trênbảng cân đối kế toán như là vốn đầu tư Tiếp đến cần phải điều chỉnh lại lợi nhuậntrên báo cáo kết quả kinh doanh bằng cách loại bỏ những khoản chi phí được ghinhận vào trong kỳ mà thực chất đó là những khoản đầu tư và cuối cùng cần phảiđiều chỉnh giảm những khoản chi phí được phân bổ trong kỳ mà thực tế chưa phátsinh
a/ Một số khoản mục không được coi là vốn đầu tư phải trừ ra gồm
Trên Bảng cân đối kế toán có nhiều khoản mục không phải là vốn đầu tư củadoanh nghiệp Như vậy, chúng ta lấy tổng tài sản trừ đi những khoản mục khôngphải là vốn đầu tư bên cột nguồn vốn trên Bảng cân đối kế toán gồm:
- Các khoản nợ không phát sinh lãi: Các khoản khách hàng ứng trước, phải trả người
Trang 17này trong việc xác định vốn đầu tư chính là các khoản nợ không phát sinh lãi lànhững khoản nợ có thời hạn ngắn, thời gian chi trả thường không cố định, doanhnghiệp thường phải dự phòng một số tiền nhất định để chi trả cho các nghĩa vụ nợnày Vì vậy, có rất ít mối liên hệ giữa các khoản mục này với việc tạo ra thu nhập.
- Các quỹ của doanh nghiệp: Theo chế độ kế toán hiện hành của Việt Nam lợi nhuận
trong kỳ của doanh nghiệp phải được trích lập các quỹ theo quy định: Quỹ đầu tưphát triển; quỹ dự phòng tài chính; quỹ trợ cấp việc làm, quỹ khen thưởng phúc lợi
Số lợi nhuận còn lại mới được chi trả cổ tức hoặc giữ lại sử dụng tái đầu tư Vì vậy,
số dư khoản mục các quỹ dự trữ này là số tiền chưa được sử dụng để tái đầu tư,chưa tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp Do đó, khi xác định vốn đầu tư thì các quỹ
dự trữ này cũng phải được loại trừ
Cũng có quan điểm khác giải thích việc phải loại trừ các khoản nợ khôngphát sinh lãi và các quỹ dự trữ xuất phát từ quan điểm vốn luân chuyển Tổng tàisản có thể bị thổi phồng nếu các khoản nợ chiếm dụng tăng lên, các khoản nợ nội
bộ tăng lên Nhà quản lý có thể bóp méo số liệu khi sử dụng kỹ thuật tính toán vốnđầu tư theo cách ghi nhận kế toán để điều chỉnh thành quả hoạt động của mình như
đã từng làm với các chỉ tiêu ROI, ROA, ROS…
b/ Một số khoản mục chi phí cần được vốn hoá ngược lại vào vốn đầu tư đồng thời phải điều chỉnh tăng lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh doanh
- Điều chỉnh các khoản mục ngoài bảng cân đối kế toán: Các khoản nợ tương đương
tài sản cần được vốn hoá thay vì ghi nhận tất cả vào chi phí trong kỳ, mục tiêu củachúng ta là biết được những khoản đầu tư hay những khoản nợ mà nó không thểhiện trên Bảng cân đối kế toán hiện hành (tiền thuê hoạt động, chi phí nghiên cứuphát triển)
+ Chi phí nghiên cứu phát triển: Theo Chuẩn mực 04 “Tài sản cố định vô
hình” thì toàn bộ chi phí nghiên cứu không được ghi nhận là TSCĐ vô hình màđược ghi nhận là chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ Vì vậy, chúng ta cần phảivốn hoá những chi phí này và coi nó như những khoản đầu tư Khi đó NOPAT phảiđiều chỉnh giảm khoản chi phí nghiên cứu đã ghi nhận
Trang 18+ Chi phí thuê hoạt động: Theo Chuẩn mực số 06 “Thuê tài sản” thì những
tài sản thuê hoạt động được theo dõi ngoài bảng cân đối kế toán tại đơn vị đi thuê
và khoản thanh toán tiền thuê hoạt động sẽ được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinhdoanh cho suốt thời hạn thuê tài sản Trước khi thực hiện điều chỉnh phần tiền lãitrong tiền thuê hoạt động, chúng ta cần phải thống nhất rằng lợi nhuận kinh tế xemthuê hoạt động và thuê vốn là như nhau Theo quan điểm kinh tế chúng ta coi tàisản thuê hoạt động như một tài sản mà nó được đầu tư đi kèm với nghĩa vụ nợ Nóicách khác, cần phải coi thuê hoạt động như thuê tài chính và phản ánh tài sản đithuê trên bảng cân đối kế toán giống như một khoản đầu tư Khi đó, NOPAT phảiđiều chỉnh giảm phần tiền lãi thuê hoạt động ra khỏi chi phí thuê hoạt động đã ghinhận trong kỳ
Tiền thuê hoạt động doanh nghiệp phải trả trong tương lai được chiết khấu
về hiện tại chính là vốn đầu tư cần thiết mà doanh nghiệp phải chi ra để có tài sảnhoạt động Chi phí thuê hoạt động hàng năm đối với đơn vị cho thuê gồm haiphần:phần bù đắp khấu hao và phần lợi nhuận thu được hàng năm được xác địnhbằng tỷ lệ sinh lời đòi hỏi nhân với giá trị đầu tư Vì vậy, đối với đơn vị đi thuê cầnphải phản ánh giá trị đầu tư tài sản cho thuê trên bảng cân đối kế toán và phần lợinhuận của bên cho thuê cần đươc coi là tiền lãi thuê vốn
- Điều chỉnh trong bảng cân đối kế toán: Các tài sản sụt giảm hay các khoản
nợ tăng lên do thực hiện việc ghi nhận trước của kế toán trong khi thực tế chưa xảy
ra ảnh hưởng đến vốn đầu tư và lợi nhuận:
+ Các khoản dự phòng: Theo chế độ kế toán Việt Nam hiện hành thì lập dự
phòng là ước tính kế toán xác định mức giảm giá của các khoản mục có thể xảy racho niên độ kế toán tiếp theo và được phản ánh trong kỳ hiện tại Nếu khoản tríchlập dự phòng mà thực tế chưa xảy ra sẽ ảnh hưởng tới cả Bảng cân đối kế toán vàbáo cáo kết quả kinh doanh Vì khi thực hiện trích lập dự phòng, các tài khoản tàisản bị ghi giảm theo làm giảm vốn đầu tư Mặt khác, giá trị trích lập thường đượcphản ánh vào chi phí trong kỳ và làm giảm lợi nhuận trong kỳ kế toán đó Vì vậy,trong kỳ kế toán quản trị cần thiết phải đánh giá xem liệu rằng mức trích lập dự
Trang 19phòng có phù hợp hay không và nó có xảy ra hay không từ đó có các điều chỉnh saocho phù hợp với mục tiêu quản trị của mình.
+ Các khoản trích trước: là việc phản ánh trước trong kỳ kế toán khoản chi
phí nào đó theo ước tính Vì vậy cần thiết phải điều chỉnh tăng vốn đầu tư và tănglợi nhuận đúng bằng số dư các khoản chi phí trích trước trên bảng cân đối kế toán
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp: Khi tính NOPAT, chúng ta lấy lợi nhuận
trước lãi vay và thuế đã điều chỉnh trừ thuế thu nhập doanh nghiệp Tuy nhiên,chúng ta chỉ trừ số thuế mà doanh nghiệp thực sự trả bằng tiền mặt vì quan điểmkinh tế dựa trên cơ sở dòng tiền thực thu, thực chi Số tiền thuế mà doanh nghiệptrả thì khác với số tiền mà họ ghi nhận là chi phí thuế Điểm chính khi chỉ tính thuế
mà doanh nghiệp thực sự trả bằng tiền mặt là để biết được lợi nhuận thực tế đượctạo ra từ các khoản đầu tư bằng tiền thực sự
Như vậy, EVA khác RI bởi số liệu kế toán để tính EVA sẽ thực hiện nhữngđiều chỉnh như trên Ngoài ra, chỉ tiêu lợi nhuận để tính EVA là lợi nhuận hoạt độngtrước lãi vay sau thuế, còn RI sử dụng lợi nhuận trước thuế Bên cạnh đó, để tính chiphí sử dụng vốn thì EVA sử dụng lãi suất sử dụng vốn trung bình, còn RI sử dụng tỷsuất sinh lời đói hỏi của nhà đầu tư
Trang 20Bảng 1.3 - Bảng phân tích ảnh hưởng của các khoản mục
STT Chỉ tiêu ảnh hưởng Quan điểm khác biệt giữa kế toán
và tài chính
Báo cáo KQKD CĐKT Bảng Điều chỉnh
Doanh thu
Chi phí
Tài sản
nguồn vốn
Lợi nhuận
Vốn đầu tư
1 Các quỹ dự trữ
Không được coi làvốn đầu tư cần phải trừ ra khỏi bảng cân đối kế toán khi tính vốn đầu tư
-2 Các khoản nợ khôngphát sinh lãi
Không được coi làvốn đầu tư cầnphải trừ ra khỏi bảng cân đối
kế toán khi tính vốn đầu tư
-3 Các khoản trích trước Chưa được coi làsự chi ra của vốn
4 Chi phí nghiên cứuphát triển
Là vốn đầu tư phảiđược vốn hoá ghi nhận trên bảng cân đối kế toán
5 Chi phí thuê hoạt động
Tài sản ngoài bảng là vốn đầu tưghi nhận trên bảngcân đối kế toán
6 Các khoản dự phòng Chưa được coi làsự chi ra của vốn
7 Chi phí thuếthu nhập hoãn lại
Chưa được coi là
sự chi ra bằng tiềncần phải trừ ra khỏi báo cáo kết quả kinh doanh
Vốn đầu tư (TC) = Tổng tài sản trên bảng cân đối kế toán – Số dư nợ không phát sinh lãi – Các quỹ dự trữ + Vốn hoá (chi phí nghiên cứu, phát triển; tiềnthuê hoạt động) + số dư dự phòng
Trang 21NOPAT = Lợi nhuận sau thuế + lãi vay x ( 1- thuế suất)+ dự phòng + chi phí trích trước + chi phí R& D + tiền lãi thuê hoạt động x ( 1- thuế suất ) + thuế thu nhập hoãn lại trong kỳ
Ví dụ minh hoạ 3
Bảng 1.4 - Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2005 của công ty X
ĐVT: 1.000.000 đồng
1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 30.752
3 Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ 30.752
Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ 10.549Doanh thu hoạt động tài chính 384Trong đó: Tiền lãi NH
Thu nhập được chia từ việc góp vốn
12372
Trang 22Bảng 1.5 - Bảng cân đối kế toán năm 2005 của công ty X
ĐVT: 1.000.000 đồng
I- Tiền và các khoản tương đương X I- Nợ ngắn hạn 15.476
1 Tiền mặt
2 Tiền gửi ngân hàng
XX
V- Tài sản ngắn hạn khác X II- Nợ dài hạn 12.346
1 Vay dài hạn 9.396
2 Thuế thu nhập hoãn lại
B- Tài sản dài hạn X B- Nguồn vốn chủ sở hữu 26.080
I- Các khoản phải thu dài hạn X
II- Tài sản cố định X
III- Bất động sản đầu tư X
IV- Các khoản đầu tư tài chính dài
hạn
X
- Cuối năm 2005 Công ty X lập dự phòng nợ phải thu khó đòi 300 triệu đồng
- Công ty X thuê hoạt động một tài sản có thời gian thuê 6 năm, số tiền thuê công ty cần thanh toán trong trong mỗi năm như sau:
Trang 23ĐVT: 1.000.000 đồng
Tiền thuê phải trả hàng năm Hiện giá (PV)
Tính EVA của Công ty X khi chưa thực hiện điều chỉnh số liệu kế toán
Bước 1: Tính lợi nhuận hoạt động trước lãi vay và sau thuế (Net
Operating Profit after tax - NOPAT) của công ty X
Bảng 1.6 - Lợi nhuận sau thuế và trước lãi vay của Công ty X
ĐVT: 1.000.000 đồng
1 Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp 2.736
2 Chi phí lãi vay sau thuế = lãi vay trước thuế x ( 1- thuế suất) 427,72
Bước 2: Tính vốn đầu tư (TC)
Từ Bảng cân đối kế toán ta tính được tổng vốn đầu tư của công ty X là : 53.902 triệu đồng
Bước 3: Tính lãi suất sử dụng vốn bình quân của công ty X
- Lãi suất sử dụng nợ vay
Lãi suất dụng nợ vay trước thuế của doanh nghiệp X là 10%
Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 32%
Lãi suất sử dụng nợ vay sau thuế là: 10%x 68%=6,8%
- Lãi suất sử dụng vốn chủ
Trang 24Trong ví dụ, công ty X tính tỷ suất phi rủi ro dựa vào lãi suất hai năm của tráiphiếu chính phủ là 5%, và hệ số Beta ( β) của công ty X vào cuối năm tài chính là1,15 Chi phí sử dụng vốn = 5% + (1,15% x 5%) = 10,75%
Bước 4: Tinh EVA = NOPAT – (TC x WACC) EVA= 3.164 – (53.902*8,71%) = -1.532 triệu đồng
Bảng 1.8 - EVA của Công ty X dựa trên số liệu sổ sách kế toán
ĐVT: 1.000.000 đồng
STT
2 Lợi nhuận trước lãi vay sau thuế 3.164
5 Lãi suất sử dụng vốn bình quân (WACC) % 8,7%
Trang 25Tính EVA của Công ty X khi thực hiện điều chỉnh số liệu kế toán
Chúng ta vẫn thực hiện tính EVA như bốn bước trên, tuy nhiên cần thực hiệnđiều chỉnh NOPAT và vốn đầu tư
Bảng 1 9 - Điều chỉnh vốn đầu tư và lợi nhuận thuần
Chỉ tiêu Vốn đầu tư (TC) Lợi nhuận (NOPAT) Vốn đầu tư ( bảng cân đối kế toán) 53.902
Lợi nhuận trước lãi vay sau thuế sau khi điều chỉnh 4.452 a)Điều chỉnh NOPAT
Lợi nhuận trước lãi vay và sau thuế
+ Dự phòng những khoản nợ phải thu khó đòi: 300 triệu đồng
+ Chi phí lãi tiền thuê hoạt động sau thuế : 1.188 x ( 1-32%)= 808 triệu đồng.+ Thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại phải trả: 180 triệu đồng Chi phí lãi thuê hoạt động trước thuế = 10% x 11.886 = 1.188 triệu đồngTrong ví dụ trên chúng ta sử dụng tỷ lệ chiết khấu là 10% để quy nghĩa vụ phải trảtrong tương lai về hiện tại là 11.866 triệu đồng Như đã giải thích ở trên, giá trị
Trang 26tương lai của khoản tiền thuê được chiết khấu về hiện tại (PV) sử dụng lãi suất vayđược tính từ các báo cáo của doanh nghiệp trong việc thuê vốn.
b) Điều chỉnh vốn đầu tư
- Điều chỉnh giảm những khoản mục không phải là vốn đầu tư
Phải trả người bán 11.132 triệu đồng và chi phí phải trả 1.343 triệu đồng
- Điều chỉnh ngoài bảng cân đối kế toán
Công ty X có nhiều tài sản thuê hoạt động mà về phương diện kinh tế nótương đương với thuê vốn dài hạn và vì vậy, được trình bày là một nghĩa vụ nợ(chúng ta đã tính hiện giá của những khoản nợ là 11.866 triệu đồng)
- Điều chỉnh trong bảng cân đối kế toán:
+Công ty X có dự phòng phải thu khó đòi cuối năm là 300 triệu đồng vì vậy phải ghi tăng vốn đầu tư 300 triệu đồng
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lãi phải trả chưa trả: 180 triệu đồng
Bảng 1.10 - EVA của Công ty X khi đã điều chỉnh số liệu kế toán
1 Lợi nhuận trước lãi vay sau thuế sau khi điều chỉnh 4.452
2 Vốn đầu tư sau khi điều chỉnh 53.793
3 Lãi suất sử dụng vốn bình quân (WACC) % 8,7%
Trang 27khi đã điều chỉnh số liệu kế toán là -234 (Bảng 1.10) Đây chính là sự khác biệt do hạn chế của số liệu kế toán.
Ưu điểm và nhược điểm của thước đo EVA
Ưu điểm của EVA
- Giá trị kinh tế tăng thêm (EVA) là thước đo thành quả hoạt động của doanh nghiệp,EVA có thể khắc phục nhược điểm của các chỉ tiêu đánh giá thành quả hoạt độngtruyền thống như lợi nhuận, ROI, RI,… v.v Một khía cạnh quan trọng là hầu hếtcác chỉ tiêu đánh giá thành quả truyền thống không tính tới chi phí sử dụng vốn.EVA có tính đến chi phí sử dụng vốn và EVA chỉ ra rằng sự tăng trưởng thì khôngmiễn phí và xác định chi phí cho việc sử dụng nguồn vốn để tạo nên tốc độ tăngtrưởng của doanh nghiệp
- EVA được xem như thước đo thành quả hoạt động, nó giúp những nhà quản lý biếtđược làm như thế nào để tạo nên giá trị tăng thêm Các nhà quản lý có thể tạo ra giátrị tăng thêm bằng cách tăng vốn đầu tư để tạo ra lợi nhuận vượt qua chi phí sửdụng vốn; hoặc bằng cách giảm vốn đầu tư để giảm chi phí sử dụng vốn trong khilợi nhuận giảm ít hơn, hoặc bằng cách tăng lợi nhuận bằng cách tăng doanh thuhoặc giảm chi phí hay giảm chi phí sử dụng vốn
- EVA là thước đo tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp dựa trên quan điểm kinh tế, khi sử dụng số liệu trên Báo cáo tài chính đểtính EVA chúng ta đã thực hiện những điều chỉnh vì vậy sẽ tránh được những sailầm do ý muốn chủ quan của kế toán, vì một mục đích nào đó bóp méo số liệu kếtoán để thổi phồng kết quả của bộ phận do mình phụ trách
Nhược điểm của EVA
- Nếu không thực hiện những điều chỉnh khi tính EVA thì EVA khó tránh khỏinhững sai sót Ví dụ như NOPAT là lợi nhuận hoạt động sau khấu hao, nếu mộtdoanh nghiệp không tái đầu tư vốn để duy trì máy móc và thiết bị, giữ những máymóc thiết bị đã lỗi thời trên bảng cân đối kế toán, lúc này chi phí khấu hao khôngđươc nhận diện, nó có thể làm tăng tăng NOPAT
Trang 28- Bởi vì EVA được tính dựa trên vốn đầu tư, vì vậy những doanh nghiệp nào có giá
trị tạo ra phần lớn từ những tài sản hữu hình thì sử dụng EVA phù hợp hơn EVA
sử dụng tốt nhất trong các ngành công nghiệp truyền thống bởi tỷ trọng tài sản cố
định lớn Vì vậy, nó ít phù hợp đối với những doanh nghiệp nào có giá trị tài sản vô
hình lớn Như vậy EVA bộc lộ những giới hạn khi sử dụng trong những ngành
công nghệ cao hay những ngành dịch vụ
- EVA có nhược điểm khi sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động trong ngắn hạn,
EVA là thước đo quá khứ: Lợi nhuận kinh tế cuối năm sẽ không nhất thiết phải
cung cấp một cái nhìn sâu sắc về hiệu quả hoạt động trong tương lai Nếu một
doanh nghiệp trong giai đoạn thực hiện đầu tư, lợi nhuận kinh tế ngay lập tức sẽ
thấp (do có chi phí sử dụng vốn đầu tư cơ bản cao hơn), nhưng dự kiến trong tương
lai sẽ mang lại lợi nhuận kinh tế cao, vì vậy không sử dụng EVA để đánh giá hiệu
quả hoạt động của một doanh nghiệp trong ngắn hạn
Hơn nữa, khi xác định giá trị được tạo ra cho doanh nghiệp và các cổ đông
EVA ngoài việc thúc đẩy cải tiến hiệu năng quản lý thì chưa có bằng chứng nào
chứng minh được EVA giúp các nhà quản lý cải thiện hiệu quả sản xuất của doanh
nghiệp hay của các bộ phận
KẾT HỢP EVA VỚI HỆ THỐNG PHÂN BỔ CHI PHÍ DỰA TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG (ABC-ACTIVITIES BASED COSTING) TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG
1.3.1 Sự cần thiết kết hợp EVA với ABC trong việc đánh giá thành quả hoạt
động EVA là thước đo hữu hiệu để đánh giá thành quả hoạt động của doanh
nghiệp Tuy nhiên, thước đo EVA chỉ có thể đánh giá kết quả sau khi đã thực hiện,
cho chúng ta biết được kết quả thực hiện là tốt hay xấu, và có tạo ra giá trị kinh tế
tăng thêm hay không Vậy làm thế nào để tạo ra giá trị kinh tế và làm tăng thêm giá
trị kinh tế cho doanh nghiệp? Một trong những công cụ có thể phát huy tác dụng
của thước đo EVA chính là sử dụng thước đo này kết hợp với hệ thống phân bổ chi
phí dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) Mô hình ABC xuất phát từ ý tưởng đơn giản:
thiết kế, sản xuất, phân phối sản phẩm dịch vụ đều liên quan đến một số hoạt động
Trang 29định nào đó Mỗi hoạt động này đều tiêu dùng một số nguồn lực nhất định và mỗisản phẩm đều được tạo ra từ một số hoạt động nào đó Vì vậy, sau khi xác định cáchoạt động trong công ty, thì chi phí được xem xét cho từng hoạt động Sau đó chiphí được ghi nhận và phân bổ từ mỗi hoạt động tới từng sản phẩm Ý tưởng cơ bảnchính là sử dụng tính ưu việt của phương pháp phân bổ chi phí theo ABC để tiếnhành phân bổ chi phí sử dụng vốn cho từng hoạt động Từ đó không những giúpnhà quản lý cải thiện hiệu quả sản xuất mà còn cải thiện hiệu quả sử dụng cácnguồn lực qua việc:
- Phân bổ nguồn lực tới các bộ phận, hoạt động hay sản phẩm có khả năng tạo ranhiều giá trị tăng thêm nhất trong điều kiện giới hạn nguồn lực
- Duy trì hợp lý hạn mức hàng tồn kho, giảm vốn ứ đọng không cần thiết, không tạo
Trang 301.3.2 Phương pháp thực hiện
Các bước vận dụng kết hợp EVA với ABC tương tự như việc chỉ vận dụng
mô hình ABC Điểm khác biệt chính là việc xác định chi phí sử dụng vốn cho mỗihoạt động (Bước 4) và kỹ thuật phân tích chi phí sử dụng vốn cho mỗi hoạt độngdựa trên mối liên hệ giữa các khoản mục trên bảng cân đối kế toán với từng hoạtđộng hay khoản mục chi phí Nó sẽ được trình bày chi tiết hơn trong chương 3,trong khi các bước còn lại của quy trình kết hợp được phân tích ở dưới đây:
Bước 1: Đánh giá khái quát về tình hình tài chính của doanh nghiệp
Hầu hết các thông tin về tài chính đều chứa đựng trong bảng cân đối kế toán
và báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Bước 2: Xác định các hoạt động sản xuất chính – phân nhóm chi phí
Xác định các hoạt động chính trong quá trình sản xuất và kinh doanh thôngqua việc sử dụng các nguồn lực cho các hoạt động hoặc số vốn đầu tư được phân
bổ cho từng hoạt động
Bước 3: Xác định các chi phí sản xuất cho mỗi hoạt động
Tính toán chi phí sản xuất cho từng hoạt động giống như phương pháp tậphợp chi phí theo mô hình ABC Điểm khác biệt là chi phí chung, chi phí quản lý,chi phí bán hàng cũng cần được phân bổ cho từng hoạt động
Bước 4: Xác định chi phí sử dụng vốn cho từng hoạt động sử dụng công cụphân tích vốn chung (Activity-Capital Dependence Analysis – ACD)
Đây là điểm mới so với phương pháp ABC truyền thống Mỗi trung tâm hoạtđộng không chỉ chi tiêu các yếu tố đầu vào mà còn cả vốn đầu tư Chi phí được tậphợp cho từng trung tâm hoạt động sẽ cao hơn trong hệ thống ABC Kết quả là,ABC có xu hướng đánh giá thấp hơn đối tượng chịu phí Khi kết hợp EVA vớiABC sẽ xác định cả chi phí sử dụng vốn cho từng trung tâm hoạt động có sử dụngvốn đầu tư hoặc thuê vốn Thông tin về chi phí vốn được xác định từ bảng cân đối
kế toán Sau đó nó được cộng thêm vào chi phí được tính toán theo hệ thống ABC.Bước 5: Tính chi phí sản phẩm:
Trang 31Sau khi phân bổ chi phí cho từng hoạt động, chi phí quản lý, chi phí bán hàng
và chi phí sử dụng vốn được tính cho sản phẩm
Trang 32KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Chương 1 hệ thống hoá những lý luận liên quan đến thước đo giá trị kinh tếtăng thêm – EVA làm cơ sở lý luận nghiên cứu cho các chương sau Khi xem xétvai trò cũng như những ưu điểm của EVA chúng ta có thể khẳng định EVA làthước đo thành quả hoạt động hữu hiệu nhất, nó khắc phục được nhược điểm củacác thước đo truyền thống, chỉ cho nhà quản lý thấy được một thước đo duy nhất đểđánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp Nhờ đó mà các nhà quản lý có thể
ra quyết định một cách kịp thời và chính xác EVA không chỉ giúp cho các nhàquản lý mà còn giúp cho các nhà đầu tư trong việc ra các quyết định Khi sử dụngEVA trong các báo cáo, các doanh nghiệp có thể giúp nhà đầu tư giảm bớt sai lầmtrong đánh giá, vì EVA có xét đến chi phí cơ hội khi sử dụng vốn và việc thực hiệnnhững điều chỉnh các số liệu kế toán cho phù hợp với quan điểm kinh tế sẽ tránhđược sự bóp méo số liệu kế toán do ý muốn chủ quan của nhà kế toán
Bên cạnh đó, kết hợp thước đo EVA với ABC để đánh thành quả hoạt độngcủa doanh nghiệp có thể phát huy tác dụng của thước đo EVA Điểm nổi bật khikết hợp EVA với ABC là: chi phí sử dụng vốn cũng được phân bổ cho từng hoạtđộng Việc chia nhỏ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thành từnghoạt động hay công đoạn không những giúp nhà quản lý xác định chính xác chi phítừng loại sản phẩm mà còn chỉ cho họ thấy được hoạt động nào tạo ra giá trị tăngthêm cần phải duy trì hoạt động, hoạt động nào không tạo ra giá trị tăng thêm cầnphải cải thiện Thước đo EVA kết hợp với ABC là công cụ phản ánh chi phí sảnphẩm chính xác và đầy đủ nhất cho các nhà quản lý
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN DẦU THỰC VẬT TƯỜNG AN
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DẦU THỰC VẬT TƯỜNG AN
Lịch sử hình thành và phát triển của Công
ty Quá trình phát triển
- Trước năm 1975, Tường An là cơ sở sản xuất dầu ăn nhỏ với tên gọi Tường An,
công ty do một người Hoa làm chủ Sau ngày 30/04/1975, cơ sở được nhà nước
tiếp quản và chuyển tên thành Xí Nghiệp Công quản Dầu ăn Tường An Công ty
- 20/11/1977, Bộ lương thực thực phẩm ra quyết định số 3008/LTTP-TC chuyển Xí
Nghiệp Công quản Dầu ăn Tường An thành Xí nghiệp công nghiệp quốc doanh
trực thuộc Công ty dầu thực vật miền Nam Tiếp theo đó là Nhà máy dầu Tường
An trực thuộc Công ty dầu thực vật Hương Liệu Mỹ phẩm Việt Nam
- Nhà máy dầu Tường An được cổ phần hoá theo quyết định số 42/2004/QĐ-BCN
ngày 04 tháng 06 năm 2004 của Bộ Công nghiệp, ngày 01 tháng 10 năm 2004
chính thức trở thành Công ty cổ phần dầu thực vật Tường An với Vốn điều lệ là
189.802.000.000 đồng
- Cổ phiếu của công ty được cấp phép niêm yết tại Sở Giao Dịch Chứng Khoán
TP.HCM vào ngày 06/12/2006 Số lượng cổ phiếu niêm yết là 18.980.200 cổ
phiếu Cổ phiếu của công ty chính thức được giao dịch trên Sở Giao Dịch Chứng
Khoán TP.HCM từ ngày 26/12/2006
- Tháng 11/2008 Công ty chính thức đưa nhà máy dầu Phú Mỹ đi vào hoạt động
Đây là một trong những nhà máy có công suất lớn và công nghệ hiện đại, đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội
Ngành nghề kinh doanh
Trang 34- Sản xuất, mua bán và xuất nhập khẩu các sản phẩm chế biến từ dầu, mỡ động thực vật, từ các loại hạt có dầu, thạch dừa.
- Sản xuất, mua bán các loại bao bì đóng gói
- Mua bán, xuất nhập khẩu các loại máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, chế biến ngành dầu thực vật
- Cho thuê mặt bằng, nhà xưởng
- Sản xuất, mua bán các loại gia vị ngành chế biến thực phẩm, nước chấm, nước sốt (không sản xuất tại trụ sở)
- Sản xuất, mua bán các loại sản phẩm mì ăn liền (mì, bún, phở, bánh đa, cháo ăn liền)
- Đại lý mua bán, ký gửi hàng hoá
- Kinh doanh khu vui chơi giải trí (Không hoạt động tại trụ sở)
- Hoạt động sinh hoạt văn hoá (tổ chức giao lưu, gặp mặt)
- Kinh doanh nhà ở (xây dựng nhà ở để bán hay cho thuê)
Quy mô hoạt động kinh doanh
- Tên đơn vị: Công Ty Cổ Phần Dầu Thực Vật Tường An
- Tên viết tắt: Dầu Tường An
- Tên tiếng Anh: Tuong An Vegetable Oil Joint Stock Company
- Ngày thành lập: 20/11/1977, chuyển sang Công ty Cổ phần từ ngày 01/10/2004
- Địa chỉ: 48/5 Phan Huy Ích, Phường 15, Quận Tân Bình, Tp.Hồ Chí Minh
1 Nhà máy dầu Tường An
Địa chỉ: 48/5 Phan Huy Ích, P 15, Q Tân Bình, Tp HCM
Trang 35Điện thọai: (84.8) 8 153 972 - 8 153 941 - 8 153 950 - 8 151 102
Fax: (84.8) 8 153 649 - 8 157 095
2 Nhà máy dầu Vinh
Địa chỉ: 153 Nguyễn Viết Xuân, P Hưng Dũng, Tp Vinh, Nghệ An.Điện thọai: (84.38) 8 33 898 - 8 38 999
Mạng lưới phân phối:
Mạng lưới phân phối của Tường An với hơn 200 nhà phân phối và đại lý tiêu thụsản phẩm, 100 khách hàng sản xuất công nghiệp và 400 siêu thị, nhà hàng, quán ăn,trường học, nhà trẻ, được xây dựng rộng khắp 64 tỉnh thành trên cả nước
Các Chi nhánh và Văn phòng Đại diện:
1 Chi nhánh miền Bắc
Địa chỉ: Số 916 Bạch Đằng, P.Thanh Lương, Q.Hai Bà Trưng, Tp.HN.Điện thọai: (84.04) 9 843 404
2 Chi nhánh miền Trung
Địa chỉ: Số 54 - 58 Lê Trọng Tấn, Xã Hoà Phát, Huyện Hoà Vang, Tp.ĐàNẵng
Điện thọai: (84.0511) 682 938
3 Văn phòng đại diện miền Tây
Địa chỉ: Số 108/95/16 Nguyễn Việt Hồng, P.An Phú, Q.Ninh Kiều, Tp.Cần Thơ
Điện thọai: (84.071) 831 818 - 731 647
Mục tiêu chất lượng:
Trang 36Đối với Tường An, mục tiêu quan trọng nhất là không ngừng nâng cao chấtlượng sản phẩm, đáp ứng tốt nhất mọi yêu cầu của khách hàng.
Tháng 06/2000, Tường An là một trong những doanh nghiệp đầu tiên ở ViệtNam được tổ chức BVQI của Vương quốc Anh và Quacert - Việt Nam cấp giấychứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9001 phiên bản năm 2000 mới nhất hiện nay Ápdụng và duy trì hiệu quả hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO
9001 phiên bản năm 2000 chính là lời cam kết của Tường An về việc đáp ứng nhucầu ngày càng cao của khách hàng, mang lại sự thỏa mãn cao nhất cho người tiêudùng
Các sản phẩm dầu ăn của Tường An hiện nay rất phong phú và đa dạng vềtính chất và công dụng sản phẩm:
- Các sản phẩm truyền thống gồm có dầu Cooking, dầu Vạn Thọ, dầu Mè, dầu Nành,dầu Phộng, Margarine, Shortening Thông dụng nhất là các loại dầu thực phẩm hỗnhợp (dầu Cooking, dầu Vạn Thọ) chuyên dùng để chiên rán, xào nấu, chế biến cácmón ăn Nhóm sản phẩm dầu ăn cao cấp có giá trị dinh dưỡng cao như dầu Mè, dầuNành, dầu Phộng thích hợp cho các món salad, ướp thịt cá, cho vào thức ăn trẻem,
- Ngoài ra, Tường An là đơn vị đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam nghiên cứu đưa rathị trường dòng sản phẩm có bổ sung các vi chất dinh dưỡng: dầu dinh dưỡng Vio
bổ sung DHA và vitamin A, E chiết xuất từ dầu gấc chuyên dành cho trẻ em và dầuSeason bổ sung vitamin A, D thích hợp cho mọi độ tuổi
Thông tin chi tiết về cơ cấu cổ đông
- Cơ cấu vốn điều lệ tại ngày 23/03/2009
- Mệnh giá cổ phần là 10.000 đồng/1 cổ phần
- Số lượng cổ phiếu là 18.980.200 cổ phiếu
Trang 37Bảng 2.1- Cơ cấu cổ đông Công ty Cổ phần dầu thực vật Tường An Thành phần sở hữu Số cổ phần sở hữu
12/03/2008 Tỷ lệ 23/3/2009 Tỷ lệ
1 Cổ đông nhà nước 9.679.900 51% 9.679.900 51%
2 Cổ đông bên ngoài 3.526.320 18,58% 2.894.490 33,75%
3 Cổ đông nước ngoài 5.773.980 15,25%Tổng cộng 18.980.200 100% 18.980.200 100%
Nguồn: Báo cáo thường niên Công ty Cổ phần dầu thực vật Tường An năm 2008
Công ty dầu thực vật Hương liệu Mỹ Phẩm Việt Nam (VOCARIMEX) làdoanh nghiệp nhà nước được thành lập ngày 27/05/1995, ngày 12/12/2004 chuyểnCông ty sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con Là công ty mẹ củaCông ty cổ phần dầu thực vật Tường An theo quyết định số 175/2004/QĐ-BCNngày 23 tháng 12 năm 2004 của Bộ Công nghiệp Hiện đang nắm giữ 51% vốn cổphần của Công ty Cổ phần Dầu thực vật Tường An
Tổ chức bộ máy quản lý Công ty
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Công ty Cổ phần dầu thực vật Tường An
Trang 3838ĐẠI HỘI ĐỒNG
CỔ ĐÔNG
BAN KIỂM SOÁT
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
GIÁM ĐỐCC NM TRƯỞNG VP ĐẠI
Trang 39Tổ chức kế toán tại Công ty
Chế độ kế toán áp dụng :
Công ty áp dụng Luật kế toán Việt Nam, chuẩn mực kế toán Việt Nam, Chế
độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày20/03/2006
Chính sách kế toán áp dụng :
1 Cơ sở lập Báo cáo tài chính: theo cơ sở dồn tích
2 Tiền và tương đương tiền
Tiền và các khoản tương đương tiền bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng,tiền đang chuyển và các khoản đầu tư ngắn hạn có thời gian thu hồi hoặc đáo hạnkhông quá 3 tháng kể từ ngày mua, dễ dàng chuyển đổi thành một lượng tiền xácđịnh cũng như không có nhiều rủi ro trong việc chuyển đổi
3 Hàng tồn kho
Hàng tồn kho được xác định trên cơ sở giá gốc Gía gốc hàng tồn kho gồmchi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để cóđược hàng tồn kho ở hiện tại
Gía gốc hàng tồn kho được tính theo phương pháp bình quân gia quyền vàđược hạch toán theo phương pháp kê khai thường xuyên
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho được ghi nhận khi giá gốc lớn hơn giá trịthuần có thể thực hiện được Gía trị thuần có thể thực hiện được là giá bán ước tínhcủa hàng tồn kho trừ chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tínhcần thiết cho việc tiêu thụ chúng
4 Các khoản phải thu thương mại và phải thu khác
Các khoản phải thu thương mại và phải thu khác được ghi nhận theo hoáđơn, chứng từ
Dự phòng phải thu khó đòi được lập cho từng khoản nợ căn cứ vào đánh giá
cụ thể về khả năng thu hồi của những khoản nợ
5 Tài sản cố định hữu hình
39
Trang 40Tài sản cố định hữu hình được thể hiện theo nguyên giá trừ hao mòn luỹ kế.Nguyên giá tài sản cố định bao gồm toàn bộ chi phí mà Công ty phải bỏ ra để cóđược tài sản cố định tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sửdụng, Các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu chỉ được ghi tăng nguyên giá tàisản cố định nếu các chi phí này chắc chắn làm tăng lợi ích kinh tế trong tương lai
do sử dụng tài sản đó, Các chi phí không thoả mãn điều kiện trên được ghi nhận làchi phí phát sinh trong kỳ
Khi tài sản cố định được bán thanh lý, nguyên giá và khấu hao luỹ kế đượcxoá sổ, và bất cứ khoản lãi, lỗ nào phát sinh do việc thanh lý đều được tính vào thunhập hay chi phí phát sinh trong kỳ
Tài sản cố định được khấu hao theo phương pháp đường thẳng dựa trên thờigian hữu dụng ước tính Số năm khấu hao của các tài sản cố định chi tiết như sau:
Phương tiện vận tải, truyền dẫn 7-10 năm
Thiết bị, dụng cụ quản lý 2-7 năm
Phần mềm máy tính