Đặc điểm của các động từ quan hệ làm, khiến trong cấu trúc nhân quả 59 CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ PHÂN TÍCH NGỮ PHÁP KIỂU CÂU CÓ Ý NGHĨA NHÂN QUẢ ĐƯỢC BIỂU HIỆN BẰNG QUAN HỆ TỪ VÀ ĐỘNG TỪ QUAN H
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU HÀ
CÁCH BIỂU HIỆN MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ
TRONG CÂU TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Thái Nguyên - 2008
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU HÀ
CÁCH BIỂU HIỆN MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ
TRONG CÂU TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Lí luận ngôn ngữ
Mã số: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Văn Lộc
Thái Nguyên - 2008
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Lộc, người
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo trong Viện Ngôn ngữ học, các
thầy cô giáo Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Khoa
Sau đại học Trường ĐHSP Thái Nguyên đã giảng dạy trong khoá học và tạo
điều kiện, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Hội đồng đã
nhận xét, góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2008
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hà
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN
MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ TRONG CÂU TIẾNG VIỆT
2.3.2 Đặc điểm của các động từ quan hệ làm, khiến trong cấu trúc nhân quả 59
CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ PHÂN TÍCH NGỮ PHÁP KIỂU CÂU CÓ Ý NGHĨA NHÂN QUẢ ĐƯỢC BIỂU HIỆN BẰNG QUAN HỆ TỪ VÀ ĐỘNG TỪ QUAN HỆ
3.1 Vấn đề phân tích ngữ pháp kiểu câu có ý nghĩa nhân quả được
3.2 Vấn đề phân tích ngữ pháp kiểu câu có ý nghĩa nhân quả được
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp và công cụ tư duy của con
người Nếu tư duy có tính chất chung cho nhân loại thì ngôn ngữ lại mang
đậm dấu ấn dân tộc Việc tìm hiểu cách biểu hiện bằng phương tiện ngôn ngữ
những nội dung tư duy nhất định có ý nghĩa không chỉ đối với việc học tập,
nghiên cứu ngôn ngữ mà còn có ý nghĩa đối với việc khám phá đặc điểm tư
duy của mỗi dân tộc
1.2 Một nội dung tư duy có thể có nhiều hình thức biểu đạt bằng ngôn
ngữ Quan hệ nhân quả là một trong những quan hệ rất phổ biến thuộc về tư
duy Nó tồn tại ở tầng nghĩa sâu và được biểu hiện bằng các phương tiện ngôn
ngữ Nghiên cứu mối quan hệ này, đặc biệt là cách biểu hiện của nó trong câu
tiếng Việt giúp ta thấy được nét đặc thù trong cách biểu hiện mối quan hệ
nhân quả trong tiếng Việt và mối tương quan giữa mặt hình thức và mặt nội
dung trong tiếng Việt nói riêng và trong ngôn ngữ nói chung
1.3 Việc nghiên cứu cách biểu hiện mối quan hệ nguyên nhân kết quả
trong câu tiếng Việt có ý nghĩa cả về mặt lí luận và thực tiễn
Về lí luận, việc nghiên cứu cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong
câu tiếng Việt góp phần làm rõ những vấn đề quan trọng như quan hệ ngữ
nghĩa, quan hệ ngữ pháp, nghĩa sâu và nghĩa cú pháp, cách biểu hiện một nội
dung quan hệ ngữ nghĩa bằng các phương tiện ngôn ngữ khác nhau trong một
ngôn ngữ cụ thể
Về thực tiễn, những kết quả của việc nghiên cứu cách biểu hiện mối
quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt có thể được sử dụng vào việc biên soạn
giáo trình, tài liệu tham khảo phục vụ cho dạy - học ngữ pháp tiếng Việt, góp
phần nâng cao chất lượng dạy học
1.4 Mặc dù mối quan hệ nguyên nhân kết quả là kiểu quan hệ rất phổ
biến, có vai trò quan trọng và việc nghiên cứu nó cần thiết và có ý nghĩa như
vậy nhưng đến nay, việc nghiên cứu cách biểu hiện mối quan hệ này trong
câu tiếng Việt chưa được các nhà Việt ngữ học thực sự quan tâm Có thể nói, đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt
Vì những lí do trên, chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài Cách biểu
hiện mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt
đề cập đến một cách khái quát
2.1 Trong cuốn Ngữ pháp tiếngViệt hiện đại, Hữu Quỳnh đã tiến hành
miêu tả và phân loại các động từ biểu thị mối quan hệ nhân quả, xếp động từ
nhân quả vào nhóm động từ gây khiến Theo định nghĩa của ông, “động từ
gây khiến giống như động từ ngoại hướng, hoạt động của nó chi phối hoặc hướng vào đối tượng nhưng với ý nghĩa khuyên bảo, cho phép hay ngăn cản hành động của đối tượng” Động từ gây khiến thường đòi hỏi hai thành tố phụ: một là danh từ, một là động từ và có khi hai thành tố phụ tạo nên cụm
chủ - vị Các động từ gây khiến trong danh sách của Hữu Quỳnh, gồm có: để (cho), khiến (cho), làm (cho), bắt, bắt buộc, cản trở, cho phép, cưỡng bức, cưỡng ép, dắt, dẫn, dìu dắt, đề nghị, đòi hỏi, cấm, giúp đỡ… [26, 70] Hữu Quỳnh cũng tiến hành phân loại quan hệ từ mà ông gọi là từ nối
Từ nối được ông định nghĩa như sau: “Từ nối là những từ chỉ các quan hệ ngữ
pháp chuyên dùng để nối các thành phần câu hay các thành tố trong cụm từ” Theo đó, những từ nối được ông phân chia thành hai nhóm: từ nối chính phụ
và từ nối liên hợp Những từ vì, do, bởi, tại, nhờ được xếp vào nhóm từ nối
chính phụ, bởi “chúng biểu thị ý nghĩa nguyên nhân dùng trong cụm từ chính phụ”.[26, 88 - 92]
Trang 5Ví dụ:
Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình.(Nguyễn Du)
Vì chàng thiếp phải đi chăng về mò (Ca dao)
Như vậy, Hữu Quỳnh mới chỉ dừng lại ở việc miêu tả và phân loại sơ
bộ các động từ biểu thị quan hệ nhân quả và các quan hệ từ nhân quả mà chưa
có điều kiện miêu tả kĩ hơn theo các nhóm Việc tác giả xếp làm, khiến vào
cùng nhóm với bắt, mời, cấm là sự nhầm lẫn
2.2 Các tác giả thuộc Uỷ ban khoa học xã hội trong cuốn Ngữ pháp
tiếng Việt đã phân loại, miêu tả một cách cụ thể cấu tạo của câu ghép, trong
đó, câu ghép được chia thành câu ghép song song và câu ghép qua lại
Theo các tác giả, “đặc điểm quan trọng của nòng cốt - nòng cốt đơn hay
nòng cốt ghép - là khả năng độc lập về ngữ pháp, tức là khả năng làm thành
câu - câu đơn hay câu ghép Khi đứng độc lập làm thành phần câu, nòng cốt
đơn có vai trò biểu thị một quá trình tư duy và thông báo hoàn chỉnh” [46, 217]
Ví dụ:
Con chăm học Mẹ rất vui lòng
Để làm thành một câu ghép, các tác giả đã sử dụng phương tiện dẫn nối
là cặp quan hệ từ vì… nên biểu thị mối quan hệ nhân quả để chuyển câu đơn
thành câu ghép qua lại
Ví dụ:
Vì con chăm học nên mẹ rất vui lòng
Không những thế, nhóm tác giả này đã đưa ra phương án sử dụng nòng
cốt làm thành phần trong cấu tạo của câu đơn hoặc thành phần động ngữ
chứa động từ ngoại động có nghĩa gây khiến:
Ví dụ:
Con chăm học làm cho mẹ rất vui lòng
Anh thành công khiến em rất vui lòng
Trong trường hợp này, nòng cốt câu đơn cũng có giá trị tương đương
với danh ngữ và cũng có những cách diễn đạt như:
Việc anh thành công khiến em rất vui mừng
Anh thành công, điều đó khiến em rất vui mừng
Trong công trình này, các quan hệ từ được các tác giả gọi là kết từ Kết
từ được chia thành những tiểu loại chính sau đây: a) “Kết từ chính phụ” tức là
kết từ biểu thị quan hệ chính phụ Đó là những kết từ như: do, của, để, bởi, bởi vì, tại, tại vì, mà, từ, đối với… b) “Kết từ liên hợp” tức là kết từ biểu thị quan hệ liên hợp Đó là những từ như: và, với, hay, hoặc, cùng, những, song, thì… và những từ có thể dùng thành cặp như: nếu… thì, tuy… nhưng, vì… cho nên, không những… mà còn, càng… càng, vừa… vừa” [45, 91]
Như vậy, có thể thấy rằng các tác giả chưa phân loại, phân tích, miêu tả động từ biểu thị quan hệ nhân quả và quan hệ từ nhân quả một cách cụ thể,
mà mới chỉ đề cập đến một cách khái quát
2.3 Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt Câu, Hoàng Trọng Phiến đã đề
cập đến các khía cạnh biểu hiện của động từ nhân quả và quan hệ từ nhân quả Đồng thời, ông đã tiến hành phân loại quan hệ từ khá cụ thể thành các nhóm
Tác giả đã xếp những câu có chứa động từ khiến vào nhóm câu trung
gian giữa câu đơn và câu ghép, ông gọi đó là sự phức tạp hoá câu đơn, hay còn gọi là kiểu câu móc xích Kiểu câu này có mô hình tương ứng như sau:
D1Đ1D2Đ2
Ví dụ:
Công việc này khiến chúng tôi lo lắng
Toàn bộ câu là một chuỗi các yếu tố móc xích nhau và chia thành hai
bậc: khiến - chúng tôi và chúng tôi - lo lắng [24, 189]
Theo Hoàng Trọng Phiến, kết cấu móc xích có thể có giới từ cho, để cho… tuy nhiên, yếu tố giới từ không có vai trò quyết định đối với kết cấu
móc xích
Ví dụ:
Công việc này khiến cho tôi lo lắng
Việc ra đi của nó khiến cho tôi lưu luyến
Các loại câu nhân quả được tác giả chia thành 19 nhóm tương ứng
Trang 6Tuy tác giả đã chia các loại câu nhân quả thành các nhóm nhưng lại
chưa có điều kiện miêu tả kỹ các cấu trúc nhân quả
2.4 Tác giả Lê Biên trong cuốn Từ loại tiếng Việt hiện đại, coi “động
từ gây khiến là những động từ chỉ vận động có tác động gây khiến, chi phối
hoạt động của đối tượng” [2, 79]
Theo ông, động từ gây khiến đòi hỏi phải có hai bổ ngữ: bổ ngữ thứ
nhất (A1) là đối tượng chịu tác động của động từ gây khiến, thường là danh từ
và có thể là đại từ xưng hô; bổ ngữ thứ hai (A2) là bổ ngữ nội dung do hành
động của chủ thể (động từ gây khiến) chi phối, tác động gây ra ở đối tượng, vì
vậy, bổ ngữ chỉ nội dung thường là động từ, tính từ (hoặc một ngữ động từ,
ngữ tính từ…)
Sơ đồ cấu trúc của động từ gây khiến là:
A - V - A1 - A2
Ví dụ:
Con học giỏi khiến cho cha mẹ vui lòng
Trời mưa làm cho cây cối xanh tươi
Hai bổ ngữ (A1, A2) đều bị chi phối của động từ gây khiến nhưng
chúng vẫn có quan hệ với nhau Nếu tách A1 - A2 ra thì đó là một kết cấu chủ -
vị có nội dung thông báo, miêu tả hoàn chỉnh, ví dụ: cha mẹ vui lòng, cây cối
xanh tươi Như vậy, theo quan điểm của Lê Biên, 2 bổ ngữ của động từ gây
khiến nếu tách riêng ra có thể tạo thành một cụm chủ vị
Những động từ gây khiến theo Lê Biên gồm: sai, bảo, đề nghị, yêu cầu,
cho, cho phép, khuyên, cấm, ngăn cản, khiến (cho), làm (cho), làm…
2.5 Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban đã chia động từ
tiếng Việt thành hai lớp: lớp động từ độc lập và lớp động từ không độc lập
Lớp động từ độc lập là “những động từ biểu thị ý nghĩa quá trình (hành
động hoặc trạng thái) Ý nghĩa quá trình có thể nhận thức được tương đối rõ,
ngay cả trong trường hợp động từ không có từ khác đi kèm để bổ nghĩa” [1, 96]
Lớp động từ độc lập được phân chia thành một số nhóm nhỏ, dựa theo
“khả năng kết hợp được của động từ với một số nhóm phụ từ nhất định và khả
năng chi phối của động từ đối với những thực từ hay kết hợp từ đi kèm cho tính chuyên môn” [1, 96] Động từ quan hệ được tác giả xếp vào nhóm thứ hai, tức là nhóm động từ có thực từ đi kèm biểu thị đối tượng sai khiến và nội dung sai khiến Những động từ này có tên gọi chung là động từ khiên động thuộc lớp động từ ngoại động
Những động từ khiên động gồm có: nhờ, bảo, cử, bắt, khiến, yêu cầu…
Ví dụ:
Công an huyện yêu cầu bộ phận hình sự của công an tỉnh trợ giúp xác
minh (Cao Duy Thảo)
Một hôm hợp tác xã họp cử Keng đánh một chiếc xe bò lên huyện chở
phốt phát về (Nguyễn Kiên)
2.6 Nguyễn Kim Thản trong cuốn Động từ trong tiếng Việt, xếp làm,
khiến vào nhóm “động từ gây khiến” Theo ông, “động từ gây khiến biểu thị
hoạt động thúc đẩy, cho phép, giúp đỡ hay cản trở sự thực hiện của những hoạt động khác” [28] Đặc điểm ngữ pháp của động từ gây khiến được ông xếp vào bốn cấu trúc chính và hai cấu trúc được cải biến dưới dạng thức rút gọn
Những động từ gây khiến theo Nguyễn Kim Thản gồm: bảo, bắt buộc, buộc, bắt, cản trở, cho phép, cổ vũ, cưỡng bức, cưỡng ép, dạy, dắt, dẫn dắt, dìu dắt, đề nghị, đòi hỏi, cấm giục, gọi, giúp đỡ, hướng dẫn, hô hào, kêu gọi, khuyên nài, ép, sai, thuyết phục, yêu cầu…
Tóm lại, qua các công trình hiện có, các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc phân loại kho từ vựng nói chung và phân loại động từ, quan hệ từ nói riêng thành các loại, nhóm, tiểu nhóm Mối quan hệ nhân quả cũng được các tác giả
đề cập đến qua việc phân tích nhóm từ (ngữ) với thành tố phụ chỉ nguyên nhân và câu ghép nhân quả Song tính chất của mối quan hệ nhân quả và cách biểu hiện của nó là lĩnh vực nghiên cứu mới chỉ được đề cập khái quát Điều đáng chú ý là phần lớn các tác giả có đề cập đến các động từ quan
hệ làm, khiến đều nhầm lẫn các động từ này với động từ cầu khiến (bắt, bảo, cấm, mời, khuyên…)
3 Mục đích nghiên cứu
Trang 7Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ bản chất của mối quan hệ
nhân quả với tư cách là một kiểu quan hệ ngữ nghĩa, phân biệt nó với quan hệ
cú pháp; trên cơ sở đó, tìm hiểu phương thức biểu hiện mối quan hệ nhân quả
trong câu tiếng Việt, qua đó, giúp người dạy, người học ngữ pháp tiếng Việt
nắm vững, sử dụng tốt quan hệ từ nhân quả và động từ quan hệ biểu thị mối
quan hệ nhân quả trong giảng dạy và học tập ngữ pháp tiếng Việt
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cách biểu hiện mối quan hệ nhân
quả trong câu tiếng Việt hiện đại
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung vào 2 phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả:
- Cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả bằng phương tiện ngữ pháp
(bằng quan hệ từ)
- Cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả bằng phương tiện từ vựng - ngữ
pháp (bằng động từ quan hệ)
4.3 Nguồn ngữ liệu
Chúng tôi có khoảng 2000 phiếu tư liệu ghi các câu có ý nghĩa nhân
quả được biểu hiện bằng quan hệ từ và động từ quan hệ rút ra từ sách giáo
khoa ngữ văn phổ thông, từ báo chí và các tác phẩm văn học bằng tiếng Việt
(hầu hết là các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại)
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo được chúng tôi sử dụng trong luận
văn là phương pháp miêu tả
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp, thủ pháp nghiên cứu
sau đây:
Phương pháp thống kê, phân loại được chúng tôi áp dụng để thu thập,
xử lí các câu có sử dụng quan hệ từ và động từ quan hệ biểu thị quan hệ nhân quả
Phương pháp đối chiếu, so sánh được chúng tôi sử dụng để làm nổi
bật những nét tương đồng và khác biệt của các quan hệ, các hiện tượng ngữ nghĩa và ngữ pháp liên quan đến cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả
Luận văn cũng sử dụng các thủ pháp thử nghiệm như bổ sung, lược
bỏ, thay thế, cải biến và mô hình hóa để hạn chế sự cảm tính, chủ quan trong miêu tả các hiện tượng ngữ nghĩa, ngữ pháp và để hỗ trợ làm tăng hiệu quả của các phương pháp trên
6 Cái mới và những đóng góp của luận văn
Với luận văn này, có thể nói lần đầu tiên, cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt được nghiên cứu một cách có hệ thống và mang tính chuyên sâu Qua việc nghiên cứu đề tài này, luận văn có những đóng góp chính sau đây:
- Tổng kết (có nhận xét, đánh giá) một cách tương đối có hệ thống ý kiến của các nhà nghiên cứu về cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả bằng quan hệ từ và động từ quan hệ
- Phân tích, miêu tả làm rõ phương thức biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt bằng quan hệ từ, đặc điểm, tính chất của mối quan hệ
cú pháp giữa bộ phận chỉ nguyên nhân và bộ phận chỉ kết quả trong câu có ý nghĩa nhân quả được biểu hiện bằng quan hệ từ
- Phân tích, miêu tả, làm rõ phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả bằng động từ quan hệ, làm rõ đặc tính ý nghĩa và ngữ pháp (thuộc tính kết trị)
của các động từ quan hệ làm, khiến và tính chất ngữ pháp của kiểu câu có các
động từ này làm vị ngữ
7 Bố cục của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương này trình bày những vấn đề lý luận cơ bản làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài Đó là những vấn đề khái quát về quan hệ ngữ nghĩa, quan
hệ cú pháp và một số khái niệm khác có liên quan đến việc nghiên cứu đề tài
Trang 8Chương 2: Cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt
Chương này phân tích, miêu tả cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả
bằng phương tiện ngữ pháp (bằng quan hệ từ nhân quả) và bằng phương tiện
từ vựng - ngữ pháp (bằng các động từ quan hệ làm, khiến)
Chương 3: Vấn đề phân tích ngữ pháp kiểu câu có ý nghĩa nhân quả
được biểu hiện bằng quan hệ từ và động từ quan hệ
Chương này đề cập đến các nguyên tắc và các thủ pháp xác định thành
phần câu, khả năng chuyển đổi câu có ý nghĩa nhân quả được biểu hiện bằng
quan hệ từ thành câu có ý nghĩa nhân quả được biểu hiện bằng động từ quan
hệ (làm, khiến) và ngược lại; đồng thời phân tích, định loại về mặt cấu trúc
cho câu nhân quả tiếng Việt
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Quan hệ ngữ nghĩa
1.1.1 Định nghĩa
Trong cuốn Ý nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ, Wallace L Chafe coi cấu trúc ngữ nghĩa là cấu trúc được tạo xung quanh động từ trung tâm kèm với các danh từ có quan hệ với nó theo một số hướng Như vậy, cấu trúc ngữ nghĩa chính là quan hệ danh - động [47, 19]
Trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, nhóm tác giả
cho rằng: “Quan hệ ngữ nghĩa là mối liên hệ (tương quan) từ vựng - ngữ cú giữa các bộ phận của phát ngôn” [48, 239]
Tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng quan hệ ngữ nghĩa có 2 loại:
“Quan hệ ngữ nghĩa bậc một, mang tính khái quát cao được nhiều khoa học (ngôn ngữ học, triết học, toán học, logic học) quan tâm, như: quan hệ thứ
tự, quan hệ bao hàm, quan hệ tương tự, quan hệ đồng nhất, quan hệ mâu thuẫn” [44, 314]
“Quan hệ ngữ nghĩa bậc hai, làm nhiệm vụ cụ thể hoá cho các quan hệ bậc một Chẳng hạn, quan hệ thứ tự được cụ thể hoá thành các quan hệ: định
vị thời gian, trình tự diễn đạt, nhân quả v.v… Quan hệ bao hàm được cụ thể hoá thành các quan hệ: giống loài, chung riêng, sở hữu, đặc trưng…” [44, 314] Dương Hữu Biên lại coi “quan hệ ngữ nghĩa - chức năng là một trong hai dạng quan hệ cơ bản giữa một vị từ và các đối tố của nó” Theo đó, tác giả cũng xác định “quan hệ ngữ nghĩa - chức năng là quan trọng bởi nó chiếm giữ được cấu trúc cơ bản và nền tảng về các biến cố, sự kiện; đồng thời, nó có một sự phong phú và đa dạng về tên gọi trong nhiều lí thuyết khác nhau như
vai nghĩa, vai cách, vai ngữ nghĩa cách, quan hệ chủ đề…”
Theo tác giả, “các quan hệ chủ đề miêu tả chức năng ngữ nghĩa học của một đối tố với việc quan tâm đến vị từ trong một câu
Ví dụ:
(1) Mne nravitsja eta kniga (Tôi thích cuốn sách này)
Trang 9Ta thấy chủ thể (kẻ thể nghiệm) là ở trạng thái tặng cách (cách ba):
Mne; còn đối thể (vật được thể nghiệm) là ở hình thái chủ cách hay danh cách
(cách một): eta kniga Do vậy, về mặt logic sự tình thì (1) có thể đƣợc miêu tả
nhƣ (2):
(2) (Cuốn sách này [NOM] làm tôi [DAT] thích)
Nhƣ vậy, về cơ bản, các quan hệ chủ đề hoạt động với tƣ cách là một
bề mặt chung giữa ngữ nghĩa học từ vựng và cú pháp học Nói cách khác, các
quan hệ chủ đề là những quan hệ hai mang: Một mặt, chúng là những quan hệ
có tính ngữ nghĩa về bản chất và có quan hệ đến sự biểu hiện ngữ nghĩa từ
vựng của động từ, bởi lẽ chúng là một cách hành chức về ý nghĩa của động từ
Trong khi đó, ở mặt khác, chúng lại có những ngụ ý đối với ngữ pháp Các
quan hệ chủ đề này đã xác lập đƣợc một cách xác đáng vị trí đối với cơ sở
ngữ nghĩa của mình, nhƣng chúng cũng có thể là nhạy cảm đối với các yêu
cầu của ngữ pháp”.[3]
Chúng tôi tiếp thu và vận dụng ý kiến của các nhà nghiên cứu và để có
những hiểu biết cụ thể hơn về quan hệ ngữ nghĩa, chúng tôi dựa vào lí thuyết
về ba bình diện của câu
Nhƣ đã biết, trong hệ thống các đơn vị ngữ pháp, câu là kiểu đơn vị có
đặc tính rất phức tạp Theo quan niệm đƣợc thừa nhận rộng rãi hiện nay, câu
là một thực thể hỗn hợp đƣợc hình thành nên không phải bởi một mà bởi ba
bình diện: bình diện tâm lý, bình diện cú pháp và bình diện logic [19, 103]
Tán thành về cơ bản quan niệm về ba bình diện của câu đƣợc nhắc đến trên
đây nhƣng có sự điều chỉnh về tên gọi cho quen thuộc và dễ hiểu hơn, chúng
tôi phân biệt câu ở bình diện giao tiếp (tâm lý), bình diện cú pháp và bình
diện nghĩa sâu (logic)
Ở bình diện giao tiếp, câu là một đơn vị thông báo (một thông điệp)
đƣợc dùng trong những tình huống nói năng cụ thể Phân tích câu về mặt giao
tiếp chính là xác định đề ngữ - điểm xuất phát của thông báo và thuyết ngữ -
phần còn lại của câu có chức năng thuyết minh về đề ngữ
Về mặt cú pháp, câu là đơn vị đƣợc tạo thành từ sự kết hợp giữa các từ theo những quan hệ cú pháp nhất định Phân tích câu về mặt cú pháp là xác định các thành phần cú pháp của câu nhƣ chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ…; các quan hệ ngữ pháp nhƣ quan hệ chính phụ, quan hệ đẳng lập, quan
hệ chủ vị;các kiểu câu phân theo cấu trúc cú pháp cơ bản nhƣ câu đơn, câu ghép, hoặc các kiểu câu phân theo đặc trƣng hình thức và chức năng thực hiện hành vi ngôn ngữ nhƣ câu nghi vấn, câu cầu khiến… [30, 39]
Về mặt nghĩa sâu, câu là một cấu trúc gồm các thành tố ngữ nghĩa nằm trong mối quan hệ nhất định phản ánh trực tiếp sự kiện, hiện tƣợng trong hiện thực khách quan Phân tích câu về mặt nghĩa sâu là xác định hạt nhân ngữ nghĩa của câu (biểu thị các sự tình) và các tham tố ngữ nghĩa của bậc nghĩa sâu (biểu thị các thực thể tham gia vào các sự tình)
Theo Nguyễn Văn Lộc, trong việc phân tích mặt ý nghĩa của các thành phần câu (nghĩa của các thực từ trong câu), vấn đề khó khăn, phức tạp nhất là xác định bản chất và ranh giới các ý nghĩa cụ thể Đến nay, bản chất của các nghĩa cú pháp kiểu nhƣ chủ thể, đối thể, công cụ, nguyên nhân… chƣa đƣợc hiểu thống nhất và chƣa đƣợc xác định rõ ràng Trong các công trình ngữ pháp, các kiểu nghĩa trên đƣợc đồng nhất với phạm trù nghĩa sâu đƣợc xác định trên cơ sở cấu trúc sâu theo cách hiểu của Ch.Fillmore Theo quan niệm
này thì những cấu trúc kiểu nhƣ: (1) Malchik bezyt (Cậu bé đang chạy) và (2) Beg malchika (Sự chạy của cậu bé) sẽ nằm trong một lƣợc đồ ngữ nghĩa
chung, trong đó từ “machik” luôn có ý nghĩa chủ thể hoạt động Nhƣng nếu chỉ dựa vào nghĩa sâu để xác định, phân tích các thành phần câu thì sẽ có mâu thuẫn nảy sinh: Hoá ra thành tố chỉ chủ thể hoạt động không chỉ đƣợc xác định trong mối quan hệ với động từ (ở cấu trúc (1) mà còn đƣợc xác định trong mối quan hệ với danh từ ở cấu trúc (2)) Việc xác định, phân tích mặt nội dung của các thành phần câu chỉ dựa vào nghĩa sâu cũng sẽ gặp một số khó khăn không thể khắc phục đƣợc Chính S.D.Kasnelson đã chỉ ra điều này khi nhận xét về ngữ pháp cách của Ch Fillmore S.D.Kasnelson cho rằng
Trang 10trong những câu như (1) Dzon otkryl dver kljuchom (Giôn mở cửa bằng chìa
khoá) và (2) Kljuch otkryl dver (Chiếc chìa khoá mở cửa), theo ngữ pháp cách
của Ch Fillmore thì Kljuchom và kljuch (chìa khoá) đều ở cách công cụ (cách
I) Nhưng theo ý kiến của S.D Kasnelson thì cách phân tích như vậy sẽ mâu
thuẫn với chính điều mà Ch Fillmore đã khẳng định và cố gắng chứng minh,
đó là: Mỗi động từ xét về mặt kết trị, đều được đặc trưng bởi một lược đồ kết
trị nhất định, chẳng hạn, lược đồ kết trị của động từ otkryl (mở) là: người hành
động - đối thể tác động - công cụ Để khắc phục mâu thuẫn này, theo
S.D.Kasnelson thì phải cho rằng chỉ trong câu (1), Kljuchom mới có ý nghĩa
công cụ thuần tuý, còn trong câu (2), kljuch có ý nghĩa hỗn hợp: chủ thể và
công cụ [18, 111] Cũng với quan niệm tương tự, N.V.Solnesva cho rằng
trong câu Xe này chở hàng, từ xe chỉ chủ thể hoạt động mặc dù theo lý thuyết
cách của Ch Fillmore thì xe là công cụ [43, 31] Nghĩa chủ thể của từ xe trong
câu trên cũng như nghĩa chủ thể của từ kljuch trong câu (2) chính là nghĩa cú
pháp Như vậy, khi xác định, phân tích mặt nội dung của các thành phần câu,
việc dựa vào nghĩa sâu là cần thiết nhưng không đầy đủ và không cho phép
xác định bản chất của thành phần câu với tư cách là phạm trù cú pháp
Nghĩa cú pháp và nghĩa sâu mặc dù có mối quan hệ mật thiết với nhau
nhưng vẫn là hai kiểu nghĩa khác nhau về bản chất và chúng không phải luôn
luôn tương ứng với nhau Sự khác nhau giữa chúng là ở chỗ nghĩa cú pháp
của một từ chỉ được xác định trong mối quan hệ với nghĩa ngữ pháp của các
từ khác và luôn có hình thức ngữ pháp riêng để biểu thị, còn nghĩa sâu được
xác định trong mối quan hệ giữa các từ vựng của từ và không có hình thức
ngữ pháp riêng để biểu thị [35]
Từ những ý kiến luận giải về nghĩa sâu trên đây, chúng tôi rút ra quan
niệm của mình về cấu trúc ngữ nghĩa và quan hệ ngữ nghĩa như sau: Cấu trúc
ngữ nghĩa của câu (cấu trúc chìm, cấu trúc sâu) được phân biệt với cấu trúc cú
pháp (cấu trúc nổi) ở chỗ: cấu trúc ngữ nghĩa của câu là cấu trúc biểu thị mối
quan hệ ngữ nghĩa (quan hệ nghĩa sâu theo cách hiểu trên) giữa các từ, tổ hợp
từ trong câu Vậy, quan hệ ngữ nghĩa là mối quan hệ về mặt nghĩa sâu giữa
các từ, tổ hợp từ trong câu phản ánh trực tiếp quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan
1.1.2 Đặc điểm của quan hệ ngữ nghĩa
- Quan hệ ngữ nghĩa phản ánh trực tiếp mối quan hệ giữa các sự vật, sự kiện, hiện tượng trong thực tế khách quan Nó khác với quan hệ cú pháp chỉ trực tiếp phản ánh mối quan hệ giữa các từ
- Khác với quan hệ cú pháp luôn có hình thức cú pháp riêng để biểu thị, quan hệ ngữ nghĩa không bắt buộc phải có hình thức cú pháp riêng để biểu thị Chẳng hạn, quan hệ ngữ nghĩa nhân quả trong câu tiếng Việt có thể biểu hiện dưới các hình thức cú pháp là các cấu trúc có động từ quan hệ hoặc các cấu trúc có quan hệ từ nhân quả kiểu như:
Sự ra đi của anh khiến mẹ lo lắng (bằng động từ quan hệ “khiến”)
Vì sự ra đi của anh nên mẹ lo lắng (bằng quan hệ từ “vì…nên”)
1.1.3 Các dạng phổ biến của quan hệ ngữ nghĩa trong câu
- Quan hệ chủ thể - hành động: Nam đọc Mẹ về Nó chạy…
- Quan hệ hoạt động - đối tượng: đọc sách đập đá…
- Quan hệ hoạt động - công cụ: ăn bằng đũa liên lạc bằng điện thoại…
- Quan hệ sở hữu: tiền của tôi sách của Nam…
- Quan hệ nguyên nhân - kết quả: chết vì bệnh sống nhờ bạn…
1.2 Quan hệ cú pháp
1.2.1 Định nghĩa
Quan hệ cú pháp được hiểu là mối quan hệ giữa các thực từ trong câu được xác định dựa vào vai trò, chức năng của các từ đối với nhau “Cú pháp bắt đầu ở nơi diễn ra sự kết hợp giữa các từ” [41, 28] Theo cách hiểu này thì
quan hệ giữa một thực từ và một hư từ (ví dụ: đang đi, rất đẹp, bằng điện thoại…) không phải là quan hệ cú pháp thực sự Kiểu quan hệ này được gọi là quan hệ cận cú pháp(kvazisintaksicheskaja svjaz)
Để có cơ sở xác định tính chất của mối quan hệ cú pháp, trước hết, cần xác định sự có mặt của mối quan hệ cú pháp giữa các từ Hai từ (thực từ) được coi là có quan hệ cú pháp với nhau nếu giữa chúng có thể xác định mối
Trang 11quan hệ nhất định về mặt nội dung (ý nghĩa) và mối quan hệ về hình thức
Mối quan hệ hình thức giữa hai từ được xác định qua thủ pháp thay thế bằng
từ nghi vấn (thủ pháp đặt câu hỏi): Hai từ được coi là có quan hệ hình thức
với nhau nếu chúng lập thành tổ hợp trong đó ít nhất có một từ có khả năng
thay thế bằng từ nghi vấn Chẳng hạn, trong câu: Lan học toán rất giỏi, bằng
thủ pháp đặt câu hỏi kết hợp với thủ pháp phân tích ngữ nghĩa, ta có thể xác
định được các cặp thực từ có quan hệ cú pháp với nhau là: Lan học, học toán,
học rất giỏi Trong mỗi cặp này, các thực từ đều có quan hệ với nhau cả về
nội dung (ý nghĩa) lần hình thức (Ai học? Học gì? Học thế nào?) Các từ toán
và giỏi mặc dù đứng gần nhau nhưng không có quan hệ cú pháp với nhau
(không thể xác định mối quan hệ ý nghĩa và hình thức giữa chúng) Tổ hợp
gồm các từ có quan hệ cú pháp với nhau có thể gọi là cấu trúc cú pháp còn
các thực từ tham gia cấu trúc cú pháp có thể gọi là thành tố cú pháp
Như vậy, để xác định quan hệ cú pháp cần dựa vào “khả năng dùng độc
lập của một tổ hợp từ nhất định hoặc khả năng dùng tổ hợp đó với tư cách là
biến thể rút gọn của cấu trúc lớn hơn” [41, 58]
1.2.2 Cách biểu hiện quan hệ cú pháp
Trong tiếng Việt, hình thức cú pháp được dùng để biểu hiện mối quan
hệ cú pháp là:
- Trật từ từ
Trong tiếng Việt, trật tự từ là phương thức quan trọng nhất Điều này
thể hiện ở chỗ mỗi kiểu cấu trúc cú pháp tiếng Việt thường được đặc trưng
bởi một kiểu trật tự từ nhất định Chẳng hạn, theo qui tắc, cấu trúc chủ vị
trong tiếng Việt có trật tự C - V (chủ - vị) còn cấu trúc chính phụ có trật tự C -
P (chính - phụ) Sự thay đổi trật tự trên đây sẽ phá vỡ hoặc làm thay đổi bản
chất cấu trúc (so sánh: tôi hỏi và hỏi tôi, xây nhà và nhà xây) Mô hình câu
đơn của tiếng Việt ở dạng điển hình là C - V vốn có tính cố định cao Trong
khi đó, đối với các ngôn ngữ biến hình trật tự lại tương đối tự do
- Quan hệ từ (từ nối, kết từ)
Về ngữ pháp, sự có mặt hay vắng mặt của hư từ có thể làm thay đổi bản
chất cú pháp của câu Chẳng hạn, trong câu Trước nguy cơ Tổ quốc bị xâm lược đã buộc nhân dân ta phải cầm vũ khí chiến đấu sự có mặt của trước đã
làm cho câu sai ngữ pháp
Về ngữ nghĩa, hư từ có tác dụng phân biệt hay làm rõ mối quan hệ ngữ
nghĩa giữa các thực từ So sánh: gà mẹ khác với gà của mẹ
- Ngữ điệu Vai trò quan trọng của ngữ điệu trong cú pháp tiếng Việt thể hiện ở tác dụng của nó trong việc phân biệt các kiểu cấu trúc cú pháp Chẳng hạn, nhờ ngữ điệu (trên văn bản được biểu hiện bằng dấu câu) mà ta phân biệt được
cấu trúc chính phụ với cấu trúc đẳng lập trong trường hợp như: anh tôi (chính phụ); anh, tôi (đẳng lập) Ngữ điệu cũng giúp cho việc phân biệt cấu trúc chính phụ với cấu trúc chủ vị Chẳng hạn, trong Cậu học sinh đang xem ti vi
là em tôi thì “cậu học sinh đang xem ti vi” là cấu trúc chính phụ với yếu tố
phụ “đang xem ti vi” được phát âm nhẹ hơn và liền với trung tâm “cậu học
sinh”; còn trong Lúc ấy, cậu học sinh vẫn đang xem ti vi thì cậu học sinh vẫn đang xem ti vi là cụm chủ vị với vị ngữ đang xem ti vi được phát âm nhấn
mạnh hơn và tách biệt rõ rệt khỏi chủ ngữ
1.2.3 Cách xác định quan hệ cú pháp trong câu
Tính chất của mối quan hệ cú pháp giữa các từ (các thành tố cú pháp) trong cấu trúc cú pháp được xác định dựa vào vai trò cú pháp của chúng Vai trò của mỗi thành tố trong cấu trúc được xác định dựa vào mối quan hệ nội bộ của cấu trúc (vai trò bên trong hay vai trò “đối nội”) và mối quan hệ với các yếu tố bên ngoài (hay vai trò “đối ngoại”)
Theo Nguyễn Văn Lộc, việc xác định tính chất của mối quan hệ cú pháp trong cấu trúc có thể được thực hiện qua các bước sau:
Bước 1: Xác định vai trò trong cấu trúc của mỗi thành tố
Vai trò trong cấu trúc của mỗi thành tố được thể hiện ở hai khía cạnh: vai trò của các thành tố đối với nhau và vai trò của mỗi thành tố đối với toàn cấu trúc nói chung
Trang 12Vai trò của các thành tố đối với nhau được đánh giá theo hai mặt: mặt
nội dung và mặt hình thức Về nội dung, trong hai thành tố của cấu trúc, thành
tố nào có tác dụng bổ sung ý nghĩa cho thành tố kia sẽ là thành tố có vai trò
phụ, thành tố được bổ sung sẽ là thành tố có vai trò chính Về hình thức, trong
hai thành tố của cấu trúc, thành tố nào có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn
sẽ là thành tố có vai trò phụ, thành tố không có khả năng thay thế bằng từ
nghi vấn sẽ là thành tố chính Sau khi đã xem xét riêng mặt nội dung và hình
thức, cần xem xét kết hợp cả hai mặt để xác định thành tố chính của cấu trúc
xét trong quan hệ đối với nhau: Thành tố giữ vai trò chính cả về nội dung lẫn
hình thức sẽ được coi là thành tố chính
Vai trò của mỗi yếu tố đối với toàn cấu trúc thể hiện ở khả năng chi
phối ý nghĩa và tổ chức hình thức của cấu trúc: Trong hai thành tố của cấu
trúc, thành tố nào quy định bản chất ý nghĩa (ý nghĩa chung, tính đa dạng về
nghĩa) của cấu trúc, tổ chức hình thức của cấu trúc (tính đa dạng về tổ chức,
khả năng cải biến của cấu trúc như cải biến danh hoá, cải biến bị động, cải
biến vị trí…) sẽ được coi là thành tố có vai trò quan trọng hơn
Bước 2: Xác định vai trò của các thành tố trong mối quan hệ với các
yếu tố ngoài cấu trúc (vai trò “đối ngoại”)
Trong hai thành tố của cấu trúc, thành tố nào có khả năng đại diện cho
cấu trúc trong mối quan hệ cú pháp với các thành tố bên ngoài sẽ được coi là
thành tố có vai trò chính xét về mặt quan hệ bên ngoài
Bước 3: Xác định vai trò của các yếu tố trong cấu trúc dựa đồng thời
vào vai trò bên trong lẫn vai trò bên ngoài
Trong hai thành tố của cấu trúc, thành tố nào có vai trò chính cả trong
mối quan hệ bên trong lẫn quan hệ bên ngoài sẽ được coi là thành tố chính
của cấu trúc
Theo nguyên tắc trên đây, có thể xác định trong tiếng Việt hai kiểu
quan hệ cú pháp cơ bản và hai kiểu cấu trúc cú pháp tương ứng:
+ Quan hệ đẳng lập: sách và báo ăn và ngủ…
Trong những cấu trúc kiểu này, mỗi thành tố về hình thức đều có khả
năng thay thế bằng từ nghi vấn (Sách và gì? Gì và báo?), còn về nội dung,
không thành tố nào bổ sung ý nghĩa cho thành tố nào Trong quan hệ với các yếu tố ngoài cấu trúc, mỗi thành tố đều có khả năng đại diện cho cả cấu trúc Như vậy, các thành tố trong kiểu cấu trúc này có vai trò ngang nhau Kiểu quan hệ trong các cấu trúc này có thể gọi là quan hệ đẳng lập hay quan hệ bình đẳng
+ Quan hệ chính phụ (quan hệ phụ thuộc một chiều): bàn gỗ đọc sách giỏi văn…
Trong những cấu trúc kiểu này, các thành tố đứng sau (gỗ, sách) là các
thành tố phụ vì về nội dung, chúng đều bổ sung ý nghĩa cho các từ đứng trước
(gỗ bổ sung cho nhà ý nghĩa về chất liệu, sách bổ sung cho đọc ý nghĩa đối
thể); về hình thức, chúng đều có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn (ví dụ:
Nhà gì? Đọc gì?) Các thành tố này cũng không có khả năng chi phối bản chất
ý nghĩa và tổ chức hình thức của cấu trúc
Trong mối quan hệ với các yếu tố bên ngoài, các thành tố này hoàn toàn không có khả năng đại diện cho cả cấu trúc Các thành tố đứng trước có đặc điểm hoàn toàn trái ngược với các thành tố vừa nhận xét là các thành tố chính của cấu trúc Kiểu quan hệ trong các cấu trúc này có thể gọi là quan hệ phụ thuộc một chiều hay quan hệ chính phụ
Ngoài hai kiểu quan hệ cú pháp cơ bản trên đây (quan hệ đẳng lập và quan hệ chính phụ) còn một kiểu quan hệ có đặc tính không hoàn toàn rõ ràng Thuộc về kiểu này là:
1) Quan hệ chủ vị: Ví dụ: Mẹ về Nó ngủ Nó bận…
Cấu trúc kiểu này lâu nay vẫn được gọi là cấu trúc chủ vị (cụm chủ vị, cụm từ tường thuật, mệnh đề) Hầu hết các tác giả nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt coi quan hệ chủ vị là quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa hai thành tố tạo nên cấu trúc nòng cốt của câu Tuy nhiên, các tác giả theo quan niệm này
có cách nhìn nhận khác nhau về vai trò của chủ ngữ, vị ngữ Có tác giả coi chủ ngữ là thành tố có vai trò quan trọng hơn [31];một số lại coi vị ngữ là
Trang 13thành tố có vai trò quan trọng hơn Số còn lại cho chủ ngữ, vị ngữ là hai thành
tố có vai trò ngang nhau
Khác với các tác giả quan niệm quan hệ chủ vị là quan hệ phụ thuộc lẫn
nhau, V.S.Panfilov cho rằng về bản chất, quan hệ chủ vị cũng chỉ là một dạng
của quan hệ chính phụ trong đó vị ngữ là thành tố chính [41,77-78]
2) Quan hệ đối ứng: Quan hệ đối ứng lại tồn tại trong một số kiểu câu
ghép như:
Câu ghép nhân quả: Vì trời mưa nên đường trơn v.v…
Câu ghép điều kiện - kết quả: Nếu tự vẽ mình sặc sỡ thì ta càng xám xịt v.v…
Câu ghép nhượng bộ: Tuy ngủ ít nhưng ông tỉnh táo lắm v.v…
Đối với các cấu trúc kiểu này, cũng có hai cách phân tích: a) coi đây là
cấu trúc chính phụ, trong đó, thành tố đứng sau (thành tố chỉ kết quả) là thành
tố chính [15]; b) coi đây là cấu trúc trong đó các thành tố có quan hệ phụ
thuộc lẫn nhau [24]
Xem xét bản chất của các cấu trúc kiểu đối ứng vừa dẫn ra theo nguyên
tắc xác định trên đây, ta thấy quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc kiểu
này quả là có nét nhất định của tính chất phụ thuộc lẫn nhau Nét phụ thuộc
lẫn nhau của các thành tố trong kiểu cấu trúc này thể hiện rõ ở mối quan hệ
nội bộ cấu trúc Về hình thức, mỗi thành tố trong cấu trúc đều có khả năng
thay thế bằng từ nghi vấn (Ví dụ: Ai về? Ai ngủ? Vì sao đường trơn? Vì trời
mưa nên thế nào?) Về nội dung, mỗi thành tố trong cấu trúc đều có tác dụng
nêu đặc điểm ý nghĩa cho thành tố kia (ở cấu trúc chủ vị, chủ ngữ bổ sung cho
vị ngữ ý nghĩa chủ thể hoạt động hay kẻ mang đặc điểm của sự vật do danh từ
hay đại từ làm chủ ngữ biểu thị, còn vị ngữ nêu hoạt động hay đặc điểm của
sự vật do chủ ngữ biểu thị) Tuy nhiên, nếu xem xét những cấu trúc trên đây
theo mối quan hệ ngoài cấu trúc thì có thể nhận thấy ở kiểu cấu trúc này lại có
tính chất chính phụ khá rõ trong đó vai trò chính thuộc về thành tố thứ hai (vị
ngữ trong cấu trúc chủ vị và thành tố chỉ kết quả trong quan hệ đối ứng) vì chỉ
các thành tố này mới có khả năng đại diện cho cả cấu trúc trong mối quan hệ
với bên ngoài
Xem xét kết hợp cả quan hệ bên trong và quan hệ bên ngoài cấu trúc, ta thấy việc xếp cấu trúc chủ vị và cấu trúc đối ứng kiểu trên đây vào cấu trúc chính phụ hay cấu trúc phụ thuộc qua lại đều có cơ sở nhất định và việc lựa chọn giải pháp nào ở đây phần nào mang tính quy ước và xuất phát từ mục đích nghiên cứu Trong luận văn này, chúng tôi chọn giải pháp thứ nhất, tức
là coi kiểu cấu trúc chủ vị và cấu trúc đối ứng kiểu trên đây là cấu trúc chính phụ vì vai trò chính nghiêng về thành tố đứng sau (vị ngữ và thành tố chỉ kết quả)
1.3 Sự tương ứng giữa quan hệ ngữ nghĩa - quan hệ cú pháp
Quan hệ ngữ nghĩa và quan hệ cú pháp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng vẫn là hai kiểu quan hệ khác nhau về bản chất và chúng không phải luôn tương ứng với nhau
Sự khác nhau giữa quan hệ cú pháp và quan hệ ngữ nghĩa là ở chỗ quan
hệ cú pháp chỉ được xác định trong mối quan hệ giữa các ý nghĩa ngữ pháp của từ và luôn có hình thức ngữ pháp riêng để biểu thị, còn quan hệ ngữ nghĩa được xác định trong mối quan hệ giữa các nghĩa từ vựng của từ và không có hình thức ngữ pháp riêng để biểu thị So sánh các cấu trúc sau đây:
Ví dụ:
(1) Đứa trẻ ra đời
(2) Sự ra đời của đứa trẻ
Trong cấu trúc (1) “ra đời” là động từ - thực từ nên về ý nghĩa ngữ pháp và ý nghĩa từ vựng đều chỉ hoạt động và “đứa trẻ” xét trong quan hệ với
“ra đời” vừa chỉ chủ thể cú pháp vừa chỉ chủ thể nghĩa sâu Như vậy, ở cấu trúc này, nghĩa cú pháp và nghĩa sâu có sự tương ứng với nhau Trong cấu trúc (2), theo thừa nhận chung, “ra đời” đã chuyển loại thành danh từ (dấu hiệu của sự chuyển loại này là khả năng kết hợp của “ra đời” với “sự” - yếu tố chuyên đi kèm với danh từ) Do đó, trong cấu trúc (2) “đứa trẻ” xét trong quan hệ với “sự ra đời” có ý nghĩa cú pháp kẻ sở thuộc nhưng về nghĩa sâu vẫn chỉ chủ thể hoạt động Như vậy, trong cấu trúc (2) nghĩa cú pháp và nghĩa
Trang 14sâu không tương ứng với nhau Tuy nhiên, “ra đời” trong cấu trúc (2), khi
chuyển loại thành danh từ, chỉ có ý nghĩa ngữ pháp sự vật tính, còn “về mặt từ
vựng thì nó vẫn chỉ hoạt động, tức là vẫn giữ lại đặc tính từ vựng của mình”
[10]
Hai cấu trúc trên đây có sự giống nhau về nghĩa sâu nhưng không giống
nhau về nghĩa cú pháp Sự khác nhau về nghĩa cú pháp giữa hai cấu trúc này
tương ứng với sự khác nhau về hình thức ngữ pháp giữa chúng: Trong cấu
trúc (1), “đứa trẻ” đứng trước động từ - thực từ và không được dẫn nối bởi
quan hệ từ; còn trong cấu trúc (2), “đứa trẻ” đứng sau danh từ và được dẫn
nối bởi quan hệ từ “của” có chức năng biểu thị ý nghĩa kẻ sở thuộc
Trái với trường hợp trên đây là trường hợp từ không có nghĩa sâu chủ
thể nhưng lại có nghĩa cú pháp chủ thể Đây là trường hợp của những cấu trúc
có hạt nhân là các động từ ngữ pháp kiểu như làm, khiến, bị, được…
Ví dụ:
(3) Sự săn sóc rất chu đáo của ông làm cho tôi lại phải lịm đi (Vũ
Trọng Phụng Giông tố)
(4) Tôi hốt hoảng vấp ngã khiến ông phải đưa tay đỡ vội lấy tôi
(Nguyễn Huy Thiệp Những tiếng lòng)
Khi phân tích những cấu trúc kiểu như trên đây, có tác giả xác nhận các
nhóm danh từ đứng trước các động từ làm, khiến có ý nghĩa nguyên nhân và
gọi chúng là “chủ ngữ nguyên nhân” [35] Nghĩa nguyên nhân ở đây cần được
hiểu là nghĩa sâu Còn về nghĩa cú pháp thì vì các từ làm, khiến vẫn còn là
động từ chứ chưa trở thành hư từ, nên xét trong quan hệ với làm, khiến, các
nhóm danh từ đứng trước vẫn có ý nghĩa cú pháp chủ thể
Tóm lại, khi xem xét sự tương ứng giữa quan hệ ngữ nghĩa và quan hệ
cú pháp, ta thấy có hai trường hợp:
- Quan hệ ngữ nghĩa có sự tương ứng với quan hệ cú pháp Đây là
trường hợp của những cấu trúc xuất phát (cấu trúc chưa được cải biến):
Nguyên nhân: Ví dụ: Sự vắng mặt của mẹ khiến tôi lo ngại
+ Dạng thức trong đó các từ có ý nghĩa sâu chủ thể không có ý nghĩa cú pháp chủ thể mà về nghĩa cú pháp có thể chỉ:
Kẻ sở thuộc: Ví dụ: Những suy nghĩ của anh ấy
Nguyên nhân: Ví dụ:
“Con bò rừng này bị hạ sát bởi một tay thợ săn thiện xạ”
Trong ví dụ trên đây, chủ thể nghĩa sâu của hoạt động hạ sát là một tay thợ săn thiện xạ Như vậy, nhóm danh từ sau bởi có nghĩa sâu chủ thể hoạt động mà về nghĩa cú pháp lại chỉ nguyên nhân Như chúng ta đã biết, bởi là
phương tiện cú pháp chỉ nguyên nhân Chúng ta có thể chuyển câu này sang
chủ động như sau: Con bò rừng này đã bị một tay thợ săn thiện xạ hạ sát
1.4 Một số khái niệm có liên quan khác
Ngoài các khái niệm nói trên, còn cần xác định thêm một số khái niệm khác
1.4.1 Khái niệm quan hệ từ
1.4.1.1 Định nghĩa
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, Nguyễn Như Ý (chủ biên)
cho rằng: “Hư từ cú pháp không được dùng để diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp của thực từ này hay khác mà là công cụ diễn đạt các quan hệ logic, các quan
hệ trong cách thức của người bản ngữ; còn gọi là từ nối” [48, 240]
Cùng với quan niệm đó, trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại), Đinh
Văn Đức cho rằng: “Các hư từ cú pháp không được dùng để diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp của thực từ này hay khác mà dùng để diễn đạt mối quan hệ giữa
Trang 15thực từ với thực từ trong các phát ngôn - nghĩa là diễn đạt mối quan hệ giữa
các khái niệm trong tư duy của người bản ngữ Hư từ cú pháp theo đó, cũng là
công cụ diễn đạt các quan hệ logic, các quan hệ trong cách thức phản ánh của
người bản ngữ Các hư từ cú pháp không làm trung tâm và cũng không làm
thành tố phụ đoản ngữ Chúng là một thứ phương tiện liên kết “xúc tác” thành
tố phụ với trung tâm, các đoản ngữ, các mệnh đề với nhau trong cấu trúc phát
ngôn Ngữ pháp truyền thống gọi các hư từ cú pháp là liên từ và giới từ
Trong tiếng Việt còn có những thuật ngữ khác để gọi chúng, chẳng hạn là các
từ nối hoặc quan hệ từ Thuộc về quan hệ từ tiếng Việt xưa nay người ta
thường nhắc tới các từ: bằng, của, cho, để, vì, tại, bởi, do, thì, là, mà, tuy, dù,
dầu, dẫu…” [11, 207]
Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban gọi quan hệ từ là kết
từ Theo quan điểm của Diệp Quang Ban, “về ý nghĩa khái quát, kết từ biểu
thị ý nghĩa về quan hệ giữa các khái niệm và đối tượng được phản ánh Kết từ
là dấu hiện biểu thị các quan hệ cú pháp giữa các thực từ (và hư từ) một cách
tường minh Về khá năng kết hợp và chức năng cú pháp, kết từ được dùng nối
kết các từ, các kết hợp từ, các câu và đoạn văn có quan hệ cú pháp” [1, 132]
Nói chung, cách hiểu được thừa nhận rộng rãi về quan hệ từ là: quan hệ
từ là phương tiện tổ hợp cú pháp (phương tiện cú pháp) dùng để dẫn nối các
từ (thực từ), cụm từ Chúng biểu thị quan hệ cú pháp - ngữ nghĩa giữa các từ
(thực từ), cụm từ (kiểu quan hệ nhân quả, công cụ, mục đích…) Việc quan hệ
từ có biểu thị quan hệ cú pháp hay không là việc còn phải bàn thêm
Chẳng hạn, các quan hệ từ và, hay, hoặc…dẫn nối các thành tố có quan
hệ đẳng lập (ví dụ: anh hoặc tôi: quan hệ lựa chọn, nó và tôi: quan hệ liệt kê);
còn các quan hệ từ bằng, với, vì, của… dẫn nối thành tố có quan hệ chính phụ
(ví dụ: liên lạc bằng điện thoại…) Về khả năng kết hợp, quan hệ từ gắn với
thành tố được dẫn nối Chúng ta có thể nói và tôi, và anh, bằng đũa, của tôi
mà không thể nói anh và, tôi và, ăn bằng, sách của Chúng ta cũng có thể
dùng hình thức đặt câu hỏi để xác định vị trí của quan hệ từ như sau: liên lạc bằng gì? Nó và ai? để tạo thành tổ hợp
Trong ngôn ngữ có thể gặp phổ biến những trường hợp tuy cùng chỉ ra một quan hệ cú pháp nhưng các quan hệ từ khác nhau biểu thị quan hệ ngữ nghĩa khác nhau
Ví dụ:
Các quan hệ từ ở, bằng, để cùng dẫn nối các thành tố phụ nhưng lại chỉ
ra các quan hệ ngữ nghĩa khác nhau:
- “Ăn ở hiệu” chỉ quan hệ về vị trí
- “Ăn bằng đũa” chỉ quan hệ về công cụ
- “Ăn để sống” chỉ quan hệ về mục đích
1.4.1.2 Phân loại
Có hai cách phân loại quan hệ từ:
Theo tính chất của mối quan hệ cú pháp, quan hệ từ thường được chia thành:
- Quan hệ từ phụ thuộc (của, bằng, vì, ở, cho, với…)
- Quan hệ từ đẳng lập (và, hay, hoặc…)
Theođặc điểm của các thành tố được dẫn nối, quan hệ từ thường được chia thành:
- Giới từ (dẫn nối danh từ, ngữ danh từ, đại từ)
- Liên từ (dẫn nối các thành tố có quan hệ đẳng lập và cụm chủ vị) Trong quá trình tiến hành đề tài này, chúng tôi theo cách phân chia thứ nhất
1.4.2 Khái niệm động từ quan hệ
Trong tiếng Việt có một nhóm từ đặc biệt vừa có đặc tính của thực từ
lại vừa có nét của hư từ Thuộc nhóm từ này là những kiểu từ như: là, trở nên, trở thành, làm, khiến, có thể, bị, được… Chúng tôi gọi những từ thuộc nhóm
này là những động từ quan hệ
Trang 16Về bản chất của nhóm từ này, trong những công trình nghiên cứu về
ngữ pháp tiếng Việt, ý kiến của các tác giả rất khác nhau Một số tác giả cho
đó là động từ đích thực, một số khác cho là động từ phụ trợ, số còn lại cho
phần lớn những từ trên là hư từ Cách hiểu khác nhau về bản chất của động từ
quan hệ dẫn đến những cách phân tích khác nhau những câu có vị ngữ là
những động từ này Điều này gây khó khăn cho việc dạy học câu tiếng Việt
nói riêng và ngữ pháp tiếng Việt nói chung
Sở dĩ có những ý kiến khác nhau về động từ quan hệ trên đây là vì đây
là nhóm từ có đặc tính từ loại rất phức tạp
Về ngữ nghĩa, chúng vừa biểu thị hoạt động (hiểu theo nghĩa ngữ pháp)
vừa biểu thị mối quan hệ giữa các thực từ trong cấu trúc, nói cách khác, chúng
có chức năng quan hệ
Về ngữ pháp, chúng vừa có khả năng giữ vai trò trung tâm tổ chức câu
vừa có thể dùng làm phương tiện cải biến câu
Trong giới hạn của đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứu các động từ
làm, khiến thuộc nhóm động từ hoạt động - quan hệ nguyên nhân
1.4.3 Khái niệm kết trị và kết trị của động từ tiếng Việt
Thuật ngữ kết trị (còn được gọi là hoá trị, ngữ trị) vốn được dùng đầu
tiên trong hoá học để đánh dấu khả năng của các nguyên tử làm hình thành
các mối liên kết hoá học [48, 121]
Thuật ngữ này được dùng trong ngôn ngữ học vào những năm 40 của
thế kỉ XX để “đánh dấu khả năng kết hợp của từng kí hiệu ngôn ngữ có thể có
với các kí hiệu khác để tạo thành giá trị chung nhiều hơn hoặc ít hơn giá trị
của các yếu tố đó cộng lại” [48, 121]
“Kết trị là khả năng của một yếu tố ngôn ngữ (hoặc nhóm các yếu tố)
kết hợp với yếu tố ngôn ngữ (hoặc nhóm các yếu tố) khác cùng cấp độ; đồng
thời khả năng này được qui định bằng những đặc điểm hình thức - ngữ nghĩa
bên trong của yếu tố (hoặc nhóm yếu tố) đang xét” [21, 141]
Nguyễn Văn Lộc trong cuốn “Kết trị của động từ trong tiếng Việt” đã định nghĩa một cách cụ thể về kết trị của động từ như sau: “Kết trị của động
từ là khả năng của động từ tạo ra xung quanh mình các vị trí mở cần hoặc có thể làm đầy bởi những thành tố cú pháp (những thực từ) mang ý nghĩa bổ sung nhất định Nói cách khác, kết trị của động từ là thuộc tính của động từ kết hợp vào mình những thành tố cú pháp bắt buộc hay tự do Thuộc tính kết hợp này hàm chứa trong ý nghĩa của bản thân động từ Nó chính là sự phản ánh những đòi hỏi hoặc khả năng của động từ được cụ thể hoá về mặt nào đó” [35, 34]
Kết trị của động từ theo cách hiểu trên đây sẽ được phân biệt với:
a Khả năng kết hợp từ vựng của từ
Nói đến khả năng kết hợp từ vựng của từ là nói đến khả năng kết hợp của từ với tư cách là cá thể hoặc đại diện của nhóm chủ đề Khả năng kết hợp
từ vựng bị quy định bởi ý nghĩa từ vựng riêng của từ Còn nói đến kết trị của
từ là nói đến khả năng kết hợp của từ với tư cách là đại diện của từ hoặc tiểu loại nhất định được đặc trưng bởi ý nghĩa từ vựng - ngữ pháp hoặc ý nghĩa ngữ pháp chung nhất định
b Khả năng kết hợp của thực từ với các hư từ
Sự kết hợp của thực từ với các hư từ (ví dụ: đã, sẽ, đang…) tạo thành
một tổ hợp đặc biệt dùng trong vai trò tương đương với một thực từ Trong những tổ hợp như vậy, hư từ chỉ là những yếu tố bổ sung ý nghĩa thuần ngữ pháp cho thực từ và hiện thực hoá thuộc tính kết trị của thực từ, chúng không phải là thành tố cú pháp thực sự
c Khả năng kết hợp cú pháp bắt buộc của từ
Kết trị của từ theo cách hiểu trên đây không chỉ là khả năng kết hợp của
từ với các thành tố cú pháp bắt buộc mà còn là khả năng kết hợp của từ với các thành tố cú pháp tự do
Kết trị của từ được xác định theo số lượng và đặc tính các vị trí mở bao quanh nó, còn bản thân số lượng và đặc tính của các vị trí mở lại được xác định dựa vào số lượng và đặc tính của các thành tố cú pháp làm đầy các vị trí
Trang 17mở này Như vậy, xác định và phân tích kết trị của từ thực chất là xác định và
phân tích các thành tố cú pháp làm đầy các vị trí mở bên từ
Với tư cách là thành tố cú pháp, các kết tố của từ mang kết trị được đặc
trưng bởi cả hai mặt: mặt nội dung và mặt hình thức, vì vậy, khi xác định
chúng, phải chú ý cả hai mặt này Về nội dung, mỗi kết tố phải có mối quan
hệ ngữ nghĩa nhất định với từ mang kết trị Về hình thức, nó phải có khả năng
thay thế bằng từ nghi vấn, tức là có thể dựa vào từ mang kết trị để đặt câu hỏi
về nó Chẳng hạn, trong cấu trúc “ăn cơm bằng đũa”, ta có thể xác định được
động từ “ăn” có hai kết tố là “cơm” và “đũa” vì về nội dung hai từ này đều có
tác dụng bổ sung ý nghĩa cho động từ ăn (cơm bổ sung ý nghĩa đối thể, đũa
bổ sung ý nghĩa công cụ) còn về hình thức hai từ này đều có khả năng thay
thế bằng từ nghi vấn (Ăn gì? Ăn bằng gì?)
Kết trị của động từ được chia thành kết trị bắt buộc và kết trị tự do
Theo Nguyễn Văn Lộc, “việc phân biệt kết trị bắt buộc và kết trị tự do của
động từ được dựa vào đặc tính khác nhau của mối quan hệ giữa động từ với
hai kiểu kết tố: kết tố bắt buộc và kết tố tự do Kết trị bắt buộc là khả năng
của động từ tạo ra xung quanh mình các vị trí mở cần làm đầy bởi các kết tố
bắt buộc; còn kết trị tự do là khả năng của động từ tạo ra xung quanh mình
các vị trí mở có thể làm đầy bởi các kết tố tự do” [35, 52]
Trong quá trình tiến hành đề tài này, khi vận dụng lý thuyết kết trị để
miêu tả các động từ quan hệ, chúng tôi chủ trương đặc biệt chú ý đến kết trị
bắt buộc của động từ Bởi vì kết trị bắt buộc luôn gắn liền với ý nghĩa từ vựng
- ngữ pháp của động từ Khi tiến hành xem xét, phân tích kết trị bắt buộc, ta
sẽ phát hiện được những thuộc tính cú pháp bản chất nhất của động từ
1.5 Tiểu kết
Trên cơ sở lí thuyết được chúng tôi tiếp thu và vận dụng quan niệm của
các nhà nghiên cứu ngữ pháp, chúng tôi đưa ra quan niệm của mình về quan
hệ ngữ nghĩa, phân biệt nó với quan hệ cú pháp, xác định sự tương ứng giữa
quan hệ ngữ nghĩa và quan hệ cú pháp; đồng thời chúng tôi cũng đưa thêm
một số khái niệm có liên quan đến đề tài, trong đó chúng tôi vận dụng lý
thuyết về “Kết trị của động từ tiếng Việt” của Nguyễn Văn Lộc để tiến hành khảo sát cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt bằng động
từ quan hệ
Trang 18CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ
TRONG CÂU TIẾNG VIỆT 2.1 Nhận xét chung
Mối quan hệ nguyên nhân kết quả (mối quan hệ nhân quả) tồn tại phổ
biến trong hiện thực khách quan và trong ngôn ngữ
Từ xa xưa, trong dân gian, nhân dân lao động đã truyền tụng nhau
những câu tục ngữ, thành ngữ: “Ở hiền gặp lành”, “Gieo gió gặt bão”, “Nhân
nào quả ấy”,… để chỉ rõ nguyên nhân kết quả hay hậu quả của một hành
động, việc làm nào đó của sự vật, hiện tượng, của con người trong cuộc sống
Chẳng hạn, họ cho rằng nếu con người ăn ở có phúc, không hại ai thì sẽ được
mọi người yêu quý, kính trọng và gặp điều may mắn… Đó là một thực tế vẫn
còn giá trị cho đến bây giờ
Hay trong đạo Phật, các tăng ni, phật tử thường có triết lý “luân hồi
nghiệp báo”, cho rằng: con người sống ở kiếp này xấu hay tốt là kết quả có
nguyên nhân từ kiếp trước
Ngày nay, ta cũng thường nghe những câu cửa miệng của mọi người về
quan hệ nhân quả như: “Quá mù ra mưa”, “Vì nắng lắm nên mưa nhiều”, “Vì
mưa nhiều nên lụt lội”, “Do phóng nhanh vượt ẩu nên bị tai nạn”,…
Qua những ví dụ trên đây, có thể thấy rằng bất cứ sự kiện, hiện tượng
nào cũng có nguyên nhân của nó Quan hệ nhân quả trong thực tế được phản
ánh trong mọi ngôn ngữ Nhưng trong mỗi ngôn ngữ, mối quan hệ này lại
được biểu hiện theo những cách khác nhau
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có hai phương thức
biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt, đó là:
- Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả bằng phương tiện ngữ pháp:
bằng các cặp quan hệ từ nhân quả: “vì… nên”, “do… nên”, “bởi… nên”…
Ví dụ:
Tại chị thiệt thà nên chị không muốn hiểu (Hồ Biểu Chánh Bỏ chồng)
Ngày xưa, vì lối đi chưa được tiện lợi và nhanh chóng, cho nên nhà vua
lập ra hai trường thi, trường Hà Nội và trường Nam Định để học trò dễ sự thi
cử (Nguyễn Công Hoan Sóng vũ môn) Bởi thầy u tôi mắc nợ nên tôi mới phải chịu khổ thế này (Thạch Lam Đứa con)
Nhờ bà dày công dạy dỗ tập rèn, nên chừng con Quyên được mười sáu
mười bảy tuổi thì công ngôn dung hạnh mọi bề đều vẹn vẻ (Hồ Biểu Chánh
Cha con nghĩa nặng)
- Phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả bằng phương tiện từ vựng -
Mặt trời buổi chiều rọi thẳng ánh nắng vào những tốp máy bay địch,
làm cho chúng nó loé sáng trên nền trời, nhìn rõ từ rất xa (Nguyễn Đình Thi Vào lửa)
Chị bịt đầu bằng chiếc khăn vải kẻ ô vuông buông một vạt dài ra phía
sau khiến những nét thiếu hoà hợp trên mặt càng trở nên thô, càng đỏng đảnh (Nguyễn Khải Mùa lạc)
Dưới đây, chúng ta sẽ lần lượt xem xét cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả bằng các phương tiện nêu trên
2.2 Cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả bằng quan hệ từ
2.2.1 Thành tố nguyên nhân 2.2.1.1 Quan hệ từ chỉ nguyên nhân Theo tống kê của chúng tôi, các quan hệ từ chỉ nguyên nhân gồm: vì,
do, bởi, bởi vì, tại, tại vì, nhờ Chúng tôi nhận thấy, quan hệ từ chỉ nguyên
Trang 19nhân thường có cấu tạo đơn (có 989 trường hợp chiếm 98,9% tổng số tư liệu
về quan hệ từ được khảo sát)
Đây được coi là những quan hệ từ chính phụ Quan hệ từ chính phụ
“dùng để dẫn nối thành tố phụ vào thành tố chính (nối kết từ phụ với từ chính,
thành phần phụ với thành phần chính của câu)” [1, 133]
Ví dụ:
Anh ta trông dữ tợn vì hai con mắt trắng dã trên màu da mun, song bản
tính thực hiền lành chất phác (Nguyễn Công Hoan Samandji I.)
Bởi rất yêu và phục chồng, Liên dễ mau đến cái lúc nhìn đời bằng con
mắt của chồng (Nam Cao Sống mòn)
Người đời sung sướng hay khổ sở cũng là do số mệnh không ai cưỡng
nổi mệnh trời (Vũ Trọng Phụng Duyên không đi lại)
Do lượng người và phương tiện giao thông qua lại khá đông, nhất là
phương tiện có trọng tải lớn nên cầu xuống cấp, hư hỏng nhanh (Báo Nhân
dân Ngày 20/10/2007)
Mấy hôm nay, nhờ trời, dân Việt Nam ta không phải phàn nàn rằng
nước ta kém nực (Nguyễn Công Hoan Phành phạch)
Đêm hôm đó, nhờ anh can đảm, quân cướp bị giải lên huyện (Nguyễn
Công Hoan Ngậm cười.)
Nó nghèo, nó khổ, nó đổ là tại số (Vũ Trọng Phụng Chống nạng lên
đường.)
Tại chị em nhà cậu tặng tôi mấy cái chén ngọc liệu nên tôi mới nghĩ
đến việc lấy bầu nậm (Nguyễn Tuân Ngôi mả cũ)
Dựa vào ý nghĩa, chúng tôi chia các quan hệ từ chỉ nguyên nhân thành
ba nhóm sau:
- Quan hệ từ chỉ nguyên nhân có lợi: nhờ
- Quan hệ từ chỉ nguyên nhân có hại: tại, tại vì
- Quan hệ từ chỉ nguyên nhân có sắc thái ý nghĩa trung hoà: Vì, do, bởi, bởi vì
Theo khảo sát của chúng tôi, trong 1000 trường hợp có sử dụng quan
hệ từ chỉ nguyên nhân, có 136 trường hợp chỉ nguyên nhân có lợi, chiếm
13,6%; 130 trường hợp chỉ nguyên nhân có hại chiếm 13% và 734 trường hợp chỉ nguyên nhân có sắc thái trung hoà Như vậy, quan hệ từ chỉ nguyên nhân
có sắc thái trung hoà là những quan hệ từ được sử dụng nhiều nhất Tuy nhiên, cách phân loại trên đây chỉ mang tính tương đối do sự đối lập giữa các quan hệ từ không hoàn toàn rõ ràng
Dưới đây, chúng tôi sẽ lần lượt miêu tả các nhóm quan hệ từ này
2.2.1.1.1.Quan hệ từ chỉ nguyên nhân có lợi: nhờ Như chúng ta đã biết, quan hệ từ nhờ có nguồn gốc từ động từ nhờ với
ý nghĩa “đề nghị người nào làm việc gì”, sau, do bị hư hóa nên nó trở thành
hư từ, dùng để “biểu thị điều sắp nói ra là nguyên nhân dẫn đến kết quả tốt đẹp, khả quan được nói đến” [23, 724]
Chẳng hạn trong câu “Nhờ sức che chở của chiếc nón rách, chị chỉ bước rảo một thôi thì tới cổng nhà Nghị Quế (Ngô Tất Tố Tắt đèn), cụm từ sức che chở của chiếc nón rách đứng sau nhờ nêu điều có lợi giúp chị Dậu
đến đích được nhanh hơn
Dưới đây là một số ví dụ về cách dùng của nhờ:
Nhờ trời phật run rủi, anh ấy còn được gặp vợ con, nên em hỏi đúng
ngay anh đại uý là bạn chiến đấu cùng một tiểu đội với nhà em (Ma Văn
Kháng Thanh minh trời trong sáng) Mãi lúc chàng lại nghĩ đến Tuyết, và nhờ sự liên tưởng, cái tên Tuyết
ấy mới giúp chàng tìm ra được tên Thu (Khái Hưng, Nhất Linh Đời mưa gió) Đêm hôm ấy, nhờ ngoài Hiệp Mỹ phối hợp, du kích bãi sao mở một
trận địa cuối cùng dài hai cây số từ bãi dài ra khỏi Voi Miễu giết thêm hai
mươi tên (Anh Đức Một chuyện chép ở bệnh viện) Nhờ cái tài nịnh hót của nó, Tú Anh nhất định đem gả em gái chonó đấy (Vũ Trọng Phụng Giông tố)
Và chỉ nhờ cái đá xoàng ấy mà tiếng tăm tôi vang rộn, ít nhất là trong cái xóm này (Tô Hoài Dế Mèn phiêu lưu ký)
Ngoài cách dùng riêng như trên, nhờ còn dùng trong tổ hợp với là về phía trước và có về phía sau
Ví dụ:
Trang 20Vũ dũng như hắn mà làm được lí trưởng là nhờ có cụ (Nam Cao Chí Phèo)
Nó chẳng biết mẹ nó ngày xưa sống được là nhờ những cái nồi đất ấy
(Anh Đức Hòn đất)
Chúng con được như ngày nay thực là nhờ ở anh con (Khái Hưng Nửa
chừng xuân)
Mấy quán cà phê nổi tiếng còn tồn tại được là nhờ cái vẻ tiều tụy, nhem
nhuốc của nó (Nguyễn Khải Chị Mai)
Trong các ví dụ trên đây, là vừa có tác dụng nhấn mạnh, vừa tạo sự hài
hòa về ngữ điệu cho câu văn
Chỉ nhờ có đồng xu dày dặn, sắc cạnh và cái tài đánh đáo, tôi đã sống
thảnh thơi, đầy đủ, tôi may cả quần áo, sắm được giày mũ, muốn ăn gì cũng
có tiền mua, đi xem chớp bóng, và đá banh không thèm ngồi hạng bét
(Nguyễn Hồng Những ngày thơ ấu)
Nhờ có con đường xe hỏa đi qua, và một con sông nhỏ, nhánh của sông
Nhị Hà, nên sự buôn bán đâm ra thịnh vượng (Thạch Lam Bên kia sông)
Nhờ có con Yến tôi mới còn sống được đây (Hồ Biểu Chánh Bỏ chồng)
Trong kết hợp với yếu tố có, tổ hợp nhờ có vừa có tác dụng nhấn mạnh,
vừa có sắc thái nghĩa tồn tại Tuy nhiên, có ở đây không giống như động từ
đích thực Nó có thể bị lược bỏ khá dễ dàng So sánh:
Nhờ có ánh sáng của nước mưa, người ta cũng nhìn rõ được mọi vật ở
ngoài cái vòng ánh sáng của đèn xe (Vũ Trọng Phụng Giông tố)
→ Nhờ ánh sáng của nước mưa, người ta cũng nhìn rõ được mọi vật ở
cái vòng ánh sáng của đèn xe (+)
Nhờ có đôi giày cao gót, bà hãy còn đủ cả đằng trước lẫn đằng sau
(Nguyễn Công Hoan Bà chủ mất trộm)
→ Nhờ đôi giày cao gót, bà hãy còn đủ cả đằng trước lẫn đằng sau (+)
2.2.1.1.2 Quan hệ từ chỉ nguyên nhân có hại: tại, tại vì
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), tại được coi là kết
từ với ý nghĩa “biểu thị điều sắp nêu ra là nguyên nhân của việc không hay
đến kết quả không hay (tôi không được việc)
Dưới đây là một số ví dụ về cách dùng của tại:
Tại lòng tự ái, không muốn cho kẻ dưới cãi chữa khi bị trừng phạt, tại
quá tin không bao giờ mình nhầm lẫn, hơn nữa, sợ nhắc đến câu hỗn láo của
tôi trước tụi học trò thì sẽ không được kính sợ nữa (Nguyên Hồng Những ngày thơ ấu.)
Thật ra cũng là cái vạ, nghe đâu chú nó nói hôm ấy tại người khách đi
xe không biết nói với người đội xếp thế nào mới bị bắt, chớ không cũng
chẳng việc gì (Thạch Lam Một cơn giận) Tại anh đã học ở trường thuốc nên thơ của anh cũng có mùi khoa học chứ gì? (Vũ Trọng Phụng Số đỏ)
Trong ví dụ cuối cùng dẫn ra trên đây, có thể thay tại bằng vì hoặc do
Trường hợp này, khi thay thế các quan hệ từ chỉ nguyên nhân cho nhau, chúng ta thấy rằng câu văn sẽ bị giảm sắc thái ý nghĩa có hại mà thay vào đó
là sắc thái trung hòa
Như vậy, quan hệ từ chỉ nguyên nhân có hại tại vừa biểu thị sắc thái ý
nghĩa bất lợi, vừa có sắc thái trung hòa
Trang 21Ngoài cách biểu hiện đơn trên đây, tại còn kết hợp với yếu tố vì tạo
thành từ ghép tại vì Từ này cũng mang ý nghĩa chỉ nguyên nhân có hại,
nhưng nó lại có ý nghĩa nhấn mạnh hơn điều được nói đến
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), bởi được coi là
kết từ với ý nghĩa “biểu thị điều sắp nêu ra là người hoặc vật gây ra trạng thái
đã nói đến” [23, 86]; do được coi là kết từ với ý nghĩa “biểu thị quan hệ
nguyên nhân, nguồn gốc và kết quả, hậu quả; biểu thị điều sắp nêu ra là
nguyên nhân của sự việc nói đến [23, 259]; vì được coi là kết từ với ý nghĩa
“biểu thị điều sắp nêu ra là lí do hoặc nguyên nhân của điều được nói đến”
[23, 1113]
Trong cách phân loại này, quan hệ từ chỉ nguyên nhân có ý nghĩa trung
hòa có thể được dùng với 2 sắc thái: chỉ nguyên nhân có lợi và chỉ nguyên
nhân có hại
+ Chỉ nguyên nhân có lợi:
Ví dụ:
Họ rất vui sướng vì họ tin đã làm toại được sở thích của cha già
(Nguyễn Tuân Hương cuội)
Có lúc hắn tưởng là hắn chết thì lại chính là lúc hắn bắt đầu lên lưng,
do cái trầu (Nam Cao Mua danh)
Có lẽ đó là bởi lễ độ của hạng người có học thức, có giáo dục (Khái
Hưng Đời mưa gió.)
Cô say mê anh, bởi cặp mắt dịu dàng, quyến rũ, cái miệng rất có duyên,
một thân hình khoẻ mạnh, cân đối (Nguyễn Khải Mùa lạc)
+ Chỉ nguyên nhân có hại:
Ví dụ:
Thằng con trai ông ở bộ đội về là đi nằm bệnh viện tỉnh cả năm trời để
chữa bệnh gan do sốt rét mãn tính (Nguyễn Khải Ông cháu.) Hắn không quen đợi, bởi phải đợi, hắn lại lôi rượu, và uống cho đỡ buồn (Nam Cao Chí Phèo.)
Anh ta trông dữ tợn vì hai con mắt trắng dã trên màu da mun (Nguyễn Công Hoan Samandji I)
Qua những ví dụ trên đây, chúng ta có thể nhận thấy sự khác biệt giữa hai sắc thái ý nghĩa của nhóm quan hệ từ chỉ nguyên nhân có ý nghĩa trung hòa Cùng là một quan hệ từ nhưng chúng lại được dùng với hai sắc thái ý nghĩa khác nhau
Dưới đây, chúng tôi sẽ lần lượt miêu tả từng quan hệ từ thuộc nhóm này
* Quan hệ từ bởi
Trong ý kiến của Hoàng Phê được dẫn ra trên đây, theo chúng tôi có
điểm chưa thật hợp lý Theo cách hiểu của chúng tôi bởi cũng giống với những quan hệ từ chỉ nguyên nhân đích thực như nhờ, vì, do…, tức là không
phải chỉ “biểu thị điều sắp nói ra là người hay vật gây ra trạng thái đã nói đến” mà còn biểu thị điều sắp nói ra là sự kiện, hoạt động gây ra trạng thái,
kết quả nói đến Nói cách khác, bởi không chỉ dẫn nối danh từ, đại từ mà còn dẫn nối vị từ, cụm chủ vị cũng giống như vì, do…
Ví dụ:
Làm nhiệm vụ giữa ngàn khơi trùng trùng sóng nước, những khó khăn
về vật chất không còn là vấn đề lớn đối với người lính đảo Trường Sa, bởi họ
luôn luôn nhận được sự quan tâm từ đất liền (Báo Nhân dân Ngày 20/07/2008)
Bởi thất vọng về một người trưởng nam đã tìm được lối xuất thân, cụ càng hiểu và yêu người con thứ (Nguyễn Tuân Một cảnh thu muộn)
Cô say mê anh bởi cặp mắt dịu dàng, quyễn rũ, cái miệng rất có duyên, một thân hình khoẻ mạnh, cân đối (Nguyễn Khải Mùa lạc)
Trang 22Ngoài cách biểu hiện trên đây, bởi còn kết hợp với một số yếu tố khác
tạo thành tổ hợp như: là bởi, bởi chưng, bởi vì đều chỉ nguyên nhân, lý do của
sự việc, hành động
- Trong những tổ hợp này, theo chúng tôi, tổ hợp là bởi chưa phải là
một cấu tạo chặt đến mức như một từ ghép mà chỉ là tổ hợp có cấu tạo chặt,
thường hay dùng tương ứng với sở dĩ hoặc dùng để dẫn nối thành tố chỉ
nguyên nhân khi nó có vị trí sau thành tố chỉ kết quả
Ví dụ:
Hài gọi một cái xe về nhà Sự hoang phí ấy sở dĩ có là bởi hắn mệt rã
rời (Nam Cao Quên điều độ)
Ông đồ Uẩn dùng lối xưng hô ấy là bởi cái tập quán ở chốn hương
thôn (Vũ Trọng Phụng Giông tố)
- Tổ hợp bởi chưng được sử dụng nhiều hơn trong ca dao, tục ngữ và
trong văn học cổ, cũng có ý nghĩa như bởi nhưng việc sử dụng tổ hợp từ này
hiện nay rất hạn chế
Ví dụ:
Bởi chưng bác mẹ tôi nghèo
Cho nên tôi phải băm bèo, thái khoai (Ca dao)
- Tổ hợp bởi vì là tổ hợp từ được sử dụng khá nhiều trong những cấu
trúc biểu thị nguyên nhân, lý do của sự việc được nói đến Theo chúng tôi, tổ
hợp này có cấu tạo chặt chẽ, có thể coi là một từ ghép
Ví dụ:
Bởi vì lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho (Nam Cao Chí Phèo)
Lời khai của thằng Tý nghe phi lí lắm, bởi vì có chứng cớ rõ ràng, trọn
đêm hồi hôm Hương hào Hội ở nhà chớ không có đi đâu hết (Hồ Biểu Chánh
Cha con nghĩa nặng)
Bởi vì năm nay các em không còn bé bỏng gì nữa, đã chuẩn bị trở thành
người lớn rồi, toán các em sẽ làm quen với quỹ tích, văn các em sẽ bắt đầu
học nghị luận.(Nguyễn Nhật Ánh Bàn có năm chỗ ngồi)
Ngoài ý nghĩa nguyên nhân, gần đây, bởi còn được sử dụng nhiều trong
cấu trúc bị động, biểu thị nghĩa nguyên nhân của trạng thái do động từ phía trước biểu thị
Ví dụ:
Quang còn đang bị lôi cuốn bởi cái không khí vui vẻ (Nguyễn Khải Tầm nhìn xa)
Ấn tượng về thằng thiếu úy Cón mạnh mẽ quá sức tưởng tượng, rõ ràng
là người ta bị giật mình bởi tội ác (Nguyễn Ngọc Tư Chuyện vui điện ảnh)
Y Sao đứng vậy rất lâu, trong lòng bị giằng xé bởi hai thứ tình cảm hoàn toàn trái ngược - vừa kiêu hãnh, vừa căm ghét Nô (Ngô Tự Lập Hoa vông vang)
Rồi một buổi đêm, sau khi ban chiều người ta đã được nghe tiếng sáo
của Tiến réo rắt hơn và nỉ non hơn mọi khi, cả phố đều bị đánh thức dậy bởi những tiếng kêu hãi hùng của bà cụ Tiến (Thạch Lam Tiếng sáo)
Trong những câu bị động kiểu trên đây, có thể thay bởi bằng vì hoặc nhờ là những quan hệ từ biểu thị ý nghĩa nguyên nhân đích thực So sánh: 1a) Lời Ngạn bị lấp mất bởi những tiếng nổ “ầm ầm” (Anh Đức Hòn đất) → 1b) Lời Ngạn bị lấp mất vì những tiếng nổ “ầm ầm” (+)
2a) Đôi ta có lẽ se lại bởi duyên trời (Khái Hưng Nửa chừng xuân) → 2b) Đôi ta có lẽ se lại nhờ duyên trời (+)
Qua những ví dụ trên đây, ta thấy bởi trong tiếng Việt chưa phải là
phương tiện biểu thị ý nghĩa cú pháp chủ thể như một số tác giả nhận xét mà vẫn là phương tiện biểu thị ý nghĩa cú pháp nguyên nhân Nghĩa chủ thể của
danh từ đứng sau bởi trong những câu trên đây chỉ có thể là nghĩa sâu
Trang 23Do sự công phẫn, các bà xui chồng đến nhà chị cu, mỗi người giúp một
tay (Nguyễn Công Hoan Người thứ ba)
Bên cạnh ý nghĩa nguyên nhân đích thực, do còn có ý nghĩa căn
nguyên, nguồn gốc Khi mang ý nghĩa này, do thường dẫn nối định ngữ là
cụm chủ vị
Ví dụ:
Cái ơn kia chưa trả được bao nhiêu, thì nay, thằng con tàn ác do bà đẻ ra
đã chém sả xuống thân cô em gái làm ơn cho bà dạo nọ (Anh Đức Hòn đất)
Những trường hợp trên đây, không thể thay do bằng vì hoặc nhờ là
những quan hệ từ chỉ nguyên nhân đích thực Nếu thay bằng vì hoặc nhờ ý
nghĩa của câu văn sẽ bị thay đổi
Ngoài cách dùng độc lập, do còn kết hợp với yếu tố là về phía trước tạo
nên tổ hợp là do được dùng để nêu nguyên nhân, lí do của việc được nói đên
Ví dụ:
Ngài tưởng danh tiếng ngài là do ngài làm nên được à? Sự thực trái hẳn
thế ngài ạ! Danh tiếng ngài là do ở tài tôi làm ra (Nguyễn Công Hoan Nhân
tài)
Nếu chú có thành tựu việc gì, là do cố gắng, chật vật mãi, chứ không
phải do may mắn (nam Cao Sống mòn)
* Quan hệ từ vì
Vì được coi là một trong những quan hệ từ biểu thị ý nghĩa nguyên
nhân điển hình, có cách dùng phổ biến nhất trong các quan hệ từ chỉ nguyên
nhân
Theo khảo sát của chúng tôi, quan hệ từ chỉ nguyên nhân vì có 361
trường hợp, chiếm 36,1% tổng số quan hệ từ chỉ nguyên nhân được khảo sát
Ngoài cách dùng độc lập, vì còn kết hợp với yếu tố là về phía trước để
tạo thành tổ hợp Nhưng tổ hợp này cũng chưa phải là một cấu tạo chặt đến
mức như một từ ghép Tổ hợp là vì thường dùng song đôi với sở dĩ hoặc dùng
dẫn nối thành tố chỉ nguyên nhân có vị trí sau thành tố kết quả
Người ta thay đổi là vì hoàn cảnh (Vũ Trọng Phụng Giông tố)
Em không chịu khiêu vũ là vì em không thích cuộc chơi ấy (Hồ Biểu Chánh Bỏ chồng)
Có lẽ ông Nhân còn chưa chết được là vì con, một cô gái xinh đẹp và thông minh, hiện đang học đại học ở nước ngoài (Ma Văn Kháng Đợi chờ)
Trang 242.2.1.2 Các yếu tố được dẫn nối bởi quan hệ từ chỉ nguyên nhân
2.2.1.2.1 Về cấu tạo
Theo khảo sát của chúng tôi, các yếu tố được dẫn nối bởi quan hệ từ
chỉ nguyên nhân có các dạng cấu tạo là: danh từ (ngữ danh từ), đại từ; vị từ
(ngữ vị từ) và cụm chủ vị
- Trường hợp các yếu tố được dẫn nối bởi quan hệ từ chỉ nguyên nhân
là danh từ, ngữ danh từ, đại từ:
+ Là danh từ, ngữ danh từ
Danh từ, ngữ danh từ chỉ người:
Ví dụ:
Cuối cùng chuyện tình của Tươi, nhờ mụ Chí, người đưa chuyện
không biết mệt, đến tai tất cả đám đàn bà, con gái trong căn nhà lớn đông hộ
này (Ma Văn Kháng Những người đàn bà)
Nói cho đúng, y là khối thuốc súng, nhờ chị là mồi lửa mà bùng cháy,
chói sáng, rồi tự huyễn hoặc mình trong hào quang tự kỷ (Ma Văn Kháng
Những người đàn bà)
Danh từ, ngữ danh từ chỉ động vật
Ví dụ:
Nhờ mấy con bò này mà gia đình tao trang trải được chuyện học hành
cho hai con đó (Báo Nhân dân Ngày 20/7/2008)
Cũng tại cả cái con vật này, nó đã không cho lão ngủ, nửa đêm đầu
hôm thức chong, nửa đêm về sáng vừa chợp mắt lại nằm mơ thấy nó…
(Nguyễn Minh Châu Phiên chợ Giát)
Theo chúng tôi, yếu tố được dẫn nối có cấu tạo là vị từ, trong nhiều trường hợp là dạng rút gọn của cụm chủ vị được dẫn nối bởi quan hệ từ chỉ nguyên nhân vì có thể dễ dàng thêm chủ ngữ cho vị từ đó
Trang 25Vợ Điền là con một nhà khá giả, lấy Điền vì Điền là người có học
(Nam Cao Giăng sáng)
Nhờ trời sáng trăng nên thằng Tý dòm theo Lộ xuống Phú Tiêu, thì nó
thấy có dạng một người đi (Ngô Thự Lập Mộng du)
Cụ Hồ yêu thầy vì thầy viết chữ rất tốt (Nguyễn Tuân Ngôi mả cũ)
Như các ví dụ được dẫn ra trên đây cho thấy, vị ngữ của cụm chủ vị
này thường là động từ, tính từ chỉ trạng thái, tính chất, hoạt động
2.2.1.2.2 Về vị trí
Theo khảo sát của chúng tôi, thành tố chỉ nguyên nhân có thể xuất hiện
phía trước hoặc sau thành tố chỉ kết quả
- Trường hợp thành tố chỉ nguyên nhân đứng trước thành tố chỉ kết quả:
Khi ở vị trí này, quan hệ từ có thể lược bỏ nếu sau nó là cụm chủ vị
hoặc vị từ
Ví dụ:
Bởi suốt một đời khổ sở nên bà ngoại Ngạn không thấy một người nào
thật khổ (Nam Cao Nhìn người ta sung sướng)
→ Suốt một đời khổ sở nên bà ngoại Ngạn không thấy một người nào
thật khổ (+)
Chẳng qua là tại cái số chị ấy vất vả nên mới gặp người như thế
(Thạch Lam Một đời người)
→ Chẳng qua là cái số chị ấy vất vả nên mới gặp người như thế (+)
- Trường hợp thành tố chỉ nguyên nhân đứng sau thành tố chỉ kết quả:
Khi ở vị trí này, khả năng lược bỏ quan hệ từ rất hạn chế Nếu lược bỏ
quan hệ từ ở thành tố chỉ nguyên nhân thì nghĩa của câu không rõ ràng
2.2.2 Thành tố chỉ kết quả
2.2.2.1 Các quan hệ từ chỉ kết quả
Theo kết quả thống kê, các quan hệ từ dẫn nối thành tố chỉ kết quả mà
chúng tôi thu thập được là: nên, cho nên, mà, sở dĩ
Các quan hệ từ chỉ kết quả có cấu tạo đơn chiếm tỉ lệ cao nhất Theo
thống kê của chúng tôi, trong 1000 trường hợp dùng quan hệ từ kết quả được
khảo sát, thì quan hệ từ nên, mà có 978 trường hợp, chiếm 97,8%; trong khi
đó, các quan hệ từ chỉ kết quả có cấu tạo kép (cho nên, sở dĩ) chỉ chiếm 2,2%
(có 22 trường hợp)
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên) nên được coi là
kết từ với ý nghĩa “từ biểu thị điều sắp nêu ra là kết quả trực tiếp của việc vừa
nói đến Vì bận nên không đến” [23, 665]; cho nên được coi là kết từ với ý nghĩa “từ dùng trước đoạn câu nêu kết quả của nguyên nhân đã nói đến Bị bất ngờ cho nên không kịp chuẩn bị.” [23, 165]; mà được coi là kết từ với ý
nghĩa “từ biểu thị điều sắp nêu ra là kết quả, hậu quả của điều vừa nói đến
Nhờ có sự giúp đỡ mà chóng xong” [23, 604]; sở dĩ được coi là kết từ với ý
nghĩa “từ biểu thị điều sắp nêu ra là nguyên nhân, lí do giải thích tại sao có điều được nói đến ngay sau đó” [23, 870]
* Quan hệ từ nên, cho nên Qua tư liệu khảo sát, nên và cho nên thường đứng ở giữa câu trước các
thực từ biểu thị kết quả