Để xây dựng chiến lược phát triển Du lịch của OSC Việt Nam tác giả phân tích được hiện trạng hoạt động của OSC Việt Nam từ 2008 đến năm 2012 ở cả 3 lĩnh vực Du lịch, Dịch vụ Dầu khí và k
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN PHÚ TỤ
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM ngày …
tháng … năm 2014
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được sửa chữa
(nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận Văn
TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHỆ TP HCM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM PHÒNG QLKH – ĐTSĐH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TP HCM, ngày … tháng… năm 2014
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: VŨ MINH LƯỢNG Giới tính: Nam Ngày, tháng, năm sinh: 05/06/1972 Nơi sinh: Nam Định Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh MSHV: 1341820037
I- Tên đề tài: Chiến lược phát triển du lịch của Công ty TNHH MTV Du Lịch Dịch
vụ Dầu Khí Việt Nam đến năm 2020 II- Nhiệm vụ và nội dung:
- Khái quát những nội dung lý luận về chiến lược và Quản trị chiến lược
- Thực trạng môi trường kinh doanh Du lịch ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên du lịch dịch vụ dầu khí Việt Nam Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên du lịch dịch vụ dầu khí Việt Nam đến năm 2012
- Xây dựng một số chiến lược phát triển Du lịch cho Công ty TNHH một thành viên du lịch dịch vụ dầu khí Việt Nam đến năm 2020
- Đề xuất một số giải pháp thực hiện
- Kiến nghị
III- Ngày giao nhiệm vụ: ………
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: ………
V- Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN PHÚ TỤ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
PGS.TS NGUYỄN PHÚ TỤ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Vũ Minh Lượng, lớp Cao học Quản Trị Kinh Doanh niên khóa 2013 –
2014 của Trường Đại Học Công Nghệ TPHCM, Tôi xin cam đoan đây là công trình
ghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
Vũ Minh Lượng
LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các giảng viên Trường Đại học Công Nghệ Thành phô Hô Chí Minh đã tận tình truyền đạt những kiến thức chuyên ngành làm nền tảng lý luận cho Luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Phú Tụ đã tận tình hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hòan thiện luận văn tôt nghiệp này Tôi xin chân thành cảm ơn Hội đồng thành viên, Ban giám đốc, các phòng ban Công ty TNHH MTV Du Lịch Dịch vụ Dầu Khí Việt Nam đã giúp đỡ và cung cấp thông tin, đóng góp ý kiến, xây dựng các thông tin liên quan đến luận văn này
Do hạn chế về năng lực bản thân cũng như về thời gian, mặc dù đã được sự hướng dẫn tận tình của Thầy hướng dẫn và nỗ lực của tác giả, nhưng chắc chắn luận văn không thể không tránh khỏi sự thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp
từ quý Thầy Cô, các chuyên gia, đồng nghiệp và toàn thể bạn bè để luận văn được
Trang 4TÓM TẮT
Công ty Du lịch Dịch vụ Dầu khí Việt Nam (OSC Việt Nam) ) là doanh
nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được thành lập vào
ngày 23 tháng 6 năm 1977 Hoạt động trên ba lĩnh vực chính là Du lịch, Dịch vụ dầu
khí và Kinh doanh bất động sản Được chuyển đổi từ mô hình Công ty TNHH MTV
Du lịch Dịch vụ Dầu khí Việt Nam sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ -
Công ty con Từ khi chuyển sang hoạt động theo mô hình mới, lĩnh vực hoạt động
kinh doanh của Công ty không thay Việc xây dựng một chiến lược kinh doanh dài
hạn nhằm khai thác triệt để các cơ hội, hạn chế những nguy cơ, rủi ro và sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực của OSC Việt Nam trong giai đoạn toàn cầu hoá sẽ giúp
cho OSC Việt Nam có định hướng phát triển bền vững
Trong ba lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của OSC Việt Nam là Dịch vụ Du lịch,
Dịch vụ dầu khí và Kinh doanh bất động sản thì lĩnh vực kinh doanh cơ bản chủ yếu
của OSC Việt Nam là Du lịch và Dịch vụ Dầu khí đã có từ ngày đầu thành lập, dần
đi vào ổn định phát triển ở Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu Kinh doanh du lịch được xác định
là ngành kinh doanh nền tảng của OSC Việt Nam, tạo ra giá trị gia tăng cho sự phát
triển của OSC Việt Nam, được hội đồng thành viên rất quan tâm cho định hướng
chiến lược phát triển lĩnh vực này trên thị trường Qua đó, OSC Việt Nam cũng đặt
ra mục tiêu phấn đấu để trở thành thương hiệu mạnh trong nước và cả khu vực Đông
Nam Á
Để xây dựng chiến lược phát triển Du lịch của OSC Việt Nam tác giả phân
tích được hiện trạng hoạt động của OSC Việt Nam từ 2008 đến năm 2012 ở cả 3 lĩnh
vực Du lịch, Dịch vụ Dầu khí và kinh doanh bất động sản Đề tài đã tập trung đánh
giá các yếu tố bên trong (IFE), ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE), ma trận
hình ảnh cạnh tranh và ma trận SWOT để xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và
thách thức đối với OSC Việt Nam Dựa vào việc phân tích, xác định trên Ma trận
QSPM đề tài đã lựa chọn những phương án chiến lược tối ưu để phát triển OSC Việt
Nam đến năm 2012 Gắn liền với việc đề ra các chiến lược đề tài đưa ra các giải pháp
thực hiện, kiến nghị cho OSC Việt Nam
ABSTRACT
The National Oil Services Company of Vietnam is a governmental company that has been established in Jun 23rd 1977 directly under Ministry of Culture, Sports and Tourism of Vietnam The company’s core businesses are Tourism, Oil Services, Construction and Real Estates and these scope of work remains unchanged despite
of its changing to form of National Oil Services Company of Vietnam Limited(hereinafter “OSC Vietnam”) Planning a long-term business strategy to take every opportunity thoroughly, limit possible risks and use effectively its resources in this globalization stage will help orient OSC Vietnam to a firm development Among the three core businesses of OSC Vietnam, Tourism and Oil Services were born at very earlier stage of the company and have reached a stable development in Ba Ria Vung Tau province Tourism is defined as a foundation business of OSC Vietnam which creates increasing value to OSC Vietnam’s development therefore the Member’s Council always put its development orientation strategy into their much concern
With the aim to buildan OSC Vietnam’s tourism developing strategy, the author analyzed OSC Vietnam’s operation state from 2008 to 2012 on the 3 core businesses, Tourism, Oil Services, Construction and Real Estates The subject focused to internal factor evaluation, external factor evaluation, competitive image matrix and SWOT matrix to define strengths, weaknesses, opportunities and threats to OSC Vietnam
By QSPM matrix analyzing, the subject has selected optimal strategic plans to develop OSC Vietnam till 2020 In addition, it also suggests some recommendations and solution to execute
Trang 5MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 4
1.1 Khái niệm chiến lược, quản trị chiến lược 4
1.1.1 Khái niệm chiến lược 4
1.1.2 Quản trị chiến lược 5
1.2 Vai trò và tầm quan trọng của chiến lược, quản trị chiến lược 6
1.2.1 Vai trò của chiến lược 6
1.2.2 Tầm quan trọng của quản trị chiến lược 7
1.2.3 Mô hình của quản trị chiến lược 9
1.3 Quy trình quản trị chiến lược 10
1.3.1 Phân tích môi trường hoạt động của doanh nghiệp 10
1.3.1.1 Phân tích môi trường bên ngoài EFE 10
1.3.1.2 Phân tích môi trường bên trong IFE 12
1.3.2 Tầm nhìn của tổ chức 15
1.3.3 Sứ mạng của tổ chức 16
1.3.4 Xác định mục tiêu tổ chức 16
1.4 Các công cụ hoạch định và lựa chọn chiến lược 18
1.4.1 Ma trận hình ảnh cạnh tranh 18
1.4.2 Ma trận SWOT 19
1.4.3 Ma trận hoạch định chiến lược có khả năng định lượng QSPM 21
1.5 Một số chiến lược phát triển Du lịch của các quốc gia 22
1.5.1 Chiến lược phát triển Du lịch của Malaysia 22
1.5.2 Chiến lược phát triển Du lịch của Singapore 23
1.5.3 Chiến lược phát triển Du lịch của ThaiLand 24
1.5.4 Bài học kinh nghiệm phát triển Du lịch của Việt Nam 25
Kết luận chương 1 26
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA OSC VIỆT NAM TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 27
2.1 Giới thiệu về Công ty TNHH MTV Du lịch Dịch vụ Dầu khí Việt Nam 27
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 27
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của OSC Việt Nam 29
2.1.3 Ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của OSC Việt Nam 31
2.1.4 Sơ đồ tổ chức và các đơn vị thành viên của OSC Việt Nam 33
2.1.5 Kết quả hoạt động của OSC Việt Nam đến 31/12/2012 34
2.2 Thực trạng chiến lược kinh doanh của Công ty TNHH MTV Du lịch Dịch vụ Dầu khí Việt Nam từ 2008 đến 2012 35
2.2.1 Chiến lược sản phẩm 35
2.2.1.1 Cơ sở vật chất Dịch vụ Du Lịch của OSC Việt Nam ……… …… 36
2.2.1.2 Dịch vụ Dầu khí ……….……… …… 43
2.2.1.3 Bất động sản ……….……… …… …… 43
2.2.2 Chiến lược thị trường 44
2.2.2.1 Thị trường Dịch vụ Du lịch 44
2.2.2.2 Thị trường Dịch vụ Dầu khí 47
2.2.2.3 Thị trường Bất động sản 48
2.2.3 Chiến lược Marketing 49
2.2.3.1 Chiến lược Marketing Dịch vụ Du lịch 49
2.2.3.2 Chiến lược Marketing Dịch vụ Dầu khí 51
2.2.3.2 Chiến lược Marketing Bất động sản 52
2.3 Phân tích môi trường hoạt động kinh doanh của OSC Việt Nam 53
2.3.1 Phân tích môi trường bên ngoài EFE 53
2.3.2 Phân tích môi trường bên trong IFE 59
2.3.3 Ma trận Đánh giá hình ảnh cạnh tranh của OSC Việt Nam 71
Kết luận chương 2 76
Chương 3 : Chiến lược phát triển kinh doanh Du lịch của OSC Việt Nam đến năm 2020 77
3.1 Phương hướng, mục tiêu phát triển của OSC Việt Nam đến năm 2020 77
3.1.1 Các quan điểm chiến lược phát triển của OSC Việt Nam 78
Trang 63.1.2 Xây dựng các mục tiêu chiến lược của OSC Việt Nam 79
3.1.2.1 Mục tiêu tổng quát 79
3.1.2.2 Mục tiêu về tài chính 79
3.1.2.3 Mục tiêu về khách hàng 79
3.1.2.4 Mục tiêu về vận hành 80
3.1.2.5 Mục tiêu về nhân sự, phát triển 80
3.2 Ma trận SWOT 80
3.3 Ma trận QSPM 84
3.4 Giải pháp chiến lược phát triển kinh doanh Du lịch của OSC Việt Nam đến năm 2020 89
3.4.1 Cơ sở xác định chiến lược 89
3.4.2 Các biện pháp thực hiện chiến lược 94
3.4.3 Kết quả đạt được 100
3.5 Giải pháp, kiến nghị 102
Kết luận chương 3 107
Kết luận 108
Tài liệu tham khảo
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB : Ngân hàng phát triển châu á BIDV : Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
CN OSC Việt Nam : Chi nhánh Công ty TNHH MTV du lịch dịch vụ dầu khí Việt Nam
DVKTDK: Dịch vụ kỹ thuật Dầu Khí
FDI : Đầu tư trực tiếp GDP : Tổng thu nhập quốc nội MTV : Một thành viên ODA : Nguồn vốn hỗ trợ phát triển OIC: Công ty CP Đầu tư xây dựng OSC OSC – Việt Nam : Công ty TNHH một thành viên du lịch dịch vụ dầu khí Việt Nam OSC Land: Khu Căn hộ cao cấp
OSC Resco: Công ty CP đầu tư phát triển địa ốc OSC OSC Tech: Công ty TNHH MTV Dịch vụ kỹ thuật dầu khí OSC OSC Vũng Tàu: Công ty Dịch vụ Dầu khí Vũng Tàu
QSPM : Ma trận QSPM SWOT : Ma trận SWOT
TAT: Cơ quan Du lịch Quốc gia Thái Lan
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn VCB : Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam Vietinbank : Ngân hàng công thương Việt Nam
WTO : Tổ chức thương mại thế giới WTTC : Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 – Những yếu tố của môi trường vĩ mô
Bảng 1.2 – Ma trận đánh giá yếu tố môi trường bên ngoài
Bảng 1.3 – Ma trận đánh giá yếu tố môi trường bên trong
Bảng 1.4 – Ma trận Đánh giá hình ảnh cạnh tranh
Bảng 1.5 – Sơ đồ ma trận SWOT
Bảng 1.6 – Ma trận QSPM
Bảng 2.1 – Cơ sở vật chất vật chất lĩnh vực Du lịch của OSC Việt Nam
Bảng 2.2 – Lượng khách du lịch đến OSC Việt Nam
Bảng 2.3 – Thời gian lưu trú của khách du lịch đến OSC Việt Nam
Bảng 2.4 – Doanh thu Dịch vụ Dầu khí của OSC Việt Nam
Bảng 2.5 – Doanh thu Bất động sản của OSC Việt Nam
Bảng 2.6 – Giá phòng các khách sạn của OSC Việt Nam
Bảng 2.7 – Ma trận đánh giá yếu tố môi trường bên ngoài (EFE)
Bảng 2.8 – Số liệu nguồn nhân lực OSC Việt Nam
Bảng 2.9 – Số liệu tài chính của OSC Việt Nam
Bảng 2.10 – Đánh giá các chỉ tiêu cơ cấu tài sản, nguồn vốn và tỷ suất sinh lợi
Bảng 2.11 – Cơ cấu huy động vốn
Bảng 2.12 – Ma trận đánh giá các yếu tố môi trường bên trong (IFE)
Bảng 2.13 – Ma trận Đánh giá hình ảnh cạnh tranh của OSC Việt Nam
Bảng 3.6 – Dự báo số lượng khách đến tỉnh Bà Rịa Vũng tàu
Bảng 3.7 – Nhu cầu nhà ở tại Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH
Hình 1.1 – Mô hình quản trị chiến lược Hình 1.2 – Sơ đồ tổng quát môi trường vi mô Hình 2.1 – Sơ đồ tổ chức của OSC Việt Nam Hình 2.2 – Biểu đồ Khách du lịch đến OSC Việt Nam Hình 2.3 – Biểu đồ Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người Việt Nam Hình 2.4 – Biểu đồ Thu nhập bình quân đầu người Việt Nam
Hình 2.5 – Biểu đồ Nguồn nhân lực OSC Việt Nam
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam, Bà Rịa - Vũng Tàu là một
trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng cao bởi những lợi thế mà ít có địa
phương khác nào có được, đó là Biển Đông một địa điểm du lịch biển thuộc loại tốt
nhất nước và khu vực lại rất gần thành phố Hồ Chí Minh một trong những trung
tâm kinh tế tài chính lớn của đất nước
Cùng với sự đi lên và phát triển của Bà Rịa - Vũng Tàu, những lợi thế to lớn
này cũng đã chắp cánh cho một đơn vị du lịch - dịch vụ dầu khí hàng đầu Việt Nam
ngày càng khẳng định mình trên mảnh đất giàu tiềm năng này đó là Công ty TNHH
Một Thành Viên Du lịch Dịch vụ Dầu khí Việt Nam (OSC Việt Nam) Tuy nhiên
khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, có sự quản lý của nhà nước, trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và
thế giới Trước môi trường kinh doanh luôn biến đổi, cạnh tranh ngày càng gay gắt
như hiện nay, mỗi doanh nghiệp cần tìm cho mình một hướng đi đúng đắn để theo
kịp trào lưu mới, không ngừng nâng cao vị thế cạnh tranh của mình trên thương
trường Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế đất nước, OSC Việt Nam đã gặt
hái được không ít thành công, góp phần đưa ngành du lịch, dịch vụ dầu khí của
Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu nói riêng và của cả nước nói chung lên một tầm cao mới
Là một Doanh nghiệp trực thuộc Bộ văn hóa Thể thao và Du Lịch, gồm
nhiều đơn vị trực thuộc, thành lập từ năm 1977 và được chuyển đổi mô hình thành
Công ty TNHH Một Thành Viên ngày 30/06/2010, kinh doanh trên 5 lĩnh vực
chính: du lịch, dịch vụ dầu khí, xây lắp bất động sản, xuất nhập khẩu, đưa người
Việt Nam đi hợp tác lao động ở nước ngoài, với trên 20 ngành nghề kinh doanh
khác nhau Phạm vi hoạt động của OSC Việt Nam rộng khắp trên cả nước, ngoài
trụ sở chính tại TP Vũng Tàu, OSC Việt Nam còn có chi nhánh ở nhiều địa
phương trên cả nước như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh
OSC Việt Nam đã trở thành một trong những công ty thành công trong lĩnh
vực kinh doanh du lịch, dịch vụ dầu khí và kinh doanh bất động sản trên khắp cả nước, một trong những yếu tố tiên quyết mang lại thành quả vượt bậc này là công
ty đã xây dựng cho mình một chiến lược phát triển đúng đắn Nhưng môi trường kinh doanh luôn biến đổi và Công ty mới được chuyển đổi thành mô hình Công ty TNHH MTV, đòi hỏi OSC Việt Nam phải có một chiến lược phù hợp cho từng giai đoạn phát triển tiếp theo, việc định hướng để xây dựng một chiến lược phù hợp cho một công ty mang tính thiết thực và mang lại lợi ích to lớn cho sự phát triển của công ty thông qua việc phân tích những điểm mạnh, cũng như tồn tại những điểm yếu, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị cần thiết để nâng cao tính cạnh tranh của Doanh nghiệp
Với nguyện vọng đóng góp những kiến thức tác giả đã được đào tạo từ nhà trường, kết hợp với những kiến thức thu thập được trong thực tế nhằm giải quyết những khó khăn cho ngành du lịch của OSC Việt Nam, tạo tiền đề cho việc phát triển ngành du lịch của công ty trong những năm tiếp theo, tác giả chọn đề tài
nghiên cứu “ Chiến lược phát triển du lịch của Công ty TNHH MTV Du Lịch
Dịch vụ Dầu Khí Việt Nam đến năm 2020” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu của đề tài là phân tích tiềm năng và thực trạng lĩnh vực du lịch công ty OSC Việt Nam, phương hướng mở rộng kinh doanh, nhận định những điểm mạnh, điểm yếu, nhận định những cơ hội và thách thức, từ đó định hướng chiến lược phát triển của công ty Bên cạnh đó đề tài cũng đưa ra các giải pháp, các kiến nghị để thực hiện chiến lược
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Công ty TNHH Một Thành Viên Du Lịch Dịch Vụ Dầu Khí Việt Nam là một Công ty trực thuộc Bộ văn hóa Thể thao và Du Lịch, hoạt động kinh doanh trên 5 lĩnh vực chính: Du lịch, Dịch vụ Dầu khí, Xây lắp Bất động sản, Xuất nhập khẩu, đưa người Việt Nam đi hợp tác lao động ở nước ngoài, với trên 20 ngành nghề kinh
Trang 9doanh khác nhau, trong đó lĩnh vực kinh doanh du lịch được thành lập và hoạt động
chủ yếu tại Vũng Tàu Do đó để nội dung nghiên cứu được đi sâu, đề tài tập trung
phân tích môi trường hoạt động kinh doanh chủ yếu của OSC Việt Nam là môi
trường kinh doanh du lịch ở Vũng Tàu, có xem xét đến các mối quan hệ phát triển
của ngành trong phạm vi cả nước Từ đó xây dựng và lựa chọn định hướng chiến
lược phát triển lĩnh vực du lịch của OSC Việt Nam đến năm 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu của tác giả dựa trên các tài liệu hướng dẫn quản trị chiến
lược kinh doanh, các phương pháp nghiên cứu mô tả, phương pháp thống kê dự
báo, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp khảo sát thực tiễn,
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp nghiên cứu tại bàn: các thông tin được thu thập từ sách, báo,
tạp chí, intenet, các số liệu của cục thông kê Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Sở Du Lịch
Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Phòng chiến lược tiếp thị Công ty OSC Việt Nam, số liệu
thống kê tại các công ty kinh doanh du lịch
5 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn gồm có 3 chương như sau:
Chương 1 : Lý luận về Chiến lược và Quản trị chiến lược
Chương 2 : Thực trạng chiến lược phát triển Du lịch của OSC Việt Nam từ năm
1.1.1 Khái niệm chiến lược
Chiến lược là tập hợp những quyết định và hành động hướng tới mục tiêu sao cho các năng lực và nguồn lực đáp ứng được, phù hợp với cơ hội và thách thức của môi trường bên ngoài Chiến lược là những phác thảo trước trong tương lai của một tổ chức Chiến lược chính là kế hoạch của một tổ chức để đạt được các mục đích của mình Các nhà quản lý tổ chức thường không biết rõ điều họ muốn làm hoặc làm sao để đạt được mục tiêu đó Trong trường hợp này, các tổ chức phải đi vào phân tích các chiến lược kinh doanh của tổ chức mình
Chiến lược không chỉ định ra một phương án mà phải định ra nhiều phương
án, phải có kịch bản định sẵn, rõ ràng để nếu đi vào thực hiện sẽ không bị lúng túng Khi hoạch định chiến lược thì công tác dự báo phải hết sức được chú ý, phải
có cơ sở khoa học vì đó là những quyết định trước cho tương lai Các tổ chức cần
có những kế hoạch chiến lược được tính toán cận thận hoặc hết sức chắc chắn nếu không các tổ chức sẽ trở thành nạn nhân của thị trường thay vì trở thành những người chiến thắng định hình ra nó Các kế hoạch chiến lược không thể được hình thành xa rời thực tế mà phải phù hợp với tổ chức, cũng như các kế hoạch tiếp thị phải phù hợp với sản phẩm Hai giai đoạn riêng biệt đặc trưng cho việc lập kế hoạch chiến lược là hình thành và thực thi Các chiến lược nên luôn đưa ra được những kế hoạch có tính khả thi cao Phát triển chiến lược là gắn liền với việc phát triển vị thế cạnh tranh và thông qua lợi thế cạnh tranh Sự khác biệt của một tổ chức tạo nên lợi thế cạnh tranh, chiến lược là sự lựa chọn, sự đánh đổi trong cạnh tranh Trong một chiến lược cần phải lựa chọn được những gì và không cần những
gì, chiếc lược được tạo ra từ sự phối hợp giữa các hoạt động của một tổ chức Cạnh tranh là sự tranh giành giữa các bên, các tổ chức với nhau Do đó nếu không có vị thế tốt trong ngành, trong lĩnh vực sẽ dẫn đến cạnh tranh khó khăn, các tổ chức
Trang 10phải có lợi thế cạnh tranh Tổ chức nào biết sử dụng, phát huy lợi thế của mình thì
ngày càng phát triển Xây dựng lợi thế, phát triển lợi thế, duy trì lợi thế bằng cách
dựa vào sự khác biệt của các tổ chức để tạo ra lợi thế cạnh tranh Tổ chức này có
thể làm bằng cách này, tổ chức khác làm bằng cách khác, có thể thực hiện các hoạt
động khác nhau hoặc cùng hoạt động nhưng thực hiện bằng những cách khác nhau
Tuyệt đối không thực hiện bằng sự sao chép, học mót, bắt chước, đừng hy vọng
rằng người ta làm cách này thành công thì mình sao chép cũng thành công Nếu
làm như vậy sẽ luôn luôn trở thành người đi sau, mà phải đi bằng chính con đường
của mình vạch ra Trong chiến lược phải xác định những vấn đề gì cần làm trước,
những vấn đề gì làm sau, những vấn đề được ưu tiên và những vấn đề không ưu
tiên…Các nhà quản trị phải xem xét trong nền kinh tế vĩ mô hiện nay đang xảy ra
những mâu thuẫn gì, nên chọn chất lượng tăng trưởng hay chỉ số tăng trưởng
1.1.2 Quản trị chiến lược
Quản trị chiến lược là một quá trình sắp xếp linh hoạt các chiến lược, tình
hình hoạt động và kết quả kinh doanh, nó bao gồm nhân lực, lãnh đạo, kỹ thuật và
cả phương pháp xử lý Sự kết hợp có hiệu quả của những nhân tố này sẽ trợ giúp
cho phương hướng chiến lược và cung cấp dịch vụ hoàn hảo Đây là một hoạt động
liên tục để xác lập và duy trì phương hướng chiến lược và hoạt động kinh doanh của
một tổ chức, quá trình ra quyết định hàng ngày để giải quyết những tình huống đang
thay đổi và những thách thức trong môi trường kinh doanh Như một phần trong ý
tưởng chiến lược về phát triển hoạt động kinh doanh, tổ chức phải vạch ra một
phương hướng cụ thể, tuy nhiên những tác động tiếp đó về mặt chính sách (như tổ
chức có mục tiêu hoạt động mới) hoặc tác động về mặt kinh doanh (như nhu cầu về
dịch vụ tăng cao) sẽ làm phương hướng hoạt động của tổ chức thay đổi theo chiều
khác Điều này cũng hàm ý cả trách nhiệm giải trình của nhà quản trị khi nhà quản
trị quyết định xem nên có những hành động điều chỉnh để đi đúng hướng đã định
hay đi theo một hướng mới, nó cũng liên quan đến cách điều hành tổ chức nếu các
mối quan hệ với các đối tác thay đổi
Quản trị chiến lược bao gồm xây dựng chiến lược của tổ chức sau đó tiến hành thực hiện chiến lược và đánh giá chiến lược Xây dựng chiến lược là phân tích môi trường, bối cảnh của chiến lược, bao gồm cả môi trường bên ngoài và môi trường bên trong của tổ chức, từ đó tìm ra cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh, điểm yếu của tổ chức để tiến hành phát triển những cơ hội, điểm mạnh sẵn có và ngăn chặn những nguy cơ, hạn chế những điểm yếu của tổ chức nhằm định hướng chiến lược phát triển của tổ chức
Xây dựng chiến lược bao gồm xây dựng chiến lược chung của tổ chức, xây dựng chiến lược cho các đơn vị chiến lược, xây dựng chiến lược chức năng (như chiến lược marketing, chiến lược tài chính …) Thực hiện chiến lược là đưa chiến lược vào thực hiện thông qua nhiều các kế hoạch tác nghiệp Việc triển khai các kế hoạch tác nghiệp là các nhà quản trị cấp trung gian, cấp cơ sở và đội ngũ nhân viên Kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh chiến lược: Chiến lược có thể xảy ra tình trạng không đúng theo dự báo do đó các nhà quản trị cần phải đánh giá và điều chỉnh chiến lược Kiểm tra phải được tiến hành đồng thời với quá trình hoạch định chiến lược và hoạch định tác nghiệp để đảm bảo việc thực hiện các kế hoạch và đánh giá kết quả thực hiện được Nếu các kế hoạch không đem lại những kết quả mong muốn, thì nhà quản trị phải xem xét thay đổi nhiệm vụ, các mục tiêu, các chiến lược hay các biện pháp đã vạch ra Sự đánh giá toàn diện với các kết quả hoạch định sẽ tìm ra các khuyết điểm và lặp lại tiến trình hoạch định với các điều chỉnh cần thiết
1.2 Vai trò và tầm quan trọng của chiến lược, quản trị chiến lược 1.2.1 Vai trò của chiến lược
Giúp cho các doanh nghiệp thấy rõ mục đích và hướng đi của mình Từ đó nắm vững được việc gì cần làm và khi nào thì đạt đến thành công Giúp nhà quản trị nhằm vào các cơ hội và thách thức trong tương lai Từ đó, nhà quản trị có khả năng nắm bắt tốt các cơ hội và giảm bớt thách thức liên quan đến điều kiện môi trường của doanh nghiệp
Giúp cho doanh nghiệp chủ động ứng phó với những thay nhanh và phức tạp của môi trường kinh doanh hiện nay Từ đó giúp doanh nghiệp thích nghi với môi
Trang 11trường và làm chủ được diễn biến tình hình Giúp doanh nghiệp giảm bớt rủi ro gặp
phải các vấn đề trầm trọng và tăng khả năng của công ty trong việc tranh thủ các cơ
hội xuất hiện trong môi trường
Chúng ta dễ dàng thấy được vai trò quan trọng của chiến lược trong việc phát
triển kinh tế Là người người Lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp chúng ta cần phải
có một chiến lược để thành công Chiến lược kinh doanh nhìn về tương lai xa hơn
của công ty Các Lãnh đạo công ty rất dễ quên và bỏ qua chiến lược kinh doanh bởi
vì họ rất bận rộn với công việc hiện tại Trong trường hợp này, chúng ta không thể
biết làm thế nào để định vị được công việc kinh doanh của mình và hiện nó đang ở
vị trí nào Chúng ta phải quyết định tương lai của doanh nghiệp hoặc là nó sẽ mất đi
vị trí trên thị trường vào tay các đối thủ cạnh tranh Các quốc gia trên thế giới từ lâu
đã biết vận dụng chiến lược vào việc phát triển kinh tế và đã có được những bước
nhảy thần kỳ
1.2.2 Tầm quan trọng của quản trị chiến lược
Quản trị chiến lược giúp cho tổ chức (doanh nghiệp) đạt được mục tiêu một
cách có định hướng và mang tính hệ thống Nếu tổ chức xác định đúng mục tiêu thì
đó là đích để tổ chức hướng tới, các tổ chức đều hướng tới đích, hướng tới mục
tiêu bằng nhiều con đường khác nhau
Quản trị chiến lược giúp thấy rõ các mục tiêu của tổ chức, thông qua đó lôi
kéo các nhà quản trị của các cấp vào quá trình quản trị chiến lược của tổ chức, tạo
ra sự cộng hưởng của toàn bộ tổ chức nhằm đạt tới các mục tiêu chung Thông qua
quản trị chiến lược sẽ quan tâm đầy đủ đến các thành phần liên quan của tổ chức
Sự tồn tại và phát triển của một tổ chức đòi hỏi phải thỏa mãn, đáp ứng được nhu
cầu của các tổ chức và cá nhân có liên quan như các khách hàng, các nhà cung cấp,
những người lao động, những người chủ sở hữu… Tất cả các tổ chức và cá nhân có
liên quan tới sự phát triển của một tổ chức đó là các thành phần liên quan của tổ
chức, chúng có ảnh hưởng qua lại với các hoạt động, cũng như sự thành bại của tổ
chức
Quản trị chiến lược gắn sự phát triển ngắn hạn trong bối cảnh dài hạn Nghĩa
vụ của các nhà quản trị là phải bảo đảm sự phát triển bền vững trong tổ chức Do vậy các nhà quản trị cần có quan điểm dài hạn, có tầm nhìn chiến lược cho sự phát triển của tổ chức Những mục tiêu chiến lược dài dạn là cơ sở quan trọng cho các
kế hoạch và mục tiêu ngắn hạn Thông qua các mục tiêu và kế hoạch ngắn hạn để đạt tới các mục tiêu, chiến lược dài hạn Trong điều kiện môi trường kinh doanh thay đổi nhanh và bất định thì năng lực thích ứng của tổ chức đóng vai trò rất quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của tổ chức Quản trị chiến lược quan tâm đến cả hiệu suất và hiệu quả trong quản trị Khi các tổ chức xác định đúng mục tiêu, hướng tới mục tiêu đúng thì sẽ tạo ra kết quả
Kết quả Hiệu quả = Kết quả - Chi phí ; Hiệu suất = Chi phí Hiệu quả là việc tổ chức xác định đúng mục tiêu Hiệu suất là việc tổ chức khai thác và sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý nhất, tiết kiệm nhất, thực hiện
và đạt mục tiêu với chi phí thấp nhất Quản trị phải nhằm đưa tổ chức đạt tới các mục tiêu với hiệu suất cao nhất
Trang 12Đo lường
và đánh giá mức thực hiện
vụ của công ty
Phân bổ nguồn lực
Lựa chọn chiến lược để theo đuổi
Đặt ra mục tiêu thường
Đề ra chính sách bộ phận
1.2.3 Mô hình của quản trị chiến lược
Thông tin phản hồi
(Nguồn: Giáo trình Quản trị chiến lược, NXB Đại học KTQD)
Hình 1.1 – Mô hình quản trị chiến lược
Hoạch định
chiến lược
Thực thi chiến lược
Đánh giá chiến lược
1.3 Quy trình quản trị chiến lược 1.3.1 Phân tích môi trường hoạt động của doanh nghiệp
Môi trường là tập hợp các yếu tố không thuộc hệ thống tổ chức nhưng lại có mối quan hệ tương tác với hệ thống tổ chức
1.3.1.1 Phân tích môi trường hoạt động bên ngoài (EFE)
Là tập hợp các yếu tố bên ngoài tổ chức có liên quan đến hoạt động của tổ chức, bao gồm các yếu tố hoạt động trực tiếp và gián tiếp Yếu tố hoạt động trực tiếp là những yếu tố gây ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những hoạt động chính của tổ chức như đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, khách hàng …Yếu tố hoạt động gián tiếp không tác động trực tiếp đến quyết định của nhà quản trị như
sự biến động của kinh tế và công nghệ, các khuynh hướng xã hội và chính trị… Môi trường bên ngoài của một doanh nghiệp có thể chia làm hai mức độ: môi trường vĩ mô và môi trường vi mô
Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp doanh nghiệp trả lời cho câu hỏi: Doanh nghiệp đang đối diện với những gì? Các doanh nghiệp thường chọn các yếu
tố chủ yếu sau đây của môi trường vĩ mô để nghiên cứu:
Bảng 1.1 - Những yếu tố của môi trường vĩ mô
Văn hoá - Xã hội:
- Thái độ đối với chất lượng đời sống
- Các nguồn tài nguyên
- Ô nhiễm, Thiếu năng lượng, nhiên liệu
Trang 13Phân tích môi trường bên ngoài doanh nghiệp (EFE): Các yếu tố thuộc môi
trường vĩ mô bao gồm các yếu tố như yếu tố kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hoá –
xã hội, dân số, tự nhiên, công nghệ… Trong quá trình xây dựng chiến lược chúng ta
không thể bỏ qua phân tích các yếu tố này Các yếu tố thuộc môi trường vi mô: Đây
là các yếu tố tác động trực tiếp đến nghành như yếu tố nhà cung cấp, khách hàng,
đối thủ cạnh tranh, các đối thủ tiềm ẩn,các sản phẩm thay thế
Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp (EFE) này cho phép các
nhà chiến lược tóm tắt và lượng hoá các thông tin kinh tế, xã hội, văn hoá, nhân
khẩu, địa lý, chính trị, pháp luật, công nghệ và đối thủ cạnh tranh Có 5 bước trong
việc phát triển một Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài:
Bước 1: Liệt kê các yếu tố bên ngoài chủ yếu từ 10-20 yếu tố cơ hội và nguy
cơ chủ yếu có ảnh hưởng đến sự thành công của Công ty trong lĩnh vực kinh doanh
Bước 2: Phân loại tầm quan trọng từ 0.0 (Không quan trọng) đến 1.0 (Rất
quan trọng) cho mỗi yếu tố Tầm quan trọng được ấn định của các yếu tố cho thấy
tầm quan trọng tương đối của yếu tố đó với thành công của các doanh nghiệp trong
ngành kinh doanh Tổng số các mức phân loại được ấn định cho các nhân tố này
phải bằng 1.0
Bước 3: Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố quyết định sự thành công để cho
thấy cách thức mà các chiến lược hiện tại của công ty phản ứng với yếu tố này
Trong đó, 4 là phản ứng tốt nhất, 3 là phản ứng trên trung bình, 2 là phản ứng trung
bình, 1 là phản ứng ít
Bước 4: Nhân tầm quan trọng của mỗi biến số với loại của nó để xác định số
điểm về tầm quan trọng
Bước 5: Cộng tổng số điểm về tầm quan trọng cho mỗi biến số để xác định
tổng số điểm quan trọng cho tổ chức Số điểm trung bình là 2,5 nếu tổ chức có tổng
số điểm nhỏ hơn 2,5 tức là chiến lược của tổ chức đề ra không tận dụng tốt cácc cơ
hội hoặc không tránh được các mối đe doạ từ bên ngoài, cò nếu lớn hơn 2,5 tức là
chiến lược hiện tại của tổ chức phản ứng rất tốt với các cơ hội và mối đe doạ hiện
tại
Bảng 1.2: Ma trận đánh giá yếu tố môi trường bên ngoài (EFE)
STT Các yếu tố bên ngoài
Mức độ quan trọng
Phân loại
(Nguồn : Kết quả khảo sát của tác giả)
1.3.1.2 Phân tích môi trường hoạt động bên trong (IFE)
Là tập hợp các yếu tố bên trong, tạo nên hoạt động của hệ thống tổ chức, gồm các cấu trúc, hệ thống tài chính, hệ thống marketing, văn hoá tổ chức … Môi trường bên trong còn gọi là môi trường có kiểm soát của tổ chức, nhà quản trị có thể chủ động tạo ra hoặc thay đổi theo hướng có lợi cho việc thực hiện mục tiêu của tổ chức Ta có sơ đồ thể hiện các loại cấp độ môi trường của doanh nghiệp như sau:
Áp lực từ Người cung cấp : Số lượng và quy mô nhà cung cấp, khả năng thay thế
sản phẩm của nhà cung cấp, thông tin về nhà cung cấp Nhà cung cấp cung cấp nguyên vật liệu và thiết bị đầu vào cho doanh nghiệp nên họ có thể đe dọa khi họ có thể thúc ép nâng giá hoăc phải giảm yêu cầu đầu vào Cơ hội khi chúng ta có thể ép giảm giá và yêu cầu chất lượng cao hơn
Áp lực từ khách hàng: Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực
tiếp tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành Khách hàng thường gây
áp lực với doanh nghiệp về giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đi kèm và chính họ
là người điều khiển cạnh tranh trong ngành thông qua quyết định mua hàng
Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn: Đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện
chưa có mặt trong ngành nhưng có thể ảnh hưởng tới ngành trong tương lai Đối thủ tiềm ẩn nhiều hay ít, áp lực của họ tới ngành mạnh hay yếu sẽ phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Trang 14+ Sức hấp dẫn của ngành, yếu tố này được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỉ
suất sinh lợi, số lượng khách hàng, số lượng doanh nghiệp trong ngành
+ Những rào cản gia nhập ngành
Hình 1.2: Sơ đồ tổng quát môi trường vi mô
(Nguồn: Giáo trình Quản trị chiến lược, NXB Đại học KTQD)
Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế: Sản phẩm và dịch vụ thay thế là những
sản phẩm, dịch vụ có thể thỏa mãn nhu cầu tương đương với các sản phẩm dịch vụ
trong ngành Sự xuất hiện của sản phẩm thay thế rất đa dạng và phức tạp, tạo ra
nguy cơ cạnh tranh về giá rất mạnh đối với sản phẩm cũ Nhân tố thúc đẩy mạnh
nhất của sản phẩm thay thế là sự tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ
Các đối thủ cạnh tranh trong ngành
Sự tranh đua của các doanh nghiệp hiện có trong ngành
Các đối thủ mới tiềm ẩn
Người
cung
cấp
Sản phẩm, dịch vụ thay thế
Người mua
Thách thức do các đối thủ cạnh tranh mới
Thách thức do các sản phẩm và dịch vụ thay thế
Áp lực cạnh tranh trong nội bộ ngành: Các doanh nghiệp đang kinh doanh trong
ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với nhau tạo ra sức ép cho ngành làm cho cường độ cạnh tranh gay gắt hơn Trong một ngành các yếu tố sau sẽ làm gia tăng sức ép cạnh tranh lên các đối thủ:
+ Tình trạng ngành: nhu cầu, độ tốc độ tăng trưởng, đối thủ cạnh tranh + Cấu trúc của ngành: ngành tập trung hay phân tán
+ Các rào cản giống như các rào cản gia nhập ngành, rào cản rút lui là các yếu
tố khiến cho việc rút lui khỏi ngành của doanh nghiệp trở nên khó khăn
Phân tích môi trường bên trong doanh nghiệp (IFE): Đây là yếu tố trong nội bộ
doanh nghiệp, các yếu tố này ta có thể kiểm soát được Các yếu tố như tình hình sản xuất, tài chính, kỹ thuật, nhân sự, phân phối, tiếp thị… Sẽ giúp cho nhà hoạch định chiến lược thấy được điểm mạnh, điểm yếu so với đối thủ cạnh tranh
Để phát triển một Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong thì nhận xét trực giác là cần thiết, vì vậy về mặt hình thức của phương pháp khoa học phải được diễn dịch để cho thấy rằng đây là kỹ thuật hiệu quả nhất Ma trận này cho phép tóm tắt
và đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu quan trọng trong môi trường nội bộ của doanh nghiệp Cách xây dựng Ma trận (IFE) này cũng được triển khai theo 5 bước: Bước 1: Lập danh mục chủ yếu từ 10-20 yếu tố có vai trò quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành kinh doanh
Bước 2: Phân loại tầm quan trọng từ 0.0 (Không quan trọng) đến 1.0 (quan trọng nhất) cho mỗi yếu tố Tầm quan trọng được ấn định cho các yếu tố cho thấy tầm quan trọng tương đối của yếu tố đó với thành công của doanh nghiệp trong ngành kinh doanh
Bước 3: Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố đại diện Trong đó, 4 là điểm mạnh lớn nhất, 3 là điểm mạnh nhỏ nhất, 2 là điểm yếu nhỏ nhất, 1 là điểm yếu nhất
Bước 4: Nhân tầm quan trọng của mỗi yếu tố với phân loại của nó để xác định số điểm phân loại tương ứng
Bước 5: Cộng tổng số điểm về tầm quan trọng cho mỗi yếu tố để xác định
Trang 15tổng số điểm quan trọng cho tổ chức Số điểm là 2,5 trở lên thì doanh nghiệp có
năng lực cạnh tranh tuyệt đối trên mức trung bình, nếu tổ chức có tổng số điểm nhỏ
hơn 2,5 tức là chiến lược của tổ chức đề ra không tận dụng tốt các cơ hội hoặc
không tránh được các mối đe dọa từ bên ngoài
Bảng 1.3: Ma trận đánh giá yếu tố môi trường bên trong (IFE)
STT Các yếu tố bên trong
Mức độ quan trọng
Phân loại
Tổng
điểm
1 Thương hiệu Công ty OSC – VN
2 Cơ cấu bộ máy tổ chức
Là một hình ảnh, một bức tranh sinh động về những điều có thể xảy ra của tổ
chức trong tương lai Tầm nhìn gợi ra một định hướng cho tương lai, một khát vọng
của tổ chức về những điều mà tổ chức muốn đạt tới Tầm nhìn bao hàm một ý nghĩa
của một tiêu chuẩn tuyệt hảo, một điều lý tưởng, thể hiện một sự lựa chọn các giá
trị, có tính chất độc đáo, nhằm đến việc tạo ra một mục tiêu đặc biệt
Tầm nhìn tổ chức phản ánh những cảm xúc, tình cảm mà ngưới khác gìn giữ
được về tổ chức này và những công việc của tổ chức Trong ngắn hạn, một tổ chức
có thể hoạt động dựa trên những kinh nghiệm và những thành công trước đây Tuy
nhiên, trong dài hạn tầm nhìn tổ chức là cơ sở không thể thiếu được, dựa trên đó tổ
chức tạo ra và duy trì ý nghĩa nhân bản đối với tất cả những người có liên quan với
tổ chức Khi đã có một tầm nhìn cho tương lai của tổ chức, trách nhiệm của những
người lãnh đạo của tổ chức là phải truyền tầm nhìn của tổ chức đến mọi thành viên
của tổ chức, biến nó thành một tầm nhìn chung được chia sẻ bởi tất cả mọi người
Tầm nhìn thường được thể hiện trong các tuyên bố về sứ mạng, tầm nhìn được viết
ra về những khát vọng, những điều mà tổ chức muốn trở thành và đạt tới trong
tương lai Nhà quản trị phải tiến hành giải thích, truyền tầm nhìn đến người lao động thông qua việc giải thích các bộ phận hợp thành của tầm nhìn bằng những lời nói đơn giản, truyền cảm và bằng những hành động làm gương của mình
1.3.3 Sứ mạng của tổ chức
Sứ mạng là lý do tồn tại của tổ chức, ý nghĩa của sự tồn tại và các hoạt động của tổ chức Sứ mạng được thể hiện dưới dạng bản tuyên bố về sứ mạng của tổ chức, sứ mạng thể hiện rõ hơn những niềm tin và những chỉ dẫn hướng tới những tầm nhìn đã được xác định như:
Đối với thị trường: Cung cấp các sản phẩm – dịch vụ cao cấp với chất
lượng quốc tế và am hiểu bản sắc địa phương; mang tính độc đáo và sáng tạo cao
Bên cạnh giá trị chất lượng vượt trội, trong mỗi sản phẩm – dịch vụ đều chứa đựng
những thông điệp văn hóa, nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu chính đáng của khách hàng
Đối với cổ đông và đối tác: Đề cao tinh thần hợp tác cùng phát triển, cam
kết trở thành “Người đồng hành số một” của các đối tác và cổ đông, luôn gia tăng các giá trị đầu tư hấp dẫn và bền vững
Đối với xã hội: Hài hòa lợi ích doanh nghiệp với lợi ích xã hội, đóng góp
tích cực vào các hoạt động hướng về cộng đồng
Sứ mạng của tổ chức chính là bản tuyên ngôn của tổ chức đối với xã hội, nó chứng minh tính hữu ích của tổ chức đối với xã hội Bản tuyên bố về sứ mạng tạo
cơ sở quan trọng cho việc lựa chọn đúng đắn các mục tiêu và các chiến lược của tổ chức, giúp tạo lập và củng cố hình ảnh của tổ chức trước xã hội, cũng như tạo ra sự hấp dẫn đối với các đối tượng hữu quan
1.3.4 Xác định mục tiêu
Mục tiêu là sự cụ thể hóa nội dung, là phương tiện để thực hiện thành công bản tuyên bố về sứ mạng của tổ chức Mục tiêu được hoạch định phụ thuộc vào những điều kiện bên ngoài và bên trong của tổ chức trong mỗi giai đoạn và thống nhất với bản tuyên bố về sứ mạng Mục tiêu là những trạng thái, những cột mốc,
những tiêu chí cụ thể mà tổ chức muốn đạt được trong khoảng thời gian nhất định
Trang 161.3.4.1 Mục tiêu dài hạn
Là những mục tiêu đòi hỏi phải thực hiện trong một khoảng thời gian dài,
thường khoảng 5 năm trở lên Những mục tiêu dài hạn thường gắn với những quyết
định có tính chiến lược, phạm vi thường rộng hơn nhiều so với mục tiêu ngắn hạn
Mặc dù tuyên bố về sứ mạng của tổ chức là cụ thể và rõ ràng hơn so với tầm nhìn,
nhưng tuyên bố về sứ mạng vẫn chưa đủ để chỉ dẫn cụ thể các hoạt động của tổ
chức Vì thế, nếu tuyên bố về sứ mạng là một nỗ lực để thể hiện tầm nhìn một cách
rõ ràng, thì các mục tiêu chiến lược nhằm để thực hiện các sứ mạng một cách cụ thể
hơn
Các mục tiêu chiến lược bao gồm cả mục tiêu tài chính và phi tài chính Hệ
thống các mục tiêu chiến lược của tổ chức phải thể hiện được những chỉ dẫn, những
hoạt động của tổ chức nhằm đáp ứng được các nhu cầu và lợi ích của các đối tượng
liên quan Do đó mục tiêu chiến lược bao gồm một hệ thống các mục tiêu cả về số
lượng và chất lượng, tài chính và phi tài chính
Các mục tiêu chiến lược phải hiện thực khi những người lao động đưa ra
những nỗ lực cần thiết Các mục tiêu là cơ sở quan trọng của động viên, vì thế nó
phải mang tính thách thức Các mục tiêu thách thức luôn đòi hỏi người lao động
phải có những nỗ lực cao nhất và đem hết khả năng để thực hiện nhiệm vụ Điều
này tạo ra những thành tựu to lớn cho tổ chức, đồng thời cũng tạo ra sự thỏa mãn
cho người lao động
Các mục tiêu chiến lược liên quan tới hoạt động và kết hợp các chức năng
khác nhau của tổ chức, thể hiện sự chuyên môn hóa trong hoạt động của tổ chức
Việc hình thành và làm cho mọi người trong tổ chức hiểu rõ các mục tiêu chiến
lược của tổ chức sẽ hướng hoạt động của họ vào việc đạt tới các mục tiêu chiến
lược, tạo ra sự hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau và tạo ra sự cộng hưởng các sức mạnh và
nguồn lực của các bộ phận trong việc đạt tới các mục tiêu chiến lược của toàn bộ tổ
chức
1.3.4.2 Mục tiêu ngắn hạn
Là những mục tiêu có thời hạn thực hiện khoảng một năm trở lại, thường
gắn với các quyết định chiến thuật và tác nghiệp những mục tiêu ngắn hạn thường rất cụ thể và định lượng Việc phát triển các mục tiêu ngắn hạn đúng đắn sẽ xác định sự thành công hay thất bại của một chiến lược Các mục tiêu ngắn hạn có thể được xem như nền tảng, từ đó các mục tiêu chiến lược được thực hiện Các mục tiêu ngắn hạn thường có các đặc tính cụ thể, có thể đo lường được, có thể giao cho mọi người, có khả năng thực hiện, có giới hạn cụ thể về thời gian
Các mục tiêu ngắn hạn phải đưa ra các chỉ dẫn phù hợp, phải tạo điều kiện cho tổ chức đủ năng động trong việc thích ứng với những thay đổi của môi trường bên ngoài và bên trong Mỗi thay đổi xảy ra từ môi trường bên trong hay bên ngoài đều có nghĩa là tổ chức phải thay đổi, điều chỉnh các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của mình
Các mục tiêu ngắn hạn phải bảo đảm nhằm đạt tới các mục tiêu dài hạn của chiến lược tổng thể và hội nhập có hiệu quả vào chiến lược chung Các nhà quản trị luôn luôn phải bảo đảm rằng việc thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu ngắn hạn phải được đặt trong bối cảnh của chiến lược và mục tiêu chung nhằm đạt tới các mục tiêu dài hạn, sứ mạng và tầm nhìn của tổ chức
1.4 Các công cụ hoạch định và lựa chọn chiến lược 1.4.1 Ma trận hình ảnh cạnh tranh
Ma trận hình ảnh cạnh tranh giúp doanh nghiệp nhận diện các đối thủ cạnh tranh chủ yếu và những ưu, khuyết điểm của họ từ đó doanh nghiệp có chiến lược phù hợp Ma trận hình ảnh cạnh tranh là sự mở rộng của Ma trận các yếu tố bên ngoài trong trường hợp các mức độ quan trọng, phân loại và tổng số điểm quan trọng có cùng ý nghĩa, tổng số điểm cộng lại đánh giá so sánh với công ty mình Việc phân tích, so sánh này cung cấp thông tin quan trọng cho chiến lược phát triển của Công ty
Trang 17Bảng 1.4 : Ma trận Đánh giá hình ảnh cạnh tranh
STT Các yếu tố
Mức
độ quan trọng
OSC Việt Nam
Sài Gòn Tourist
Du Lịch Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Phân loại
Điểm quan trọng
Phân loại
Điểm quan trọng
Phân loại
Điểm quan trọng
1 Thương hiệu công ty
2 Cơ cấu bộ máy tổ
chức
3 … vvv …
Tổng cộng 1,00
(Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả)
1.4.2 Ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ (SWOT) :
Ma trận SWOT là phương pháp phân tích về môi trường chiến lược, nghiên
cứu môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp là một phần quan trọng trong
quy trình hoạch định chiến lược Các yếu tố bên trong của doanh nghiệp thường
được coi là các điểm mạnh ( S – Strengths) hay điểm yếu (W – Weaknesses) và các
yếu tố bên ngoài doanh nghiệp được gọi là cơ hội ( O – Opportunities) và nguy cơ (
T – Threats):
Điểm mạnh (S) của doanh nghiệp gồm các nguồn lực và khả năng có thể sử dụng
như cơ sở hạ tầng, vị trí, nền tảng để phát triển lợi thế cạnh tranh như thương hiệu,
uy tín Công ty, khả năng tiếp xúc với khách hàng
Điểm yếu (W) có đặc điểm như thương hiệu ít người biết đến, chi phí cao, mất uy
tín, khả năng tiếp cận cới khách hàng thấp
Cơ hội (O) doanh nghiệp có khả năng tạo ra lợi nhuận, đáp ứng đầy đủ nhu cầu cần
thiết của khách hàng, công nghệ mới, các thông tư quyết định của chính phủ
Nguy cơ (T) do những thay đổi của môi trường bên ngoài có thể tạo nguy cơ như thị
hiếu tiêu dùng của khách hàng chuyển từ sản phẩm này sang sản phẩm khác, sự
xuất hiện của đối thủ cạnh tranh, các rào cản thương mại
Ma trận SWOT này giúp cho nhà quản trị phát triển 4 loại chiến lược sau:
Các chiến lược S-O (điểm mạnh-cơ hội) : Sử dụng những điểm mạnh bên trong của
tổ chức Doanh nghiệp để tận dụng cơ hội bên ngoài
Các chiến lược S-T (Điểm yếu-nguy cơ): Sử dụng điểm mạnh của tổ chức Doanh nghiệp để tránh khỏi hay giảm thiểu ảnh hưởng thiệt hại của những mối nguy cơ đe dọa từ bên ngoài
Các chiến lược W-O (điểm yếu-cơ hội): nhằm cải thiện, khắc phục những điểm yếu bên trong bằng cách tận dụng nắm bắt những cơ hội bên ngoài
Các chiến lược W-T (điểm yếu-nguy cơ): Là những chiến lược phòng thủ nhằm giảm thiểu những điểm yếu bên trong và tránh khỏi những mối đe dọa từ môi trường bên ngoài Mục đích của mỗi công cụ kết hợp là để đề ra các chiến lược khả thi có thể chọn lựa Việc lựa chọn chiến lược nào phù hợp là còn phụ thuộc vào mục tiêu của từng tổ chức
Bảng 1.5 – Sơ đồ ma trận SWOT
Ma trận SWOT
Những cơ hội ( O) Những thách thức ( T)
Liệt kê các cơ hội theo thứ
tự quan trọng O1, O2, O3
Liệt kê các thách thức theo thứ tự quan trọng T1,T2, T3
Những điểm mạnh (S) Các chiến lược kết hợp
để khai thác các cơ hội
1 Tối thiểu hoá các thách thức, hạn chế các điểm yếu
(Nguồn: Khái luận về Quản trị chiến lược, NXB Thống Kê năm 2003)
Trang 181.4.3 Ma trận hoạch định chiến lược có khả năng định lượng: (QSPM)
Căn cứ vào chức năng, mục tiêu, nhiệm vụ của doanh nghiệp chúng ta có thể
dùng Ma trận hoạch định chiến lược để định lượng (Quantitative Strategic Planning
Matrix – QSPM) Ma trận hoạch định chiến lược có thể định lượng các thông tin
đầu vào từ các ma trận IFE, EFE, SWOT để đánh giá khách quan các chiến lược
thay thế tốt nhất Phương pháp xây dựng một Ma trận QSPM :
Bước 1: Liệt kê các cơ hội, mối đe doạ từ bên ngoài và các điểm mạnh, điểm
yếu bên trong doanh nghiệp (cột 1) Lấy thông tin từ các ma trận IFE và EFE
Bước 2: Phân loại cho mỗi yếu tố thành công quan trọng bên trong và bên
ngoài (cột 2) Lấy thông tin từ các ma trận IFE và EFE
Bước 3: Xác định các phương án chiến lược mà doanh nghiệp xem xét thay
thế thực hiện (dòng 2 của các chiến lược có thể thay thế)
Bước 4: Xác định số điểm hấp dẫn của mỗi chiến lược ứng với mỗi yếu tố
quan trọng (cột 3 và cột 5) Chỉ có những chiến lược trong cùng một nhóm mới
được so sánh với nhau Số điểm hấp dẫn là: 1= không hấp dẫn, 2= ít hấp dẫn, 3=
khá hấp dẫn, 4= rất hấp dẫn
Bước 5: Tính tổng số điểm hấp dẫn của từng chiến lược ứng với mỗi yếu tố
quan trọng là kết quả của (cột 2 x cột 3 = cột 4, cột 2 x cột 5 = cột 6)
Bước 6: Cộng tổng số điểm hấp dẫn của từng chiến lược cho toàn bộ các yếu
tố quan trọng, số điểm càng cao chiến lược àng hấp hẫn
Bảng 1.6: Ma trận QSPM
STT Các yếu tố
Các chiến lược có thể thay thế
Phân loại
Chiến lược Thâm nhập
Chiến lược Phát triển
1 Thương hiệu công ty OSC-VN
2 Cơ cấu bộ máy tổ chức
(Nguồn : Kết quả khảo sát của tác giả)
1.5 Một số chiến lược phát triển Du lịch của các quốc gia 1.5.1 Chiến lược phát triển Du lịch của Malaysia
Malaysia là đất nước có ngành Du lịch phát triển Năm 2010, Malaysia đã đón được 24,6 triệu lượt khách du lịch quốc tế và thu nhập từ du lịch đạt 17,93 tỷ USD Mục tiêu phát triển du lịch của Malaysia đến năm 2020 trở thành nước phát triển về du lịch hàng đầu trong khu vực và quốc tế Thông điệp chính của ngành du lịch thể hiện mục tiêu và quan điểm phát triển trên: “Định vị Malaysia là điểm đến
du lịch hàng đầu trong nhận thức thị trường và xây dựng ngành du lịch thành ngành
có đóng góp chính trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Mười thị trường khách du lịch hàng đầu của Malaysia theo thứ tự quan trọng bao gồm Singapore, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc, Brunay, Ấn Độ, Anh, Australia, Philipines và Nhật Bản
Trong chiến lược chung của Malaysia về chuyển dịch kinh tế, ngành Du lịch xây dựng kế hoạch chuyển dịch phát triển du lịch đến năm 2020 tập trung vào việc phát triển sản phẩm và thị trường có khả năng chi trả cao, đẩy mạnh chương trình tiêu dùng của khách du lịch Hai hướng chính trong quan điểm phát triển là: bảo vệ,
Trang 19bảo tồn và giữ gìn môi trường: phát triển du lịch xanh, giải thưởng khách sạn xanh,
chiến dịch quốc gia về một Malaysia xanh, một Malaysia sạch và phát triển toàn
diện, chú trọng tính cân bằng và tính bền vững (tầm quan trọng của lợi ích cộng
đồng) Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay Malaysia xác định phải có
những sáng kiến và cải tiến trong phát triển sản phẩm Các sáng kiến tập trung vào
tổ chức các sự kiện tầm quan trọng quốc gia gồm: “Malaysia ngôi nhà thứ 2 của tôi”
để khuyến khích người nước ngoài mua nhà tại Malaysia để đi lại nghỉ ngơi, du lịch
và kéo theo người thân và bạn bè tới du lịch tại đây Ngoài ra, Malaysia cũng tập
trung vào duy trì và khuếch trương sản phẩm du lịch mua sắm Tập trung các sản
phẩm cho thị trường du lịch cao cấp và xác định địa điểm cụ thể và từng hoạt động:
nghỉ dưỡng tại các khu du lịch, vui chơi giải trí, các loại hình thể thao, các địa điểm
mua sắm Đặc biệt tập trung vào đẩy mạnh du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục và
cuối cùng là du lịch MICE
1.5.2 Chiến lược phát triển Du lịch của Singapore
Từ giữa những năm 1980, Chính phủ Singapore đầu tư hàng trăm triệu USD
nâng cấp các điểm thắng cảnh văn hóa và lịch sử Sân bay Changi dù liên tục được
bầu là sân bay tốt nhất thế giới vẫn đang được đầu tư 1,8 tỉ đôla Singapore để nâng
cấp Về mặt tiện nghi, Singapore dám quảng bá là một thủ đô ẩm thực và mua sắm
bậc nhất châu Á Nhưng khả năng điều chỉnh mới mang tính chiến lược nhất Thành
công của ngành du lịch Singapore chính là thành công trong điều chỉnh chiến lược
phát triển du lịch trước những thay đổi kinh tế và xã hội bên ngoài Singapore đang
tập trung xây dựng thành trung tâm triển lãm và hội nghị hàng đầu châu Á, trung
tâm dịch vụ và giải trí bậc nhất nhằm thực hiện tham vọng tăng khách du lịch lên 17
triệu người, thu nhập từ du lịch 30 tỉ đôla Singapore và tạo 250.000 việc làm vào
năm 2015 Du lịch là một trong những ngành mũi nhọn tại Singapore nhờ mức đóng
góp 5% GDP Với dân số chỉ 4 triệu người và diện tích hơn 600km2, hằng năm
Singapore thu hút gần 8 triệu khách du lịch, tạo thu nhập khoảng 11 tỉ đôla
Singapore và hơn 150.000 việc làm Năm yếu tố tạo thành công cho du lịch
Singapore bắt nguồn từ năm chữ A trong tiếng Anh là: điểm thắng cảnh
(Attractions), phương tiện giao thông (Accessibility), cơ sở tiện nghi (Amenities), các dịch vụ hỗ trợ (Ancillary services) và sự điều chỉnh phù hợp về chính sách (Adjustment)
1.5.3 Chiến lược phát triển Du lịch của ThaiLand
Thái Lan là nước có ngành du lịch phát triển mạnh ở châu Á Truyền thống văn hóa và sự mến khách của nhân dân Thái Lan là yếu tố quan trọng góp phần tăng cường thu hút khách du lịch đến với đất nước này Ngành du lịch là ngành thu được nguồn ngoại tệ chủ yếu và cao hơn các ngành sản xuất khác của Thái Lan Hàng năm, Thái Lan đón một lượng khách du lịch quốc tế trên 10 triệu lượt người Thị trường khách quốc tế chủ yếu của Thái Lan là các nước trong khối ASEAN, châu
Á, châu Âu như Pháp, Đức, Bỉ Năm 2005, Chính phủ Thái Lan đang đẩy mạnh đầu
tư vào ngành công nghiệp không khói này với mục tiêu đón 13 triệu khách quốc tế,
đem về 409 tỷ baht (tương đương khoảng 10 tỷ USD) Năm 2013, Thái Lan dự kiến đón khoảng 26 triệu khách Doanh thu dự kiến cũng chỉ đạt khoảng từ 1.150 tỷ đến 1.170 tỷ bạt Trong hơn 10 tháng của năm 2013, tổng số khách du lịch nước ngoài vào Thái Lan được ghi nhận là tăng 21.2% lên tới 24,14 triệu người Cơ quan Du lịch Quốc gia Thái Lan, gọi tắt (TAT) là cơ quan quản lý nhà nước cao nhất, có trách nhiệm xúc tiến và phát triển du lịch Thái Lan TAT là cơ quan trực thuộc Chính phủ, hoạt động độc lập
Tuy nhiên, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thái Lan về du lịch là tăng cường, tập trung thu hút khách, tăng nguồn thu cho ngân sách, vì vậy Chính phủ, Cơ quan Du lịch Quốc gia Thái Lan (TAT) đã đưa ra các chính sách cụ thể nhằm xúc tiến, phát triển du lịch trong giai đoạn như:
Khôi phục và giữ gìn các tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường, văn hóa nghệ thuật thông qua việc ưu tiên phát triển du lịch bền vững
Thúc đẩy hợp tác giữa khu vực nhà nước và tư nhân, phối hợp với cộng đồng địa phương trong quá trình khai thác, phát triển và quản lý tài nguyên du lịch
Hỗ trợ phát triển các đối tượng cung cấp dịch vụ cho du khách thông qua việc áp dụng các tiến bộ về khoa học, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin
Trang 20Tăng cường hợp tác với các nước láng giềng, quảng bá phát triển các hệ
thống thông tin liên lạc, mạng lưới giao thông và các tiện ích phục vụ du lịch
Khuyến khích phát triển nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ
du lịch cả về số lượng và chất lượng
Thực hiện nghiêm túc các quy định trong việc đảm bảo an ninh cho du khách
và môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp du lịch
1.5.4 Bài học kinh nghiệm phát triển Du lịch của Việt Nam
Sau giải phóng, nền kinh tế nước ta cũng gặp rất nhiều khó khăn vì chiến
tranh Từ năm 1976 đến 1980, thu nhập quốc dân tăng rất chậm, kết quả này do
nhiều nguyên nhân trong đó có cả “do khuyết điểm, sai lầm của các cơ quan Đảng
và Nhà nước ta từ trung ương đến cơ sở về lãnh đạo và quản lý kinh tế, quản lý xã
hội”dẫn tới "chủ quan, nóng vội, đề ra những nhiệm vụ và chỉ tiêu của kế hoạch
nhà nước quá cao so với khả năng, những chủ trương sản xuất, xây dựng, phân
phối, lưu thông thiếu căn cứ xác đáng, dẫn đến lãng phí lớn về sức người, sức của,
rất bảo thủ, trì trệ trong việc chấp hành đường lối của Đảng và nhiều nghị quyết của
Trung ương, trong việc đánh giá và vận dụng những khả năng về nhiều mặt của đất
nước kéo dài cơ chế quản lý quan liêu bao cấp với cách kế hoạch hóa gò bó, cứng
nhắc, không đề cao trách nhiệm và mở rộng quyền chủ động cho cơ sở, địa phương
và ngành Duy trì quá lâu một số chính sách kinh tế không còn thích hợp, cản trở
sản xuất và không phát huy nhiệt tình cách mạng và sức lao động sáng tạo của
những người lao động
Việt Nam bắt đầu chủ trương hội nhập kinh tế từ sau Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VIII năm 1996 Hội nhập kinh tế của Việt Nam diễn ra càng ngày càng nhanh
và càng sâu Từ chỗ chỉ hợp tác thương mại thông thường đã tiến tới hợp tác kinh tế
toàn diện, từ chỗ hợp tác song phương đã tiến tới hợp tác kinh tế đa phương Đến
đầu năm 2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức
Thương mại thế giới (WTO) Sau ba năm, trên con đường hội nhập quốc tế, nước ta
đã tham gia đầy đủ các định chế kinh tế toàn cầu, mở rộng thị trường hàng hóa dịch
vụ, đầu tư quốc tế, đổi mới mạnh mẽ hơn và đồng bộ hơn các thể chế, đồng thời, cải tiến nền hành chính quốc gia theo hướng hiện đại Chúng ta đã vượt qua những khó khăn bước đầu và từng bước đạt được những thắng lợi nhất định, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên, tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau, và một số văn kiện khác Thành tựu mà chúng ta đạt được là rất quan trọng và thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng và nhà nước
Kết luận chương 1
Xây dựng chiến lược phải đảm bảo tuân thủ theo các bước: Hình thành chiến lược, thiết lập các mục tiêu Triển khai chiến lược bằng cách đề ra các biện pháp và phân bổ các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu đó Kiểm tra đánh giá lại kết quả
so với các mục tiêu đề ra từ đó đưa ra các điều chỉnh thích hợp nhằm mang lại kết quả tốt hơn
Việc áp dụng quản trị chiến lược ở các tổ chức là hết sức cần thiết Không chỉ đơn thuần các doanh nghiệp kinh doanh lớn mới cần xây dựng chiến lược hoạt động mà ngay cả các tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng cần xây dựng cho mình một chiến lược
Chiến lược kinh doanh có thể được coi như là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của tổ chức, góp phần vào sự thành công đặc biệt trong môi trường kinh doanh đầy biến động như hiện nay
Việc lựa chọn chiến lược phải phù hợp với mục tiêu và định hướng chung của nhà nước và đặc thù của từng địa phương
Kinh nghiệm từ những nước có ngành du lịch phát triển trên thế giới và nhất
là các nước có điều kiện phát triển ngành du lịch giống như chúng ta sẽ rất quan trọng, nó sẽ giúp cho chúng ta rất nhiều trong việc lựa chọn chiến lược phù hợp
Trang 21CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA OSC VIỆT
NAM TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2012
2.1 Giới thiệu về Công ty TNHH MTV Du lịch Dịch vụ Dầu khí Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Từ ngày thành lập 23-6-1977 đến cuối năm 1979, để phục vụ sự nghiệp thăm
dò và khai thác dầu khí, Công ty TNHH một thành viên Du lịch Dịch vụ dầu khí
Việt Nam (OSC Việt Nam) được thành lập từ tiền thân là Công ty Phục vụ dầu khí
Vũng Tàu - Côn Đảo Vào thời điểm đó, OSC Việt Nam là đơn vị có nhiệm vụ phục
vụ các sinh hoạt cho chuyên gia trong nước và quốc tế vào giúp Việt Nam thăm dò,
khai thác dầu khí tại thêm lục địa phía Nam ngoài khơi biển Bà Rịa - Vũng Tàu
Thời điểm đó OSC Việt Nam gặp nhiều khó khăn Bộ máy hoạt động lúc đó
chỉ có gần 100 CBCNV được tập hợp từ nhiều nơi, nhiều nguồn, phần lớn là học
sinh chuyên nghiệp Miền Bắc mới ra trường, không ít người từ lực lượng vũ trang,
bộ đội, công an chuyển ngành Đội ngũ lãnh đạo chỉ có hơn 10 người, ngoại ngữ
không thông thạo, địa bàn chưa quen biết, phần lớn chưa có kinh nghiệm trong lĩnh
vực phục vụ chuyên gia nước ngoài
Từ năm 1980 đến 1987, Nước ta ký kết Hiệp định hợp tác Dầu khí với Liên
Xô đây là sự kiện quan trọng, là cơ hội mở ra thế lực mới cho OSC Việt Nam Năm
1981, Chính phủ hai nước đã ký hiệp định thành lập Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí
Việt – Xô là liên doanh đầu tiên của Việt Nam với nước ngoài OSC Việt Nam tiếp
tục được Nhà nước giao nhiệm vụ phục vụ toàn bộ việc ăn ở, đi lại, giải trí, tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho đội ngũ trên 1000 chuyên gia dầu khí Liên Xô cùng gia
đình họ, góp phần quan trọng trong việc thăm dò và phát hiện dòng dầu đầu tiên vào
năm 1986 của Xí nghiệp LDDK Vietsovpetro OSC Việt Nam đồng thời được Tổng
cục Du lịch chỉ đạo là một trong 5 công ty kinh doanh du lịch trong cả nước đón
khách quốc tế, mà chủ yếu là khách từ Liên Xô và Đông Âu Tiếp nhận và quản lý
trường Nghiệp vụ Du lịch Vũng Tàu theo mô hình Trường bên cạnh doanh nghiệp
để đáp ứng cho công tác đào tạo huấn luyện, xây dựng nguồn nhân lực cho OSC Việt Nam và cho ngành
Từ năm 1988 đến năm 1999, Với sự năng động, sáng tạo, OSC Việt Nam
vượt qua những thách thức mới, chuyển hướng hoạt động sang nhiều lĩnh vực Thời
kỳ này Việt Nam đã có luật đầu tư riêng, Đại hội VI của Đảng đưa ra đường lối đổi mới đất nước OSC Việt Nam là một trong số ít những doanh nghiệp đi đầu trong việc làm ăn với các đối tác nước ngoài hợp tác giúp vốn thành lập các liên doanh trên các lĩnh vực thuộc lĩnh vực hoạt động và lợi thế tiềm năng của mình Thời kỳ này, lĩnh vực dịch vụ dầu khí khẳng định thương hiệu khi thắng thầu các hợp đồng quốc tế, phạm vi hoạt động đã vượt xa ra ngoài lãnh thổ Việt Nam; lĩnh vực kinh doanh du lịch và xây dựng tiếp tục duy trì và phát triển mạnh mẽ; với 20 ngành nghề khác nhau Giai đoạn này, bộ máy tổ chức của OSC Việt Nam phát triển lên
10 đơn vị hạch toán phụ thuộc, 8 đơn vị liên doanh nước ngoài, 1 công ty cổ phần, 1 công ty TNHH, 12 khách sạn (trong đó có 4 khách sạn quốc tế 3 sao, 5 khách sạn quốc tế 2 sao), 1 khu căn hộ cao cấp, 36 biệt thự với tổng cộng 1095 phòng ngủ
và nhiều thiết bị chuyên dùng hiện đại cùng với nhiều kho tàng bến bãi, bảo đảm phục vụ kinh doanh du lịch, dịch vụ dầu khí, xây lắp
Từ năm 2000 đến 2009, Đây là giai đoạn OSC Việt Nam thu được nhiều kết quả tốt đẹp trên cả lĩnh vực dịch vụ dầu khí, du lịch và vươn xa hơn, rộng lớn hơn qua việc cải tạo nâng cấp hệ thống khách sạn trực thuộc OSC Việt Nam hiện có 2 khách sạn tiêu chuẩn tương đương 4 sao là Grand và Palace, trong đó Grand là khách sạn đầu tiên tại thành phố Vũng Tàu vận hành tiêu chẩn ISO 9001 - 2000 Về lĩnh vực dịch vụ dầu khí, OSC Việt Nam tiếp tục ký kết và triển khai tốt các hợp đồng dịch vụ dầu khí gồm cung cấp dịch vụ hậu cần sinh hoạt trọn gói trên các tàu, giàn khoan; cung cấp vật tư, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác thăm dò và khai thác dầu khí; tăng cường công tác đào tạo, đưa lao động Việt Nam dần thay thế lao động nước ngoài Giai đoạn này, OSC Việt Nam đã đạt được mục tiêu: Đẩy mạnh kinh doanh tổng hợp, đa dạng các ngành nghề, trong đó tập trung vào hai lĩnh vực then chốt là du lịch và dịch vụ dầu khí; đạt tăng trưởng thấp nhất từ 10% trở
Trang 22lên, bảo toàn và phát triển vốn, bảo đảm việc làm và thu nhập ổn định cho người lao
động; sắp xếp và đổi mới mô hình tổ chức công ty theo hướng cổ phần hoá từng
đơn vị, nhằm tạo bước chuyển cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp,
tập trung nguồn vốn cho dự án mới
Từ năm 2010 đến nay, Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về sắp
xếp đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty Du lịch dịch vụ dầu khí Việt Nam đã
được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch phê duyệt phương án chuyển đổi thành Công
ty TNHH MTV Du lịch Dịch vụ dầu khí Việt Nam hoạt động theo mô hình công ty
mẹ - công ty con OSC Việt Nam đã có chiến lược mới và đang từng buớc tái cấu
trúc doanh nghiệp Giai đoạn này, ngoài hai lĩnh vực kinh doanh then chốt là du lịch
và dịch vụ dầu khí, OSC Việt Nam đẩy mạnh và phát triển một lĩnh vực đầy tiềm
năng là kinh doanh bất động sản, bất động sản du lịch đã tham gia vào thị trường
bất động sản nói chung các sản phẩm như văn phòng cho thuê, căn hộ Du lịch cho
thuê cao cấp, căn hộ nhà ở Một số dự án tiêu biểu OSC Việt Nam đã đầu tư như
Khu Căn hộ cao cấp OSC Land, tổ hợp khách sạn – khu căn hộ cao cấp tiêu chuẩn 5
sao ở trung tâm Bãi Trước - Vũng Tàu, khu cao ốc văn phòng tại thành phố Hồ Chí
Minh…
Với mô hình và sức mới, với kinh nghiệm từng trải và đội ngũ CBCNV lành
nghề, đủ bản lĩnh và năng động OSC Việt Nam đủ sức vươn xa và phát triển nhanh
chóng, khẳng định một thương hiệu OSC Việt Nam với ba trụ cột chính: Du lịch,
Dịch vụ Dầu khí và Bất động sản
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của OSC Việt Nam.
2.1.2.1 Chức năng
Sau ngày miền nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, để thực
hiện công nghiệp hóa, Ðảng và Nhà nước ta đề ra nhiệm vụ đặc biệt coi trọng công
tác thăm dò và khai thác dầu mỏ, khí đốt, chuẩn bị các điều kiện xây dựng nhà máy
chế biến Mặc dù vừa ra khỏi chiến tranh, đất nước còn nhiều khó khăn, đang bị bao
vây, cấm vận, nhưng ngay từ đầu, nước ta chủ trương phát triển dầu khí toàn diện,
hoàn chỉnh, đồng bộ, cả tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến, cả dịch vụ kỹ thuật
và dịch vụ đời sống, Dịch vụ đời sống, dịch vụ ăn ở, bảo đảm các điều kiện làm việc ở đất liền cũng như ở các tàu, giàn khoan ngoài biển, đồng hành với quá trình phát triển ngành công nghiệp dầu khí Bằng tầm nhìn chiến lược, ta đã đón nhận chuyên gia các nước tiên tiến, có nhiều kinh nghiệm thăm dò, khai thác và dịch vụ dầu khí như Italia, CHLB Ðức, Canada, Pháp, Na Uy đến Việt Nam Chinh phủ giao cho một số bộ, ngành chuẩn bị bộ máy để kinh doanh phục vụ người nước ngoài
2.1.2.2 Nhiệm vụ
Ngày 23-6-1977, theo Quyết định số 1305/NV/QÐ của Bộ Nội vụ, Công ty phục vụ dầu khí Vũng Tàu - Côn Ðảo ra đời, trực thuộc Công ty Du lịch Việt Nam Ðây là sự kiện khởi đầu quan trọng, đáng nhớ của nhiều thế hệ cán bộ, công nhân, viên chức OSC Việt Nam Nhờ nhận thức đúng tầm quan trọng của nhiệm vụ được giao, cán bộ, công nhân viên công ty đã đoàn kết trên dưới một lòng, tất cả vì việc chung OSC Việt Nam vừa tập trung đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, vừa bắt tay phục vụ Với hơn 200 chuyên gia nước ngoài ăn ở cố định, doanh thu ban đầu của OSC Việt Nam đạt hơn năm triệu USD, chưa kể tiền đồng Việt Nam, đã khẳng định hướng đi đúng, củng cố niềm tin cho công ty Nhưng, điều quan trọng là qua phục
vụ chuyên gia, từ cán bộ lãnh đạo, quản lý đến công nhân, viên chức công ty đã thu được nhiều kinh nghiệm quý báu
Sau khi Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Việt-Xô (Vietsovpetro) ra đời, chuyên gia Liên Xô đến làm việc ngày càng đông Không ít Chuyên gia đã đưa cả gia đình sang Vũng Tàu sinh sống, thể hiện quyết tâm công tác lâu dài với ngành dầu khí non trẻ của Việt Nam Phục vụ hơn 1.000 chuyên gia vốn đã khó khăn, bảo đảm cuộc sống cho gia đình họ, còn khó khăn, phức tạp hơn Ước tính nguồn thu dịch vụ dầu khí từ phía Liên Xô lúc bấy giờ khoảng hơn 60 tỷ rúp Phải nói rằng, sự đóng góp rất đáng tự hào của đội ngũ cán bộ, công nhân viên OSC Việt Nam cho ngành dầu khí, chính là từ việc làm này, từ công tác hậu cần, dịch vụ toàn diện đời sống cho chuyên gia dầu khí Liên Xô và các nước khác Bám sát dịch vụ dầu khí, tất cả cho sự nghiệp dầu khí của Tổ quốc là nhiệm vụ xuyên suốt từ ngày thành lập
Trang 23công ty đến nay Ðó là lý do ra đời và cũng là nguyên nhân tồn tại của OSC Việt
Nam Ðây là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho OSC Việt Nam, một
doanh nghiệp nhà nước, vượt qua được nhiều khó khăn trong chuyển đổi, tồn tại,
phát triển, giữ được thương hiệu trong cơ chế thị trường
Cùng với phục vụ dầu khí, kinh doanh du lịch cũng là một nhiệm vụ quan
trọng, xuyên suốt của OSC Việt Nam Kinh doanh du lịch và dịch vụ dầu khí có
mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau Phải có kinh doanh du lịch, cả trong và ngoài
nước, OSC Việt Nam mới có kinh phí bảo dưỡng, phát triển cơ sở vật chất của mình
để làm tốt dịch vụ dầu khí Nhờ phục vụ chuyên gia dầu khí, OSC có đối tượng
phục vụ ổn định, lâu dài, có nguồn ngoại tệ, tăng doanh thu để OSC Việt Nam mở
rộng kinh doanh du lịch Có thể ví hai nhiệm vụ chiến lược này là đôi cánh chim để
OSC Việt Nam bay lên, bay chẳng lạc đường Ðể thực hiện hai nhiệm vụ ấy, ở thời
kỳ 10 năm đầu, do yêu cầu phải tự cân đối, OSC đã phát triển hệ thống dịch vụ
khép kín, từ sản xuất, kinh doanh dịch vụ dầu khí, du lịch đến cả đầu tư liên kết với
nhiều nhà máy, nông trường nuôi trồng cây con ở các địa phương, tham gia cả kinh
doanh xuất nhập khẩu, xây lắp các công trình, nhà khách, khách sạn, bệnh viện
Trong hoàn cảnh cơ chế bao cấp, kế hoạch hóa, cách làm của OSC Việt Nam, có
phần "phá rào", thời kỳ ấy được coi là năng động, sáng tạo, nhiều năm OSC Việt
Nam được vinh danh là con chim đầu đàn của ngành du lịch
2.1.3 Ngành nghề và Lĩnh vực hoạt động kinh doanh của OSC Việt Nam
Trong những năm qua, kể từ ngày thành lập, OSC Việt Nam đã gặt hái được
nhiều thành quả, tạo dựng cho mình một thương hiệu vững chãi, phát triển mạnh
mẽ và khẳng định được vị thế của mình trên các lĩnh vực:
Dịch vụ Du lịch:
Lữ hành: Tổ chức các tour du lịch trong nước và quốc tế Thiết kế và tổ
chức các chương trình MICE theo yêu cầu Thiết kế và tổ chức các chương trình du
lịch nước ngoài kết hợp công việc như thăm thân, học tập kinh nghiệm, khảo sát thị
trường Tổ chức các tour du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh Dịch vụ hộ chiếu, visa
Dịch vụ vận chuyển cho thuê xe du lịch đời mới từ 04 – 45 chỗ Dịch vụ đặt phòng
khách sạn Dịch vụ đặt và giữ chỗ vé máy bay, tàu hoả, tàu cánh ngầm và tàu đi Côn Đảo Dịch vụ cung cấp Hướng dẫn viên tiếng Việt, Anh, Hoa, Nga, Nhật, Hàn Lưu trú: Hệ thống nhà hàng, khách sạn từ 2 - 4 sao tại TP biển Vũng Tàu Cụm Khách sạn Grand Palace là khách sạn 4 sao đầu tiên của Vũng Tàu là một trong những Khách sạn được xây dựng đầu tiên hiện còn lưu giữ nhiều dấu ấn lịch
sử và nhiều giá trị văn hoá gắn liền với sự hình thành và phát triển của Thành phố Vũng Tàu Đặc biệt Khách sạn Palace tự hào là sự lựa chọn tin cậy để tổ chức các
sự kiện quan trọng của Tỉnh, các hội nghị quốc tế, là nơi tiếp đón các đoàn khách ngoại giao, và các nguyên thủ quốc gia: Công chúa Thái Lan, Thượng nghị sỹ John Kenedy Khách sạn Grand Vũng Tàu toạ lạc ngay trung tâm Thành phố Biển với lối kiến trúc Pháp độc đáo và sang trọng kết hợp hài hoà trong một tổng thể không gian Việt đã được nhiều thế hệ khách hàng biết đến không chỉ là phong cảnh mà là lòng hiếu khách, là chất lượng phục vụ
Xây dựng hệ thống cơ sở vật chất phục vụ hội nghị, hội thảo tầm cỡ quốc gia, quốc tế để phát triển mô hình du lịch MICE, kết hợp hội nghị với du lịch nghỉ dưỡng
Kinh doanh xây lắp và bất động sản
Kinh doanh bất động sản nhà ở, du lịch, nghỉ dưỡng, bất dộng sản thương mại Xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp
Lắp đặt trang thiết bị, trang trí nội, ngoại thất, kinh doanh vật liệu xây dựng
Trang 242.1.4 Sơ đồ tổ chức và các đơn vị thành viên của OSC Việt Nam
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức của OSC Việt Nam
2.1.5 Kết quả hoạt động của OSC Việt Nam đến 31/12/2012
Các kết quả đã đạt được của OSC Việt Nam tính đến ngày 31/12/2012 và trong giai đoạn 2008 – 2012 Nhìn chung các chỉ tiêu kinh tế đều vượt kế hoạch và tăng trưởng, trong đó các chỉ tiêu lợi nhuận, nộp ngân sách, thu nhập của người lao động tăng trưởng cao, cơ sở vật chất được đầu tư nâng cấp với lượng vốn khá lớn Doanh thu từ năm 2008 đến năm 2012 thực hiện hơn 2.070 tỷ đồng, đạt 112,36% so với chỉ tiêu phấn đấu, mức tăng trưởng bình quân là 3,69% Lợi nhuận thực hiện được 250,680 tỷ đồng, đạt 140,15% so với chỉ tiêu phấn đấu, mức tăng trưởng bình quân trong 5 năm là 33,09% Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp ngân sách với Nhà nước theo luật định, đã nộp 134,150 tỷ đồng, đạt 108,82% so với chỉ tiêu phấn đấu, bình quân tăng trưởng hàng năm là 2,69% Tổng giá trị đầu tư hơn 115,4 tỷ đồng, bình quân mỗi năm là 28,75 tỷ đồng, tăng 1,94 lần so với giá trị đầu tư bình quân trong 3 năm 2006 – 2008 Vốn chủ sở hữu đạt 388 tỷ đồng Hiệu quả và mức độ tuân thủ hệ thống quản lý ở mức độ trung bình Năng lực, chất lượng nguồn nhân lực quản lý ở mức trung bình Thu nhập bình quân của người lao động là 7,5 triệu đồng/tháng Tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân là 35%/năm Tổng số lao động làm việc dài hạn (trên 01 năm) là gần 900 người Tỷ lệ nghỉ việc bình quân là 11%/năm Các nguyên nhân chủ yếu tác động đến kết quả hoạt động:
Chủ quan: Tư duy kinh doanh của lãnh đạo chủ chốt thiên về an toàn và
thận trọng; năng lực hoạch định, triển khai và kiểm soát chiến lược còn yếu Năng lực nguồn nhân lực quản lý hạn chế và chưa mạnh dạn thay đổi Chưa có các giải pháp khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai sẵn có Hệ thống quản lý doanh nghiệp chưa hoàn thiện và hoạt động kiểm soát nội bộ chưa tốt Hoạt động nghiên cứu thị
trường, cải tiến, phát triển sản phẩm, dịch vụ và mở rộng địa bàn kinh doanh chưa
được quan tâm đúng mức
Khách quan: Tình hình kinh tế vĩ mô có nhiều bất ổn từ năm 2009 đến nay,
đặc biệt là chính sách tiền tệ bị thị trường dẫn dắt và tình hình lạm phát hiện nay ở Việt Nam lên tới mức báo động là 2 con số, vượt qua ngưỡng lạm phát cho phép tối
đa là 9% của mỗi quốc gia Môi trường cạnh tranh gay gắt và thiếu lành mạnh trong
Trang 25các ngành dịch vụ du lịch và dịch vụ dầu khí Cơ chế quản lý và đánh giá doanh
nghiệp nhà nước chưa phù hợp
2.2 Thực trạng chiến lược kinh doanh của Công ty TNHH MTV Du lịch Dịch
vụ Dầu khí Việt Nam từ 2008 đến 2012
2.2.1 Thực trạng chiến lược sản phẩm của OSC Việt Nam
Cùng với lĩnh vực dịch vụ Dầu khí, kinh doanh Du lịch là một nhiệm vụ
chính trị quan trọng, xuyên suốt của OSC Vịêt Nam Kinh doanh Du lịch và dịch vụ
Dầu khí có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại, tạo tiền đề thế và lực
cho OSC Việt Nam phát triển, nhất là thời kỳ đầu Phải có Du lịch trong và ngoài
nước OSC Việt Nam mới có điều kiện phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật Mặt khác
nhờ quán triệt bám sát nhiệm vụ phục vụ Dầu khí mà OSC Việt Nam có đối tượng
phục vụ ổn định, lâu dài có nguồn ngoại tệ tăng doanh thu để OSC Việt Nam mở
rộng kinh doanh Du lịch
Trên thế mạnh cảnh quan, bãi biển Vũng tàu và vùng phụ cận của Tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu, OSC Việt Nam xác định đối tượng kinh doanh chủ yếu của mình là
khách thương mại Dầu Khí, khách Du lịch, cả nội địa và quốc tế Ngoài hai nhiệm
vụ chính, OSC Việt Nam còn là đơn vị làm tốt công tác giao tế, tổ chức các hội
nghị, tiếp đón các đoàn và phục vụ an dưỡng, nghỉ ngơi của cán bộ cấp cao của
Đảng và nhà nước Đội ngũ cán bộ nhân viên của OSC Việt Nam thể hiện tinh thần
tận tụy, hiếu khách bảo đảm an toàn tuyệt đối cho các đoàn khách của Đảng và Nhà
nước, của Đặc khu uỷ và Uỷ ban nhân dân Đặc khu Vũng Tàu Côn Đảo Đối với
OSC Việt Nam đó là truyền thống, uy tín và niềm tự hào trước sự tin cậy của Đảng
và nhà nước Việt Nam
Bên cạnh hai nhiệm vụ chính trị quan trọng, xuyên suốt từ ngày thành lập
cho đến nay là kinh doanh du lịch và dịch vụ dầu khí, OSC Việt Nam đã không
ngừng lớn mạnh cả về quy mô và phạm vi hoạt động Đến nay, hoạt động của OSC
Việt Nam đã mở rộng khắp cả trong nước và nước ngoài, tập trung vào ba lĩnh vực
then chốt là kinh doanh du lịch, dịch vụ dầu khí và xây lắp - bất động sản
2.2.1.1 Cơ sở vật chất Dịch vụ Du Lịch của OSC Việt Nam
Dịch vụ lưu trú
Sự có mặt của OSC Việt Nam trong hoạt động kinh doanh khách sạn, nhà hàng từ rất sớm đã góp phần nâng cao vị thế và khẳng định thương hiệu du lịch tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu trên thị trường trong nước và quốc tế Hiện nay, OSC Việt Nam
có 10 khách sạn (trong đó có 2 khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 sao, 3 khách sạn 3 sao, 5 khách sạn 2 sao), 1 khu căn hộ cao cấp, 36 biệt thự, với tổng cộng gần 1.000 phòng ngủ, đáp ứng tốt nhu cầu ăn ở, làm việc của nhiều công ty dầu khí lớn trong và ngoài nước Trong đó, Khu dịch vụ dầu khí Lam Sơn với 36 biệt thự và 5 khách sạn sang trọng, tọa lạc trên những tuyến đường đẹp và yên tĩnh ở trung tâm TP Vũng Tàu là nơi đặt “tổng hành dinh” của nhiều công ty dầu khí đa quốc gia Có một đặc điểm chung dễ nhận thấy là hệ thống cơ sở lưu trú của OSC Việt Nam đều tọa lạc ở những vị trí đẹp, rải đều dọc các bãi biển và khu vực trung tâm TP Vũng Tàu OSC Việt Nam đã khai thác được lợi thế của từng đơn vị, đem lại lợi nhuận đáng kể là: Cụm khách sạn 4 sao Palace – Grand chuyên đón khách ngoại giao, thương gia, chuyên gia dầu khí, khách MICE; khách sạn Rex, khu căn hộ Darby Park, khách sạn Royal và cụm biệt thự Lam Sơn cho thuê dài hạn đối với chuyên gia dầu khí, thương mại; khách sạn Tháng Mười: tập trung đón khách du lịch lưu trú ngắn ngày… Dịch vụ du lịch là một trong hai lĩnh vực kinh doanh chủ yếu, có truyền thống, nên OSC Việt Nam luôn chú trọng đầu tư về cơ sở vật chất, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ Vì vậy, hệ thống khách sạn của OSC Việt Nam luôn là địa chỉ tin cậy của du khách quốc tế, các chuyên gia của các công ty dầu khí và các khu công nghiệp khi đến Bà Rịa - Vũng Tàu du lịch và làm việc Theo số liệu báo cáo của phòng kế hoạch đầu tư của OSC Việt Nam, thì cơ sở vật chất lĩnh vực Du lịch của công ty được đầu tư như sau:
Trang 26Bảng 2.1: Cơ sở vật chất vật chất lĩnh vực Du lịch của OSC Việt Nam
Số căn
hộ
Lượng khách tối
(Nguồn: Phòng kế hoạch đầu tư của OSC Việt Nam)
Khách Sạn PaLace: Nằm trong hệ thống khách sạn thuộc OSC Việt Nam,
Khách sạn Palace là khách sạn 4 sao đầu tiên tại Tp Vũng Tàu, một trong 10 khách
sạn 4 sao hàng đầu Việt Nam Với vốn đầu tư 52,220 tỷ đồng, khách sạn có 95
phòng ngủ và 18 căn hộ cao cấp đầy đủ tiện nghi, hệ thống phòng hội nghị, nhà
hàng Âu Á đạt tiêu chuẩn quốc tế hiện đại nhất tại Vũng Tàu, có khả năng phục vụ
cùng lúc lên tới 1.000 khách ăn uống và công suất tối đa cho phòng ngủ là 244
khách, Khách sạn là sự lựa chọn tin cậy để tổ chức các sự kiện quan trọng của
Tỉnh, các hội nghị quốc tế, nơi tiếp đón các đoàn khách ngoại giao, và các nguyên
thủ quốc gia
Khách Sạn GRand: Nằm trong hệ thống khách sạn của Công ty TNHH
MTV Du lịch Dịch vụ Dầu khí Việt Nam, Khách sạn tiêu chuẩn quốc tế 4 sao
Grand Vũng Tàu có nhiều lợi thế riêng để thu hút khách Khách sạn Grand Vũng
Tàu là khách sạn đầu tiên được xây dựng tại Tp Vũng Tàu mang kiến trúc kiểu
Pháp (khoảng những năm 1890), với vốn đầu tư 45,189 tỷ đồng, khách sạn có 63
phòng ngủ và 17 căn hộ cao cấp đầy đủ tiện nghi, hệ thống phòng hội nghị, nhà hàng Âu, Á đạt tiêu chuẩn quốc tế tại Vũng Tàu, có khả năng phục vụ cùng lúc lên tới 700 khách ăn uống và công suất tối đa cho phòng ngủ là 177 khách, Grand là khách sạn đầu tiên ứng dụng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn chất lượng ISO (ISO 9001:2000, kết hợp với tiêu chuẩn VTOS) tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Vũng Tàu
Khách Sạn Rex: Khách sạn Rex là khách sạn 3 sao đầu tiên của Thành phố
Vũng Tàu, gần khu văn phòng của các công ty dầu khí, các điểm tham quan, vui chơi giải trí, mua sắm Khách sạn Rex bao gồm 77 phòng ngủ được trang bị đầy đủ tiện nghi sang trọng với vốn đầu tư 38,125 tỷ đồng, đặc biệt các phòng ngủ đều có hướng nhìn ra biển, thành phố và núi Nhà hàng khách sạn Rex chuyên phục vụ tiệc cưới, tiệc hội nghị có khả năng phục vụ cùng lúc lên tới 1,000 khách ăn uống và công suất tối đa cho phòng ngủ là 174 khách Bên cạnh đó nhà hàng còn là nơi quý khách cùng người thân thưởng thức những món ăn đặc sản nổi tiếng của nhà hàng
và tận hưởng vẻ đẹp của thành phố biển Vũng Tàu khi nhìn từ trên cao xuống
Khu DVDK Lam Sơn: Trực thuộc OSC Việt Nam, là một quần thể kiến trúc
độc đáo, toạ lạc tại vị trí thuận lợi ngay trung tâm Bãi Trước Tp Vũng Tàu, dưới chân Núi Lớn, với lợi thế là một cụm biệt thự tập trung và an ninh trật tự luôn được đảm bảo 24/24 giờ Khu DVDK Lam Sơn với 36 biệt thự sang trọng, được thiết kế theo kiến trúc Pháp kết hợp với những yếu tố hiện đại tạo cho khu biệt thự một vẻ đẹp riêng Mỗi biệt thự là một sự kết hợp hài hoà giữa thiên nhiên và con người Hệ thống phòng ở, phòng khách rộng rãi, thoáng mát được bố trí trang thiết bị hiện đại, với số vốn đầu tư 36,789 tỷ đồng, công suất tối đa cho phòng ngủ là 177 khách
Khách Sạn Royal: Khách sạn ROYAL Vũng Tàu có tên gọi trước đây là
Khách sạn Canadian, tiêu chuẩn 3 sao, tọa lạc tại trung tâm thành phố biển Vũng Tàu với phong cảnh thoáng mát, nằm sát khu du lịch Bạch Dinh, cáp treo Hồ Mây Với tổng vốn đầu tư 29,756 tỷ đồng, hệ thống 50 phòng ngủ đạt tiêu chuẩn, với hướng trực diện biển Bên cạnh đó, khách sạn có đầy đủ các dịch vụ ẩm thực hệ thống phòng hội nghị, nhà hàng đạt tiêu chuẩn quốc tế tại Vũng Tàu, có khả năng phục vụ cùng lúc lên tới 400 khách ăn uống và công suất tối đa cho phòng ngủ là
Trang 27120 khách, đặc biệt khách sạn có các món ăn Hàn Quốc do đầu bếp Hàn Quốc đảm
trách Dịch vụ đánh Golf trọn gói với các chương trình tại các sân Golf Việt Nam,
ngoài ra khách sạn còn tổ chức các chương trình City tour hàng ngày, câu cá giải
trí… cho khách muốn khám phá thành phố Biển Vũng tàu
Khách Sạn Thái Bình Dương: Khách sạn Thái Bình Dương (Pacific Hotel)
là Khách sạn đạt chuẩn 2 sao, tọa lạc ngay tại trung tâm Bãi Trước thành phố Vũng
tàu Mặt tiền hướng ra biển, gần trung tâm thương mại, Bạch Dinh và sân đua chó
Với tổng vốn đầu tư 22,350 tỷ đồng, khách sạn có 50 phòng ngủ đầy đủ tiện nghi
Có nhiều loại phòng ngủ khác nhau với các mức giá phù hợp, công suất tối đa cho
phòng ngủ là 120 người Nhiều diện tích dành cho khoảng không và cây xanh trên
khuôn viên 10.000m2 thoáng mát Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, tận tình và
chu đáo Các dịch vụ bổ sung gồm: Văn phòng cho thuê - Nhà hàng – Vũ trường –
Karaoke – Cà phê sân vườn, Bar Đủ điều kiện nhận khách đoàn, thể thao, hội nghi,
sinh nhật, tiệc cưới
Khách Sạn Tháng Mười: Tọa lạc tại trung tâm Bãi Sau trên một diện tích
rộng lớn với nhiều cây xanh, thoáng mát, khách sạn Tháng Mười được đầu tư với số
vốn 25,134 tỷ đồng, khách sạn có 91 phòng ngủ được thiết kế trang nhã với đầy đủ
tiện nghi, sức chứa 260 khách Đặc biệt, Khách sạn có thể phục vụ ngủ ghép phòng
với những đoàn khách lên đến 400 người Nhà hàng 300 và 500 chỗ với các món ăn
Âu, Á, đặc sản miền biển Khách sạn có Bãi biển sạch đẹp, an toàn, có nhân viên
cứu hộ thường trực Phục vụ ngồi dù ghế, tắm nước ngọt cùng lúc 1.000 khách
CLB thể thao, Quần vợt, Bóng bàn, Bóng chuyền bãi biển, Cầu lông, Bida,
Massage Tổ chức đốt lửa trại, sinh hoạt vui chơi ngoài trời, hát karaoke, ca nhạc
Tổ chức Tour tham quan nội thành cho du khách
Darby Park Vietnam: Khu căn hộ dịch vụ Darby Park Việt Nam có 69 căn
hộ cao cấp cùng với các trang thiết bị luyện tập thể dục thể thao hiện đại như phòng
gym, phòng sauna, hồ bơi, sân tennis, sân chơi dành cho trẻ em và một sân bóng
quần vợt đầu tiên tại Vũng Tàu Với số vốn đầu tư khoảng 25,675 tỷ công suất tối
đa cho phòng ngủ là 207 khách
Khách sạn Sông Hương: là một phần trong tổng thể của Khu Dịch vụ dầu
khí Lam Sơn, nằm yên tĩnh giữa trung tâm thành phố Vũng Tàu và chỉ cách Bãi Trước 50m rất thuận tiện cho việc thăm quan, nghỉ dưỡng và mua sắm Khách sạn được thiết kế với 30 deluxe room và 03 suite room với tổng vốn đầu tư là: 16,245 tỷ đồng công suất tối đa cho phòng ngủ là 99 khách
Khách sạn Trường Sơn: Nằm trong tổng thể của Khu Dịch vụ dầu khí Lam
Sơn, khách sạn cùng các dịch vụ hỗ trợ như hồ bơi - sân tennis nằm trong một quần thể riêng biệt, giữa trung tâm thành phố Vũng Tàu và chỉ cách Bãi Trước 30m rất thuận tiện cho việc thăm quan, nghỉ dưỡng và tắm biển Khách sạn được thiết kế với
25 phòng ngủ với tổng vốn đầu tư là: 13,785 tỷ đồng, công suất tối đa cho phòng ngủ là 60 khách
Dịch vụ Lữ hành
Là một trong những đơn vị đầu tiên của Việt Nam được cấp phép kinh doanh
lữ hành quốc tế, dịch vụ lữ hành của OSC Việt Nam đã không ngừng mở rộng và phát triển Với chính sách đa dạng hóa sản phẩm và không ngừng đổi mới, thương hiệu lữ hành của OSC Việt Nam đã định vị trong lòng đối tác, khách hàng là thương hiệu hàng đầu về chất lượng và phong cách phục vụ chuyên nghiệp Dịch vụ chúng tôi cung cấp hiện nay gồm: tổ chức tour du lịch trong và ngoài nước, dịch vụ Mice, đại lý vé máy bay, dịch vụ vận chuyển, hướng dẫn viên du lịch & thông dịch viên
Để tồn tại và phát triển, OSC Việt Nam đã đề ra chiến lược trong việc phát triển hệ thống kinh doanh lữ hành, trong đó chú ý đến việc phát huy sức mạnh nội tại của các đơn vị trực thuộc bằng cách tạo mối liên kết giữa các đơn vị với nhau Bên cạnh đó, các đơn vị này cũng chú ý đến việc liên kết với các doanh nghiệp lữ hành và các cơ sở dịch vụ khác như lưu trú, dịch vụ ăn uống, giải trí… Nhằm tận dụng lợi thế, hỗ trợ lẫn nhau góp phần tạo sức mạnh chung trong cạnh tranh Từ các đơn vị lữ hành trực thuộc (OSC Việt Nam Travel tại Vũng Tàu; OSC First Holidays, CN OSC Việt Nam Travel tại TP Hồ Chí Minh, OSC Hà Nội), OSC Việt Nam muốn tạo nên một đầu mối chung trong kinh doanh lữ hành, xây dựng thương
Trang 28hiệu bằng cách tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa các đơn vị, đồng thời khai thác những
sản phẩm đặc thù là thế mạnh riêng của từng đơn vị để tăng sức cạnh tranh
Đảo, làng nghề, thăm chiến trường xưa… Với các tour đón khách
nước ngoài về Vũng Tàu, OSC Việt Nam Travel sẽ liên kết với CN
OSC Việt Nam Travel tại TP Hồ Chí Minh để họ đón khách từ sân
bay, sau đó thực hiện việc nối tour, đưa khách về Vũng Tàu, tạo
thành tour liên hoàn, góp phần giảm chi phí và giảm giá thành
Trong khi đó, các đơn vị lữ hành của OSC tại TP Hồ Chí Minh lại
có thế mạnh về tổ chức các tour du lịch, các chương trình tham
quan, làm việc, hội thảo kết hợp du lịch tại các nước trong khu vực
như: Trung Quốc, Hồng Kong, Malaysia, Singapore, Thái Lan…
Đây sẽ là nơi hỗ trợ đắc lực cho các đơn vị lữ hành tại Vũng Tàu và
Hà Nội khi có nhu cầu mua vé máy bay, đặt chỗ, đưa khách ra nước
ngoài hoặc đón khách nước ngoài vào Việt Nam OSC Hà Nội là nơi
tiếp nhận khách từ Vũng Tàu và TP Hồ Chí Minh để thực hiện việc
nối tour, đưa khách tham quan các tỉnh miền Bắc… Lợi ích dễ nhận
thấy nhất của việc liên kết là sự thuận lợi cũng như khả năng tiết
kiệm chi phí cho các đơn vị lữ hành so với hoạt động riêng lẻ
Chẳng hạn, các đơn vị cùng có tour đưa khách đi Thái Lan nhưng
nếu mỗi đơn vị lại thuê phòng ở một khách sạn khác nhau thì sẽ
không được hưởng nhiều ưu đãi như khi đăng ký ở cùng một khách
sạn, cũng như vậy đối với việc mua vé máy bay, dịch vụ ăn uống
Liên kết và xây dựng thương hiệu để phát triển là một xu thế chung
trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong thời kỳ hội
Đơn vị
nhập Có thể nói, đối với OSC Việt Nam, việc liên kết để phát triển
là một hướng đi đúng Hiện nay, thương hiệu OSC Việt Nam Travel
là một trong những thương hiệu lữ hành hàng đầu ở Bà Rịa-Vũng Tàu và khu vực Đông Nam bộ
OSC First Holiday
OSC First Holidays: Là nhà tổ chức chuyên nghiệp về tour tham quan trong nước và nước ngoài, giữ chỗ và cung cấp vé máy bay theo hệ thống ABACUS và GABRIEL, làm visa, đặt phòng khách sạn và cho thuê xe Chúng tôi có văn phòng ở Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và Vũng Tàu tạo thành mạng lưới liên hợp tác trên khắp các thành phố ở Việt Nam Cho đến nay, mối quan hệ hợp tác của chúng tôi đã mở rộng đến Malaysia, Singapore, Thailand, Hongkong, Trung Quốc, Nhật Bản, Canada, Hoa Kỳ, và Tân Tây Lan
OSC - First Holidays cũng hãnh diện có mặt bên các công
ty tiền phong tổ chức các tour du lịch thuần túy thương mại cho khách trong nước cũng như khách nước ngòai đi tham quan Malaysia, Singapore, Thailand, Hongkong, Trung Quốc từ những năm đầu của thị trường outbound ở Việt Nam Từ lượng khách outbound khiêm tốn năm 1994, các dịch vụ chuyên môn của công ty kết hợp với giá cả hợp lý đã thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với chúng tôi trong những năm qua và cho đến nay chúng tôi có thể vui mừng đón hàng ngàn khách du lịch hàng năm sử dụng các tour du lịch của công ty để đảm bảo chuyến tham quan được thành công và vui vẻ OSC - First Holidays đảm bảo cung cấp dịch vụ chất lượng, đáng tin cậy đáp ứng nhu cầu cá nhân cũng như tập thể
Trang 29Kinh doanh lữ hành của công ty năm 2012 gặp nhiều khó khăn do liên doanh
OSC SMI chấm dứt hoạt dộng từ đầu năm, do vậy doanh thu lữ hành của năm 2012
thực hiện 72,618 tỷ đạt 108,4% so với kế hoạch, bằng 30% so với năm 2011 Tổng
lượng khách lữ hành khai thác và phục vụ là 8,028 lượt khách đạt 78,4% so với kế
hoạch, bằng 15,5% so với năm 2011 Thời gian khách lưu lại tại các doanh nghiệp
lữ hành của công ty là 30,263 ngày đạt 91% so với kế hoạch, bằng 17% so với năm
2011
2.2.1.2 Dịch vụ Dầu khí
Công ty Dịch vụ Dầu khí Vũng Tàu (OSC Vũng Tàu) là đơn vị trực thuộc
Công ty TNHH MTV Du lịch dịch vụ dầu khí Việt Nam (OSC Việt Nam), được
thành lập năm 1989 Đơn vị áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 và
hệ thống quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm theo chuẩn HACCP-CODEX từ năm
2009 trong hoạt động kinh doanh của mình Hoạt động kinh doanh chính của OSC
Vũng Tàu hiện nay gồm: Tổ chức và cung cấp dịch vụ đời sống cho chuyên gia,
công nhân làm việc trên các công trình dầu khí hoạt động tại Việt Nam và nước
ngoài, bao gồm: Cung cấp dịch vụ đời sống trọn gói (ăn uống, ngủ nghỉ), Cung cấp
nhân lực (cán bộ quản lý điều hành dịch vụ, nhân viên bếp, nhân viên bánh, nhân
viên phục vụ), Cung cấp thực phẩm, hàng hóa, Cho thuê các loại container vận
chuyển hàng hóa, thực phẩm và Cung cấp Dịch vụ giặt là -may đo cho các khách
sạn, nhà hàng, các văn phòng, cư dân tại T.P Vũng Tàu và trên các công trình dầu
khí ngoài khơi
2.2.1.3 Bất động sản
Ngoài thực hiện cải tạo nâng cấp, xây dựng mới các cơ sở để có được cơ
ngơi đồ sộ như hiện nay, OSC Việt Nam còn thực hiện một số công trình lớn như:
Công trình nhà ở và văn phòng cho thuê của OSC Việt Nam là cao ốc 161 Võ Văn
Tần (TP Hồ Chí Minh) và khu căn hộ cao cấp OSC Land (TP Vũng Tàu) Trong
đó, cao ốc 161 Võ Văn Tần ngoài mục đích làm văn phòng tập trung cho các đơn vị
của OSC Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh, cao ốc 10 tầng hiện nay đã được cho thuê
hết Riêng khu căn hộ cao cấp OSC Land tại TP Vũng Tàu mở ra một trang mới
cho hoạt động kinh doanh của OSC Việt Nam trong lĩnh vực bất động sản và bất động sản du lịch Hiện tại, khu căn hộ cao cấp OSC Land đã hoàn thành và đưa vào
sử dụng Với hai mặt tiền đường Võ Thị Sáu và Hồ Quý Ly, lại tọa lạc trên đồi cao
có thể quan sát bao quát toàn Bãi Sau và TP.Vũng Tàu, gần trường học và các điểm tham quan du lịch, mua sắm OSC Land cao 21 tầng, trong đó có 2 tầng hầm giữ xe,
1 tầng trệt và 1 tầng lửng là nơi sinh hoạt công cộng, siêu thị và 508 căn hộ nhiều diện tích (117m2, 90 m2, 58 m2, 50 m2, 40 m2), giá bán từ 13-14 triệu đồng/m2 tùy
vị trí, thanh toán trước 70% tổng trị giá căn hộ là đã được giao nhà Trong lúc thị trường nhà đất cả nước nói chung trầm lắng, thì hoạt động mua bán tại OSC Land vẫn diễn ra sôi động Tổng số 508 căn hộ hiện đại đã bán hơn 90%
2.2.2 Thực trạng chiến lược thị trường của OSC Việt Nam
2.2.2.1 Thị trường Dịch vụ Du lịch
Khách nước ngoài đến với OSC Việt Nam chủ yếu là khách từ các quốc gia như: Mỹ, Úc, Châu Âu và nhiều nhất vẫn là các nước Châu Á Mục đích của du khách là: Khách thương mại Dầu khí: 43,5%
Khách tham quan du lịch, nghỉ dưỡng: 40,5%
Khách Việt Kiều và khách có mục đích khác: 16,0%
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45
Khách
DL ngh ỉ
d ưỡ ng 40.5 %
Khách Việt Kiều 16 %
(Nguồn: Phòng chiến lược tiếp thị OSC Việt Nam)
Hình 2.2: Khách du lịch đến OSC Việt Nam năm 2012
Trang 30Trong những năm qua do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới,
năm 2008 lượng khách du lịch Quốc tế đến Việt Nam nói chung và OSC Việt Nam
nói riêng giảm mạnh nhưng đến năm 2012 do nền kinh tế có dấu hiệu hồi phục
lượng khách Quốc tế đến với OSC Việt Nam có phần tăng lên nhưng chưa đáng kể
khoảng 100,95%/năm, khách nội địa cũng tăng 111,97%, theo số liệu thống kê của
phòng chiến lược tiếp thị OSC Việt Nam số lượng khách Quốc tế đến với Công ty
năm 2012 là 22,322 lượt/năm, Khách nội địa tăng lên, tốc độ tăng khoảng
119,97%/năm so với năm 2011 cụ thể:
Số lượng
Tốc độ phát triển (%)
Số lượng
Tốc độ phát triển (%)
(Nguồn: Phòng chiến lược tiếp thị OSC Việt Nam)
Thời gian lưu trú của khách Du lịch đến OSC Việt Nam:
Năm 2008-2009 do khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn trong
năm 2008 đã đẩy nền kinh tế thế giới trong đó Việt Nam vào tình trạng suy thoái,
làm thu hẹp đáng kể về các thị trường khách Du lịch của OSC Việt Nam cụ thể là
thời gian lưu trú của khách quốc tế chỉ đạt 58,09%/năm tương đương 82,217 ngày,
nhưng thời gian lưu trú của khách nội địa lại tăng lên đạt 101,64% tương đương
43,489 ngày
Năm 2010 – 2012 nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói
riêng đã qua cơn khủng hoảng thời gian đi Du lịch và lưu trú lại các khách sạn và
căn hộ của OSC Việt Nam tương đối ổn định cụ thể thời gian lưu trú của khách
quốc tế năm 2011 đạt 123,07% so với năm 2010, năm 2012 đạt 100,1% so với năm
2011 Không những ảnh hưởng về Du lịch mà còn ảnh hưởng cả về Xuất Nhập Khẩu, thị trường vốn và tác động đến nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội trong đó ngành
du lịch Việt Nam nói chung và OSC Việt Nam nói riêng cũng bị ảnh hưởng nặng nề
về lượng khách Quốc tế đến công ty Theo bảng thống kê về Lượng khách du lịch đến OSC – VN bình quân hàng năm của khách ta thấy mức độ nghèo nàn hay phong phú của hoạt động du lịch và phản ánh mức độ chi tiêu của du khách
Bảng 2.3: Thời gian lưu trú của khách du lịch đến OSC–VN từ 2008-2012
ĐVT : ngày
Năm Tổng số ngày lưu trú Khách nội địa Khách quốc tế
Số lượng
Tốc độ phát triển (%)
Số lượng
Tốc độ phát triển (%)
Số lượng
Tốc độ phát triển (%)
(Nguồn: Phòng chiến lược tiếp thị OSC Việt Nam)
Khách nội địa đến với OSC Việt Nam chủ yếu là khách từ Thành Phố Hồ Chí Minh, miền Đông và miền Tây Nam Bộ chiếm 70% và các địa phương khác chiếm khoảng 30% Đặc biệt nắm bắt được nhu cầu Du lịch của khách Quốc tế và nội địa kể từ năm 2006 đến 2007, OSC Việt Nam đã cho sửa chữa và nâng cấp những khách sạn của công ty như: Khách sạn Grand và Khách sạn Palace trở thành hai khách sạn 4 sao, Khách sạn Rex, khách sạn Royal trở thành 3 sao theo phong cách cổ kính và hiện đại thì lượng khách Du lịch Quốc tế đến lưu trú tại các khách sạn đạt công suất khá cao khoảng 85%/năm Số ngày lưu trú của khách cũng có sự tăng giảm rõ rệt trong giai đoạn này, theo số liệu thống kê về lượt khách du lịch và
ngày lưu trú cụ thể như sau:
2.2.2.2 Thị trường Dịch vụ Dầu khí
Trang 31Cùng với sự phát triển của ngành dầu khí Việt Nam, Công ty TNHH MTV
Du lịch dịch vụ dầu khí Việt Nam (OSC Việt Nam) đã từng bước vươn xa trong
lĩnh vực dầu khí Đặc biệt, việc thành lập Công ty TNHH MTV Dịch vụ kỹ thuật
dầu khí OSC (OSC Tech) vào ngày 27-4-2011 đã đánh dấu bước chuyển mình của
OSC Việt Nam trong chiến lược phát triển dịch vụ kỹ thuật dầu khí cụ thể:
Bảng 2.4: Doanh thu Dịch vụ Dầu khí của OSC Việt Nam
(Nguồn: Phòng kế toán OSC Việt Nam)
Những năm gần đây, OSC Tech không ngừng đầu tư mở rộng hệ thống cơ sở
vật chất, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ, kỹ sư phát triển theo chiều sâu trong
lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật Từ việc chỉ cung cấp các thiết bị thay thế nhỏ lẻ, các dịch
vụ quy mô nhỏ, OSC Tech đã dần thực hiện được những hợp đồng lớn cả về quy
mô lẫn giá trị hợp đồng thể hiện số liệu trên bảng doanh thu OSC Tech cũng tiếp
tục đầu tư mở rộng cơ sở vật chất với việc đưa vào hoạt động xưởng sản suất găng
tay bảo hộ lao động công suất 6.000 đôi/ngày; xưởng dịch vụ kỹ thuật, nơi cung
cấp, bảo dưỡng và sửa chữa các loại thiết bị; hệ thống kho bãi cho thuê và lưu trữ
hàng hóa OSC Tech đã từng bước vươn xa trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ kỹ
thuật dầu khí với chất lượng vượt trội và giá thành hợp lý, được đông đảo khách hàng và đối tác tín nhiệm Để tìm đối tác, mở rộng quy mô, qua đó gia tăng cơ hội hợp tác, OSC Tech vừa khai trương văn phòng giao dịch tại Tp Hồ Chí Minh và đang có kế hoạch mở văn phòng đại diện tại Campuchia và Singapore nhằm xây dựng OSC Tech trở thành đơn vị cung cấp dịch vụ kỹ thuật dầu khí lớn tại Việt Nam”
2.2.2.3 Thị trường Bất động sản
Xây lắp - bất động sản tuy là lĩnh vực kinh doanh mới nhưng OSC Việt Nam
đã gặt hái được một số thành quả nhất định như:
Bảng 2.5: Doanh thu Bất động sản của OSC Việt Nam
(Nguồn: Phòng kế toán OSC Việt Nam)
Cuối năm 2011, Chính phủ ban hành các chính sách thuế, tín dụng Bất động sản để tăng cường quản lý thị trường, đây là một khó khăn đối với các doanh nghiệp kinh doanh Bất động sản Tuy nhiên OSC Việt Nam đã xác định kinh doanh Bất động sản là ngành gia tăng giá trị tích lũy nên tập trung đẩy mạnh thi công các dự
án Bất động sản theo kế hoạch Dự án Cao ốc 161 Võ Văn Tần với tổng mức đầu tư
Trang 32khoảng 40 tỷ, Dự án OSC Land với qui mô 508 căn hộ, với những bước đi đúng đắn
trên tổng doanh thu kinh doanh Bất động sản năm 2011 đạt 245.697 tỷ Năm 2012
thị trường Bất động sản vẫn tiếp tục trầm lắng Mặc dù, Chính phủ đã ban hành
nhiều chính sách tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp nhưng vẫn chưa có dấu
hiệu khả quan.Tuy nhiên, do đã bán được khối lượng lớn căn hộ và nhận định thị
trường chỉ tạm nắng, chờ cơ hội nên công ty đã đẩy mạnh thi công hoàn thiện đưa
vào kinh doanh cao ốc 161 Võ Văn Tần và hoàn thiện thi công dự án OSC Land
Tổng doanh thu của Bất động sản năm 2012 đạt 278.852 tỷ
2.2.3 Thực trạng chiến lược Marketing của OSC Việt Nam
2.2.3.1 Chiến lược Marketing Dịch vụ Du lịch
Nếu như trước đây, hoạt động marketing là mới mẻ trong lĩnh vực kinh
doanh Du lịch thì gần đây, điều này đã thay đổi Phần lớn các doanh nghiệp kinh
doanh ngành Du lịch đã sử dụng chiến lược Marketing như một công cụ để đẩy
mạnh hoạt động kinh doanh OSC Việt Nam đã sử dụng linh hoạt những công dụng
của marketing trong việc thu hút khách hàng như:
Chính sách về giá cả: Việc xác định giá cho sản phẩm du lịch của công ty
có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Giá ổn định chính là một trong những tiêu chuẩn
thường xuyên quan trọng quyết định việc mua sản phẩm của khách hàng cụ thể:
Bảng 2.6: Giá phòng các khách sạn của OSC Việt Nam
Đơn vị tính: USD Khách Sạn Phòng căn hộ Phòng Suite Phòng
Deluxe
Phòng Standard
(Nguồn: Phòng chiến lược tiếp thị OSC Việt Nam)
Mục tiêu của chính sách giá là làm thế nào để đạt được khối lượng bán tối
đa, doanh thu lớn nhất và lợi nhuận cao nhất Khi nghiên cứu để đưa ra mức giá bán
phù hợp thì đơn vị trực thuộc của OSC Việt Nam đã phải tính đến rất nhiều yếu tố
khó khăn và thuận lợi do chính sách giá mang lại doanh thu cho từng đơn vị của
Công ty Giá luôn luôn tồn tại tính hai mặt vì vậy, để thu hút được sự quan tâm của khách hàng Sau khi nghiên cứu kỹ mọi phương diện và khía cạnh thì các đơn vị trực thuộc OSC Việt Nam đã đưa ra được những mức giá phù hợp cho những đối tượng khách khác nhau và họ chấp nhận được Trong quá trình định giá OSC Việt Nam đã tính đến các yếu tố, như khách thương mại Dầu khí họ thường sử dụng phòng căn hộ, còn khách Du lịch nghỉ dưỡng họ ít sử dụng căn hộ mà chủ yếu họ thuê phòng Deluxe hoặc Standard Từ đó xác định mức giá cho đơn vị mình sao cho
có khả năng cạnh tranh trên thị trường du lịch hiện nay Cụ thể là các đơn vị trực thuộc OSC Việt Nam đang áp dụng chính sách giá sau:
Chính sách giá chiếm lĩnh thị trường có trọng điểm: Công ty xây dựng mức
giá cao hơn đối thủ cạnh tranh và chi phí cho khuyến mại cao, chất lượng chương trình du lịch cao hơn đối thủ cạnh tranh nhằm thu hút số lượng khách hàng lớn
Chính sách giá theo số lượng: Khi số lượng khách trong đoàn càng lớn thì
mức giá thấp hơn Hay theo đối tượng khách là người lớn hay trẻ em như trẻ dưới 6 tuối miễn phí, trẻ từ 6- 11 tuổi mua1/2 vé và trẻ từ 12 tuổi mua cả vé hoặc giá vé đối với ngươi nuớc ngoài và người Việt Nam khác nhau
Chính sách giảm giá, chiết giá: Đối với những khách hàng thường xuyên của
OSC Việt Nam khách hàng mua với số lượng lớn, đối với những khách hàng này không những được chiết khấu mà còn có những ưu đãi nhất định
Định giá cho các chương trình du lịch open tour: OSC Việt Nam cũng sử
dụng chiến lược xâm nhập thị trường, chi phí cho hoạt động marketing rất lớn và bán với giá ngang bằng trên thị trường
Chính sách quảng cáo: OSC Việt Nam đã sử dụng các công cụ quảng bá rất
linh hoạt Trước mỗi sản phẩm mới chuẩn bị tung ra thị trường, như các sản phẩm vào mùa du lịch biển hoặc các món ăn mới, Các đơn vị trực thuộc OSC Việt Nam
đã cho đăng quảng cáo trên báo Bà Rịa Vũng tàu và quyển cẩm nang Du lịch Làm
tờ rơi, tờ gấp, tham gia các hội chợ du lịch, liên hoan du lịch để giới thiệu về sản phẩm của mình Các loại tờ rơi, tờ gấp được trang trí đẹp và phù hợp với mỗi đối tượng khách khác nhau Mỗi năm chi nhánh của Công ty sẽ kết hợp với công ty