Trong cơ chế hợp tác ASEAN+, quan hệ thương mại song phương ASEAN - Trung Quốc có tốc độ phát triển nhanh nhất, ngày càng khẳng định vai trò đối với thương mại giữa hai nền kinh tế nói r
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
vào hồi……… giờ, ngày tháng năm 2016
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1/ Thư viện quốc gia
2/ Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong bối cảnh khu vực hoá và toàn cầu hoá hiện nay, quan hệ giữa các quốc gia, khu vực diễn biến theo nhiều chiều hướng khác nhau Do vậy, để tự bảo vệ mình
và tránh khỏi sự tụt hậu, các nền kinh tế ngày càng có xu hướng liên kết khăng khít chặt chẽ với nhau, cùng nhau phát triển và mở rộng thị trường kinh doanh Điều này dẫn đến sự ra đời của hàng loạt các tổ chức kinh tế, các khu vực mậu dịch tự do, thị trường chung, Các tổ chức này xuất hiện ngày càng nhiều và chi phối mạnh mẽ nền kinh tế các nước cũng như toàn cầu Không nằm ngoài sự vận động đó, ASEAN và Trung Quốc đã xây dựng và phát triển quan hệ thương mại từ đầu những năm 1990 với mục đích hợp tác cùng phát triển, vươn tầm ra thế giới Đông Á nói chung, Trung Quốc và ASEAN nói riêng là khu vực đang ngày càng khẳng định được vị thế trên thị trường châu Á nói riêng và thế giới nói chung, thu hút nhiều sự chú ý của các nhà phân tích và kinh doanh trên toàn cầu
Trong cơ chế hợp tác ASEAN+, quan hệ thương mại song phương ASEAN - Trung Quốc có tốc độ phát triển nhanh nhất, ngày càng khẳng định vai trò đối với thương mại giữa hai nền kinh tế nói riêng và thương mại của Đông Á nói chung Có thể nói đây là thị trường có mức phát triển nóng nhất trên thế giới
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc là một vùng rộng lớn, một khu vực mậu dịch lớn nhất thế giới với thị trường hơn 1,88 tỷ dân, chiếm hơn 40% nguồn
dự trữ toàn cầu với tổng GDP gần 10.000 tỷ USD (2011) Với tầm quan trọng và ý nghĩa của vấn đề tham gia và phát triển thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc, việc nghiên cứu đánh giá tác động của việc phát triển mối quan hệ này đối với Việt Nam, trên cơ sở đó để đề ra những biện pháp chính sách kinh tế - thương mại cũng như phương án đàm phán, cam kết phù hợp là một vấn đề bức xúc đặt ra đối với cả các cơ quan nghiên cứu cũng như các cơ quan hoạch định chính sách Tuy nhiên, cho tới nay, mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau đánh giá và xem xét mối quan hệ kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc, trong đó Văn phòng Uỷ ban Quốc gia phối hợp với các Bộ, Ngành thành viên đã tiến hành trước đây đề tài về
“Đánh giá tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với Việt Nam”, nhưng một nghiên cứu và đánh giá mang tính tổng quát về những tác động đối với Việt Nam trong bối cảnh một khu vực thương mại tự do giữa ASEAN và Trung Quốc là một vấn
đề tương đối mới mẻ, chưa được nghiên cứu và giải quyết rõ
Đối với các nước ASEAN, việc nghiên cứu về khu vực thương mại tự do này hiện nay cũng còn nhiều hạn chế Trong khuôn khổ hợp tác giữa các nước ASEAN, một số nghiên cứu bước đầu về quan hệ kinh tế - thương mại ASEAN- Trung Quốc
Trang 4cũng đã được bước đầu triển khai như nghiên cứu về “Hướng tới quan hệ kinh tế gần
gũi ASEAN- Trung Quốc trong thế kỷ 21” của Nhóm chuyên gia ASEAN- Trung
Quốc về hợp tác kinh tế Tuy nhiên, một phần do tính mới mẻ của vấn đề, vẫn chưa
có kết quả nghiên cứu nào tiến hành đánh giá khu vực thương mại tự do này một cách tổng thể, toàn diện Thêm vào đó năm 2015, Hiệp định về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc giai đoạn 2001 - 2010” làm luận án tiến sĩ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Trong khuôn khổ một luận án, khi tiếp cận với đề tài này, tôi đặt ra các mục đích
và nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
Thứ nhất là dựa trên một số vấn đề lý luận như đưa ra khái niệm về thương mại
quốc tế, chính sách thương mại quốc tế và giới thiệu một số lý thuyết về quan hệ thương mại quốc tế nhằm luận giải các cơ sở thực tiễn cho sự phát triển quan hệ thương mại ASEAN-Trung Quốc
Thứ hai là phân tích thực trạng quan hệ thương mại ASEAN-Trung Quốc qua các
giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2014, đặc biệt đi sâu vào phân tích giai đoạn 2001-2010 dựa trên 4 nội dung cơ bản là quan hệ thương mại hàng hóa, quan hệ thương mại dịch
vụ, quan hệ thương mại biên giới và quan hệ đầu tư, từ đó đưa ra các đánh giá về mối quan hệ này
Thứ ba là phân tích đưa ra các cơ hội, thách thức, triển vọng quan hệ thương mại
ASEAN-Trung Quốc đến năm 2020 nhằm khẳng định vị trí, vai trò,và lợi ích từ mối
quan hệ này để đưa ra một số giải pháp giúp Việt Nam phát triển
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan hệ thương mại
ASEAN - Trung Quốc và một số vấn đề liên quan tới Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc giai đoạn 2001 - 2010, đồng thời mở rộng tìm nghiên cứu đến năm 2014 nhằm đánh giá và đưa ra định hướng nhằm phát triển của mối quan hệ này đến năm 2020
Sở dĩ tác giả chọn giai đoạn 2001 - 2010 và năm 2001 làm mốc nghiên cứu chính của luận án vì tháng 11 năm 2001, ASEAN - Trung Quốc đã đi đến thỏa thuận
về nguyên tắc đối với việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do giữa các nước ASEAN và Trung Quốc trong vòng 10 năm Năm 2010 là mốc theo đó ACFTA, một hiệp định quan trọng trong quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc có hiệu lực đối với các nước ASEAN 6 Hơn nữa, giai đoạn 2001 - 2010 cũng là thập niên đánh dấu
sự trỗi dậy của Trung Quốc Từ khía cạnh thương mại, nghiên cứu muốn tìm hiểu
Trang 5Trung Quốc đã thay đổi cách ứng xử với ASEAN ra sao Như vậy, có thể nói giai đoạn 2001 - 2010 là nền tảng cho quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc trong những giai đoạn tiếp theo và giai đoạn 2010 -2014 đã phản ánh một phần về sự phát triển trong mối quan hệ này
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Trung Quốc không bao gồm Hồng Kông,
Ma Cao, Đài Loan và một số vấn đề về Việt Nam
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như:
- Phương pháp thu thập thông tin: thông tin phục vụ nghiên cứu được thu thập qua các sách giáo khoa, giáo trình, tạp chí chuyên ngành, sách báo, phương tiện truyền thông đại chúng, Internet, các thư viện Quốc gia, thư viện một số trường đại học…; từ kết quả nghiên cứu, công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, kết hợp kết quả quan sát, tổng hợp và xử lý số liệu thứ cấp của tác giả
- Phương pháp thống kê, so sánh: Từ thống kê số liệu, tác giả đưa ra sự so sánh tương quan giữa hai thực thể ASEAN - Trung Quốc trong quan hệ thương mại
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp logic, lịch sử
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án liên kết các dữ liệu điều tra, các kết quả đánh giá của chuyên gia, nhà khoa học liên quan tới quan hệ thương mại ASEAN-Trung Quốc để từ đó chỉ ra được
xu hướng vận động của mối quan hệ này Đây là cơ sở thực tiễn phục vụ cho cơ quan quản lý nhà nước ngành kinh tế đối Ngoại trong hoạch định các chính sách Ngoại thương của Việt Nam khi tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc
Bên cạnh đó luận án phân tích ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến quan hệ thương mại ASEAN-Trung Quốc và chỉ ra được yếu tố tác động tích cực, yếu tố tác động tiêu cực để cơ quan nhà nước, các nhà hoạch định kinh tế, doanh nghiệp nắm được và có cách thức áp dụng phù hợp khi tham gia vào hoạt động thương mại trong nước, khu vực có đối tác một bên là bạn hàng Trung Quốc hoặc các nước ASEAN
Ngoài ra, những nội dung đưa ra trong luận án còn có tính ứng dụng và có thể triển khai trong quản lý Cơ quan ngành Ngoại giao, và tổ chức kinh tế, doanh nghiệp
có thể tham khảo và tìm giải pháp ứng dụng kết quả nghiên cứu luận án vào thực tế quản lý ở cơ quan đơn vị mình với sự tôn trọng sở hữu trí tuệ hợp lý
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về quan hệ thương mại ASEAN-Trung Quốc đồng thời đưa ra những kết luận khoa học về về mối quan hệ này thông qua cách tiếp cận liên ngành giữa phương pháp luận nghiên cứu kinh tế vĩ mô
Trang 6và phương pháp luận nghiên cứu phát triển kinh tế vùng Luận án làm sáng tỏ một số nội dung về tác động cả tích cực, tiêu cực giai đoạn 2001-2010 và triển vọng trong quan hệ
hợp tác thương mại ASEAN-Trung Quốc sau năm 2010
- Đóng góp về mặt lý luận, qua công trình “Quan hệ thương mại Trung Quốc giai đoạn 2001 - 2010” là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tới hoạt động Ngoại thương quốc gia, Ngoại thương ASEAN - Trung Quốc để người đọc
ASEAN-có những trải nghiệm và thành công nhờ những thông tin tư liệu hữu ích này
- Những nội dung mà luận án đưa ra là một thông tin mang tính tham khảo cho các nhà nghiên cứu về quan hệ thương mại ASEAN-Trung Quốc Các chỉ số kinh tế
vĩ mô vi mô để thành công hay các biện pháp Ngoại thương từ công trình hi vọng sẽ đóng góp vào kho trí thức lý luận kinh tế đối Ngoại của nước ta và kinh tế thế giới
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, kết cấu của Luận án được chia làm 4 chương với những nội dung như sau:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở cho sự phát triển quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc
Chương 3 Thực trạng quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc giai đoạn
2001 - 2014
Chương 4 Triển vọng quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc đến năm 2020
và định hướng phát triển của Việt Nam trong mối quan hệ này
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Về mặt lý thuyết, chinh sách, có một số công trình tiêu biểu như sau
ThS Phan Ngọc Mai Phương trong đề tài Cấp Bộ “Tác ộng t chiến lược một
tr c hai cánh” của Trung Quốc đối với phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam thời k
đến năm 2020 thực hiện năm 2010 Phan Ngọc Mai Phương đã chỉ rõ bối cảnh ra đời của chính sách hướng Nam Đề tài bước đầu chỉ ra mục tiêu của chiến lược, nội dung của chiến lược cũng như diễn biến - tình hình triển khai chu n bị thực hiện ý tưởng chiến lược này trong mấy năm gần đây
TS Lê Quốc Phương với đề tài “Đánh giá mức ộ bổ sung và cạnh tranh
giữa Việt Nam với các ối tác thương mại chính bằng phương pháp ịnh lượng”
(2010) TS Lê Quốc Phương cho rằng Thương mại và đầu tư hiện là những hoạt động quan trọng, rất có ý nghĩa đối với quá trình phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của nước ta Để có chiến lược phát triển hoạt động thương mại quốc tế đúng đắn, chúng ta không thể xem xét, đánh giá các đối tác một cách khoa học, có
Trang 7cơ sở, có căn cứ, tìm ra các đối tác có tiềm năng, có thể hợp tác lâu dài và đem lại lợi ích cho chúng ta
PGS TS Nguyễn Văn Lịch trong đề tài “Định hướng chiến lược phát triển quan
hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc giai oạn tới 2015” (2007) PGS TS Nguyễn
Văn Lịch đã chia 5 nhóm hàng (A,B,C,D,E) để phân tích khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất nhập kh u của Việt Nam cũng như của các nước lân cận trong khuôn khổ giữa ASEAN và Trung Quốc Đã chỉ ra lợi thế của mỗi nước, nhóm nước và sự trùng lặp lợi thế của các nước ở những nhóm hàng nào Nguyễn Văn Lịch nêu quan điểm và khẳng định nhiều lần trong đề tài là nếu không có những nỗ lực cải thiện cơ cấu xuất
kh u, Việt Nam có thể trở thành nước chuyên cung cấp tài nguyên và những sản ph m
có hàm lượng tài nguyên cao cho Trung Quốc” Hiện nay cơ cấu kinh tế của nước ta, đặc biệt là ở khu vực đồng bằng Nam bộ đang thay đổi rất nhanh, ngoài 14 mặt hàng Việt nam có tiềm năng (được đề cập trong đề án đ y mạnh xuất kh u sang Trung Quốc giai đoạn 2006-2010), chúng ta còn có thêm những mặt hàng nào có khả năng xuất
kh u sang Trung Quốc trong những năm 2010-2015
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Vấn đề quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ở nhiều quốc gia trên thế giới Trong bản phúc trình
của Liên Hiệp Quốc khái quát về châu Á trong các năm 2003, 2004, viết: “Trung
Quốc là một ộng cơ tăng trưởng quan trọng cho hầu hết các nền kinh tế trong vùng Trung Quốc nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu với phần lớn các nước châu Á còn lại”
Dường như các nước ASEAN ra khỏi cơn cùng cực trong cuộc Khủng hoảng châu Á một phần là nhờ vào Trung Quốc
Theo Walden Bello, Trung Quốc có rất nhiều sản ph m công nghiệp, nông nghiệp siêu rẻ, từ sản ph m của các vụ mùa miền ôn đới cho đến rau quả của miền bán nhiệt đới, cũng như nhiều nông sản ph m đã qua chế biến Trong khi ASEAN chỉ có một số nước như Việt Nam (gạo, cà phê), Thái Lan (gạo), Philippines (dừa và sản ph m của dừa), Malaysia (dầu cọ, cao su, thiếc) có một số ít sản ph m có ưu thế Quốc có phần chậm lại, trong khi nhu cầu xuất kh u tăng mạnh vì thế, từ năm 2005, xuất kh u của Trung Quốc sang ASEAN tăng 50%, cao hơn mức tăng nhập kh u từ ASEAN
Zhao Jianglin trong cuốn “Toàn cảnh quan hệ thương mại Asean-Trung Quốc
15 năm phát triển”, Nhà xuất bản thế giới (2008) bản gốc “Asean-China Trade
Relations: 15 Years of Development and Prospects”, The Gioi Publishers, 2008, By
Zhao Jianglin, Institute of Asia-Pacific Studies, CASS, Hanoi, Dec 6-8, 2007 Tác giả Zhao Jianglin đã chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong 15 năm phát triển quan
hệ thương mại giữa hai bên kể từ sau khủng hoảng tài chính Châu Á, Zhao Jianglin lý giải một số nguyên nhân khiến quan hệ thương mại giữa hai thực thể chưa phát triển
Trang 8đúng với tiềm năng và thế mạnh của mình trong đó có nguyên nhân quan trọng là niềm tin chiến lược và xung đột lợi ích nhất là lợi ích trên khu vực Biển Đông Tuy nhiên Zhao Jianglin cũng tin tưởng đến những năm 2020 quan mối hệ này sẽ vượt qua được những rào cản về chính trị và trở thành mối quan hệ thương mại chiến lược của cả hai bên
1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Như vậy, từ các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế có thể nói mối quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc là đề tài hay, được đông đảo giới khoa học cũng như những người làm chính sách và giới doanh nhân quan tâm Tuy nhiên, các nghiên cứu đề cập ở trên chỉ phân tích mối quan hệ này ở các góc độ khác nhau Nhiều nghiên cứu phân tích sâu về các thời cơ và thách thức cho mỗi bên cũng như cho Việt Nam khi ACFTA hình thành Cũng có khá nhiều nghiên cứu đề cập quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc Tuy nhiên, việc tổng kết, đánh giá về quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc trong thập niên đầu thế kỷ 21, đặc biệt cố xem xem khi Trung Quốc trở thành nước lớn thì họ có thay đổi cách ứng xử với các nước láng giềng ASEAN không, thay đổi như thế nào thông qua các quan hệ thương mại thì chưa có nghiên cứu nào đề cập
Chương 2
CƠ SỞ CHO SỰ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI ASEAN - TRUNG QUỐC 2.1 Cơ sở lý luận cho sự phát triển quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc
2.1.1 Khái quát về quan hệ thương mại Quốc tế
Khái niệm về thương mại quốc tế: Theo UNCITRAN (United Nations
Commission of International Trade Law) thì thương mại quốc tế theo nghĩa rất rộng, bao gồm mọi hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế, tức là bao gồm mọi hoạt động thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, trừ mua bán hàng hóa hữu hình đến các dịch vụ như bảo hiểm, tài chính, tín dụng, chuyển giao công nghệ, thông tin, vận tải, du lịch
Chính sách thương mại Quốc tế: Chính sách thương mại quốc tế là hệ thống
các công cụ và biện pháp mà nhà nước sử dụng để điều tiết các hoạt động thương mại quốc tế của các quốc gia, nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó
2.1.2 Các lý thuyết về quan hệ thương mại Quốc tế
Lý thuyết thương mại quốc tế của Chủ nghĩa trọng thương
Adam Smith và lợi thế tuyệt ối
Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo
Mô hình Heckscher - Ohlin (mô hình H-O)
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa ASEAN và Trung Quốc
Sự ph thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa ASEAN và Trung Quốc Trung Quốc là một
Trang 9quốc gia đông dân với thì trường rộng lớn và tốc độ phát triển nhanh, là đối tác thích hợp
để các nước ASEAN tiến hành mở rộng thị trường, đầu tư để tìm kiếm lợi nhuận Đồng thời hợp tác với Trung Quốc cũng tạo nên sự cân bằng trong quan hệ giữa các nước lớn
có lợi ích chiến lược trong khu vực, là bước nối quan trọng để ASEAN xâm nhập vào thị trường lớn nhất thế giới cũng như hội nhập với kinh tế toàn cầu
Về phía Trung Quốc, ASEAN là đối tác rất thích hợp cho các ngành công nghiệp đang trỗi dậy của họ Một vấn đề mà nước này mắc phải trên con đường phát triển là sự thiếu hụt về nguồn nguyên, nhiên liệu như xăng, dầu, gỗ, nhựa, dầu thực vật,… ASEAN lại là khu vực có nguồn tài nguyên khá dồi dào, đáp ứng và khắc phục tốt những khó khăn trên
2.2.2 Sự phát triển nhiều loại hình hợp tác trong thương mại quốc tế thúc đẩy phát triển thương mại ASEAN - Trung Quốc
Việc hình thành các khu vực mậu dịch tự do hoặc các thỏa thuận mậu dịch tự
do khá phổ biến trong những năm gần đây Theo thống kê của Tổ chức thương mại
thế giới (WTO) tính đến 2010, đã có khoảng 400 Hiệp ịnh thương mại tự do được
thực hiện hoặc đang trong quá trình ký kết trong đó có hơn 200 Hiệp định thương mại
tự do có hiệu lực Các Hiệp định thương mại tự do có thể được thực hiện giữa hai nước riêng lẻ hoặc có thể đạt được giữa một khối thương mại và một quốc gia như Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Chi Lê, hoặc Hiệp định thương mại
xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế hiện nay
Môi trường quốc tế khu vực tương đối ổn định nền kinh tế tri thức và công nghệ đang tạo cơ hội cho mọi quốc gia ASEAN thực hiện chủ trương đa phương hóa quan
hệ quốc tế trong đó có đa phương hóa quan hệ ASEAN và Trung Quốc Thị trường nội tại của các bên với sức mua lớn là tiềm năng và thế mạnh khách quan cho quan hệ hợp tác ASEAN và Trung Quốc phát triển Tiền đề xây dựng quan hệ thương mại ASEAN
và Trung Quốc được đảm bảo và ghi nhận bởi hàng loạt những cam kết có tính pháp lý thông qua các điều ước quốc tế và các Hiệp định song phương ASEAN - Trung Quốc
Trang 10Hiệp ịnh khung về Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN-Trung Quốc”, “Tuyên bố Kuala Lumpur 2005 Sức mạnh kinh tế mới của Trung Quốc, đặc biệt từ khi nước này
trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng là một trong những cơ sở cho phát triển quan hệ thương mại ASEAN và Trung Quốc ASEAN đang có bước chuyển mình mạnh mẽ và ngày càng có vị thế trong nền kinh tế thế giới
Chương 3
THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI ASEAN - TRUNG QUỐC
GIAI ĐOẠN 2001 - 2014 3.1 Quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc trước năm 2001
3.1.1 Giai đoạn từ năm 1991 đến Khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997
Giai đoạn 1991-1997, thương mại hai bên trong thời k này phần lớn là thương mại hàng hoá Xuất kh u của ASEAN sang Trung Quốc đã có sự tăng trưởng từ năm
1993 đến năm 1997, đặc biệt từ năm 1996 có sự phát triển vượt bậc trong tổng kim ngạch thương mại hai bên (16.691,7 triệu USD năm 1996 và 22.650,8 triệu USD năm
1997, từ đây thương mại hai bên phát triển theo xu hướng bền vững Nước xuất kh u nhiều nhất sang Trung Quốc là Singapore, với xu hướng tăng ngày càng cao Kế đó là
Malaysia, nhưng mức độ tăng không đồng đều
3.1.2 Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2001
- Quan hệ thương mại hàng hóa Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
Đông Á kinh tế các nước ASEAN đang dần hồi phục và quan hệ kinh tế - thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc cũng không ngừng phát triển
Biểu đồ 3.1 Giá trị kim ngạch thương mại hai chiều giữa Trung Quốc và ASEAN
1998 1999 2000 2001 2002
Năm
Triệu USD
42.7
Trang 11ASEAN xuất sang Trung Quốc chủ yếu là nguyên, nhiên liệu và hàng công nghiệp chế biến, trong đó xăng dầu, gỗ, dầu thực vật, máy tính, thiết bị điện là những mặt hàng xuất kh u chính Năm 2002, nhóm hàng này chiếm 83,7% tổng kim ngạch xuất kh u ASEAN sang Trung Quốc Trong số 10 mặt hàng xuất kh u chủ yếu của ASEAN sang Trung Quốc, máy móc công cụ và linh kiện chiếm tỷ trọng cao nhất 23,6%, tiếp đến là máy móc văn phòng và xử lý số liệu 18,5%, xăng dầu và chế ph m 12,5%, nhựa nguyên liệu 6,7%, hoá chất hữu cơ 6,4%, dầu thực vật 5,1%, cao su thô 3,6%, thiết bị âm thanh và viễn thông 3,0%, máy công nghiệp và phụ kiện 2,5% và gỗ 1,9%
Bảng 3.1 Cán cân thương mại ASEAN và Trung Quốc
Ghi chú: Giá trị US $ 1000 (nghìn USD)
Source: ASEAN Trade Database
- Quan hệ ầu tư Đầu tư ASEAN vào Trung Quốc: Nếu như năm 1991 đầu tư
ASEAN vào Trung Quốc chỉ đạt 0,9 tỉ USD thì năm 1992 con số này đã tăng lên tăng lên 2,7 tỉ USD gấp 3 lần, năm 1997 con số này vượt trên 34,2 tỉ USD gấp 38 lần năm
1991 và gấp 1,86 lần năm 1994 Tổng mức đầu tư ASEAN vào Trung Quốc đạt mốc
kỷ lục vào năm 1998 với giá trị đầu tư 42,2 tỉ USD Từ năm 1991 đến 2000, đầu tư của ASEAN vào Trung Quốc tăng trung bình 28%/năm Tuy nhiên, do cuộc khủng hoảng kinh tế, tổng giá trị đầu tư qua các năm của ASEAN ở Trung Quốc đã giảm xuống 32,9 tỷ USD và 28 tỷ USD vào năm 1999 và 2000 [29] Cuối năm 2001, tổng giá trị đầu tư của ASEAN vào Trung Quốc bao gồm 17.972 dự án với giá trị cam kết
là 53,5 tỷ USD (chiếm 7,2% tổng FDI vào Trung Quốc), và giá trị giải ngân là 26,2 tỷ USD (6,1% tổng FDI của Trung Quốc) [29] Tính đến cuối năm 2002, các nước ASEAN đã có 19,731 dự án đầu tư tại Trung Quốc với tổng giá trị 58,09 tỷ USD
Đầu tư Trung Quốc vào ASEAN: Về phía Trung Quốc, mặc dù đầu tư của
Trung Quốc vào ASEAN vẫn ở mức thấp, chỉ đạt 135,8 tỷ USD năm 1999, chiếm gần 1% tổng FDI tại ASEAN, nhưng đầu tư của Trung Quốc vào ASEAN trong
Trang 12những năm gần đây đã tăng nhanh với tốc độ trung bình 60%/năm [75]
Theo số liệu của Bộ Ngoại thương và Hợp tác kinh tế Trung Quốc (MOFTEC), tổng đầu tư của Trung Quốc vào ASEAN vào cuối năm 2000 là 458,6 triệu USD với
692 dự án và năm 2001 là 740 dự án trị giá 1,1 tỷ USD [29] và tính đến tháng 9/2002, Trung Quốc đã đầu tư vào 769 dự án ở các nước ASEAN với tổng giá trị 690 triệu USD Trong thời gian 6 tháng đầu năm 2003, Trung Quốc đã đầu tư vào 822 dự án của các nước ASEAN với tổng giá trị cam kết là 1,37 tỷ USD
3.2 Quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc giai đoạn 2001-2010
3.2.1 Quan hệ thương mại hàng hóa
Thương mại Trung Quốc - ASEAN tăng rất mạnh trong thời k từ năm 1990 đến nay Mặc dù mức buôn bán hai chiều rất thấp chỉ đạt 7 tỷ USD năm 1990, và 7,96
tỷ USD năm 1991 Thế nhưng, con số đã tăng nhanh, đạt mức 54,7 tỷ USD năm 2002
và 100 tỷ USD năm 2004, 130,4 tỷ USD năm 2005 và 202,6 tỷ USD năm 2007, về
đích trước 3 năm so với dự kiến (mức 200 tỷ USD theo kế hoạch đặt ra vào năm 2010
- số liệu Trung Quốc công bố)
0 50 100 150 200 250 300 350 400
T ổng TM hai chiều, tỷ USD
Biểu đồ 3.5 Thương mại Trung Quốc - ASEAN, 2000-2011 (tỷ USD)
Nguồn: ASEAN Secretariat (2005); ASEAN Trade Statistics Database; ASEAN Trade Statistics Database (Data as of July 2009)
Hợp tác kinh tế Trung Quốc - ASEAN không ngừng tăng lên, ASEAN đã trở thành đối tác buôn bán lớn thứ 4 của Trung Quốc sau EU, Mỹ và Nhật Bản Năm
2010 đạt 293 tỉ USD, tăng trên 37,5% Năm 2011, tổng thương mại Trung Quốc - ASEAN đạt 362,9 tỷ USD (Trung Quốc xuất: 170,1 tỷ; Trung Quốc nhập 192,8 tỷ), tăng 70 tỷ USD so với mức 292,8 tỷ USD năm 2010 Hai bên đang cố gắng phấn đầu đưa kim ngạch buôn bán đạt 500 tỉ vào năm 2015
Thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc Năm 2001, Trung
Quốc chính thức đưa ra đề xuất thành lập Khu vực Thương mại tự do (FTA) với các nước ASEAN và ASEAN đã có phản ứng tích cực Tháng 11 năm 2002, Trung Quốc
và ASEAN đã ký “Hiệp ịnh khung về Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN-Trung
Quốc” tại Hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc-ASEAN lần thứ sáu tổ chức tại
Trang 13Campuchia và “Nghị ịnh thư sửa ổi Hiệp ịnh khung về Hợp tác kinh tế toàn diện
ASEAN-Trung Quốc” ký kết ngày 5 tháng 10 năm 2003 tại Bali, Indonesia, có hiệu
lực thi hành từ ngày 1/7/2003 Theo Hiệp định và nghị định thư sửa đổi Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN-Trung Quốc, các bên đồng ý sẽ đàm phán tích cực nhằm thiết lập Khu vực Mậu dịch tự do (KVMDTD) ASEAN - Trung Quốc trong phạm vi 10 năm
Kim ngạch thương mại ASEAN - Trung Quốc Các số liệu thống kê cho thấy sự
phát triển vượt bậc của kim ngạch thương mại giữa hai nền kinh tế từ 2002 - 2010, đặc biệt từ khi Hiệp định khung về hợp tác kinh tế được thực hiện Kim ngạch thương mại ASEAN - Trung Quốc năm 2003 đã tăng gấp hơn 1,5 lần so với năm 2002 (từ 42,75 tỉ USD lên 59,64 tỉ USD), và con số này đến năm 2007 đã tăng gấp 4,3 lần (171,118 tỉ USD), đỉnh điểm năm 2008 tổng giá trị kim ngạch thương mại 2 chiều ASEAN và Trung Quốc tăng lên 192,67 tỉ USD Đến năm 2011, thương mại ASEAN - Trung Quốc tiếp tục phát triển, đạt mức 362,9 tỉ USD tăng gần 9 lần so với năm 2002 Tỷ lệ tăng trưởng thương mại của Trung Quốc với ASEAN hàng năm vào khoảng 21,9%, trong khi
tỷ lệ tăng trưởng thương mại của Trung Quốc hàng năm chỉ đạt 18,8%
Cân bằng của ASEAN
Nguồn: ASEAN Secretariat (2005); ASEAN Trade Statistics
Database; ASEAN Trade Statistics Database (Data as of July 2009)
Phân tích bằng phương pháp đồ thị có thể thấy, nhìn một cách tổng thể giai đoạn 2002-2011 cán cân thương mại lại có xu hướng nghiêng về phía Trung Quốc, ASEAN trở thành khu vực nhập siêu Nếu năm 2001, cán cân thương mại của ASEAN với Trung Quốc là +8,257 tỉ USD (ASEAN là khu vực xuất siêu vào Trung Quốc) thì chỉ số này đến năm 2002 là -3,959 tỉ USD, năm 2005 là -8,878 tỉ USD, năm 2007 con số này đã giảm xuống mức -15,228 tỉ USD đỉnh điểm năm 2008 con số này giảm xuống mức -21,556 tỉ