1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp hoàn thiện vấn đề công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

21 340 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 493,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các loại thông tin được cung cấp trên thị trường thì TTKT được cung cấp đưới dạng các báo cáo tài chính quý, năm là những thông tin có vai trò quan trọng đặc biệt, nó có ảnh hưởng

Trang 1

MỞ ĐẦU ***

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc, sau hơn hai mươi hai năm

chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường, nhất là trong

khoảng hơn mười năm trở lại đây với mức tăng trưởng bình quân 7%, năm năm gần

đây bình quân 7,5%, riêng năm 2007 là 8,5% (nguồn: gso.gov.vn), xu thế phát triển

kinh tế ngày càng mạnh mẽ đã làm sức bật cho thị trường tài chính phát triển một

cách nhanh chóng, nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ hoạt động sản

xuất kinh doanh ngày càng tăng trong toàn nền kinh tế

Yêu cầu về vốn thúc đẩy thị trường vốn không ngừng phát triển, từ đó dẫn đến

sự ra đời của TTCK là một tất yếu khách quan, khi mà các tổ chức tài chính trung

gian đã có trước đây, không thể đảm nhận tốt vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế

Thi trường chứng khoán là một thị trường cao cấp, hoạt động của thị trường có

những yêu cầu rất khác biệt so với các thị trường truyền thống như thị trường hàng

hoá, dịch vụ, thị trường lao động …, hàng hoá lưu thông, mua, bán trên thị trường

là chứng khoán, đây là các công cụ chu chuyển vốn của nền kinh tế, những hoạt

động kinh doanh trên TTCK dựa vào thông tin là chính, lấy niềm tin làm cơ sở cho

sự tồn tại và phát triển của thị trường

Trong các loại thông tin được cung cấp trên thị trường thì TTKT được cung

cấp đưới dạng các báo cáo tài chính quý, năm là những thông tin có vai trò quan

trọng đặc biệt, nó có ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ cung – cầu chứng khoán, là

động lực cho quyết định mua vào, bán ra của nhà đầu tư trên thị trường sau khi

phân tích các BCTC được công bố Mặt khác đứng trên phương diện vĩ mô nền

kinh tế, những TTKT của các DNNY cũng phần nào nói lên tình hình chung của

toàn nền kinh tế, tình hình sức khoẻ tài chính quốc gia

Chính vì những lý do trên, yêu cầu đầu tiên của thị trường là phải xây dựngđược một hệ thống đánh giá chất lượng TTKT, một mạng lưới CBTT hiện đại vàrộng khắp, nhằm ngoài việc thông tin công bố có chất lượng cao, nó còn phải đượctruyền đi nhanh chóng, kịp thời, cũng như phải làm sao cho các chủ thể hoạt độngkinh doanh trên thị trường có quyền bình đẳng trong tiếp nhận thông tin Tuy nhiên kể từ khi TTCK Việt Nam được thành lập cho đến nay, hiện tượngbất cân xứng trong tiếp nhận thông tin thường xuyên xảy ra, thực trạng thông tin làbáo cáo tài chính thường niên cung cấp trên thị trường còn nhiều bất cập, cần phảiđược bổ khuyết cho phù hợp với xu thế phát triển chung của toàn nền kinh tế Vìvậy, chúng tôi với việc nghiên cứu những mô hình công bố thông tin trên thị trườngchứng khoán một số nước trên thế giới, kết hợp với điều tra, khảo sát, thống kê,phân tích thực trạng công bố thông tin kế toán trên TTCK Việt Nam, thông qua đềtài:

“Các giải pháp hoàn thiện vấn đề công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam”.

Với mong muốn đưa ra một số nhận xét đánh giá, đồng thời kiến nghị nhữnggiải pháp hoàn thiện vấn đề công bố thông tin kế toán, nhằm mục đích xây dựngmôi trường kinh doanh lành mạnh, tăng cường tính minh bạch, trung thực, kịp thời,cũng như từng bước nâng cao chất lượng thông tin được công bố trên thị trường,xây dựng TTCK phát triển hiệu quả, công bằng, ổn định và bền vững

Mục tiêu tổng quát

TTCK có thể phát triển ổn định và bền vững được hay không phần lớn tùythuộc vào môi trường kinh doanh, chất lượng hàng hoá giao dịch trên thị trường,thông tin được cung cấp trên thị trường là yếu tố góp phần tăng thêm chất lượng,củng cố niềm tin của các chủ thể kinh doanh Về phía Nhà nước nhằm thực hiệnđiều này, đã ban hành Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành vào

3 đầu năm 2007 Đối với TTCK Việt Nam, đây là lần đầu tiên có một hệ thống luật

-pháp hoàn chỉnh Để có thể phần nào đó nhận định đúng thị trường, chúng tôi đã

chọn ra ba năm 2006 – 2007 – 2008 để nghiên cứu, đánh giá, vì các lý do sau:

- Năm 2006 là năm có mức tăng đột biến về số lượng cũng như giá trị cổ phiều

các công ty đăng ký và niêm yết nhiều nhất trên TTCK kể từ ngày mới thành lập

cho đến nay (SGDCK Tp HCM: năm 2005: 35 công ty; năm 2006: 106 công ty)

- Năm 2007 là năm lần đầu tiên Quốc hội ban hành Luật Chứng khoán, Chính

phủ và Bộ Tài chính ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm hoàn chỉnh hệ

thống luật pháp về chứng khoán và thị trường chứng khoán

- Năm 2008 là năm thứ hai các báo cáo tài chính, nhất là báo cáo tài chính năm

được thực hiện và công bố trong điều kiện có một hệ thống luật pháp hoàn chỉnh

trên TTCK

- Một lý do quan trọng nữa là cũng trong những năm này, hiện tượng đầu tư tràn

lan vào thị trường chứng khoán Từ nửa cuối năm 2006 đến đầu năm 2007, có

khoảng 10 tỷ Đô la Mỹ và 300 ngàn tỷ đồng của nhà đầu tư nước ngoài và các tổ

chức cá nhân trong nước bơm vào TTCK và thị trường bất động sản1, ngay lập tức

đã tạo ra giai đoạn thị trường bong bóng ( đầu năm 2006 VNIndex trong khoảng

trên 300 điểm, đã tăng mạnh vào cuối năm 2006 và đầu năm 2007, đạt đỉnh vào

ngày 12/3/2007: 1.170 điểm, và trở lại trong khoảng trên 300 điểm vào cuối năm

2008) , đây cũng là nguyên nhân gây nên tình hình lạm phát cao khiến Chính phủ

phải sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ

- Mặt khác trong giai đoạn này cũng tồn tại nhiều bất cập trong điều hành vĩ mô

TTCK, cùng với hiện tượng khai thác quá mức thị trường đã gây nên hậu quả

không tốt, ảnh hưởng đến sự phát triển của TTCK Vấn đề này chúng tôi xin được

trình bày, phân tích kỹ trong các phần sau

Đây là những năm tập trung khá nhiều sự kiện và dữ liệu mang nhiều ý

4 quan điểm về việc xây dựng hệ thống công bố thông tin kế toán trên TTCK trên cácmặt như: hình thức, nội dung, phương tiện …, nhằm mục đích sao cho báo cáo tàichính cung cấp trên thị trường ngày càng trung thực, minh bạch và hợp lý hơn, gópphần tăng tăng cường chất lượng hàng hoá giao dịch trên thị trường, tạo lập niềmtin của nhà đầu tư vào TTCK Việt Nam

-Mục tiêu cụ thể

Thông qua nghiên cứu tổng quan về thông tin kế toán trên TTCK, xác địnhvai trò, bản chất của thông tin kế toán trên thị trường, mức độ quan trọng cũng nhưyêu cầu lâu dài, cần thiết phải củng cố hệ thống thông tin công bố trên thị trường,đồng thời có so sánh, đối chiếu với các TTCK trên thề giới để rút ra bài học kinhnghiệm nhằm xây dựng TTCK Việt Nam, vừa phù hợp với thực trạng nền kinh tế,vừa từng bước đến gần với thông lệ và chuẩn mực quốc tế

Bước tiếp theo là thông qua khảo sát và nghiên cứu ngay trên TTCK ViệtNam vào những năm nhạy cảm, từ đó đưa ra các đánh giá về thực trạng CBTT củacác DNNY trên thị trường, nêu lên một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên,nhằm từng bước có biện pháp khắc phục và hoàn thiện

Sau cùng, căn cứ vào những đánh giá nói trên, luận văn cũng đưa ra nhữngđịnh hướng cho quy trình công bố thông tin trên thị trường, xác định giải pháp,những ý kiến kiến nghị đối với các chủ thể hoạt động trên thị trường với mục đíchsao cho thông tin kế toán công bố trên thị trường ngày càng trung thực, hợp lý,chính xác, kip thời và minh bạch

Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

Do hạn chế về thời gian, khả năng nghiên cứu và các lý do bất khả khángkhác, trong luận văn chỉ đề cập đến báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trênTTCK, và cũng chỉ dùng tư liệu là báo cáo tài chính thường niên của các doanhnghiệp niêm yết trên SGDCK TpHCM (HOSE) trong ba năm : 2006 – 2007 –

Trang 2

2008, kết hợp với phần khảo sát, thống kê thực tế, để phân tích, đánh giá đưa ra

định hướng và kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện việc CBTT trên TTCK mà

thôi

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như chọn mẫu nghiên cứu, điều

tra, khảo sát, thống kê mô tả, phân tích và các dữ liệu quá khứ đã tập hợp được

thông qua các biểu đồ, hình ảnh, các chỉ số phân tích …, kết hợp so sánh, đối chiếu

với hệ thống luật pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan đến các lĩnh

vực mà đề tài nghiên cứu, từ đó đánh giá tình hình thực tế, đưa ra một số giải pháp

kiến nghị đối với các chủ thể có liên quan trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc khoa

học và đảm bảo tính khách quan trong các giải pháp trình bày

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mục lục, mở đầu, và phụ lục, đề tài được chia làm ba phần chính

Chương 1

Tổng quan về kế toán và công bố thông tin trên Thị trường Chứng khoán

Kết luận chương 1

Chương 2

Thực trạng công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp niêm yết trên Thị

trường Chứng khoán Việt Nam

Kết luận chương 2

Chương 3

Các giải pháp hoàn thiện vấn đề công bố thông tin của công ty niêm yết trên

Thị trường Chứng khoán Việt Nam

Kết luận chương 3

Kết luận chung

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN VÀ CÔNG BỐ THÔNG TIN

KẾ TOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1 Bản chất và vai trò của thông tin kế toán.

1.1.1 Bản chất của kế toán.

Lịch sử loài người đã trải qua nhiều giai đoạn, sự phát triển xã hội của cáccộng đồng cư dân gắn liền với sự phát triển kinh tế Nhiều di chỉ khảo cổ đã chỉ rarằng nền văn minh mà xã hội loài người hiện nay có được, phần lớn là nhờ vàonhững kiến thức, tư liệu lịch sử để lại là các tài liệu được ghi chép dưới dạng văn tự

cổ xưa, trong đó các nhà khảo cổ đã tìm thấy những tài liệu có liên quan đến kinh

tế, cổ vật đã được tìm thấy đầu tiên là các bản khắc axít bằng đất nung cách đâyhơn 3.300 năm trước công nguyên, hồ sơ ghi chép bằng chữ tượng hình các khoảnthuế của người Ai Cập cổ đại2

Công việc ghi chép lại các sự kiện có liên quan đến các hoạt động kinh tếtrong xã hội luôn là những vấn đề thực tiễn được con người quan tâm hàng đầu,trong suốt con đường hoạt động cho mục đích tồn tại và phát triển của cộng đồngngười, trước khi nó chính thức trở thành một môn khoa học với một hệ thống các lýthuyết, giải thích dựa trên những cơ sở khoa học có sự hỗ trợ của các môn học khácnhư toán học, triết học, logic học…, và có tên gọi là hạch toán kế toán như bâygiờ

Tuy nhiên, công việc ghi chép cũng có tính chất vận động riêng của nó, ở giaiđoạn đầu việc ghi chép chỉ mang tính chất phản ảnh, sao chép, ghi lại các sự kiệnhiện thực trong đời sống kinh tế, chỉ từ khi con người phát minh ra chữ viết và số,cùng với sự ra đời của toán học dựa trên các chữ số và ký hiệu đã đem lại cho côngviệc ghi chép các sự kiện kinh tế giá trị thực sự của nó, hạch toán kế toán và thôngtin kinh tế ngày càng có vị trí quan trọng và không thể thiếu trong quá trình hoạtđộng kinh tế của con người nhất là vào giai đoạn hiện nay

7 Với mục đích đạt được hiệu quả kinh tế cao trong các hoạt động kinh tế, thông

-tin kế toán phải được cung cấp kịp thời, chính xác, và trên tất cả mọi mặt Trong

bối cảnh kinh tế xã hội ngày nay, các hoạt động kinh tế rất đa dạng, có nhiều lĩnh

vực khác nhau, nhưng dù ở trong lĩnh vực nào đi nữa thì thông tin kế toán luôn

mang tính chất quan trọng và không thể thiếu, qua đó cho phép chúng ta hiểu rõ về

các hoạt động kinh tế mà mình đang thực hiện, cũng như hiệu quả của các công

việc này là như thế nào Hạch toán kế toán chính là công việc ghi chép các diễn

biến trong hoạt động kinh tế dựa trên quan sát, đo lường, tính toán và ghi lại những

sự việc trên

Trong các hoạt động kinh tế diễn ra hàng ngày thường mang tính chu kỳ, đầu

chu kỳ là quá trình đầu tư bằng nhiều phương tiện khác nhau như vốn bằng tiền,

nguyên vật liệu, sức lao động của con người …, cuối chu kỳ là quá trình thu hoạch,

tổng kết tính toán hiệu quả hoạt động kinh tế, xem xét để ra quyết định tiếp tục một

chu kỳ tái sản xuất mới, đây chính là các đối tượng mà trong quá trình quan sát

phải ghi nhận lại, và khi ghi nhận phải tuân thủ nguyên tắc về đo lường, mỗi đối

tượng phải được đo lường với đơn vị đo lường phù hợp Các giai đoạn trên phải

được ghi chép vào sổ sách theo quy định, đồng thời dùng các phép tính, để tính

toán, quy đổi, tổng hợp các số liệu này đưa vào các biểu mẫu nhằm cung cấp thông

tin cho các đối tượng có liên quan

Công tác hạch toán được thực hiện dưới nhiều dạng khác nhau, tùy theo yêu

cầu cụ thể của từng lĩnh vực kinh tế nhất định, nhìn chung công tác hạch toán có

các dạng sau:

- Hạch toán nghiệp vụ là dạng ghi chép trong từng công đoạn của quá trình sản

xuất kinh doanh việc ghi chép chỉ mang tính ghi nhận, tính toán, tổng hợp từng

phần không mang tính chất tổng hợp do đó các chỉ tiêu sử dụng ít, thông tin đơn

giản, chủ yếu dùng để làm số liệu tổng hợp mà thôi

8

Hạch toán thống kê là dạng hạch toán cung cấp những thông tin tổng hợp có

sử dụng nhiều đơn vị đo lường, nhiều chỉ tiêu tổng hợp cũng như nhiều phươngpháp, kỹ thuật tính toán phức tạp, số liệu đi kèm với thời gian, khu vực nhất định,

vì thế thông qua số liệu thống kê người ta có thể rút ra các quy luật vận động, xuthế phát triển của sự vật hiện tượng

- Hạch toán kế toán là việc phản ảnh một cách thường xuyên, tổng hợp, liêntục và có hệ thống các sự kiện kinh tế phát sinh trong một đơn vị kinh tế cần xemxét, theo dõi Việc phản ảnh các sự kiện kinh tế này thông qua các thước đo là tiền,hiên vật và thời gian lao động

“Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh

tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”3 Mục đích của kế toán là cung cấp thông tin, thông tin được cung cấp chonhiều đối tượng khác nhau, và với các yêu cầu khác nhau, vì thế kế toán được chiathành hai phân hệ: kế toán tài chính và kế toán quản trị

Kế toán tài chính cung cấp những thông tin tổng hợp tình hình dịch chuyểncác nguồn lực tài chính trong, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, các hoạtđộng khác trong doanh nghiệp…, nhằm cung cấp thông tin cho các đối tượng bêntrong và bên ngoài, chủ yếu là các đối tượng ngoài doanh nghiệp Thông tin của kếtoán tài chính là những thông tin quá khứ (đã xảy ra rồi), được ghi chép lại vì vậyđòi hỏi phải chính xác, độ tin cậy cao, mặt khác việc quan trọng nhất của báo cáotài chính là nó mang tính quyết định cuối cùng

“Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thôngtin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụngthông tin của đơn vị kế toán”4

Kế toán quản trị cũng cung cấp những thông tin kế toán có liên quan đến hoạtđộng sản xuất kinh doanh như chi phí, thu nhập, của từng bộ phận, sản phẩm cụ thể

Trang 3

cũng như của từng khâu, từng loại sản phẩm, các thông tin này nhằm mục đích

phục vụ nhu cầu quản trị ở các cấp độ khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp

Đặc điểm của kế toán quản trị là những thông tin nó cung cấp mang tính định

hướng tương lai (sự kiện sắp xảy ra), nhờ vào thông tin của kế toán quản trị, các

nhà quản lý thực hiện chức năng quản trị của mình như: hoạch định, kiểm soát và

ra quyết định, vì vậy hình thức công bố thông tin rất đa dạng và tùy theo thông tin

cung cấp mà sử dụng các thước đo khác nhau cho phù hợp

“Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông

tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội

bộ đơn vị kế toán”5

Kế toán tài chính và kế toán quản trị có mối liên quan mật thiết với nhau, trong

quá trình cung cấp thông tin hai loại kế toán này tạo thành sự liên kết nhất quán,

phản ảnh liên tục những sự kiện đã, đang và sẽ xảy ra trong suốt quá trình hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.2 Vai trò của thông tin kế toán.

Giai đoạn hiện nay, TTKT ngày càng trở nên quan trọng, khi mà toàn cầu hoá

kinh tế phát huy tác dụng của nó, từ những thay đổi mô hình kinh tế thị trường theo

hướng mở, thay đổi mô hình doanh nghiệp, thay đổi trong những mối quan hệ của

các công ty mẹ, con, công ty xuyên quốc gia …, sự quan tâm của chính quyền về

hoạt động kinh tế trong và ngoài nước cho mục đích điều hành, yêu cầu có được

thông tin hoạt động sản xuất kinh doanh trong DN của các nhà đầu tư, nhà tài trợ,

Hội đồng quản trị, cổ đông góp vốn …, thông tin tài chính của doanh nghiệp phải

được cung cấp đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời, chính xác và trung thực

Những vấn đề thông tin kế toán cung cấp trước hết giúp cho các nhà quản trị

doanh nghiệp nắm được toàn bộ quá trình hoạt động kinh doanh, quá trình chuyển

dịch nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, các đối tượng ở bên ngoài doanh nghiệp

cũng từ những thông tin được cung cấp này ra những quyết định liên quan đến thị

trường hàng hoá, thị trường tài chính – tiền tệ, quyết định điều tiết, hoạch địnhchính sách vĩ mô của các cơ quan quản lý

Mặt khác thông tin kế toán đó là các báo cáo tài chính thường kỳ, còn phản ảnhthực trạng tài chính của doanh nghiệp, từ các báo cáo này nhà quản lý có thể đánhgiá một cách đúng đắn và toàn diện hoạt động kinh doanh mà mình đang quản lý,hiệu quả thực tế trong công tác điều hành, khả năng hoàn thành các mục tiêu đã đề

ra và quan trọng hơn cả là từ các thông tin này giúp cho hoạt động sản xuất kinhdoanh ngày càng mang lại hiệu quả cao hơn

1.2 Vấn đề công bố thông tin kế toán trên TTCK.

Các nước có TTCK trên thế giới, nhìn chung đều yêu cầu các công ty niêm yếttrên thị trường phải công bố TTKT theo quy định của các tổ chức quản lý, điềuhành thị trường Công bố BCTC thường kỳ trên thị trường chứng khoán là cung cấpthông tin tài chính của các doanh nghiệp niêm yết về: tình hình tài sản, nguồn vốn,kết quả sản xuất kinh doanh, mức cổ tức được chia …, sở dĩ vấn đề công bố TTKTđược đặt ra vì các lý do sau:

- Nhằm mục đích công khai, minh bạch hoá tình hình tài chính của doanhnghiệp niêm yết, phục vụ yêu cầu của tất cả cổ đông trong công ty, cũng như cácchủ thể khác có nhu cầu

- Thị trường chứng khoán là nơi tập trung phần lớn nguồn vốn đầu tư cho toàn

bộ nền kinh tế, hàng hoá của thị trường này chủ yếu là cổ phiếu của các công tyniêm yết, chất lượng của hàng hoá chính là hiệu quả kinh tế hiện tại, giá trị ước tínhtrong tương lai của doanh nghiệp, và chỉ BCTC mới có thể cung cấp cho nhà đầu tưtình hình tài chính theo yêu cầu, và cơ sở dữ liệu này được dùng để nhà đầu tư phântích tài chính doanh nghiệp, đồng thời ra quyết định đầu tư

- Trên TTCK công việc kinh doanh chủ yếu dựa vào các thông tin được cungcấp trên thị trường, vì thế yêu cầu của thị trường là thông tin phải được cung cấp

11 nhanh chóng, kịp thời, chính xác và nhất là phải đến được với tất cả các đối tượng

-tham gia thị trường là như nhau

- Thông tin trên thị trường là một trong những yếu tố để nhà đầu tư ra quyết

định đầu tư, như thế nó chính là một trong những yếu tố tạo ra cung, cầu hàng hoá

trên thị trường, đây cũng là yếu tố cơ bản để thị trường tồn tại, hoạt động hiệu quả

và phát triển bền vững

- Mặt khác các công ty niêm yết trên TTCK hầu hết là những công ty hàng đầu

trong các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh trong nền kinh tế, chất lượng công ty

tốt hơn về nhiều mặt so với các công ty chưa đủ điều kiện niêm yết, chính vì vậy,

các cơ quan quản lý, điều hành vĩ mô, các tổ chức thống kê …, có thể thông qua

các số liệu này để đánh giá tình hình kinh tế chung trong toàn quốc

Như vậy vấn đề CBTT trên TTCK mang tính chất quan trọng sống còn của

thị trường, thông tin được công bố một cách chính xác, minh bạch, kip thời tạo ra

niềm tin, sự an tâm cho các nhà đầu tư, tạo ra động lực kích thích cung, cầu hàng

hoá trên thị trường Trong các loại thông tin được công bố trên thị trường, thông tin

kế toán có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động và sự phát triển bền vững

của thị trường

1.2.1 TTCK và cơ chế hoạt động của thị trường chứng khoán.

1.2.1.1 Thị trường chứng khoán (Securities Market)

Thị trường tài chính (Financial Market) bao gồm thị trường vốn (Capital

Market) và thị trường tiền tệ (Currency Market), TTCK là bộ phận chính của thị

trường vốn Thị trường tài chính được hình thành, tồn tại và phát triển là một tất

yếu khách quan của nền kinh tế thị trường, nó được sinh ra để giải quyết các mâu

thuẫn cơ bản giữa khả năng và nhu cẩu cung ứng vốn phục vụ những hoạt động

kinh tế của thị trường

Trong quá trình phát triển của nền KTTT, nhu cầu về vốn cung ứng cho nền

12 triển, vòng quay vốn trong lưu thông hàng hoá tăng lên cùng với sự phát triển củanền kinh tế thị trường, song song với tình hình phát triển tài chính – tiền tệ, cáccông cụ tài chính trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn cũng nhanh chóng pháttriển, từ đó nảy sinh các quan hệ mua, bán các loại công cụ tài chính này, đặc biệt

-là các loại chứng khoán được luật pháp cho phép lưu thông, mua bán trên thịtrường Chính sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã hình thành nên thị trườngtài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua, bán các chứng khoán (bao gồm cả hailoại ngắn và dài hạn), với mục đích giải quyết các nhu cầu về vốn đầu tư.Mặt khác sự thay đổi về mô hình hoạt động của doanh nghiệp, dưới hình thứcvốn tự có của công ty được chia thành nhiều cổ phần có mệnh giá bằng nhau vàđược gọi là công ty cổ phần, quan trọng hơn cả là việc luật pháp cho phép mua báncác loại cổ phần trong công ty cổ phần, đi đôi với việc phát hành cổ phiếu huy độngvốn trong công chúng để phục vụ cho mục đích tái sản xuất mở rộng của doanhnghiệp

Sự phát triển lớn mạnh của thị trường tài chính, cùng với yêu cầu thực hiện cơchế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang tổ chức phát hành mà không thông quađịnh chế trung gian nào, hay nói khác đi đó là đáp ứng yêu cầu chu chuyển vốn đầu

tư có chi phí thấp, yêu cầu này đã hình thành nên một loại thị trường cao cấp đó làTTCK, việc mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn là chứng khoán vốn vàchứng khoán nợ, được diễn ra tập trung tại TTCK, trên hệ thống giao dịch điện tửcủa Sở giao dịch chứng khoán và các hệ thống giao dịch không tập trung khác cóliên thông với nhau, nhằm mục đích kết nối giữa tổ chức phát hành và các nhà đầu

tư, mục đích đáp ứng nhu cầu mua, bán chứng khoán của các đối tượng nói trên.Thị trường chứng khoán là nơi huy động vốn đầu tư cho nên kinh tế, đây làkênh huy động mà cùng một lúc có thể thoả mãn yêu cầu của nhiều chủ thể thamgia thị trường, cũng như nó có thể đáp ứng tiến độ phát triển theo kịp với xu thế

Trang 4

phát triển chung của nền kinh tế sản xuất hàng hoá mà đỉnh cao là nền kinh tế thị

trường

Thị trường chứng khoán có hai thị trường chính: thị trường sơ cấp và thị

trường thứ cấp

1.2.1.1.1 Thị trường sơ cấp (Primary Market)

Thị trường sơ cấp là nơi phân phối lần đầu các chứng khoán của tổ chức phát

hành, việc mua bán được diễn ra theo nhiều hình thức: phát hành không thông qua

đấu giá và phát hành thông qua đấu giá, chính trong quá trình đấu giá đã hình thành

nhiều loại giá khác nhau của chứng khoán phát hành, nhưng đa phần chứng khoán

phát hành trên thị trường sơ cấp bán theo mệnh giá Phát hành được chia ra làm hai

loại: Phát hành ra công chúng lần đầu (Inititial Public Offering - IPO) và phát hành

tăng vốn điều lệ

Các cơ quan quản lý, điều hành TTCK các nước thường có quy định cụ thể đối

với các tổ chức phát hành chứng khoán ra thị trường, gồm:

- Tổ chức phát hành phải đáp ứng quy mô về vốn điều lệ tối thiểu, cơ cấu

cổ đông ngoài công ty, tổng giá trị và số lượng cổ phiếu phát hành và số

lượng nhà đầu tư tham gia mua

- Có báo cáo tài chính theo đúng quy định về phát hành chứng khoán

- Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phải có lãi, không thấp hơn

mức quy định và trong một số năm nhất định

- Mục đích của đợt phát hành, kế hoạch sử dụng vốn

- Thông tin về các nhà quản lý cấp cao của doanh nghiệp

- Tỷ lệ nắm giữ của các cổ đông lớn (theo quy định riêng)

- Các hình thức bảo lãnh (nếu có)

- Các yêu cầu khác …

Đặc trưng của thị trường sơ cấp đó là kênh đầu tư giai đoạn một của các nhàđầu tư trong và ngoài nước, nguồn vốn giao dịch tại đây sẽ cung ứng trực tiếp chonhững hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tổ chức phát hành

1.2.1.1.2 Thị trường thứ cấp (Secondary Market)

Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các loại chứng khoán đã qua giao dịch lầnđầu trên thị trường sơ cấp, và đây chính là hàng hoá của thị trường trên thị trườngthứ cấp, hoạt động mua đi bán lại diễn ra giữa các chủ thể tham gia thị trường màkhông làm tăng thêm quy mô về vốn đầu tư, không tạo ra nguồn tài chính mới chocác tổ chức phát hành, các khoản thu được từ việc bán chứng khoán thuộc về cácnhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán, tuy nhiên giữa hai thị trường nàyluôn có sự gắn kết chặt chẽ với nhau

Việc mua bán trên thị trường thứ cấp dựa vào:

- Quan hệ cung cầu trên thị trường

- Các giá trị của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường như: giá trị hiện tại, giátrị tương lai, xu thế phát triển …

- Tâm lý của nhà đầu tư

- Các thông tin có liên quan đến tình hình kinh tế - tài chính quốc gia, thế giới

và tình hình hoạt động của các DNNY

Thị trường sơ cấp là cơ sở, nơi cung cấp hàng hoá cho thị trường thứ cấp, thịtrường sơ cấp là tiền đề hình thành thị trường thứ cấp, nếu không có thị trường sơcấp cũng sẽ không có thị trường thứ cấp Nhưng một khi thị trường thứ cấp hoạtđộng ổn định có hiệu quả và bền vững, đó chính là nguồn động lực thúc đẩy thịtrường sơ cấp phát triển và điều này là yếu tố quyết định, giúp cho các tổ chức pháthành chứng khoán thành công, nhằm đạt được mục đích huy động vốn phục vụhoạt động sản xuất kinh doanh Mặt khác hoạt động của thị trường thứ cấp cũngthoả mãn nhanh chóng nhu cầu chuyển dịch vốn đầu tư giữa các nhà đầu tư trên thịtrường chứng khoán

15 Thị trường chứng khoán ra đời nhắm đến mục tiêu cung cấp dịch vụ chu

-chuyển vốn với chi phí thấp, lưu động hoá lĩnh vực đầu tư, làm cho chứng khoán có

tính thanh khoản cao, đồng thời đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất

kinh doanh trong toàn nền kinh tế

Hoạt động mua bán trên TTCK được chia thành: Thị trường tập trung và thị

trường phi tập trung

Thị trường tập trung được thực hiện qua Sở giao dịch chứng khoán, thông qua

hệ thống bảng giao dịch điện tử, tại đây chứng khoán được niêm yết các thông tin

có liên quan đến việc mua, bán chứng khoán như: giá, khối lượng, tình hình giao

dịch của nhà đầu tư , việc giao dịch của các nhà đầu tư được thực hiện thông qua

các công ty chứng khoán là thành viên của Sở giao dịch, các lệnh mua bán được

truyền về hệ thống xử lý trung tâm, sau đó dữ liệu khớp lệnh sẽ được chuyển trả trở

lại các công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư đặt lệnh, để hoàn tất thủ tục giao dịch

cho nhà đầu tư

Cũng cần nói rõ thêm, Sở giao dịch chứng khoán không phải là tổ chức sở

hữu chứng khoán, đây chỉ là nơi giao dịch, và tạo điều kiện cho việc giao dịch được

thuận lợi, công bằng, minh bạch và đúng pháp luật cho các chứng khoán của các tổ

chức đủ điều kiện niêm yết tại Sở giao dịch

Thị trường phi tập trung (Over The Counter Market – Thị trường OTC)

Bên cạnh thị trường giao dịch tập trung, thị trường chứng khoán còn có thị

trường giao dịch phi tập trung, tại đây dành cho những công ty chưa đủ điều kiện

giao dịch tại Sở giao dịch, việc giao dịch chủ yếu thông qua yết giá và thương

lượng trực tiếp giữa người mua và người bán về các chứng khoán mà họ sở hữu,

điều kiện giao dịch trên thị trường này tương đối đơn giản, chỉ cần không vi phạm

luật pháp trong quan hệ mua bán

Ngoài hai thị trường chính thức này, trong các quốc gia có TTCK luôn tồn tại

16 theo những hợp đồng miệng hoặc trao tay, các hoạt động mua bán này căn cứ vào

-sự tín nhiệm lẫn nhau của các nhà đầu tư

Để quản lý thị trường OTC, ở một số nước thành lập Hiệp hội kinh doanhchứng khoán quốc gia, Hiệp hội này ban hành quy chế thị trường, kết nạp và khaitrừ thành viên, giám sát việc thực hiện quy chế của các chủ thể tham gia thị trường

1.2.1.2 Cơ chế hoạt động của thị trường chứng khoán

1.2.1.2.1 Điều hành và giám sát thị trường

Thông lệ chung trên thế giới, điều hành, giám sát TTCK là các cơ quan quản

lý của Chính phủ, chịu trách nhiệm chính là Ủy ban Chứng khoán (Commission ofSecurities Market), đây là cơ quan chức năng chuyên ngành của Nhà nước tronglĩnh vực chứng khoán, chỉ thực hiện công việc quản lý chung chứ không trực tiếpđiều hành, giám sát thị trường

Ủy ban chứng khoán có thẩm quyền ban hành các quy định điều chỉnh hoạtđộng trên thị trường, làm nền tảng cho các tổ chức tự quản thực hiện chức năngđiều hành và giám sát thị trường của mình

Ngoài ra Ủy ban chứng khoán kiểm soát mọi hoạt động phát hành chứngkhoán của các công ty niêm yết nói riêng và các công ty công chúng (PublicCompany) nói chung

Quản lý trực tiếp các tổ chức tự quản, giám sát, thanh tra cũng như xử lý các tổchức, cá nhân tham gia thị trường để bảo vệ lợi ích chung, trong trường hợp có hiệntượng vi phạm pháp luật

Trực tiếp điều hành và giám sát thị trường chứng khoán gồm có hai tổ chứcchính: Sở giao dịch chứng khoán và Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán

Sở giao dịch chứng khoán:

Là một tổ chức tự quản bao gồm các công ty chứng khoán thành viên.SGDCK thực hiện các chức năng:

Trang 5

- Điều hành, quản lý trực tiếp các hoạt động giao dịch chứng khoán diễn ra

hàng ngày, đảm bảo việc thực hiện được theo đúng quy định của luật pháp

- Giám sát, theo dõi việc thực hiện giữa các công ty chứng khoán thành viên

với các khách hàng của công ty, khi phát hiện có vi phạm Sở giao dịch sẽ tiến hành

xử lý theo quy định Trong trường hợp vi phạm có tính chất nghiêm trọng, Sở giao

dịch báo cáo lên Ủy ban chứng khoán giải quyết

Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán:

Là tổ chức của các công ty chứng khoán được thành lập với mục đích có tiếng

nói chung cho toàn ngành kinh doanh chứng khoán, đảm bảo lợi ích chung cho toàn

ngành Hiệp hội đưa ra các quy định và thực hiện các chức năng:

- Điều hành, giám sát thị trường giao dịch phi tập trung Các công ty muốn

tham gia thị trường này phải đăng ký với Hiệp hội, và phải chấp hành các quy định

do Hiệp hội đề ra

- Theo dõi việc thực hiện giao dịch giữa khách hàng và các công ty chứng

khoán thành viên, điều tra và xử lý các vi phạm nếu có

Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán đưa ra các đề xuất và gợi ý với cơ

quan quản lý, điều hành của Nhà nước về các vấn đề vĩ mô của thị trường chứng

khoán

1.2.1.2.2 Các chủ thể khác

Nhà phát hành

Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn trên thị trường sơ cấp,

gồm chính quyền các cấp, các công ty và các tổ chức tài chính với mục đích chuyển

dịch nguồn lực tài chính trực tiếp giữa nhà đầu tư và tổ chức huy động, nhằm mục

đích phục vụ các hoạt động kinh tế

Hàng hoá của các tổ chức này gồm có: Trái phiếu chính phủ, trái phiếu địa

phương, trái phiếu công ty, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư …

Nhà đầu tư:

Nhà đầu tư là những chủ thể kinh doanh trên thị trường chứng khoán, nhà đầu

tư có thể chia thành 2 nhóm: các nhà đầu tư cá nhân, các nhà đầu tư là tổ chức

- Nhà đầu tư cá nhân: là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham giamua bán trên thị trường chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận

- Nhà đầu tư là tổ chức: hay còn gọi là định chế đầu tư, thường xuyên muabán chứng khoán với số lượng lớn, công việc đầu tư được thực hiện do một bộphận gồm những chuyên gia có kinh nghiệm về thị trường

Đầu tư thông qua các tổ chức có ưu điểm là có thể đa dạng hoá danh mụcđầu tư và khối lượng vốn lớn giúp cho các tổ chức đầu tư có ưu thế hơn hẳn nhữngnhà đầu tư cá nhân

Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán

- Công ty chứng khoán: Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng

khoán, có thể thực hiện các công việc như môi giới, tự doanh, tư vấn đầu tư chứngkhoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán

Là loại hình công ty kinh doanh có điều kiện, các công ty chứng khoánphải đảm bảo các tiêu chuẩn, quy định của luật pháp về vốn điều lệ và những quyđịnh khác của cơ quan quản lý thị trường chứng khoán

- Công ty quản lý quỹ: Thực hiện công việc quản lý quỹ đầu tư chứng khoán,

trong quá trình hoạt động công ty có thể thành lập và quản lý đồng thời nhiều quỹđầu tư Công ty quản lý quỹ thay mặt quỹ đầu tư để phát hành chứng chỉ quỹ, cácquỹ đầu tư hoạt động kinh doanh chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư

1.2.1.2.3 Các nguyên tắc hoạt động trên thị trường chứng khoán

- Nguyên tắc trung gian Theo nguyên tắc này các giao dịch trên thị trường được thực hiện thông quacác tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán Tại thị trường sơ cấp nhà đầu tưthường không mua chứng khoán trực tiếp của tổ chức phát hành mà mua từ các tổ

19 chức bảo lãnh phát hành Trên thị trường thứ cấp, thông qua nghiệp vụ môi giới,

-khách hàng mua và bán chứng khoán thông qua các công ty chứng khoán

- Nguyên tắc cạnh tranh đấu giá

Trên thị trường sơ cấp lẫn thị trường thứ cấp, giá cả chứng khoán là do mối

quan hệ cung cầu quyết định, mua và bán chứng khoán được thực hiện theo phương

thức đấu giá và tự do cạnh tranh giữa các chủ thể tham gia thị trường với nhau

- Nguyên tắc công khai

Chất lượng của hàng hoá chứng khoán không thể kiểm tra như các loại hàng

hoá thông thường khác mà phải dựa trên những thông tin có liên quan Vì vậy luật

pháp quy định việc công bố thông tin là một nghĩa vụ của các tổ chức niêm yết và

phát hành chứng khoán, thông tin phải được công bố qua các phương tiện thông tin

đại chúng Sở giao dịch, CTCK và các tổ chức có liên quan khác

Nguyên tắc này nhằm đảm bảo lợi ích cho tất cả những người tham gia thị

trường, mọi người đều phải tuân thủ những quy định chung, được chia sẻ thông tin

cũng như chịu trách nhiệm nếu vi phạm các quy định đó

Nguyên tắc này để bảo vệ nhà đầu tư, tuy nhiên nó cũng hàm chứa ý nghĩa nhà

đầu tư phải tự chịu trách nhiệm về các quyết định đầu tư của mình khi đã được

cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác theo đúng quy định

1.2.1.2.4 Các hành vi tiêu cực trên thị trường chứng khoán

Thị trường nào cũng có những kẻ lợi dụng kẽ hở luật pháp để trục lợi một cách

phi pháp, TTCK cũng vậy, các hành vi khá phổ biến trên thi trường gồm có:

- Đầu cơ chứng khoán, lũng đoạn thị trường

Công việc được thực hiện từ một nhóm nhà đầu tư cấu kết với nhau để mua hoặc

bán chứng khoán với số lượng lớn gây nên cung hay cầu giả tạo, làm cho giá cả cổ

phiếu tăng hoặc giảm đột ngột, lũng đoạn thị trường

- Mua bán nội gián

20

Là hành vi của kẻ lợi dụng quyền hành hay sự ưu tiên trong việc có được cácthông tin nội bộ của công ty, từ đó mua vào hay bán ra cổ phiếu của công ty đó trênthị trường Sau khi thông tin được công bố rộng rãi ra công chúng giá cổ phiếu củacông ty này sẽ có sự thay đổi lớn, tạo ra lợi nhuận phi pháp cho những kẻ mua bánnội gián

- Thông tin sai sự thật

Là hành vi phao tin đồn thất thiệt trên thị trường để hưởng lợi do mua thấp vàbán cao sau khi thông tin đã được kiểm chứng, Luật chứng khoán các nước trên thếgiới nghiêm cấm việc này, trong giai đoạn hiện nay, với sự hỗ trợ của công nghệthông tin thì hành vi này càng gây ra hậu quả nghiêm trọng cho nhiều chủ thể thamgia trên thị trường chứng khoán

Các công ty niêm yết nếu vi phạm trong việc công bố thông tin sai sự thật làmthiệt hại cho nhà đầu tư, rối loạn thị trường, sẽ bị xử lý thích đáng theo luật pháp

- Làm thiệt hại lợi ích nhà đầu tư Đối với các CTCK hoặc tổ chức đầu tư, trong kinh doanh nghiêm cấm: + Làm trái lệnh đặt mua, bán của khách hàng

+ Không cung cấp xác nhận giao dịch theo quy định

+ Tự ý mua bán chứng khoán trên tài khoản của khách hàng, hoặc mượn danhnghĩa khách hàng để mua bán chứng khoán

1.2.2 Công ty niêm yết và thông tin công bố trên thị trường chứng khoán 1.2.2.1 Công ty niêm yết

CTNY là những CTCP được SGDCK cho phép niêm yết cổ phiếu của mìnhcho mục đích giao dịch trên Sở, nếu công ty đáp ứng được một số tiêu chí theo quyđịnh của Sở

Các hình thức niêm yết cổ phiếu gồm có niêm yết lần đầu và niêm yết bổsung

Trang 6

Niêm yết lần đầu là sau khi được phép của SGDCK, cổ phiếu của công ty cổ

phần lần đầu tiên được giao dịch trên TTCK

Niêm yết bổ sung gồm các dạng sau:

- Tăng vốn bằng cách phát hành chứng quyền, trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu

- Trả cổ tức bằng cổ phiếu

- Phát hành cổ phiếu thưởng

Thay đổi niêm yết được dùng trong trường hợp:

- Thay đổi tên của tổ chức niêm yết

- Tách, gộp cổ phiếu

Niêm yết lại được áp dụng cho:

- Chứng khoán của công ty đã bị hủy niêm yết

- Chia, tách, sáp nhập các công ty niêm yết và chưa niêm yết hoặc các công ty

niêm yết với nhau

Hủy niêm yết trong các trường hợp:

- Hủy niêm yết tự nguyện

- Hủy niêm yết bắt buộc

Các tiêu chuẩn niêm yết:

- Tiêu chuẩn định lượng bao gồm các tiêu chuẩn thời gian hoạt động, tổng vốn

cổ phần, doanh thu, lợi nhuận, cơ cấu, số lượng cổ đông công ty

- Tiêu chuẩn định tính thường liên quan đến chất lượng hoạt động sản xuất

kinh doanh của công ty, được xác định thông qua báo cáo kiểm toán của tổ chức

kiểm toán có kèm báo cáo tài chính đã kiểm toán của DN, các vấn đề có liên quan

đến tranh chấp trong kinh doanh, các khoản nợ phải trả, nợ phải thu, các khoản liên

doanh, liên kết, đầu tư vào công ty con, tình hình nhân sự quản lý cấp cao của công

ty, các cổ đông lớn, các cổ đông nắm quyền kiểm soát công ty …

1.2.2.2 Thông tin công bố trên thị trường chứng khoán

Thông tin công bố trên thị trường gồm thông tin công bố trên thị trường sơ cấp

và thông tin công bố trên thị trường thứ cấp

Công bố thông tin trên thị trường sơ cấp

Thông tin công bố trên thị trường sơ cấp thường là những thông tin của các tổchức phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng Cơ quan quản lý Nhà nướcchuyên ngành (Ủy ban chứng khoán) là nơi nhận hồ sơ phát hành theo luật định, vàchịu trách nhiệm về hoạt động phát hành của tổ chức phát hành

Hồ sơ phát hành được quy định thường bao gồm một số tài liệu thông tin vềtình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh, nhân sự quản lý cấp cao của tổchức, cơ cấu cổ đông, cổ đông nắm quyền kiểm soát, được trình bày tóm tắt trongBản cáo bạch (Prospectus) và các tài liệu khác có liên quan, trình Ủy ban chứngkhoán xem xét chuẩn y

Ở Việt Nam hiện nay, UBCKNN( SSC) trực thuộc Bộ Tài chính là cơ quanquản lý, chịu trách nhiệm theo dõi hoạt động công bố thông tin và chào bán chứngkhoán trên thị trường sơ cấp của tổ chức phát hành Nội dung chủ yếu là thông quabáo cáo tài chính, trong đó “Bản cáo bạch” và “Giấy đăng ký chào bán chứngkhoán” là hai tài liệu quan trọng trong số các tài liệu phải trình Ủy ban chứngkhoán Nhà nước

Ngoài ra UBCKNN còn chịu trách nhiệm theo dõi việc công bố thông tin theoquy định của các tổ chức là công ty đại chúng6

Công bố thông tin trên thị trường thứ cấp

Công bố thông tin trên thị trường thứ cấp chủ yếu là công bố thông tin của các

tổ chức niêm yết trên SGDCK

Công bố thông tin là nghĩa vụ quan trọng của các tổ chức niêm yết, những thôngtin có thể ảnh hưởng đến giá cả và khối lượng giao dịch của cổ phiếu, trái phiếu của

tổ chức niêm yết thì phải được công bố kịp thời, chính xác

23 Thông tin được công bố trên thị trường được thực hiện theo quy định của các cơ

-quan quản lý thị trường trực tiếp và gián tiếp Tuân thủ nghĩa vụ công bố thông tin

là yêu cầu quan trọng và là điều kiện bắt buộc khi các tổ chức muốn được niêm yết

trên Sở giao dịch

Căn cứ vào thời điểm công bố, thông tin được chia làm 3 loại:

Thông tin định kỳ

Gồm các BCTC của các tổ chức niêm yết theo quy định như BCTC quý, BCTC

năm, trong đó BCTC năm phải được kiểm toán bởi công ty kiểm toán, và các thông

tin mà các DNNY phải công bố khác theo yêu cầu của Sở giao dịch chứng khoán

Thông tin bất thường

Các vấn đề có liên quan đến tình hình hoạt động của tổ chức như: các thay đổi

về nhân sự, thay đổi về nguồn vốn, tài sản, các sự kiện có liên quan đến tình hình

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các vấn đề tranh chấp và các vấn đề có

liên quan khác

Thông tin công bố theo yêu cầu

Các tổ chức niêm yết phải thực hiện công bố thông tin theo yêu cầu của các cơ

quan quản lý, điều hành trực tiếp và gián tiếp trên TTCK, nội dung thông tin công

bố phải nêu ra sự kiện được các cơ quan quản lý yêu cầu, nguyên nhân, mức độ xác

thực, các giải pháp xử lý (nếu có)

Thông tin về giao dịch của các cổ đông nội bộ

Nhân sự cấp cao và những người có liên quan trong tổ chức niêm yết, có thực

hiện giao dịch cổ phiếu, trái phiếu mà mình sở hữu, thì phải được công bố thông tin

trước và sau khi thực hiện giao dịch, kể cả giao dịch không thông qua hệ thống giao

dịch như cho, tặng, thừa kế …, nếu đã thông báo thông tin giao dịch mà không thực

hiện cũng phải công bố thông tin, đồng thời nêu rõ lý do

24 Việc thực hiện công bố thông tin phải thông qua các ấn phẩm, trang thông tinđiện tử của tổ chức niêm yết, qua phương tiện thông tin đại chúng hoặc phương tiệncông bố thông tin của các cơ quan quản lý nói trên

Tuy nhiên trong trường hợp có lý do bất khả kháng, hoặc vì nguyên nhân chínhđáng nào khác, tổ chức niêm yết có thể hoãn hoặc được phép không công bố thôngtin bất thường

1.2.3 Ảnh hưởng của thông tin kế toán đối với các đối tượng sử dụng thông tin trên TTCK.

a Đối với nhà đầu tư

Thị trường chứng khoán là loại thị trường cao cấp, Chứng khoán giao dịchtrên thị trường mang một giá trị nội tại khá trừu tượng, giá trị chứng khoán đượcquyết định bởi mối quan hệ cung, cầu trên thị trường, nhưng mối quan hệ cung cầunày lại xuất phát từ tâm lý nhà đầu tư sau khi tiếp nhận thông tin trên thị trường từnhiều phía khác nhau, trong đó TTKT là loại thông tin quan trọng bậc nhất, nó chonhà đầu tư cái nhìn tổng quan về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các

tổ chức niêm yết, đồng thời đây cũng là yếu tố chính để nhà đầu tư ra quyết địnhmua, bán chứng khoán

Thông tin kế toán còn được xem như là thông tin nền tảng cho sự phát triểncủa thị trường, kết quả dịch chuyển nguồn vốn trong doanh nghiệp, tình hình sảnxuất kinh doanh của các tổ chức niêm yết, mức cổ tức được chia trong kỳ, cách tạo

và sử dụng tiền của tổ chức niêm yết và các thông tin khác trong BCTC, chính làyếu tố củng cố niềm tin của nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu ở hiện tại và trong tươnglai, đồng thời niềm tin cũng là chìa khoá cho sự thành công và phát triển bền vữngcủa TTCK

b Đối với các tổ chức quản lý, điều hành và tạo lập thị trường

Các cơ quan quản lý điều hành trực tiếp và gián tiếp thị trường quy định thực

Trang 7

hoạt động kinh doanh của thị trường về mặt pháp lý, thúc đẩy sự phát triển của thị

trường, thu hút các nguồn vốn trong và ngoài nước đầu tư vào nền kinh tế

Các tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ trên thị trường, ngoài việc cung cấp

dịch vụ cho các nhà đầu tư họ cũng là các nhà đầu tư, như vậy ảnh hưởng của thông

tin kế toán của các tổ chức niêm yết có tầm quan trọng nhiều mặt đối với hoạt động

kinh doanh của họ, nhất là khoản doanh thu dịch vụ và chứng khoán tự doanh, về

phía các nhà đầu tư, ảnh hưởng của công bố thông tin cũng tác động rất lớn đến

tâm lý của họ trên thị trường

Ngoài ra TTCK cũng là phong vũ biểu của nền kinh tế (nếu bây giờ chưa thì sau

này sẽ), vì thông thường các DNNY là những công ty có hiệu quả kinh doanh cao

hàng đầu trong các lĩnh vực ngành nghề mà các tổ chức này tham gia trong nền

kinh tế đất nước, vì vậy thông qua những diễn biến trên thị trường, các nhà quản lý,

điều hành vĩ mô có thể nắm được thực trạng sản xuất kinh doanh chung toàn nền

kinh tế, từ đó có những bước đi thích hợp nhằm phát triển kinh tế quốc gia

Việc công bố TTKT nói riêng và việc công bố thông tin nói chung cũng chính

là yêu cầu bức thiết trong việc thực hiện thị trường tự do cạnh tranh, bình đẳng,

hiệu quả và lành mạnh

1.2.4 Các yêu cầu về chất lượng thông tin và CBTT.

Bất kỳ quốc gia nào có thị trường chứng khoán, đều có yêu cầu công bố thông

tin phải kịp thời, chính xác theo đúng quy định của pháp luật Như vậy yêu cầu về

chất lượng thông tin công bố phải được đặt lên hàng đầu, bởi vì nguồn vốn của các

tổ chức niêm yết trên thị trường chứng khoán thực sự là sở hữu của nhiều nhà đầu

tư là cá nhân và tổ chức, chất lượng thông tin có ảnh hưởng đến niềm tin của nhà

đầu tư, ảnh hưởng đến giá trị cổ phiếu, đây chính là nguyên nhân sâu xa có tác

động đến mối quan hệ cung - cầu

Chất lượng của thông tin được công bố cũng nói lên thực trạng kinh doanh

trên thị trường, thông tin là yếu tố tạo nên chất lượng của hàng hoá chứng khoán,

do vậy muốn có thị trường hoạt động tốt, trước hết công tác công bố thông tin củacác tổ chức niêm yết cần phải được quan tâm, đòi hỏi chất lượng ngày càng phảiđược nâng cao cho phù hợp với tình hình phát triển của thị trường

1.3 Thông tin kế toán công bố trên TTCK ở một số quốc gia trên thế giới.

Tham khảo các quy định về CBTT đối với các công ty niêm yết của 3 quốcgia điển hình là: Mỹ, Pháp và Trung Quốc

Tên gọi các tổ chức quản lý TTCK:

+ Mỹ: Ủy Ban Giao dịch Chứng khoán (Securities and Exchange

Commission – SEC)

+ Pháp: Ủy ban Nghiệp vụ Chứng khoán Pháp (Commission des Opération

de Bourse – COB), nay là thành viên của tổ chức NYSE Euronext

+ Trung Quốc: Cơ quan Giám quản chứng khoán của Quốc vụ Viện Trung

Quốc (China Securities Regulatory Commission – CSRC) Quy định về CBTT của những tổ chức trên đối với các CTNY như sau:

1.3.1 Hình thức công bố thông tin

và US GAAP

Theo quy định củaCSRC, hoà hợpvới quy định củaASBE, IAS

1.3.3 Thời gian công bố thông tin

1 BCTC năm Từ 75 đến 90 ngày 90 ngày Trong vòng 4 tháng

2 BCTC nửa năm Từ 75 đến 90 ngày 90 ngày Trong vòng 2 tháng

3 BCTC quý Từ 40 đến 45 ngày 45 ngày Trong vòng 1 tháng

* Phần chi tiết xin tham khảo phụ lục kèm theo

1.3.4 Bài học kinh nghiệm Việt Nam.

1.3.4.1 Các thị trường chứng khoán Châu Âu, Châu Mỹ

Thị trường chứng khoán Châu Âu, Châu Mỹ là những TTCK vào hạng lâu đời

và phát triển nhất trên thế giới, khối lượng hàng hoá lớn và đa dạng, vì thế công

việc điều hành các thị trường này đã rất chuyên nghiệp, hệ thống các luật về kế

toán, kiểm toán theo đúng thông lệ quốc tế, quy định của các cơ quan quản lý, cơ

quan điều hành, giám sát trực tiếp và gián tiếp đã được xây dựng và vận hành ổn

định trong nhiều năm, đồng thời với trình độ am hiểu về luật pháp của các chủ thể

28 cung cấp thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường được thực hiện theođúng quy định và luật pháp

Trong giai đoạn gần đây, với sự ra đời của thị trường chứng khoán toàn cầu đầutiên (NYSE Euronext), càng làm tăng tính chuyên môn hoá cao về tất cả mọi mặtcủa thị trường, tiến tới xây dựng TTCK cạnh tranh hoàn hảo

Thực trạng hiện nay của TTCK Việt Nam, do mới thành lập, các yếu tố của thịtrường như quy mô, hàng hoá, số lượng nhà đầu tư tham gia thị trường, hệ thốngluật lệ, môi trường hoạt động… còn đang trong giai đoạn hình thành, muốn pháttriển và hoàn thiện đòi hỏi phải có thời gian hoạt động để làm biến đổi cả về chất

và về lượng của thị trường

Từ các yếu tố nói trên TTCK Âu, Mỹ chỉ cho phép chúng ta đi tắt, đón đầunhững thành tựu trong mô hình xây dựng, áp dụng những tiến bộ khoa học, kỹthuật về hệ thống công nghệ thông tin, tham khảo và vận dụng hệ thống luật lệ,khuôn mẫu báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán theo thông lệ quốc tế, cũng nhưcác vấn đề có liên quan khác đến việc CBTT trên thị trường, qua đó xác định môhình thị trường chứng khoán Âu, Mỹ là thị trường mục tiêu chiến lược cho TTCKViệt Nam trong dài hạn nhắm tới

1.3.4.2 Thị trường chứng khoán Trung Quốc

TTCK Trung Quốc là một thị trường lớn trên thế giới (chỉ tính đến đầu năm

2008, TTCK Trung Quốc đã có khoảng 12.000DNNY), tuy mới được hình thành

và phát triển trong một thời gian ngắn, nhưng TTCK Trung Quốc đã phát triển vớitốc độ cao Sự phát triển của TTCK Trung Quốc tương ứng với sự phát triển kinh tếnhanh chóng của đất nước này

Nền kinh tế Trung Quốc được chuyển dịch từ nền kinh tế hoạch định XHCNsang nền kinh tế thị trường, các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán đaphần là các doanh nghiệp nhà nước IPO để đạt tiêu chuẩn niêm yết, nhưng khi tiến

Trang 8

hành IPO, các doanh nghiệp Trung Quốc chỉ phát hành cổ phiếu tăng vốn chứ

không bán vốn Nhà nước

Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với tình hình

kinh tế xã hội Trung Quốc, cùng là những quốc gia có xuất phát điểm là nền kinh tế

hoạch định XHCN chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cũng có

mức phát triển kinh tế hàng năm tương đối cao và ổn định…

Tuy có sự khác biệt về quy mô nhưng TTCK Trung Quốc và thị TTCK Việt

Nam có nhiều điểm giống nhau trong các lĩnh vực khác như trình độ công nghệ,

chủng loại hàng hoá, các tiêu chuẩn về kế toán, kiểm toán…,các DNNY phần lớn là

các DNNN chuyển đổi mô hình kinh tế, ngoài ra điểm tương đồng nhất là về căn

bản chuyển hướng đi lên của nền kinh tế và xu hướng hòa nhập với nền kinh tế thế

giới của cả hai quốc gia là như nhau Vì thế, qua một số phân tích của các tổ chức

kinh tế trong và ngoài nước cho thấy TTCK Trung Quốc có thể là thị trường định

hướng và là mục tiêu thực hiện cho TTCK Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Kết luận chương 1

Qua xem xét, phân tích tính chất đặc trưng của TTCK, cho thấy các vấn đề

có liên quan đến thông tin được công bố là thực sự quan trọng, yêu cầu CBTT phảiđược đưa lên hàng đầu, nếu muốn cho TTCK phát triển ổn định và bền vững, vì nóchính là chất lượng của hàng hoá chứng khoán là cổ phiếu của các DNNY đượcmua, bán trên thị trường

Trong các thông tin được công bố, TTKT có vị trí quan trọng bậc nhất, cácTTKT cho thấy thực trạng tài chính của các DNNY, đây cũng chính là giấy xácnhận chất lượng hàng hoá đối với cổ phiếu

Một vấn đề không kém phần quan trọng là việc xác định chất lượng BCTC,TTKT muốn có chất lượng phải được công nhận bởi một tổ chức kiểm toán độclập, nội dung BCTC phải tuân thủ Luật kế toán và các văn bản hướng dẫn thi hành Mặt khác các vấn đề thực hiện CBTT cũng phải được đặt ra xuất phát từ lý dobất cân xứng trong việc ghi nhận thông tin, nhất là TTKT của các chủ thể tham giathị trường, cũng từ nguyên nhân thông tin bất cân xứng này dẫn đến các hậu quả làcác hiện tượng vi phạm quy định nguyên tắc kinh doanh trên TTCK đã và đangthường xuyên xảy ra trong những năm gần đây

Như vậy việc thực hiện công bố TTKT trên thị trường cần phải được tổ chứcsao cho vừa thuận tiện cho các công ty niêm yết, vừa đảm bảo cung cấp thông tinminh bạch, nhanh chóng, chính xác, kịp thời, nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu

tư, đó cũng chính là bảo vệ sự tồn tại và phát triển của TTCK

31

-CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN CỦA CÁC

DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT

NAM

2.1 Lược sử thị trường chứng khoán và các công ty niêm yết của Việt Nam.

2.1.1 Thị trường chứng khoán Việt Nam.

Chính phủ đã có định hướng thành lập TTCK từ năm 1990, giao cho Ngân hàng

Nhà nước thực hiện, Ngân hàng Nhà nước đã có quyết định số 207/QĐ-TCCB

ngày 6-11-1993, thành lập Ban Nghiên Cứu Xây dựng Và Phát Triển TTCK trực

thuộc Ngân hàng Nhà nước

Đến ngày 29-6-1995, Chính phủ ra Quyết định số 361/QĐ-TTg, thành lập Ban

Tổ Chức TTCK, giúp Chính phủ chỉ đạo, chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc

xây dựng thị trường

Nghị định 75/CP của Chính Phủ ngày 28-11-1996 thành lập UBCKNN (SSC),

là cơ quan trực thuộc Chính phủ trực tiếp quản lý nhà nước về chứng khoán và

TTCK, đã đánh dấu ngày ra đời chính thức của TTCK Việt Nam, sau hơn sáu năm

chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xây dựng thị trường

Ngày 7-9-2004 Thủ Tướng Chính phủ đã có Quyết định số 161/2004/

QĐ-TTg về việc sáp nhập UBCKNN vào Bộ Tài chính, theo nội dung Quyết định này

UBCKNN là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng quản lý Nhà

nước về chứng khoán và TTCK, trực tiếp giám sát và quản lý TTCK theo quy định

của pháp luật

Các tổ chức sự nghiệp trực thuộc UBCKNN (SSC) :

1 Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HaSTC)

2 Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh nay là Sở

Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)

3 Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Đào tạo Chứng khoán

32

-5 Tạp chí chứng khoán

Thị trường sơ cấp do UBCKNN (SSC) trực tiếp quản lý

Thị trường giao dịch thứ cấp, cũng đồng thời là nơi phục vụ công tác đấu giá các

cổ phiếu IPO lần đầu, phát hành tăng vốn ra công chúng của các DN (quy định mộtđợt phát hành có tổng mệnh giá từ 10 tỷ đồng Việt nam trở lên7), thị trường nàybao gồm hai tổ chức: Trung tâm Giao dịch chứng khoán TpHCM nay là Sở Giaodịch chứng khoán TpHCM và Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội, hàng hoácủa thị trường có cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ chứng khoán phái sinh Trung tâm Giao dịch chứng khoán TpHCM chính thức khai trương đi vào hoạtđộng là ngày 20-7-2000, thực hiện phiên giao dịch cổ phiếu niêm yết đầu tiên trênsàn giao dịch vào ngày 28-7-2000, với hai công ty niêm yết là REE và SAM, cuốinăm 2000 trên sàn HOSE có 5 DNNY

HOSE chính thức chuyển thành SGDCK TpHCM theo Quyết định số559/QĐ-TTg, ngày 11-5-2007 của Thủ tướng Chính phủ

TTGDCK HN chính thức khai trương đi vào hoạt động ngày 8-3-2005, và ngày14-7-2005 chính thức khai trương sàn giao dịch thứ cấp với 6 công ty niêm yết

2.1.2 Các Công ty niêm yết.

Tiêu chuẩn niêm yết cổ phiếu trên SGDCH, TTGDCK của các CTCP được thựchiện theo các văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK, trong đó cácnội dung chính về các tiêu chuẩn niêm yết như sau:

1 Vốn điều lệ (theo

sổ sách kế toán)

80 tỷ đồng trở lên, trườnghợp DN có vốn ít hơn quyđịnh 30%, phải muốn đăng

ký niêm yết phải do Bộ Tàichính quyết định sau khi xin

10 tỷ đồng trở lên

Trang 9

Nắm giữ 100% số cổ phiếu domình sở hữu trong 6 tháng đầu,50% trong 6 tháng tiếp theo,không tính cổ phiếu thuộc sởhữu Nhà nước mà mình đạidiện

5 Hồ sơ niêm yết cổ

phiếu

Có hồ sơ niêm yết cổ phiếuhợp lệ theo quy định tạikhoản 2 điều 10 Nghị định số14/2007/NĐ-CP

Có hồ sơ niêm yết cổ phiếu hợp

lệ theo quy định tại khoản 2điều 10 Nghị định số14/2007/NĐ-CP

6 Loại hình doanh

nghiệp

Mọi loại hình doanh nghiệp

Các DN mới thành lập thuộclĩnh vực cơ sở hạ tầng hoặccông nghệ cao, DNNN chuyểnđổi thành CTCP không phảiđáp ứng yêu cầu (2)

(*) Theo Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28-11-2003, thì điều kiện niêm yết

trên TTGDCK có các tiêu chuẩn sau:

Vốn điều lệ từ 5 tỷ đồng trở lên, 2 năm liền trước có lãi, đối với DNNN cổ

phần hoá chỉ cần năm liền trước có lãi

Các thành viên HĐQT, BKS, KTT cam kết nắm giữ cổ phiếu mà mình sởhữu ít nhất 50% trong 3 năm kể từ ngày niêm yết

Tối thiểu 20% vốn cổ phần của công ty do ít nhất 50 cổ đông ngoài tổ chứcniêm yết nắm giữ, đối với công ty có vốn từ 100 tỷ đồng trở lên, tỷ lệ này là 15%

Có hồ sơ niêm yết hợp lệ

2.2 Thông tin kế toán công bố trên thị trường chứng khoán Việt Nam 2.2.1 Theo quyết định của các cơ quan chức năng

Cơ quan quản lý thị trường là UBCKNN, từ ngày thành lập theo Nghị định75/CP ngày 28 - 11- 1996 trực thuộc Chính phủ, sau đó căn cứ vào Quyết định số161/2004/ QĐ-TTg ngày 7-9-2004, UBCNKK trực thuộc Bộ Tài Chính Các vănbản quy định về CBTT trên thị trường từ ngày bắt đầu thành lập năm 1996 cho đếnnay gồm có:

- Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11-7-1998, của Chính phủ về chứngkhoán và TTCK

- Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28-11-2003 của Chính phủ về chứngkhoán và TTCK

- Thông tư 57/2004/TT-BTC ngày 17-6-2004, của Bộ Tài chính hướngdẫn về việc công bố thông tin trên TTCK

- Luật Chứng Khoán số 70/2006/QH11 ngày 29-6-2006 có hiệu lực ngày1-1-2007

- Thông tư 38/2007/TT-BTC ngày 18-4-2007, của Bộ Tài chính hướngdẫn về việc công bố thông tin trên TTCK

Hiện nay theo tinh thần thông tư 38/2007/TT-BTC, việc công bố thông tin làBCTC thường niên được quy định như sau:

Yêu cầu thực hiện CBTT:

Việc CBTT phải đầy đủ, chính xác, và kịp thời theo quy định của pháp luật

35 Việc CBTT phải do Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc hoặc người được ủy

-quyền CBTT thực hiện Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc phải chịu trách nhiệm về

nội dung thông tin do người được ủy quyền CBTT công bố

Việc CBTT phải được thực hiện đồng thời với việc báo cáo UBCKNN,

SGDCK, TTGDCK Các tài liệu gửi UBCKNN, SGDCK, TTGDCK được thể hiện

dưới hình thức văn bản và dữ liệu điện tử theo quy định của UBCKNN, SGDCK,

TTGDCK

Phương tiện CBTT:

Các phương tiện CBTT của UBCKNN gồm: báo cáo thường niên, trang thông

tin điện tử và các ấn phẩm khác của UBCKNN, của Sở giao dịch chứng khoán,

Trung tâm giao dịch chứng khoán gồm: bản tin TTCK, trang thông tin điện tử,

bảng hiển thị điện tử, các trạm đầu cuối của SGDCK, TTGDCK, và phương tiện

thông tin đại chúng

Hình thức công bố BCTC

Công ty niêm yết phải công bố BCTC quý và BCTC năm, BCTC quý không

phải kiểm toán, BCTC năm phải được kiểm toán do tổ chức kiểm toán được chấp

thuận của UBCKNN cho phép kiểm toán các doanh nghiệp niêm yết

Thời gian công bố báo cáo tài chính

Thời gian công bố BCTC năm là 100 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính

Thời gian công bố BCTC quý là ngày thứ 25 của tháng đầu quý tiếp theo

Nội dung công bố BCTC:

BCTC quý gồm:

BCĐKT giữa niên độ (dạng đầy đủ): Mẫu số B 01a – DN

BCKQHĐSXKD giữa niên độ (dạng đầy đủ): Mẫu số B 02a – DN

BCLCTT giữa niên độ (dạng đầy đủ): Mẫu số B 03a – DN

BTMBCTC chọn lọc: Mẫu số B 09a – DN

36 Trường hợp kết quả sản xuất kinh doanh giữa 2 kỳ báo cáo có biến động từ 5%trở lên (dự thảo thông tư mới quy định 10%8), tổ chức niêm yết phải giải trình rõnguyên nhân dẫn đến những bất thường đó trong BCTC quý

Tổ chức niêm yết công bố BCTC quý tóm tắt theo mẫu CBTT-03 của thông tư38/2007TT-BTC, qua phương tiện công bố thông tin của UBCKNN, SGDCK,TTGDCK

BCTC quý của CTNY phải công bố trên các ấn phẩm, trang thông tin điện tửcủa CTNY và phải lưu trữ ít nhất 12 tháng tiếp theo tại trụ sở chính của tổ chức đểnhà đầu tư tham khảo

BCTC năm gồm:

BCĐKT : Mẫu số B 01 – DN BCKQHĐSXKD: Mẫu số B 02 – DN BCLCTT : Mẫu số B 03 – DN BTMBCTC: Mẫu số B 09 – DN Trường hợp DNNY là công ty mẹ, nội dung CBTT theo quy định của pháp luật

2.2.2 Tình hình thực hiện của các công ty niêm yết

Trang 10

Năm Số lượng CTNY Khối lượng CP niêm yết

175 217 330 339 394

675256246246084

020406080100120140160180200

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008

01000200030004000500060007000

Nguồn: tổng hợp từ website www.hsx.vn

2.2.2.2 Tình hình thực hiện của các CTNY

Căn cứ Thông tư 38/2007/TT-BTC về việc hướng dẫn CBTT trên TTCK, TạiKhoản 1.6, điều 1, mục II có quy định DNNY phải công khai địa chỉ trang thôngtin điện tử của mình, tuy nhiên qua thống kê ngay trên cổng thông tin của các cơquan quản lý trực tiếp và gián tiếp các CTNY tính đến thời điểm 31-12-2008,chúng tôi nhận thấy còn 71/173 công ty chưa công bố đầy đủ các thông tin cơ bảntheo quy định trong đó 47/173 công ty chưa thực hiện công khai website của công

ty9

39

-Từ khi thành lập TTCK Việt Nam cho đến năm 2006, cơ quan quản lý thị

trường thực hiện việc quản lý, điều hành thị trường thông qua các văn bản rời rạc

của Chính phủ, Bộ Tài Chính và UBCKNN, TTGDCK, chỉ đến năm 2007, khi Luật

Chứng khoán và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành được ban hành, việc

CBTT mới có những tiêu chuẩn rõ ràng và có nề nếp

a Tình hình thực hiện công bố BCTC năm

Thống kê qua các năm 2006, 2007, 2008 như sau:

b Báo cáo tài chính giữa niên độ

Quý IV năm 2008 trên HOSE có 173 CTNY, thống kê tình hình thực hiện nhưsau:

1 Công bố BCTC đầy đủ

Trong đó: + Hợp pháp + Không hợp pháp

2 Công bố BCTC không đầy đủTrong đó:

+ Thiếu BCĐKT, BCLCTT, TMBCTC+ Thiếu BCLCTT, TMBCTC+ Thiếu TMBCTC

129

3 126

44

8 32 4

74,56

2,33 97,67

25,44

18,18 72,72 9,10

Về thời gian công bố BCTC quý chỉ có vào khoảng 25% (43/173) DNNY thựchiện công bố BCTC quý đúng thời hạn (25 ngày)

* Chi tiết xin tham khảo phụ lục kèm theo

2.3 Đánh giá tình hình công bố thông tin trên thị trường chứng khoán 2.3.1 Khảo sát

a Đối tượng khảo sát:

Dùng phiếu lấy ý kiến các đối tượng:

+ Cơ quan quản lý thị trường chứng khoán + Các DNNY trên TTCK

+ Các nhà đầu tư

Ngày đăng: 01/08/2016, 22:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  hiển  thị  điện  tử,  các  trạm  đầu  cuối  của  SGDCK,  TTGDCK,  và  phương  tiện - Các giải pháp hoàn thiện vấn đề công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
ng hiển thị điện tử, các trạm đầu cuối của SGDCK, TTGDCK, và phương tiện (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w