Luật Giáo dục Việt Nam, năm 2005 cũng khẳng định, mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đáo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phá
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊN TRƯỜNG: THPT KHOÁI CHÂU
Mị Châu – Trọng Thủy””
Môn: Ngữ văn
Họ và tên: Đỗ Thị Minh Hiếu
Giáo viên Ngữ văn – Trường THPT Khoái Châu
Năm học 2015 - 2016
Trang 2LÍ LỊCH
Họ và tên tác giả: Đỗ Thị Minh Hiếu
Chức danh: Giáo viên Ngữ văn – Tổ trưởng tổ Ngữ văn
Đơn vị công tác: Trường THPT Khoái Châu
Tên đề tài SKKN:
“Giáo dục nghĩa vụ công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ Quốc qua tác phẩm “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy””
Trang 3* Cơ sở lí luận hướng cho việc nghiên cứu đề tài 8
Giải pháp của đề tài
Nắm chắc nội dung chương trình học liên quan đến vấn đề
nghiên cứu
13
2 “Giáo dục nghĩa vụ công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ Quốc qua tác phẩm Truyện An Dương Vương và Mị
Châu – Trọng Thủy”
14
* Xác định nội dung tích hợp trong bài dạy học 15
* Xác định phương pháp, phương tiện thực hiện trong giờ dạy
học
17
* Mô tả bài dạy học Tiết 10 +11 Đọc văn – Truyện An
Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy
27
Trang 43 Khả năng ứng dụng của đề tài 54
Trang 5
PHẦN MỞ ĐẦU
I ĐẶT VẤN ĐỀ :
I.1 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ ĐÒI HỎI PHẢI CÓ GIẢI PHÁP MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa thế giới (Unesco) xác định
mục tiêu của giáo dục thế kỉ XXI là: Học để biết, học để làm, học để chung sống với nhau, học để tự khẳng định mình Luật Giáo dục Việt Nam, năm
2005 cũng khẳng định, mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đáo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng bảo vệ Tổ Quốc Theo đó, trong những năm gần đây mục tiêu giáo dục của Việt Nam đã chuyển từ mục tiêu cung cấp kiến thức là chủ yếu sang mục tiêu hình thành và phát triển những năng lực và kĩ năng sống cần thiết cho người học nhằm giúp người học có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống
Thực tế cho thấy hiện nay, nhiều học sinh vẫn học một cách thụ động, chưa tích cực trong các hoạt động học Học sinh vẫn chưa bỏ thói quen chỉ chú trọng đến việc nghe thầy giảng, ghi chép, làm theo sự định hướng của thầy một cách máy móc, thiếu chủ động, sáng tạo Vì thế nhiều kĩ năng của học sinh không được rèn luyện, dẫn đến học sinh thiếu tự tin, ngại suy nghĩ , ngại làm việc, không thích sự thay đổi, nhầm lẫn trong việc xác định giá trị, lúng túng trong việc xử lí tình huống, thiếu kĩ năng ứng phó với hoàn cảnh
Đối với việc học bộ môn Ngữ văn, đặc biệt là với các tác phẩm văn học
ra đời từ xa xưa, khoảng cách thời gian, lịch sử, văn hóa, thời đại là rào cản lớn khiến học sinh không tha thiết với các bài học này
Vậy nên việc tìm phương pháp dạy học thích hợp nhằm lôi cuốn học sinh vào các hoạt động học nhằm phát triển các năng lực giúp các em nhận
Trang 6thấy quá trình học bộ môn cũng là quá trình khám phá, đánh thức các năng lực của bản thân, đem tri thức trong sách vở ứng dụng vào thực tiễn phục vụ cho cuộc sống của chính mình là việc làm tối quan trọng, cần thiết của quá trình dạy học Trong đó có việc rất quan trọng là giáo dục nghĩa vụ công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc qua từng bài học
Với ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài: “Giáo dục nghĩa vụ công dân với sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc qua tác phẩm Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” Trong đó tôi lựa chọn các giải pháp,
phương pháp dạy học nhằm hướng học sinh vào hoạt động học tập, để học sinh thấy được ý nghĩa của các tác phẩm văn học nói chung, văn học dân gian nói riêng trong việc xác định các giá trị sống Đồng thời làm tư liệu phục vụ thiết thực hơn nữa cho công tác giảng dạy của tôi ở trường THPT trong những năm học tới Theo tôi, phương pháp này đáp ứng được mục tiêu đổi mới dạy
học mà sự nghiệp phát triển giáo dục nước nhà đang đòi hỏi
I 2 Ý NGHĨA VÀ TÁC DỤNG CỦA GIẢI PHÁP MỚI
I.2.1 Đối với học sinh:
- Học sinh trực tiếp tham gia các hoạt động học tập, được rèn luyện các
kĩ năng sống như: kĩ năng tự nhận thức (tự trọng, tự tin) , kĩ năng suy nghĩ (
tư duy phê phán), kĩ năng thể hiện sự cảm thông, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng hợp tác, kĩ năng nêu và giải quyết vấn đề
Đồng thời phát triển các năng lực: năng lực tự học, năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự quản lí, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực thưởng thức văn học, năng lực cảm thụ thẩm mỹ
- Học sinh nhận thức bài học sâu sắc về tinh thần cảnh giác với kẻ thù,
về ý thức bảo vệ bí mật quốc gia, tinh thần yêu nước và niềm tự hào dân tộc, trách nhiệm dựng xây và bảo vệ Đất nước
Trang 7I.2.2 Đối với người làm công tác giảng dạy Ngữ văn:
Giáo viên dạy Ngữ văn có thể sử dụng kinh nghiệm này trong quá trình giảng dạy các bài đọc văn
I 3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Với dung lượng của một đề tài nhỏ, để bài viết có sự tập trung, tôi sẽ đi
sâu tìm hiểu vấn đề liên quan đến việc giảng dạy bài Đọc văn “Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy” trong chương trình Ngữ văn lớp 10
Qua đó giáo dục cho học sinh nghĩa vụ công dân với sự nghiệp xây dựng, bảo
vệ Tổ Quốc
Cụ thể: Người viết sẽ xuất phát từ đặc trưng của thể loại truyền thuyết Việt Nam; sử dụng một số phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học, hướng dẫn học sinh các hoạt động học để tìm hiểu nội dung, nghệ thuật và giá trị của
tác phẩm Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy
Đặc biệt là giúp học sinh qua giờ học, tích hợp với kiến thức của một
số môn học khác như Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân,Giáo dục quốc phòng an ninh, Hoạt động ngoài giờ lên lớp để hiểu được bài học lịch sử mà
tác giả dân gian muốn nhắn nhủ cho muôn đời sau về ý thức đề cao cảnh giác với âm mưu kẻ thù xâm lược trong công cuộc dựng xây và bảo vệ đất nước
Từ đó học sinh áp dụng vào thực tiễn cuộc sống của cá nhân, của cộng đồng, nhận thức được ý thức trách nhiệm của mình trong việc xây dựng và bảo vệ
Tổ Quốc
Trang 8II PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH:
II.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÓ TÍNH ĐỊNH HƯỚNG CHO
VIỆC NGHIÊN CỨU, TÌM GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI
II.1.1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN
Một số nguyên tắc cụ thể trong việc dạy Ngữ văn
Thứ nhất: Nguyên tắc mục tiêu:
Nhận diện -> Lí giải -> Vận dụng
Thứ hai: Nguyên tắc kết hợp lí thuyết với thực hành
Lí thuyết <-> Thực hành
Thứ ba: Nguyên tắc sư phạm:
Dễ -> Khó; Đơn giản -> Phức tạp ; Ứng dụng -> Sáng tạo
Thứ tư: Nguyên tắc khoa học và hệ thống:
Trang 9II.1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
II.1.2.1. Tình hình thực tế:
II.1.2.1.1 Thực trạng:
- Học sinh trong các giờ học bài Đọc văn nói chung và đọc văn phần
truyền thuyết dân gian nói riêng chủ yếu nghe giáo viên giảng bài và ghi chép
- Kiểm tra phần chuẩn bị bài trước khi đến lớp của học sinh, tôi thấy chủ yếu học sinh trả lời câu hỏi sách giáo khoa một cách chiếu lệ cốt cho đủ bài Một số học sinh thì không chuẩn bị bài
- Trong giờ học, học sinh ít tham gia vào hoạt động học, giáo viên phát vấn thì có rất ít học sinh giơ tay xung phong phát biểu, chủ yếu là giáo viên phải chủ động gọi học sinh trình bày Phần trình bày của học sinh thường là thể hiện sự thiếu tự tin, kém sức thuyết phục và mất nhiều thời gian Học sinh còn lại thì nghe nhưng không có ý kiến phản đối hay bổ sung, chỉ khi giáo
viên gọi thì mới trình bày ý kiến của mình, nhưng cũng lúng túng
II.1.2.1.2 Kết quả khảo sát tình hình thực tế:
Đối tượng khảo sát:
- 2 lớp thuộc khối 10 Đó là các lớp: 10A9, 10A10
- Sĩ số lớp 10 A9: 39 học sinh, 10 A10: 37 học sinh
- Đặc điểm: Học chương trình chuẩn
- Điều kiện học tập như nhau
Hình thức khảo sát:
- Kiểm tra vở soạn văn
- Quan sát học sinh trong 1 giờ học bài đọc văn “Chiến thắng MtaoMxay”
Nội dung bài khảo sát:
Cụ thể như sau:
- Mục tiêu bài khảo sát:
+ Giáo viên nắm bắt tình hình soạn bài của học sinh và quá trình tham gia hoạt động học của các em để đánh giá kết quả giờ học và có hướng sử
Trang 10dụng các phương pháp dạy học tích cực tác động vào quá trình học tập chủ động của học sinh
Kết quả thống kê như sau:
- Về việc soạn bài:
+ Có 19/76 em chưa soạn bài
+ Có 57/76 em đã soạn bài theo cách trả lời 4 câu hỏi trong sách giáo khoa Trong đó có 38/57 em có nội dung trả lời giống nhau ( Giáo viên cho
rằng học sinh cùng tham khảo tài liệu Để học tốt Ngữ văn 10, hoặc có em
chép của nhau
- Trong giờ học:
+ Giáo viên yêu cầu học sinh tóm tắt đoạn trích: Không có học sinh nào xung phong trình bày Giáo viên gọi mỗi lớp 3 học sinh thì cả 3 học sinh đó trả lời là không tóm tắt được vì em chưa đọc hết đoạn trích
+ Quan sát lớp học, giáo viên thấy nhìn chung nhiều học sinh chỉ nghe giảng và ghi chép mà không muốn trình bày ý kiến của mình Thậm chí có em không quan tâm đến bài học
+ Số học sinh tích cực phát biểu xây dựng bài là rất ít
+ Nếu giáo viên có chia nhóm hoạt động thì chỉ có số ít trong nhóm là làm việc, số còn lại ngồi chờ bạn thực hiện; có nhóm chưa hoàn thành công việc thì hết thời gian Nhìn chung hiệu quả làm việc nhóm không cao, giờ học vẫn chưa có nhiều thay đổi
II.1.2.2 Nguyên nhân của thực trạng
Nguyên nhân của tình trạng học sinh chưa say mê với giờ đọc văn, đặc biệt là đối với thể loại văn học dân gian, cách học chưa đạt hiệu quả cao:
- Học sinh nắm kiến thức chưa chắc chắn, chưa nhớ rõ bản chất của vấn
đề
- Học sinh chưa tích cực tham gia vào các hoạt động học tập để khám phá kiến thức, kĩ năng, đánh thức năng lực tiềm ẩn của bản thân
Trang 11- Do ý thức học bộ môn của học sinh chưa tốt, việc chuẩn bị bài chưa chu đáo
- Trong giờ dạy đọc văn về thể loại văn học dân gian, giáo viên chưa thực
sự đổi mới phương pháp Vấn đề giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh trước khi đến lớp và kiểm tra việc thực hiện của học sinh chưa được chú trọng
- Việc giảng dạy còn chưa chú trọng đến việc tích hợp các kiến thức thuộc các bộ môn liên quan nên sức hấp dẫn của bài học đối với học sinh chưa cao
II.2 CÁC BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH, THỜI GIAN TẠO RA GIẢI PHÁP
II.2.1 PHƯƠNG PHÁP , BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH
1.Với bài nghiên cứu này, người viết sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây :
- Tìm hiểu tình hình thực tế của quá trình giảng dạy:
+ Tìm hiểu chương trình học của học sinh phổ thông
+ Tìm hiểu đối tượng học sinh và thực trạng việc học văn phần văn học dân gian nói chung và phần truyền thuyết nói riêng của các em học sinh
+ Đặc điểm bài học Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy
- Tìm hiểu nội dung các môn học có liên quan đến bài dạy học
- Thiết kế bài dạy học nhằm hướng dẫn học sinh tham gia các hoạt động học, từ đó phát triển các năng lực chung, năng lực chuyên biệt và các kĩ
Trang 12năng sống Đặc biệt là giáo dục học sinh về trách nhiệm công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc
II.2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU VÀ TẠO RA GIẢI PHÁP
Quá trình giảng dạy các lớp 10 năm học: 2012 -2013 và 2015- 2016
Trang 13PHẦN NỘI DUNG (GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ)
I MỤC TIÊU:
Thông qua việc áp dụng các phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học tích cực, nhằm đem lại hiệu quả cao trong giờ dạy bài học: Tiết 10 và 11
Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thuỷ thuộc chương trình Ngữ
văn lớp 10 Trung học phổ thông
Qua giờ học, học sinh hiểu rõ đặc trưng của thể loại truyền thuyết, biết cách đọc hiểu thể loại văn học này
Học sinh hiểu được bài học lịch sử mà tác giả dân gian muốn nhắn nhủ cho muôn đời sau về ý thức đề cao cảnh giác với âm mưu kẻ thù xâm lược
Từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm của mình trong việc xây dựng và bảo vệ
Tổ Quốc
II GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI
II.1 NẮM CHẮC NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trong chương trình phổ thông học sinh được học các bài thuộc thể loại truyền thuyết là:
- Truyền thuyết “ Con Rồng cháu Tiên” (Lớp 6)
- Truyền thuyết “ Bánh chưng bánh giầy” (Lớp 6)
- Truyền thuyết “Thánh Gióng” (Lớp 6)
- Truyền thuyết “ Sơn Tinh Thủy Tinh” (Lớp 6)
- Truyền thuyết “Sự tích Hồ Gươm” (Lớp 6)
- Truyền thuyết “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”
(Lớp 10)
Với học sinh lớp 10 bài học trong 2 tiết Ngoài ra còn có bài Khái quát Văn học dân gian Việt Nam, phần nội dung thể loại có nói về đặc điểm của truyền thuyết
Trên cơ sở nắm chắc chương trình học của học sinh, giáo viên tổ chức các
Trang 14tìm hiểu bài học mới nhằm đạt hiểu quả cao trong dạy học Đặc biệt là hướng học sinh đến việc phát triển các năng lực, trong đó học sinh ý thức sâu sắc về vai trò trách nhiệm của mình trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc; biết nhìn nhận rút ra những bài học đối với cá nhân trong ứng xử trước những vấn
đề đặt ra của cuộc sống cá nhân, của cộng đồng, của đất nước
II.2 GIÁO DỤC NGHĨA VỤ CÔNG DÂN VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỀ TỔ QUỐC QUA TÁC PHẨM “TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY”
II.2.1: Xác định mục tiêu bài dạy học:
1 Về kiến thức: Giúp học sinh
- Hiểu đặc trưng cơ bản của truyền thuyết
- Hiểu được giá trị ý nghĩa của Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thuỷ: Từ bi kịch mất nước của hai cha con An Dương Vương và bi kich tình
yêu của Mị Châu - Trọng Thuỷ, nhân dân muốn rút ra bài học lịch sử cho muôn đời về ý thức đề cao cảnh giác với âm mưu kẻ thù xâm lược trong công cuộc dựng xây và bảo vệ đất nước
2 Về kĩ năng : Rèn kĩ năng tóm tắt và đọc hiểu văn bản tự sự dân gian, kĩ
năng phân tích truyện dân gian theo đặc trưng thể loại để có thể hiểu đúng ý nghĩa của những hư cấu nghệ thuật trong truyền thuyết và dụng ý sâu xa mà các tác giả dân gian đã giử gắm trong truyện
3 Về thái độ :
- Bồi dưỡng cho học sinh niềm tự hào về truyền thống văn hoá của dân tộc qua di sản văn học các em được học Từ đó, học sinh có lòng say mê với văn học dân gian nói riêng, văn học Việt Nam nói chung, có ý thức giữ gìn và sáng tạo làm phong phú thêm cho nền văn học của dân tộc
- Khắc sâu bài học giữ nước mà tác giả dân gian muốn nhắn nhủ cho đời sau Điều đáng lưu ý là bài học lịch sử đó cần được đặt trong bối cảnh hiện tại đất
Trang 15nước ta vừa cần mở rộng sự hội nhập cùng các nước trên thế giới, vừa phải giữ vững an ninh, chủ quyền đất nước
4 Về phát triển các năng lực và kĩ năng sống cho học sinh:
- Bỗi dưỡng và phát triển các năng lực chung : năng lực tự học, năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực
tự quản lí, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực sử dụng công nghệ thông tin
II.2.2: Xác định nội dung tích hợp trong bài dạy học:
Môn Bài Nội dung tích hợp Mục đích
Giúp học sinh thấy được vai trò của An Dương Vương trong việc xây dựng nhà nước Âu Lạc, xây thành Cổ Loa, chế tạo
vũ khí, và cả sự thất bại của An Dương Vương
- Bản chất của tình yêu chân chính
Giúp học sinh hiểu rõ bi kịch của Mị Châu, biết cắt nghĩa, đánh giá thái độ của nhân dân
và bài học nhân dân gửi gắm trong tác phẩm
Trang 16- Giúp học sinh thấy được ý nghĩa của tác phẩm
- Bồi dưỡng lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc
- Giáo dục ý thức trách nhiệm
và hành động xây dựng, bảo vệ
Tổ Quốc ( học tập, lao động sáng tạo, đấu tranh vì lợi ích của quốc gia.)
Học sinh ý thức được các cơ quan, tổ chức và mọi công dân đều có nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ bí mật Nhà nước
Học sinh có ý thức sâu sắc về việc bảo vệ an ninh quốc gia trong đó có an ninh thông tin Chống làm lộ, lọt thông tin bí mật của nhà nước
Học sinh có ý thức bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước và tinh thần sẵn sàng đem hết khả năng của mình phục vụ lợi ích của Tổ Quốc
Trang 17II.2.3: Xác định phương pháp, phương tiện thực hiện trong giờ dạy học :
Phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học sử dụng trong bài
- Hướng tìm hiểu tác phẩm
- Nội dung tích hợp trong các môn Sử, Địa, GDCD
- Phát triển năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực giao tiếp
- Giáo dục kĩ năng tự nhận thức,
kĩ năng tư duy, kĩ năng giao tiếp hiệu quả, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng thể hiện sự tự tin
PP thảo luận nhóm - Quá trình xây
thành, chế nỏ, đánh giặc của An Dương Vương
-Thái độ của nhân dân đối với sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử
- Phát triển năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực giao tiếp
- Giáo dục kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng lắng nghe, kĩ năng
tư duy, kĩ năng giao tiếp hiệu quả,
kĩ năng ra quyết định, kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩ năng thể hiện sự cảm thông, kĩ năng kiềm chế cảm xúc
PP DH WebQuest
– Khám phá trên
mạng
-Tìm hiểu về khu di tích lịch sử Cổ Loa
- Tìm hiểu về thời đại An Dương
- Phát triển khả năng tư duy: phân loại, so sánh, phân tích, chứng minh,suy luận, kết luận
- Phát triển năng lực sử dụng công
Trang 18Vương nghệ thông tin và truyền thông,
năng lực tự quản, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng xác định giá trị
KT giao nhiệm vụ - Nội dung chuẩn bị
cho cả bài, cho từng phần của bài học
- Chuẩn bị của cá nhân, của nhóm
- Phát triển năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng công nghệ thông tin
- Giáo dục kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng lắng nghe, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng giao tiếp hiệu quả, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng thể hiện sự tự tin,
KT bản đồ tư duy - Giới thiệu bài học
sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông
- Giáo dục kĩ năng tự nhận thức,
kĩ năng tư duy, kĩ năng giao tiếp hiệu quả, kĩ năng ra quyết định
Kĩ thuật đặt câu
hỏi: câu hỏi biết,
câu hỏi hiểu, câu
hỏi phân tích, câu
hỏi áp dụng,câu
hỏi đánh giá, câu
-Khái quát về truyền thuyết
-Đánh giá về An Dương Vương
-Suy nghĩ về vai trò
- Phát triển năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực giao tiếp
- Giáo dục kĩ năng tự nhận thức,
kĩ năng tư duy, kí năng xác định
Trang 19hỏi sáng tạo người lãnh đạo
-Biểu hiện của bi kịch nước mất
-Nguyên nhân của
bi kịch
-Bài học rút ra từ bi kịch
giá trị, kĩ năng giao tiếp hiệu quả,
kĩ năng ra quyết định, kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩ năng thể hiện sự cảm thông, kĩ năng kiềm chế cảm xúc, kĩ năng ứng phó với căng thẳng,
Kĩ thuật động não
và kĩ thuật trình
bày 1 phút
- Đánh giá về nhân vật
- Đánh giá giá trị của tác phẩm
- Liên hệ thực tế, rút
ta bài học
- Phát triển năng lực tự học, năng lực sáng tạo, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực giao tiếp
- Máy tính, máy chiếu, màn hình
- Giấy khổ lớn, bút dạ, nam châm
II.2.4: Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
Chuẩn bị của giáo viên
- Giáo án word, giáo án điện tử, phiếu học tập
- Phấn, bảng, SGK, giấy khổ A0, bút dạ, nam châm
- Máy tính, máy chiếu, màn hình
Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài trước khi học
- Học sinh đọc SGK
Trang 20- Tham khảo tài liệu về truyền thuyết, về di tích Cổ Loa (mạng internet, sánh báo )
- Tìm hiểu kiến thức liên quan đến truyền thuyết An Dương Vương và
Mị Châu – Trọng Thủy
- Tìm hiểu bài học theo phiếu học tập giáo viên đã hướng dẫn (Học sinh chuẩn bị ở nhà )
PHIẾU HỌC TẬP Tiết 10+11 BÀI “Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy”
TIẾT 1
Họ và tên: Lớp:
Yêu cầu chuẩn bị Nội dung chuẩn bị
I.1 Phần tiểu dẫn sgk nêu
nội dung gì? Sử dụng sơ
thuyết Việt Nam?
- Nêu đặc trưng cơ bản
của truyền thuyết?
2 Giới thiệu cụm di tích Cổ Loa:
3 Văn bản: Xuất xứ của VB?
Trang 21- Ôn lại kiến thức lịch sử
về thời đại An Dương
Vương để thấy cái lõi sự
thật lịch sử trong tác
phẩm
II Đoc hiểu
1 Đọc,Tóm tắt TP:
Truyền thuyết chia làm
mấy phần? Nội dung
Trang 22- Xây thành xong, An
Dương Vương nói gì với
Rùa vàng? ý nghĩa của
chi tiết này?
- Kể về sự giúp đỡ thần
kì đó, tác giả dân gian
gửi gắm thái độ đối với
nhà vua như thế nào?
(CH1 SGK)
- Ôn lại kiến thức môn
giáo dục công dân về vai
trò của người lãnh đạo
- Các kĩ năng cần thiết để
có thành công trong mọi
công việc là gì?
* Chế nỏ
Vua băn khoăn :
Ý nghĩa của chi tiết:
* Cách kể chuyện:
- Sử dụng yếu tố kì ảo:
- Tác dụng:
* Bài học về vai trò của người lãnh đạo
* Các kĩ năng cần thiết để có thành công trong mọi công việc
Trang 23Tiết 2 PHIẾU HỌC TẬP Tiết 11
BÀI “Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy”
Họ và tên: Lớp:
Yêu cầu chuẩn bị Nội dung chuẩn bị
1 Nêu biểu hiện của bi
b Bi kịch nước mất, nhà tan và thái độ của tác
giả dân gian b1/ Bi kịch nước mất, nhà tan:
- Biểu hiện của bi kịch nước mất, nhà tan:
- Biểu hiện của bi kịch tình yêu:
- Nguyên nhân của bi kịch + Sai lầm của An DươngVương:
+ Sai lầm của Mị Châu:
Trang 243 Từ bi kịch trên TP gủi
gắm cho thế hệ sau bài
học gì?
- Ôn lại kiến thức môn
giáo dục công dân và
môn Giáo dục Quốc
phòng an ninh về vai trò
của người lãnh đạo, về
trách nhiệm của công dân
với sự nghiệp dựng xây,
4 Sáng tạo chi tiết về
Rùa vàng, vua chém đầu
con và cầm sừng tê
xuống biển thể hiện thái
độ của nhân dân đối với
ADV như thế nào? so
- Các kĩ năng cần thiết để xử lí mối quan hệ riêng – chung, cá nhân – cộng đồng
b2/ Thái độ của nhân dân đối với nhân vật các nhân vật:
* Thái độ của nhân dân đối với ADV? Lí giải?
Trang 255 Thái độ của nhân dân
đối với nhân vật MC?
- Chi tiết máu MC trai sò
ăn phải đều biến thành
hạt châu xác hoá thành
ngọc thạch Chi tiết này
thể hiện thái độ của
người đời xưa như thế
nào đối với MC?và nhắn
nhủ điều gì đối với thế hệ
trẻ đời sau?
( CH3 sgk)
6 Đối với Âu Lạc, Trọng
Thủy là người ntn?
Chi tiết'' ngọc trai -
giếng nước '' có phải
khẳng định tình yêu
chung thuỷ ở Trọng Thủy
hay không? thái độ của
tác giả dân gian đối với
Trọng Thủy?
(CH4 sgk)
* Thái độ của nhân dân đối với Mị Châu? Lí giải?
* Thái độ của nhân dân đối với Trọng Thủy? Lí giải?
Trang 26Bài Công dân với tình
yêu, hôn nhân, gia đình
Công dân với sự nghiệp
bảo vệ TQ (bài 12, 14)
Tích hợp hoạt động
ngoài giờ lên lớp, lớp 10,
chủ đề tháng 10
* Cái lõi lịch sử của truyền thuyết này là:
* Cốt lõi lịch sử ấy được dân gian thần kì hoá qua hình ảnh :
Trang 27II.2.5: MÔ TẢ BÀI GIẢNG TIẾT 10+11 – ĐỌC VĂN
TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU - TRỌNG THỦY
II.2.5.1.Tiết thứ nhất
Nội dung trọng tâm của bài học, giáo viên giúp học sinh tìm hiểu những vấn đề sau:
- Giới thiệu chung về truyền thuyết
- Giới thiệu cụm di tích Cổ Loa
- Giới thiệu tác phẩm, tóm tắt tác phẩm
- Tìm hiểu phần 1 (An Dương Vương xây thành, chế nỏ, thắng giặc)
Ổn định tổ chức và kiểm tra phần chuẩn bị bài của học sinh, nhận xét các sản phẩm học sinh đã nộp cho GV qua gmail và thông báo tên HS, sản phẩm HS sẽ được trình bày trong giờ học để HS chuẩn bị tâm thế
chiếu (nếu HS đã chuẩn bị trên máy tính)
- Giáo viên sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi:
+ Dạng câu hỏi biết kiểm tra trí nhớ của học sinh: Nhắc lại định nghĩa thế nào là truyền thuyết? Kể tên một số truyền thuyết của Việt Nam? (học sinh trả lời, giáo viên nhận xét và bổ sung nếu cần)
* Khái niệm truyền thuyết là loại truyện dân gian kể về sự kiện lịch sử và
nhân vật lịch sử (hoặc liên quan đến lịch sử) theo xu hướng lí tưởng hóa Qua
đó thể hiện sự ngưỡng mộ và tôn vinh của nhân dân đối với những người có công với đát nước, dân tộc hay cộng đồng cư dân một vùng
+ Giáo viên ra câu hỏi hiểu kiểm tra việc hiểu của học sinh về đặc trưng của
truyền thuyết: Từ khái niệm trên, theo em đặc trưng của truyền thuyết là gì
Trang 28(học sinh trả lời, giáo viên nhận xét và bổ sung nếu cần, đồng thời chiếu slaide sau lên màn hình để học sinh trực quan)
* Đặc trưng của truyền thuyết : Có yếu tố lịch sử và yếu tố tưởng tượng
Thể hiện quan điểm của nhân dân và gắn liền với các lễ hội và tục thờ cúng
GV trình chiếu tranh, gọi HS xem tranh đoán tên các truyền thuyết và nêu
ý nghĩa của các truyền thuyết đó HS đoán trước, GV chiếu slide sau
Trang 292 Giáo viên tổ chức hoạt động giới thiệu cụm di tích Cổ Loa:
- Giáo viên sử dụng PPDH nêu và GQVĐ, PP WebQuest (Khám phá trên mạng)
Dựa vào phần học sinh đã chuẩn bị ở nhà, giáo viên gọi học sinh trình
bày, ưu tiên phần trình bày có hình ảnh, có sơ đồ, có nội dung trình chiếu
Hoạt động này nhằm phát triển cho học sinh: năng lực tự học, năng lực sử dụng công nghệ thông tin, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự nhận thức, năng lực sử dụng ngôn ngữ …
Giáo viên gọi đại diện học sinh trình bày phần chuẩn bị của nhóm mình Sau
đó nhận xét, biểu dương và giới thiệu thêm một vài hình ảnh về Cổ Loa Đặc biệt là giới thiệu cấu trúc của thành để học sinh hình dung kiến trúc độc đáo
và những giá trị lịch sử, quân sự, kinh tế của thành Cổ Loa đối với nhà nước
Âu Lạc đương thời (Tích hợp kiến thức địa lí, lích sử, GV trình chiếu kết hợp thuyết minh
* Giới thiệu chung: Thành Cổ Loa thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà
Nội, là kinh đô của nhà nước Âu Lạc dưới thời An Dương Vương vào khoảng thế kỷ thứ III trước Công nguyên và là kinh đô của nhà nước Vạn Xuân dưới thời Ngô Quyền thế kỷ X sau Công nguyên Năm 1962, thành Cổ Loa được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Trang 30Cổng vào đền thờ An Dương Vương ở Cổ Loa
* Vị trí địa lý của thành Cổ Loa
Vào thời Âu Lạc, Cổ Loa nằm vào vị trí đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng và là nơi giao lưu quan trọng của đường thủy và đường bộ Từ đây có thể kiểm soát được cả vùng đồng bằng lẫn vùng sơn địa
Cổ Loa là một khu đất đồi cao ráo nằm ở tả ngạn sông Hoàng Sông Hoàng (tức sông Thiếp) là một con sông nhánh lớn quan trọng của sông Hồng, nối liền sông Hồng với sông Cầu trong hệ thống sông Thái Bình
Về phương diện giao thông đường thủy, Cổ Loa có một vị trí thuận lợi Đó là
vị trí nối liền mạng lưới đường thủy của sông Hồng cùng với mạng lưới đường thủy của sông Thái Bình Qua con sông Hoàng, thuyền bè ngược lên sông Hồng là vào vùng Bắc hay Tây Bắc của Bắc Bộ, nếu xuôi sông Hồng, thuyền ra đến biển cả, nếu đến vùng phía Đông Bắc bộ thì qua sông Cầu vào
hệ thống sông Thái Bình đến sông Thương và sông Lục Nam
Địa điểm Cổ Loa chính là đất Phong Khê, lúc đó là một vùng đồng bằng trù phú có xóm làng, dân cư đông đúc, sống bằng nghề làm ruộng, đánh cá và thủ công nghiệp Việc dời đô từ Phong Châu về đây, đánh dấu một giai đoạn phát
Trang 31triển của dân cư Việt cổ, giai đoạn người Việt chuyển trung tâm quyền lực từ vùng Trung du bán sơn địa về định cư tại vùng đồng bằng
* Cấu trúc Thành Cổ Loa
Thành Cổ Loa được các nhà khảo cổ học đánh giá là "tòa thành cổ nhất, quy
mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ"
Khi xây thành, người Việt cổ đã biết lợi dụng địa hình tự nhiên, tận dụng chiều cao của các đồi, gò, đắp thêm đất cho cao hơn để xây nên hai bức tường thành phía ngoài Chất liệu chủ yếu dùng để xây thành là đất, là đá và gốm
vỡ
Thành Cổ Loa theo tương truyền gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, nhưng hiện còn 3 vòng thành Chu vi vòng Ngoại 8km, vòng Trung 6,5km, vòng Nội 1,65km, diện tích trung tâm lên tới 2km2
Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải
để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ Lũy cao trung bình từ 4m-5m, có chỗ cao đến 8m -12m Chân lũy rộng 20m - 30m, mặt lũy rộng 6m - 12m + Thành Nội hình chữ nhật, cao trung bình 5m so với mặt đất, mặt thành rộng
từ 6m-12m, chân rộng từ 20m-30m, chu vi 1.650m và có một cửa nhìn vào tòa kiến trúc Ngự triều di quy
Hiện nay, qua cổng làng, cũng là cổng thành Nội là tới đình làng Cổ Loa Cạnh đình là Am Bà Chúa tức là miếu thờ công chúa Mỵ Châu, trong am có một tảng đá hình người cụt đầu, là tượng Mỵ Châu
Qua am Mỵ Châu tới đền Thượng, tức đền An Dương Vương, tương truyền là dựng trên nền nội cung ngày trước Trong đền có tượng An Dương Vương bằng đồng Trước đền là Giếng Ngọc, tương truyền là nơi Trọng Thuỷ tự tử vì hối hận Nơi đây, có đầy đủ các loại hình di tích: Đình, đền, chùa, am, miếu + Thành Trung là một vòng thành không có khuôn hình cân xứng, chu vi 6.500m, nơi cao nhất là 10m, mặt thành rộng trung bình 10m, có năm cửa ở
Trang 32các hướng đông, nam, bắc, tây bắc và tây nam, trong đó cửa đông ăn thông với sông Hoàng
+ Thành Ngoại không còn hình dáng rõ ràng, chu vi hơn 8.000m, cao trung bình 3m - 4m (có chỗ tới hơn 8m)
Mỗi vòng thành đều có hào nước bao quanh bên ngoài, hào rộng trung bình từ 10m đến 30m Các vòng hào đều thông với nhau và thông với sông Hoàng
Sự kết hợp của sông, hào và tường thành không có hình dạng nhất định, khiến thành như một mê cung, là một khu quân sự vừa thuận lợi cho tấn công vừa tốt cho phòng thủ Thuyền bè đi lại dễ dàng trên ba vòng hào để đến trú đậu ở Đầm Cả hoặc ra sông Hoàng và từ đó có thể tỏa đi khắp nơi
Bản đồ thành Cổ Loa
* Giá trị của thành Cổ Loa
- Về mặt quân sự, thành Cổ Loa thể hiện sự sáng tạo độc đáo của người Việt
cổ trong công cuộc giữ nước và chống ngoại xâm Với các bức thành kiên cố, với hào sâu rộng cùng các ụ, lũy, Cổ Loa là một căn cứ phòng thủ vững chắc
để bảo vệ nhà vua, triều đình và kinh đô Đồng thời là một căn cứ kết hợp hài
Trang 33hòa thủy binh cùng bộ binh, khi tác chiến
- Về mặt xã hội, với sự phân bố từng khu cư trú cho vua, quan, binh lính, thành Cổ Loa là một chứng cứ về sự phân hóa của xã hội thời ấy
- Về mặt văn hóa, là một tòa thành cổ nhất còn để lại dấu tích, Cổ Loa trở thành một di sản văn hóa, một bằng chứng về sự sáng tạo, về trình độ kỹ thuật
cũng như văn hóa của người Việt Cổ
Kho mũi tên đồng khai quật ở thành Cổ Loa
Tượng Mị Châu tại Cổ Loa Giếng Ngọc tại Cổ Loa
Trang 343 Giới thiệu Văn bản: Xuất xứ của VB Truyện An Dương Vương và
Mị Châu - Trọng Thủy được trích từ Truyện Rùa Vàng trong Lĩnh Nam chích quái - tập truyện dân gian được sưu tập vào cuối thế kỉ XV (GV nhắc HS
theo dõi thông tin này trong SGK)
GV kết hợp với phần trình chiếu slide sau:
II Phần Đọc- hiểu
1 Giáo viên tổ chức hoạt động tóm tắt tác phẩm
- Sử dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy, hoặc sơ đồ grap
- Gọi học sinh trình bày phần chuẩn bị của mình:
Cho học sinh dùng nam châm đính sản phẩm đã chuẩn bị của mình lên bảng hoặc trên tường để các học sinh có thể quan sát, học tập lẫn nhau (đối với những học sinh vẽ trên giấy)
Gọi 1 hoặc 2 học sinh trình chiếu (đối với em đã chuẩn bị trên máy tính)
- Có thể tóm tắt theo nhân vật ( nhân vật An Dương Vương, nhân vật Mị Châu, nhân vật Trọng Thủy)
Trang 35- GV nhận xét phần trình bày của HS, sau đó chiếu phần sơ đồ tóm tắt theo cách của cô giáo như sau:
Triệu Đà cử binh đánh
ADV bỏ chạy, chém MC, xuống biển
Cho MC lấy TT
MC cho TT xem nỏ thần
TT tráo lẫy nỏ
TT đuổi theo, thấy xác MC
TT tự tử TÓM TẮT TÁC PHẨM
Từ việc tóm tắt, GV đặt câu hỏi tìm bố cục của tác phẩm, sau đó chiếu sơ
đồ tư duy thể hiện bố cục 2 phần và gợi ý cách đọc hiểu tác phẩm theo bố cục này
2 Giáo viên tổ chức hoạt động tìm hiểu tác phẩm về nội dung, nghệ thuật
Trang 362.1 GV hướng dẫn HS hoạt động tìm hiểu phần 1 của tác phẩm: Quá trình xây thành, chế nỏ, thắng giặc ngoại xâm
GV sử dụng PPDH thảo luận nhóm ( còn gọi là dạy học hợp tác, dạy học theo nhóm)
GV chia 3 nhóm
- Nhóm 1: Thảo luận về vấn đề: Quá trình xây thành của An Dương Vương diễn ra như thế nào? Do đâu Vua được thần linh giúp đỡ?
- Nhóm 2: Thảo luận về vấn đề: Xây thành xong, An Dương Vương băn
khoăn về điều gì và được giúp đỡ ra sao? Ý nghĩa của chi tiết này?
- Nhóm 3: Thảo luận về vấn đề: Kể về việc xây thành, chế nỏ, dân gian sáng
tạo những yếu tố kì ảo nào? Qua đó tác giả dân gian gửi gắm thái độ đối với
nhà vua như thế nào? (Câu hỏi 1 SGK Ngữ văn 10, tập 1)
HS làm việc nhóm 5 đến 7 phút, ( trên cơ sở nội dung cá nhân HS đã chuẩn bị ở nhà trên phiếu học tập của mình, các nhóm thảo luận, ghi nội dung