Tuy nhiên, công tác này cũng tồn tại một số vấn đề như: bộ máy tổ chức cồng kềnh chưa phù hợp với kinh doanh; chưa điều hòa vốn tạm thời nhàn rỗi giữa các công ty; chưa tách bạch bộ phận
Trang 1-
NGUYỄN VĂN TRƯỜNG
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN
TRỊ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU
TƯ VÀ PHÁT TRIỂN SACOM THEO MÔ HÌNH
CÔNG TY MẸ-CÔNG TY CON
NGUYỄN VĂN TRƯỜNG
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU
TƯ VÀ PHÁT TRIỂN SACOM THEO MÔ HÌNH
CÔNG TY MẸ-CÔNG TY CON
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Nguyễn Văn Trường Giới tính: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 22/05/1970 Nơi sinh: Vĩnh Phúc
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh MSHV: 1341820092
I-Tên đề tài:
Các giải pháp nâng cao năng lực quản trị tài chính tại Công ty cổ phần
đầu tư và phát triển SACOM theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con
II-Nhiệm vụ và nội dung:
1.Hệ thống cơ sở lý luận về quản trị tài chính doanh nghiệp theo mô hình
Công ty mẹ - Công ty con
2.Phân tích Thực trạng quản trị tài chính tại Công ty cổ phần đầu tư và phát
triển SACOM
3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện cơ chế quản trị tài chính tại
Công ty cổ phần đầu tư và phát triển SACOM theo mô hình Công ty mẹ - Công ty
con
III-Ngày giao nhiệm vụ: 31/07/2014
IV-Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 20/01/2015
V-Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS PHAN ĐÌNH NGUYÊN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
(Họ tên và chữ ký)
KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
(Họ tên và chữ ký)
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học : PGS.TS.PHAN ĐÌNH NGUYÊN
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM ngày … tháng … năm …
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết
quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng: mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện luận văn
Nguyễn Văn Trường
LỜI CÁM ƠN
Trong thời gian học tại trường Đại học Công nghệ TP HCM, Em được Quý Thầy Cô tận tình truyền đạt những kiến thức tổng quát cũng như trao đổi về những bài học thực tiễn về quản trị Đây là những kiến thức rất mới so với khi em còn học Đại học, nó hỗ trợ đắc lực giúp Em thành công hơn trong việc giải quyết tốt các vấn
đề thực tiễn tại doanh nghiệp
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Thầy PGS.TS.Phan Đình Nguyên
đã dành rất nhiều thời gian quý báu, tận tình hướng dẫn chỉ bảo và giúp đỡ Em hoàn chỉnh bản luận văn
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Quý Thầy Cô của Trường đã trang bị cho
Em một nền tảng kiến thức về quản trị vô cùng quý báu Em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Quý Thầy Cô, cán bộ Phòng QLKH - ĐTSĐH Trường Đại học Công nghệ TP HCM trong suốt quá trình học tập
Em xin chân thành cảm ơn tới Hội đồng quản trị, Ban Tổng giám đốc, và các đơn vị trực thuộc và các công ty con thuộc Công ty cổ phần đầu tư và phát triển Sacom đã tạo điều kiện thuận lợi cho Em tiếp cận với thực tế trong quá trình thực hiện luận văn này
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả Luận văn: Nguyễn Văn Trường
iii
TÓM TẮT
Quản trị tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản trị doanh nghiệp, có
phạm vi rộng lớn và tác động đến tất cả các hoạt động của doanh nghiệp, vì nó
quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Thực tế đã chứng
minh có rất nhiều doanh nghiệp không coi trọng công tác quản trị tài chính, dẫn đến
một hệ quả là doanh nghiệp bị phá sản trong khi vẫn đang kinh doanh mà không
hiểu tại sao Đây cũng là thực trạng chung của nhiều doanh nghiệp Việt Nam, chỉ
biết kinh doanh chứ không quan tâm về quản trị mà đặc biệt là quản trị tài chính Vì
vậy tôi quyết định chọn đề tài “Các giải pháp nâng cao năng lực quản trị tài
chính tại Công ty cổ phần đầu tư và phát triển SACOM theo mô hình Công ty
mẹ - Công ty con” để thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tác giả đã vận dụng những cơ sở lý luận về tài chính và quản trị tài chính doanh
nghiệp cũng như các phương pháp nghiên cứu khoa học để phân tích thực trạng
quản trị tài chính hiện nay tại SACOM thông qua các báo cáo tài chính từ 2011 đến
2013 Kết quả phân tích cho thấy công tác quản trị tài chính của công ty đã đạt được
một số thành tựu như: khả năng huy động vốn với chi phí vốn thấp rất tốt và hiệu
quả; kiểm soát được tình hình kinh doanh và tài chính trong điều kiện nền kinh tế
khó khăn và khó tiếp cận nguồn vốn vay; hệ thống tài chính ở mức an toàn, không
để xảy ra mất cân đối tài chính Tuy nhiên, công tác này cũng tồn tại một số vấn đề
như: bộ máy tổ chức cồng kềnh chưa phù hợp với kinh doanh; chưa điều hòa vốn
tạm thời nhàn rỗi giữa các công ty; chưa tách bạch bộ phận tài chính chuyên trách
với phòng kế toán; chưa tính toán hiệu quả của việc đầu tư và huy động vốn; sử
dụng vốn chưa hiệu quả; chưa thật sự quan tâm đến hệ thống quản trị của toàn
SACOM
Từ những việc chưa làm được cũng như căn cứ định hướng phát triển giai đoạn
2015-2020, tác giả đề ra năm nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện những việc chưa làm
được trong công tác quản trị tài chính tại SACOM đó là: 1) Hoàn thiện cơ chế huy
động vốn; 2) Hoàn thiện cơ chế quản lý và sử dụng vốn, tài sản; 3) Hoàn thiện cơ
iv
chế quản lý doanh thu, chi phí, phân phối lợi nhuận; 4) Hoàn thiện cơ chế giám sát tài chính; 5) Xây dựng cơ chế điều hòa vốn trong toàn mô hình, tiến tới thành lập công ty tài chính trực thuộc
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, cho thấy rằng việc hoàn thiện hệ thống quản trị tài chính là việc bắt buộc mang tính sống còn mà SACOM phải thực hiện trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, nếu các nhóm giải pháp này thực hiện thành công sẽ đưa thương hiệu SACOM trở lại là một trong những doanh nghiệp hàng đầu trên thị trường chứng khoán Việt Nam Nghiên cứu này giúp cho Hội đồng quản trị, Ban Tổng giám đốc có cơ sở trong việc lựa chọn các giải pháp phù hợp nhất để nâng cao công tác quản trị tài chính cho SACOM và củng cố ngôi vị hàng đầu của SACOM
trên thị trường dây và cáp cũng như thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 3ABSTRACT
Financial management is one of the primary tasks of the management, with a
great affluence to many firms, because it determines the existence and development
of the business There were many businesses not considering the financial
management that led to the bankruptcy without understanding the reasons Is
management the problem? This is also the real situation of many common
Vietnamese businesses, just doing business without having knowledge of
management, especially in finance Therefore, I decided to choose the topic
"Perfecting the system of financial management at Sacom Corporation using the
Headquarter-Subsidiary model" to perform the thesis
The author has used a theoretical basis about finance, business financial
management, as well as the scientific research methods to analyze the actual
situation of the current financial management process in SACOM through its
financial reports from 2011 to 2013 The results showed that the financial
management of the company had achieved some successes such as its ability to
mobilize capital for business with low and effective capital costs; gained prestige in
payment with its suppliers and banks; petroleum resources always stable even in the
most difficult situations; yet happened irregularities in financial management;
controlled the situation of business and finance in difficult circumstances; financial
system was at a safe level and had not got any financial imbalances However, also
existed some problems such as the organizational structure wasn’t appropriate for
the business , not analysis business -effectiveness to occur bad debts; Board of
Directors wasn’t equipped with knowledge of financial management and
administration, didn’t negotiate reasonable discounts when buying petrol from
suppliers; didn’t separate between financial department and the accounting
department; didn’t calculate the efficiency of investment and mobilized capital;
depended too much on the bank; the management and operating was inconsistent;
wasn’t really interested in the management system of SACOM
Based on development orientation of the Corporation in period 2015 - 2020, The author recommended the five solutions in order to improve weaknesses in financial management at the Corporation, such as: 1)Perfect the system for raising capital; 2) Perfect the system for managing and using capital; 3) Perfect the system for managing revenue, cost and profit distribution; 4) Perfect the system for monitoring the finance; 5)Build the system to harmonize the capital in the model, lead to the estasblish of the financial company
Based on the results of the thesis, the completion of the financial management system at SACOM is extremely urgent So if this group of solutions are successful, SACOM’s brand will become one of the leading enterprises in the stock market This thesis helps Board of Directors to choose the most appropriate solutions to improve financial management and reinforce SACOM position in the cable business
market as well as the stock market
vii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN……… …… ………… ……… i
LỜI CÁM ƠN……… ………… ……… …… ……… ……… ii
TÓM TẮT…… …… ………… ……… …… ………… ……… ……… iii
ABSTRACT………… ………… ……… …… ………… ……… …… …… v
MỤC LỤC………… ………… ……… …… ………… ……… …… ……… vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……… ix
DANH MỤC CÁC BẢNG……… ……… ……… ……… x
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH………… xi
MỞ ĐẦU……… …… ………… ……… …… ………… ……… …… …… 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP THEO MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON… 7
1.1 Tổng quan về mô hình Công ty mẹ-con……… 7
1.1.1 Khái niệm về công ty mẹ – công ty con ……… 7
1.1.2 Đặc điểm của công ty mẹ – công ty con ……… 8
1.2.Tổng quan về tài chính doanh nghiệp……… 9
1.2.1 Bản chất tài chính doanh nghiệp……… 9
1.2.2 Hoạt động tài chính doanh nghiệp……… 10
1.2.3 Cơ chế tài chính doanh nghiệp……… 12
1.2.4 Chức năng của tài chính doanh nghiệp……… 14
1.2.5 Vai trò tài chính doanh nghiệp……… 15
1.3.Quản trị tài chính doanh nghiệp……… 15
1.3.1 Khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp……… 15
1.3.2 Nội dung chủ yếu của cơ chế quản trị tài chính doanh nghiệp 16
1.3.3 Mục tiêu quản trị tài chính doanh nghiệp……… 31
1.3.4 Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp……… 32
1.3.5 Nguyên tắc quản trị tài chính doanh nghiệp……… 33
1.3.6 Hiệu quả của quản trị tài chính doanh nghiệp……… 36
viii Kết luận chương 1……… 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN SACOM……… 41
2.1.Giới thiệu tổng quan về Sacom……… 41
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển……… 41
2.1.2 Thông tin chung……… 42
2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý……… 43
2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh……… 48
2.2 Thực trạng cơ chế quản trị tài chính của Công ty cổ phần Sacom 49
2.2.1Thực trạng cơ chế huy động vốn 49
2.2.2 Thực trạng cơ chế quản lý, sử dụng vốn 57
2.2.3 Thực trạng cơ chế quản lý, sử dụng tài sản 61
2.2.4 Thực trạng cơ chế quản lý doanh thu, chi phí 69
2.2.5 Thực trạng cơ chế phân phối lợi nhuận 72
2.2.6 Thực trạng cơ chế kiểm tra, giám sát 73
2.3 Đánh giá năng lực tài chính 75
2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản trị tài chính 79
Kết luận chương 2……… 83
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN T R Ị TÀI CHÍNH CỦA SACOM THEO MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON ……… 84
3.1 Chủ trương, định hướng phát triển của Sacom trong giai đoạn tới 84
3.2 Hoàn thiện cơ chế quản trị tài chính .85
Kết luận chương 3 98
KẾT LUẬN… ……… ………… ……… ………… ……… ………… 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……… 101 PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
SACOM Công ty cổ phần đầu tư & phát triển SACOM
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu cổ đông……… 43
Bảng 2.2: Kết quả sản xuất kinh doanh và một số chỉ tiêu tài chính của SACOM năm 2011-2013… ……….49
Bảng 2.3: Vốn điều lệ của SACOM giai đoạn 1998-2013……… 52
Bảng 2.4: Nguồn vốn chủ sở hữu của SACOM 2011-2013………… 52
Bảng 2.5: Tình hình vay vốn của SACOM năm 2011 – 2013……… 54
Bảng 2.6: Nguồn vốn chiếm dụng của SACOM từ năm 2011 – 2013 … 55
Bảng 2.7: Một số dự án đầu tư của SACOM………
Bảng 2.8: Tình hình công nợ phải thu của SACOM năm 2011 – 2013…… 67
Bảng 2.9: Doanh thu của SACOM năm 2011 – 2013……
Bảng 2.10: Nhóm tỷ số hoạt động & tốc độ tăng trưởng vốn 2011-2013 75
Bảng 2.11: Nhóm tỷ số khả năng tự tài trợ và khả năng huy động vốn nợ 77
Bảng 2.12: Nhóm tỷ số khả năng sinh lời 2011-2013.……… 77
Bảng 2.13: Nhóm tỷ số khả năng thanh toán 2011-2013 ……… 78
Bảng 3.1 So sánh chức năng, nhiệm vụ của Công ty tài chính và Ban tài chính trong tập đoàn kinh tế ……… 97
xi DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức Công ty cổ phần đầu tư & phát triển SACOM… 43
1
MỞ ĐẦU
1.Sự cần thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế thế giới là xu thế tất yếu và là yêu cầu khách quan đối với nền kinh tế của một quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Ngày O7/ll/2OO6, Việt Nam chính thức được kết nạp vào tổ chức thương mại thế giới (WTO) sau gần l2 năm đàm phán Đây là sự kiện có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc tới toàn bộ đời sống kinh tế xã hội của nước ta Gia nhập WTO, chấp nhận mở cửa thị trường, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế đa quốc gia hùng mạnh trên thế giới Nhằm thích ứng với bối cảnh đó, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và mở rộng thị trường ra bên ngoài lãnh thổ, nhiều nước đã và đang không ngừng gia tăng quy mô các doanh nghiệp, xây dựng và phát triển các mô hình Công ty mẹ - Công ty con Các doanh nghiệp của Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó
Việc xây dựng và phát triển các Công ty theo mô hình mẹ-con của Việt Nam vừa bảo đảm phù hợp với xu thế phát triển của kinh tế toàn cầu vừa cho phép khai thác được những lợi thế so sánh vốn có của quốc gia, của doanh nghiệp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước Để các công ty mẹ-con đi vào hoạt động thực sự đạt được hiệu quả cao, đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề, từ việc lựa chọn mô hình công ty mẹ-con thích hợp, doanh nghiệp cũng cần hoàn thiện hệ thống quản trị phù hợp, đến việc đào tạo, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, đa dạng hoá ngành nghề sản xuất, mở rộng phạm vi hoạt động nhằm tạo thế chủ động để mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế
Trong số các vấn đề đó, vấn đề quản trị tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản trị doanh nghiệp, có phạm vi rộng lớn và tác động đến tất cả các hoạt động của doanh nghiệp Hầu hết các quyết định quan trọng của lãnh đạo doanh nghiệp đều dựa trên việc phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp như: lựa chọn
Trang 5hoạt động sản xuất kinh doanh
Tình hình tài chính doanh nghiệp ổn định và minh bạch là một trong những điều
kiện tiên quyết giúp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra nhịp
nhàng, đồng bộ và đạt hiệu quả cao Sự ổn định này có được hay không phần lớn
phụ thuộc vào khả năng quản trị tài chính của doanh nghiệp
Nhiều tập đoàn nhà nước đầu tư dàn trải, không tập trung vào ngành kinh doanh
chính, đầu tư vào những lĩnh vực nhạy cảm, rủi ro và không thuộc thế mạnh của
mình như bất động sản, chứng khoán, ngân hàng, nợ nần chồng chất của một số tập
đoàn kinh tế đã được phát hiện và báo động từ nhiều năm nay như Vinashin,
Vinalines Bên cạnh đó Nhà Nước còn nhiều hạn chế, thiếu sót trong các chính
sách, pháp luật đã ban hành liên quan đến các tập đoàn, dẫn đến những tồn tại, yếu
kém trong tổ chức quản lý, sử dụng vốn và tài sản tại các doanh nghiệp này Có rất
nhiều nguyên nhân dẫn đến những yếu kém đó, trong đó có nguyên nhân quan trọng
là kiểm soát tài chính kém hiệu quả
Nhằm góp thêm ý tưởng trong việc hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với
Công ty mẹ-con tác giả lựa chọn đề tài “Các giải pháp nâng cao năng lực quản
trị tài chính tại Công ty cổ phần đầu tư và phát triển SACOM theo mô hình
Công ty mẹ - Công ty con” làm luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
2 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
Các vấn đề về quản trị tài chính trong các doanh nghiệp nói chung đã được
nhiều tác giả quan tâm, đề cập đến trong các sách báo, tạp chí, công trình nghiên
cứu về mặt lý thuyết, đánh giá thực tiễn cũng như tổng kết kinh nghiệm trong và
ngoài nước Điển hình có một số công trình sau đây:
Thứ nhất, công trình nghiên cứu được xuất bản thành sách có tựa đề: “Tập
đoàn kinh doanh và cơ chế quản lý tài chính trong tập đoàn kinh doanh” do NXB
Tài chính ấn hành năm 2003 của TS Phạm Quang Trung (Đại học Kinh tế Quốc
dân) Đi sâu nghiên cứu công trình này cho thấy công trình đã làm sáng tỏ được
nhiều vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế quản lý tài chính trong các tập đoàn kinh tế,
Tổng công ty nhà nước, đồng thời mô tả, tổng hợp, phân tích bức tranh toàn cảnh về
thực trạng áp dụng cơ chế quản lý tài chính trong các Tổng công ty và tập đoàn kinh
tế ở Việt Nam vào thời gian đầu các Tổng công ty và tập đoàn kinh tế mới đi vào hoạt động Ngày nay, với những biến đổi lớn trong các Tổng công ty và các tập đoàn kinh tế trước những thay đối về chính sách của Nhà nước cũng như sự tác động của Hội nhập kinh tế đối với các tập đoàn kinh tế có thể những phân tích đánh giá đó không còn giữ nguyên giá trị và cần được cập nhật
Thứ hai, tác phẩm dưới dạng sách giáo khoa có tựa đề: “Quản trị tài chính doanh nghiệp hiện đại” do NXB thống kê năm 2009 của tác giả Dương Hữu Hạnh Tác phẩm này tuy không đề cập trực tiếp đến cụm từ “quản trị tài chính trong các Công ty mẹ-con”, song nội dung đề cập trong tác phẩm phần nào cũng đề cập đến vấn đề quản lý tài chính trong các doanh nghiệp hiện đại, dưới góc nhìn quản trị tài chính của doanh nghiệp Tuy nhiên, đây là tác phẩm được biên soạn trên cơ sở các tác phẩm của các giáo sư Mỹ, Úc và mang đậm nét một cuốn sách giáo khoa, nghiêng về phần lý luận nhiều hơn
Thứ ba, tác phẩm “Thành lập và quản lý các tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam”
do NXB Chính trị quốc gia Hà Nội ấn hành năm 1996 của tác giả Nguyễn Đình Phan Trong tác phẩm này, tác giả cũng có dành một số trang viết bàn về vấn đề quản lý tài chính trong các tập đoàn kinh doanh, song vẫn dừng lại ở mức độ hạn chế và cũng mang tính chất gợi ý ban đầu Từ đó đến nay, tình hình hoạt động của tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam đã có nhiều biến động, do đó cơ chế quản lý tài chính trong các tập đoàn kinh tế cũng đã có nhiều thay đổi
Thứ tư, Hội thảo khoa học (9/2003) do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương tổ chức với nội chung bàn về sự hình thành của các tập đoàn Trung Quốc trong quá trình đổi mới nền kinh tế, từ đó rút ra được kinh nghiệm và bài học ở Việt Nam;
Thứ năm, Vũ Hà Cường: Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý Tài chính của Tổng công ty Hàng không Việt Nam theo mô hình Tập đoàn kinh tế, Luận án Tiến sĩ kinh
tế - Học viện Ngân hàng năm 2006
Thứ sáu, năm 2009 Chính phủ đã có Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ban hành
4
quy chế quản lý tài chính trong các tập đoàn kinh tế nhà nước Đó là một Nghị định
mới có nhiều tác dụng tích cực trong công tác quản lý tài chính đối với các tập đoàn
kinh tế nhà nước; tuy nhiên theo nhận định của các nhà kinh tế, vẫn còn nhiều điểm
bất cập so với yêu cầu đổi mới và phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước hiện nay
Thứ bảy, “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong các Tổng công ty nhà nước
theo mô hình Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam”, Luận án tiến sỹ kinh tế, của tác giả
Phùng Thế Tính, Học viện Tài chính, năm 2008;
Thứ tám, “Giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị tài chính tại Công ty Cổ
phần Đường Quảng Ngãi”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị
Phương Hảo, Đại học Đà Nẵng, năm 2011
Thứ chín, “Các giải pháp nâng cao năng lực tài chính của các DNNVV ở Việt
Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ kinh tế, của tác giả Phạm Thị Vân Anh, Học viện
Tài chính, năm 2012
Thứ mười, “Năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam”,
Luận án tiến sĩ kinh tế, của tác giả Phan Thị Hằng Nga, Trường Đại Học Ngân Hàng
Tp Hồ Chí Minh, năm 2013
Vấn đề Quản trị tài chính trong các Tập đoàn kinh tế, các công ty mẹ-con không
chỉ nhận được sự quan tâm của các học giả trong nước, ngay cả ở nước ngoài cũng
được nhiều nhà kinh tế quan tâm đến Chẳng hạn như Eugene F.Brigham một nhà
nghiên cứu người Đức trong tác phẩm “Fundamentals of Financial Management”
cũng có đề cập đến vấn đề quản trị tài chính trong các tập đoàn kinh tế dưới góc độ
lý luận chung về khái niệm, đặc điểm, nội hàm và phương pháp quản lý
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Luận văn hướng trọng tâm vào những mục tiêu chủ yếu sau đây :
Hệ thống cơ sở lý luận về tài chính và quản trị tài chính
Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản trị tài chính tại Công ty cổ phần
đầu tư và phát triển SACOM xét theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện năng lực công tác quản trị tài chính
của Công ty cổ phần đầu tư và phát triển SACOM trong giai đoạn hiện nay và sắp
5
tới theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoàn thiện công tác quản trị tài chính của Công ty cổ phần đầu tư và phát triển SACOM
- Phạm vi nghiên cứu: Để tập trung khái quát hoá, giải quyết vấn đề cần nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thực tiễn công tác quản trị tài chính của Công ty cổ phần SACOM trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý luận chung về tài chính doanh nghiệp, quản trị tài chính, phương pháp sơ đồ, biểu mẫu, phương pháp điều tra, thống kê, phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh và kết hợp với thực tiễn hoạt động của SACOM để khái quát hóa, làm rõ vấn đề cần nghiên cứu
6 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài cho thấy những tồn tại và bất cập trong công tác quản trị doanh nghiệp nói chung và quản trị tài chính nói riêng của Công ty cổ phần đầu tư và phát triển SACOM Việc nghiên cứu là cơ sở để khắc phục các tồn tại, rút ra bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện hơn công tác quản trị tài chính nâng cao năng lực tài chính doanh nghiệp, đồng thời đưa ra một số giải pháp tài chính để nhà quản lý có thể sử dụng trong các quyết định tài chính của mình
Kết quả đánh giá, phân tích quản trị tài chính doanh nghiệp chỉ ra những mặt đạt được, đặc biệt là những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại, từ đó Luận văn đề xuất những giải pháp chủ yếu và thiết thực hoàn thiện công tác quản trị tài chính tại Công ty cổ phần đầu tư và phát triển SACOM cụ thể:
+ Hoàn thiện qui chế quản lý Người đại diện: cách thức kiểm soát, xác định vị trí làm việc của người đại diện phù hợp với từng công ty thành viên, thu nhập của Người đại diện, qui định việc kiêm nhiệm đối với Người đại diện, tiêu chuẩn và điều kiện tuyển chọn Người đại diện, thực hiện luân chuyển Người đại diện + Hoàn thiện kiểm soát vốn tại Công ty mẹ: cơ chế giám sát, năng lực quản trị điều
Trang 6+ Một số giải pháp tái cấu trúc công ty mẹ từ nay đến năm 2020: đầu tư sâu vào
ngành nghề kinh doanh chính, đầu tư vào sản phẩm mới, xây dựng kế hoạch phát
triển thị trường, đẩy mạnh quá trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp, triển khai ứng
dụng, đầu tư đổi mới công nghệ, phân công hợp tác không cạnh tranh nội bộ
Kết quả này rất hữu ích đối với :
+ Công ty mẹ: Với các giải pháp hoàn thiện quản trị tài chính tại công ty mẹ theo
chủ trương tái cấu trúc; Hoàn thiện qui chế quản lý người đại diện vốn tại các công
ty con, công ty liên doanh liên kết; Hoàn thiện kiểm soát các hoạt động cơ bản theo
chủ trương tái cấu trúc công ty mẹ
+ Đối với công ty con, công ty liên doanh liên kết: Với nhóm các giải pháp hoàn
thiện về quản trị tài chính, hệ thống thông tin, quyết định đầu tư
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Tên luận văn “Các giải pháp nâng cao năng lực quản trị tài chính tại Công
ty cổ phần đầu tư và phát triển SACOM theo mô hình Công ty mẹ - Công ty
con”
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được tổ
chức thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị tài chính doanh nghiệp theo mô hình Công ty
mẹ - Công ty con
Chương 2: Thực trạng quản trị tài chính tại Công ty cổ phần đầu tư và phát triển
SACOM
Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện cơ chế quản trị tài chính tại
Công ty cổ phần đầu tư và phát triển SACOM theo mô hình Công ty mẹ - Công ty
con
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
THEO MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ-CÔNG TY CON
1.1 Tổng quan về mô hình công ty mẹ – công ty con 1.1.1 Khái niệm về công ty mẹ – công ty con
Công ty mẹ – công ty con là tổ hợp gồm một số công ty liên kết với nhau thông qua hình thức góp vốn, đầu tư tài chính Mô hình công ty mẹ – công ty con được phổ biến trên thế giới từ rất lâu, ở mỗi quốc gia mô hình này được gọi dưới các tên gọi khác nhau như: Keizetsu ở Nhật, Cheabol ở Hàn Quốc, Conglomerate ở Phương Tây…, nhưng nói chung các tập đoàn kinh tế hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con đều có đặc điểm chung nổi bật là sự liên kết chặt chẽ về vốn Trên cơ sở liên kết về vốn, một công ty với tư cách là công ty mẹ thực hiện đầu tư vốn ở mức
độ chi phối để nắm quyền lãnh đạo và kiểm soát các công ty con, do đó nắm quyền chi phối cả tập đoàn về vốn, lao động, công nghệ và chiến lược phát triển Theo chuẩn mực kế toán quốc tế thì công ty mẹ là một thực thể pháp lý có ít nhất một đơn vị trực thuộc – công ty con Công ty con là thực thể pháp lý bị kiểm soát bởi công ty mẹ Kiểm soát ở đây được hiểu là sở hữu trực tiếp hay gián tiếp nhiều hơn 50% số phiếu bầu, hoặc sở hữu 50% số phiếu bầu hay ít hơn nhưng nắm quyền đối với hơn 50% số phiếu bầu theo sự thoả thuận với các cổ đông khác Theo Luật doanh nghiệp nhà nước (DNNN) năm 2003 (điều 47, khoản 2) thì:
“Tổng công ty do các công ty tự đầu tư và thành lập (hay tổ hợp công ty mẹ – công
ty con) là hình thức liên kết thông qua đầu tư, góp vốn của công ty nhà nước quy
mô lớn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ với các doanh nghiệp khác, trong
đó công ty nhà nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác” Cũng theo luật DNNN
2003 thì: “Công ty nhà nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác (hay công ty mẹ) là công ty sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chiếm trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp khác, giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó” Theo Nghị định số 153/NĐ-CP ngày 09/08/2004 của Chính phủ về tổ chức, quản lý Tổng công ty nhà nước và chuyển đổi Tổng công ty nhà nước, công ty nhà
8
nước độc lập theo mô hình công ty mẹ – công ty con thì: Tổng công ty theo mô hình
công ty mẹ – công ty con là hình thức liên kết và chi phối lẫn nhau bằng đầu tư, góp
vốn, bí quyết công nghệ, thương hiệu hoặc thị trường giữa các doanh nghiệp có tư
cách pháp nhân, trong đó có một công ty nhà nước giữ quyền chi phối các doanh
nghiệp thành viên khác (gọi tắt là công ty mẹ) và các doanh nghiệp thành viên khác
bị công ty mẹ chi phối (gọi tắt là công ty con) hoặc có một phần vốn góp không bị
chi phối của công ty mẹ (gọi tắt là công ty liên kết)
Theo Luật doanh nghiệp năm 2005, thì một công ty được coi là công ty mẹ của
công ty khác nếu sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông đã
phát hành của công ty đó; có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất
cả thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc của công ty đó; có quyền
quyết định việc sửa đổi, bổ sung điều lệ của công ty đó
Nghị định 153/NĐ-CP của Chính phủ và Luật doanh nghiệp 2005 ra đời đã tạo
điều kiện cho các tổng công ty, công ty nhà nước độc lập thực hiện chuyển đổi sang
mô hình mới nhằm khắc phục những bất cập và sự không thích ứng trong điều kiện
cạnh tranh ngày càng gay gắt của các mô hình tổ chức cũ Nghị định nêu rõ mục
tiêu của việc chuyển đổi, tổ chức lại là nhằm chuyển từ liên kết theo kiểu hành
chính với cơ chế giao vốn sang liên kết bền chặt bằng cơ chế đầu tư tài chính là chủ
yếu, trong đó quyền lợi và trách nhiệm của công ty mẹ và công ty con được quy
định chặt chẽ, tạo điều kiện thúc đẩy tích tụ và tập trung, nâng cao khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp chuyển đổi
1.1.2 Đặc điểm của công ty mẹ – công ty con
- Về cơ cấu tổ chức quản lý và chức năng của công ty mẹ
Tổ hợp công ty mẹ – công ty con chỉ được xem như một chủ thể kinh tế chứ
không phải là một chủ thể pháp lý Trong tổ hợp công ty mẹ công ty con không có
bộ máy quản lý chung được thiết lập
Trong mô hình công ty mẹ – công ty con, công ty mẹ và công ty con đều là các
chủ thể có đầy đủ tư cách pháp nhân, độc lập về mặt kinh tế và có cơ quan quyền
9
Thông qua vai trò của người đại diện phần vốn đầu tư tại các công ty con, công
ty mẹ thực hiện các chức năng như: chức năng quản lý, chức năng tài chính và chức năng dịch vụ
- Về tính chất sở hữu
Công ty mẹ – công ty con chỉ là một tổ hợp đa sở hữu trong đó, công ty mẹ và các công ty con có thể là công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH, công
ty liên doanh với nước ngoài
Trên thế giới, chế độ sở hữu phổ biến nhất của các công ty trong mô hình công
ty mẹ – công ty con là chế độ sở hữu hỗn hợp, các công ty này được tổ chức dưới dạng công ty cổ phần Đối với những lĩnh vực cần thiết, Nhà nước có thể thực hiện quyền sở hữu đối với toàn bộ tổ hợp thông qua việc nắm giữ 100% vốn điều lệ của công ty mẹ hoặc nắm giữ cổ phần chi phối ở công ty mẹ
- Về quy mô hoạt động và ngành nghề
Hầu hết các công ty mẹ – công ty con đều có quy mô lớn về vốn, lao động, thị trường và lĩnh vực kinh doanh Điều này vừa tạo những thuận lợi khi huy động các nguồn lực kinh doanh về vốn, lao động, khả năng chiếm lĩnh thị trường… nhưng đồng thời cũng gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý, xây dựng định hướng, chiến lược, điều hòa, phối hợp hoạt động của toàn bộ tổ hợp
Đó là những đặc điểm chung của các công ty mẹ – công ty con được thừa nhận một cách phổ biến Tuy nhiên, tùy theo đặc điểm kinh tế xã hội của mỗi nước và ở mỗi một thời kỳ phát triển khác nhau mà nhóm các công ty mang những dấu ấn riêng của mỗi nước ở những thời kỳ khác nhau
1.2.Tổng quan về tài chính doanh nghiệp 1.2.1 Bản chất của tài chính doan nghiệp
Trong hệ thống tài chính của một nền kinh tế, các hoạt động tài chính doanh nghiệp là một khâu quan trọng, đây là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với
sự ra đời và tồn tại của nền kinh tế thị trường, nền kinh tế hàng hoá tiền tệ
Trang 7Tài chính doanh nghiệp là một khâu quan trọng của hệ thống tài chính, các hoạt
động tài chính theo nghĩa rộng bao hàm các hoạt động kinh tế, các quan hệ kinh tế
trong đó có sự vận động hoặc sự biểu hiện của tiền tệ thông qua các quan hệ tiền tệ
Bản chất của các các mối quan hệ đó là những quan hệ về giá trị được biểu hiện
dưới sắc thái khác nhau
Để có thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, bất cứ một doanh
nghiệp nào cũng cần phải đảm bảo được một lượng vốn nhất định; vốn tiền tệ luôn
là một tiền đề cần thiết, không thể thiếu đối với mọi doanh nghiệp Trong quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn tiền tệ của doanh nghiệp bị biến đổi tuân theo
những quy luật chu chuyển nhất định Dưới góc độ tài chính, có thể nói quá trình
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình hình thành, phân phối và
sử dụng các quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp Các luồng tiền tệ vào, luồng tiền ra
khỏi doanh nghiệp tạo thành sự vận động của các luồng tài chính của doanh nghiệp,
gắn với các hoạt động đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh thường xuyên của
doanh nghiệp
Tóm lại, có thể nói tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử
dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt
được các mục tiêu đó đề ra Như vậy, các hoạt động tài chính doanh nghiệp chính là
những hoạt động của doanh nghiệp liên quan tới việc tạo lập, phân phối và sử dụng
các quỹ tiền tệ (TS Lưu Thị Hương, 2010)
1.2.2 Hoạt động tài chính doanh nghiệp
Quản lý tài chính là sự tác động của nhà quản lý tới các hoạt động tài chính của
doanh nghiệp Nó được thực hiện thông qua một cơ chế Đó là cơ chế quản lý tài
chính doanh nghiệp Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp được hiểu là một tổng
thể các phương pháp, các hình thức và công cụ được vận dụng để quản lý các hoạt
động tài chính của doanh nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những
mục tiêu nhất định (TS Lưu Thị Hương, 2002)
Hoạt động tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức tiền tệ nảy sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh
nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp (TS Đoàn Gia Dũng, 2009)
Có thể nhìn nhận một cách tổng quát hoạt động tài chính trong tập đoàn kinh tế được chia ra làm hai cấp độ: hoạt động tài chính ở cấp độ các công ty con và hoạt động tài chính ở công ty mẹ
Nói chung, hoạt động tài chính của các công ty con gắn bó chặt chẽ với hoạt động tác nghiệp cụ thể của nó Tùy theo đặc điểm hoạt động tác nghiệp của mỗi công ty con mà hoạt động tài chính của chúng có những nét khác biệt riêng Tuy nhiên, về tổng thể hoạt động tài chính của các công ty thành thành viên bao gồm:
- Hoạt động huy động nguồn lực tài chính bao gồm các hoạt động vay vốn của NHTM, vay của các công ty và cá nhân, phát hành cổ phiếu và trái phiếu…
- Hoạt động quản lý tài sản và sử dụng nguồn vốn, bao gồm hàng loạt mối quan
hệ và nghiệp vụ tài chính, kế toán như phân bổ tài sản, quản lý tài sản cố định, tài sản lưu động, đầu tư , bảo toàn vốn…
- Phân phối lợi nhuận, hình thành và sử dụng các quỹ
- Hoạt động kiểm tra, giám sát tài chính trong nội bộ của tập đoàn
Ở cấp độ công ty mẹ, tùy theo chức năng, nhiệm vụ mà có những hoạt động tài chính khác nhau Nếu công ty mẹ có đảm bảo một phần hoạt động tác nghiệp như các đơn vị thành viên thì hoạt động tài chính nói chung cũng có nét tương tự như các công ty con Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các công ty mẹ chủ yếu bảo đảm chức năng quản lý, điều phối Do đó, hoạt động tài chính của chúng chủ yếu liên quan đến chức năng, nhiệm vụ quản lý, điều phối
Cụ thể, hoạt động tài chính ở công ty mẹ bao gồm: hoạt động đầu tư vốn vào các công ty con; hoạt động tài chính phục vụ cho nghiên cứu và phát triển (R&D); hoạt động tài chính phục vụ cho việc thực hiện các giải pháp sát nhập, hợp nhất,
12
phân tách trong tập đoàn; hoạt động kiểm tra giám tài chính của công ty mẹ đối với
các công ty con
Nói chung, hoạt động tài chính ở công ty mẹ gắn chặt chẽ với chức năng, nhiệm
vụ quản lý, điều phối của công ty mẹ Để điều hành các hoạt động tài chính Công ty
mẹ phải có một cơ chế quản trị tài chính Trong các quyết định của doanh nghiệp,
vấn đề cần được quan tâm giải quyết không chỉ là lợi ích của cổ đông và nhà quản
lý mà còn cả lợi ích của người làm công, khách hàng, nhà cung cấp và Chính phủ
Cơ chế quản trị tài chính đối với các hoạt động tài chính của tập đoàn bao gồm cơ
chế quản trị tài chính được thiết lập bởi chính Công ty mẹ và cơ chế quản lý tài
chính của Nhà nước tác động đến các hoạt động tài chính của Công ty mẹ (TS Lưu
Thị Hương, 2002)
1.2.3 Cơ chế quản trị tài chính
1.2.3.1 Khái niệm cơ chế quản trị tài chính
Để xem xét đầy đủ nội dung, ý nghĩa của thuật ngữ “cơ chế quản lý tài chính”,
cần nghiên cứu khái niệm bao trùm trực tiếp của nó là “cơ chế quản lý kinh tế” vì
quản lý tài chính là một bộ phận của quản lý kinh tế
Theo Giáo sư Đoàn Trọng Truyến thì: “Cơ chế quản lý kinh tế là toàn bộ các
công cụ và phương pháp quản lý được Nhà nước sử dụng kết hợp với nhau một
cách đồng bộ trên cơ sở vận dụng các quy luật kinh tế để tác động tới nền kinh tế
quốc dân, hướng các hoạt động kinh tế vào những mục tiêu đã được xác định trong
đường lối kinh tế’
Tài chính doanh nghiệp là một khâu quan trọng của hệ thống tài chính, các hoạt
động tài chính theo nghĩa rộng bao hàm các hoạt động kinh tế, các quan hệ kinh tế
trong đó có sự vận động hoặc sự biểu hiện của tiền tệ thông qua các quan hệ tiền tệ
Bản chất của các các mối quan hệ đó là những quan hệ về giá trị được biểu hiện
dưới sắc thái khác nhau
Nói chung, cơ chế quản lý tài chính là một bộ phận của cơ chế kinh tế, bao gồm
tổng thể các phương pháp, công cụ quản lý các hoạt động tài chính của doanh
13
nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu nhất định
Cơ chế quản trị tài chính bao gồm rất nhiều yếu tố cấu thành và có liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau Cơ chế quản trị tài chính phù hợp sẽ cho phép doanh nghiệp khai thác được tối đa các nguồn lực sẵn có, tìm kiếm nguồn lực tài chính để đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh
1.2.3.2 Nội dung cơ chế quản trị tài chính
Cơ chế quản trị tài chính của các doanh nghiệp nói chung và cơ chế quản trị tài
chính của mô hình công ty mẹ công ty con bao gồm các nội dung chủ yếu sau: (TS, Lưu Thị Hương, 2002)
- Cơ chế huy động vốn: bao gồm các phương pháp, hình thức và các công cụ
để khai thác, huy động các nguồn vốn đáp ứng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả cao nhất;
- Cơ chế quản lý, sử dụng vốn, tài sản: bao gồm các phương pháp quản lý,
sử dụng tài sản, tiền vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả cao nhất;
- Cơ chế quản lý doanh thu, chi phí, công nợ: bao gồm các phương pháp,
công cụ, cách thức quản lý, hạch toán, theo dõi doanh thu, chi phí và công nợ của cả
tổ hợp, nhằm quản lý chặt chẽ doanh thu, chi phí, công nợ;
- Cơ chế phân phối lợi nhuận: là cách thức quản lý, phân phối và sử dụng lợi
nhuận của doanh nghiệp như trình tự, nội dung phân phối lợi nhuận, sử dụng các quỹ hình thành từ lợi nhuận của doanh nghiệp;
- Cơ chế kiểm tra, giám sát: bao gồm các phương pháp giám sát nhằm đảm
bảo an toàn tài chính cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Trọng tâm của kiểm tra, giám sát tài chính là hệ thống kiểm soát nộ bộ và hệ
thống thông tin tài chính
Cơ chế quản trị tài chính của công ty mẹ công ty con chịu sự chi phối của một
số đặc điểm nổi bật như phức tạp về hình thức sở hữu, đa dạng về ngành nghề kinh doanh, mối quan hệ giữa công ty mẹ và các công ty con, giữa các công ty con với
Trang 81.2.4 Chức năng của tài chính doanh nghiệp:
+ Chức năng tài trợ vốn
Vốn kinh doanh là điều kiện tiên quyết cho mọi hoạt động của các doanh nghiệp,
do vậy để đáp ứng nhu cầu về vốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp, tài chính phải thể hiện chức năng kiến tạo các nguồn vốn cho kinh
doanh Tài chính doanh nghiệp cần tính toán được nhu cầu vốn, huy động, lựa chọn
các nguồn vốn phù hợp và sử dụng đúng mục đích, tính chất nhằm tối đa hoá hiệu
quả sử dụng vốn (TS, Bùi Hữu Phước, 2005)
+ Chức năng giám đốc (kiểm tra)
Thông qua các hoạt động thu, chi bằng tiền, tài chính doanh nghiệp kiểm soát và
giám đốc tình hình bảo đảm vốn cho sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, bằng việc
phân tích tỷ trọng, cơ cấu nguồn vốn, tình hình sử dụng vốn, tài chính doanh nghiệp
giúp các nhà quản lý có thể đánh giá sự phù hợp về việc tài trợ nguồn vốn đối với
đặc điểm của hoạt động kinh doanh Đồng thời tài chính doanh nghiệp cũng có thể
kiểm tra việc chấp hành kỷ luật về tài chính của doanh nghiệp và các đối tượng liên
quan thông qua các mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người mua, người
bán, ngân sách Nhà nước, đối tượng cho vay, cán bộ công nhân viên về việc thanh
toán Thông tin tài chính doanh nghiệp là cơ sở để chủ thể quản lý đánh giá các
thành tựu cũng như hạn chế trong các quan hệ thanh toán, quan hệ tài chính, giúp
cho các nhà quản lý có biện pháp xử lý kịp thời nhằm duy trì và nâng cao hiệu quả
của hoạt động kinh doanh (TS, Bùi Hữu Phước, 2005)
+ Chức năng phân phối
Không chỉ đảm trách các chức năng cơ bản trong việc huy động vốn, tạo lập các
yếu tố đầu vào cho kinh doanh, tài chính doanh nghiệp còn giữ chức năng tính toán
và phân phối kết quả kinh doanh Việc phân phối kết quả cũng thể hiện trong các
mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước (về thuế thu nhập phải nộp,
thu trên vốn phải nộp ), với các cổ đông, với các nhà đầu tư, với công nhân viên
Từ đó, tài chính doanh nghiệp đảm bảo việc bảo toàn và phát triển nguồn vốn cho
kinh doanh của các doanh nghiệp Hơn nữa, chức năng này thể hiện sự bao quát của
tài chính doanh nghiệp trong suốt quá trình kinh doanh, từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng, cho phép nhà quản trị có thể tính toán hiệu quả đầu tư, kinh doanh thông
qua việc so sánh kết quả đầu ra với những yếu tố đầu vào đó bỏ ra (TS, Bùi Hữu Phước, 2005)
1.2.5.Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Với bản chất như trên, tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh, các vai trò này thể hiện cụ thể như sau:
Đảm bảo đủ nguồn vốn cho doanh nghiệp hoạt động (TS, Bùi Hữu Phước, 2005)
Thực hiện tốt chức năng của tài chính doanh nghiệp sẽ đảm bảo doanh nghiệp
có đủ vốn cho hoạt động kinh doanh, đảm bảo thường xuyên, liên tục và kịp thời
Huy động vốn với chi phí thấp
Căn cứ vào nhu cầu vốn trong kỳ, tài chính doanh nghiệp sẽ tìm cách huy động vốn thỏa mãn nhu cầu vốn kinh doanh với chi phí thấp nhất, mặt khác đảm bảo khả
năng thanh toán các khoản nợ phát sinh (TS, Bùi Hữu Phước, 2005)
Sử dụng hiệu quả các nguồn tài trợ
Kết hợp với các bộ phận chức năng liên quan, tài chính doanh nghiệp sẽ tìm những cơ hội đầu tư tốt nhất, đầu tư vào những dự án có tỷ lệ hoàn vốn và hiệu quả
cao (TS, Bùi Hữu Phước, 2005)
Giám sát và hướng dẫn các hoạt động, chi tiêu phù hợp với tình hình tài chính doanh nghiệp
Tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp, tìm ra những ưu nhược điểm về hoạt động tài chính của doanh nghiệp, quyết định tăng vốn và đầu tư hợp lý, xây
dựng các kế hoạch tài chính đảm bảo tài sản doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả (TS, Bùi Hữu Phước, 2005)
1.3.Quản trị tài chính doanh nghiệp 1.3.1 Khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính quan tâm đến quá trình đầu tư, mua sắm, tài trợ và quản lý tài
16
sản doanh nghiệp nhằm đạt đựơc các mục tiêu nhất định Qua định nghĩa trên quản
trị tài chính có liên quan đến các quyết định chủ yếu sau: Quyết định đầu tư; quyết
định tìm nguồn tài trợ; kể cả quyết định phân phối lợi nhuận và quyết định quản lý
tài sản doanh nghiệp
Quản trị tài chính có vị trí hết sức quan trọng trong hoạt động công ty và nó có
một phạm vi rộng lớn Hầu hết các quyết định diễn ra trong công ty đều có liên
quan đến hoạt động tài chính Tài chính vừa là điều kiện, vừa là cơ sở để thực hiện,
đánh giá hiệu suất các giải pháp kinh doanh Chúng ta hãy liên tưởng đến các hoạt
động đầu tư trong công ty thông qua các dự án, đến quá trình tiến hành các hoạt
động bán hàng đều có liên qua chặt chẽ với hoạt động tài chính Hoạt động tài chính
còn diễn ra trên nhiều mức độ khác nhau như: ở mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia
đến phạm vị toàn cầu
Có thể xem xét quản trị tài chính doanh nghiệp dưới nhiều góc độ khác nhau,
tuy nhiên, nói một cách chung nhất quản trị tài chính doanh nghiệp là quá trình lựa
chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm
đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, gia tăng giá trị doanh nghiệp và tăng cường
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Quản trị tài chính đóng vai trò quan trọng và là thành phần không thể thiếu được
trong quản trị doanh nghiệp nói chung, quản trị tài chính luôn gắn liền với các bộ
phận cấu thành khác của quản trị doanh nghiệp Tuy nhiên, cũng có thể khẳng định
quản trị tài chính là một môn khoa học độc lập, với hệ thống mục tiêu, đối tượng và
hệ thống phương pháp, công cụ nghiên cứu độc lập (TS, Đoàn Gia Dũng, 2009)
1.3.2 Một số nội dung chủ yếu của cơ chế quản trị tài chính
1.3.2.1.Cơ chế huy động vốn (Nghị định số 09/2009/NĐ-CP)
Vốn kinh doanh là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong quá trình hoạt động
của các doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh cả
trong ngắn hạn và dài hạn Cơ chế huy động vốn là một bộ phận quan trọng của cơ
chế tài chính, và có quan hệ với các yếu tố khác của cơ chế kinh tế, nó chịu ảnh
hưởng của các yếu tố kinh tế xã hội và phản ánh cơ chế kinh tế qua các thời kỳ
17
Trong nền kinh tế thị trường, cơ chế huy động vốn kinh doanh đã có những điều chỉnh cho phép các doanh nghiệp chủ động trong việc tìm kiếm nguồn vốn, các hình thức và công cụ huy động vốn ngày càng đa dạng phong phú
Huy động nguồn vốn nội bộ
Tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ là một phương thức tạo vốn được áp dụng khá phổ biến, đặc biệt đối với các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ công ty con, nhờ đó mà các tổ hợp công ty phát huy được nguồn lực của chính mình, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, nhất là khi có sự biến động bất lợi của thị trường tài chính Nguồn vốn nội bộ được huy động bằng hai phương thức: thông qua chính sách phân phối lợi nhuận và phát hành cổ phiếu nội bộ
Đối với các công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ công ty con, khai thác nguồn vốn nội bộ còn bao hàm sự luân chuyển, điều chuyển vốn giữa công ty mẹ với các công ty con, giữa các công ty con thành viên với nhau thông qua các hình thức như tín dụng nội bộ, đầu tư nội bộ, trao đổi tài sản,… nhằm tạo ra khả năng điều hòa và sử dụng tối ưu nguồn lực tài chính, làm tăng hiệu quả kinh doanh chung của toàn tổ hợp Do đặc thù về cơ cấu tổ chức và phạm vi hoạt động nên trong mô hình công ty mẹ công ty con thường tồn tại một công ty con là công ty tài chính Công ty này hoạt động như một trung gian tài chính thực hiện nhiệm vụ luân chuyển, điều hòa các nguồn vốn trong toàn mô hình với chi phí thấp và tham gia kinh doanh các dịch vụ tài chính được phép khác
Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu
Phát hành trái phiếu, cổ phiếu là hình thức đang được áp dụng phổ biến hiện nay trên thế giới cũng như tại Việt Nam Trong nền kinh tế thị trường với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính rất nhiều doanh nghiệp áp dụng hình thức này để huy động vốn Quá trình phát hành trái phiếu, cổ phiếu là quá trình phát hành ra thị trường những công cụ tài chính nhằm mục đích huy động vốn Việc phát hành cổ phiếu hay trái phiếu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: quy định của Nhà nước,chính sách, chiến lược của doanh nghiệp, điều kiện phát hành, tình hình thực tế của thị
Trang 9trái phiếu chính phủ thì doanh nghiệp thường phát hành trái phiếu, và khi tỷ suất lợi
nhuận thấp doanh nghiệp thường phát hành cổ phiếu
Nguồn vốn tín dụng và các nguồn vốn khác
Trong nền kinh tế thị trường, nguồn vốn tín dụng là nguồn vốn rất quan trọng
đối với các doanh nghiệp giúp các doanh nghiệp san sẻ bớt rủi ro Với sự phát triển
mạnh mẽ của thị trường tài chính, các doanh nghiệp có thể khai thác những nguồn
vốn tín dụng đa dạng như:
- Vốn vay của các ngân hàng thương mại
- Vốn vay của các tổ chức phi ngân hàng: vay công ty tài chính, quỹ tín dụng,
vay nước ngoài, vay của lao động,…
- Vốn chiếm dụng của các khách hàng, nhà cung cấp
Trong các nguồn vốn trên thì vốn vay của các ngân hàng thương mại có vị trí
quan trọng nhất, vì ngân hàng là các tổ chức kinh doanh tiền tệ Giao dịch vay vốn
ngân hàng thường thuận lợi và có chi phí thấp hơn so với việc vay vốn của các tổ
chức và cá nhân khác
Đối với mô hình công ty mẹ công ty con, để huy động tốt nguồn vốn tín dụng
thì cần phải xây dựng một cơ chế quản lý tín dụng sao cho vừa có thể phát huy tối
đa sự tự chủ của các đơn vị thành viên, vừa đảm bảo sự an toàn về tài chính cho
toàn mô hình Để quản lý tốt nguồn vốn tín dụng này, cơ chế quản lý tín dụng phải
đảm bảo:
- Cơ chế kiểm soát nội bộ của mô hình đối với quá trình huy động vốn tín
dụng của công ty mẹ và các công ty con nhằm ngăn ngừa việc vay vốn không có
hiệu quả hoặc không an toàn
- Quy định rõ quy trình, thủ tục cụ thể đối với các đơn vị tiến hành vay vốn
Tăng cường hệ thống kiểm soát quản trị của toàn mô hình và hệ thống kiểm soát
nội bộ giữa các đơn vị thành viên
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Đối với những nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, nguồn vốn
đầu tư trực tiếp, gián tiếp từ nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của các doanh nghiệp nói riêng Có thể thấy rõ điều này qua thực tế tại Việt Nam trong những năm vừa qua, nguồn vốn đầu tư trực tiếp FDI và vốn ODA của các nước có ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ phát triển kinh
tế Việt Nam, Chính phủ luôn cố gắng đưa ra những giải pháp, chính sách ưu đãi, đơn giản hoá thủ tục đầu tư, thủ tục hành chính,… nhằm thu hút tối đa nguồn vốn đầu tư nước ngoài Đặc biệt khi thị trường chứng khoán ở Việt Nam đang phát triển thì việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài càng trở nên dễ dàng hơn và cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc thu hút vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài
1.3.2.2.Cơ chế quản lý, sử dụng vốn và tài sản (Nghị định số 09/2009/NĐ-CP)
Cơ chế quản lý, sử dụng vốn
Trong mô hình công ty mẹ công ty con việc quản lý và sử dụng vốn cần tăng tối
đa sự tự chủ về vốn cho các công ty con Các công ty con được toàn quyền quản lý,
sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh bởi các công ty con đều có tư cách pháp nhân độc lập
Mục tiêu, chiến lược phát triển của toàn mô hình do công ty mẹ quyết định và xây dựng các biện pháp thực hiện thống nhất trong toàn mô hình để đạt được mục tiêu đó Tuy nhiên, công ty mẹ cũng có thể đưa ra hành lang, định hướng để các công ty thành viên phát huy tính tự chủ trong việc quản lý và sử dụng vốn Thước
đo và mục đích cuối cùng là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn mô hình
Trong mô hình công ty mẹ công ty con tồn tại công ty tài chính, thì công ty này
sẽ thực hiện chức năng điều hòa vốn trong toàn mô hình, đồng thời thực hiện chức năng đầu tư vốn nhằm nâng cao hiệu quả sửdụng vốn, nâng cao sức cạnh tranh, phục vụ cho chiến lược phát triển chung của toàn mô hình
Đối với các mô hình công ty mẹ công ty con không có công ty tài chính thì việc điều động vốn, quản lý nguồn vốn trong tổ hợp thường do phòng tài chính của công
ty mẹ thực hiện
20
Đối với việc đầu tư vốn trong mô hình công ty mẹ công ty con, công ty mẹ đầu
tư vào các công ty con thông qua cơ chế đầu tư vốn, mua cổ phần của các công ty
con, góp vốn thành lập,… với mức đầu tư đủ lớn để có thể kiểm soát và chi phối các
hoạt động của công ty con Đến lượt các công ty con lại là người đầu tư và kiểm
soát trực tiếp đối với công ty cháu, như vậy công ty mẹ đã gián tiếp đầu tư và kiểm
soát công ty cháu Thông thường mô hình công ty mẹ công ty con được tổ chức theo
mô hình hỗn hợp, các công ty con, công ty cháu có thể đầu tư vốn vào công ty mẹ
hoặc đầu tư vốn lẫn nhau với các công ty cùng cấp nhưng không tạo quyền kiểm
soát, chi phối
Một vấn đề quan trọng đối với việc sử dụng vốn là bảo toàn vốn, mọi thành viên
trong mô hình đều phải có trách nhiệm bảo toàn vốn bằng các biện pháp như: thực
hiện cơ chế quản lý sử dụng vốn, tài sản, phân phối lợi nhuận… theo đúng các quy
định của Nhà nước; xử lý kịp thời các tài sản bị tổn thất theo quy định, thực hiện
trích lập các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng giảm giá các khoản
đầu tư tài chính,…
Về cơ chế quản lý, sử dụng tài sản cố định
Quản lý sử dụng tài sản cố định: tài sản cố định trong doanh nghiệp là những tư
liệu lao động chủ yếu có giá trị lớn tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh
nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu Những tư liệu này có thể là từng
đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều tài sản liên kết với
nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định, hình thái vật chất ban đầu
không thay đổi nhưng giá trị được dịch chuyển dần từng phần vào giá trị sảnphẩm
trong các chu kỳ sản xuất Thông thường một tài sản được coi là tài sản cố định
đồng thời phải thỏa mãn hai điều kiện sau:
- Phải có thời gian sử dụng tối thiểu, thường là từ một năm trở lên
- Phải đạt giá trị tối thiểu ở một mức quy định Tiêu chuẩn này được quy định
riêng đối với từng nước và có thể được điều chỉnh phù hợp với giá cả, mức độ tiến
bộ của khoa học kỹ thuật
21
chính thì một tài sản được coi là tài sản cố định khi có giá trị lớn hơn 10 triệu đồng
và thời gian sử dụng tối thiểu là một năm Từ năm tài chính năm 2013 áp dụng theo thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25 tháng 4 năm 2013 thì một tài sản được coi là tài sản cố định khi có giá trị lớn hơn 30 triệu đồng và thời gian sử dụng tối thiểu là một năm
Cơ chế quản trị tài chính của Công ty mẹ công ty con thường quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các đơn vị trong việc quản lý tài sản Thông thường các công
ty con được chủ động trong việc quản lý, sử dụng, đầu tư tài sản,… và điều này thường được quy định trong quy chế hoặc điều lệ hoạt động của các công ty con Trích khấu hao và quản lý khấu hao: trong quá trình sử dụng tài sản, giá trị sử dụng và giá trị của tài sản giảm dần do tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh,
do bào mòn của tự nhiên, do tiến bộ của khoa học kỹ thuật,… để phản ánh quá trình
ấy, các doanh nghiệp cần tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của tài sản cố định vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian sử dụng của tài sản
cố định thông qua việc lựa chọn phương pháp và tỷ lệ khấu hao phù hợp Trong mô hình công ty mẹ công ty con, cơ chế phân cấp quản lý tài sản cố định được phân cấp rất cụ thể Thông thường, HĐQT sẽ quyết định chính sách và biện pháp lớn về quản lý tài sản cố định Trong một số trường hợp, công ty mẹ có thể cho thuê, cầm cố, thế chấp tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty theo mức quy định, có thể điều chuyển các tài sản giữa các đơn vị thành viên, huy động nguồn quỹ khấu hao của công ty mẹ, các công ty con để đầu tư mới tài sản cố định Tuy nhiên, xu hướng chung là công ty mẹ sẽ giao quyền tự chủ cho các côngty con trong việc quản lý, sử dụng tài sản cố định và khấu hao tài sản cố định
Cơ chế quản lý các khoản công nợ phải thu phải trả Đối với các khoản công nợ phải thu
Công nợ phải thu chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như chính sách tín dụng, thời gian cho phép trả chậm, khối lượng giao dịch, uy tín của khách hàng, nhà cung cấp, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và nhu cầu vốn của doanh nghiệp
Trang 10phạm vi hoạt động rộng vì vậy, thường có quan hệ với rất nhiều khách hàng, nhà
cung cấp khác nhau do đó cần phải có chính sách, quy chế quản lý các khoản công
nợ phải thu chung cho toàn mô hình Công ty mẹ có trách nhiệm xây dựng quy chế
quản lý công nợ và yêu cầu các đơn vị thành viên thực hiện theo đúng quy chế đồng
thời phải thường xuyên kiểm tra, giám sát tình hình theo dõi, thu hồi công nợ của
các đơn vị thành viên, đảm bảo các khoản công nợ được quản lý và thu hồi theo
đúng thời hạn Đối với các khoản công nợ không có khả năng thu hồi thì cần lập dự
phòng, tạo nguồn bù đắp nhằm hạn chế rủi ro tài chính có thể xảy ra trong trường
hợp không thu hồi được nợ
Đối với các khoản công nợ phải trả
Để quản lý tốt các khoản công nợ phải trả, công ty có thể thực hiện một số biện
pháp như: thường xuyên kiểm tra, đối chiếu các khoản thanh toán với khả năng
thanh toán để chủ động đáp ứng các nhu cầu thanh toán khi đến hạn; lựa chọn các
hình thức thanh toán thích hợp, an toàn và hiệu quả nhất đối với doanh nghiệp
Công ty mẹ cũng phải ban hành quy chế quản lý công nợ phải trả cho toàn mô hình,
đảm bảo sự hài hòa trong việc quản lý công nợ phải thu và phải trả
1.3.2.3.Cơ chế quản lý doanh thu chi phí (Nghị định số 09/2009/NĐ-CP)
Cơ chế quản lý doanh thu
Doanh thu là chỉ tiêu tài chính phản ảnh tổng giá trị bằng tiền của hàng hóa,
dịch vụ đã thực hiện trong kỳ Doanh thu là khâu được thực hiện sau quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó giúp thu hồi vốn, xác định kết quả kinh
doanh và tái sản xuất ở các chu kỳ tiếp theo Quản lý doanh thu chịu sự tác động
của nhiều yếu tố như chính sách bán hàng, khách hàng, thời gian thanh toán, điều
kiện và phương thức thanh toán Tùy vào từng đặc điểm của loại hình doanh nghiệp
mà người ta có thể lựa chọn, xây dựng một phương pháp thực hiện doanh thu sao
cho phù hợp với nội dung kinh doanh và đặc điểm của đơn vị mình Đối với mô
hình công ty mẹ công ty con, thường hoạt động đa ngành, gồm nhiều cấp và nhiều
hình thức sở hữu nên cơ chế quản lý doanh thu của mô hình có những điểm riêng
biệt Doanh thu của mô hình có thể quản lý theo cơ chế tập trung, phân tán hoặc hỗn
hợp
Cơ chế quản lý doanh thu tập trung thường áp dụng trong các mô hình mà công
ty mẹ chi phối mạnh đến hoạt động của công ty con, khi đó việc xác định doanh thu của tổ hợp được thực hiện song song với việc xác định doanh thu của các công ty thành viên Ngược lại, cơ chế quản lý doanh thu phân tán thì doanh thu không xác định chung cho toàn mô hình mà chỉ mang tính chất thống kê để làm căn cứ cho việc hoạch định chiến lược kinh doanh chung Cơ chế quản lý doanh thu hỗn hợp là
cơ chế kết hợp cả hai cơ chế trên
Cơ chế quản lý chi phí
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ tiêu hao về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, biểu hiện bằng tiền và tính cho một kỳ nhất định Thực chất, chi phí sản xuất kinh doanh là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá thành nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh
Quản lý tốt chi phí sản xuất kinh doanh là vấn đề có tính chất sống còn đối với các doanh nghiệp, nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh, khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, và ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của doanh nghiệp
1.3.2.4.Cơ chế phân phối lợi nhuận (Nghị định số 09/2009/NĐ-CP)
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh chính xác nhất hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc tạo ra lợi nhuận là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng nhưng đồng thời cũng có tác động ngược trở lại đến mọi hoạt động của doanh nghiệp Đây là nguồn tích lũy cơ bản để doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh
Để phát huy được vai trò đòn bẩy của lợi nhuận, việc phân phối lợi nhuận không đơn thuần là phân chia số lãi thu được mà phải giải quyết hài hòa mối quan hệ về
24
lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia quá trình phân phối Phân phối lợi nhuận
đúng đắn, hợp lý sẽ tạo động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, ngược lại
nó sẽ kìm hãm sự phát triển của quá trình sản xuất
Cơ chế phân phối lợi nhuận là một trong những bộ phận quan trọng nhất của cơ
chế tài chính doanh nghiệp Cơ chế phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp chịu
ảnh hưởng của một số nhân tố như: Hình thức sở hữu của doanh nghiệp; Định
hướng phát triển của doanh nghiệp; Quy mô và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp;
Chính sách và quy định của nhà nước…
Đối với các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ công ty con, lợi
nhuận của công ty mẹ bao gồm lợi nhuận hoạt động kinh doanh, lợi nhuận hoạt
động khác của công ty mẹ và lợi nhuận được chia từ các công ty con, công ty liên
kết mà công ty mẹ góp vốn hoặc đầu tư Cũng như các mô hình tổ chức doanh
nghiệp khác, cơ chế phân phối lợinhuận của các doanh nghiệp hoạt động theo mô
hình công ty mẹ công ty con chịu sự ảnh hưởng chủ yếu của quan hệ sở hữu vốn
Việc phân phối lợi nhuận phải giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa nhà nước,
doanh nghiệp, người lao động, giữa công ty mẹ với các công ty con, công ty liên
kết, giữa các công ty con với nhau và đảm bảo thực hiện được mục tiêu của từng
đơn vị thành viên cũng như của toàn bộ mô hình
1.3.2.5 Cơ chế đầu tư vốn cho R&D của công ty mẹ
Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt, để chiếm lĩnh thị trường, thu hút được
nhiều khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh của TĐKT, đầu tư cho R&D là
cứu cánh của các TĐKT Tuy nhiên, đầu tư cho R&D là một loại đầu tư rủi ro, cần
một lượng vốn lớn Đối với mỗi công ty thành viên, do nguồn lực tài chính còn
hạn chế, năng lực hoạch định và quản lý R&D còn hạn chế, do đó trách nhiệm
đầu tư R&D thường thuộc về công ty mẹ Nhằm hạn chế rủi ro, bảo toàn được
nguồn vốn đầu tư, nâng cao hiệu quả, đòi hỏi công ty mẹ phải xác lập được cơ chế
quản lý tài chính đối với vấn đề đầu tư cho R&D Đó là những quy định về mức
đầu tư, danh mục đầu tư, cách thức xác định chi phí, hiệu quả đầu tư…trách
25
1.3.2.6.Cơ chế kiểm tra, giám sát (Nghị định số 09/2009/NĐ-CP)
Trong mô hình công ty mẹ công ty con tồn tại nhiều mức độ sở hữu khác nhau của công ty mẹ với các công ty con, và tồn tại chế độ đa sở hữu, các quan hệ về vốn, tài chính trong mô hình tương đối phức tạp vì vậy, kiểm tra, giám sát tài chính
có vai trò rất quan trọng, giúp doanh nghiệp nắm rõ thực trạng, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, kịp thời đưa ra các biện pháp khắc phục tồn tại nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hoạt động giám sát tài chính doanh nghiệp bao gồm các yếu tố như: chủ thể giám sát, phương pháp giám sát, đối tượng giám sát, nội dung giám sát,… Bằng các phương pháp như kiểm tra thường xuyên, định kỳ, giám sát theo chuyên đề… chủ thể giám sát thực hiện giám sát nội dung các hoạt động tài chính của doanh nghiệp, biểu hiện ra là những hồ sơ, tài liệu, chứng từ, báo cáo tài chính có liên quan đến việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp
Thông qua hoạt động giám sát tài chính, chủ thể giám sát có thể nắm bắt được một cách chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp, kịp thời phát hiện những mặt tích cực và tồn tại trong công tác quản trị tài chính để đưa ra những quyết định điều chỉnh cho phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản trị tài chính, đảm bảo việc chấp hành đúng pháp luật, ngăn ngừa những vi phạm trong công tác quản lý kinh tế, bảo vệ lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp, người lao động và các bên liên quan khác Yêu cầu của giám sát tài chính là phải đảm bảo việc chấp hành pháp luật, đồng thời phải tạo điều kiện cho doanh nghiệp được tự chủ trong kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình
Đối với mô hình công ty mẹ công ty con, công tác kiểm tra, giám sát tài chính bao gồm một số nội dung sau:
- Giám sát của Nhà nước, Đại hội đồng cổ đông đối với công ty mẹ: trong trường hợp công ty mẹ là công ty cổ phần thì cơ quan thực hiện việc giám sát là Ban kiểm soát của công ty Theo luật doanh nghiệp 2005, Ban kiểm soát thực hiện việc giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc trong việc quản lý điều hành công ty, kiểm tra tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý điều hành
Trang 11hoạt động kinh doanh, trong công tác kế toán, thẩm định báo cáo tài chính, báo cáo
kinh doanh, xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty
- Giám sát của công ty mẹ với các công ty thành viên: Công ty mẹ có trách
nhiệm thực hiện quyền, nghĩa vụ giám sát tài chính của chủ sở hữu tương ứng với
phần vốn đầu tư của mình tại các công ty con và công ty liên kết Hoạt động giám
sát của công ty mẹ được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục thông qua việc
kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh, kiểm tra công tác quản trị tài chính, kế toán
và thông qua việc cử đại diện vốn chủ sở hữu của công ty mẹ đầu tư tại các công ty
thành viên
Giám sát trong nội bộ các công ty con: các công ty con, công ty cháu là nơi trực
tiếp sử dụng tài sản, tiền vốn để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh với
mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Giám sát tài chính trong nội bộ các công ty con là
một biện pháp quan trọng để các doanh nghiệp phát hiện ra các vấn đề tồn tại và kịp
thời đưa ra các điều chỉnh phù hợp Để thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát
trong nội bộ các công ty thành viên, công ty mẹ cần phải ban hành quy chế kiểm tra
kiểm soát nội bộ chung cho toàn mô hình, và quy chế áp dụng cho các đơn vị thành
viên nhằm đảm bảo công tác kiểm tra, giám sátđược thực hiện thường xuyên tại các
đơn vị để có thể phát hiện kịp thời các thiếu sót, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh
1.3.2.7 Đặc điểm cơ chế quản trị tài chính
Trên cơ sở nghiên cứu những ưu nhược điểm của cơ chế quản trị tài chính của Tổng
công ty nhà nước ở Việt Nam và Công ty me – công ty con, luận văn chỉ ra sự khác
biệt cơ bản của cơ chế quản trị tài chính giữa Công ty mẹ – công ty con và các Tổng
công ty, cụ thể như sau:
Thứ nhất, về cơ chế tạo lập và huy động vốn
Nói đến các Tổng công ty nhà nước, việc đầu tiên phải nói đến vấn đề sở hữu,
từ việc nhà nước sở hữu 100% vốn dẫn đến việc xác định chủ sở hữu thật sự của các
Tổng công ty bấy lâu nay không rõ ràng Việc đồng “đại diện sở hữu” và đồng “sử
dụng” đã tạo ra những khó khăn nhất định trong việc sử dụng linh hoạt và điều tiết
các nguồn vốn trong nội bộ Tổng công ty Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thậm chí có thể nói là tạo ra khe hở cho việc tham ô, lãng phí
Trong khi đó các Tập đoàn kinh tế trên thế giới là đa sở hữu và cơ bản dựa trên
sở hữu tư nhân, ở đây có sự khác biệt cơ bản so với các Tổng công ty nhà nước ở Việt Nam là chủ sở hữu vốn là những người trực tiếp quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn
Thứ hai, cơ chế quản lý, sử dụng vốn và tài sản
Các Tổng công ty được nhà nước giao vốn trên cơ sở nguồn vốn và tài sản hiện
có của Tổng công ty và các đơn vị thành viên Việc giao vốn như vậy chỉ mang tính hình thức vì trên thực tế phần vốn ấy đang do chính các đơn vị quản lý và sử dụng, như vậy tạo ra thêm một cấp trung gian quản lý tài chính Các đơn vị thành viên
thường coi Tổng công ty như là một cấp quản lý gián tiếp và phải “bao cấp” Tổng
công ty khi bị điều tiết nguồn vốn hoặc kết quả kinh doanh
Trong khi đó việc quản lý và sử dụng vốn và tài sản của tổ hợp Công ty mẹ - công ty con rất linh hoạt và đa dạng trên nguyên tắc chung là tối đa hoá lợi nhuận, các bên cùng có lợi và tất cả đều được cụ thể hoá bằng các hợp đồng kinh tế
Thứ ba, cơ chế phân phối thu nhập
Việc huy động và trích lập các quỹ tài chính tập trung của các Tổng công ty từ các đơn vị thành viên đã phần nào làm giảm đi tính chủ động của các đơn vị, trong khi các đơn vị luôn luôn trong tình trạng chung là thiếu vốn Bên cạnh đó, việc sử dụng các quỹ tài chính tập trung ở Tổng công ty lại mang tính chất dàn trải, tạo ra
cơ chế xin – cho và bao cấp
Cơ chế phân phối thu nhập của các tổ hợp Công ty mẹ - công ty con được thể hiện rất rõ ràng, luôn được xem xét thận trọng và mang tính chất chiến lược Các khoản thu nhập được dùng để chia cổ tức cho các cổ đông đảm bảo đủ hấp dẫn và
có tích luỹ để đầu tư phát triển Tổ hợp
Thứ tư, cơ chế giám sát, kiểm tra nội bộ
28
Cơ chế giám sát kiểm tra “chặt” theo các quy định và về hình thức nhưng
“lỏng” trên thực tế (đôi khi gây ra phiền hà cho đơn vị) và rủi ro quản lý tập trung
vào người quản lý điều hành là một trong những nhược điểm quan trọng của cơ chế
quản lý tài chính của các Tổng công ty nhà nước ở Việt Nam
Các tổ hợp Công ty mẹ - công ty con thực hiện việc giám sát kiểm tra nội bộ ở
tất cả các cấp, theo một hệ thống trình tự rõ ràng, đặc biệt là khâu phân tích đánh
giá, giúp cho Ban lãnh đạo Tổ hợp điều hành chỉ đạo và quyết định những biện
pháp kinh doanh kịp thời hiệu quả
Tóm lại, cơ chế quản trị tài chính của tổ hợp Công ty mẹ - công ty con là một
trong những vấn đề rất khó và phức tạp Để đảm bảo cơ chế quản trị tài chính của tổ
hợp Công ty mẹ - công ty con Việt Nam vừa đáp ứng được tính thống nhất chung,
lại vừa phát huy được tính tự chủ tài chính của các đơn vị thành viên thì trước hết
cơ chế quản trị tài chính của Tổ hợp phải được xác lập trên nguyên tắc lấy quyền sở
hữu về vốn và tự chủ tài chính làm nền tảng
1.3.2.8 Các tiêu chí đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp là khả năng đảm bảo nguồn lực tài chính
cho hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu doanh nghiệp đề ra (TS
Phạm Thị Vân Anh, năm 2012)
Như vậy, khái niệm này trước hết được hiểu là khả năng huy động vốn để đáp
ứng cho hoạt động của doanh nghiệp; hai là khả năng đảm bảo an toàn tài chính
doanh nghiệp
Các tiêu chí đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp
Để dễ dàng cho việc đánh giá, xem xét năng lực tài chính của một DN, ta có thể
phân chia thành 4 nhóm chỉ tiêu như sau:
Nhóm quy mô vốn và tốc độ tăng trưởng vốn
Quy mô vốn và tốc độ tăng trưởng vốn phản ánh được năng lực tài chính của
doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu sau:
- Tổng vốn: phản ánh toàn bộ số vốn của doanh nghiệp Chỉ tiêu này phản ánh
năng lực tài chính đáp ứng cho các hoạt động của doanh nghiệp
29
- Tốc độ tăng vốn: là tỷ lệ tăng số vốn hàng năm của doanh nghiệp chỉ tiêu này phản ánh tốc độ gia tăng toàn bộ số vốn hàng năm của doanh nghiệp, thể hiện sự gia tăng năng lực tài chính để đáp ứng cho các hoạt động của doanh nghiệp
Số vốn năm nay - Số vốn năm trước
Số vốn năm trước
- Tổng vốn chủ sở hữu: là số lượng vốn chủ sở hữu hiện có của doanh nghiệp Chỉ tiêu này phản ánh toàn bộ số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, thể hiện năng lực tài chính chủ sở hữu đáp ứng cho các hoạt động của doanh nghiệp
- Tỷ lệ tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp: là tỷ lệ tăng số vốn chủ sở hữu hàng năm của doanh nghiệp Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ gia tăng vốn chủ sở hữu hàng năm của doanh nghiệp, thể hiện sự gia tăng khả năng huy động vốn chủ sở hữu để đáp ứng cho các hoạt động SXKD của doanh nghiệp
vốn CSH năm nay - vốn CSH năm trước
Nhóm khả năng tự tài trợ và khả năng huy động vốn nợ
- Khả năng tự tài trợ: là khả năng doanh nghiệp có thể sử dụng các nguồn vốn
chủ sở hữu phục vụ cho hoạt động SXKD
Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
Để xem xét khả năng huy động vốn nội sinh người ta hay dùng hai chỉ tiêu sau:
lợi nhuận để lại tái đầu tư
để lại tái đầu tư lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này cho biết trong 1 đồng lợi nhuận sau thuế, doanh nghiệp để lại bao nhiêu đồng để tái đầu tư Nó phản ánh khả năng huy động vốn chủ sở hữu từ lợi nhuận để lại của doanh nghiệp
lợi nhuận để lại tái đầu tư
bền vững vốn CSH bình quân
Trang 12Chỉ tiêu này cho biết trong 100 đồng vốn CSH có bao nhiêu đồng lấy từ lợi
nhuận để lại tái đầu tư Chỉ tiêu này cũng phản ánh năng lực tài chính vốn chủ sở
hữu của doanh nghiệp trong mối quan hệ với tỷ lệ tăng trưởng bền vững
- Khả năng huy động vốn nợ:
Vốn nợ
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng tài sản được hình thành từ bao nhiêu đồng vốn nợ
Chỉ tiêu này phản ánh năng lực tài chính từ vốn nợ của doanh nghiệp
Nhóm khả năng sinh lời
- Tỷ suất lợi nhuận tổng tài sản (ROA)
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản bình quân
Tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi trên 1 đồng vốn đầu tư vào DN
- Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quân Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn CSH trong doanh nghiệp Nó
cho biết một đồng vốn CSH bỏ vào kinh doanh trong kỳ sẽ mang lại bao nhiêu đồng
lợi nhuận sau thuế
Nhóm khả năng đảm bảo an toàn tài chính doanh nghiệp
- Khả năng thanh toán:
+ Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn
Hệ số này đo lường khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng các tài sản có
thể chuyển đổi trong thời gian ngắn
+ Hệ số khả năng thanh toán nhanh
+ Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Tiền và tương đương tiền
toán tức thời Nợ ngắn hạn
Hệ số này phản ánh khả năng nhanh nhất của doanh nghiệp sử dụng tài sản của mình để trả các khoản nợ ngắn hạn
- Khả năng bù đắp tổn thất khi xảy ra rủi ro trong hoạt động kinh doanh
Doanh nghiệp phải có nguồn tài chính nhằm bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra: từ việc mua bảo hiểm; từ quỹ dự phòng tài chính; từ quỹ lập dự phòng hàng tồn kho,
nợ phải thu khó đòi, bảo hành sản phẩm
1.3.3 Mục tiêu QTTC DN
Một DN tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như: tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu trong ràng buộc tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo DN v.v , song tất cả các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu Bởi lẽ, một DN phải thuộc về các chủ sở hữu nhất định; chính họ phải nhận thấy giá trị đầu
tư của họ tăng lên; khi DN đặt ra mục tiêu là tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu, DN
đã tính tới sự biến động của thị trường, các rủi ro trong hoạt động kinh doanh
QTTC DN chính là nhằm thực hiện được mục tiêu đó (TS, Lưu Thị Hương, 2010)
Các quyết định tài chính trong DN: Quyết định đầu tư, quyết định huy động vốn, quyết định về phân phối, ngân quỹ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Trong QTTC, nhà quản lý phải cân nhắc các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài để đưa ra các quyết định làm tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu, phù hợp với lợi ích
của chủ sở hữu (TS, Lưu Thị Hương, 2010)
32
1.3.4 Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp
QTTC luôn luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt động quản lý của DN, nó
quyết định tính độc lập, sự thành bại của DN trong quá trình kinh doanh Đặc biệt
trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, trong điều kiện cạnh tranh đang diễn ra
khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, quản lý tài chính trở nên quan trọng hơn bao
giờ hết Bất kỳ ai liên kết, hợp tác với DN cũng sẽ được hưởng lợi nếu như quản lý
tài chính của DN có hiệu quả Ngược lại, họ sẽ bị thua thiệt khi QTTC kém hiệu
quả (TS.Lưu Thị Hương, 2010)
QTTC là sự tác động của nhà quản lý tới các hoạt động tài chính của DN Nó
được thực hiện thông qua một cơ chế Đó là cơ chế QTTC DN Cơ chế QTTC DN
được hiểu là một tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ được vận
dụng để quản lý các hoạt động tài chính của DN trong những điều kiện cụ thể nhằm
đạt được những mục tiêu nhất định (TS.Lưu Thị Hương, 2010)
QTTC là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với mọi hoạt động khác của
DN QTTC tốt có thể khắc phục được những khiếm khuyết trong trong các lĩnh vực
khác Một quyết định tài chính không được cân nhắc, hoạch định kỹ lưỡng có thể
gây nên tổn thất khôn lường cho DN và cho nền kinh tế Hơn nữa, do DN hoạt động
trong một môi trường nhất định nên các DN hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần thúc
đẩy nền kinh tế phát triển Bởi vậy, QTTC DN tốt có vai trò quan trọng đối với việc
nâng cao hiệu quả QTTC quốc gia (TS.Lưu Thị Hương, 2010)
Quản trị TCDN có vai trò to lớn trong hoạt động kinh doanh của DN Trong
hoạt động kinh doanh hiện nay, TCDN giữ những vai trò chủ yếu sau :
*Huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của
DN
Trong quá trình hoạt động của DN thường nảy sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn
và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên của DN cũng như cho đầu tư
phát triển Vai trò của TCDN trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn các nhu
cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh của DN trong thời kỳ và tiếp đó phải lựa chọn
các phương pháp và hình thức thích hợp huy động nguồn vốn từ bên trong và bên
33
ngoài đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho hoạt động của DN Ngày nay, cùng với
sự phát triển của nền kinh tế đã nảy sinh nhiều hình thức mới cho phép các DN huy động vốn từ bên ngoài Do vậy, vai trò của tài chính ngày càng quan trọng hơn trong việc chủ động lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn đảm bảo
cho DN hoạt động nhịp nhàng và liên tục với chi phí huy động vốn ở mức thấp (TS.Lưu Thị Hương, 2010)
*Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức sử dụng vốn TCDN đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu
tư trên cơ sở phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của dự án từ đó góp phần chọn ra dự án đầu tư tối ưu Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để DN có thể chớp được các cơ hội kinh doanh Mặc khác, việc huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh có thể giảm bớt và tránh được những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra, đồng thời giảm bớt được nhu cầu vay vốn, từ
đó giảm được các khoản tiền trả lãi vay Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ của
DN, cùng với sử dụng các hình thức thưởng, phạt vật chất hợp lý sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy cán bộ công nhân viên gắn liền với DN từ đó nâng cao năng suất lao
động, góp phần cải tiến sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả sử dụng tiền vốn (TS.Lưu Thị Hương, 2010)
*Giám sát, kiểm tra chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của DN
Thông qua các hình thức, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình tài chính và thực hiện các chi tiêu tài chính, người lãnh đạo và các nhà quản lý DN có thể đánh giá khái quát và kiểm soát các mặt hoạt động của DN, phát hiện được kịp thời những tồn tại vướng mắc trong kinh doanh từ đó có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt
động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh (TS.Lưu Thị Hương, 2010)
1.3.5.Nguyên tắc QTTC DN
Hoạt động tài chính của DN dù nhỏ hay lớn căn bản là giống nhau nên nguyên tắc QTTC đều có thể áp dụng chung cho các loại hình DN Tuy nhiên, giữa các DN
Trang 13khác nhau cũng có sự khác biệt nhất định nên khi áp dụng nguyên tắc QTTC phải
gắn với những điều kiện cụ thể (TS, Lưu Thị Hương, 2010)
*Nguyên tắc đánh đổi rủi ro và lợi nhuận
QTTC phải được dựa trên quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận Nhà đầu tư có thể
lựa chọn những đầu tư khác nhau tùy thuộc vào mức độ rủi ro mà họ chấp nhận và
lợi nhuận kỳ vọng mà họ mong muốn Khi họ bỏ tiền vào những dự án có mức độ
rủi ro cao, họ hy vọng dự án đem lại lợi nhuận kỳ vọng cao (TS, Lưu Thị Hương,
2010)
*Nguyên tắc giá trị thời gian của tiền
Để đo lường giá trị tài sản của chủ sở hữu, cần sử dụng khái niệm giá trị thời
gian của tiền, tức là phải đưa lợi ích và chi phí của dự án về một thời điểm, thường
là thời điểm hiện tại Theo quan điểm của nhà đầu tư, dự án được chấp nhận khi lợi
ích lớn hơn chi phí Trong trường hợp này, chi phí cơ hội của vốn được đề cập như
là tỷ lệ chiết khấu (TS, Lưu Thị Hương, 2010)
*Nguyên tắc chi trả.
Trong hoạt động kinh doanh, DN cần bảo đảm mức ngân quỹ tối thiểu để thực
hiện chi trả Do vậy, điều đáng quan tâm ở các DN là các dòng tiền chứ không phải
lợi nhuận kế toán Dòng tiền ra và dòng tiền vào được tái đầu tư phản ánh tính chất
thời gian của lợi nhuận và chi phí Không những thế, khi đưa ra các quyết định kinh
doanh, nhà DN cần tính đến dòng tiền tăng thêm, đặc biệt cần tính đến các dòng tiền
sau thuế (TS, Lưu Thị Hương, 2010)
*Nguyên tắc sinh lợi.
Nguyên tắc quan trọng đối với nhà QTTC không chỉ là đánh giá các dòng tiền
mà dự án đem lại mà còn là tạo ra các dòng tiền, tức là tìm kiếm các dự án sinh lợi
Trong thị trường cạnh tranh, nhà đầu tư khó có thể kiếm được nhiều lợi nhuận trong
một thời gian dài, khó có thể tìm kiếm được nhiều dự án tốt Muốn vậy, cần phải
biết các dự án sinh lợi tồn tại như thế nào và ở đâu trong môi trường cạnh tranh
Tiếp đến, khi đầu tư, nhà đầu tư phải biết làm giảm tính cạnh tranh của thị trường
thông qua việc tạo ra những sản phẩm khác biệt với sản phẩm cạnh tranh và bằng
cách đảm bảo mức chi phí thấp hơn mức chi phí cạnh tranh (TS, Lưu Thị Hương, 2010)
*Nguyên tắc thị trường có hiệu quả.
Trong kinh doanh, những quyết định nhằm tối đa hóa giá trị tài sản của các chủ
sở hữu làm thị giá cổ phiếu tăng Như vậy, khi đưa ra các quyết định tài chính hoặc định giá chứng khoán, cần hiểu rõ khái niệm thị trường có hiệu quả Thị trường có hiệu quả là thị trường mà ở đó giá trị của các tài sản tại bất kỳ một thời điểm nào đều phản ánh đầy đủ các thông tin một cách công khai Trong thị trường có hiệu quả, giá cả được xác định chính xác Thị giá cổ phiếu phản ánh tất cả những thông tin sẵn có và công khai về giá trị của một DN Điều đó có nghĩa là mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản của các cổ đông có thể đạt được trong những điều kiện nhất định
bằng cách nghiên cứu tác động của các quyết định tới thị giá cổ phiếu (TS, Lưu Thị Hương, 2010)
*Gắn kết lợi ích của người quản lý với lợi ích của cổ đông
Nhà QTTC chịu trách nhiệm phân tích, kế hoạch hóa tài chính, quản lý ngân quỹ, chi tiêu cho đầu tư và kiểm soát Do đó, nhà QTTC thường giữ địa vị cao trong
cơ cấu tổ chức của DN và thẩm quyền tài chính ít khi được phân quyền hoặc ủy
quyền cho cấp dưới (TS, Lưu Thị Hương, 2010)
*Tác động của thuế.
Trước khi đưa ra bất kỳ một quyết định tài chính nào, nhà QTTC luôn tính tới tác động của thuế, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp Khi xem xét một quyết định đầu tư, DN phải tính tới lợi ích thu được trên cơ sở dòng tiền sau thuế do dự án tạo ra Hơn nữa, tác động của thuế cần được phân tích kỹ lưỡng khi thiết lập cơ cấu vốn của DN Bởi lẽ, khoản nợ có một lợi thế nhất định về chi phí so với vốn chủ sở hữu Đối với DN, chi phí trả lãi là chi phí giảm thuế Vì thuế là một công cụ quản lý
vĩ mô của Chính phủ nên thông qua thuế, Chính phủ có thể khuyến khích hoặc hạn chế tiêu dùng và đầu tư Các DN cần cân nhắc, tính toán để điều chỉnh các quyết
định tài chính cho phù hợp, đảm bảo được lợi ích của các cổ đông (TS, Lưu Thị Hương, 2010)
36
1.3.6.Hiệu quả của QTTC DN
Một bản nhạc hay đồng nghĩa với việc các nốt nhạc được sắp xếp hợp lý Trong
đầu tư kinh doanh cũng vậy, mọi hoạt động sẽ được phối hợp nhịp nhàng, hài hòa
và thành công sẽ dễ dàng hơn rất nhiều nếu bạn sắp xếp các yếu tố tài chính hợp lý
và hiệu quả (Học viện tài chính, 2007)
Khi bắt tay vào xây dựng các chiến lược sản xuất kinh doanh, có một số câu hỏi
quan trọng mà không một công ty nào được phép bỏ qua là phải tính đến việc các
yếu tố tài chính sẽ được quản lý như thế nào, xem các đồng vốn bỏ ra hiệu quả đến
đâu? Có đem lại lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh như mong muốn ban đầu hay
không? Có thể nói tri thức đóng một vai trò quan trọng trong QTTC, đầu tư và kinh
doanh Đó là những kiến thức cơ bản mà nếu không có thì DN không thể nào nhận
ra được tình hình thực tế của những dự án đầu tư của các kế hoạch kinh doanh cũng
như thực trạng hoạt động của công ty
Không thể phủ nhận rằng thị trường kinh doanh đang ngày một mở rộng hơn,
một mặt nó mang lại những lợi ích dài hạn để công ty lớn mạnh thông qua việc mở
rộng thị trường và đổi mới cơ chế quản lý kinh doanh theo yêu cầu cạnh tranh Mặt
khác sẽ là thách thức không nhỏ đối với khả năng của công ty, buộc các công ty
phải tổ chức lại cơ cấu sản xuất, chuyển dịch đầu tư và điều chỉnh các hoạt động
cho phù hợp với những biến động của môi trường kinh doanh Để có thể tranh thủ
được các lợi ích của việc mở rộng thị trường và giải quyết những thách thức ngắn
hạn, các công ty cần đặt ra một số nội dung trọng yếu trong công tác QTTC để đảm
bảo hiệu quả tốt nhất:
Thứ nhất: Một nhà QTTC thành công luôn hiểu rõ tình hình tài chính như lòng
bàn tay thông qua các BCTC, những chuyên gia về QTTC sẽ phân tích các số liệu
thu chi, thực trạng hoạt động của công ty lành mạnh hay không lành mạnh? Từ đó
để nhìn thấy tình hình thực tế ẩn giấu ở bên trong hoặc cũng từ việc phân tích mà
thấy rõ cơ hội kinh doanh mới đưa công ty đến thành công
Thứ hai: Chú trọng cơ chế quản lý nguồn vốn của công ty Cơ chế quản lý điều
hành nguồn vốn và các chi phí sản xuất kinh doanh cần được tăng cường theo
37
hướng điều chỉnh cơ cấu thu chi phù hợp với việc cắt giảm các chi phí đầu vào Cơ chế quản lý của công ty phải đảm bảo kế hoạch chi hợp lý, hiệu quả, đảm bảo kiểm soát được bội chi, tiến tới cân bằng vốn và doanh thu Hệ thống QTTC, chi tiêu từng bước thực hiện vi tính hóa, đẩy mạnh phân cấp QTTC trong công ty và tăng tính tự chủ tài chính đối với các đơn vị trực thuộc của công ty Cân đối tỷ lệ chi và phù hợp với mục tiêu phát triển kinh doanh trong từng thời kỳ và đảm bảo an toàn tài chính công ty
Thứ ba: Tập trung hoàn thiện cơ chế QTTC Các công ty cần chủ động tiếp cận
và tìm kiếm nguồn vốn đầu tư trên thị trường vốn, thị trường tài chính và phải coi chi phí đầu tư về vốn là một phần của hiệu quả đầu tư và sản xuất kinh doanh
Thứ tư: Đẩy nhanh tiến trình nâng cao năng lực của bộ máy QTTC trong công
ty Đặc biệt phải khẩn trương hình thành đội ngũ chuyên gia QTTC có năng lực, trình độ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu của các hoạt động kinh doanh Bên cạnh đó công ty cần xây dựng hệ thống thông tin QTTC hiệu quả để có thể quản lý được quá trình cạnh tranh ngày càng cao, thu chi ngày một lớn
Thứ năm: Nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của công ty luôn có những biến
động nhất định trong từng thời kỳ Vì vậy một trong những nhiệm vụ quan trọng của QTTC là xem xét, lựa chọn cơ cấu vốn sử dụng sao cho tiết kiệm, hiệu quả nhất:
* QTTC trong công ty phải tiến hành phân tích và đưa ra một cơ cấu nguồn vốn huy động tối ưu cho công ty trong từng thời kỳ
* QTTC phải thiết lập một chính sách phân chia lợi nhuận một cách hợp lý đối với công ty, vừa bảo vệ được quyền lợi của chủ công ty và các cổ đông, vừa đảm bảo lợi ích hợp pháp cho nhân viên Xác định phần lợi nhuận để lại từ sự phân phối này là nguồn quan trọng cho phép công ty mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh mới, sản phẩm mới, tạo điều kiện cho công ty có mức tăng trưởng cao và bền vững
* QTTC trong công ty còn có nhiệm vụ kiểm soát việc sử dụng cả các tài sản trong công ty tránh tình trạng sử dụng lãng phí, sai mục đích
Trang 14Tóm lại, công ty một ngày không có nhân viên tiếp thị không sao, một ngày
không có chuyên gia nhân sự không sao, nhưng nếu một ngày thiếu các chuyên gia
QTTC kế toán thì sẽ có ảnh hưởng rất lớn Bởi vì thu chi luôn phát sinh hàng ngày,
thị trường vốn biến động liên tục và luôn đòi hỏi công tác QTTC hiệu quả nhất Nếu
QTTC tốt thì hiệu quả của việc sử dụng vốn sẽ cao và ngược lại, điều này lại càng
đúng cho công ty mà tác giả phân tích ở những chương sau
1.4 Một số mô hình công ty mẹ – con trên thế giới
1.4.1.Tập đoàn thiết kế kiến trúc hiện đại Thượng Hải Trung Quốc
Tập đoàn này được hình thành từ hai viện nghiên cứu thiết kế kiến trúc lớn nhất
trong nước Hai viện này được coi như là công ty mẹ vừa có chức năng sản xuất
kinh doanh, đồng thời có chức năng đầu tư vốn để hình thành các công ty con
Thông qua hình thức đầu tư 100% vốn, góp cổ phần chi phối hoặc không chi phối,
hai viện nghiên cứu này đã hình thành một tổ hợp công ty mẹ – công ty con mang
tính tổng hợp, xuyên ngành, xuyên khu vực, kết hợp nhiều tầng liên kết
Tập đoàn thiết kế kiến trúc Thượng Hải Trung Quốc là tổ chức hoạt động đa
ngành, ngoài nghiên cứu kiến trúc là lĩnh vực chính, tập đoàn này còn mở rộng ra
các lĩnh vực kinh doanh khác như: nhận thầu xây lắp, quản lý dự án, giám sát công
trình, trang trí nội thất, khai thác sản xuất vật liệu xây dựng, tư vấn khoa học,… Tập
đoàn này chủ yếu hoạt động trong nước và cũng đã vươn ra thị trường nước ngoài
dưới hình thức liên doanh
1.4.2.Tập đoàn xi măng SIAM Thái Lan
Tập đoàn SIAM được hình thành trên cơ sở phát triển công ty xi măng SIAM,
từ một công ty với nhiệm vụ ban đầu là sản xuất và cung ứng xi măng, đến nay tập
đoàn SIAM đã mở rộng hoạt động ra nhiều ngành sản xuất và thương mại khác
nhau Hiện nay, hoạt động kinh doanh của SIAM tập trung vào các lĩnh vực: sản
xuất xi măng và gạch chịu lửa; phát triển vật liệu xây dựng; sản xuất kinh doanh các
loại máy móc thiết bị; sản xuất giấy bột và các sản phẩm từ giấy Trong mỗi lĩnh
vực hoạt động SIAM đều thành lập nhiều công ty con, mỗi công ty tập trung vào một lĩnh vực riêng
Sự phát triển của tập đoàn được thực hiện bằng hai cách Một là, do sự phát triển của sản xuất, các bộ phận của công ty tự lớn lên và khi có đủ khả năng sản xuất đã tách thành những công ty độc lập nhưng vẫn là thành viên của tập đoàn Hai
là, hàng loạt các công ty thành viên được thành lập theo kiểu công ty liên doanh trong nước hoặc nước ngoài
1.4.3.Tập đoàn BOUYGUES Pháp
Tập đoàn BOUYGUES được hình thành từ một công ty tư nhân hoạt động trong lĩnh vực xây dựng dân dụng, công nghiệp, kinh doanh bất động sản và xây dựng đường bộ Qua nhiều giai đoạn phát triển, với phương thức đầu tư, mua và khống chế cổ phần, đến nay công ty đã trở thành một tập đoàn kinh doanh lớn, đa sở hữu Tập đoàn BOUYGUES có quy mô lớn, mô hình tổ chức của tập đoàn phù hợp với những cơ chế vận hành vừa chặt chẽ vừa linh hoạt mềm dẻo theo hình thức công ty mẹ – công ty con Công ty mẹ đầu tư vào các công ty con theo nhiều mức
độ khác nhau, tạo lên mối liên kết nhiều tầng, trong đó các công ty con hoạt động trong lĩnh vực truyền thống đều được công ty mẹ đầu tư vốn ở mức trên 51%, và các công ty con đều mang tên họ chung là BOUYGUES
1.4.4.Một số kinh nghiệm về tổ chức công ty theo mô hình công ty mẹ – công ty con trên thế giới
Về quy mô hoạt động và tổ chức mô hình: tổ hợp công ty mẹ – công ty con
gồm nhiều công ty, trong đó có công do công ty mẹ đầu tư 100% vốn, vốn chi phối (trên 51%) hoặc các công ty liên kết Tất cả các tập đoàn đều hoạt động trên nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau
Về quan hệ giao dịch kinh doanh: công ty mẹ và các doanh nghiệp thành viên
đều là chủ thể độc lập trong thị trường, hoạt động theo mục tiêu thị trường Các giao dịch trong tập đoàn luôn tuân thủ nguyên tắc thị trường, tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi, song cũng có những bảo hộ, ưu đãi theo những điều kiện nhất định
40
Về quan hệ tài chính: tương tự như quan hệ giao dịch kinh doanh, các giao
dịch tài chính giữa các doanh nghiệp trong tập đoàn phải được báo cáo đầy đủ và
công khai hoàn toàn Công ty mẹ chịu trách nhiệm chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám
sát hiệu qủa kinh tế
Quan hệ về đầu tư: thông thường các công ty mẹ không có đủ lượng tài chính
để thoả mãn nhu cầu của tẩt cả các công ty con Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu về vốn,
các công ty con phải tự tìm nguồn vốn bằng cách giao dịch trực tiếp với các ngân
hàng thương mại hoặc các thị trường vốn Trong quan hệ đầu tư, công ty mẹ xác
định các chỉ tiêu mang tính vĩ mô như mức vay vốn thích hợp, các chỉ tiêu đánh giá
hiệu quả hoạt động chính để vay vốn Công ty mẹ chỉ giám sát hiệu quả hoạt động,
còn lãnh đạo công ty con chịu trách nhiệm hoàn toàn việc triển khai thực hiện các
chỉ tiêu này
Về phân chia lợi ích trong mô hình: việc phân chia lợi ích trong tập đoàn dựa
trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, phân phối hợp lý theo quy luật kinh tế thị
trường
Kết luận chương 1
Trong chương 1 tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận chung về mô hình
công ty mẹ công ty con, nêu lên những đặc điểm của công ty mẹ – công ty con về
TCDN, quản trị TCDN, các tiêu chí phản ánh năng lực tài chính của DN là: nhóm
chỉ tiêu về quy mô vốn và tốc độ tăng trưởng vốn; khả năng sinh lời cao và ổn định;
khả năng đảm bảo an toàn tài chính doanh nghiệp và đặc biệt đã nêu bật được
những nội dung cơ bản về cơ chế tài chính của mô hình công ty mẹ – công ty con
Tại phần 1.4 của chương, tác giả đã nghiên cứu kinh nghiệm mô hình tổ chức, cũng
như quản trị tài chính của một số DN trên thế giới và các bài học rút ra đối với việc tổ
chức công ty và hoàn thiện hệ thống QTTC theo mô hình công ty mẹ – công ty con
ở Việt Nam nói chung và tại SACOM nói riêng Toàn bộ nội dung này được dùng
làm cơ sở cho việc phân tích chi tiết ở chương 2 tiếp theo sau
41
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN SACOM 2.1.Giới thiệu tổng quan về SACOM
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển:
Công ty có tiền thân là Nhà máy Cáp và Vật liệu Viễn thông (Sacom), một doanh nghiệp nhà nước thành lập vào năm 1986 theo quyết định số 28/QĐ/TCCB của Tổng cục Bưu điện Năm 1998, Công ty thực hiện cổ phần hóa theo quyết định
số 955/1997/QĐ-TTg ngày 11/11/1997 của Thủ tướng Chính phủ và quyết định số 75/1998/QĐ-TCCB ngày 07/02/1998 của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện Công ty hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần theo giấy Chứng nhận đăng
ký số 059162 do Sở Kế hoạch & Đầu tư Đồng Nai cấp ngày 30/03/1998 SACOM là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đầu tiên của VNPT cũng như của tỉnh Đồng Nai thực hiện cổ phần hóa SACOM và REE là hai Công ty đầu tiên niêm yết cổ phiếu trên Sở Giao dịch chứng khoán Tp.HCM (HOSE) vào tháng 06/2000 Khởi nghiệp từ một Nhà máy chuyên sản xuất các loại cáp đồng viễn thông vào năm 1986, SACOM mở rộng sang các lĩnh vực cáp điện lực, vật liệu viễn thông, cáp quang, dây đồng, dây điện từ, bất động sản Năm 2008, SACOM bắt đầu tái cấu trúc theo mô hình mẹ - con, trong đó Công ty Cổ phần đầu tư phát triển SACOM giữ vai trò là Công ty mẹ
Sau khi cổ phần hóa, SACOM có nhiều bước tiến mạnh mẽ, trong đó nổi bật nhất là triển khai mở rộng sản xuất cáp quang, cáp đồng viễn thông, dây điện từ, dây đồng, cáp điện lực Hiện nay SACOM là Doanh nghiệp sản xuất cáp viễn thông lớn nhất Việt Nam
Năm 2008 thành lập Công ty CP địa ốc Sacom; năm 2009 thành lập Công ty CP Sacom–Tuyền Lâm; năm 2010 đổi tên Công ty CP cáp và Vật liệu Viễn thông thành Công ty CP Đầu tư và Phát triển SACOM; cũng năm 2010 thành lập Công ty TNHH Sacom–Chíp sáng; năm 2011 thành lập Cty TNHH MTV dây & cáp Sacom
Trang 15Các hoạt động kinh doanh chính bao gồm:
- Sản xuất dây cáp, cáp sợi quang học, dây, cáp điện và điện tử khác
- Sản xuất thiết bị dây dẫn điện các loại
- Bán buôn thiết bị và linh kiện điện tử, viễn thông: vật liệu viễn thông, vật
liệu điện dân dụng
- Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng
hoặc đi thuê: kinh doanh bất động sản, cho thuê văn phòng
- Hoạt động của các cơ sở thể thao: sân golf
- Nhà hàng và các dịch vụ ăn, dịch vụ lưu trú và dịch vụ du lịch
2.1.2.Thông tin chung:
Tên tiếng việt : CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
TRIỂN SACOM
Tên tiếng anh : SACOM investment & developmnet corporation
Tên giao dịch viết tắt : SACOM
Địa chỉ : Khu Công nghiệp Biên Hoà I, tỉnh Đồng Nai
Văn phòng đại diện : 152/11B Điện Biên Phủ, Q.Bình Thạnh, Tp.HCM
Thời gian niêm yết : tháng 6/2000
Bảng 2.1: Cơ cấu cổ đông
Cơ cấu cổ đông
Vốn cổ phần (tỷ đồng)
Tỷ lệ vốn (%)
Vốn cổ phần (tỷ đồng)
Tỷ lệ vốn (%)
Vốn cổ phần (tỷ đồng)
Tỷ lệ vốn (%)
1 Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT)
Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2011-2013 của Sacom
2.1.3.Cơ cấu tổ chức quản lý:
2.1.3.1 Tổ chức bộ máy của SACOM
Nguồn: (Sacom, 2011- Sơ đồ tổ chức)
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của SACOM
2.1.3.2.Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban
Đại hội Cổ đông (Sacom, 2013- Điều lệ công ty)
BAN QUẢN
LÝ VỐN – ĐẦU TƯ
BAN TÀI CHÍNH KẾ
TO ÁN
VĂN PHÒNG CÔNG TY
Công ty thành viên
Công ty liên kết
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN KIỂM SOÁT
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
44
Đại hội đồng cổ đông (ĐHCĐ) là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty,
có toàn quyền quyết định mọi hoạt động của Công ty ĐHCĐ có trách nhiệm bầu,
bãi nhiễm Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát và các nhiệm vụ khác theo quy định
của điều lệ Đại hội cổ đông thường niên được tổ chức mỗi năm một (01) lần Đại
hội đồng cổ đông phải họp thường niên trong thời hạn bốn (04) tháng, kể từ ngày
kết thúc năm tài chính
Hội đồng Quản trị (Sacom, 2013- Điều lệ công ty)
- Hội đồng Quản trị (HĐQT) là tổ chức quản lý cao nhất của Công ty do ĐHCĐ
bầu ra gồm ít nhất là năm (05) thành viên và tối đa là mười một (11) thành viên,
hiện nay cơ cấu là 7 thành viên, với nhiệm kỳ là 5 (năm) năm Các thành viên
HĐQT nhóm họp và bầu Chủ tịch, phó chủ tịch HĐQT Thành viên Hội đồng
quản trị có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế
- Hoạt động kinh doanh và các công việc của Công ty phải chịu sự quản lý hoặc
chỉ đạo thực hiện của Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị là cơ quan có đầy đủ
quyền hạn để thực hiện tất cả các quyền nhân danh Công ty trừ những thẩm
quyền thuộc về Đại hội đồng cổ đông
- Hội đồng quản trị có trách nhiệm giám sát Tổng giám đốc điều hành và các cán
bộ quản lý khác
- Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị do luật pháp, Điều lệ, các quy chế nội
bộ của Công ty và quyết định của Đại hội đồng cổ đông quy định
Ban kiểm soát (Sacom, 2013- Điều lệ công ty)
- Ban kiểm soát gồm từ 3 đến 5 thành viên, hiện nay cơ cấu là 3 thành viên, với
nhiệm kỳ là 5 (năm) năm do ĐHCĐ bầu ra, Thành viên Ban kiểm soát có thể
được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế Các thành viên Ban kiểm soát
nhóm họp và bầu trưởng ban kiểm soát Trưởng Ban kiểm soát là người có
chuyên môn về kế toán (theo thông tư 121/2012/TT-BTC ngày 26 tháng 07 năm
2012 của Bộ Tài chính) Quyền hạn và trách nhiệm theo quy định tại Điều 123
của Luật Doanh nghiệp năm 2005, Điều lệ, các quy chế nội bộ của Công ty và
quyết định của Đại hội đồng cổ đông quy định, chủ yếu là những quyền hạn và
45
trách nhiệm sau đây:
+ Tổ chức giám sát, kiểm tra, thẩm định tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực
và mức độ cẩn trọng trong quản lý điều hành hoạt động kinh doanh; trong ghi chép sổ sách kế toán và tài chính của Công ty
+ Thực hiện giám sát Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty; chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông trong thực hiện các nhiệm vụ được giao
+ Kiến nghị Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông các biện pháp sửa đổi,
bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty
Ban điều hành
- Ban điều hành của Công ty gồm có một Tổng Giám đốc, ba Phó Tổng Giám đốc
và một Kế toán trưởng Tổng Giám đốc do HĐQT bổ nhiệm (hoặc tuyển dụng),
là người chịu trách nhiệm chính và duy nhất trước HĐQT và trước pháp luật về tất cả các hoạt động kinh doanh của Công ty Phó Tổng Giám đốc và Kế toán trưởng do HĐQT bổ nhiệm (hoặc tuyển dụng) theo đề xuất của Tổng Giám đốc
- Ban điều hành hiện nay của Công ty là những người có kinh nghiệm quản lý và điều hành kinh doanh, đồng thời có quá trình gắn bó với Công ty trên 10 năm Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban điều hành như sau:
Tổng Giám đốc (Sacom, 2013- Điều lệ công ty)
- Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty Nhiệm kỳ của Tổng giám đốc điều hành là [ba] năm trừ khi Hội đồng quản trị có quy định khác
và có thể được tái bổ nhiệm
- Nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng giám đốc, mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị
và Tổng giám đốc được quy định cụ thể trong Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty, nội dung chủ yếu như sau:
+ Thực hiện các nghị quyết của Hội đồng quản trị và Đại hội đồng cổ đông, kế hoạch kinh doanh và kế hoạch đầu tư của Công ty đã được Hội đồng quản trị và Đại hội đồng cổ đông thông qua;
Trang 16+ Thay mặt công ty ký kết các hợp đồng tài chính và thương mại, tổ chức và
điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh thường nhật của Công ty theo những
thông lệ quản lý tốt nhất;
+ Kiến nghị số lượng và các loại cán bộ quản lý mà công ty cần thuê để Hội
đồng quản trị bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm khi cần thiết nhằm áp dụng các hoạt động
cũng như các cơ cấu quản lý tốt do Hội đồng quản trị đề xuất, và tư vấn để Hội
đồng quản trị quyết định mức lương, thù lao, các lợi ích và các điều khoản khác của
hợp đồng lao động của cán bộ quản lý;
+ Trình Hội đồng quản trị phê chuẩn kế hoạch kinh doanh chi tiết cho năm tài
chính tiếp theo trên cơ sở đáp ứng các yêu cầu của ngân sách phù hợp cũng như kế
hoạch tài chính năm
Phó Tổng giám đốc: (Sacom, 2013- Điều lệ công ty)
- Phó Tổng giám đốc do Hội đồng quản trị quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc
ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng theo đề nghị của Tổng giám đốc Phó Tổng
giám đốc giúp Tổng giám đốc Công ty theo phân công và uỷ quyền của Tổng
giám đốc; chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và trước pháp luật về nhiệm vụ
được Tổng giám đốc phân công hoặc uỷ quyền
- Kế toán trưởng: Kế toán trưởng của Công ty do Hội đồng quản trị quyết định bổ
nhiệm, miễn nhiệm hoặc ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng theo đề nghị của
Tổng giám đốc Kế toán trưởng có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác kế toán
của Công ty, giúp Tổng giám đốc giám sát tài chính tại Công ty theo pháp luật
về tài chính, kế toán; chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và trước pháp luật
về nhiệm vụ được phân công hoặc uỷ quyền.(Sacom, 2011-Chức năng nhiệm vụ
và quyền hạn các phòng ban)
Bộ máy giúp việc gồm: (Sacom, 2011- Sơ đồ tổ chức)
+ Các ban chuyên môn nghiệp vụ: Hiện tại Công ty mẹ có 3 ban chuyên môn
nghiệp vụ, gồm: Văn phòng, Ban quản lý Đầu tư, Ban Tài chính - Kế toán
Ban Tài chính kế toán: (Sacom, 2011-Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban)
Chức năng: + Tham mưu cho HĐQT, Ban TGĐ về công tác kế toán tài chính
theo quy định của pháp luật, công tác quản lý sử dụng vốn hiệu quả và hợp lý; phân tích đánh giá tài chính các dự án đầu tư; đảm bảo nguồn vốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
+ Quản lý chức năng kế toán trên phạm vi công ty mẹ cũng như toàn hệ thống, đảm bảo thông tin kế toán chính xác, sổ sách chứng từ hợp lệ, hợp pháp, kịp thời,
hỗ trợ tích cực cho quyết định quản trị và phù hợp pháp luật
Nhiệm vụ: ghi chép hạch toán kế toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại công
ty, kiểm tra tính hợp pháp của chứng từ, lập báo cáo tài chính định kỳ theo quy định; quản lý hoạt động tài chính, lập kế hoạch tài chính định kỳ, đánh giá phân tích tình hình tài chính của Sacom, báo cáo tình hình sử dụng vốn cho kinh doanh và đầu tư Nhận thông tin từ các nguồn liên quan để lập kế hoạch năm của công ty cổ phần Sacom và trong hệ thống Sacom Group Đề xuất các chính sách, lập và cải tiến
các thủ tục, quy định, quy trình cần thiết về tài chính, kế toán
Văn phòng Công ty: (Sacom, 2011-Chức năng nhiệm vụ và quyền hạn các
phòng ban)
Chức năng: Tham mưu và thực hiện công tác quản lý nhân sự tại Công ty mẹ,
hệ thống Công ty Sacom và quản lý cán bộ thuộc diện quản lý Sacom theo quy định Quản lý và tham mưu cho lãnh đạo công ty các vấn đề liên quan đến Công nghệ thông tin Công tác Hành chính – văn thư
Nhiệm vụ nhân sự: Tham mưu và thực hiện công việc quản lý nhân sự, hoạch
định nguồn nhân lực, xây dựng ngân sách tiền lương, tuyển dụng, đào tạo hàng năm cho Công ty, xây dựng các quy chế, quy định về nhân sự của Sacom mẹ và các công
ty con
Nhiệm vụ Công nghệ thông tin:Tham mưu cho lãnh đạo Công ty các vấn đề
liên quan về Công nghệ thông tin; xây dựng và tổ chức thực hiện đảm bảo hệ thống
thông tin thông suốt phục vụ yêu cầu quản lý của công ty
48
Nhiệm vụ Hành chính: quản lý tòa nhà văn phòng, quản lý xe ôtô, điện, nước,
cho thuê văn phòng, chuẩn bị và phục vụ các hội nghị, các buổi họp, quản lý hồ sơ,
tài liệu văn phòng, tiếp nhận, xử lý, luân chuyển/phát hành và lưu trữ các văn bản
Ban Quản lý Vốn – Đầu tư:
Chức năng: Theo dõi, quản lý vốn góp của Sacom tại các Công ty thành viên,
Công ty liên doanh – liên kết; Kiểm soát các dự án đầu tư tại Sacom và các Công ty
thành viên Thực hiện công tác kiểm soát nội bộ Tham mưu cho Ban lãnh đạo, đề
xuất kiến nghị đảm bảo tính an toàn và nâng cao hiệu quả trong hoạt động sản xuất
kinh doanh cũng như phòng ngừa những rủi ro tiềm ẩn
Nhiệm vụ: Theo dõi, quản lý, kiểm soát vốn góp của Sacom tại các Công ty
thành viên; theo dõi, tham mưu quản lý dự án đầu tư; Thực hiện công tác kiểm soát
nội bộ
2.1.4.Tình hình hoạt động kinh doanh
Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty bị nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ các
khó khăn nội tại của nền kinh tế trong nước những năm gần đây đã làm cho tình
hình tiêu thụ sản phẩm khó khăn hơn Bên cạnh đó, giá cả nguyên vật liệu trên thị
trường thế giới biến động phức tạp đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc điều hành
hoạt động sản xuất của Công ty, đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của
Sacom Tuy doanh thu năm sau có tăng hơn năm trước, nhưng lợi nhuận không ổn
định, cụ thể năm 2011 lỗ 177,88 tỷ đồng chủ yếu do trích lập dự phòng tài chính do
giá chứng khoán giảm mạnh với số tiền là 196,5 tỷ đồng, các năm 2012 và 2013 lợi
nhuận có được cải thiện và ổn định hơn với mức lợi nhuận trước thuế đạt 137,39 tỷ
đồng và 134,59 tỷ đồng Trong công tác quản trị tài chính, Sacom cũng có những
thành công đáng ghi nhận, tình hình tài chính của công ty luôn ổn định, đảm bảo đủ
nhu cầu vốn cho công ty và các đơn vị hoạt động, không có nợ xấu, mở rộng sản
xuất kinh doanh, Công ty cũng luôn chú trọng đến công tác kiểm tra, giám sát tình
hình tài chính, kế toán tại các đơn vị nhằm tránh tình trạng sử dụng vốn không hiệu
Lợi nhuận thuần từ HĐ kinh doanh -174,27 168,73 138,28
(Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất của SACOM năm 2011-2013)
2.2 Thực trạng cơ chế quản trị tài chính của Công ty cổ phần SACOM
2.2.1 Thực trạng cơ chế huy động vốn (Sacom, 2012- Quy chế tài chính) Nguyên tắc huy động vốn
Công ty có quyền huy động vốn của Tổ chức, Cá nhân dưới các hình thức phát hành trái phiếu, nhận vốn góp liên kết, liên doanh, vay của các Tổ chức, Cá nhân trong và ngoài nước và các hình thức khác theo quy định của Pháp luật để phục vụ hoạt động kinh doanh Việc huy động vốn phải đảm bảo khả năng thanh toán nợ và
có phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt Tổng giám đốc chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đảm bảo vốn huy động được sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng và có hiệu quả